1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

một số biện pháp giúp đỡ học sinh yếu kém môn hóa ở trường THCS

18 297 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 48,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, theo tôi còn một nguyên nhân chủ quan nữa đó là: Phải chăng giáo viên chưa thực sự trăn trở, tâm huyết với từng tiết dạy, chưa phân loại cụ thể các đối tượng học sinh, chưa thự

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

A ĐẶT VẤN ĐỀ 3

I Lí do chọn đề tài 3

II Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

1 Mục đích 3

2 Nhiệm vụ 3

III Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 4

1 Phạm vi nghiên cứu 4

2 Đối tượng nghiên cứu 4

IV Phương pháp nghiên cứu 4

B NỘI DUNG 4

I Cơ sở lý luận 4

II Thực trạng 5

1 Thuận lợi 5

2 Khó khăn 6

III Những biện pháp thực hiện 6

1 Soạn giáo án chi tiết, chuẩn bị kỹ cho tiết dạy 6

2 Xác định động cơ học tập cho học sinh 9

3 Gây hứng thú học tập, hình thành sự yêu thích bộ môn 9

4 Dạy phụ đạo vào các buổi ngoại khoá 12

C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 13

I Kết quả thu được 13

II Bài học kinh nghiệm 14

III Kết luận và kiến nghị 15

Tài liệu tham khảo 16

Trang 3

A ĐẶT VẤN ĐỀ

I Lí do chọn đề tài

Hoá học là một bộ môn khoa học nghiên cứu về các chất, sự biến đổi của các chất và ứng dụng của chúng Ở chương trình THCS, Hoá học cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức phổ thông cơ bản và thiết thực Là một môn học rất thiết thực với thực tế đời sống và lao động sản xuất, chuyên nghiên cứu về các chất

và sự chuyển hoá của các chất, giúp ta từ các chất ban đầu tạo ra nhiều chất mới Nhiều sản phẩm mới và quý không thể thiếu được trong cuộc sống để từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của con người và đáp ứng toàn bộ yêu cầu của xã hội Nhưng, thực tế cho thấy kết quả học tập môn Hoá học của phần lớn học sinh còn thấp, tỉ lệ học sinh yếu kém còn cao Vì sao?

Qua thời gian trực tiếp giảng dạy bộ môn tôi nhận thấy có một số nguyên nhân cơ bản sau: Là môn học được tiếp cận sau nhất trong chương trình giáo dục phổ thông Ban đầu mới làm quen với hàng loạt các khái niệm, định luật, học thuyết và các chất nên học sinh không khỏi bỡ ngỡ Không ít học sinh quan niệm rằng Hóa học là môn học trừu tượng, khó hiểu nên đã có thái độ mang tính tiêu cực đối với bộ môn, nản lòng trước những bài tập yêu cầu có tính suy luận cao Có thể nói Hoá học là một môn học khó đối với học sinh THCS vì nó là một môn khoa học tổng hợp kiến thức của các môn khoa học tự nhiên và xã hội khác Cho nên sau khi học xong chương trình lớp 7 các em mới có đủ điều kiện để lĩnh hội kiến thức của môn học này Bên cạnh đó một số em học sinh còn cho rằng đây là một môn phụ, nhiều học sinh còn có tính ỷ lại, lười học nên các em chưa có ý thức để học tập tốt bộ môn Ngoài ra, theo tôi còn một nguyên nhân chủ quan nữa đó là: Phải chăng giáo viên chưa thực sự trăn trở, tâm huyết với từng tiết dạy, chưa phân loại

cụ thể các đối tượng học sinh, chưa thực sự quan tâm đến đối tượng học sinh yếu kém trong lớp, chưa làm cho học sinh nhận thấy được tầm quan trọng của bộ môn,

và chưa tạo ra được những tiết học thực sự lôi cuốn học sinh?

Tôi đã trăn trở rất nhiều bởi câu hỏi đó và trách nhiệm nghề nghiệp thôi thúc tôi phải làm thế nào để nâng cao chất lượng học tập của đối tượng học sinh yếu

kém Vì vậy tôi quyết định tìm hiểu và nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học cho học sinh yếu kém môn Hoá học lớp 8 ở trường Trung học cơ sở Đá Đỏ”.

Trang 4

II Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1 Mục đích

Việc thực hiện đề tài nhằm nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng học sinh yếu kém, giảm tỷ lệ học sinh yếu kém môn Hoá học lớp 8 ở trường THCS nói chung và trường THCS Đá Đỏ nói riêng

2 Nhiệm vụ

Nghiên cứu lý luận và tình hình thực tiễn về các biện pháp phát triển năng lực nhận thức, năng lực tư duy và khả năng vận dụng kiến thức của học sinh yếu kém môn Hoá học Đề xuất một số biện pháp để nâng cao chất lượng học sinh yếu kém môn Hoá học lớp 8 Thử nghiệm, kiểm tra, khảo sát tính hiệu quả và tính khả thi của những biện pháp được đề xuất

III Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

1 Phạm vi nghiên cứu

Quá trình dạy và học môn Hoá học lớp 8 ở trường THCS Đá Đỏ

2 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài này nghiên cứu các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học sinh yếu kém môn Hoá học lớp 8

IV Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn, thống kê số liệu

- Phân tích thực trạng, tham khảo các tài liệu và ý kiến đồng nghiệp

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

B NỘI DUNG

I Cơ sở lý luận

Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng của Mác - Lênin thì quá trình nhận thức thế giới khách quan của con người là “từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” Vận dụng vào môn Hoá học có thể thấy

là học sinh sẽ xây dựng được các định nghĩa, khái niệm, các tính chất của một chất tốt nhất khi các em rút ra chúng từ các hiện tượng thực tế, các thí nghiệm

mà chính các em được làm, được quan sát từ đó áp dụng cho các trường hợp khác tương tự và vận dụng để làm các bài tập định tính, định lượng, giải thích các hiện tượng trong thực tiễn Hoá học là khoa học tự nhiên nghiên cứu các chất có trong

tự nhiên và sự chuyển hoá của chúng Tính ứng dụng của Hoá học gần với thực tế Đối với mỗi một vấn đề trong hoá học ta đều có thể cho học sinh liên hệ với cuộc sống, sản xuất và công nghiệp

Các lý thuyết về sự hiểu biết của học sinh như: Lý thuyết hành vi, lý thuyết nhận thức (lý thuyết của Bruner, lý thuyết phát triển của Piaget, lý thuyết tạo

Trang 5

dựng), lý thuyết xã hội Sau khi so sánh thì lý thuyết nào người thầy cũng phải đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn và đánh giá Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh trung học cơ sở: Lứa tuổi học sinh lớp 8 trường trung học cơ sở trong khoảng từ 13 đến 15 tuổi Là khoảng thời gian trong độ tuổi dậy thì, giai đoạn này các em có những biến đổi quan trọng và phức tạp về tâm sinh lí Tuy nhiên sự biến đổi là không hoàn toàn như nhau ở mỗi học sinh Điều đó làm cho thái độ của các em đối với mỗi môn học cũng được phân hoá (có môn “hay”, môn “không hay, có môn

“cần”, môn “không cần thiết” ) Ở lứa tuổi này tư duy trừu tượng phát triển mạnh, nhưng thành phần của tư duy hình tượng – cụ thể vẫn tiếp tục phát triển và giữ vai trò quan trọng trong cấu trúc tư duy Do vậy các em vẫn rất cần đến sự hỗ trợ của những biểu tượng trực quan về đối tượng để tìm hiểu những dấu hiệu bản chất, trừu tượng của đối tượng đó Trong học tập, các em muốn độc lập lĩnh hội tri thức, muốn có quan điểm và lập luận riêng Các em thường thích những gì mới lạ, thích các hoạt động phải liên hệ đến thực tiễn và có thể tạo môi trường cho các em khẳng định mình

Nâng cao chất lượng học sinh yếu kém là giáo viên phải bổ sung được

những “lỗ hổng” kiến thức cho học sinh (chủ yếu là những kiến thức có trong sách giáo khoa) để giải quyết, để giành lại kiến thức mà các em chưa lĩnh hội hết trong tiết dạy chính trên lớp Từ đó học sinh có thể hòa nhập theo kịp với các bạn trong tiết học đang diễn ra trên lớp Theo tôi học sinh muốn làm tốt hoạt động này thì bản thân giáo viên cần phải nắm bắt chính xác và đánh giá được mức độ kiến thức đọng lại ở mỗi học sinh trong mỗi tiết dạy để chuẩn bị lên kế hoạch phụ đạo, thiết

kế nội dung phụ đạo sao cho có hiệu qủa nhất, muốn vậy thì cần phải biết rõ căn

cứ, hiểu và kết hợp giải quyết được các vấn đề sau:

- Tìm hiểu tại sao học sinh sợ ,chán ,học yếu kém học môn hóa học và tìm cách giải tỏa tâm lí này ở các em

- Hướng dẫn học sinh tự đánh giá hiểu biết của bản thân về môn học và tự rèn luyện ý thức học tập

- Giáo viên xác định được khối lượng kiến thức đối với từng bài học cụ thể cho đối tượng học sinh yếu kém, để đề ra nội dung ,hình thức và phương pháp dạy thích hợp nhất

Như vậy cần ở học sinh phải hoàn toàn tự giác cao trong suy nghĩ và hành

động, tích cực phối hợp với giáo viên, có suy nghĩ ,cân nhắc kĩ lưỡng những thông tin nhận được để “vá lại lỗ hổng kiến thức” và phản hồi lại kiến thức một cách chính xác ,khoa học nhất Muốn vậy giáo viên là người rất quan trọng cần phải có các hướng dẫn cụ thể để giúp học sinh Dựa trên những cơ sở đó tôi đã sáng tạo và

sử dụng được một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh yếu kém trong môn Hoá học

II Thực trạng

Trang 6

1 Thuận lợi

Nhà trường có đầy đủ cơ sở vật chất, thiết bị, phương tiện và đồ dùng dạy học cần thiết

Hoá học là môn học gắn liền với thí nghiệm, thực hành, là bộ môn gắn liền với thực tế đời sống, giải thích được nhiều hiện tượng trong thực tế cuộc sống hằng ngày Đây là cơ sở quan trọng để học sinh tìm thấy hứng thú và sự lôi cuốn trong môn học

2 Khó khăn

Do đặc trưng của bộ môn nên một số khái niệm, định nghĩa, định luật đối với học sinh là khá mới mẻ, trừu tượng yêu cầu phải có sự tư duy, suy luận, sáng tạo và óc tưởng tượng cao

Là một môn khoa học tổng hợp kiến thức của các môn khoa học tự nhiên và

xã hội khác nên bắt buộc học sinh phải có kiến thức của các môn liên quan, đặc biệt là Toán, Vật lí, Sinh học

Mặt khác, năng lực không đồng đều, do đặc thù là học sinh dân tộc miền núi, vùng sâu, vùng xa nên một số học sinh khả năng lĩnh hội, tiếp thu kiến thức còn yếu, chậm, chưa sáng tạo, linh hoạt, khả năng tư duy thấp Vì vậy khi soạn giáo án

và tổ chức dạy học giáo viên thường bị động về thời gian, rất khó khăn để quan tâm đến tất cả các đối tượng học sinh

Học sinh vẫn còn chịu ảnh hưởng của cách truyền thụ trước đây cho nên một

số học sinh ỷ lại, lười suy nghĩ, trong giờ học lơ là không tập trung, không học bài

và làm bài trước khi đến lớp… làm kiến thức bị thiếu hụt lâu dần tỏ ra sợ học, chán học từ đó bị hổng về kiến thức

Bên cạnh đó thêm một tồn tại là khi giáo viên đưa ra câu hỏi thì lập tức học sinh cắm cúi vào sách giáo khoa, không có sự linh động, sáng tạo trong tư duy, có khi còn sợ bị gọi trả lời, làm tiết học trở nên trầm, rời rạc Kết quả là giáo viên thường xuyên bị “cháy” giáo án, học sinh nắm bài hời hợt trở thành yếu kém làm hiệu quả tiết dạy chưa cao

III Những biện pháp thực hiện

1 Soạn giáo án chi tiết, chuẩn bị kỹ cho tiết dạy

1.1 Xác định vị trí bài học trong cấu trúc chương trình, xác định loại bài dạy:

Trước hết bản thân tôi phải nắm vững cấu trúc chương trình sách giáo khoa của từng lớp học, từng cấp học và cả chương trình của bộ môn, trong khi soạn, giảng bài, tôi sẽ có các phương pháp phù hợp giúp học sinh vận dụng kiến thức đã học, xây dựng kiến thức mới hoặc khi giảng xong kiến thức mới, tôi có thể xác định cho các em hướng để các em học lên các lớp trên Xác định đúng dạng bài để dạy đúng

Trang 7

phương pháp đặc trưng của bộ môn và đúng với phương pháp của từng loại bài dạy Đọc kĩ bài dạy để hiểu đúng ý của người viết sách giáo khoa, về kiến thức cơ bản và cách trình bày kiến thức của tác giả, nắm được mối quan hệ giữa các kiến thức từ đó khắc sâu được kiến thức trọng tâm cho học sinh và làm cho học sinh thấy rõ con đường đi đến kiến thức rồi hướng dẫn cho các em phát hiện ra kiến thức

Ví dụ: Bài 26: “Oxit” lớp 8 Trước khi vào bài tôi cho học sinh nhắc lại tính

chất hóa học của oxi, lấy ví dụ Sau đó để tìm hiểu định nghĩa, trước tiên tôi khẳng định với học sinh: những sản phẩm thu được khi đốt cháy kim loại hoặc phi kim là những oxit, từ đó yêu cầu học sinh nhận xét thành phần nguyên tố của các oxit đó

và rút ra khái niệm oxit

1.2 Tiến hành soạn giáo án: Trước tiên tôi xác định hướng trọng tâm của bài

dạy, mục tiêu, phương pháp và sắp xếp các kiến thức của bài thành một hệ thống kiến thức lôgíc, chặt chẽ Chuyển tiếp giữa các mục trong bài dạy phải có sự dẫn dắt theo kiểu dạy học nêu vấn đề và bằng phương pháp thầy thiết kế, trò thi công

Hệ thống câu hỏi phải lôgic theo hệ thống kiến thức của bài và ngắn gọn, rõ ràng, phù hợp với 4 đối tượng học sinh để huy động nhiều học sinh làm việc trên lớp (để các em thấy chương trình mà sách giáo khoa đưa ra không có gì là quá tải, rất phù hợp) Luôn luôn xác định tạo không khí học tập thoải mái, hứng thú là một trong những mục tiêu của tiết học Giáo viên cần chú ý chuẩn bị thật kỹ càng cho các hoạt động tạo không khí học tập, có như vậy mới không để xảy ra các tình huống ngoài dự kiến, vừa không đạt mục đích lại có thể gây hiệu ứng ngược

Ví dụ: Bài 24: “Tính chất của oxi” lớp 8, kiến thức trọng tâm của bài là phần

tính chất hoá học của oxi, tôi đã làm cho học sinh thấy rõ con đường đi đến kiến thức là bằng thí nghiệm thực tế, để các em nắm được các tính chất hoá học của ôxi

và để hướng dẫn cho các em phát hiện ra kiến thức qua từng thí nghiệm, tôi cho học sinh thấy rõ các chất đem tác dụng cùng với việc các em quan sát thí nghiệm

và vận dụng vốn kiến thức có sẵn để có thể dự đoán sản phẩm tạo thành sau phản ứng và dẫn đến kết luận, cụ thể: Tính chất ôxi tác dụng với sắt, tôi cho học sinh quan sát thí nghiệm biểu diễn, học sinh sẽ xác định được các chất đem tác dụng là ôxi và sắt, học sinh quan sát thí nghiệm thấy có hạt nóng đỏ bắn ra, các em sẽ đự đoán sản phẩm là Fe3O4 (màu nâu), từ đó các em rút ra phương trình : 3Fe(r) + 2O2 (k) Fe3O4 (r)

Ngoài việc hiểu đúng ý nghĩa của người viết sách còn giúp tôi vận dụng thêm kiến thức của tài liệu tham khảo để mở rộng và nâng cao kiến thức cho học sinh (ở những lúc cần thiết) Đồng thời tránh được tình trạng dạy sai kiến thức cho học sinh Đối với tôi soạn bài là một hình thức giảng thử để phân bố thời gian cho

Trang 8

phù hợp với từng phần kiến thức của bài và để bỏ bớt các ngôn ngữ thừa, các câu hỏi vụng, giúp học sinh hiểu bài một cách chắt lọc, nhẹ nhàng Trong bài soạn, đối với các câu hỏi, tùy từng đặc điểm trình độ nhận thức của học sinh, phương pháp lựa chọn mà quyết định số lượng, chất lượng các câu hỏi thích hợp Tránh khuynh hướng hình thức, tránh đặt câu hỏi mà không chuẩn bị trước Mỗi bài học có một vài câu hỏi then chốt và cần quan tâm đến tính lôgíc của câu hỏi, câu hỏi phải vừa sức, phù hợp với đối tượng học sinh, đồng thời tạo điều kiện cho học sinh hoạt động độc lập, theo cặp hoặc theo nhóm tạo điều kiện cho học sinh tự đánh giá, và đánh giá lẫn nhau, kết hợp đánh giá của giáo viên và đánh giá của học sinh Đặc biệt với đối tượng học sinh yếu kém cần tạo điều kiện cho các em tham gia hoạt động bằng cách có câu hỏi gợi mở, gợi ý dẫn dắt cho học sinh trả lời giúp các em thêm tự tin và hoà nhập với lớp Tuy nhiên để tiết học có chiều sâu về mặt kiến thức thì trong mỗi bài dạy giáo viên phải tìm được điểm nhấn của mỗi bài Từ đó các em khắc sâu được kiến thức và hiểu sâu hơn

1.3 Chuẩn bị đồ dùng: Hoá học là một môn khoa học thực nghiệm, từ các thí

nghiệm thực hành để giúp học sinh hiểu bài, vì vậy cần thiết tôi chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ, hoá chất để làm thí nghiệm, bố trí thí nghiệm không cồng kềnh, mang tính chất thẩm mỹ khoa học thao tác thí nghiệm của giáo viên phải thành thạo, nhẹ nhàng, khéo léo, giáo viên phải làm thử trước để tránh các trường hợp do hoá chất bảo quản không tốt hoặc do bố trí thí nghiệm mà dẫn đến thí nghiệm không thành công, giáo viên phải chuẩn bị để giải thích cho học sinh các tình huống bất trắc xẩy

ra khi làm thí nghiệm Các thí nghiệm hoá chất và dụng cụ dễ kiếm tôi giao cho học sinh chuẩn bị trước ở nhà và yêu cầu các em phải đọc kỹ nội dung các thí nghiệm có trong tiết học, chú ý phương pháp tiến hành, dự đoán trước hiện tượng

và giải thích, học sinh phải chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ mà giáo viên yêu cầu Tuy

là những những thứ dễ kiếm, rất gần gũi với đời sống nhưng từ đó hình thành trách nhiệm của các em đối với tiết học, các em sẽ thêm chú ý và ghi nhớ kiến thức dễ dàng hơn

Ví dụ: Trong bài 41: “Độ tan của một chất trong nước”, lớp 8: Học sinh có thể

chuẩn bị đường, muối Ngoài ra, những thí nghiệm khó thành công, chiếm nhiều thời gian, có các chất độc hại tôi đã thay thế bằng các thí nghiệm quay sẵn hay thí nghiệm ảo để học sinh quan sát trên màn hình máy chiếu Thực tế cho thấy khi tiết dạy có sự chuẩn bị kỹ về phương tiện, đồ dùng, học sinh rất hứng thú học tập, không khí sôi nổi, xây dựng kiến thức từ thực nghiệm, là cái các em được làm, được quan sát nên sẽ nắm chắc, hiểu sâu kiến thức

1.4 Lên lớp giảng bài: Phong thái, tác phong của người thầy khi lên lớp rất

quan trọng, ảnh hưởng lớn đến thái độ, không khí học tập của học sinh Vào lớp tôi luôn giữ tinh thần thoải mái và gần gũi với học sinh, nắm sĩ số học sinh, quan sát

Trang 9

tổng thể lớp học để chuẩn bị cho học sinh có tư thế, tinh thần tốt nhất để bước vào tiết học Nhất thiết phải kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh ở nhà, đặc biệt là học sinh yếu kém Kiểm tra bài cũ và vở ghi, vở bài tập, vở nháp Kiểm tra bài cũ yêu cầu cần phải kiểm tra được kiến thức trọng tâm của bài, giúp cho học sinh nhớ lại, khắc sâu một lần nữa để vận dụng khi giải quyết bài mới, câu hỏi hoặc bài tập kiểm tra phải rõ ràng phù hợp với 4 đối tượng học sinh (Giỏi, khá, trung bình, yếu)

để chống học sinh lười học, hay học vẹt, không kiểm tra nhiều kiến thức với một học sinh Thực hiện tôi cho học sinh gấp sách vở lại rồi đặt câu hỏi hoặc nêu bài tập cho cả lớp, gọi một học sinh lên bảng, cả lớp làm nháp hoặc theo dõi bạn trả lời, tôi cho 1 học sinh khác nhận xét bổ sung, cuối cùng giáo viên nhận xét, bổ sung và cho điểm học sinh Ngoài ra giáo viên có thể đưa ra những câu hỏi để phục

vụ cho bài học mới mà không liên quan đến kiến thức của bài học ngay trước đó

Ví dụ: Khi dạy bài “Sự oxi hóa – phản ứng hóa hợp - ứng dụng của oxi”

(Bài 25 - lớp 8)

Tôi đưa ra các câu hỏi kiểm tra bài cũ như sau:

Nêu tính chất hoá học của ôxi Viết các phương trình phản ứng minh hoạ Sau khi nhận xét và sửa lỗi sai cho học sinh (nếu có) và cho điểm, tôi vẫn lưu lại ví dụ của học sinh Sau khi vào bài, để xây dựng khái niệm sự oxi hóa, tôi yêu cầu học sinh nhận xét các ví dụ mà HS đã làm ở phần kiểm tra bài cũ ( lưu ở

góc bảng) Cho biết các phản ứng này có đặc điểm gì chung? Học sinh có thể nhận

thấy các phản ứng đó đều là sự tác dụng của oxi với chất khác Sau đó, tôi khẳng định các phản ứng đó gọi là sự oxi hóa và yêu cầu học sinh nêu khái niệm sự oxi hóa

2 Xác định động cơ học tập cho học sinh

Khi thực hiện bất kể công việc gì đó nếu có động cơ, mục tiêu rõ ràng chúng

ta sẽ thấy được ỹ nghĩa của công việc mình đang và sẽ làm Nếu không có động cơ

và mục tiêu rõ ràng sẽ không thể nỗ lực hết mình và vượt qua mọi khó khăn Bởi vây, việc xác định động cơ, mục tiêu học tập cho học sinh là một biện pháp hết sức cần thiết, đặc biệt là đối với những học sinh dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, học sinh yếu kém Khi đó các em sẽ hình thành được ý thức học tập đúng đắn, có thái độ đúng mực với việc học, các em sẽ tập trung, chú ý hơn, dành nhiều thời gian hơn với việc học và kết quả học tập sẽ cao hơn Bằng sự hiểu biết của bản thân, thông qua các câu chuyện so sánh về kết quả học tập, về cuộc sống của những người có động cơ học tập, đạt kết quả cao và những người không được đi học, lười học, bỏ học Các em dần dần hình thành được câu trả lời: “Học để làm gì?”, “Học cho ai?”, “Học như thế nào?” Từ đó các em sẽ nỗ lực hơn trong việc học

Trang 10

3 Gây hứng thú học tập, hình thành sự yêu thích bộ môn

3.1 Hình thành niềm tin cho học sinh

Tôi cho rằng để làm một việc gì đó đạt kết quả tốt thì không thể thiếu yếu tố niềm tin Cụ thể ở đây là niềm tin vào chính bản thân các em, vào người giáo viên

và niềm tin vào khoa học Đặc biệt là với học sinh yếu kém, các em có suy nghĩ tự

ti, sợ gọi lên bảng, sợ gọi trả lời câu hỏi Vậy sự tự tin là một trong những điều kiện để các em mạnh dạn hơn, tìm thấy hứng thú trong học tập Trước tiên, cần phải tiến hành phân loại học lực của học sinh, nắm chắc những học sinh yếu, phát hiện học sinh giỏi Từ đó tìm hiểu hoàn cảnh gia đình, gần gũi, quan tâm sâu sắc đến đời sống sinh hoạt của các em Người giáo viên không chỉ đơn thuần là người truyền đạt kiến thức mà còn có vai trò như là người cha, người mẹ Làm cho các

em cảm nhận được sự gần gũi, tình thương của người thầy Động viên, khích lệ kịp thời khi các em có những câu trả lời, ý kiến hay bài giải hay Làm cho các em mạnh dạn phát biểu ý kiến, trao đổi, từ đó hình thành niềm tin và cố gắng học tập, tiến tới hứng thú trong học tập Biến kiến thức của SGK, tài liệu tham khảo thành kiến thức của mình khi truyền thụ cho học sinh, từ đó tôi đã gây cho học sinh một niềm tin vững chắc về kiến thức ở người thầy, các em thấy người thầy là thiêng liêng cao cả và giữa giáo viên và học sinh phải có một khoảng cách nhất định về kiến thức nhưng rồi lại được quy tụ tại một điểm

Ngoài ra còn phải tìm hiểu nguyện vọng, ước mơ của học sinh xem sau này các em muốn làm nghề gì, ước mơ như thế nào Từ đó qua các câu chuyện, sự hiểu biết thực tế người thầy sẽ có định hướng nghề nghiệp cho học sinh Đây là một việc làm rất quan trọng, nó sẽ đáp ứng mục tiêu giáo dục của nhà trường THCS đó

là định hướng nghề cho các em Như vậy ngay từ khi học THCS các em đã có ước

mơ cho tương lai sau này

3.2 Dùng câu hỏi tạo tình huống gây hứng thú, kích thích sự tò mò cho học

sinh: Trong một số bài giáo viên sử dụng những câu hỏi nhằm kích thích sự tò mò của học sinh và tạo điểm nhấn của bài, gây sự chú ý để học sinh tập trung chủ động

tư duy sẽ làm khả năng ghi nhớ kiến thức của học sinh dễ dàng hơn

Ví dụ : Khi dạy bài: Không khí – Sự cháy ( Tiết 42 - Lớp 8)

Giáo viên có thể đặt vấn đề như sau: Có cách nào để xác định thành phần của không khí? Không khí có liên quan gì đến sự cháy? Tại sao khi có gió to thì đám cháy càng dễ bùng cháy to hơn? Làm thế nào để dập tắt được đám cháy và tốt hơn là để các đám cháy không xảy ra?

3.3 Sử dụng các “bài thơ”, câu văn vần giúp học sinh ghi nhớ kiến thức:

Ngày đăng: 13/02/2019, 02:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w