1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sáng kiến hợp tác kinh tế vịnh bắc bộ mở rộng và tác động tới quan hệ quốc tế ở đông nam á

197 167 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 197
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhiệm vụ nghiên cứu 1 Tổng quan các nghiên đã có để làm rõ một số vấn đề lý luận, thực tiễn về hợp tác tiểu vùng nói chung và Hợp tác kinh tế VBBMR nói riêng; 2 Tổng hợp, phân tích

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUY ỄN QUỐC TRƯỜNG

SÁNG KI ẾN HỢP TÁC KINH TẾ VỊNH BẮC BỘ MỞ RỘNG

VÀ TÁC ĐỘNG TỚI QUAN HỆ QUỐC TẾ Ở ĐÔNG NAM Á

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUỐC TẾ HỌC

Hà N ội - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUY ỄN QUỐC TRƯỜNG

SÁNG KI ẾN HỢP TÁC KINH TẾ VỊNH BẮC BỘ MỞ RỘNG

VÀ TÁC ĐỘNG TỚI QUAN HỆ QUỐC TẾ Ở ĐÔNG NAM Á

Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế

Mã số: 62 31 02 06

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUỐC TẾ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS, TS Hoàng Khắc Nam

Hà N ội - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận án là trung thực, có nguồn

gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận án chưa từng

được công bố trên bất kỳ công trình nào khác

Tác gi ả luận án

Nguy ễn Quốc Trường

i

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của tôi đối với PGS, TS Hoàng Khắc Nam, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong

suốt thời gian tôi nghiên cứu, thực hiện và hoàn thành luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Quốc tế học, Phòng Đào tạo sau đại học và các đơn vị hữu quan của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận án

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với gia đình, cơ quan, đồng nghiệp, bạn bè thân thiết đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện thuận lợi

để tôi hoàn thành luận án này

ii

Trang 5

M ỤC LỤC

L ỜI CAM ĐOAN i

L ỜI CẢM ƠN ii

DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii

PH ẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do lựa chọn đề tài 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp của đề tài 8

6 Cấu trúc của Luận án 9

Chương 1 T ỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ H ỢP TÁC KINH TẾ V ỊNH BẮC BỘ MỞ RỘNG 10

1.1 Các nghiên c ứu trực tiếp về Hợp tác kinh tế VBBMR 10

1.1.1 Hướng nghiên cứu nhận diện Hợp tác kinh tế VBBMR, đánh giá tác động và đề xuất đối sách 11

1.1.2 Hướng nghiên cứu tập trung vào đánh giá tính khả thi, triển vọng của H ợp tác kinh tế VBBMR, của các học giả Trung Quốc 16

1.2 Các nghiên c ứu đặt Hợp tác kinh tế VBBMR trong chiến lược khu v ực của Trung Quốc 20

1.3 Công trình nghiên c ứu của chuyên gia các nước khác 25

Ti ểu kết 28

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN C ỦA HỢP TÁC KINH T Ế VỊNH BẮC BỘ MỞ RỘNG 31

2.1 Cơ sở lý luận 31

2.1.1 M ột số khái niệm và hình thức hợp tác tiểu vùng 31

2.1.2 M ột số lý thuyết về chính trị, quan hệ quốc tế có liên quan 43

iii

Trang 6

2.2 Cơ sở thực tiễn 50

2.2.1 Điều kiện tự nhiên và bối cảnh khu vực tạo cơ sở hình thành Hợp tác kinh t ế VBBMR 50

2.2.2 Th ực tiễn hợp tác tiểu vùng trong khu vực và kinh nghiệm để triển khai h ợp tác kinh tế VBBMR 61

Ti ểu kết 70

Chương 3 H ỢP TÁC KINH TẾ VỊNH BẮC BỘ MỞ RỘNG: T Ừ SÁNG KI ẾN ĐẾN HÀNH ĐỘNG 72

3.1 Khái quát v ề Hợp tác kinh tế VBBMR 72

3.1.1 V ịnh Bắc Bộ và phạm vi Hợp tác kinh tế VBBMR 72

3.1.2 Xu ất xứ sáng kiến, mục tiêu và các nội dung hợp tác chủ yếu 73

3.1.3 Đánh giá tiềm năng và triển vọng hợp tác 78

3.2 Tình hình tri ển khai hợp tác từ phía Trung Quốc 80

3.2.1 Giai đoạn 2006 - 2012: Tập trung phát triển Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ Qu ảng Tây 80

3.2.2 Giai đoạn 2013 - 2016: Hợp tác kinh tế VBBMR là một phần của sáng kiến “M ột vành đai, một con đường” 85

3.3 Tình hình tham gia h ợp tác của các nước ASEAN và Việt Nam 95

3.3.1 Tình hình tham gia h ợp tác của ASEAN 95

3.3.2 Tình hình tham gia h ợp tác của Việt Nam 101

3.4 D ự báo triển vọng Hợp tác kinh tế VBBMR 105

3.4.1 “K ịch bản” 1: Cơ chế hợp tác không được hoàn thiện và Hợp tác kinh tế VBBMR b ị quên lãng, hoặc thay đổi tên gọi 105

3.4.2 “K ịch bản 2”: Hợp tác kinh tế VBBMR trở thành sáng kiến hỗ trợ cho các sáng kiến hợp tác mới 106

Chương 4 TÁC ĐỘNG CỦA HỢP TÁC KINH TẾ VỊNH BẮC BỘ M Ở R ỘNG VỚI QUAN HỆ QUỐC TẾ Ở ĐÔNG NAM Á 110

4.1 M ột số nét chính về quan hệ quốc tế ở Đông Nam Á 110

iv

Trang 7

4.2 Tác động của Hợp tác kinh tế VBBMR với cạnh tranh nước lớn ở

Đông Nam Á 112

4.2.1 Nâng cao v ị thế của Trung Quốc trong các cơ chế ASEAN+1, ASEAN+3 112

4.2.2 C ạnh tranh với các sáng kiến hợp tác, kết nối của Mỹ, Nhật Bản 114

4.2.3 Góp ph ần gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc với một số đồng minh, đối tác c ủa Mỹ ở Đông Nam Á 122

4.3 Tác động tới quan hệ Trung Quốc – ASEAN 123

4.3.1 Nh ững tác động tích cực 123

4.3.2 Nh ững tác động tiêu cực 127

4.4 Tác động đối với Việt Nam 132

4.4.1 Tác động tích cực 132

4.4.2 Những tác động tiêu cực 136

4.5 Ki ến nghị định hướng chính sách của Việt Nam 141

4.5.1 Xác định phương châm, chủ trương hợp tác phù hợp và nâng cao nội lực qu ốc gia 141

4.5.2 Tích cực phối hợp với ASEAN, tranh thủ sự hợp tác của các nước lớn 142

4.5.3 Đẩy mạnh nghiên cứu, dự báo và trao đổi thông tin 144

4.5.4 Ch ủ động thúc đẩy các dự án hợp tác có lợi cho Việt Nam 145

Ti ểu kết 146

K ẾT LUẬN 147

DANH M ỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 152

PH Ụ LỤC

v

Trang 8

DANH M ỤC CÁC BẢNG

Bảng 2 1: Các cấp độ hội nhập chính sách kinh tế khu vực 40 Bảng 2 2: Tổng kim ngạch thương mại Trung Quốc với từng nước ASEAN qua một số năm 55 Bảng 3.1: 9 kỳ Diễn đàn hợp tác kinh tế VBBMR, tại Trung Quốc 83 Bảng 3 1: Các nước đã ký văn bản hợp tác “một vành đai, một con đường”, tính đến tháng 10/2016 88 Bảng 3 2: Một số dự án hạ tầng Trung Quốc triển khai tại các nước ASEAN theo sáng kiến Hợp tác kinh tế VBBMR và “Một vành đai, một con đường” 100 Bảng 4 1: Một số sáng kiến hợp tác tiểu vùng đang triển khai 115

ở Đông Nam Á 115 Hình 4.3: Hai nhóm nước ASEAN tham gia Hợp tác kinh tế VBBMR có mức

độ hợp tác và đấu tranh khác nhau trong quan hệ với Trung Quốc 128

vi

Trang 9

DANH M ỤC CÁC HÌNH

Hình 3 1: Nội dung Hợp tác kinh tế VBBMR trong tương quan hợp tác

“Hai hành lang, một vành đai” và sáng kiến Con đường tơ lụa trên biển của Trung Quốc 89 Hình 3.2: Sơ đồ tổ chức Hợp tác kinh tế VBBMR theo đề xuất của ADB 91 Hình 4.1: Các định chế tài chính cho vay vốn thuộc dự án Hợp tác kinh tế VBBMR và “Một vành đai, một con đường” 121

vii

Trang 10

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

T ừ viết tắt tiếng Anh Diễn giải từ viết tắt

ACMES : Hợp tác chiến lược ba dòng sông Ayeyawady -

Chao Phraya - Mekong

APEC : Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình

Dương AIIB : Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á

ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

CAFTA : Hiệp định tự do thương mại Trung Quốc - ASEAN

CLMV : Campuchia, Lào, Myanmar, Việt Nam

DOC : Tuyên bố chung về ứng xử của các bên ở Biển

Đông

ECSC : Cộng đồng than thép châu Âu

FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GMS : Chương trình hợp tác tiểu vùng Mê Công mở rộng

viii

Trang 11

MOU : Bản ghi nhớ

ODI : Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

SOM : Hội nghị quan chức cấp cao

TPP : Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương

Trang 12

PH ẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do l ựa chọn đề tài

Hợp tác kinh tế Vịnh Bắc Bộ mở rộng (VBBMR) là ý tưởng được lãnh đạo Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây của Trung Quốc đưa ra trong sáng kiến hợp tác phát triển “Một trục, hai cánh”, vào tháng 7 năm 2006 Theo

đó, “một trục” là Hành lang kinh tế Nam Ninh - Singapore và “hai cánh” gồm hai khu vực là Vịnh Bắc Bộ mở rộng và Tiểu vùng sông Mê Công mở rộng (GMS) Mặc dù Vịnh Bắc Bộ chỉ nằm giữa Việt Nam và Trung Quốc, song hợp tác kinh tế VBBMR xác định phạm vi hợp tác bao trùm cả một số tỉnh phía Nam, Tây Nam Trung Quốc và hầu hết các nước ASEAN như: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Singapore… Bên cạnh đó, Hợp tác kinh tế VBBMR danh nghĩa là “sáng kiến hợp tác kinh tế”, nhưng thực chất triển khai cho thấy đây là một chiến lược mang tầm khu vực của Trung Quốc, hướng tới các mục tiêu không đơn thuần là kinh tế Do vậy, sáng kiến này có tác động không nhỏ đến liên kết kinh tế và quan hệ quốc tế ở khu vực Đông Nam Á, nhất là trên các khía cạnh đoàn kết nội khối, kết nối ASEAN; quan hệ giữa ASEAN với các nước đối tác của khối này; cạnh tranh nước lớn

ở khu vực Đông Nam Á

Sáng kiến hợp tác kinh tế VBBMR được đưa ra và triển khai trong thời

kỳ quan hệ Trung Quốc - ASEAN phát triển mạnh mẽ và hình thành nhiều hình thức liên kết, hợp tác ngày càng đa dạng hơn Đáng chú ý là hợp tác kinh

tế VBBMR đã có những thay đổi lớn và tác động nhiều hơn đến quan hệ quốc

tế ở Đông Á Trong thời gian gần đây, khi Mỹ tuyên bố chuyển trọng tâm chiến lược về châu Á và đẩy mạnh các sáng kiến kết nối với một số nước ASEAN; tranh chấp lãnh hải Trung - Nhật, Trung Quốc - ASEAN căng thẳng, cạnh tranh ảnh hưởng giữa Trung Quốc với các nước lớn ở Đông Nam Á ngày càng mạnh mẽ Đặc biệt là từ cuối năm 2013, Trung Quốc công bố sáng

1

Trang 13

kiến “Một vành đai, một con đường”, trong đó các nước ASEAN là đối tác quan trọng và nội dung hợp tác kinh tế VBBMR cũng đã được Trung Quốc điều chỉnh theo hướng coi đây là một bộ phận của sáng kiến hợp tác “Một vành đai, một con đường” mang tính toàn cầu của Trung Quốc Theo đó, Hợp tác kinh tế VBBMR bên cạnh mục tiêu kinh tế, được xem như là một kênh hợp tác quan trọng để duy trì và gia tăng ảnh hưởng, “sức mạnh mềm” của Trung Quốc ở khu vực Đông Nam Á Trung Quốc muốn thông qua khuôn khổ hợp tác này thúc đẩy hợp tác kinh tế song phương với từng nước ASEAN

và lôi kéo ngày càng nhiều các nước ASEAN vào “quỹ đạo” ảnh hưởng của mình, qua đó góp phần hạn chế ảnh hưởng của Mỹ và các nước lớn khác với ASEAN

Mặc dù hợp tác kinh tế VBBMR đã và đang có tác động mạnh mẽ với kinh tế và quan hệ đối ngoại trong khu vực, nhưng thời gian qua các nước ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng nhìn chung còn bị động, lúng túng trong tiến trình tham gia đàm phán, hợp tác Công tác nghiên cứu, dự báo nhìn chung còn yếu, do đó, làm giảm hiệu quả tham gia và hợp tác của Việt Nam trong sáng kiến hợp tác này Các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây hầu như chưa trả lời câu hỏi: Hợp tác kinh tế VBBMR có tác động như thế nào đối với quan hệ quốc tế ở Đông Nam Á? Triển vọng sáng kiến này sẽ

ra sao? Việt Nam cần lựa chọn các định hướng chính sách nào trong bối cảnh Trung Quốc triển khai sáng kiến “Một vành đai, một con đường” bao trùm lên sáng kiến Hợp tác kinh tế VBBMR?

Luận án này nhằm tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu nêu trên Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm rõ hơn các mối quan hệ quốc tế đang diễn biến phức tạp ở khu vực Đông Nam Á; đồng thời cung cấp cơ sở khoa học để

từ đó đề xuất kiến nghị, các giải pháp, định hướng chính sách nhằm giúp Việt Nam tham gia hợp tác hiệu quả hơn; giảm thiểu những tác động tiêu cực từ

Hợp tác kinh tế VBBMR

2

Trang 14

2 M ục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 M ục tiêu

Làm rõ tác động của sáng kiến Hợp tác kinh tế VBBMR đối với quan

hệ quốc tế ở khu vực Đông Nam Á nói chung và với Việt Nam nói riêng; dự báo triển vọng hợp tác kinh tế VBBMR; đề xuất kiến nghị chính sách cho Việt Nam

2.2 Các nhiệm vụ nghiên cứu

(1) Tổng quan các nghiên đã có để làm rõ một số vấn đề lý luận, thực tiễn

về hợp tác tiểu vùng nói chung và Hợp tác kinh tế VBBMR nói riêng;

(2) Tổng hợp, phân tích thông tin, khải sát, đánh giá thực trạng hợp tác

và những tác động tích cực, tiêu cực của Hợp tác kinh tế VBBMR đối với quan hệ quốc tế ở khu vực Đông Nam Á; chỉ ra các cơ hội và thách thức đặt

ra với ASEAN và Việt Nam

(3) Trên cơ sở các thông tin, dữ liệu thu thập được, phân tích, dự báo

xu hướng phát triển, các “kịch bản” của Hợp tác kinh tế VBBMR trong những năm tới

(4) Đề xuất các kiến nghị, định hướng chính sách giúp Việt Nam tận dụng cơ hội, giảm thiểu tác động tiêu cực từ Hợp tác kinh tế VBBMR

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận án là quá trình hình thành và triển khai sáng kiến Hợp tác kinh tế VBBMR từ năm 2006 đến năm 2016 và tác động của nó với quan hệ quốc tế trong khu vực Đông Nam Á nói chung và với Việt Nam nói riêng

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi thời gian: Từ năm 2006 đến năm 2016 là giai đoạn hơn mười năm, bao gồm toàn bộ tiến trình hợp tác kinh tế VBBMR kể từ lúc khởi xướng năm 2006 đến năm 2016)

3

Trang 15

- Phạm vi không gian: Trung Quốc, Việt Nam và các nước ASEAN tham gia hợp tác kinh tế VBBMR Trong phân tích tác động, không gian nghiên cứu được mở ra toàn khu vực châu Á - Thái Bình Dương

4 P hương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, Luận án sử dụng một số số phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận chủ yếu gồm:

4.1 Một số phương pháp nghiên cứu chung của khoa học xã hội

(1) Phương pháp tổng hợp: Đối với phần cơ sở lý thuyết của Luận án, phương pháp này được sử dụng để tổng hợp, khái quát các quan niệm khác nhau về hợp tác tiểu vùng, các loại hình hợp tác tiểu vùng, thành một chỉnh

thể để, từ đó rút ra đặc trưng chung làm cơ sở đưa ra một khái niệm mới đầy

đủ hơn về hợp tác tiểu vùng Đối với các nội dung khác, Luận án sử dụng phương pháp tổng hợp để làm rõ tình hình, thực trạng Hợp tác kinh tế VBBMR cũng như cạnh tranh nước lớn trong hợp tác tiểu vùng ở Đông Nam

Á, từ đó rút ra các đánh giá, nhận định về tác động của Hợp tác kinh tế VBBMR đối với quan hệ quốc tế trong khu vực

(2) Phương pháp hệ thống - cấu trúc: Đây là phương pháp nghiên cứu được áp dụng cho nghiên cứu Hợp tác kinh tế VBBMR với tư cách là một hệ

thống hình thành từ nhiều yếu tố có tác động qua lại lẫn nhau Trong đó, một

hệ thống các yếu tố có quan hệ tương tác lẫn nhau gồm: kinh tế, chính trị, đối ngoại, an ninh Bên cạnh đó, Hợp tác kinh tế VBBMR cũng được Luận án xem xét, đánh giá là một bộ phận trong tổng thể lớn hơn là sáng kiến “Một vành đai, một con đường”

(3) Phương pháp phân tích tác động: Trong luận án, phương pháp này

được sử dụng để đánh giá hướng, mức độ, cường độ của các tác động cũng

như khả năng tác động và bị tác động của các đối tượng Chẳng hạn, đánh giá

mức độ chịu tác động khác nhau của Việt Nam và các nước ASEAN khác

4

Trang 16

trong bối cảnh Trung Quốc đẩy mạnh triển khai Hợp tác kinh tế VBBMR và các nước lớn khác cũng tăng cường hợp tác tiểu vùng ở Đông Nam Á

(4) Phương pháp nghiên cứu thực địa: Được sử dụng để đánh giá tính

thực tế của những thuận lợi, khó khăn về điều kiện tự nhiên, xã hội đối với các chương trình, dự án hợp tác kinh tế VBBMR Đồng thời, phương pháp này cũng nhằm đánh giá tác động ngược lại của các hoạt động hợp tác kinh tế đối với môi trường tự nhiên và xã hội Trong quá trình thực hiện Luận án, tác giả luận án đã khảo sát thực địa tại các cặp cửa khẩu Móng Cái - Đông Hưng; Trà Lĩnh - Long Bang; thành phố Nam Ninh và cảng Phòng Thành (Quảng Tây, Trung Quốc)

(5) Phương pháp dự báo: Phương pháp dự báo được sử dụng nhằm

phân tích, dự báo các khả năng triển khai hợp tác; xu hướng hợp tác của các bên trong tiến trình thúc đẩy Hợp tác kinh tế VBBMR Trong luận án, phương pháp này được sử dụng để đưa ra các kịch bản dự báo triển vọng của Hợp tác kinh tế VBBMR trong tương lai

(6) Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng để so sánh tương quan thực lực, tiềm lực kinh tế của các bên trong hợp tác kinh tế VBBMR; so sánh kết quả hợp tác kinh tế giữa các đối tác trong những thời kỳ khác nhau; so sánh kim ngạch đầu tư, thương mại của ASEAN với Trung Quốc và các đối tác khác để đánh giá mức độ quan trọng của Trung Quốc với ASEAN…

Các sơ đồ, bảng số liệu sẽ được sử dụng để thể hiện các ý tưởng và thuyết minh về các hiện tượng, thực trạng, trong quá trình so sánh

(7) Phương pháp lịch sử: Là phương pháp nghiên cứu bằng cách đi tìm nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển của đối tượng từ đó rút ra bản chất

và quy luật của đối tượng Trong trường hợp luận án này, phương pháp lịch

sử được ứng dụng để mô tả, tái hiện lại toàn bộ tiến trình Hợp tác kinh tế

5

Trang 17

VBBMR trong giai đoạn 2006 - 2016 qua các giai đoạn nhỏ hơn Qua đó, cung cấp cơ sở khoa học để so sánh, đánh giá, rút ra nhận định về động cơ, mục đích hợp tác của các bên tham gia hợp tác trong từng giai đoạn cũng như

dự báo triển vọng Hợp tác kinh tế VBBMR trong giai đoạn tới…

4.2 Một số phương pháp nghiên cứu và lý thuyết về quan hệ quốc tế

(1) Phương pháp phân tích chính sách đối ngoại: Phương pháp này được sử dụng để phân tích, so sánh chính sách đối ngoại của một hoặc một số quốc gia bao quát nhiều vấn đề khác nhau, từ an ninh truyền thống và các lĩnh vực kinh tế tới những vấn đề về môi trường, năng lượng, di cư … Trong Luận

án, phương pháp này được sử dụng chủ yếu để phân tích các chính sách đối ngoại, chính sách kinh tế đối ngoại của các chủ thể gồm Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, các nước ASEAN; giải thích lý do, mục tiêu của những chính sách đối ngoại mà các chủ thể nói trên đưa ra và tác động của nó tới quan hệ quốc

tế trong khu vực

(2) Lý thuyết trò chơi (Game theory) được ứng dụng như một phương pháp để xem xét sự lựa chọn hợp tác của các bên cũng như việc xác định mục tiêu, nguyên tắc, nội dung Hợp tác kinh tế VBBMR giữa Trung Quốc với các nước ASEAN

(3) Cách tiếp cận của Chủ nghĩa hiện thực được sử dụng để tìm hiểu, phân tích, làm rõ tương quan quyền lực, sự cạnh tranh và vai trò của các nước lớn ở khu vực Một số lý thuyết của Chủ nghĩa hiện thực, Thuyết ổn định bá quyền (Hegemonic stability theory) được vận dụng ở mức độ nhất định trong việc xem xét tham vọng, lợi ích quốc gia của các đối tác tham gia Hợp tác kinh tế VBBMR; đánh giá vai trò của Trung Quốc trong sáng kiến hợp tác này và liệu sự dẫn dắt hợp tác của Trung Quốc có mang lại ổn định cho khu vực không?

(4) Cách tiếp cận của Chủ nghĩa tự do để tìm hiểu tiến trình liên kết kinh tế, hợp tác quốc tế giữa Trung Quốc với ASEAN và các quốc gia có liên

6

Trang 18

quan khác Theo đó, Chủ nghĩa tự do nói chung, Chủ nghĩa xuyên quốc gia (Transnationalism) nói riêng cùng một số lý thuyết về hợp tác khu vực được

vận dụng để lý giải nguyên nhân hình thành và việc xác định mô hình, chủ thể

hợp tác của sáng kiến Hợp tác kinh tế VBBMR

(5) Hợp tác kinh tế VBBMR thực chất là sáng kiến hợp tác xuyên quốc gia Do vậy, cách tiếp cận của Chủ nghĩa xuyên quốc gia (Transnationalism) được vận dụng để: (1) Đánh giá lợi ích quốc của các đối tác tham gia hợp tác, trên các bình diện hội nhập khu vực về kinh tế, chính trị, xã hội; (2) Đánh giá

sự phụ thuộc lẫn nhau của các đối tác tham gia hợp tác

(6) Cách tiếp cận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử cũng được vận dụng để nghiên cứu tiến trình Hợp tác kinh tế VBBMR theo từng giai đoạn và đưa ra các nhận định, đánh giá khách quan đối với sáng kiến hợp tác này Đồng thời, Luận án cũng kết hợp nghiên cứu lý thuyết với quá trình thực tiễn tham gia, hoạch định chính sách hợp tác của các bên, đặc biệt của Việt Nam, trong sáng kiến Hợp tác kinh tế VBBMR Qua đó, làm rõ

cả hai mặt lý luận và thực tiễn; tác động tích cực và tiêu cực của sáng kiến hợp tác này đối với hợp tác quốc tế trong khu vực

(7) Cách tiếp cận đa ngành, đa lĩnh vực: Nội dung Hợp tác kinh tế VBBMR bao gồm nhiều lĩnh vực, do vậy việc đánh giá tác động của sáng kiến hợp tác này được đặt trong mối quan hệ giữa kinh tế với các lĩnh vực chính trị, đối ngoại, an ninh; trong mối quan hệ giữa chính sách đối nội, đối ngoại của các quốc gia tham gia hợp tác

Ngoài ra, lý thuyết về “cực tăng trưởng”, mô hình “trung tâm-ngoại vi”

và các lý thuyết khác về hợp tác khu vực cũng đã Luận án được vận dụng ở mức độ nhất định

7

Trang 19

5 Đóng góp của đề tài

5.1 V ề lý luận

- Luận án làm sáng tỏ thêm một số vấn đề liên quan hợp tác tiểu vùng như các khái niệm “tiểu vùng”, “hợp tác tiểu vùng”; các hình thức khác nhau của “hợp tác tiểu vùng”; một số đặc trưng chủ yếu của “hợp tác kinh tế tiểu vùng” Từ việc làm sáng tỏ các vấn đề lý luận nêu trên, tác giả Luận án đưa

ra khái niệm “Hợp tác tiểu vùng” mới, dựa trên 7 đặc trưng của hình thức hợp tác này, phù hợp với thực tế các sáng kiến hợp tác tiểu vùng đang được triển khai ở khu vực Đông Á

- Làm rõ Hợp tác kinh tế VBBMR với tư cách là một mô hình liên kết kinh tế quốc tế khu vực có một số đặc điểm riêng về cơ chế, chủ thể hợp tác khác với các mô hình hợp tác tiểu vùng ở khu vực Đông Á

- Làm rõ thêm chính sách hợp tác tiểu vùng, chính sách kinh tế đối ngoại của Trung Quốc với các nước trong khu vực Đông Nam Á

- Góp phần tìm hiểu chính sách đối ngoại của Trung Quốc, nhất là chính sách đối với các nước Đông Nam Á

- Góp phần tìm hiểu về quan hệ quốc tế trong khu vực, nhất là xu thế hợp tác, kết nối khu vực trong nội bộ các quốc gia ASEAN và giữa ASEAN với Trung Quốc và các nước khác

- Góp phần làm rõ cạnh tranh giữa các nước lớn tại khu vực Đông Nam

Á, nhất là cạnh tranh gia tăng sức mạnh mềm giữa Trung Quốc với Mỹ, Trung Quốc với Nhật Bản

5.2 Về thực tiễn

Cung cấp một số luận cứ, cơ sở khoa học cho các bộ, ngành, Đảng và Nhà nước Việt Nam để tham khảo trong xác định chủ trương, hoạch định chính sách và xử lý các vấn đề liên quan Hợp tác kinh tế VBBMR nói riêng, hợp tác với Trung Quốc trong các sáng kiến kết nối khu vực nói chung

8

Trang 20

6 C ấu trúc của Luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận án gồm 04 chương:

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về hợp tác kinh tế VBBMR

Chương này tổng quan nghiên cứu, nhận định của các chuyên gia Việt Nam, Trung Quốc, ASEAN và các học giả phương Tây về sáng kiến Hợp tác kinh tế VBBMR; xác định một số nội dung luận án cần tập trung nghiên cứu

do các nghiên cứu nói trên chưa đề cập, hoặc làm rõ

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của Hợp tác kinh tế VBBMR

Nội dung chính của Chương 2 là làm rõ các lý thuyết về quan hệ quốc

tế có liên quan; các khái niệm tiểu vùng, hợp tác tiểu vùng, hợp tác kinh tế tiểu vùng và mô hình hợp tác tiểu vùng trong thực tiễn; xác định đặc trưng và

đề xuất khái niệm mới về hợp tác tiểu vùng

Chương 3: Hợp tác kinh tế VBBMR, từ sáng kiến đến hành động

Chương này chủ yếu khái quát xuất xứ, nội dung, ý tưởng Hợp tác kinh

tế VBBMR; quan điểm và tình triển khai hợp tác của Trung Quốc, các nước ASEAN theo các giai đoạn; nhận xét, đánh giá về thực trạng triển khai hợp tác nêu trên

Chương 4: Tác động của Hợp tác kinh tế VBBMR với quan hệ quốc tế

ở Đông Nam Á

Chương 4 tập trung đánh giá các tác động tích cực và tiêu cực của Hợp tác kinh tế VBBMR đối với quan hệ quốc tế ở khu vực Đông Nam Á; các tác động về hợp tác kinh tế, an ninh, đối ngoại, môi trường của sáng kiến hợp tác này với các nước ASEAN và Việt Nam; dự báo triển vọng hợp tác trong tương lai Đồng thời, đề xuất các định hướng chính sách giúp Việt Nam tham gia Hợp tác kinh tế VBBMR hiệu quả hơn trong thời gian tới

9

Trang 21

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ HỢP TÁC KINH TẾ VỊNH BẮC BỘ MỞ RỘNG

Kể từ khi Trung Quốc đề xuất sáng kiến Hợp tác kinh tế VBBMR trong khuôn khổ sáng kiến hợp tác phát triển “Một trục, hai cánh” vào tháng 7 năm

2006 đến nay, tại Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Ở Việt Nam, hầu hết các bộ, ngành như Ngoại giao, Kế hoạch và Đầu tư, Công thương, Quốc phòng, Công an và Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, đều

có các báo cáo, đề tài, đề án nghiên cứu về sáng kiến Hợp tác kinh tế VBBMR Tuy nhiên, đa số các báo cáo, công trình nghiên cứu nói trên không được phổ biến rộng rãi Trong khi đó, tại Trung Quốc, đặc biệt là Viện KHXH Quảng Tây cũng có nhiều nghiên cứu, báo cáo khoa học, sách xanh về sáng

kiến hợp tác này Ngoài các công trình nghiên cứu trực tiếp về hợp tác kinh tế VBBMR, tại Việt Nam, Trung Quốc, các nước trong và ngoài khu vực còn có một số công trình nghiên cứu, coi hợp tác kinh tế VBBMR như là một bộ phận của các chiến lược khu vực, toàn cầu của Trung Quốc Dưới đây là tổng quan

về một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về Hợp tác kinh tế VBBMR

1.1 Các nghiên c ứu trực tiếp về Hợp tác kinh tế VBBMR

Các công trình nghiên cứu trực tiếp về Hợp tác kinh tế VBBMR chủ yếu của các học giả Việt Nam và Trung Quốc, trong đó tập trung vào hai hướng nghiên cứu chủ yếu sau:

(1) Các nghiên cứu của Việt Nam chủ yếu nhận diện và đánh giá tác động của Hợp tác kinh tế VBBMR đối với Việt Nam, ASEAN; đề xuất đối sách, kiến nghị, giải pháp để Việt Nam tham gia hiệu quả sáng kiến hợp tác này Đồng thời, nhận định những thay đổi của Hợp tác kinh tế VBBMR trong

bối cảnh mới (sau năm 2012) và coi Hợp tác kinh tế VBBMR như là một bộ

phận trong chiến lược khu vực, toàn cầu của Trung Quốc

10

Trang 22

(2) Các nghiên cứu của học giả Trung Quốc tập trung vào đánh giá tính khả thi, triển vọng của Hợp tác kinh tế VBBMR

1.1.1 Hướng nghiên cứu nhận diện Hợp tác kinh tế VBBMR, đánh giá tác động và đề xuất đối sách

Công trình tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là Đề án Quy hoạch

phát triển khu vực VBBMR, do Bộ KHĐT (2013) [4] chủ trì nghiên cứu, nhằm

mục tiêu xây dựng căn cứ khoa học, làm cơ sở để các cấp lãnh đạo Trung ương và địa phương của Việt Nam hoạch định chính sách, triển khai các giải pháp phù hợp trong Hợp tác kinh tế VBBMR, góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác của Việt Nam Đồng thời, kiến nghị các giải pháp để Việt Nam tận

dụng mặt tích cực và hạn chế tác động tiêu cực từ sáng kiến hợp tác kinh tế tiểu vùng này, tạo thế chủ động cho Việt Nam trong quá trình tham gia hợp tác Nội dung nghiên cứu của Đề án gồm: Đánh giá bối cảnh hình thành hợp tác kinh tế VBBMR; dự báo tình hình, đánh giá thuận lợi và khó khăn của

Việt Nam khi tham gia khuôn khổ hợp tác này; đề xuất định hướng chính sách

và những lĩnh vực hợp tác chủ yếu Việt Nam cần thúc đẩy hợp tác trong giai đoạn 2013 - 2020 Trong đó, kiến nghị một số công trình, dự án ưu tiên hợp tác như:

(1) Trong lĩnh vực phát triển hạ tầng giao thông: Nâng cấp và xây dựng các tuyến đường cao tốc thuộc “Hai hành lang, một vành đai” kinh tế Việt Nam - Trung Quốc và một số cảng biển trọng điểm như: Lạch Huyện, Vũng Áng

(2) Trong lĩnh vực du lịch: Liên kết với Trung Quốc phát triển một số tuyến du lịch như Hải Nam, Bắc Hải, Hạ Long, Cát Bà; Côn Minh, Hà Nội,

Hạ Long

(3) Trong lĩnh vực nông nghiệp: Đẩy mạnh liên kết với Trung Quốc trong sản xuất máy móc nông nghiệp, phân bón, thuốc trừ sâu và nghiên cứu

giống lúa, chế biến nông sản

Đề án cũng đề xuất Chính phủ giao nhiệm vụ cho từng bộ, ngành hữu quan để liên kết, thúc đẩy Hợp tác kinh tế VBBMR

11

Trang 23

Cũng theo hướng nghiên cứu của Đề án nêu trên, Luận văn Thạc Sĩ của Nguyễn Quốc Trường (2014), [72], đã tập trung đánh giá bối cảnh, tình hình

triển khai hợp tác kinh tế VBBMR đến thời điểm năm 2013 và tác động của

nó với Việt Nam Tác giả Luận văn cho rằng, kể từ khi ý tưởng hợp tác nêu trên nhận được sự tán đồng và ủng hộ của Chính phủ Trung Quốc, lãnh đạo các nước ASEAN, hợp tác kinh tế VBBMR đã được chuyển từ nhận thức chung sang hoạt động thực tiễn Phía Trung Quốc đã phê chuẩn Quy hoạch Khu kinh tế VBB Quảng Tây; đầu tư hàng trăm tỷ USD nâng cấp hạ tầng, phát triển các thành phố “đầu cầu” cho Hành lang kinh tế Nam Ninh - Singapore; phát triển các vành đai kinh tế, các khu công nghiệp, cảng biển quy mô lớn ở khu vực Quảng Tây; biến Quảng Tây thành “cực tăng trưởng mới” của Trung Quốc Bên cạnh đó, Trung Quốc thông qua khuôn khổ hợp tác này lôi kéo ngày càng nhiều các nước ASEAN vào “quỹ đạo” ảnh hưởng

của mình Trong khi đó, Việt Nam và các nước ASEAN hầu như lúng túng, bị động trước các đề nghị hợp tác của Trung Quốc, thiếu thông tin, niềm tin và nguồn lực để hợp tác Theo đó, Hợp tác kinh tế VBBMR đang đặt ra những thách thức lớn với Việt Nam không chỉ về kinh tế, mà còn cả về an ninh, chính trị, đối ngoại, trong quan hệ với Trung Quốc và ASEAN Từ đó, tác giả

kiến nghị các giải pháp có tính khả thi nhằm giúp Việt Nam phát huy tối đa

những tác động tích cực đồng thời giảm thiểu những tác động tiêu cực của khuôn khổ hợp tác kinh tế này trong các lĩnh vực kể trên

Một nghiên cứu khác tập trung theo hướng đánh giá tác động của hợp tác kinh tế VBBMR với Việt Nam là Bài viết của TS Phạm Thái Quốc (2009)

có tựa đề Hợp tác kinh tế VBBMR và tác động [37] Tác giả bài viết đã giới

thiệu khái quát về phạm vi của khu vực hợp tác kinh tế VBBMR, đồng thời đánh giá tác động của sáng kiến này đối với Trung Quốc và khu vực cũng như cạnh tranh Trung Quốc - Mỹ ở Đông Nam Á Với Trung Quốc, tác giả cho rằng Hợp tác kinh tế VBBMR không chỉ là sự hỗ trợ quan trọng cho phát

12

Trang 24

triển khu vực Tây Nam nước này, mà còn quan trọng đối với thực thi chiến lược phát triển miền Tây - một trong những chiến lược phát triển lớn của Trung Quốc Bên cạnh đó, giới lãnh đạo Trung Quốc hưởng ứng mạnh mẽ việc triển khai sáng kiến hợp tác này vì muốn nắm bắt cơ hội, mở rộng hơn nữa mở cửa đối ngoại, dốc sức tạo môi trường phát triển lành mạnh, tìm mọi cách thu hút nguồn vốn, công nghệ và nhân tài từ bên ngoài, phát huy ưu thế

về địa lý ven biển và ưu thế tài nguyên của Quảng Tây để vươn lên

Đối với quan hệ đối ngoại ở khu vực, sáng kiến nói trên giúp quan hệ Trung Quốc - ASEAN ngày càng chặt chẽ hơn khiến cho những ảnh hưởng của Trung Quốc ở khu vực này đang gia tăng, lấp dần vào những chỗ trống do ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực này suy giảm, đặc biệt trong bối cảnh Mỹ tập trung vào các nỗ lực chống khủng bố cũng như hạn chế, ngăn chặn việc sản xuất vũ hạt nhân ở Bắc Triều Tiên và ở Iran Với Việt Nam, theo tác giả, tham gia vào Hợp tác kinh tế VBBMR, một mặt Việt Nam được lợi nhờ gia tăng các quan hệ thương mại - đầu tư với các nước cũng như thu được lợi nhà phát triển các dịch vụ (vận tải, du lịch ) vì Việt Nam là cầu nối Trung Quốc - ASEAN Mặt khác, vì Trung Quốc là nước lớn, do vậy cần tính đến những ảnh hưởng từ Trung Quốc và sự gia tăng phụ thuộc vào Trung Quốc

Một số công trình khác của các học giả Việt Nam trực tiếp nghiên cứu

Hợp tác kinh tế VBBMR, nhưng theo hướng nhận diện những thay đổi của Hợp tác kinh tế VBBMR trong bối cảnh mới, hoặc coi sáng kiến hợp tác này như là một bộ phận trong chiến lược khu vực, toàn cầu của Trung Quốc Tiêu

biểu cho hướng nghiên cứu này là đề tài khoa học cấp Bộ tên gọi Hợp tác kinh tế VBBMR trong chiến lược toàn cầu và chính sách Biển Đông của Trung Quốc của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam [85] Đề tài đã giới thiệu

khái quát những nội dung cơ bản của sáng kiến hợp tác kinh tế VBBMR; mục tiêu và một số bước triển khai hợp tác của Trung Quốc; bối cảnh Trung Quốc triển khai hợp tác kinh tế VBBMR và tình hình Biển Đông; mối tương quan

13

Trang 25

của sáng kiến này với các chiến lược khu vực, toàn cầu của Trung Quốc Điểm đáng chú ý của công trình nghiên cứu này là đặt hợp tác kinh tế VBBMR - một sáng kiến hợp tác tiểu vùng - trong chiến lược toàn cầu của Trung Quốc Nhóm tác giả xem hợp tác kinh tế VBBMR như là một “mảnh ghép” trong chiến lược khu vực, toàn cầu và chính sách Biển Đông của Trung

Quốc để từ đó nhận diện chính xác hơn mục tiêu triển khai sáng kiến này của Trung Quốc và những tác động của nó với quan hệ quốc tế khu vực và chính sách Biển Đông của Trung Quốc Phạm Sỹ Thành trong báo cáo Liên kết kinh

t ế Trung Quốc - ASEAN thông qua chương trình hợp tác kinh tế VBBMR [41]

cũng có một số nhận định tương tự khi cho rằng mục tiêu Hợp tác kinh tế VBBMR của Trung Quốc ngoài kinh tế còn hướng đến gia tăng ảnh hưởng tại khu vực, quốc tế hóa đồng Nhân dân tệ

Cũng theo hướng nghiên cứu này còn có báo cáo của PGS TS Lê Văn Sang (2015), với tên gọi Chuyển hóa phương thức hợp tác tiểu vùng VBBMR

c ủa Trung Quốc [38] Trong báo cáo khoa học này, tác giả đã điểm lại các đề

xuất của lãnh đạo Trung Quốc về hợp tác kinh tế VBBMR và cho rằng Trung Quốc triển khai sáng kiến hợp tác kinh tế VBBMR là nhằm hướng tới các

mục tiêu chiến lược như: Mở đường cho Trung Quốc ra Ấn Độ Dương, tạo

thế và lực cho Trung Quốc vươn ra làm bá chủ đại dương, thực hiện Giấc

mộng Trung Hoa, bá chủ thế giới Việc phát triển Quảng Tây, Vân Nam là nhằm xây dựng cầu nối hợp tác kinh tế Trung Quốc - ASEAN, mở rộng vùng nguyên liệu của nước này tại Đông Nam Á Trung Quốc đang lấy hợp tác đa phương Trung Quốc - ASEAN để thúc đẩy hợp tác song phương và điều này gây ra các tác động tiêu cực đối với Việt Nam Theo tác giả bài viết, từ năm

2006 đến nay, Trung Quốc luôn thay đổi, chuyển hóa phương thức hợp tác tiểu vùng VBBMR, làm cho đối tác khó đoán định, bị động đối phó Liên hệ tình hình tranh chấp Biển Đông và vụ Trung Quốc đặt giàn khoan HD 981 vào thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, PGS TS Lê Văn

14

Trang 26

Sang cho rằng việc Trung Quốc có động thái chuyển trọng tâm hợp tác từ trên

biển sang hợp tác trên đất liền có thể là điểm mới sau sự kiện giàn khoan HD

981, Việt Nam cần có sự phân tích để ứng phó

Nhìn nhận hợp tác kinh tế VBBMR như là một mảnh ghép trong chiến

lược khu vực và toàn cầu của Trung Quốc, cuốn sách Quan hệ Việt Nam - Trung Qu ốc, thực trạng và những vấn đề đặt ra [23, tr 453 - 471] của Học

viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đánh giá về Hợp tác kinh tế VBBMR trong bối cảnh Trung Quốc triển khai sáng kiến hợp tác mang tính chiến lược toàn cầu “Một vành đai, một con đường” Trong đó nhấn mạnh những tác động của sáng kiến nói trên đối với Hợp tác kinh tế VBBMR Trong phần viết

về Hợp tác kinh tế VBBMR với tư cách là một vấn đề đặt ra trong hợp tác Việt - Trung, tác giả chương sách cho rằng từ chỗ ban đầu là sáng kiến hợp tác tiểu vùng, ngày nay Trung Quốc đã xác định Hợp tác kinh tế VBBMR như

là một bộ phận của sáng kiến “Một vành đai, một con đường” có liên quan tới

ba châu lục và 65 quốc gia trên thế giới Kể từ năm 2013 đến nay, trong bối cảnh Trung Quốc đẩy mạnh sáng kiến “Một vành đai, một con đường”, nội dung hợp tác kinh tế VBBMR được đề xuất thay đổi gắn với sáng kiến Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ 21 của Trung Quốc và có sự tham gia mạnh mẽ

của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) Theo đó, chương trình hợp tác tiểu vùng này chỉ còn tập trung vào hai nội dung lớn là phát triển hạ tầng (cảng biển, logistic) và hợp tác tài chính Những nội dung này đang tạo ra cả cơ hội lẫn những thách thức mới với Việt Nam và các quốc gia ASEAN

Cũng theo hướng nghiên cứu nêu trên, Nguyễn Quốc Trường (2014) trong bài viết Hợp tác kinh tế Vịnh Bắc Bộ mở rộng: Chặng đường đã qua,

thuận lợi mới, khó khăn mới [69], đã phân tích những thành công và hạn chế

của sáng kiến hợp tác kinh tế VBMR qua gần 10 năm Đồng thời, dự báo về tương lai và những thuận lợi, khó khăn trong triển khai sáng kiến hợp tác này Tác giả bài viết nhận định: Trải qua chặng đường gần mười năm, dù đã đạt

15

Trang 27

những kết quả nhất định, song khuôn khổ hợp tác này vẫn bộc lộ không ít hạn chế về cơ chế phối hợp, các chương trình hợp tác, tính khả thi; chưa thật sự tạo thành một “kênh” thúc đẩy hợp tác kinh tế Trung Quốc - ASEAN như mục tiêu đặt ra Trong bối cảnh tình hình khu vực có nhiều thay đổi và hợp tác kinh tế VBBMR có sự tham gia mạnh mẽ hơn của ADB gần đây, chương trình hợp tác tiểu vùng này đang có những chuyển biến mang tính “bước ngoặt” với cơ hội mới và cả những khó khăn mới

Ngoài các công trình nghiên cứu nêu trên, một số đề án, đề tài khoa học, báo cáo nghiên cứu khác cũng đã đề cập đến hợp tác kinh tế VBBMR với tư cách là một sáng kiến hợp tác tiểu vùng đang được triển khai, hoàn thiện cơ

chế hợp tác và có ý nghĩa quan trọng đối với hợp tác Trung Quốc - ASEAN, hợp tác Việt - Trung nói riêng cũng như có tác động nhiều mặt đến an ninh, kinh tế và đối ngoại của Việt Nam Một số công trình, bài viết tiêu biểu như:

Định hướng chính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam với ASEAN thời kỳ

2011 - 2015 [5]; Báo cáo nghiên c ứu tính khả thi của Hợp tác kinh tế VBBMR

[11]; Đẩy nhanh kết nối giao thông, thúc đẩy hợp tác kinh tế Việt Nam-Trung

Qu ốc [67]; Về kế hoạch hợp tác kinh tế xuyên VBB giữa Trung Quốc và ASEAN [45]; Trung Qu ốc thúc đẩy Khu kinh tế VBB tỉnh Quảng Tây [46];

H ợp tác VBBMR [47]; Kinh tế biên giới Việt - Trung trước sự trỗi dậy của Trung Qu ốc [43]; Tăng cường hợp tác, cùng nhau xây dựng VBB thành vùng vịnh hữu nghị, xanh sạch và phồn vinh [40], Phát triển và hợp tác của Việt Nam phía b ờ Tây VBB mở rộng [80]…

1.1.2 Hướng nghiên cứu tập trung vào đánh giá tính khả thi, triển

v ọng của Hợp tác kinh tế VBBMR, của các học giả Trung Quốc

Trong giai đoạn 2008 - 2013, ở Trung Quốc đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các chuyên gia nước này về Hợp tác kinh tế VBBMR Các

nghiên cứu của giới chuyên gia Trung Quốc gồm hai nhóm chủ yếu:

16

Trang 28

(1) Đánh giá cao tính khả thi và triển vọng của Hợp tác kinh tế VBBMR

(2) Các báo cáo nghiên cứu làm cơ sở đề xuất chính sách, cơ chế hợp tác kinh tế VBBMR cho Trung Quốc và ASEAN

Dưới đây là tổng quan về một số bài viết, công trình nghiên cứu tiêu biểu:

- Cổ Tiểu Tùng và Lưu Kiến Văn (2008) trong bài viết Hợp tác kinh

tế khu vực Vịnh Bắc Bộ mở rộng: Đề xuất - Nhận thức chung - Thực tiễn [73],

đã đề xuất ý tưởng hợp tác kinh tế VBBMR trên cơ sở lý luận về hợp tác khu

vực cũng như đánh giá bối cảnh và xu thế hợp tác kinh tế giữa Trung Quốc và ASEAN Sau khi điểm lại nhận thức chung của các bên gồm Trung Quốc, ASEAN và các chuyên gia quốc tế về sáng kiến hợp tác này, hai tác giả khẳng định rằng các bên đang Quyết tâm biến nhận thức chung thành hành động Xây dựng Khu hợp tác kinh tế VBBMR phù hợp với lợi ích chung của Trung

Quốc và các nước ASEAN, có lợi cho việc làm sâu sắc quan hệ đối tác chiến lược Trung Quốc - ASEAN hướng tới hoà bình và thịnh vượng Bài viết cũng kiến nghị về phương pháp xúc tiến, cơ chế hợp tác và một số lĩnh vực trong tâm của hợp tác kinh tế VBBMR…

- Tạp chí Châu Á - Thái Bình Dương đương đại (Trung Quốc) số 3/2009 có bài Khó khăn và đột phá trong hợp tác kinh tế VBBMR [33] Bài

viết đã đánh giá cao vai trò của Hợp tác kinh tế VBBMR trong khuôn khổ hợp tác ASEAN10+1 bởi phạm vi sáng kiến hợp tác này bao trùm VBB và Biển Đông là những tuyến đường vận tải quan trọng nối liền Trung Quốc-ASEAN Đây cũng là điểm giao thoa của Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương

và hoạt động thương mại của khu vực phần lớn được tiến hành thông qua vùng biển này Tuy nhiên, việc triển khai sáng kiến hợp tác này đối mặt một

số khó khăn như: phạm vi địa lý của chương trình hợp tác cũng như nội dung hợp tác quá rộng lớn, trong khi các nước trong khu vực có trình độ phát triển không đồng đều; giữa các quốc gia tồn tại nhiều khác biệt về chính trị, văn

17

Trang 29

hóa; các bất ổn an ninh trong khu vực cản trở hợp tác kinh tế Để vượt qua các khó khăn nêu trên, tác giả bài báo cho rằng Trung Quốc và ASEAN cần phải tìm kiếm đột phá thông qua việc lựa chọn các dự án hợp tác để tăng kim ngạch đầu tư, phát triển mạnh mẽ vành đai kinh tế VBB, tận dụng hiệu quả gói tín dụng 10 tỷ USD Quỹ hợp tác phát triển hạ tầng Trung Quốc-ASEAN

mà Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo cam kết tại Diễn đàn châu Á Bác Ngao năm 2009

Lưu Kiến Văn (2010) trong báo cáo Nghiên cứu hợp tác Khu kinh tế VBB Quảng Tây (Trung Quốc) và Hành lang kinh tế Lạng Sơn-Hà Nội-Hải Phòng- Quảng Ninh (Việt Nam) [74], khẳng định: Hợp tác khu vực và toàn

cầu hoá đã trở thành xu thế quan trọng trong sự phát triển kinh tế thế giới ngày nay Hợp tác khu vực thông qua sự phân công hợp tác giữa các nước thành viên trong khu vực, có thể tận dụng hiệu quả hơn tài nguyên và thị trường, thúc đẩy sự phát triển và phồn vinh chung của nền kinh tế các nước thành viên Cùng với việc bắt đầu xây dựng xong Khu mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN vào năm 2010, hợp tác tiểu vùng sẽ trở thành điểm tựa quan trọng của hợp tác ngành nghề trong Khu mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN Tác giả đánh giá cao tiềm năng hợp tác, phát triển hợp tác giữa Khu kinh tế VBB Quảng Tây (Trung Quốc) và Hành lang kinh tế Lạng Sơn - Hà

Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh (Việt Nam), đồng thời đặc biệt nhấn mạnh vị trí “cầu nối” của Việt Nam giữa ASEAN và Trung Quốc Cho rằng Việt Nam

có ưu thế vị trí địa lý đặc thù trong Khu mậu dịch tự do Trung Quốc – ASEAN và hợp tác GMS, là một trong những tuyến đường bộ quan trọng từ các nước trên bán đảo Đông Dương đi vào Trung Quốc và từ Trung Quốc đi đến các nước trên bán đảo Đông Dương Theo đó, đưa ra các kiến nghị để thúc đẩy hợp tác giữa Khu kinh tế VBB Quảng Tây (Trung Quốc) và Hành lang kinh tế Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh (Việt Nam) gồm:

18

Trang 30

(1) Nhanh chóng triển khai Bản ghi nhớ về việc triển khai hợp tác “Hai hành lang một vành đai” giữa Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Chính phủ nước CHXH chủ nghĩa Việt Nam” mà hai bên đã ký tháng 11/2006, trong dịp Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ Cẩm Đào tham dự Hội nghị APEC tại Việt Nam, trong đó xác định rõ những lĩnh vực hợp tác trọng điểm

gồm: cơ sở hạ tầng, bao gồm đường sắt, đường bộ và cảng khẩu; vận tải hàng hoá và hành khách; khai thác và gia công tài nguyên thiên nhiên; thương mại

xuất nhập khẩu; nông nghiệp, công nghiệp, du lịch

(2) Lấy xây dựng “Hai hành lang, một vành đai” và hợp tác Thái Lan

và Lào làm trọng điểm, thúc đẩy xây dựng hành lang kinh tế Nam Ninh - Hà

Nội và hành lang kinh tế Nam Ninh - Băng Cốc, đặc biệt là thúc đẩy hợp tác thương mại, du lịch, lưu thông hàng hoá, giáo dục

(3) Đẩy nhanh xây dựng khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới Trung, tại các cặp cửa khẩu: Đông Hưng - Móng Cái; Bằng Tường - Đồng Đăng; Hà Khẩu - Lào Cai

Việt-Cổ Tiểu Tùng và nhóm tác giả của Viện KHXH Quảng Tây (2010)

trong cuốn Báo cáo hợp tác phát triển VBBMR [115] đã đánh giá khái quát về

tình hình phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương có liên quan hợp tác kinh tế VBBMR gốm Quảng Tây, Quảng Đông, Hải Nam (Trung Quốc) và các nước ASEAN; tình hình phát triển của Khu kinh tế VBB Quảng Tây và 4 thành phố ven biển gồm Nam Ninh, Bắc Hải, Khâm Châu, Phòng Thành

- Đỗ Bình (2011) trong cuốn sách Tiến vào Vịnh Bắc Bộ [108] đã tổng hợp nhận định, quan điểm, góc nhìn đa chiều của các nhà lãnh đạo Trung Quốc và Quảng Tây, các chuyên gia, học giả Trung Quốc về Hợp tác kinh tế VBBMR với tư cách là một chiến lược thúc đẩy cải cách mở cửa của quốc gia Riêng tác giả nhấn mạnh rằng hơn hai nghìn năm trước, khu vực VBB từng là nơi khởi đầu Con đường tơ lụa trên biển của Trung Quốc Ngày nay, nơi đây lại trở thành một cực tăng trưởng mới của Trung Quốc Việc phát triển VBB cần được xem là chiến lược quốc tế của quốc gia

19

Trang 31

Cũng theo hướng đánh giá cao tính khả thi và triển vọng của Hợp tác kinh

tế VBBMR còn có một số công trình, báo cáo nghiên cứu khác như: Đẩy nhanh xây dựng vành đai kinh tế ASEAN Nam Sùng Tả, thúc đẩy hợp tác phát triển cùng thắng Trung Quốc - ASEAN [106]; Tìm hiểu Hợp tác kinh tế VBBMR [120]; Báo cáo tình hình m ở cửa, phát triển khu kinh tế VBB quảng Tây [112, 113]; Báo cáo h ợp tác phát triển VBBMR các năm 2010, 2011 [115, 116]

Các báo cáo nói trên sau khi đánh giá bối cảnh, tình hình khu vực và Trung Quốc, ASEAN, Việt Nam cũng như tiềm năng hợp tác Trung Quốc-ASEAN và Trung Quốc-Việt Nam, đều đánh gia cao vai trò của hợp tác kinh

tế VBBMR trong hợp tác Trung Quốc-ASEAN nói chung và hợp tác Trung Quốc - Việt Nam nói riêng nói riêng; đồng thời đề xuất một số kiến nghị để thúc đẩy hợp tác kinh tế VBBMR và Hành lang kinh tế Nam Ninh-Singapore

Ngoài ra, một số báo cáo, văn kiện quan trọng của chính quyền địa phương, các Bộ, ngành phía Trung Quốc, nhóm chuyên gia hỗn hợp Trung Quốc – ASEAN cũng là những tài liệu quan trọng có ý nghĩa định hướng

cho Hợp tác kinh tế VBBMR Các báo cáo, văn kiện tiêu biểu gồm: Quy

ho ạch phát triển Khu kinh tế VBB Quảng Tây [114]; Hợp tác kinh tế VBBMR:

Lộ trình cho một tiểu vùng năng động [91, 92] của ADB đề xuất trong các năm 2013, 2014; Tài liệu Tầm nhìn và hành động thúc đẩy cùng nhau xây dựng Vành đai kinh tế con đường tơ lụa và Con đường tơ lụa trên biển thế kỷ

21 [119] của Bộ Ngoại giao, Bộ Thương Mại và Ủy ban Cải cách và Phát triển quốc gia Trung Quốc (2015); các báo cáo về kết nối cảng biển, hợp tác phát triển Hành lanh kinh tế Trung Quốc - Bán đảo Đông Dương giữa Trung Quốc và ASEAN [98, 99, 100]

1.2 Các nghiên c ứu đặt Hợp tác kinh tế VBBMR trong chiến lược khu v ực của Trung Quốc

Ngoài các công trình trực tiếp nghiên cứu về sáng kiến hợp tác kinh tế VBBMR nêu trên, trong khoảng mười năm qua, ở Việt Nam, Trung Quốc,

20

Trang 32

Singapore, Nhật Bản, Mỹ đã có một số đề tài, đề án, báo cáo và bài viết về sáng kiến “Một trục, hai cánh”, sáng kiến “Một vành đai, một con đường” của Trung Quốc1 Trong các công trình nghiên cứu này, Hợp tác kinh tế VBBMR được xem như một mắt xích trong chiến lược khu vực của Trung Quốc và được đặt trong mối tương quan với Hành lang kinh tế Nam Ninh - Singapore

và Hợp tác tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS), hợp tác Trung Quốc - ASEAN và sáng kiến Một vành đai, một con đường

Một trong những công trình tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là Đề

tài khoa học cấp Bộ của Bộ Ngoại giao Một trục hai cánh: Tác động tới Việt Nam [14], do Đặng Đình Quý (2008) và nhóm tác giả của Học viện Ngoại giao thực hiện Nhóm nghiên cứu Đề tài nhận định rằng, Trung Quốc đang cùng lúc đẩy mạnh hợp tác với ASEAN ở khu vực VBBMR, trục giữa (Hành lang kinh tế Nam Ninh - Singapore) và cánh phía Tây - GMS Theo đó, ở khu vực VBBMR, Trung Quốc đã đẩy mạnh phát triển hệ thống cảng biển với Phòng Thành là trung tâm và chuẩn bị kết nối với các cảng biển khác trong khu vực; ở trục giữa, Trung Quốc tích cực phát triển mạng lưới đường sắt, đường cao tốc kết nối với ASEAN; ở cánh phía Tây, Trung Quốc đẩy mạnh hợp tác giao thông thủy thượng nguồn Mê Công và từ năm 2004 đã đưa Quảng Tây vào hợp tác GMS nhằm hình thành cửa ngõ cho khu vực Tây Nam Trung Quốc kết nối với Đông Nam Á và Ấn Độ Dương Đề tài này đã thống

kê các công trình, dự án chủ yếu mà Trung Quốc đã, đang và sẽ triển khai ở GMS, Hành lang kinh tế Nam Ninh - Singapore và khu vực VBBMR Trên cơ

sở đánh giá các điều kiện thành công của sáng kiến, đề tài đánh giá “Một trục, hai cánh” tác động tích cực đến Việt Nam trên các phương diện như: cơ hội

1

“M ột trục” là Hành lang kinh tế Nam Ninh-Singapore; “hai cánh” gồm: cánh phía Đông

c ủa hành lang kinh tế nói trên là Hợp tác kinh tế VBBMR và cánh phía Tây là hợp tác tiểu vùng Mê Công mở rộng (GMS)

21

Trang 33

tiếp cận thị trường hơn 1 tỷ dân của Trung Quốc; tăng sức hấp dẫn đầu tư của Việt Nam; dòng khách du lịch Trung Quốc vào Việt Nam tăng nhanh

Đề tài khoa học Tác động từ chiến lược “Một trục hai cánh” của Trung Quốc đối với phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam thời kỳ đến năm 2020

[82], của Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2009), cũng đề cập tới hợp tác kinh tế VBBMR như là một bộ phận của chiến lược “Một trục, hai cánh Trong đề tài này, nhóm nghiên cứu nhận định: Khu tự do thương mại Trung Quốc - ASEAN (CAFTA) chính là động lực quan trọng thúc đẩy

sự ra đời của chiến lược “Một trục, hai cánh” và Trung Quốc muốn triển khai chiến lược này để góp phần cụ thể hóa CAFTA Bên cạnh đó, chiến lược này cũng xuất phát từ chính sách ngoại giao láng giềng của Trung Quốc Đề tài đã

đi sâu phân tích mối quan hệ của sáng kiến hợp tác kinh tế VBBMR nói riêng

và “Một trục, hai cánh” nói chung đối với sáng kiến hợp tác “Hai hành lang, một vành đai” kinh tế Việt Nam - Trung Quốc, được lãnh đạo hai nước nhất trí triển khai từ năm 2006 Trên cơ sở phân tích bối cảnh khu vực, mức độ gần gũi về địa lý, sự tương đồng về mô hình phát triển giữa Trung Quốc và Việt Nam, nội dung sáng kiến hợp tác kinh tế VBBMR và mục tiêu của Hành lang kinh tế Nam Ninh - Singapore, Đề tài nhận định rằng hợp tác “Hai hành lang,

một vành đai” sẽ là một bộ phận cấu thành và không thể thiếu được trong sáng kiến “Một trục, hai cánh” của Trung Quốc Đồng thời, tác giả cũng đã phân tích nội dung hợp tác “Một trục, hai cánh” và các định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020, từ đó đánh giá các tác động của sáng kiến này đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam

Đề tài cho rằng, chiến lược “Một trục, hai cánh” của Trung Quốc sẽ tác động tích cực đến việc phát triển các hành lang kinh tế ở Việt Nam như Lào Cai -

Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng -

Quảng Ninh Tuy nhiên, việc triển khai chiến lược nói trên, đặc biệt là các công trình, dự án thuộc cánh phía Đông là Hợp tác kinh tế VBBMR cũng sẽ

22

Trang 34

tác động tiêu cực đến kinh tế - xã hội của Việt Nam trên các phương diện: làm tăng nguy cơ nhập siêu từ Trung Quốc; cạnh tranh vận tải đường bộ, cảng biển của Việt Nam với Trung Quốc gay gắt hơn; tranh chấp về lao động, việc làm và các thách thức về an ninh kinh tế sẽ gia tăng…

GS TS Đỗ Tiến Sâm (2010), trong báo cáo Chiến lược “Một trục, hai cánh ” của Trung Quốc: Nhận diện và suy nghĩ về đối sách [23], nhận định

rằng, trên thực tế trong sáng kiến này, trọng tâm mà Trung Quốc muốn thúc đẩy hợp tác thực chất là cánh VBBMR Tác giả đưa ra các dẫn chứng cho thấy, dù phải đối phó khủng hoảng tài chính toàn cầu từ sau năm 2009, nhưng Trung Quốc không những chủ động mà còn rất tích cực đầu tư cho Khu kinh

tế VBB Quảng Tây trong phạm vi các thành phố Nam Ninh, Khâm Châu, Bắc Hải, Phòng Thành, trên diện tích 42,5 km2; dân số 12,5 triệu người Qua phân tích nội dung Trung Quốc thảo luận và đề xuất hợp tác qua 5 lần Diễn đàn hợp tác kinh tế VBBMR, tác giả chỉ ra mục tiêu và những nội dung chính của sáng kiến “Một trục, hai cánh”, đồng thời đề xuất các giải pháp để Việt Nam tránh bị động trước các đề xuất hợp tác của Trung Quốc

Một nghiên cứu đáng chú ý khác theo hướng định vị Hợp tác kinh tế VBBMR là bộ phận của sáng kiến “Một trục, hai cánh” là Báo cáo Quan điểm chính th ức của Trung Quốc, các nước ASEAN và các tổ chức quốc tế về chiến lược “Một trục hai cánh” [27] Trong nghiên cứu này, hai tác giả Hoàng Thế

Anh, Phạm Ngọc Thạch (2010) đã tập trung tổng hợp và phân tích quan điểm của giới học giả, các nhà lãnh đạo Trung Quốc, ASEAN và các chuyên gia

quốc tế đối với chiến lược “Một trục, hai cánh” nói chung và sáng kiến Hợp tác kinh tế VBBMR nói riêng Trong đó có một số nhận định, quan điểm đáng chú ý như:

(1) Các nhà lãnh đạo và giới chuyên gia của Trung Quốc khẳng định

rằng sáng kiến “Một trục, hai cánh” không chỉ góp phần chấn hưng Trung

Quốc, giúp nước này thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền, mà

23

Trang 35

còn tạo cơ hội thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác Trung Quốc - ASEAN Trong đó,

Bí thư Thành ủy thành phố Bắc Hải (Quảng Tây) Ôn Khả Hoa cho rằng một trong ba điểm kết hợp quan trọng của chiến lược “Một trục, hai cánh” là

“nâng cấp hợp tác khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ truyền thống, kinh tế Trung - Việt thành hợp tác giữa Trung Quốc với ASEAN”

(2) Các nhà lãnh đạo Brunei, Philippines, Singapore, Malaysia, Campuchia… đều bày tỏ quan điểm ủng hộ hợp tác kinh tế VBBMR nói riêng

và chiến lược “Một trục, hai cánh” của Trung Quốc nói chung Họ đồng ý quan điểm với Trung Quốc coi đây là một bước đi cụ thể trong hợp tác xây

dựng CAFTA và hy vọng các nước ASEAN sẽ được hưởng lợi trong sáng

kiến hợp tác này

(3) Một số chuyên gia của Nhật Bản, Mỹ, châu Âu có quan điểm chung rằng với chiến lược “Một trục, hai cánh” cũng như CAFTA và các sáng kiến

hợp tác khu vực khác, Trung Quốc không chỉ hướng tới các mục tiêu kinh tế,

mà còn nhằm gia tăng ảnh hưởng với các quốc gia ASEAN và xoa dịu mối lo ngại về sự trỗi dậy và tham vọng bá quyền của Trung Quốc Bắc Kinh đã cố gắng giải quyết vấn đề “mối đe dọa Trung Quốc” không chỉ trong lĩnh vực an ninh, mà còn trong khuôn khổ cạnh tranh kinh tế

Bộ Ngoại giao (2010) trong Báo cáo về ý tưởng chiến lược “Một trục, hai cánh”c ủa Trung Quốc, [16] sau khi phân tích quan điểm của chủ tịch

Trung Quốc Hồ Cẩm Đào, Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Ôn Gia Bảo, nhận định rằng trên thực tế Trung Quốc đã chuẩn bị cho việc triển khai ý tưởng này cũng như các sáng kiến thành phần là Hợp tác kinh tế VBBMR, Hành lang kinh tế Nam Ninh - Singapore từ nhiều năm trước, chẳng hạn như

đề nghị kết nạp Quảng Tây vào khuôn khổ hợp tác GMS từ năm 2004; tích cực ủng hộ xây dựng tuyến đường giao thông xuyên Á… Trên cơ sở nhận

diện các định hướng chiến lược của Trung Quốc, Báo cáo đề xuất một số quan điểm, đối sách của Việt Nam như: Cần thống nhất nhận thức về ý tưởng

24

Trang 36

chiến lược “Một trục, hai cánh” là sáng kiến của Trung Quốc về cục diện mới

của hợp tác khu vực; Việt Nam nên lựa chọn cách tiếp cận mang tính phối hợp với Trung Quốc để đạt được lợi ích quốc gia…

1.3 Công trình nghiên c ứu của chuyên gia các nước khác

Trong những năm qua, tại các nước ASEAN và trên thế giới chưa có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về Hợp tác kinh tế VBBMR Tại các nước ASEAN và Nhật Bản có một số bài viết, báo cáo nghiên cứu về chủ đề này, nhưng tại Mỹ và châu Âu vấn đề này chưa được quan tâm, chủ yếu do

hợp tác kinh tế VBBMR chỉ là sáng kiến hợp tác tiểu vùng và tầm ảnh hưởng còn hạn chế Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu phương Tây cũng đã có một số bài viết trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến tham vọng gia tăng ảnh hưởng nhiều mặt của Trung Quốc thông qua chiến lược “Một trục, hai cánh” (bao gồm hợp tác kinh tế VBBMR) Dưới đây là một số công trình tiêu biểu

- Li Mingjiang của Đại học Nanyang Singapore (2010), trong bài viết

H ợp tác chuyên ngành VBBMR: Triển vọng hòa bình ở Biển Đông [45]

Trong bài viết này, tác giả lập luận rằng thực tế cho thấy những tranh cãi ngoại giao về các yêu sách chủ quyền và tài nguyên ở Biển Đông thì chưa thể

chấm dứt Tuy nhiên, khoảng hơn một thập kỷ qua (tính đến 2010), quan hệ Trung Quốc - ASEAN đã phát triển mạnh mẽ, nhờ nỗ lực của cả hai bên trong

việc tìm ra những điểm hai bên có lợi ích tương đồng có thể hợp tác được, cũng như nhờ việc cả hai bên đều nhận thức được rằng xung đột và sự chia rẽ

về chính trị là vô cùng nguy hại đối với ổn định khu vực

Theo Li Mingjiang, việc thúc đẩy hợp tác chuyên ngành ở Biển Đông

sẽ góp phần quan trọng vào ổn định trong khu vực và đáp ứng được lợi ích chung của các bên tranh chấp trong khu vực Ông tin tưởng sẽ có một số nhân

tố có thể góp phần định hình nên quan điểm hợp tác chuyên ngành đối với tranh chấp này Trong đó, một yếu tố quan trọng là hội nhập kinh tế Trung Quốc - ASEAN ngày càng tăng với hợp tác kinh tế VBBMR là một minh

25

Trang 37

chứng rõ nét Hợp tác kinh tế Vịnh Bắc Bộ mở rộng là một cơ hội lớn để thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa các chính phủ trong khu vực và các tổ chức liên chính phủ và trên nhiều lĩnh vực Tăng cường đối tác khu vực xung quanh các

dự án quan trọng như đề xuất về kế hoạch Vịnh Bắc Bộ mở rộng sẽ tạo điều

kiện cho các nước thành viên triển khai các hoạt động ít tốn kém mà lại vẫn

có thể góp phần làm giảm sức ép đối với môi trường biển và cải thiện đời

sống của người dân trong vùng, và giúp tăng lưu lượng trao đổi trong khu vực

Theo tác giả bài viết, đề xuất của Trung Quốc về khu vực kinh tế Vịnh

Bắc Bộ, hiện đã mở rộng thêm gồm các nước láng giềng xung quanh Biển Đông, đã tạo một cơ hội cho các nhà hoạch định chính sách của các bên liên quan có những phán quyết và cân nhắc chính trị về lợi ích quốc gia của họ

Có lý do để tin rằng một số cơ chế hợp tác giữa các bên sẽ đáp ứng lợi ích chung của tất cả các bên

Nhà nghiên cứu người Nhật Bản Daisuke Hosokawa (2009) trong bài

H ợp tác kinh tế VBBMR: Sáng kiến mới của Trung Quốc trong hợp tác với ASEAN [95] đã giới thiệu khái quát tiến độ và mục tiêu Hợp tác kinh tế VBBMR của Trung Quốc; quan điểm hợp tác của Việt Nam và đưa ra một số nhận định chủ yếu:

Th ứ nhất, mục tiêu sáng kiến này của Trung Quốc là nhằm phát triển

khu vực Quảng Tây thành đầu cầu hợp tác với các nước ASEAN, mở đường

xuất khẩu hàng hóa từ Tây Nam Trung Quốc ra bên ngoài; tạo nền tảng thúc đẩy phát triển ACFTA; gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc ở ASEAN và thu hút tài nguyên từ ASEAN phục vụ sự phát triển của Trung Quốc Đồng thời, Trung Quốc muốn thông qua việc thúc đẩy hợp tác kinh tế để tạo môi trường hòa bình cho sự phát triển của Trung Quốc, trong bối cảnh giữa nước này và một số quốc gia ASEAN tồn tại tranh chấp trên Biển Đông

Th ứ hai, mặc dù Hợp tác kinh tế VBBMR hứa hẹn mở ra cơ hội hợp tác

cùng có lợi cho cả Trung Quốc và ASEAN, nhưng để triển khai hợp tác đi vào thực chất, Trung Quốc đối mặt một số thách thức chủ yếu như: (1) Phải

26

Trang 38

thuyết phục được các bên liên quan rằng Hợp tác kinh tế VBBMR là nền tảng quan trọng để thúc đẩy thực hiện ACFTA và đối tác chiến lược Trung Quốc - ASEAN; (2) Phải tạo được các cơ chế hợp tác giữa các tỉnh Hải Nam, Quảng Châu với Quảng Tây của Trung Quốc trong hợp tác kinh tế VBBMR; (3) Trung Quốc cần phải nhận được cam kết hợp tác tích cực và năng động hơn

từ Việt Nam; (4) Phải giảm bớt được sự căng thẳng trong quan hệ Trung

Quốc - ASEAN trong tranh chấp tại Biển Đông

- Một công trình nghiên cứu khác đáng chú ý từ Nhật Bản là bài viết

của Trần Văn Thọ (2015), Giáo sư kinh tế tại trường Đại học Waseda, Tokyo:

Kinh tế biên giới Việt Trung trước sự trỗi dậy của Trung Quốc [75] Trong

bài viết này, tác giả đã phân tích sự vượt trội của Vân Nam, Quảng Tây so với Việt Nam về quy mô nền kinh tế, trình độ phát triển cơ sở hạ tầng, trình độ đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt trong bối cảnh Trung Quốc đầu tư lớn cho các dự án thuộc sáng kiến Hợp tác kinh tế VBBMR ở Quảng Tây Theo đó

chỉ ra rằng, 7 tỉnh biên giới phía Việt Nam chủ yếu là vùng sơn cước, dân số

ít Do đó, quan hệ hợp tác và ảnh hưởng kinh tế của Vân Nam và Quảng Tây không chỉ với 7 tỉnh mà kéo dài đến Hà Nội và Hải Phòng trong khuôn khổ

“Hai hành lang, một vành đai” Để Việt Nam tham gia Hợp tác kinh tế VBBMR, việc xây dựng hạ tầng giao thông là quan trọng nhất Tuy nhiên, đa

số các tuyến đường thuộc “Hai hành lang một vành đai” của Việt Nam còn

lạc hậu Phía Việt Nam chủ yếu do thiếu vốn, do phải ưu tiên xây dựng hạ tầng ở các nơi khác, việc đầu tư cho vùng này chưa tiến triển nhiều Trong khi

đó, phía Trung Quốc xem như đã hoàn tất các tuyến đường cao tốc nối Côn Minh và Nam Ninh đến các điểm chính ở biên giới Tác giả kiến nghị rằng, nhìn cả hai mặt kinh tế và chính trị, Việt Nam chưa nên vội hưởng ứng Hợp tác kinh tế VBBMR

- Một số chuyên gia, nhà nghiên cứu phương Tây cũng đã có một số bài viết, công trình nghiên cứu đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến Hợp tác kinh tế

VBBMR Trong đó, các công trình, bài viết tiêu biểu như: Hợp tác tiểu vùng

27

Trang 39

t ại Đông Nam Á: Lưu vực Mê Công, của hai tác giả Jorn Dosch và Oliver Hensengerth (2005); Nh ững ưu tiên phát triển của Trung Quốc của Shahid Yusuf và Kaoru Nabeshima (2006); báo cáo Trung Qu ốc trỗi dậy nắm vị trí lãnh đạo châu Á: thành tựu và trở ngại, của Shaun Breslin (2006)… Các

công trình nói trên có điểm chung là đều đánh giá về sự trỗi dậy mạnh mẽ và gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc tại các nước ASEAN [27] Trong đó, các sáng kiến hợp tác tiểu vùng mà Trung Quốc đề xuất với ASEAN được xem như một kênh hợp tác quan trọng để Trung Quốc tăng cường kết nối với các

quốc gia Đông Nam Á và điều này vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với các nước láng giềng của Trung Quốc…

Các công trình nghiên cứu của các chuyên gia Trung Quốc và Nhóm chuyên gia hỗn hợp Trung Quốc - ASEAN đã phân tích kỹ bối cảnh, điều kiện hợp tác và đánh giá triển vọng Hợp tác kinh tế VBBMR Trung Quốc - ASEAN Nghiên cứu của các chuyên gia Nhật Bản, Singapore và Mỹ, châu

Âu đã phần nào đánh giá tham vọng lãnh đạo châu Á và tác động của Hợp tác kinh tế VBBMR với quan hệ quốc tế khu vực Tuy nhiên, một số điểm hạn chế chủ yếu của các công trình nghiên cứu nêu trên là:

28

Trang 40

(1) Chưa chú trọng nghiên cứu lý thuyết về hợp tác tiểu vùng nói chung

và chưa đưa ra khái niệm hợp tác tiểu vùng phù hợp với thực tiễn Hợp tác kinh tế VBBMR

(2) Không dự báo được những thay đổi của bối cảnh tình hình thế giới, khu vực nên khi tình hình khu vực thay đổi (ví dụ tranh chấp Biển Đông gay

gắt hơn) và nội dung hợp tác từ phía Trung Quốc thay đổi; một số nhận định,

kiến nghị mà các tác giả đưa ra trước đó không còn phù hợp trong bối cảnh

hiện nay (chẳng hạn nhận định Việt Nam có vai trò cầu nối không thể thiếu trong hợp tác Trung Quốc - ASEAN)

(3) Phạm vi vấn đề nghiên cứu mới chủ yếu tập trung vào khía cạnh kinh tế, còn rất ít các nội dung phân tích, đánh giá tác động của hợp tác kinh

tế VBBMR đối với ASEAN và quan hệ quốc tế trong khu vực

(4) Mới có rất ít các nghiên cứu đề cập đến Hợp tác kinh tế VBBMR với tư cách là một bộ phận của sáng kiến có tầm chiến lược khu vực, toàn cầu

của Trung Quốc là: “Một vành đai, một con đường” Trong khi đó, sáng kiến này đang và sẽ chi phối Hợp tác kinh tế VBBMR trong thời gian tới

Từ tổng quan và nhận định nêu trên, có thể xác định những vấn đề mới

mà Luận án này tập trung cần nghiên cứu, bổ sung gồm:

Một là, xác định khái niệm hợp tác tiểu vùng mới phù hợp với hình

thức hợp tác kinh tế VBBMR và các sáng kiến hợp tác tiểu vùng khác mà Trung Quốc đưa ra trong giai đoạn 2006 - 2016 để bổ sung cơ sở lý luận về hợp tác tiểu vùng

Hai là, đặt hợp tác kinh tế VBBMR trong bối cảnh, tình hình mới, nhất

là việc Trung Quốc triển khai sáng kiến “Một vành đai, một con đường” bao trùm Hợp tác kinh tế VBBMR

Ba là, đánh giá tác động của Hợp tác kinh tế VBBMR với quan hệ quốc

tế, khu vực

29

Ngày đăng: 12/02/2019, 23:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w