1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những nhân tố tác động đến tính minh bạch của báo cáo tài chính tại các ngân hàng thương mại việt nam

102 97 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu đã xác định được các yếu tố tác động đến tính minh bạch báo cáo tài chính ngân hàng thương mại theo mức độ tác động lớn đến nhỏ là 1 Lợi nhuận; 2 Quyền sở hữu; 3 Công

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH

TRƯƠNG THỊ HỒNG NHUNG

NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TÍNH MINH BẠCH CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÁC NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 2

TRƯƠNG THỊ HỒNG NHUNG

NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TÍNH MINH BẠCH CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÁC NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60.34.02.01

Người hướng dẫn khoa học: TS MAI THỊ TRÚC NGÂN

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017

Trang 3

TÓM TẮT

Đề tài “Những nhân tố tác động đến tính minh bạch của Báo cáo tài chính tại Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam”, được tiến hành thực hiện từ tháng 4/2016 đến tháng 12/2016

Mục tiêu của nghiên cứu là (i) Nghiên cứu các nhân tố tác động đên tính minh bạch của báo cáo tài chính các Ngân hàng thương mại; (ii) Đánh giá tác động của các nhân tố đến tính minh bạch của báo cáo tài chính của Ngân hàng thương mại Việt Nam; (iii) Đề xuất, kiến nghị để cải thiện tính minh bạch của báo cáo tài chính các Ngân hàng thương mại Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu bao gồm nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Trong phân tích nghiên cứu định lượng thực hiện thống kê mô tả, kiểm định thang đo, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy đa biến Số mẫu chọn khảo sát 212, theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên

Kết quả nghiên cứu đã xác định được các yếu tố tác động đến tính minh bạch báo cáo tài chính ngân hàng thương mại theo mức độ tác động lớn đến nhỏ là (1) Lợi nhuận; (2) Quyền sở hữu; (3) Công ty kiểm toán; (4) Hội đồng quản trị; (5) Quy

mô ngân hàng

Dựa vào kết quả nghiên cứu, tác giả đã đưa ra đề xuất và kiến nghị để nâng cao tính minh bạch báo cáo tài chính tại ngân hàng thương mại Việt Nam

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn này chưa từng được trình nộp để lấy học vị thạc sĩ tại bất cứ một trường đại học nào Luận văn này là công trình nghiên cứu riêng của tôi, kết quả nghiên cứu là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước đây hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn

nguồn đầy đủ trong luận văn

Tp Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 04 năm 2017

Tác giả Luận văn

TRƯƠNG THỊ HỒNG NHUNG

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, không thể thiếu sự động viên và tận tình giúp

đỡ của quý Thầy, Cô và các anh chị, các bạn đồng nghiệp

Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý Thầy, Cô Trường Đại Học Ngân Hàng Tp Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành tốt công việc nghiên cứu của mình

Và xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến cô TS Mai Thị Trúc Ngân đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này

Tôi cũng chân thành cảm ơn ông Nguyễn Duy Hưng (Nguyên Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín), ông Nguyễn Trung Thành (Phó Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín), cùng tất cả các anh chị ban giám đốc, các anh chị phòng ban tại các ngân hàng, công ty kiểm toán đã giúp

đỡ tôi trong suốt thời gian thu thập dữ liệu

Và cuối cùng, trong quá trình thực hiện luận văn, mặc dù đã cố gắng hoàn thành luận văn tốt song cũng không thể tránh khỏi thiếu sót Rất mong nhận được ý kiến của quý Thầy, Cô

Tp Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 04 năm 2017

Tác giả Luận văn

TRƯƠNG THỊ HỒNG NHUNG

Trang 6

MỤC LỤC

TÓM TẮT i

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC HÌNH ix

CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

1.2.MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2

1.2.1 Mục tiêu tổng quát: 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể: 3

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

1.6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 5

1.7 KẾT CẤU ĐỀ TÀI 6

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH MINH BẠCH CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH 7

2.1.Tổng quan về báo cáo tài chính 7

2.1.1 Khái niệm, vai trò và mục đích của báo cáo tài chính 7

2.1.2 Các giả thiết và nguyên tắc kế toán chi phối đến việc lập báo cáo tài chính 9

2.1.3 Các quy định chi phối quá trình lập và trình bày báo cáo tài chính 13

2.1.4 Các đặc điểm chất lượng của báo cáo tài chính 14

2.2 Khái niệm tính minh bạch của báo cáo tài chính và tầm quan trọng của minh bạch của báo cáo tài chính 16

2.2.1 Tính minh bạch của báo cáo tài chính 16

Trang 7

2.2.2 Tầm quan trọng của tính minh bạch báo cáo tài chính 19

2.2.3 Tiêu chuẩn đánh giá và đo lường mức độ minh bạch thông tin tài chính 22

2.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch 26

2.3 Lý thuyết cơ sở và các nghiên cứu trước 28

2.3.1 Các lý thuyết cơ sở 28

2.3.2 Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu 30

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

3.1 Phương pháp nghiên cứu 35

3.1.1 Phương pháp định tính 35

3.1.2 Phương pháp định lượng 35

3.2 Quy trình nghiên cứu 36

3.2.1 Quy trình nghiên cứu 36

3.2.2 Khung nghiên cứu 39

3.3 Mô hình nghiên cứu và Phương pháp đo lường 40

3.3.2 Phương pháp đo lường 44

3.3.3 Mẫu nghiên cứu 46

3.3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 47

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51

4.1 TỔNG QUAN HỆ THỐNG NGÂN HÀNG HIỆN NAY 51

4.1.1 Hoạt động hệ thống ngân hàng 51

4.1.2 Thực tế minh bạch báo cáo tài chính của ngân hàng hiện nay 53

4.2 Mô tả mẫu 56

4.2.1 Độ tuổi 56

4.2.2 Giới tính 56

4.2.3 Trình độ học vấn 57

4.2.4 Kinh nghiệm làm việc, nghiên cứu trong lĩnh vực ngân hàng 57

4.2.5 Vị trí công tác 58

4.3 KIỂM ĐỊNH THANG ĐO 58

4.3.1 Đánh giá sơ bộ thang đo 58

Trang 8

4.3.2 Kiểm định thang đo bằng EFA 61

4.4 PHÂN TÍCH HỒI QUY TUYẾN TÍNH BỘI 63

4.5 ĐO LƯỜNG GIÁ TRỊ TRUNG BÌNH CÁC YẾU TỐ 65

4.6 THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 66

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT HÀM Ý QUẢN TRỊ 67

5.1 Kết luận 67

5.2 Đề xuất hàm ý quản trị 68

5.2.1 Về lợi nhuận ngân hàng 68

5.2.2 Về quyền sở hữu 69

5.2.3 Về công ty kiểm toán 69

5.2.4 Về cơ cấu hội đồng quản trị 70

5.2.5 Về quy mô ngân hàng 71

5.3 Kiến nghị 72

5.3.1 Kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước 72

5.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Thương Mại 73

5.3.3 Kiến nghị đối với các công ty kiểm toán 73

5.4 Hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

PHỤ LỤC 1: Phiếu khảo sát 77

PHỤ LỤC 2: Danh Sách Các Chuyên Gia Thảo Luận Nhóm 81

PHỤ LỤC 3: Danh Sách Các Ngân Hàng, Công Ty Kiểm Toán Khảo Sát 82

PHỤ LỤC 4: Kiểm định Cronbach’s Alpha 83

PHỤ LỤC 5: Phân Tích nhân tố khám phá 87

PHỤ LỤC 6: Kết quả hồi quy 89

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2 1: Các thành phần ảnh hưởng đến minh bạch công ty 26

Bảng 2 2: Mô hình nghiên cứu của nhóm tác giả Cheung và cộng sự (2005) 28

Bảng 3 1: Tiến độ thực hiện thiết kế nghiên cứu 37

Bảng 4 1: Thống kê độ tuổi của đối tượng nghiên cứu 56

Bảng 4 2: Thống kê giới tính của đối tượng nghiên cứu 57

Bảng 4 3: Thống kê trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu 57

Bảng 4 4: Thống kê kinh nghiệm làm việc, nghiên cứu trong lĩnh vực ngân hàng 57 Bảng 4 5: Thống kê giới tính của đối tượng nghiên cứu 58

Bảng 4 6: Kết quả Cronbach’s Alpha của thang đo các biến độc lập 59

Bảng 4 7: Bảng tổng kết hệ số tin cậy của các thành phần thang đo biến độc lập 60

Bảng 4 8: Kết quả Cronbach’s Alpha của thang đo tính minh bạch thông tin 61

Bảng 4 9: KMO and Bartlett's Test 61

Bảng 4 10: Kết quả phân tích EFA đối với thang đo biến độc lập 62

Bảng 4 11: Phân tích Anova trong hồi quy tuyến tính 63

Bảng 4 12: Kết quả hồi quy 64

Bảng 4 13: Giá trị trung bình các yếu tố 65

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 3 1 Quy trình nghiên cứu 36Hình 3 2: Khung nghiên cứu của luận văn 39Hình 3 3: Mô hình nghiên cứu 40

Trang 12

CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU

1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Báo cáo tài chính của doanh nghiệp nói chung và các Ngân hàng thương mại nói riêng được đánh giá là một trong những công cụ hữu hiệu trong việc cung cấp thông tin tài chính cho nhiều đối tượng bên ngoài doanh nghiệp quan tâm, đặc biệt

là các nhà đầu tư, chủ nợ, cơ quan quản lý nhà nước Sở dĩ như vậy là vì, báo cáo tài chính cung cấp thông tin toàn diện nhất về kết quả kinh doanh, tình trạng tài chính cũng như các luồng tiền của doanh nghiệp Chính từ những thông tin này sẽ giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin ra các quyết định kinh tế Chính vì tầm quan trọng của báo cáo tài chính, nên một trong những yêu cầu đặt ra đối với các doanh nghiệp là luôn phải cung cấp báo cáo tài chính kịp thời và minh bạch cho nhà đầu tư cũng như các đối tượng sử dụng khác trong việc ra quyết định đầu tư để cung ứng các nguồn lực về tài chính cho một doanh nghiệp Tuy nhiên, một vấn đề nổi cộm bao lâu nay là sự minh bạch trong công bố thông tin của các tổ chức Sự chậm trễ, thậm chí che giấu thông tin ảnh hưởng lớn tới quyết định, cũng như niềm tin

của nhà đầu tư “Lòng tin được xây dựng dựa trên công khai, minh bạch” (IFC

2012) Do đó, Tính chính xác và có độ tin cậy, được xem là một trong những yếu tố góp phần tạo nên tính hữu ích của một báo cáo tài chính

Mục tiêu của BCTC là cung cấp thống tin hữu ích cho người sử dụng, dựa vảo sự đảm bảo các tính chất phù hợp, đáng tín cậy, có thể so sánh và có thể hiểu của thông tin, nhưng quá trình thu thập, xử lý và cung cấp thông tin bị tác động bởi nhiều nhân tố mang tính nội tại và khách quan đã làm cho các tính chất trên không được đảm bảo, dẫn đển sự suy giảm tính hữu ích của thông tin

Tính minh bạch của báo cáo tài chính là một trong những tiêu chí phản ánh chất lượng báo cáo tài chính vì nó ảnh hưởng đến việc ra quyết định của những người sử dụng báo cáo tài chính Năm 2011, Thông qua chương trình tọa đàm Châu

Á, khối OECD đã xây dựng, công bố báo cáo Ưu tiên cải cách Châu Á: Đưa quản

trị công ty lên tầm cao mới, trong đó một trong hai ưu tiên chính của báo cáo này là

“cần nâng cao chất lượng, thực hiện công bố thông tin kịp thời, minh bạch” (OECD 2011) Thực tiễn Việt Nam và trên thế giới cho thấy, các cuộc khủng hoảng kinh tế

Trang 13

thường bắt nguồn từ hệ thống tài chính Vì thế minh bạch thông tin trên báo cáo tài chính là rất cần thiết vì thiếu chúng các công ty không thể xây dựng niềm tin của công chúng vào kết quả thực hiện và khả năng thu hút vốn trên thị trường Trong đó ngân hàng cũng là một doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực đặt biệt là tiền tệ, do

đó việc xây dựng niềm tin từ công chúng, từ nhà đầu tư hết sức quan trọng

Ở Việt Nam, NHTM đóng vai trò không thể thiếu trong việc điều hòa vốn trong nền kinh tế, NHNN điều hòa chính sách tiền tệ thông qua hoạt động của NHTM, do đó NHTM cần phát triển bền vững và tạo được lòng tin cho nhân dân Trong gia đoạn 2011 - 2016 đã diễn ra sự kiện sáp nhập của các ngân hàng, NHNN mua lại với giá không đồng Sau khi có sự thanh tra của NHNN đã phát hiện ra có

sự sở hữu chéo, có sự vay mượn chéo với nhau trong suốt thời gian dài Các NHTM

có tỷ lệ nợ xấu tăng cao do quản lý yếu kém và thực hiện sai các quy định của pháp luật Dẫn đến tình trạng ngân hàng gặp khó khăn về thanh khoản, mất khả năng thanh toán tạm thời Tại hội thảo “Giải pháp tăng cường năng lực, hiệu quả của công tác thanh tra, giám sát an toàn hoạt động ngân hàng” thừa nhận số liệu nợ xấu các ngân hàng che giấu nhiều vô cùng, Các Ngân hàng đều công bố tỷ lệ nợ xấu dưới 2.5% nhưng thực tế theo sự thanh tra của NHNN, tỷ tệ nợ xấu lên đến 30% thậm chí tỷ lệ nợ xấu ngân hàng lên đến 60% Các NHTM hiện nay muốn duy trì sự cạnh tranh, sự hiện diện cũng như tầm ảnh hưởng của mình, các ngân hàng đã công

bố những thông tin, nhữn BCTC hoàn toàn khác so với hiện thực của mình Qua các nội dung trên cho ta thấy rằng, việc công bố báo cáo tài chính của các ngân hàng hiện nay có sự che giấu thông tin chưa phản ánh đúng thực trạng “sức khỏe” của

mình trước công chúng Chính vì thế tác giả đã chọn đề tài : “Những Nhân tố tác

động đến tính minh bạch của Báo cáo tài chính Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình

1.2.MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1 Mục tiêu tổng quát:

Xác định các nhân tố tác động đến tính minh bạch của báo cáo tài chính của Ngân hàng thương mại Việt Nam Dựa trên kết quả nghiên cứu đề xuất, kiến nghị

Trang 14

để cải thiện tính minh bạch của báo cáo tài chính của các Ngân hàng thương mại Việt Nam

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

- Thế nào là minh bạch báo cáo tài chính? Các tiêu chuẩn nào đo lường sự minh bạch?

- Các nhân tố nào tác động đến tính minh bạch các báo cáo tài chính của Ngân hàng thương mại?

- Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tính minh bạch của báo cáo tài chính các Ngân hàng thương mại Việt Nam như thế nào?

- Kiến nghị nào cần có để cải thiện tính minh bạch báo cáo tài chính của Ngân hàng thương mại?

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tính minh bạch báo cáo tài chính của các Ngân hàng thương mại Việt Nam

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Pham vi về không gian: các Ngân hàng thương mại Việt Nam

- Phạm vi về thời gian: báo cáo tài chính của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2012-2015

Trang 15

- Thời gian thực hiện đề tài: số liệu thứ cấp thu thập báo cáo tài chính của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2012-2015 Số liệu sơ cấp được khảo sát vào tháng 6 và tháng 11 năm 2016

- Khách thể nghiên cứu: các chuyên gia Ngân hàng, ban lãnh đạo các Ngân hàng thương mại, nhân viên kiểm toán, nhân viên kế toán tại các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam, nhân viên kiểm toán tại công ty kiểm toán

1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng kết hợp phương pháp định tính Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích tương quan và phân tích hồi quy

Để đạt được mục tiêu của nghiên cứu và kiểm chứng các giả thiết đã được đặt ra, người nghiên cứu tiến hành các phương pháp sau:

- Phương pháp nghiên cứu sơ bộ: Phương pháp nghiên cứu này được áp

dụng để hệ thống hóa lý luận, xác định cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

- Phương pháp nghiên cứu chính thức

Phương pháp định tính: là nghiên cứu khám phá được thực hiện thông qua

kỹ thuật thảo luận, phỏng vấn để khám phá các yếu tố mới và khẳng định lại các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch của báo cáo tài chính trong các ngân hàng thương mại

Phương pháp định lượng: là nghiên cứu chính thức của đề tài, được thực

hiện thông qua kỹ thuật thu thập thông tin bằng cách gửi bảng câu hỏi khảo sát lấy ý kiến của các chuyên gia, các lãnh đạo ngân hàng, nhân viên kiểm toán, nhân viên kế toán trong ngân hàng (người lập báo cáo tài chính)

Xử lý kết quả điều tra được thực hiện bằng phần mềm thống kê thông dụng SPSS với các công cụ: Thống kê mô tả; Kiểm định Cronbach’s Alpha; Phân tích nhân tố khám phá (EFA); Phân tích hồi quy và Phân tích ANOVA

Dựa vào các nghiên cứu trước đây như Lê Thị Mỹ Hạnh (2015), nhóm tác giả Cheung và các cộng sự (2005) nghiên cứu này chọn ra năm nhân tố: (1) Quy mô ngân hàng, (2) Lợi nhuận; (3) Công ty kiểm toán, (4) Quyền sở hữu, (5) Cơ cấu hội

Trang 16

đồng quản trị để tiến hành kiểm định mối quan hệ giữa các nhân tố này với tính minh bạch của báo cáo tài chính của các Ngân hàng thương mại Việt Nam

1.6 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Báo cáo tài chính được xem là một trong những công cụ hữu hiệu trong việc cung cấp thông tin tài chính cho nhiều đối tượng cả bên trong và bên ngoài ngân hàng quan tâm đặc biệt là các nhà đầu tư, các nhà quản lý, cơ quan nhà nước Từ những thông tin mà báo cáo tài chính cung cấp giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin đưa ra các quyết định kinh tế thích hợp Chính tầm quan trọng của báo cáo tài chính, tính minh bạch được xem là một trong những yếu tố góp phần tạo nên tính hữu ích của báo cáo tài chính Việc nghiên cứu này cho chúng ta biết được các nhân

tố tác động đến tính minh bạch báo cáo tài chính, ảnh hưởng đến việc công bố thông tin của báo cáo tài chính các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam, đồng thời xem xét khả năng cải thiện tính minh của báo cáo tài chính của các Ngân hàng thương mại Việt Nam

Trang 17

1.7 KẾT CẤU ĐỀ TÀI

Luận văn được chia làm 5 chương như sau:

Chương 1: Phần mở đầu

Chương 2: Cơ sở lý luận

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Phân tích thực trạng và kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và kiến nghị đề xuất

Trang 18

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍNH MINH BẠCH CỦA

BÁO CÁO TÀI CHÍNH

2.1.TỔNG QUAN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH

2.1.1 Khái niệm, vai trò và mục đích của báo cáo tài chính

2.1.1.1 Khái niệm báo cáo tài chính

Theo VAS 21 - Báo cáo tài chính phản ánh một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp BCTC cung cấp thôn tin về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và luồng tiền của doanh nghiệp phục vụ cho nhà quản trị và các đối tượng bên ngoài sử dụng đưa ra các quyết định kinh tế

Theo IAS 1 – BCTC thể hiện tình hình tài chính và hoạt động tài chính, hiệu suất tài chính và dòng tiền của một thực thể BCTC cung cấp đầy đủ các thông tin

về tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, thu nhập và chi phí, các khoản đong góp cho chủ sở hữu, dòng tiền

2.1.1.2 Mục đích của báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính là sản phẩm cuối cùng của công tác kế toán trong một kỳ

kế toán, phản ánh tổng quát tình hình tài sản, nguồn vốn cũng như tình hình kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ kế toán Như vậy mục đích của báo cáo tài chính là:

- Tổng hợp và trình bày một cách khái quát, toàn diện tình hình tài sản, công

nợ, nguồn vốn, tình hình kết quả sản xuất, kinh doanh trong một kỳ kế toán

Cung cấp thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu cho việc đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp, kết quả hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ hoạt động đã qua và những dự đoán cho tương lai Thông tin của báo cáo tài chính là căn cứ quan trọng cho việc đề ra quyết định về quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc đầu tư vào doanh nghiệp của các chủ sở hữu, các nhà đầu tư, các chủ nợ hiện tại và tương lai của doanh nghiệp

+ Thông tin tình hình tài chính doanh nghiệp: Tình hình tài chính doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của các nguồn lực kinh tế do doanh nghiệp kiểm soát, của cơ cấu tài chính, khả năng thanh toán, khả năng thích ứng cho phù hợp với môi trường kinh

Trang 19

doanh Nhờ thông tin về các nguồn lực kinh tế do doanh nghiệp kiểm soát và năng lực doanh nghiệp trong quá khứ đã tác động đến nguồn lực kinh tế này mà có thể dự đoán nguồn nhân lực của doanh nghiệp có thể tạo ra các khoản tiền và tương đương tiền trong tương lai

+ Thông tin về cơ cấu tài chính: Có tác dụng lớn dự đoán nhu cầu đi vay, phương thức phân phối lợi nhuận, tiền lưu chuyển cũng là mối quan tâm của doanh nghiệp

và cũng là thông tin cần thiết để dự đoán khả năng huy động của nguồn tài chính của doanh nghiệp

+ Thông tin về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp đặc biệt là thông tin về tính sinh lời, thông tin về tình hình biến động sản xuất kinh doanh sẽ giúp cho đối tượng

sử dụng đánh giá những thay đổi tiềm tàng của các nguồn lực bổ sung mà doanh nghiệp có thể sử dụng

+ Thông tin về sự biến động tình hình tài chính của doanh nghiệp: Những thông tin này trên báo cáo tài chính rất hữu ích trong việc đánh giá các hoạt động đầu tư, tài trợ và kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo

2.1.1.3 Vai trò của Báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính là nguồn thông tin quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn phục vụ chủ yếu cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp như các

cơ quan quản lý Nhà nước, các nhà đầu tư hiện tại và đầu tư tiềm tàng, kiểm toán viên độc lập và các đối tượng khác liên quan Nhờ các thông tin này mà các đối tượng sử dụng có thể đánh giá chính xác hơn về năng lực của doanh nghiệp:

- Đối với các nhà quản lý doanh nghiệp: Báo cáo tài chính cung cấp các chỉ tiêu kinh tế dưới dạng tổng hợp sau một kỳ hoạt động, giúp cho họ trong việc phân tích đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh, tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch, xác định nguyên nhân tồn tại và những khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp Từ đó

đề ra các giải pháp, quyết định quản lý kịp thời, phù hợp với sự phát triển của mình trong tương lai

- Đối với các cơ quan quản lý chức năng của Nhà nước: Báo cáo tài chính cung cấp những thông tin trên cơ sở nhiệm vụ, chức năng, quyền hạn của mình mà từng cơ quan kiểm tra, giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,

Trang 20

kiểm tra tình hình thực hiện các chính sách, chế độ quản lý – tài chính của doanh nghiệp như:

+ Cơ quan thuế: Kiểm tra tình hình thực hiện và chấp hành các loại thuế, xác định

số thuế phải nộp, đã nộp, số thuế được khấu trừ, miễn giảm của doanh nghiệp + Cơ quan tài chính: Kiểm tra đánh giá tình hình và hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp nhà nước, kiểm tra việc chấp hành các chính sách quản lý nói chung

và chính sách quản lý vốn nói riêng

- Đối với đối tượng sử dụng khác như:

+ Chủ đầu tư: Báo cáo tài chính cung cấp các thông tin về những khả năng hoặc những rủi ro tiềm tàng của doanh nghiệp có liên quan tới việc đầu tư của họ, từ đó đưa ra quyết định tiếp tục hay ngừng đầu tư vào thời điểm nào, đối với lĩnh vực nào + Các chủ nợ: Báo cáo tài chính cung cấp các thông tin về khả năng thanh toán của doanh nghiệp, từ đó chủ nợ đưa ra quyết định tiếp tục hay ngừng việc cho vay đối với các doanh nghiệp

+ Các khách hàng: Báo cáo tài chính cung cấp các thông tin mà từ đó họ có thể phân tích được khả năng cung cấp của doanh nghiệp, từ đó đưa ra quyết định tiếp tục hay ngừng lại mua bán với doanh nghiệp

Ngoài ra, các thông tin trên báo cáo còn có tác dụng củng cố niềm tin và sức mạnh cho các công nhân viên của doanh nghiệp để họ nhiệt tình, hăng say trong lao động

2.1.2 Các giả thiết và nguyên tắc kế toán chi phối đến việc lập báo cáo tài chính 2.1.2.1 Các giả thuyết kế toán

Theo Libby & cs (2003), giả thuyết hay định đề kế toán được xây dựng dựa trên môi trường kinh tế mà trong đó kế toán được thực hiện Đó chính là những giả thuyết nền tảng tạo nên những “kim chỉ nam” liên quan đến việc trình bày các báo cáo tài chính Người ta thường nói đến ba định đề hay ba giả thuyết của khoa học và thực tiễn kế toán

Giả thuyết thực thể kinh doanh

Theo định đề này phải kế toán các hoạt động của doanh nghiệp, của tổ chức tách rời khỏi các hoạt động của chủ sở hữu doanh nghiệp hay tổ chức và độc lập

Trang 21

khỏi hoạt động của tất cả các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế khác Ví dụ, khi chủ sở hữu mua một chiếc xe hơi cho sử dụng mang tính chất cá nhân anh ta thì không được kế toán vào tài sản của doanh nghiệp

Giả thuyết thước đo tiền tệ

Định đề này cho rằng kế toán sử dụng trước hết thước đo tiền tệ quốc gia để thu thập và trình bày thông tin trong các báo cáo tài chính Như vậy, kế toán ở Việt Nam thì trước hết phải ghi nhận và trình bày báo cáo tài chính bằng đơn vị tiền tệ là đồng Việt Nam Tiền tệ là thước đo giá trị chung của mọi loại sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ làm đơn vị ghi chép, phản ánh và trình bày các báo cáo tài chính Với tiền

đề này giúp cho kế toán có thể xác định được giá trị của tất cả mọi loại tài sản, các khoản vay nợ và vốn chủ sở hữu cũng như mọi loại chi phí và doanh thu, thu nhập phát sinh trong hoạt động của các đơn vị vì mục đích lợi nhuận hay phi lợi nhuận Chỉ khi chấp nhận tiền đề này thì kế toán mới có thể thực hiện cộng dồn giá trị tài sản của một đơn vị và cung cấp cho người sử dụng những thông tin tổng hợp về tình hình hoạt động của đơn vị Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng để phục vụ cho quản lý đơn vị, các nhà quản lý không chỉ cần những thông tin tổng hợp mà còn sử dụng các thông tin chi tiết, do vậy trong thực tiễn kế toán người ta cũng sử dụng cả các loại thước đo hiện vật và thước đo thời gian để phản ánh các hoạt động của đơn

vị Thước đo tiền tệ chính là tiền đề để kế toán thực hiện được nguyên tắc cơ sở dồn tích

 Giả thuyết kỳ kế toán

Trên thực tế, quá trình kinh doanh trong doanh nghiệp hay các hoạt động trong một đơn vị nói chung diễn ra liên tục và trong nhiều trường hợp chu kỳ kinh doanh thường không trùng với năm tài chính Tuy nhiên, trên quan điểm quản trị doanh nghiệp, các nhà quản lý lại thường xuyên có nhu cầu thông tin về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp để kịp thời ra các quyết định phù hợp mà không chờ đến khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh mới cần thông tin Do vậy kế toán phân cắt quá trình kinh doanh thành những khoảng thời gian bằng nhau để lập các báo cáo truyền đạt thông tin cần thiết cho ban lãnh đạo Thông thường kế toán lập báo cáo cho kỳ một tháng, một quí hoặc một năm Mục đích kế toán phân chia thành các kỳ

Trang 22

bằng nhau là để đảm bảo yêu cầu tính so sánh được của các thông tin kế toán trình bày trong các báo cáo Như vậy kỳ kế toán xuất phát từ chính nhu cầu về thông tin của các nhà quản lý Hơn nữa nó cũng đáp ứng nhu cầu thông tin của các đối tượng

sử dụng thông tin khác, chẳng hạn các cổ đông, các chủ nợ, các cơ quan thuế, các

cơ quan chức năng cũng cần có thông tin định kỳ về hoạt động của đơn vị

2.1.2.2 Nguyên tắc kế toán

Theo Libby & cs (2003), nguyên tắc kế toán là những quy ước, chỉ dẫn, hướng dẫn xuyên suốt trong quá trình thực hiện các công việc kế toán được nhiều người công nhận ở một thời điểm Nó xuất phát từ sự nhất trí rộng rãi của nhiều người am hiểu về lý thuyết cũng như thực hành kế toán ở một thời điểm nào đó Như vậy cần lưu ý rằng các nguyên tắc kế toán này không phải là bất biến mà ngược lại nó có thể thay đổi hoàn thiện hơn khi môi trường thay đổi, bởi nó là do các nhà kế toán và các đơn vị kinh doanh đưa ra để đáp ứng nhu cầu của những người làm quyết định Chính vì lý do này mà chúng ta có thể thấy trong các sách viết ở những thời điểm khác nhau có thể không hoàn toàn nhất quán với nhau Vì vậy chúng ta cần ý thức rằng kế toán là một môn học luôn phát triển theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn Theo Luật kế toán và chuẩn mực kế toán của Việt Nam BCTC được lập dựa vào bảy nguyên tắc sau:

Nguyên tắc thứ nhất: nguyên tắc cơ sở dồn tích

Nguyên tắc này được phát biểu như sau: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền tương đương tiền Báo cáo tài chính lập trên

cơ sở dồn tích phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại

và tương lai Cần lưu ý rằng giữa nguyên tắc cơ sở dồn tích và định đề thước đo tiền

tệ có mối quan hệ mật thiết Nếu không chấp nhận định đề thước đo tiền tệ thì không thực hiện được nguyên tắc cơ sở dồn tích, bởi vì đơn giản là sẽ không thể cộng dồn các tài sản khác nhau vào với nhau được

Trong thực tiễn kế toán tồn tại hai loại hình kế toán, đó là kế toán quỹ hay còn gọi là kế toán theo tiền mặt và kế toán dồn tích hay còn gọi là kế toán theo thực

Trang 23

tế phát sinh Kế toán theo dòng tiền tức là kế toán ghi nhận các nghiệp vụ chỉ khi nào thực sự có dòng tiền chi ra hoặc thu vào, có nghĩa là có ảnh hưởng trực tiếp đến tăng hoặc giảm ngân quỹ của doanh nghiệp Trái lại, kế toán theo thực tế phát sinh lại ghi nhận các nghiệp vụ vào thời điểm phát sinh nghiệp vụ ngay cả khi chưa có dòng tiền thực đi ra hay đi vào Như vậy với nguyên tắc cơ sở dồn tích, chúng ta đang thực hiện kế toán dồn tích

Nguyên tắc thứ hai: nguyên tắc hoạt động liên tục

Nguyên tắc này giả định rằng doanh nghiệp đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong một tương lai gần Như vậy doanh nghiệp không bắt buộc phải ngừng hoạt động hoặc thu hẹp đáng kể qui mô hoạt động của mình Nguyên tắc này có mối quan hệ mật thiết với nguyên tắc giá gốc

Nguyên tắc thứ ba: nguyên tắc giá gốc

Theo nguyên tắc này, tài sản phải được kế toán theo giá gốc, trong đó giá gốc của tài sản được tính theo số tiền hoặc tương đương tiền mà doanh nghiệp đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận Giá gốc của tài sản không được thay đổi trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực kế toán cụ thể Giữa nguyên tắc giá gốc và nguyên tắc hoạt động liên tục có mối quan hệ nhất định Chỉ khi chúng ta thực thi nguyên tắc hoạt động liên tục thì việc áp dụng nguyên tắc giá gốc mới được thực hiện Nếu doanh nghiệp không còn hoạt động bình thường mà ở trong tình trạng phá sản chẳng hạn thì lúc đó nguyên tắc giá gốc không vận dụng nữa, vì lúc này tất cả tài sản của doanh nghiệp được đem ra bán, và như vậy tài sản của doanh nghiệp sẽ được đánh giá và kế toán theo giá trị thị trường vào thời điểm bán Thông thường thì giá trị thị trường của tài sản của doanh nghiệp vào thời điểm này không còn bằng với giá gốc ghi sổ kế toán ban đầu khi mua hoặc nhận tài sản nữa, có nghĩa là lúc này phải điều chỉnh giá trị của tài sản trên sổ sách và báo cáo tài chính của doanh nghiệp

Nguyên tắc thứ tư: nguyên tắc phù hợp

Nguyên tắc này yêu cầu việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau Khi ghi nhận một khoản thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó Chi phí tương ứng với doanh thu bao gồm

Trang 24

chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó

Nguyên tắc thứ năm: nguyên tắc nhất quán

Nguyên tắc này được phát biểu như sau: các chính sách và phương pháp kế toán mà doanh nghiệp đã chọn phải được áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ

kế toán năm Trường hợp có thay đổi chính sách và phương pháp kế toán đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính

Nguyên tắc thứ sáu: nguyên tắc thận trọng

Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính

kế toán trong các điều kiện không chắc chắn Như vậy, nguyên tắc thận trọng yếu cầu (1) phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn, (2) không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập, (3) không đánh giá thấp hơn giá trị các khoản nợ phải trả và chi phí, (4) doanh thu và thu nhập được ghi nhận khi

có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí

Nguyên tắc thứ bảy: nguyên tắc trọng yếu

Thông tin kế toán được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thông tin hoặc thiếu chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo tài chính, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính Tính trọng yếu phụ thuộc vào độ lớn và tính chất của thông tin hoặc các sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét cả trên phương diện định lượng và định tính

2.1.3 Các quy định chi phối quá trình lập và trình bày báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính là tổng hợp các số liệu từ sổ kế toán theo chỉ tiêu kinh tế tài chính tổng hợp, phản ánh một cách có hệ thống tình hình tài sản doanh nghiệp, tình hình hiệu quả sản xuất kinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ, tình hình quản

lý và sử dụng vốn … của doanh nghiệp trong thời kỳ nhất định vào một hệ thống biểu mẫu quy định thống nhất

Trang 25

Đặc điểm của Việt Nam là nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, nhà nước quản lý nền kinh tế thông qua hệ thống pháp luật và các chính sách kinh tế Mà kế toán là công cụ phục vụ cho quản lý kinh tế nên cũng chịu sự chi phối của các luật định Do vậy, công tác kế toán phục vụ cho quá trình soạn thảo và trình bày báo cáo tài chính tất nhiên cũng chịu sự chi phối bởi các chính sách, chế

độ kế toán và luật kinh tế quy định bởi nhà nước (Đoàn Ngọc Quế, 2007)

Hệ thống các văn bản luật đó là Luật kế toán, Chế độ Kế toán, Chuẩn mực kế toán Việt Nam và các thông tư hướng dẫn thi hành các chuẩn mực và chế độ kế toán tài chính Tính đến nay, Bộ Tài chính đã ban hành 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) Trong đó, Chuẩn mực chung kế toán Việt Nam được ban hành theo Quyết định 165/2002/QĐ-BTC ngày 31/12/2002 nhằm mục đích quy định và hướng dẫn

xử lý các yêu cầu kế toán cơ bản, các yếu tố và vấn đề về ghi nhận các yếu tố của báo cáo tài chính, đánh giá, trình bày và công bố thông tin Bên cạnh dó, sự ra đời của Quyết định 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/3006 của Bộ tài chính qui định về Chế độ kế toán doanh nghiệp tạo một khuôn khổ pháp lý chung công tác lập và trình bày báo cáo tài chính tại doanh nghiệp

NHTM là một loại hình doanh nghiệp nhưng kinh doanh sản phẩm đặc biệt à tiền tệ Vì vậy BCTC của NHTM ngoài việc trình bày đầy đủ theo chuẩn mực và chế độ kế toán của một doanh nghiệp thông thường, mà còn phải trình bày những thông tin đặc thù theo VAS 22 – Trình bày bổ sung BCTC của ngân hàng và các tổ chức tài chình tương tự

2.1.4 Các đặc điểm chất lượng của báo cáo tài chính

Để báo cáo tài chính hữu ích cho các đối tượng sử dụng, chất lượng của thông tin trên báo cáo tài chính có một số đặc điểm cơ bản sau:

Tin cậy :

Thông tin trên báo cáo tài chính cần phải bảo đảm tính tin cậy Để đáp ứng được yêu cầu này, thông tin trên báo cáo tài chính phải là những thông tin khách quan và có thể thẩm định được Thông tin trên báo cáo tài chính mang tính khách quan, không phụ thuộc vào ý kiếm chủ quan của bất kì cá nhân nào do nó là kết quả của quá trình kế toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, căn cứ từ các chứng từ kế

Trang 26

toán và tuân thủ theo các chuẩn mực, chế độ kế toán hiện hành Hơn nữa, thông tin trên báo cáo tài chính có thể được thẩm định để tìm kiếm các bằng chứng chứng minh cho tính đúng đắn của các số liệu trên báo cáo tài chính Bên cạnh đó, ý kiến của kiểm toán viên về tính trung thực, khách quan, tuân thủ chuẩn mực và chế độ kế toán sẽ nâng cao độ tin cậy của thông tin trên báo cáo tài chính

Kịp thời:

Báo cáo tài chính cần được cung cấp kịp thời để bảo đảm cho tính hữu ích của thông tin đối với các đối tượng sử dụng để đề ra quyết định Nếu cung cấp thông tin báo cáo tài chính chậm trễ cho các đối tượng sử dụng thì những thông tin

đó dù có tính tin cậy rất cao cũng là vô nghĩa do các quyết định kinh doanh thường mang tính thời điểm Hơn nữa, nếu dựa vào các thông tin lạc hậu về tình hình tài chính của doanh nghiệp đề ra quyết định có thể dẫn đến các quyết định sai lầm Theo quy định hiện hành, báo cáo tài chính năm cần được công bố cho các đối tượng sử dụng chậm nhất là sau 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính Ngoài ra các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán cần công bố báo cáo tài chính quý chậm nhất là sau 30 ngày kể từ ngày kết thúc quý

So sánh được:

Thông tin báo cáo tài chính cần bảo đảm tính so sánh được Yêu cầu này đòi hỏi các khoản mục trên báo cáo tài chính phải được trình bày nhất quán giữa các kì

và nhất quán giữa các doanh nghiệp cả về nội dung và hình thức Để đảm bảo tính

so sánh được của thông tin báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, số liệu sử dụng

để lập báo cáo tài chính của các doanh nghiệp phải được hình thành từ việc tuân thủ

và áp dụng cùng một hệ thống các nguyên tắc chuẩn mực và chế độ kế toán Trong trường hợp có sự thay đổi giữa các kì về nội dung hoặc hình thức trình bày những thay đổi này cần được giải trình chi tiết trong thuyết minh báo cáo tài chính hoặc trình bày lại báo cáo tài chính của các kì trước nhằm cung cấp thông tin so sánh được giữa các kì với nhau

Coi trọng bản chất hơn hình thức:

Thông tin báo cáo tài chính cần phản ảnh theo bản chất kinh tế, chứ không phản ánh theo hình thức pháp lý của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh Nhìn chung

Trang 27

hầu hết các nghiệp vụ kinh tế phát sinh thường có bản chất kinh tế phù hợp với hình thức pháp lí của chúng Tuy nhiên có một số trường hợp đặc biệt khi bản chất kinh

tế trái với hình thức pháp lí thì báo cáo tài chính cần trình bày các thông tin đó theo bản chất kinh tế của nghiệp vụ

Trọng yếu:

Báo cáo tài chính cần cung cấp những thông tin có ảnh hưởng quan trọng đến quyết định của người sử dụng thông tin Các thông tin trọng yếu này cần được trình bày riêng rẻ trên báo cáo tài chính, còn các thông tin không trọng yếu có thể được tập hợp lại và trình bày chung trong một khoản mục

Báo cáo tài chính cần cung cấp thông tin phù hợp với nhu cầu của các đối tượng sử dụng, tức là cung cấp đúng thông tin mà các đối tượng sử dụng cần Mỗi đối tượng sử dụng thông tin báo cáo tài chính đều có thể tìm thấy các thông tin hữu ích, liên quan tới các quyết định kinh doanh của họ Tính phù hợp và tính tin cậy của thông tin trên báo cáo tài chính đôi khi mâu thuẫn với nhau trong những trường hợp này, các thông tin bổ sung cần được cung cấp trên thuyết minh báo cáo tài chính để giúp các đối tượng sử dụng có thể đánh giá đúng đắn về tình hình tài chính của doanh nghiệp

2.2 KHÁI NIỆM TÍNH MINH BẠCH CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA MINH BẠCH CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH

2.2.1 Tính minh bạch của báo cáo tài chính

Trong một báo cáo của World Bank (Trích Tara Vishwanath và Kaufmann, 1999) công bố về sự minh bạch thông tin trong lĩnh vực tài chính, sự minh bạch thông tin trên thị trường tài chính được hiểu là việc các chủ thể kinh tế (người dân, doanh nghiệp, hoặc chính phủ) có thể cập nhật thông tin liên quan đến thị trường tài chính một cách tin cậy, kịp thời và có thể tiếp cận một cách dễ dàng Các tác giả nhấn mạnh “minh bạch là sự đầy đủ, tin cậy và kịp thời trong việc công bố thông tin

và sự tiếp cận dễ dàng từ phía công chúng đối với sự đầy đủ, tin cậy và kịp thời đó”

Khái niệm minh bạch thông tin một cách chủ động, thể hiện trách nhiệm của

tổ chức công bố thông tin thông qua các định nghĩa của một số tác giả và tổ chức

Trang 28

như: Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng đưa ra khái niệm minh bạch thông tin

trong lĩnh vực ngân hàng như sau: “minh bạch thông tin trong hoạt động ngân hàng

là việc công bố ra công chúng thông tin kịp thời, tin cậy nhằm đảm bảo người sử dụng thông tin đó có thể đánh giá chính xác về tình hình và kết quả tài chính của ngân hàng, hoạt động kinh doanh và các rủi ro liên quan” (Basel 1998, p.15)

Tương tự như vậy, OECD (2004) cho rằng sự minh bạch thông tin là việc cung cấp thông tin kịp thời và đầy đủ từ phía cơ quan công quyền về thể chế kinh tế, các quy định của pháp luật, các số liệu, các thông tin liên quan đến chính sách tài chính, chính sách tiền tệ theo cách thức mà công chúng có thể tiếp cận được

Theo nghiên cứu thực nghiệm của Trung Quốc, Robert W McGee, Xiaoli Yuan (2008), tính minh bạch là một thành phần rất quan trọng của báo cáo tài chính Các công ty phải công bố bất cứ điều gì mà có thể ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của một nhà đầu tư và không có bất cứ thông tin quan trọng nào có thể được che dấu

Theo nghiên cứu của Robert M.Bushman, Piotroski và Smith (2003), xem xét sự minh bạch trên góc độ công ty Minh bạch thông tin được định nghĩa như là

sự sẵn có phổ biến của các thông tin thích hợp và đáng tin cậy về công việc thực hiện định kỳ, những vị thế tài chính, các cơ hội đầu tư, quản trị và những rủi ro của các giao dịch công khai

Theo Barth và Schipper (2008), sự minh bạch là một đặc tính được mong đợi của báo cáo tài chính, được định nghĩa là phạm vi mà các báo cáo tài chính cho thấy các giá trị kinh tế ngầm định của tổ chức theo cách sẵn sàng cho sự hiểu biết của những người sử dụng các báo cáo này

Ở góc độ công ty, minh bạch thông tin tài chính được các nhà nghiên cứu, các tổ chức định nghĩa như sau:

Theo Robert Bushman và cộng sự (2001), minh bạch thông tin tài chính là sự sẵn có của thông tin cụ thể về công ty cho các nhà đầu tư và cổ đông bên ngoài Đồng thời Bushman và nhóm tác giả đã đo lường cơ chế cung cấp thông tin theo 3 nhóm:

Trang 29

(1) Những quy định trong báo cáo tài chính của công ty gồm: mức độ, nguyên tắc và tính kịp thời của báo cáo tài chính, chất lượng kiểm toán và mức độ công khai thông tin quản trị (Ví dụ như: có thể xác định được thông tin về mức thù lao, số lượng cổ phần nắm giữ của nhân viên và ban giám đốc cũng như các cổ đông lớn,…);

(2) Mức độ đáp ứng được các thông tin riêng biệt của doanh nghiệp;

(3) Mức độ phổ biến của thông tin gồm khả năng tiếp cận thông tin qua các phương tiện truyền thông

Trên quan điểm của người sử dụng thông tin, nghiên cứu của nhóm tác giảBlanchet (2002) và Prickett (2002) trích trong Kulzick (2004) cho rằng minh bạch thông tin là việc cung cấp thông tin phải đảm bảo các đặc điểm như: thông tin phải chính xác, nhất quán, thích hợp, đầy đủ, rõ ràng, kịp thời và thuận tiện

OECD (2004), liên quan đến vấn đề công bố thông tin và tính minh bạch cho rằng: “Khuôn khổ quản trị công ty phải đảm bảo việc công bố thông tin kịp thời và chính xác về mọi vấn đề quan trọng liên quan đến công ty, bao gồm tình hình tài chính, tình hình hoạt động, sở hữu và quản trị công ty” Những vấn đề mà OECD đặt ra có những ý nghĩa lý luận quan trọng trong việc xem xét tính minh bạch của thông tin nói chung và thông tin tài chính nói riêng

Theo Bert J Zarb, (2006), dưới góc độ nghề nghiệp của kế toán viên công chứng, để thông tin tài chính được hữu ích và kịp thời, thì thông tin tài chính được công bố phải đáng tin cậy, so sánh được, nhất quán và minh bạch Để đạt được sự minh bạch trong báo cáo tài chính thì thông tin phải được thiết lập với một chất lượng cao và tuân thủ theo các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung (GAAP)

Các khái niệm về MBTT như đã nêu ở trên không chỉ đòi hỏi chất lượng của thông tin công bố, nội dung của các thông tin cũng như mối quan hệ với công chúng

và cách thức công bố thông tin mà minh bạch thông tin còn đòi hỏi các điều kiện cần thiết về khung pháp lý, về quản lý vĩ mô của nhà nước, về chức năng hoạt động của các công ty kiểm toán, xếp hạng tín nhiệm, về việc công bố thông tin của các doanh nghiệp phát hành Có thể nói, minh bạch thông tin trên thị trường chứng

Trang 30

khoán đặt ra yêu cầu cho cả hệ thống các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp khi công bố thông tin trên thị trường chứng khoán

Tóm lại, từ các định nghĩa trên cho thấy sự minh bạch là đặc điểm mong muốn của báo cáo tài chính, là sự sẵn có của thông tin tài chính đáng tin cậy cho các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính, để từ đó họ có thể đưa ra được các quyết định thích hợp

2.2.2 Tầm quan trọng của tính minh bạch báo cáo tài chính

Minh bạch báo cáo tài chính của các NHTM có mức ảnh hưởng rất lớn đối với người sử dụng, nhà đầu tư, cơ quan quản lý… Mục tiêu cuối cùng của báo cáo tài chính đó là cung cấp thông tin cho người sử dụng, hỗ trợ cho người sử dụng ra quyết định tối ưu Do đó việc cung cấp thông tin tài chính minh bạch cho người sử dụng giúp cho họ đưa ra các quyết định thích hợp

Theo Pankaj Madhani (2007), minh bạch là công bố kịp thời và đầy đủ thông tin về hoạt động và tài chính của công ty và thông lệ quản trị doanh nghiệp liên quan đến vốn chủ sở hữu, cơ cấu quản lý và quy trình của nó Minh bạch là một yếu

tố quan trọng ảnh hưởng đến sức hấp dẫn của công ty đối với các nhà đầu tư và là một yếu tố quan trọng của quản trị doanh nghiệp Mức độ minh bạch phụ thuộc vào

sự sẵn sàng và khả năng quản lý để khắc phục bất kỳ sự khác biệt thông tin với những người tham gia thị trường Trong thời đại của nền kinh tế thông tin, minh bạch trong báo cáo tài chính là rất quan trọng Các công ty không đạt tiêu chuẩn về minh bạch thông tin thì sẽ có nguy cơ thiệt hại đáng kể trong sự tín nhiệm quản lý Trong trường hợp xấu nhất, các công ty có thể phải đối mặt với sự xói mòn niềm tin

cổ đông, giá trị vốn hóa thị trường sẽ bị giảm xuống Việc minh bạch thông tin trên báo cáo tài chính sẽ giúp cho việc xây dựng lợi thế cạnh tranh bền vững lâu dài của các công ty niêm yết

Sự minh bạch thông tin tài chính sẽ là cơ sở quan trọng để các công ty phát triển bền vững, làm gia tăng giá trị của doanh nghiệp Muốn phát triển nhanh và bền vững, các công ty cần phải đề cao tính minh bạch thông tin trên báo cáo tài chính

(i) Đối với nhà đầu tư, người sử dụng báo cáo tài chính

Trang 31

Rahman (1998) qua nghiên cứu cuộc khủng hoảng Đông Á 1997 đã chỉ ra sự thiếu minh bạch trong BCTC của các ngân hàng góp phần làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng kinh tế Nghiên cứu chỉ ra rằng một BCTC minh bạch, đáng tín cậy giúp cho các nhà đầu tư ra quyết định kịp thời và phù hợp

Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007 năm 2008 xảy ra do sự lộn xộn, không minh bạch rõ ràng các khoản nợ được hình thành bởi việc hoán đổi tín dụng, nghĩa vụ thế chấp… Thông tin trên các BCTC không minh bạch làm cho các nhà đầu tư đưa ra các quyết định sai lầm là nguyên nhân làm dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 (Long 2010)

Sự minh bạch thông tin BCTC giữ vai trò quan trọng trong việc tạo niềm tin cho các nhà đầu tư (Atabey và Cetin 2012) Minh bạch thông tin đầy đủ đòi hỏi từ việc quản trị hữu hiệu, thị trường vốn hoạt động một cách hiệu quả và một hệ thống thông tin kế toán tốt

Enachi (2013) BCTC cung cấp thông tin kế toán tài chính cho người sử dụng bên trong và bên ngoài tổ chức đó, BCTC là công cụ giúp họ đưa ra các quyết định đầu tư kịp thời và hiệu quả Để làm được điều này thì BCTC phải minh bạch, phải chất lượng, cách thức truyền đạt thông tin đến người sử dụng rõ ràng dễ hiểu

Các nhà đầu tư, người cho vay là những người cung cấp vốn cho NHTM với mong muốn thu được lợi tức từ việc đầu tư vốn trên Do đó trước khi quyết định đầu tư họ rất cần thông tin về tài chính của các ngân hàng để phân tích, đánh giá Khi đã quyết định đầu tư thì như cầu về thông tin BCTC của họ càng tăng cao nhằm theo dõi tình hình hoạt động, xem xét có nên tiếp tục đầu tư hay không Vì vậy BCTC của NHTM là kênh thông tin quan trọng nhất để đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư, người sử dụng BCTC Họ luôn mong muốn các NHTM cung cấp BCTC thật sự minh bạch để họ ra quyết định hiệu quả

(ii) Đối với Cơ quan quản lý:

Fons (1999) Kế toán minh bạch rất quan trọng để ổn định hệ thống ngân hàng Với sự minh bạch trong BCTC, các ngân hàng yếu kém sẽ loại ra khỏi hệ thống ngân hàng Nếu không có sự minh bạch trong BCTC, các ngân hàng hoạt động kém hiệu quả vẫn tồn tại, chất lượng cho vay giảm, tỷ lệ nợ xấu bị che giấu,

Trang 32

tính thanh khoản yếu kém, cơ quan quản lý không kiểm tra giám sát được hệ thống ngân hàng Trong bối cảnh quyền lực kinh tế tập trung vào cơ quan chính phủ, Sự thiếu minh bạch sẽ dẫn đến tham nhũng, tiêu cực xãy ra, làm ảnh hưởng đến hệ thống tiền tệ của một quốc gia, tác động tiêu cực đến hình ảnh của một đất nước

Bushman và Williams (2012), các nghiên cứu chỉ ra rằng minh bạch BCTC của các ngân hàng giữ vai trò thúc đẩy sự phát triển của thị trường, đòn bẩy đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng

Gartner (2013), sự minh bạch đang trở thành một yêu cầu cấp bách ở các quốc gia và các tổ chức quốc tế Minh bạch được xem là chìa khóa quan trọng để thúc đẩy nâng cao trách nhiệm giải trình cho các tổ chức quốc tế, là một cơ chế quan trọng để cải cách các quy trình pháp lý trong các lĩnh vực

Hiệp ước Basel II cho rằng các ngân hàng phải công khai thông tin một cách thích đáng, các ngân hàng phải công khai thông tin từ thông tin về cơ cấu vốn, mức độ đầy đủ đến những thông tin liên quan nhạy cảm của ngân hàng như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản… Từ đó, Các ngân hàng hoạt động ngày càng minh bạch hơn, NHNN thực hiện quản lý hiệu quả nền kinh tế hơn

Minh bạch BCTC giúp cho cơ quan quản lý nhà nước có cái nhìn tổng quát toàn diện thực tế tình hình tài chính của các NHTM Từ đó có biện pháp nhằm hạn chế các hành vi vi phạm trên thị trường tài chính, thực hiện hiệu quả chức năng quản lý vĩ mô, đảm bảo lơi ích cho các bên tham gia thị trường

(iii) Đối với NHTM:

Theo IFRS 7 yêu cầu BCTC công bố để người sử dụng có thể đánh giá được tầm quan trọng của công cụ tài chính, kết quả kinh doanh, rủi ro phát sinh từ các công cụ tài chính tác động trong chu kỳ kinh doanh

Doanh nghiệp càng minh bạch BCTC giúp cho doanh nhiệp nâng cao uy tín và cải thiện khả năng tiếp cận nguồn vốn trên thị trường

Theo Sevin và cộng sự (2007), Các nhà quản lý, nhà đầu tư, người điều hành doanh nghiệp đều bày tỏa mong muốn rằng BCTC phải minh bạch để kết quả hoạt động của doanh nghiệp thể hiện rõ ràng hơn khi được xem bởi bất kỳ ai ngoài

Trang 33

doanh nghiệp BCTC dễ hiểu, minh bạch sẽ mang lại lợi ích công cộng cao hơn, các khoản thu nhập bền vững hơn

Minh bạch BCTC giúp cho NHTM làm tăng hiệu quả hoạt động thông qua việc lựa chọn của các nhà đầu tư, tạo ra cơ chế giám sát hiệu quả, buộc họ hoạt động vì lợi ích của chủ sở hữu

Tóm lại, mục tiêu cuối cùng của BCTC là cung cấp thông tin, hỗ trợ hiệu quả trong việc ra quyết định của người sử dụng BCTC của NHTM, việc cung cấp BCTC minh bạch góp phần giảm thiểu rủi ro thông tin bất cân xứng Hiện nay vấn

đề minh bạch BCTC rất được quan tâm do tình trạng công bố thông tin không đồng đều giữa các NHTM dẫn đến sự hoài nghi và không loại trừ những tiêu cực của các chủ thể kém minh bạch, nổi cộm làm tình trạng nợ xấu cao, các vụ bê bối, sáp nhập ngân hàng liên tiếp diễn ra

2.2.3 Tiêu chuẩn đánh giá và đo lường mức độ minh bạch thông tin tài chính 2.2.3.1 Tiêu chuẩn đánh giá mức độ minh bạch thông tin tài chính

Về chất lượng thông tin báo cáo tài chính công bố

Chất lượng thông tin báo cáo tài chính công bố chính là chất lượng của sản phẩm do công tác kế toán – tài chính tạo ra thông qua hệ thống quá trình thu thập,

xử lý, tổng hợp báo cáo tài chính Chất lượng này cùng với một số yếu tố khác là tiêu chuẩn và thước đo đo lường mức độ minh bạch thông tin báo cáo tài chính Để

có cơ sở đánh giá chất lượng của thông tin báo cáo tài chính, luận văn sẽ xem xét về yêu cầu chất lượng thông tin báo cáo tài chính qua cách tiếp cận ở quan điểm khác nhau của các tổ chức quốc tế

(1) Quan điểm của hội đồng chuẩn mực Kế toán quốc tế (IASB)

Trước tháng 09/2010, để đánh giá chất lượng của thông tin báo cáo tài chính, quan điểm của IASB dựa vào tiêu chí: có thể hiểu được, thích hợp, đáng tin cậy và

Trang 34

nâng cao của thông tin tài chính hữu ích là có thể so sánh được, kiểm chứng được, kịp thời và dễ hiểu Trong đó, các đặc điểm cơ bản về chất lượng thông tin báo cáo tài chính hữu ích được diễn giải như sau:

Các đặc điểm nâng cao về chất lượng thông tin báo cáo tài chính hữu ích:

- So sánh: người sử dụng thông tin có thể so sánh các thông tin tương tự với đơn vị khác hoặc các thông tin tương tự của đơn vị giữa các kỳ và các ngày khác nhau Khả năng so sánh không liên quan đến một khoản mục đơn lẻ mà yêu cầu ít nhất là hai khoản mục

- Kiểm chứng: là khả năng mà những người sử dụng báo cáo tài chính có kiến thức và độc lập khác nhau có thể nhất trí rằng một mô tả cụ thể đáng tin cậy Thông tin định lượng không nhất thiết chỉ là một mô tả cụ thể mà là một loạt giá trị

và khả năng liên quan có thể được kiểm chứng Kiểm chứng giúp đảm bảo cho những người sử dụng báo cáo tài chính là thông tin về giao dịch kinh tế được trình bày trung thực và đúng mục đích

- Kịp thời: thông tin luôn sẳn có để giúp những người sử dụng báo cáo tài chính kịp đưa ra các quyết định Thông thường, những thông tin cũ thường kém hữu ích hơn, tuy nhiên một số thông tin vẫn có tính kịp thời sau khi kết thúc kỳ báo cáo một thời gian Ví dụ người sử dụng báo cáo tài chính có thể sử dụng thông tin trong quá khứ để xác định và đánh giá các địnhhướng

- Dể hiểu: thông tin được phân loại và trình bày đặc trưng một cách rõ ràng

và chính xác

(2) Quan điểm của Hội đồng chuẩn mực Kế toán tài chính Mỹ (FASB)

Đối với FASB, trước tháng 09/2010, chất lượng của thông tin báo cáo tài chính được đánh giá qua các đặc điểm: tính phù hợp, tính đáng tin cậy và khả năng

so sánh được

Cùng với xu hướng hội tụ kế toán thì từ tháng 09/2010, quan điểm đánh giá chất lượng thông tin báo cáo tài chính của FASB cũng tương tự như IASB

Về khả năng tiếp cận thông tin của người sử dụng

Khả năng tiếp cận là một tiêu chí quan trọng vì kể cả khi các thông tin được nộp cho cơ quan quản lý đúng hạn thì tính hữu ích của thông tin cũng bị hạn chế

Trang 35

nếu chỉ có một số lượng hạn chế nhà đầu tư tiếp cận thông tin này Thông thường có

3 cách để công bố thông tin ra công chúng; (1) Công bố thông tin bằng văn bản, báo chí; (2) Công bố thông tin bằng hệ thống điện tử; (3) Bằng hệ thống Internet

Hầu hết các nước đều chấp nhận nhiều phương thức công bố thông tin đồng thời Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, phương thức công bố thông tin bằng Internet trở nên phổ biến và là một kênh thông tin được nhiều nhà đầu tư tin cậy Tuy vậy, xét về mặt luật pháp, Internet vẫn chưa được nhiều quốc gia thừa nhận là kênh thông tin hợp pháp nếu các các công ty niêm yết công bố bằng văn bản

2.2.3.2 Tiêu chuẩn đo lường mức độ minh bạch thông tin tài chính

Theo tổ chức xếp hạng tín nhiệm hàng đầu thế giới Standard and Poors (S&P), để đo lường mức độ minh bạch thông tin, tổ chức này xây dựng chỉ số:

“Minh bạch và công bố thông tin (T&D Index)” T&D Index được xây dựng dựa trên việc điều tra các các công ty niêm yết về việc thực hiện công bố thông tin về 2 nội dung chính là thông tin về cơ cấu sở hữu, quyền của cổ đông và thông tin tài chính, hoạt động của công ty (thông qua báo cáo thường niên, thông tin về kinh doanh, thông tin về Hội đồng quản trị và Ban điều hành, chế độ đãi ngộ đối với Hội đồng quản trị và ban điều hành) S&P đã xây dựng bảng hỏi gồm 109 tiêu chí Các công ty được điều tra sẽ trả lời các câu hỏi dưới dạng Có/Không về các nội dung thông tin mà công ty công bố Trong đó liên quan đến minh bạch thông tin tài chính gồm 30 khoản mục là chính sách kế toán, các chuẩn mực kế toán và áp dụng cho các khoản mục trên các báo cáo tài chính, các khoản mục tuân thủ theo các chuẩn mực quốc gia, báo cáo tài chính năm tuân thủ theo một trong các hệ thống chuẩn mực phổ biến: Chuẩn mực quốc tế (IFRS), chuẩn mực Hoa kỳ (U.S GAAP),…

Tuy nhiên, chỉ số T&D chỉ dừng lại ở việc đánh giá xem các các công ty niêm yết có công bố các thông tin liên quan hay không mà chưa đánh giá toàn diện được chất lượng của thông tin đã được công bố chính thức

- Một số nghiên cứu trước đây thì sử dụng chỉ số CIFAR để đo lường mức độ minh bạch thông tin (Nghiên cứu của Robert Bushman và cộng sự, 2001; Jeffrey J

và Marie E Archambault, 2003) Trong đó, chỉ số CIFAR là chỉ số được Trung tâm

Trang 36

phân tích và nghiên cứu tài chính quốc tế (IAAT – International Accounting and Auditing Trends) xây dựng năm 1995, chỉ số này gồm 90 khoản mục thông tin tài chính và phi tài chính được công bố trên các báo cáo thường niên của các các công

ty niêm yết Các nghiên cứu trước thường sử dụng chỉ số CIFAR để đo lường các thông tin chung, các khoản mục trên báo cáo KQKD, bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, các chuẩn mực kế toán, thông tin các loại chứng khoán đầu tư, tình hình quản trị công ty và các khoản mục đặc biệt khác

- Nhóm tác giả Chueng và cộng sự (2005), sử dụng bảng khảo sát được thiết

kế dựa trên nguyên tắc quản trị của OECD do Hiệp hội các giám đốc Viện Thai Institute of Director (IOD)’s thực hiện đánh giá mức độ minh bạch thông tin của các các công ty niêm yết Hoặc trong các chương trình tư vấn của World Bank tại Châu

Á, để đánh giá thẻ điểm quản trị công ty, trong đó có phần đánh giá mức độ công bố

và minh bạch thông tin của các công ty cổ phần đại chúng, Tổ chức Tài chính quốc

tế (IFC) cũng sử dụng bảng câu hỏi xây dựng từ nguyên tắc quản trị của OECD

- Đối với nhóm tác giả Yu-Chih Lin và cộng sự (Năm 2007), đã dựa trên chỉ

số “hệ thống xếp hạng về sự minh bạch và công bố thông tin - ITDRS” để đánh giá mức độ minh bạch thông tin của các các công ty niêm yết Đây là chỉ số đánh giá xếp hạng về sự minh bạch và công bố thông tin của các các công ty niêm yết được xây dựng ở Đài Loan Chỉ số này bao gồm 88 khoản mục công bố được phân chia thành 5 nội dung: (1) Sự tuân thủ với các quy định về công bố; (2) Sự kịp thời của các báo cáo; (3) Sự công bố các dự báo tài chính; (4) Sự công bố báo cáo thường niên; (5) Sự công bố thông tin trên website của công ty

Tóm lại, để đánh giá và đo lường sự minh bạch thông tin tài chính, các nghiên cứu trước đây thường dựa vào các tiêu chí được đưa ra thông qua các chỉ số

đo lường do các tổ chức quốc tế có uy tín xây dựng Ngoài ra, một số nghiên cứu cũng dựa vào các yêu cầu về đặc điểm chất lượng thông tin tài chính do các tổ chức quốc tế ban hành làm cơ sở xây dựng các biến để đo lường các thông tin được công

bố trên báo cáo tài chính nhằm đánh giá mức độ minh bạch của thông tin tài chính

Do các điều kiện về văn hóa, kinh tế, chính trị, hoàn cảnh và mục tiêu xem xét khác nhau nên việc đo lường vẫn chưa đầy đủ và còn một số hạn chế nhất định

Trang 37

2.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch

Có nhiều mô hình nghiên cứu của rất nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu

về các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố và tính minh bạch thông tin ở nhiều phạm vi và khía cạnh khác nhau Một số mô hình tiêu biểu như:

(1) Mô hình nghiên cứu của Robert Bushman và cộng sự (2001)

Nhóm tác giả Robert Bushman, Joseph Piotrosks, Abbie Smith (2001) đã phân tích về minh bạch thông tin của các các công ty niêm yết dựa trên hai nhóm yếu tố: minh bạch thông tin báo cáo tài chính (tính kịp thời, độ tin cậy, khả năng tiếp cận thông tin) và minh bạch thông tin quản trị, đồng thời đưa ra các thành phần ảnh hưởng đến minh bạch công ty như sau:

Bảng 2 1: Các thành phần ảnh hưởng đến minh bạch công ty

Báo cáo công ty

Khả năng thu thập thông tin riêng và mức độ truyền thông

Phổ biến thông tin

- Gián tiếp (giao dịch):

như nhà đầu tư, tổ chức giao dịch nội bộ

Các kênh truyền thông: Khả năng tiếp cận thông tin doanh nghiệp từ các kênh truyền thông

Nguồn: Kết quả nghiên cứu của Robert Bushman và cộng sự (2001)

(2) Mô hình nghiên cứu của Jeffrey và Marie E Archbault (2003)

Theo nhóm tác giả, ở góc độ công ty, giả thuyết về các yếu tố tài chính ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của doanh nghiệp là: quyền sở hữu (ownership), tình trạng niêm yết (exchange listings), chính sách cổ tức (Dividends),

Trang 38

công ty kiểm toán (Auditor) và đòn bẩy tài chính (leverage) Tuy nhiên, nghiên cứu thực hiện của nhóm tác giả kết luận rằng các yếu tố như chính sách cổ tức và đòn bẩy tài chính không ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin

Ngoài ra, đối với quá trình hoạt động của doanh nghiệp, các công ty đưa ra các quyết định kinh doanh có thể ảnh hưởng đến nhu cầu thông tin của người sử dụng báo cáo tài chính với giả thuyết rằng: quá trình hoạt động của doanh nghiệp ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các công ty Quá trình hoạt động của công ty được nghiên cứu này xem xét gồm: quy mô công ty (Firm size), ngành nghề kinh doanh (Number of industries) và doanh thu xuất khẩu (Foreign sales) Nghiên cứu thực nghiệm của nhóm tác giả có kết quả phù hợp với các giả thuyết đưa ra

- Về văn hóa: bao gồm 02 nội dung;

+ Giáo dục: khoảng cách quyền lực và chủ nghĩa cá nhân

+ Tôn giáo: Phòng tránh sự bất ổn và chủ nghĩa nam quyền

- Về hệ thống quốc gia: Chính trị, chủ nghĩa tự do, luật pháp, truyền thông,

kinh tế, s ự phát triển, lạm phát, và thị trường vốn

- Về hệ thống công ty: bao gồm 02 nội dung;

+ Tài chính: quyền sở hữu, tình trạng niêm yết, cổ tức, kiểm toán và đòn bẩy tài chính

+ Hoạt động: quy mô, ngành nghề kinh doanh và doanh thu xuất khẩu

- Khả năng đáp ứng: công bố thông tin

(3) Mô hình nghiên cứu của nhóm tác giả Cheung và cộng sự (2005)

Nghiên cứu đưa ra 2 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin

và tính minh bạch thông tin là: nhóm yếu tố tài chính và nhóm yếu tố về quản trị công ty

Trong nhóm yếu tố tài chính, tác gỉả đưa ra mô hình 5 biến tài chính có ảnh hưởng đến mức độ công bố và tính minh bạch của thông tin gồm quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, tình hình tài chính, tài sản thế chấp, hiệu quả sử dụng tài sản Trong nhóm yếu tố quản trị, tác giả đưa ra 3 biến quản trị có ảnh hưởng đến mức độ công bố và tài chính minh bạch của thông tin gồm: mức độ tập trung quyền sở hữu,

cơ cấu Hội đồng quản trị và quy mô của Hội đồng quản trị

Trang 39

Bảng 2 2:Mô hình nghiên cứu của nhóm tác giả Cheung và cộng sự (2005)

TÍNH MINH BẠCH THÔNG TIN

- Quy mô công ty

- Cơ cấu Hội đồng quản trị

- Quy mô Hội đồng quản trị

Nguồn: Kết quả nghiên cứu của Cheung và cộng sự (2005)

2.3 LÝ THUYẾT CƠ SỞ VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

2.3.1 Các lý thuyết cơ sở

2.3.1.1 Lý thuyết thông tin hữu ích

Lý thuyết thông tin hữu ích (decision usefulness theory) là lý thuyết kế toán chuẩn tắc được sử dụng như một lý thuyết nền tảng để xây dựng khuôn mẫu lý thuyết kế toán hiện nay của chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế và chuẩn mực kế toán nhiều quốc gia Lý thuyết này nhấn mạnh nhiệm vụ cơ bản của báo cáo tài chính là cung cấp thông tin hữu ích và thích hợp cho các đối tượng sử dụng trong việc ra quyết định kinh tế Lý thuyết thông tin hữu ích cũng đề cập đến khái niệm cân bằng lợi ích – chi phí, là một khía cạnh quan trọng cần quan tâm khi thiết lập các chuẩn mực (Godfrey et al, 2003)

Lý thuyết thông tin hữu ích tạo ra nền tảng phương pháp luận đối với việc xây dựng hệ thống các quy định về kế toán và kiểm toán Điều này là đặc biệt quan trọng trong điều kiện các nước có nền kinh tế chuyển đổi như Việt nam, khi mà các công cụ quản lý kinh doanh vẫn được hiểu là phục vụ cho sự quản lý của nhà nước hơn là các ngân hàng, người cho vay, nhà cung cấp, khách hàng và công chúng Lý thuyết này là cơ sở để đánh giá hiệu quả tác dụng của việc sử dụng thông tin cho các quyết định quản lý chứ không đơn thuần là để phục vụ theo yêu cầu của pháp luật Ngoài ra, Lý thuyết thông tin hữu ích giúp cho người sử dụng thông tin (bên ngoài) có được sự đánh giá khách quan về chất lượng thông tin tài chính của doanh nghiệp

Trang 40

2.3.1.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng

Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) lần đầu tiên xuất hiện vào những năm 1970 Thông tin bất cân xứng có thể xảy ra trước khi tiến hành

ký kết hợp đồng Các bên tham gia giao dịch cố tình che đậy thông tin, người mua không có thông tin xác thực, đầy đủ và kịp thời nên trả giá thấp hơn giá trị đích thực của hàng hóa Hậu quả là người bán cũng không còn động lực để sản xuất hàng có giá trị và có xu hướng cung cấp những sản phẩm có chất lượng thấp hơn chất lượng trung bình trên thị trường Thông tin bất cân xứng còn gây ra hiện tượng tâm lý ỉ lại (moral hazard) sau khi hợp đồng đã được giao kết nhưng một bên có hành động che đậy thông tin mà bên kia khó lòng kiểm soát, hoặc muốn kiểm soát thì cũng phải tốn kém chi phí

Akerlof, Micheal Spence (1973) chỉ ra giải pháp để khắc phục tình trạng thông tin bất cân xứng bằng cơ chế phát tín hiệu (signaling): bên có nhiều thông tin

có thể phát tín hiệu một cách trung thực và tin cậy đến những bên ít thông tin Với việc phát tín hiệu này, người bán những sản phẩm có chất lượng cao phải sử dụng những biện pháp được coi là quá tốn kém so với người bán hàng hóa có chất lượng thấp

Lý thuyết thông tin bất cân xứng được sử dụng để lý giải về việc phát tín hiệu ra thị trường hay tăng cường công bố thông tin tốt để giúp nhà đầu tư phân biệt chứng khoán tốt và xấu của các công ty cổ phần đại chúng Đồng thời, góp phần giải thích ảnh hưởng của nhân tố kết quả tài chính, hiệu quả sử dụng tài sản, tỷ suất đòn bẩy tài chính hay mức độ tập trung quyền sở hữu đến tính minh bạch thông tin tài chính

2.3.1.3 Lý thuyết đại diện (Agency theory)

Lý thuyết đại diện được phát triển bởi Jensen và Meckling trong một công bố năm 1976 Lý thuyết này nghiên cứu mối quan hệ giữa bên ủy quyền và bên được

ủy quyền Lý thuyết đại diện cho rằng xung đột sẽ phát sinh khi có thông tin không đầy đủ và bất cân xứng giữa chủ thể và đại diện trong công ty Cả hai bên có lợi ích khác nhau và vấn đề này được giảm thiểu bằng cách sử dụng các cơ chế thích hợp

để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông và người quản lý công ty, thông

Ngày đăng: 12/02/2019, 23:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm