Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Tỉnh, sự nghiệp giáo dục của Tuyên Quang có bước phát triển và đạt những thành tựu đáng kể: phát triển mạnh về quy mô và mạng lưới giáo dục, các t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHạM NGọC TRÂM
ĐẢNG Bộ TỉNH TUYÊN QUANG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON
TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội – 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHạM NGọC TRÂM
ĐẢNG Bộ TỉNH TUYÊN QUANG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC MẦM NON
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Mai Hoa
Các số liệu trong khóa luận trung thực, đảm bảo tính khách quan, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày 25 tháng 2 năm 2018
Học viên
Phạm Ngọc Trâm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong bộ môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là PGS.TS Nguyễn Thị Mai Hoa đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tới sự giúp đỡ của các cơ quan như: Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội, Thư viện Khoa lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
Qua đây, tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân, Phòng thống kê, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Tuyên Quang đã tận tình giúp đỡ nguồn tư liệu để tôi hoàn thành luận văn này
Trong quá trình thực hiện luận văn, dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do thời gian không nhiều, khả năng có hạn nên bản luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để tác giả nâng cao khả năng nghiên cứu của mình trong thời gian tới
Hà Nội, ngày 25 tháng 2 năm 2018
Học viên
Phạm Ngọc Trâm
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 8
7 Bố cục của luận văn 8
Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG ĐỐI VỚI GIÁO DỤC MẦM NON GIAI ĐOẠN 1991 - 2000 9
1.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh và chủ trương của Đảng bộ 9
1.1.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh 9
1.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang 20
1.2 Chỉ đạo thực hiện 26
1.2.1 Tổ chức hoạt động dạy và học 26
1.2.2 Xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý 29
1.2.3 Phát triển quy mô, mạng lưới trường lớp, xây dựng cơ sở vật chất 31
1.2.4 Thực hiện xã hội hóa và công bằng trong giáo dục 33
Tiểu kết chương 1 37
Chương 2 SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG ĐỐI VỚI GIÁO DỤC MẦM NON TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010 39
2.1 Đặc điểm tình hình và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang 39
2.1.1 Chủ trương về phát triển giáo dục mầm non của Đảng………… 39
2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang 43
Trang 62.2 Chỉ đạo thực hiện 47
2.2.1 Tổ chức hoạt động dạy và học 47
2.2.2 Xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý 50
2.2.3 Phát triển quy mô, mạng lưới trường lớp và xây dựng cơ sở vật chất 53 2.2.4 Thực hiện xã hội hóa và công bằng giáo dục 55
Tiểu kết chương 2 60
Chương 3 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 62
3.1 Nhận xét 62
3.1.1 Ưu điểm 62
3.1.2 Hạn chế 72
3.2 Một số kinh nghiệm 76
3.2.1 Quán triệt, vận dụng chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển giáo dục mầm non phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương 76
3.2.2 Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của giáo dục mầm non cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân 79
3.2.3 Chú trọng công tác đào tạo bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục 82
Tiểu kết chương 3 85
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 96
Trang 7Giáo dục và Đào tạo : GD&ĐT
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục đào tạo đóng vai trò quan trọng, chủ yếu để giữ gìn, phát triển
và truyền bá văn minh của nhân loại Trong thời đại khoa học phát triển như ngày nay thì trí tuệ của con người có ý nghĩa hàng đầu, trở thành nền móng và
là động lực chính cho sự phát triển và tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội Trong bối cảnh đó giáo dục đào tạo trở thành nhân tố quyết định đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc và mỗi con người Chính
vì vậy mà quốc gia nào cũng phải xem trọng nền giáo dục trước nhất
Sự nghiệp giáo dục - đào tạo không thể đạt được kết quả ngay trong một sớm một chiều mà phải trải qua một quá trình diễn ra liên tục trong nhiều năm theo các bậc học khác nhau: từ mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, đại học…Trong quá trình đào tạo đó, GDMN giữ vai trò quan trọng, có ý nghĩa nền tảng, đặt những viên gạch đầu tiên cho sự phát triển của GD
Đặt nhiệm vụ, mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng con người và thế hệ thiết tha, gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, ĐCSVN hết sức chú trọng phát triển các bậc học; trong
đó có GDMN Như vậy, giáo dục có tác động to lớn đến toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của xã hội; trong đó, GDMN giữ một vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân GDMN là bậc học đầu tiên của nền giáo dục quốc dân, có vai trò đặc biết quan trọng trong việc đặt nền móng và phát triển nhân cách của con người
Trong giai đoạn hiện nay, đất nước ngày càng phát triển về mọi mặt, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục cho nên nhu cầu đời sống vật chất cũng
Trang 9như tinh thần cũng ngày được tăng cao GDMN gắn liền và chịu ảnh hưởng trực tiếp của sự phát triển chung xã hội
Tuyên Quang là tỉnh miền núi, trong đó có 5 huyện và 1 thị xã, tỷ lệ dân tộc thiểu số chiếm 52,01%, tập quán canh tác còn nhỏ lẻ, lạc hậu Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Tỉnh, sự nghiệp giáo dục của Tuyên Quang có bước phát triển và đạt những thành tựu đáng kể: phát triển mạnh về quy mô và mạng lưới giáo dục, các trường lớp được mở thêm, xóa xã trắng về GDMN, hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, chống mù chữ, chất lượng giáo dục của tỉnh từng bước được cải thiện Tuy nhiên, Tuyên Quang vẫn là tỉnh có điểm xuất phát thấp về kinh tế - xã hội và đứng trước những khó khăn
to lớn trong việc phát triển nền giáo dục Những điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục của tỉnh nói chung, của GDMN nói riêng, GDMN vẫn còn nhiều mặt yếu kém, phát triển chưa vững chắc và cần được củng cố để phát triển Tình hình trên, đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh- chủ thể lãnh đạo GD và GDMN của Tuyên Quang
Do đó, nghiên cứu lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đối với sự phát triển GDMN vừa có ý nghĩa lý luận và thực tiễn Những kinh nghiệm được đúc rút từ quá trình Đảng bộ Tỉnh lãnh đạo phát triển GDMN có thể tham khảo, vận dụng vào GDMN của tỉnh ở thời điểm hiện tại Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được tham khảo cho việc giảng dạy, nghiên cứu
về GDMN của Tuyên Quang hoặc những vấn đề có liên quan
Đó là những lý do chính để tôi mạnh dạn chọn vấn đề “Đảng bộ tỉnh
Tuyên Quang lãnh đạo phát triển giáo dục mầm non từ năm 1991 đến năm 2010” làm đề tài luận văn thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng CSVN
của mình
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn
Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển của nền kinh tế, xã hội của cả nước nói chung và của tỉnh Tuyên Quang nói riêng
Trang 10Trong nhiều năm qua đã có nhiều cá nhân, tập thể ở nhiều lĩnh vực và quan điểm khác nhau về nghiên cứu lịch sử giáo dục tỉnh Tuyên Quang nói chung,
về GDMN của Tuyên Quang và sự lãnh đạo của Đảng bộ Tỉnh đối với GDMN nói riêng, tiêu biểu là các công trình nghiên cứu sau:
* Về giáo dục và giáo dục mầm non nói chung
Năm 1999, cuốn sách Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa XXI, của
Phạm Minh Hạc do nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội in ấn đã tập trung trình bày tính chất của nền giáo dục, nguyên lý, nội dung, hệ thống giáo dục ở Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử, từ GDMN đến giáo dục đại học, phân tích mối quan hệ giữa giáo dục và việc phát triển nguồn nhân lực, các nguồn lực phát triển giáo dục và những suy nghĩ về phương hướng phát triển giáo dục trong thời gian tới
Trong năm 1999, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội phát hành cuốn sách
Về vấn đề giáo dục - đào tạo của Thủ tướng Phạm Văn Đồng Cuốn sách là
tập hợp các bài viết nhằm quán triệt những tư tưởng, quan điểm về giáo dục - đào tạo của Đảng từng bước thực hiện đường lối giáo dục đó, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Năm 1999, Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội cho in cuốn sách Phương pháp phát triển trí tuệ cho trẻ em (mầm non và tiểu học) của tác giả Nguyễn
Công Khanh, đây là tài liệu hướng dẫn, tư vấn có chiều sâu, dựa trên những trải nghiệm, thực nghiệm những ý tưởng nghiên cứu, triết lí, mô hình giáo dục mới Cuốn sách là một tài liệu bổ ích nhằm giúp giáo viên, các bậc phụ huynh hiểu biết tốt hơn về sự phát triển tâm – sinh lí trẻ mầm non, tiểu học; cung cấp những tri thức, phương pháp, giúp giáo viên, phụ huynh hiểu được sự phát triển trí tuệ của trẻ; đồng thời nắm được các phương pháp giáo dục trí tuệ cụ thể như biết cách thiết lập các câu hỏi, các bài tập/ tình huống/ nhiệm vụ kĩ năng tổ chức trò chơi để trẻ tích cực khám phá, tương tác, trải nghiệm nhằm kích hoạt sự phát triển trí tuệ ngay từ tuổi ấu thơ, nuôi dưỡng phát triển thành tài năng khi trẻ trưởng thành
Trang 11Năm 2001, Nxb Chính trị quốc gia phát hành cuốn Phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Phạm Minh Hạc Cuốn
sách nêu lên được tầm quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển của nền kinh tế xã hội trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong đó nhân tố con người đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển
Năm 2008, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội phát hành cuốn sách Giáo dục đào tạo quốc sách hàng đầu, tương lai của dân tộc của cố Thủ tướng
Phạm Văn Đồng Nội dung cuốn sách là tập hợp từ những bài nói và viết chọn lọc của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng GD&ĐT là nhân tố có tầm quan trọng bậc nhất, góp phần “không chỉ làm nên sự nghiệp của một con người mà còn
là động lực làm nên lịch sử của cả một dân tộc Đây là những điều mà giáo dục cần quan tâm để đào tạo ra những người có ích cho xã hội Do vậy, cuốn sách sẽ là tài liệu tham khảo cho những vấn đề liên quan đến giáo dục
Những công trình chuyên khảo trên đã khái quát được lịch sử của nền giáo dục Việt Nam; từ đó, các tác giả đưa ra những định hướng phát triển nền
chuyên ngành Lịch sử Đảng CSVN viết về lĩnh vực này như:
Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo sự nghiệp giáo dục – đào tạo (1991 - 2000) của tác giả Lương Thị Hòe, luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Đại học Quốc gia
Hà Nội, 1998; Nguyễn Thị Thanh, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo sự nghiệp giáo dục đào tạo từ năm 1997 đến năm 2006, Luận văn Thạc sĩ
chuyên ngành Lịch sử Đảng CSVN, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn –
Trang 12ĐHQGHN, 2011; Đảng Bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo sự nghiệp giáo dục - đào tạo từ năm 1997 đến năm2006 của tác giả Phạm Hồng Thiết, luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009; Nguyễn Thị Hương, Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo giáo dục mầm non từ năm 1997 đến năm 2010, Luận văn
Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng CSVN, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQGHN đó đáng chú ý là luận văn của Bùi Thị Thu Hương,
Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo giáo dục mầm non từ năm 1997 đến năm
2010, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng CSVN, Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đã trình bày một cách hệ thống đường lối, chủ trương của Đảng về GDMN, phân tích quá trình vận dụng của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc khi đề ra chủ trương, giải pháp phát triển GDMN ở địa phương từ năm 1997 đến năm 2010; đánh giá khách quan những thành tựu, hạn chế của GDMN ở tỉnh Vĩnh Phúc và tổng kết một
số kinh nghiệm chủ yếu từ quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo GDMN
Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển của nền kinh tế xã hội của cả nước nói chung, của Tuyên Quang nói riêng Trong nhiều năm qua đã có nhiều cá nhân, tập thể ở nhiều lĩnh vực với nhiều quan điểm khác nhau nghiên cứu về lịch sử giáo dục Tuyên Quang Trong đó có một số công trình nghiên cứu sau:
Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục: “Các biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lí trường trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang” của tác giả
Phan Văn Êm, năm 2006 đã nghiên cứu, đề xuất các giải pháp quản lý để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục tỉnh Tuyên Quang
Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử: “Thị xã Tuyên Quang từ 1991 đến 2008” của tác giả Phạm Ngọc Hùng, năm 2010 đã đề cập một cách khái quát
về thị xã Tuyên Quang cùng với sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục của tỉnh
Trang 13Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên chủ yếu đề cập về một số khía cạnh về vấn đề GD&ĐT, GDMN trên cả nước nói chung và ở các địa phương nói riêng Cho đến nay chưa có công trình lịch sử chuyên khảo nào nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đối với GDMN những năm 1991 - 2010 Các công trình nghiên cứu trên là cơ sở quan trọng
để tác giả kế thừa, tiếp cận các sự kiện lịch sử và cung cấp những gợi ý cần thiết để phân tích và so sánh trong quá trình thực hiện luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang về phát triển GDMN từ năm 1991 đến năm 2010; rút ra một số kinh nghiệm từ sự lãnh đạo
của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đối với GDMN những năm 1991-2010
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trình bày một cách có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang vận dụng quan điểm, đường lối của Đảng CSVN về giáo dục đào tạo nói chung và GDMN và đề ra các chủ trương cũng như chỉ đạo thực hiện phát triển GDMN của tỉnh từ năm 1991 đến năm 2010
Làm rõ những thành tựu cơ bản và những hạn chế trong quá trình Đảng
bộ tỉnh Tuyên Quang lãnh đạo phát triển GDMN trên địa bàn tỉnh từ năm
1991 đến năm 2010
Rút ra một số kinh nghiệm từ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đối với GDMN những năm 1991 - 2010
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đối với GDMN từ
năm 1991 đến năm 2010
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung khoa học: Những quan điểm, chủ trương, biện pháp và giải
pháp tổ chức thực hiện của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đối với GDMN trên
Trang 14các nội dung: Tổ chức hoạt động dạy và học; xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý; xây dựng cơ sở vật chất và mở rộng mạng lưới trường lớp; thực hiện xã hội hóa và công bằng trong GDMN
Về thời gian: giới hạn nghiên cứu trong19 năm với mốc bắt đầu nghiên
cứu là năm 1991 (mốc tái lập tỉnh Tuyên Quang; đồng thời, cũng là thời điểm Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XI được tổ chức) và mốc kết thúc nghiên cứu là năm 2010 (thời điểm Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XV được tổ chức; trong đó, đã tổng kết về phát triển GDMN của giai đoạn trước) Tuy nhiên, để có cái nhìn hệ thống và xuyên suốt, luận văn có mở rộng thời gian nghiên cứu về trước năm 1991
Về không gian: địa bàn tỉnh Tuyên Quang
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Để thực hiện luận văn, tác giả đã sử dụng các nguồn tư liệu gồm có: các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục; Văn kiện của Đảng
bộ tỉnh Tuyên Quang, đề án phát triển giáo dục của tỉnh, báo cáo tổng kết của
Sở Giáo dục tỉnh Tuyên Quang và một số công trình chuyên khảo, tham
khảo về giáo dục, GDMN
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của phép duy vật biện chứng; đồng thời, dựa trên những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục
Luận văn sử dụng các phương pháp của khoa học lịch sử như phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc để mô tả, phục dựng một cách khách quan bức tranh về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đối với GDMN; đồng thời, đánh giá một cách khách quan, khoa học các sự kiện liên quan đến hoạt động lãnh đạo của của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đối với GDMN Bên cạnh
đó, luận văn còn sử dụng phương pháp như thống kế, đối chiếu, phân tích, phê phán, so sánh, tổng hợp phù hợp với từng nội dung cụ thể của luận văn
Trang 156 Đóng góp của luận văn
- Các quan điểm, chủ trương của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang về phát triển GDMN từ năm 1991 đến năm 2010 được trình bày một cách hệ thống cũng như bức tranh lịch sử về quá trình tổ chức chỉ đạo và kết quả phát triển GDMN của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang từ năm 1991 đến năm 2010 được phục dựng góp phần làm giầu thêm những tri thức về lịch sử Đảng bộ, lịch sử của Tuyên Quang
- Việc phân tích những thành tựu, hạn chế và những kinh nghiệm được đúc rút từ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đối với phát triển GDMN từ năm 1991 đến năm 2010 không chỉ có giá trị tham khảo cho Tuyên Quang trong phát triển GDMN ở thời kỳ hiện tại, mà còn có giá trị tham chiếu cho một số địa phương khác có điều kiện tương đồng
- Kết quả đạt được của luận văn, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy về GDMN hoặc những vấn đề có liên quan
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo và Phục
lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang
đối với giáo dục mầm non giai đoạn 1991 – 2000
Chương 2: Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đối với giáo
dục mầm non giai đoạn 2001 – 2010
Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm
Trang 16Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH TUYÊN QUANG ĐỐI VỚI GIÁO DỤC MẦM NON GIAI ĐOẠN 1991 - 2000 1.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh và
chủ trương của Đảng bộ
1.1.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh
1.1.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội
Là một tỉnh thuộc vùng đông bắc, Tuyên Quang có toạ độ địa lý từ
21030' đến 22041' vĩ độ bắc từ 104050' đến 105035' kinh độ đông Phía bắc và tây bắc, Tuyên Quang giáp Hà Giang với một số dãy núi cao, phía đông và đông bắc giáp Thái Nguyên, Bắc Kạn và Cao Bằng, phía tây giáp Yên Bái, phái nam giáp Phú Thọ, Vĩnh Phúc
Diện tích tự nhiên của tỉnh là 5820,02 km2 (chiếm 1,76% diện tích cả nước) với dân số 685,792 người (chiến 0,88 dân số cả nước)[6; tr 265]
Về mặt vị trí địa lý, Tuyên Quang có những thuận lợi và khó khăn nhất định trong việc phát triển kinh tế - xã hội
Nhờ có quốc lộ 2, tuyến giao thông huyết mạch chậy trên địa bàn của tỉnh dài khoảng 90 km, Tuyên Quang có thể giao lưu với Hà Giang, xa hơn nữa với các tỉnh miền núi biên giới ở phía bắc, và giao lưu với một số tỉnh thuộc trung du và đồng bằng sông hồng ở phía nam Khoảng cách giữa thủ đô
Hà Nội với thị xã Tuyên Quang là 165km Theo chiều Đông - Tây, Tuyên Quang cũng có điều kiện trao đổi kinh tế vơí một số tỉnh thuộc vùng núi bắc
bộ, trước hết là với Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Kạn… Ngoài ra, thông qua đường sông, chủ yếu là sông Lô, việc giao lưu có thể diễn ra trong nội tỉnh và với các tỉnh khác ở mức độ nhất định
Tuy nhiên, vị trí địa lí cũng tạo ra những khó khăn đáng kể Đây là một tỉnh miền núi, lại nằm sâu trong nội địa, hơn nữa, nền kinh tế nhìn chung còn chậm phát triển, kết cấu hạ tầng lại thấp kém; việc giao lưu trao đổi hàng hoá
Trang 17với các tỉnh chủ yếu trông cậy vào đường ô tô và một phần đường sông Tuyên Quang chưa có đường sắt, đường hàng không… Do ở sâu trong nội địa, xa các cảng, cửa khẩu và các trung tâm kinh tế lớn của cả nước nên việc trao đổi hàng hoá, liên kết kinh tế với các tỉnh khác còn gặp nhiều hạn chế
Địa hình của Tuyên Quang với hơn 73% diện tích là đồi núi, phân bố khá phức tạp bị chia cắt bởi các dãy núi cao và sông suối đặc biệt ở phía Bắc,
ở phía Nam tỉnh, địa hình thấp dần ít bị chia cắt hơn, có nhiều đồi núi và thung lũng chạy dọc theo các sông Phần lớn địa hình có hướng nghiêng từ Bắc - Tây bắc xuống Nam - Đông nam Các dãy núi chính cũng chạy theo hướng này và có cấu trúc vòng cung rõ rệt, nhưng không kéo dài liên tục, mà
bị chia cát thành những khối rời rạc (cánh cung sông Gâm)
Tuyên Quang được chia làm 3 vùng sau đây:
Vùng phía bắc bao gồm các huyện Hàm Yên, Chiêm Hoá, Na Hang và phần bắc huyện Yên Sơn với diện tích 377,14 km2 (chiếm 64,89% tổng diện tích cả tỉnh) Độ cao phổ biến là 200 - 600m và thấp dần từ bắc xuống nam Trên nền độ cao này nổi lên một số ngọn núi cao trên 1000m như Chạm Chu 1587m (đỉnh cao nhất tỉnh, ở phía bắc huyện Hàm Yên), Pia Phơưng, Ta Pao, Kia Tăng (phía bắc huyện Na Hang) Độ dốc trung bình khoảng 25% ở phía bắc và 20 - 25o ở phía nam Ở phía bắc huyện Na Hang và rải rác tại một số
xã của các huyện Chiêm Hoá, Hàm Yên có núi đá vôi và hiện tượng thiếu nước tương đối phổ biến
Nhìn chung, địa hình vùng này bị chia cắt mạnh - đây là vùng hiểm trở, việc đi lại khó khăn hơn so với các vùng khác Nhiều khu rừng nguyên sinh vẫn còn tồn tại ở Na Hang, Hàm Yên Xen kẽ đồi núi là các thung lũng to nhỏ, rộng hẹp khác nhau, có thể canh tác được
Vùng trung tâm gồm thị xã Tuyên Quang, phía nam huyện Yên Sơn và phía bắc huyện Sơn Dương, có diện tích 1252,04 km2 (21,51% diện tích toàn tỉnh) Độ cao trung bình dưới 500m và giảm dần từ bắc xuống nam với một số
Trang 18ngọn núi nhô cao như núi Là (958m), núi Nghiêm (553m) Tuy nhiên, ở một
số nơi địa hình chỉ còn cao 23 - 24m, ở những nơi thấp (thị xã Tuyên Quang, phía nam huyện Yên Sơn, Sơn Dương), hàng năm vào mùa lũ thường bị ngập lụt [6; tr 267]
Vùng phía nam gồm phần lớn huyện Sơn Dương với diện tích 790,84
km2 (13,6% diện tích toàn tỉnh) Địa hình của vùng gồm đồi bát úp kiểu trung
du, những cánh đồng rộng, bằng phẳng, đôi chỗ có dạng lòng chảo Vùng này, nhìn chung giàu tiềm năng, nhất là về khoáng sản (thiếc, kẽm, angtimoan, vofram), giao thông thuận tiện, đất đai bằng phẳng thích hợp với việc trồng cây lương thực, cây công nghiệp, chăn nuôi gia súc, gia cầm và nuôi trồng
thuỷ sản
Tuyên Quang nằm ở khu vực có khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa với mùa đông lạnh, khô hạn và mùa hạ nóng ẩm, mưa nhiều.Tổng lượng bức xạ trung bình năm là 80 - 85 kcal/cm2, lượng nhiệt trung bình năm là 8000 - 8500oC Nhiệt độ trung bình năm ở Tuyên Quang là 22-24oC Thời kì nóng nhất thường diễn ra vào tháng VI và tháng VII, cá biệt có ngày lên tới 39 - 40oC Thời kì lạnh nhất thường là các tháng XII, I Nhiệt độ thấp nhất xuống dưới 5oC Chế
độ nhiệt có sự phân hoá Nhiệt độ trung bình của thị xã Tuyên Quang luôn cao hơn các huyện Hàm Yên, Chiêm Hoá từ 0,20 – 0,40C [6; tr 267]
Tuy nhiên, các tai biến thiên nhiên như sương muối, mưa đá, lốc, bão…đã có ảnh hưởng nhiều đến đời sống và sản xuất của nhân dân trong
tỉnh, đặc biệt là đối với nông, lâm nghiệp
Tỉnh có 6 huyện và thành phố thuộc tỉnh Toàn tỉnh có 129 xã, 7 phường và 5 thị trấn Trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội và đô thị hoá,
số đơn vị hành chính có thể thay đổi và theo đó số lượng cơ sở giáo dục cũng
sẽ biến động theo xu hướng tăng lên để phù hợp với quy mô dân số và đặc điểm tổ chức xã hội trên địa bàn
Trang 19Tuyên Quang là tỉnh miền núi có nền kinh tế với điểm xuất phát thấp, sản xuất nông, lâm nghiệp chiếm ưu thế Nền sản xuất hàng hoá đang trong quá trình hình thành
Trước đổi mới, Tuyên Quang là một bộ phận của tỉnh Hà Tuyên với nền kinh tế phát triển chậm, lạc hậu Trong thời kì 1986 - 1990, thời kì đan xen giữa hai cơ chế, nền kinh tế của Hà Tuyên nói chung và Tuyên Quang nói riêng còn trong quá trình thích nghi, tiếp cận với cơ chế mới Từ năm 1991 trở lại đây, nền kinh tế của tỉnh đang dần dần đi vào thế ổn định, từng bước tăng trưởng gắn liền với cơ chế thị trường
Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế của Tuyên Quang còn đứng trước hàng loạt khó khăn: xuất phát điểm thấp, nền kinh tế còn dựa chủ yếu vào nông nghiệp lạc hậu, chuyển dịch kinh tế còn chậm, khả năng mở cửa hạn chế, chi lớn hơn thu, dân trí thấp, lực lượng lao động có trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ ít… Để tránh tụt hậu, Tuyên Quang cần khai thác hợp lý, có hiệu quả toàn
bộ nội lực với sự hỗ trợ về vốn, công nghệ… từ trung ương, thu hút đầu tư nước ngoài và liên kết với các tỉnh khác để tạo nên những bước đột phá trong tương lai
Tuyên Quang là tỉnh có nhiều dân tộc ít người, nhiều thành phần dân tộc Nơi đây tập trung hơn 22 dân tộc, trong đó có 8 dân tộc có dân số đông hơn cả là Kinh, Tày, Dao, Cao Lan, Nùng, Hoa, H'Mông, Sán Dìu
Người Kinh chiếm hơn 1/2 dân số Tuyên Quang và cư trú trên địa bàn
cả tỉnh, trong đó tập trung nhất ở thị xã và các huyện Yên Sơn, Sơn Dương Đứng thứ hai về số dân là người Tày (24,4% dân số), phân bố chủ yếu ở Chiêm Hoá, Na Hang Tiếp theo là người Dao, tụ cư ở Hàm Yên, Na Hang; người Cao Lan ở Sơn Dương; người Nùng ở Sơn Dương
Do yêu cầu của công tác quản lý, các cơ sở GDMN thường được tổ chức theo địa bàn đơn vị hành chính Vì vậy, việc tổ chức hành chính cấp cơ sở (số lượng các đơn vị hành chính cấp huyện, xã/phường và thôn của tỉnh) có tác động
Trang 20nhất định đến tổ chức mạng lưới và số lượng cơ sở giáo dục Trường mầm non
(mẫu giáo) thường được tổ chức theo phạm vi một thôn hoặc tổ dân phố
1.1.1.2 Thực trạng phát triển giáo dục mầm non của trước năm 1991
Có thể thấy rằng, giáo dục có một vai trò rất quan trọng đối với vận mệnh của đất nước Trải qua bao thập kỷ, Đảng và Nhà nước luôn xem giáo dục là quốc sách hàng đầu Đây là sứ mệnh thiêng liêng, đồng thời đồng thời cũng vô cùng nặng nề đối với mỗi người, mỗi tầng lớp nhân dân trong xã hội
Hệ thống giáo dục, đào tạo bước đầu được sắp xếp, điều chỉnh lại phù hợp hơn với điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh, có một số chuyển biến tốt trong giáo dục, hướng nghiệp, dạy nghề và đào tạo đội ngũ cán bộ, giáo viên người dân tộc theo địa chỉ sử dụng Công tác xóa mù chữ và phổ cập cấp I bước đầu được triển khai sâu rộng, năm 1991 đã xóa mù chữ được gần 2000 người, bắt đầu hình thành trường chuyên, lớp chọn để phát hiện bồi dưỡng nhân tài
Từng bước hình thành và phát triển quan điểm giáo dục nhân dân Việc tăng cường liên kết nhà trường với xã hội đã tạo điều kiện tốt hơn để xây dựng cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng dạy và học
Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục đào tạo, ngay từ đầu tỉnh
Hà Tuyên đã có nhiều chủ trương để phát triển giáo dục, đặc biệt là giáo dục mầm non
Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, được sự chỉ đạo sát sao của tỉnh ủy Hà Tuyên và của Bộ GD&ĐT, giáo dục Hà Tuyên đã kịp thời đổi mới Trước hết là xác định rõ mục tiêu giáo dục, đa dạng hóa các loại hình trường học, thực hiện luật chăm sóc trẻ em
Trong hệ thống giáo dục nói chung, của tỉnh Hà Tuyên nói riêng, GDMN được coi là một bậc học mang những đặc trưng riêng Do chưa thích ứng kịp thời với sự chuyển đổi của nền kinh tế mới, nên ngành học này còn gặp nhiều khó khăn Trong những năm 80 – 90 của thế kỷ XX, số lượng nhà
Trang 21trẻ, mẫu giáo chưa nhiều, một số cơ sở bị tan vỡ Điều này đã kéo theo số lượng học sinh và giáo viên giảm sút đáng kể Số lượng học sinh trong toàn tỉnh chỉ còn khoảng 65 – 70 % Tuy nhiên, Tỉnh ủy Hà Tuyên đã đưa ra những chính sách rõ ràng Sở GD&ĐT kết hợp với chính quyền các địa phương mở các loại hình trường lớp nhà trẻ, mẫu giáo như nhà trẻ dân lập, nhà trẻ bán công…để thu hút các cháu Với chính sách và biện pháp trên, GDMN dần dần đi vào ổn định và có điều kiện để phát triển Chỉ trong một thời gian ngắn, số lượng học sinh đến lớp đã tăng lên đáng kể Riêng các cháu
5 tuổi đã đến lớp được gần 90%
Đến năm 1992 bậc GDMN có 485 nhóm trẻ, 1 nhà trẻ, 32 trường mầm non với 565 lớp mẫu giáo thu hút 15.920 cháu tới lớp GDMN phát triển mạnh ở khu vực thị xã, thị trấn Ở khu vực nông thôn phát triển còn khó khăn Còn 19 xã chưa có lớp mẫu giáo và nhóm trẻ [3; tr.1]
Tuy vậy, công tác giáo dục và đào tạo còn chưa thoát khỏi tình trạng yếu kém về nhiều mặt, chất lượng và hiệu quả nhìn chung đạt thấp, tình trạng học sinh đến trường chán học, bỏ học chưa được khắc phục, chất lượng giáo viên còn thấp Cơ sở vật chất phục vụ dạy và học còn thiếu thốn, quản lý bảo
vệ chưa chặt chẽ nên bị xuống cấp nhanh, nhiều nơi quá kém nát, việc bố trí
cơ sở trường lớp một số nơi chưa phù hợp với địa bàn dân cư [37;tr 33]
1.1.1.3 Chủ trương về phát triển giáo dục mầm non của Đảng
Trong năm năm đầu của thời kỳ đổi mới (1986-1991), giáo dục đào tạo Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng Tuy nhiên, ngành GD vẫn còn những yếu kém, đặc biệt là chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế
- xã hội trong thời kỳ đổi mới Để tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ, đồng bộ trên lĩnh vực giáo dục – đào tạo, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991) chỉ ra mục tiêu giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ, năng động và sáng tạo,
Trang 22có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội Nhà trường đào tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn diện và có năng lực chuyên môn sâu, có ý thức và khả năng tự tạo việc làm trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần[39;tr 58]
Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, từng bước nâng cao dân trí, chủ động đáp ứng tốt hơn nguồn cán bộ, công nhân kỹ thuật tại chỗ, trọng tâm là phổ cập giáo dục tiểu học, xóa mù chữ và tạo nghề cho người lao động Phấn đấu đến năm 1995 hoàn thành công tác phổ cập giáo dục tiểu học, căn bản xóa mù chữ cho số người trong độ tuổi
Theo định hướng đó từng bước xây dựng và củng cố hệ thống giáo dục
và đào tạo hoàn chỉnh Khẩn trương sắp xếp một số trường chuyên nghiệp, dạy nghề phổ thông trung học hiện có trên cơ sở có quy hoạch đào tạo thiết thực, chú ý củng cố và phát triển các trường phổ thông dân tộc nội trú, đa dạng hóa phương thức đào tạo và các loại trường lớp (bán công và dân lập) theo phương châm “ Nhà nước và nhân dân cùng làm”
Thực hiện giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức lối sống cho học sinh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình, các đoàn thể xã hội trong việc quản lý nhà trường, quản lý học sinh Sắp xếp lại đội ngũ giáo viên, thực hiện tốt chính sách thu hút giáo viên dạy ở vùng sâu, vùng xa Trước mắt giải quyết đáp ứng giáo viên tiểu học và nâng cao chất lượng giáo viên các cấp
Củng cố, ổn định trường lớp hiện có của giáo dục mầm non Tập trung thực hiện chương trình phổ cập giáo dục cấp I và chống mù chữ; phát triển cấp II, cấp III phù hợp với yêu cầu và khả năng của từng địa phương Củng cố
và phát triển trường phổ thông cho trẻ em có tật Sắp xếp lại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề Mở rộng một cách hợp
lý quy mô đào tạo đại học, mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo sau đại
Trang 23học Tiếp tục cải tiến chế độ tuyển sinh và chế độ học bổng Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, thực nghiệm giáo dục, thể chế hoá cơ cấu của hệ thống giáo dục quốc dân [39;tr.58]
Tăng đầu tư cho miền núi và vùng dân tộc thiểu số, mở rộng các trường nội trú, quy hoạch đào tạo cán bộ và trí thức người dân tộc
Nhiệm vụ của 5 năm tới là tiếp tục đổi mới, ổn định, phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Coi trọng chất lượng giáo dục chính trị, đạo đức cho học sinh và sinh viên; hiện đại hoá một bước nội dung, phương pháp giáo dục; dân chủ hoá nhà trường và quản lý giáo dục; đa dạng hoá loại hình đào tạo và loại hình trường lớp; từng bước hình thành những trường bán công, dân lập, tư thục (dạy nghề), phát triển loại trường vừa học vừa làm Mở rộng đào tạo nghề; bồi dưỡng nhiều người giỏi về khoa học, công nghệ, kinh doanh, về quản lý kinh tế, xã hội và nhiều công nhân lành nghề; nâng cao trình độ văn hoá, khoa học, kỹ thuật cho người lao động [39;tr 59]
Tại Hội nghị lần thứ 2 của BCHTƯ khóa VIII đã nhấn mạnh: phải coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cơ bản, quan trọng nhất cho sự phát triển toàn diện của đất nước Gắn chiến lược phát triển giáo dục với phát triển khoa học, công nghệ và cả hai đều phải gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Đổi mới nền giáo dục với cách làm thích hợp trên các mặt tổ chức và quản lý, dạy học, nghiên cứu và ứng dụng Quan tâm thích đáng đến mặt bằng và đỉnh cao dân trí, coi trọng giáo dục nhân cách, lý tưởng và đạo đức, trí lực và thể lực… Ra sức phấn đấu xây dựng một nền giáo dục tiên tiến, có quy mô, trình
độ và cơ cấu ngành nghề hợp lý Đó là nền giáo dục thấm nhuần sâu sắc tính nhân dân, tính dân tộc và tính hiện đại
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (năm 1996) đã đề ra mục tiêu đối với giáo dục – đào tạo trong những năm 1996 -
2000 và phương hướng chiến lược đến năm 2020
Phát triển GD&ĐT là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực
Trang 24con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện "chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá" Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện "giáo dục cho mọi người", "cả nước trở thành một xã hội học tập" Thực hiện phương châm "học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội" Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương Xây dựng quy hoạch đào tạo nhân lực theo phương thức kết hợp học tập trung, học từ xa, học qua máy tính
Chăm lo phát triển giáo dục mầm non, mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường lớp mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư, đặc biệt là ở nông thôn và những vùng có khó khăn
Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện cho người nghèo có cơ hội học tập, tiếp tục phát triển các trường phổ thông nội trú dành cho con em dân tộc thiểu số, chú trọng quyền được học tập của nhân dân ở trên hai nghìn xã nghèo nhất Có chính sách hỗ trợ đặc biệt những học sinh có năng khiếu, hoàn cảnh sống khó khăn được theo học ở các bậc học cao Có quy hoạch và chính sách tuyển chọn người giỏi, đặc biệt chú ý trong con em công nhân và nông dân, để đào tạo ở các bậc đại học và sau đại học Tăng ngân sách nhà nước cho việc cử người đi đào tạo ở các nước có nền khoa học
và công nghệ tiên tiến Khuyến khích việc du học tự túc
Thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục, phát triển đa dạng các hình thức đào tạo, đẩy mạnh việc xây dựng các quỹ khuyến khích tài năng, các tổ chức khuyến học, bảo trợ giáo dục
Trang 25Trong những năm trước mắt, giải quyết dứt điểm những vấn đề bức xúc: sửa đổi chương trình đào tạo đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; cải tiến chế độ thi cử, khắc phục khuynh hướng
"thương mại hoá" giáo dục, ngăn chặn những tiêu cực trong giáo dục; quản lý chặt chẽ việc cấp văn bằng, công nhận học hàm, học vị; chấn chỉnh công tác quản lý hệ thống trường học cả công lập và ngoài công lập
Đến tháng 12 – 1996 Hội nghị BCHTƯ lần thứ 2 khóa VIII đã ra Nghị
quyết quan trọng “Về định hướng phát triển giáo dục – đào tạo, khoa học, công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000” Nghị quyết đã đưa ra định hướng chiến lược phát triển giáo dục – đào
tạo trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Thực sự coi “giáo dục là quốc sách hàng đầu” [40, tr.29], nhận thức
sâu sắc GD&ĐT cùng với khoa học công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho GD&ĐT là đầu tư cho phát triển, Đảng CSVN chủ trương thực hiện các chính sách ưu tiên, ưu đãi cho giáo dục đào tạo, đặc biệt là chính sách đầu tư và chính sách tiền lương; đồng
thời, có các giải pháp mạnh mẽ để phát triển giáo dục
Coi “giáo dục đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và
của toàn dân” [40, tr.30] và mọi công dân có quyền đi học, học thường xuyên, học suốt đời, Đảng chủ trương phê phán thói lười học; đổng thời, yêu cầu mọi người chăm lo cho giáo dục Đảng khuyến khích các cấp ủy và tổ chức Đảng, các cấp chính quyền, đoàn thể và nhân dân, các tổ chức kinh tế xã hội, mọi gia đình và cá nhân đều có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp GD&ĐT, đóng góp trí tuệ, nhân lực, vật lực, tài lực cho GD&ĐT Đảng cũng coi việc kết hợp giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục toàn xã hội, tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh ở mọi nơi, trong cộng đồng, từng tập thể
Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa
Trang 26xã hội, có đạo đức trong sáng, ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hóa văn hóa của nhân loại, phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có
tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính
tổ chức và kỷ luật, có sức khỏe, là những người kế thừa xây dựng CNXH vừa
“hồng” vừa “ chuyên” [40, tr.28 -29] là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong phát triển GD
Bên cạnh đó, đặt nhiệm vụ giữ vững mục tiêu XHCN trong nội dung phương pháp GD&ĐT, trong các chính sách, nhất là chính sách công bằng xã hội [40, tr.29], Đảng chủ trương phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế thị trường đối với GD&ĐT; chống khuynh hướng thương mại hóa, đề phòng khuynh hướng phi chính trị hóa GD&ĐT và không truyền bá tôn giáo trong trường học
Phát triển giáo dục đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, những tiến bộ khoa học, công nghệ và củng cố quốc phòng an ninh [40, tr.30] Coi trọng cả ba mặt, mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả Thực hiện giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học,
lý luận gắn với thực tiễn, học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với gia
đình và xã hội
“Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục đào tạo” [40, tr.30] là một chủ trương lớn của Đảng, nhằm tạo điều kiện để ai cũng được học hành; người nghèo được Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để học tập; bảo đảm điều kiện cho những người học giỏi phát triển tài năng
Chủ trương giữ vai trò nòng cốt của các trường công lập, Đảng và Nhà nước tạo điều kiện để đa dạng hóa các loại hình giáo dục đào tạo, trên cơ sở Nhà nước thống nhất quản lý, từ nội dung chương trình, quy chế học, thi cử,
Trang 27văn bằng, tiêu chuẩn giáo viên, tạo cơ hội cho mọi người có thể lựa chọn cách học phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của mình Phát triển các trường bán công, dân lập ở những nơi có điều kiện, từng bước mở các trường tư thục ở một số bậc học như mầm non, phổ thông trung học… Mở rộng các hình thức đào tạo không tập trung, đào tạo từ xa, từng bước hiện đại hóa hình thức giáo dục” [40, tr.31]
Như vậy, các kỳ Đại hội Đảng những năm 1991-2000 đã nhấn ma ̣nh hơn nữa quyết tâm tiếp tục đổi mới sự nghiê ̣p GD& ĐT trong đó coi giáo dục
và đào tạo cùng với khoa học công nghệ là “quốc sách hàng đầu”, đóng vai trò then chốt trong toàn bô ̣ sự nghiê ̣p xây dựng CNXH và bảo vê ̣ Tổ quốc , là
đô ̣ng lực đưa đất nước thoát ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên trình đô ̣ tiên tiến thế giới Đối với GDMN, Đảng xác định các chủ trương lớn như củng
cố, ổn định trường lớp hiện có; củng cố và nâng cao chất lượng giáo dục mầm non tập trung cho việc nâng cao chất lượng của GDMN, làm cho GDMN hoàn thành nhiệm vụ là một bậc học khởi đầu, quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân- bậc học tạo tiền đề vững chắc cho việc phát triển nguồn lực con người một cách toàn diện
Trên tinh thần các quan điểm, chủ trương về giáo dục của Đảng, Đảng
bộ tỉnh Tuyên Quang khẩn trương quán triệt vào điều kiện địa phương, nhằm
phát triển GDMN
1.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang
Những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, chế độ XHCN ở Liên Xô sụp đổ, phong trào cách mạng thế giới lâm vào thoái trào, nhiều đảng cộng sản không còn nắm được chính quyền Trước tình hình đó, Đảng CSVN vẫn vững vàng kiên định con đường đi lên CNXH, tiếp tục tiến trình đổi mới Trong tình hình đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng họp từ ngày 24 đến ngày 27- 6- 1991 tại Hà Nội Với chủ đề Đại hội của trí tuệ - đổi mới - dân chủ - kỷ cương - đoàn kết, Đại hội đánh giá 5 năm năm thực hiện
Trang 28đường lối đổi mới của Đại hội VI, đề ra mục tiêu tổng quát 5 năm (1991- 1995) là " vượt qua khó khăn thử thách, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực và bất công xã hội, đưa nước ta
cơ bản ra khỏi tình trạng khủng hoảng hiện nay" [38;tr.60] Đại hội VII cũng chủ trương phát triển mạnh mẽ giáo dục; trong đó có GDMN
Căn cứ vào tình hình thực tiễn và yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, ngày 12- 8- 1991, Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 9 quyết định chia tỉnh Hà Tuyên thành hai tỉnh, lấy tên là tỉnh Tuyên Quang
và Hà Giang
Thực hiện nghị quyết của Quốc hội khóa VIII, công tác chia tách tỉnh đực thực hiện khẩn trương Trong một thời gian ngắn, các ngành, các đơn vị trong tỉnh đã thực hiện xong việc chia tách Cuối tháng 9 - 1991, việc chia tỉnh Hà Tuyên thành hai tỉnh đã cơ bản hoàn thành Từ ngày 1 - 10 - 1991, hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang chính thức đi vào hoạt động theo đơn vị hành chính mới, thị xã Tuyên Quang trở thành trung tâm kinh té, chính trị, xã hội của tỉnh Tuyên Quang
Sau khi được tái lập, tỉnh Tuyên Quang có những thuận lợi căn bản Tuyên Quang là vùng đất giàu truyền thống cách mạng, tình hình chính trị - xã hội ổn định, có nguồn lực lao động dồi dào và có kinh nghiệm trong sản xuất Tiềm năng đất đai trong phát triển nông - lâm nghiệp còn nhiều Giao thông đường bộ, đường sông khá thuận lợi Tỉnh có nhiều di tích lịch sử và thắng cảnh đẹp, là tiềm năng cho ngành du lịch phát triển Tiềm năng về công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến nông, lâm và khoáng sản là khá phong phú
Bên cạnh những thuận lợi và thế mạnh cơ bản, Tuyên Quang cơ bản vẫn
là tỉnh nghèo, có không ít những khó khăn: kinh tế phát triển chậm, trình độ sản xuất còn thấp kém và mang nặng tính tự cung tự cấp Thế mạnh về cây công nghiệp và chăn nuôi chưa được khai thác tốt Công nghiệp chưa phát triển, thu nhập bình quân đầu người còn thấp xa so với mức bình quân của cả nước Lưu
Trang 29thông chưa phục vụ tốt yêu cầu thúc đẩy sản xuất hàng hóa, kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển sản xuất kinh doanh và đời sống nhân dân Đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn Quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường còn lúng túng
Sau năm năm thực hiện đổi mới, cho đến năm 1991, Tuyên Quang đã có những thay đổi trên các lĩnh vực chủ yếu Nền kinh tế có chuyển biến tiến bộ, đời sống nhân dân có phần được cải thiện Tình hình an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội tuy còn phức tạp nhưng đã giữ vững được ổn định Nhân dân luôn phát huy quyền dân chủ XHCN trên các lĩnh vực đời sống xã hội, phát huy tinh thần tự chủ, tự lực, tự cường, giữ vững khối đoàn kết các dân tộc
Riêng đối với sự nghiệp giáo dục - đào tạo, thực hiện nghị quyết Đại hội VII của Đảng về giáo dục, nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII về giáo dục
- đào tạo và khoa học - công nghệ, Đảng bộ tỉnh đã chú trọng đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ, đảng viên về chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học
Thực hiện xã hội hóa công tác giáo dục, tỉnh đã có nhiều cố gắng trong việc nâng cấp, tu sửa, xây dựng cơ sở vật chất cho các trường học, có 72% số phòng học được xây dựng cấp 4 và kiên cố Thành lập Trường phổ thông trung học Chuyên, hoàn thành việc tách trường tiểu học và trung học cơ sở,
mở lớp cho trẻ khuyết tật Năm 1995, có trên 14 nghìn học sinh các cấp Năm
1992, số giáo viên giỏi tăng 1,97 lần, số học sinh giỏi tăng 4 lần so với năm học trước, hằng năm, số học sinh tốt nghiệp đạt từ 98% trở lên, các xã, các phường, thị trấn đều có trường mầm non [10; tr.75]
Trong năm học 1994 - 1995, thực hiện nghị quyết Đại hội VII, Nghị quyết TW4, TW7, các nghị quyết , chỉ thị và các quyết định của Quốc hội và chính phủ, sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã được các cấp bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể và toàn xã hội tăng cường sự quan tâm, đẩy mạnh nhiều hoạt động thiết thực cho sự phát triển giáo dục đào tạo ở đia phương Toàn thể cán
Trang 30bộ giáo viên, học sinh, sinh viên đặc biệt là đội ngũ cán bộ giáo viên và cán
bộ quản lý cấp cơ sở, đã khắc phục nhiều khó khăn, do hạn chế về kinh phí và điều kiện để đẩy mạnh phong trào thi đua dạy tốt học tốt hoàn thành nhiệm vụ được giao các chủ trương đổi mới và biện pháp quan trọng của ngành đã được toàn ngành tích cực thực hiện
Nhờ đó, nền giáo dục của tỉnh năm học 1994 - 1995 có những biến chuyển quan trọng, những tiến bộ đáng mừng, rất đáng khích lệ Quy mô giáo dục - đào tạo tăng nhanh ở hầu hết các ngành học, bậc học Giáo dục mầm non sự phát triển đáng kể và có những nhiệm vụ cụ thể Củng cố hệ thống nhà trẻ - mẫu giáo hiện có, bằng các loại hình trường lớp công lập, bán công, dân nuôi, tư thục Phấn đấu đến năm 2000 huy động được 50% số trẻ ra trường lớp mầm non và những hình thức trên, trong đó 70% số trẻ 5 tuổi được học chương trình mẫu giáo chuẩn bị vào lớp 1[64;tr.10]
Tháng 12 – 1996, Hội nghị lần thứ hai BCHTƯ Đảng (khóa VIII) họp
và ra Nghị quyết về “Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ” Hội nghị khẳng định: “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nhân tố quyết định cho sự phát triển
đất nước” Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển Nghị quyết Trung
ương 2 khóa VIII về giáo dục - đào tạo đã đặt ra nhiệm vụ vừa cơ bản, vừa cấp bách
Để triển khai và thực hiện có kết quả nghị quyết quan trọng này, đòi hỏi Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang cùng các ban ngành địa phương phải có sự đánh giá đúng thực trạng tình hình, để từ đó xác định đúng mục tiêu, nhiệm
vụ, giải pháp, nhằm tạo ra sự phát triển toàn diện về GD&ĐT của tỉnh Tuyên Quang, đồng thời phấn đấu đưa GD&ĐT của tỉnh Tuyên Quang trở thành một trong những tỉnh mạnh về GD&ĐT trong cả nước, đáp ứng yêu cầu của thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tỉnh đã ban hành một số văn bản chỉ đạo, cơ chế chính sách phát triển Giáo dục mầm non Xác định GDMN là bậc học quan trọng trong hệ thống
Trang 31giáo dục quốc dân, GDMN là nền móng cho sự phát triển giáo dục phổ thông Nghị quyết số 25-NQ/TU (8/5/1999) của Đảng bộ tỉnh chỉ đạo về chương trình chống tái mù chữ và phổ cập giáo dục trung học cơ sở, nâng cao năng lực quản lý giáo dục - đào tạo đã nêu: "Quy hoạch hệ thống giáo dục trường lớp, lớp mầm non, tiểu học, phát triển mở rộng các loại hình mầm non bán công, dân lập, tư thục tới các thôn bản Nơi chưa có trường mầm non thì gắn các lớp mẫu giáo ở thôn bản, xã với trường tiểu học để huy động trẻ trong độ tuổi vào mẫu giáo" [34;tr.1]
Tháng 12 năm 2000, Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang làm thứ XIII họp và đề ra mục tiêu tổng quát là: Tập trung mọi nguồn lực, phát huy nội lực, phát huy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa với cơ cấu kinh tế công nghiệp - dịch vụ, du lịch – nông, lâm nghiệp; khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển kinh doanh, dịch vụ, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, xây dựng tỉnh Tuyên Quang giàu đẹp Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XIII khẳng định: "Phát triển mạnh các lớp mầm non dân nuôi,
tư thục ở thôn bản, khu phố, phường, xã, thị trấn, khu đông dân cư Phấn đấu
đủ giáo viên mầm non đến thôn bản Huy động đảm bảo trên 70% trẻ từ 3 đến
5 tuổi đi học mẫu giáo" [34;tr.1]
Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đã xác định rõ định hướng phát triển GD&ĐT của tỉnh Tuyên Quang đến năm 2000 như sau: Giữ vững định hướng XHCN trong nội dung, phương pháp GD&ĐT, trong các chính sách, nhất là chính sách công bằng xã hội Coi giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, là khâu đột phá, là nhân tố quyết định cho sự phát triển của đất nước Đầu tư cho giáo dục, đào tạo là đầu tư phát triển, phải có chính sách ưu tiên, cao nhất và
có giải pháp mạnh để phát triển giáo dục đào tạo Quán triệt quan điểm "giáo dục là quốc sách hàng đầu" [40;tr.29], Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang chủ trương tạo sự chuyển biến toàn diện trong phát triển giáo dục - đào tạo; tạo điều kiện
để ai cũng được học hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang nhấn mạnh nhiệm vụ
Trang 32tiếp tục đổi mới, ổn định, phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, từng bước nâng cao dân chí, chủ động đáp ứng tốt hơn nguồn cán bộ, công nhân kỹ thuật tại chỗ, trọng tâm là phổ cập giáo dục tiểu học, xóa mù chữ và tạo nghề cho người lao động
Phát triển cân đối, đồng bộ và đa dạng hóa các loại hình trường lớp Khuyến khích mở các trường, lớp bán công, dân lập ở các cấp trung học cơ sở
và trung học phổ thông Đầu tư cho các trường trọng điểm, trường chuyên, lớp chọn để đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, mở rộng dạy ngoại ngữ, phấn đấu đến năm 2000 có 100% trường phổ thông trung học và trường phổ thông cơ
sở ở thị xã, thị trấn được học ngoại ngữ, 50% số trường phổ thông trung học được học tin học Tăng cường giáo dục chính trị và giáo dục ngoại khóa, quan tâm giáo dục truyền thống trong nhà trường
Đến năm 2000, đảm bảo tất cả số trẻ 5 tuổi ở thị xã, thị trấn và các nơi kinh tế phát triển đều qua chương trình giáo dục mầm non trước khi vào trường tiểu học [38;tr.58] Đảm bảo đại bộ phận trẻ em trong độ tuổi đi học được đến trường Đổi mới công tác quản lý giáo dục, không ngừng cải thiện nội dung và phương pháp giáo dục nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả GD&ĐT Coi trọng chất lượng giáo dục đại trà, giáo dục toàn diện, làm tốt công việc giáo dục chính trị, truyền thống, đạo đức và nhân văn, giáo dục pháp luật trong trường học Có chính sách khuyến khích giáo viên giỏi, giáo viên có trình độ chuyên môn cao, có chính sách giúp đỡ con em gia đình có hoàn cảnh khó khăn Cần tăng cường các nguồn lực để xây dựng cơ sở vật chất trường học Đẩy mạnh hơn nữa công tác xã hội hóa sự nghiệp giáo dục, đào tạo, nhằm tạo môi trường giáo dục lành mạnh Chú trọng công tác Đảng trong trường học
Phải nhanh chóng khắc phục những mặt yếu kém theo hướng chấn chỉnh công tác quản lý, khẩn trương lập lại trật tự kỷ cương, kiên quyết chặn đứng, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực trong GD&ĐT Tăng cường hệ thống
Trang 33thanh tra, chấn hưng GD&ĐT bằng các phong trào thi đua sôi nổi của quần chúng nhân dân
Như vậy, quán triệt quan điểm phát triển GDMN của Đảng vào điều kiện địa phương, Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đã đề ra các chủ trương phát triển GDMN với nội dung cốt lõi là tiếp tục đổi mới, ổn định, phát triển và nâng cao chất lượng GDMN phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển kinh tế
- xã hội của tỉnh; đẩy mạnh hơn nữa công tác xã hội hóa GDMN
1.2 Chỉ đạo thực hiện
1.2.1 Tổ chức hoạt động dạy và học
Giữ vững và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, “coi chất lượng dạy và học là thước đo của sự nghiệp giáo dục, là tiêu chuẩn để đánh giá đội ngũ giáo viên" [38;tr.59], vì thế, Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng GDMN thể hiện qua việc nâng cao chất lượng dạy
và học
Sau khi tách tỉnh, Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh Tuyên Quang do ông Đào Lương Nhân làm Giám đốc; Sở giáo dục và Đào tạo được đặt tại thị xã Tuyên Quang [15;tr.25]
Việc củng cố Sở GD&ĐT đã kịp thời ổn định tổ chức của toàn ngành
Sở có các phòng, ban như: Phòng tổ chức, phòng phổ thông, phòng đào tạo bồi dưỡng, phòng Mầm non, phòng hành chính tổng hợp, thanh tra sở Ở địa phương, bên cạnh những trường cũ, UBND tỉnh Tuyên Quang còn ra quyết định thành lập những trường mới trong đó có trường mầm non trọng điểm chất lượng cao Tuyên Quang
Trong quá trình phát triển, trước hết Tỉnh ủy đã có sự lãnh đạo sáng tạo, đề ra được những chủ trương, giải pháp, bước đi sát với tình hình cụ thể của tỉnh và được các cấp ủy, chính quyền, nhân dân tổ chức thực hiện với sự năng động, sáng tạo có hiệu quả Đã tập trung chỉ đạo kiên quyết mở các lớp học đến các thôn, bản, không để "bản trắng" về giáo dục [71;tr.24] Từ đó,
Trang 34chất lượng giáo dục được giữ vững, tỷ lệ học sinh bỏ học giảm, số học sinh các cấp hàng năm đều tăng
Tập trung chỉ đạo khuyến khích mở các trường, lớp dân tộc nội trú, bán trú, lớp chọn, trường chuyên, trường năng khiếu ở các cấp tỉnh, huyện, thị Bước đầu chăm lo hình thành việc tổ chức học tập, bồi dưỡng học sinh có năng khiếu, học sinh giỏi của tỉnh và từng bước thực hiện chuẩn hóa đội ngũ giáo viên
Tăng cường công tác dự báo và kế hoạch hóa sự phát triển giáo dục Đưa giáo dục vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của địa phương để từ đó có những chiến lược phát triển giáo dục
Chấn chỉnh công tác quản lý, khắc phục các hoạt động giáo dục, giải quyết dứt điểm tình trạng tiêu cực trong bậc học mầm non nói riêng và các bậc học khác nói chung Để đảm bảo tính dân chủ, ngành GD cần phải công khai các khoản đóng góp của học sinh Phải tăng cường hệ thống thanh tra giáo dục, tập trung vào thanh tra chuyên môn, thực hiện đúng chức năng quản
lý Nhà nước về GD&ĐT đối với các trường đóng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang Tăng cường các biện pháp để quản lý nội dung, chất lượng đào tạo của các loại hình trường, lớp Để làm tốt công tác quản lý này Sở GD&ĐT tỉnh Tuyên Quang cần phải xây dựng các tiêu chuẩn để đánh giá các loại trường theo từng tiêu chí cụ thể, để đảm bảo khách quan đúng chất lượng Sở GD&ĐT giao nhiệm vụ cho từng cơ sở đào tạo việc chấn chỉnh lại kỷ cương,
nề nếp dạy và học để nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hiệu trưởng và giáo viên phụ trách lớp
Cần phải có những giải pháp ngăn chặn không để các tệ nạn xã hội, các
hủ tục lạc hậu thâm nhập vào trường học
Các cơ sở giáo dục mầm non xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp an toàn
và thân thiện; tạo môi trường giáo dục, tổ chức hoạt động dạy và học có hiệu quả, phù hợp với trẻ mầm non, giúp trẻ em tự tin trong hoạt động vui chơi và học tập,
Trang 35tham gia tìm hiểu chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hoá cách mạng ở địa phương Tham gia nhiệt tình và tổ chức thực hiện tốt các cuộc vận động, phong trào thi đua của ngành
Nhìn chung, chất lượng dạy và học không ngừng được nâng cao, chú trọng đào tạo, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp các cấp hàng năm đạt trên 97% Học sinh giỏi đạt giải quốc gia năm sau tăng hơn năm trước Về công tác đào tạo giáo dục mầm non chất lượng chăm sóc nuôi dạy trẻ có nhiều tiến bộ Công tác phòng chống suy dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ được chú trọng.Những kiến thứ nuôi dạy trẻ được đặc biệt quan tâm, ngoài ra việc kiểm tra sức khỏe thường xuyên cho trẻ cũng được chú ý thực hiện, thực hiện chế độ bảo hiểm y tế cho giáo viên mầm non dân nuôi, tư thục được đẩy mạnh
Trong những năm học từ 1991 đến năm 2000, Sở GD&ĐT Tuyên
Quang đã thường xuyên tổ chức hội thi giáo viên giỏi các cấp Các hội thi “Bé khỏe bé ngoan” Các cuộc thi này đều được nhân dân đồng tỉnh ủng hộ và tích
cực tham gia hưởng ứng
Để GDMN ngày càng phát triển và đạt chất lượng cao hơn, ngành giáo dục đã tham mưu cho tỉnh tuyển vào biên chế các giáo viên có trình độ cao đẳng và hiệu trưởng lâu năm có nhiều thành tích đóng góp cho ngành giáo dục Đội ngũ giáo viên mầm non vẫn tiếp tục gia tăng và có chuyển biến về chất lượng Các cơ sở đào tạo cũng đã thực hiện nghiêm túc công tác vệ sinh phòng bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm và đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ
em trong các trường mầm non Đặc biệt công tác giáo dục trẻ em khuyết tật cũng được ngành quan tâm đúng mức
Sở GD&ĐT đã chỉ đạo các trường dạy đúng, đủ các môn học theo quy định của Bộ GD&ĐT, theo đúng tiến độ và phân phối chương trình Đặc biệt quan tâm đến công tác phát triển thể chất của trẻ
Như vậy, việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đã đáp ứng được nhu cầu học tập ngày đông của con em trong tỉnh, nhằm phát triển năng lực,
Trang 36trí tuệ và thể chất cho học sinh Điều này một lần nữa khẳng định sự lãnh đạo
đúng đắn của Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang trong phát triển giáo dục mầm non
1.2.2 Xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý
Trong bất kỳ xã hội nào, bất kỳ giai đoạn phát triển nào của nhân loại, đội ngũ giáo viên đều đóng vai trò vô cùng quan trọng, bởi vì họ là những người trực tiếp làm công tác giáo dục - đào tạo thế hệ tương lai
Ở Việt Nam, trong suốt cuộc đấu tranh trường kỳ giữ nước và dựng nước, nhân dân ta, Đảng và nhà nước ta luôn luôn tôn vinh nghề dạy học và vị trí cao cả của người thầy Đội ngũ giáo viên đã không quản khó khăn gian khổ, vượt qua mọi thiếu thốn có mặt trên khắp mọi miền đất nước, cống hiến toàn bộ tài năng cho sự nghiệp “ trồng người”, góp phần vào sự nghiệp chung
Để đào tạo ra những thế hệ trẻ có năng lực, trí tuệ và phẩm chất thì trước hết phải có đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục có chất lượng Trong giai đoạn hiện nay người giáo viên đóng một vai trò vô cùng quan trọng Nhận thấy được tầm quan trọng đó, Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đã chỉ đạo các
sở ban ngành có liên quan đưa ra các giải pháp để nâng cao chất lượng giao viên và cán bộ quản lý giáo dục của tỉnh
Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục đào tạo Người giáo viên phải có đủ đức – trí – tài có kiến thức và phương pháp dạy tốt, có nhân cách đạo đức và có tinh thần yêu thương học sinh, say mê với nghề nghiệp Cán bộ quản lý giáo dục phải có kiến thức và năng lực quản lý, giữ được kỷ cương và nề nếp giáo dục, phải đoàn kết và quy tụ được sức mạnh của tập thể giáo viên và học sinh Đặc biệt người cán bộ quản lý phải tăng cường mối quan hệ chặt chẽ với địa phương để nắm bắt tình hình và có những biện pháp khắc phục kịp thời
Để nâng cao chất lượng giáo viên, tỉnh ủy Tuyên Quang đã chỉ đạo Sở GD&ĐT Tuyên Quang và các cơ quan liên quan nhanh chóng lập kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng giáo viên các cấp, đặc biệt là đội ngũ giáo viên và cán bộ
Trang 37quản lý giáo dục Khẩn trương đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, để từng bước tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên các cấp Tiếp tục thực hiện tốt chính sách khuyến khích thu hút giáo viên giỏi, giáo viên dạy ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa và chính sách khuyến khích học sinh giỏi, học sinh có năng khiếu Giúp đỡ, tạo điều kiện cho con em gia đình chính sách, gia đình nghèo, trẻ em tàn tật, con em dân tộc ít người ở vùng cao, vùng sâu được học hành [36;tr.59] Hàng năm, ngành GD phải chỉ đạo chặt chẽ việc bình xét, đánh giá đội ngũ giáo viên theo tiêu chuẩn của ngành
Để nâng cao chất lượng giảng dạy tỉnh Tuyên Quang đã chỉ đạo tăng cường đội ngũ lãnh đạo, cán bộ quản lý giáo dục ngành mầm non, thường xuyên có đoàn đi kiểm tra dự giờ, kiểm tra học sinh, giáo viên để đánh giá, xếp loại giáo viên và xếp loại trường học Kịp thời khen thưởng các cá nhân
và tập thể có thành tích xuất sắc trong công tác Đồng thời nghiêm khắc xử lý,
kỷ luật đối với các cá nhân, tập thể vi phạm Đối với những giáo viên không hoàn thành nhiệm vụ thì kiên quyết không cho đứng lớp dạy Trong quá trình kiểm tra có biện pháp uốn nắn, tư vấn và giám sát, quá trình khắc phục sửa chữa của những cá nhân, đơn vị chưa thực hiện tốt Năm 1997, đội ngũ thuôc ngành giáo dục trực tiếp quản lý Giáo viên mầm non có 1185, số đạt chuẩn
từ trung học trở lên, 160, tỷ lệ 13% [3;tr.4]
GDMN phấn đấu đến năm 2000 có 60% cán bộ quản lý có kiến thức cơ bản về tin học, ngoại ngữ và 100% cán bộ quản lý được tham gia đào tạo các lớp nghiệp vụ chuyên ngành liên quan [36;tr.5] Tỉnh đã có chính sách với giáo viên được phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú, Nhà giáo nhân dân, sinh viên học các trường sư phạm tốt nghiệp loại giỏi và giáo viên giỏi được đi học
về phục vụ địa phương, khuyến khích học sinh giỏi vào học các trường sư phạm như: ưu tiên cộng điểm trong tuyển dụng, xếp lương cao hơn những người khác khi tuyển dụng, nhằm trọng dụng và đãi ngộ người có trình độ cao; có chế độ khen thưởng đối với những người hoàn thành xuất sắc nhiệm
Trang 38vụ và được suy tôn các danh hiệu Có chính sách khuyến khích đối với giáo viên công tác ở miền núi, ở vùng khó khăn, giáo viên dạy trẻ khuyết tật, giáo viên mẫu giáo, nhà trẻ như: chế độ phụ cấp, nhà ở Hàng năm ngành GD phải chỉ đạo chặt chẽ việc bình xét, đánh giá đội ngũ giáo viên theo tiêu chuẩn của ngành
Để nâng cao chất lượng giảng dạy tỉnh Tuyên Quang đã chỉ đạo tăng cường đội ngũ lãnh đạo, cán bộ quản lý giáo dục ngành mầm non, thường xuyên có đoàn đi kiểm tra dự giờ, kiểm tra học sinh, giáo viên để đánh giá, xếp loại giáo viên và xếp loại trường học Kịp thời khen thưởng các cá nhân
và tập thể có thành tích xuất sắc trong công tác Đồng thời nghiêm khắc xử lý,
kỷ luật đối với các cá nhân, tập thể vi phạm Đối với những giáo viên không hoàn thành nhiệm vụ thì kiên quyết không cho đứng lớp dạy Trong quá trình kiểm tra có biện pháp uốn nắn, tư vấn và giám sát, quá trình khắc phục sửa chữa của những cá nhân, đơn vị chưa thực hiện tốt
Ngoài ra, ngành còn tiếp tục mở các lớp chuyên đề “về cải tiến phương pháp giảng dạy” cho tất cả giáo viên ở các trường mầm non đóng trên địa bàn tỉnh Đồng thời chỉ đạo các phòng giáo dục ở các huyện, thị, các nhà trường tăng cường sinh hoạt tổ chuyên môn, nhóm chuyên môn theo chương trình, kế hoạch đã đề ra
Nhìn chung đến năm 2000, đội ngũ giáo viên mầm non của tỉnh về cơ bản đã được đào tạo chuẩn hóa, yên tâm với nghề nghiệp, chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Nhà nước, tin tưởng vào sự đổi mới của Đảng Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục tuy còn thiếu về số lượng, nhưng năng lực quản lý đã được nâng cao dần và làm việc nhiệt tình có tinh thần trách nhiệm
cao, có ý chí vươn lên để đáp ứng những yêu cầu của thời kỳ đổi mới
1.2.3 Phát triển quy mô, mạng lưới trường lớp, xây dựng cơ sở vật chất
Trong hệ thống giáo dục, mầm non là cấp học đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tình cảm, thẩm mỹ, định hướng cho việc
Trang 39hình thành nhân cách của trẻ em; đồng thời thúc đẩy quá trình học tập và phát triển ở các giai đoạn tiếp theo Để đáp ứng được yêu cầu của xã hội, đáp ứng được mục tiêu cấp học, đòi hỏi những trường phải đáp ứng được yêu cầu về
cơ sở vật chất, để trường lớp ngày càng khang trang đáp ứng được yêu cầu về giáo dục toàn diện, phục vụ mục tiêu của Đảng và Nhà nước đề ra Nhận thấy tầm quan trọng của việc tăng cường CSVC và trang thiết bị trường học đối với tính hiệu quả giáo dục trong nhà trường mầm non, Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp để góp phần phục vụ cho quá trình dạy và học hiệu quả
Thực hiện phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, Đảng bộ tỉnh
đã xây dựng nhiều chính sách để huy động các nguồn lực trong xã hội để xây dựng cơ sở vật chất trường học Trong quy hoạch khu dân cư mới, khu công nghiệp tập trung phải có địa điểm trường học, nơi sinh hoạt cho thanh thiếu niên Bảo đảm diện tích đất đai, sân chơi và bãi tập cho các trường theo đúng quy định của Nhà nước Các xã phường trong quy hoạch phải giành đất đai thỏa đáng cho trường học kể cả các khu vui chơi Những nơi chưa có phải bố trí diện tích đất gần trường
Giành nguồn vốn cơ bản cho các kế hoạch, chống xuống cấp, chương trình miền núi tập trung cho các công trình trọng điểm ở miền núi, vùng khó khăn, vùng căn cứ cách mạng, hỗ trợ vốn đầu tư cho các công trình kiên cố, các hạng mục công trình chưa hoàn thành Tăng cường thiết bị dạy và học cho các trường mầm non trên địa bàn tỉnh
Bằng các nguồn lực tại chỗ của địa phương, nhất là nguồn thu từ thuế nông nghiệp, tiền sử dụng đất được điều tiết để lại cho huyện và xã, các nguồn thu được tỉnh để lại trong phân cấp Cùng với số tiền đóng góp của nhân dân, tiền ủng hộ của các cơ quan, đơn vị, cá nhân, doanh nghiệp, nguồn kinh phí do tỉnh và huyện hỗ trợ một phần cho xã miền núi, nơi khó khăn Theo tiêu chuẩn đề ra việc xây dựng nhà trẻ, trường mẫu giáo phải đảm bảo
Trang 40tất cả các yêu cầu đó là: các trường phải có đủ phòng học, bàn ghế, bảng đạt tiêu chuẩn, có phòng điều hành, có đủ cổng cùng với biển trường, khuôn viên trường lớp và các công trình vệ sinh
Hàng năm tỉnh cử các đoàn thanh tra tiến hành tổ chức điều tra, đánh giá đúng hiện trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học, xác định nhu cầu
cơ sở vật chất cần thiết của trường học để tiến hành đầu tư xây dựng theo hướng chuẩn hóa.Đồng thời cũng cử các đoàn thanh tra thường xuyên tăng cường kiểm tra, giám sát cơ chế hoạt động và điều kiện cơ sở vật chất của các
mô hình trường dân lập để từ đó có biện pháp can thiệp kịp thời
Từ năm 1991 đến năm 1997 với sự quan tâm của Trung ương và sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân trong tỉnh, đã xây mới đươc thêm nhiều phòng học nhà cấp 4 kiên cố, cao tầng Nhà trẻ tổng số phòng học 112 phòng trong
đó có 50 phòng cấp 4 chiếm 44,64%, mẫu giáo tổng 498 phòng học phòng cấp 4 là 339 phòng chiếm 68,07% [3;tr.6]
Nhìn chung, quy mô mạng lưới trường lớp và cơ sở vật chất phục vụ cho công tác dạy và học được đầu tư tăng cường một bước đáng kể, quy mô trường học được mở rộng, số trường lớp tăng lên đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh, khung cảnh trường lớp đã xanh, sạch hơn trước, môi trường sư phạm có cải thiện Có thể nói đây là sự cố gắng vượt bậc chưa từng có về tốc
độ đầu tư, tăng cường cơ sở vật chất trường học trên địa bàn của tỉnh Tuyên Quang Tuy nhiên, sơ sở vật chất, trang thiết bị nhiều trường vẫn còn nghèo nàn và thiếu so với yêu cầu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang phấn đấu đến năm
2010 trường nào cũng có đủ trang thiết bị dạy học, đồng thời khai thác triệt để hơn các điều kiện để đầu tư thêm trang thiết bị và cơ sở vật chất cho trường
học trong những giai đoạn tiếp theo
1.2.4 Thực hiện xã hội hóa và công bằng trong giáo dục
Xã hội hóa hoạt động giáo dục đó là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự nghiệp phát triển giáo dục đó