Đứng từ góc độ người viết báo cáo, chúng tôi cũng ý thức được tầm quantrọng của văn bản báo cáo và cái khó khăn của những người viết báo cáo.Muốn viết được một văn bản báo cáo tốt, người
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM –––––––––––––––––––––––
NGUYỄN QUỐC THÁI
MỘT SỐ KIỂU LỖI THƯỜNG GẶP TRONG
VĂN BẢN BÁO CÁO TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu h t t p ://www.lrc-t n u e d u v n/
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN QUỐC THÁI
MỘT SỐ KIỂU LỖI THƯỜNG GẶP TRONG
VĂN BẢN BÁO CÁO TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số 60.22.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐÀO THỊ VÂN
THÁI NGUYÊN - 2014
:
Trang 3i t n u e d u v n/
Số hóa bởi Trung tâm Học
liệu
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệukhảo sát, điều tra, kết luận trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố ởbất kì công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Quốc Thái
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đào Thị Vân, người
đã tận tình giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo những người đã trực tiếp giúp tác giả nâng cao vốn kiến thức ngôn ngữ trongthời gian theo học chương trình thạc sĩ ngôn ngữ khóa 2012 – 2014 tại trườngĐại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên; cảm ơn các cơ quan, đơn vị và một
-số địa phương đã cung cấp nhiều thông tin và tư liệu quý giá cho luận văn
Sau cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, đồng nghiệp và các họcviên Cao học Ngôn ngữ K20 đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Trang 53 h t t p
://www.lrc-t n u e d u v n/
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
12 4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 13
5 Phương pháp nghiên cứu 14
6 Cấu trúc của luận văn 15
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 16
1.1 Khái quát về văn bản và văn bản mắc lỗi
16 1.1.1 Sơ lược về văn bản 16
1.1.2 Văn bản mắc lỗi 21
1.2 Khái quát về văn bản hành chính - công vụ và văn bản báo cáo 30
1.2.1 Sơ lược về loại văn bản hành chính - công vụ 30
1.2.2 Sơ lược về kiểu văn bản báo cáo 32
1.2.3 Vài nét về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính 35
1.3 Tiểu kết 36
Chương 2: PHÂN LOẠI VÀ MIÊU TẢ CÁC KIỂU LỖI TRONG VĂN BẢN BÁO CÁO TIẾNG VIỆT 38
2.1 Kết quả khảo sát các lỗi trong văn bản báo cáo tiếng Việt 38
2.1.1 Nhận xét chung 38
2.1.2 Bảng tổng kết các loại lỗi trong văn bản báo cáo đã thống kê 40
Trang 62.2 Miêu tả các kiểu lỗi trong văn bản báo cáo tiếng Việt 41
Trang 7t n u e d u v n/
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu iv 2.2.1 Lỗi thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản báo cáo 41
2.2.2 Lỗi sử dụng phương tiện ngôn ngữ 65
2.3 Tiểu kết 79
Chương 3: NGUYÊN NHÂN VÀ HƯỚNG KHẮC PHỤC LỖI TRONG VĂN BẢN BÁO CÁO TIẾNG VIỆT 80
3.1 Nguyên nhân mắc lỗi trong văn bản báo cáo tiếng Việt 80
3.1.1 Nguyên nhân chủ quan 80
3.1.2 Nguyên nhân khách quan 83
3.2 Vấn đề sửa và khắc phục lỗi trong văn bản báo cáo tiếng Việt 90
3.2.1 Vấn đề sửa lỗi trong văn bản báo cáo tiếng Việt 91
3.2.2 Hướng khắc phục lỗi 94
3.3 Tiểu kết 95
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ NGỮ LIỆU THỐNG KÊ 99 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp các loại văn bản báo cáo được chọn làm ngữ liệu
khảo sát 38
Bảng 2.2: Bảng tổng hợp số lỗi đã thống kê trong văn bản báo cáo 40
Bảng 2.3: Bảng tổng kết số lỗi/ các văn bản báo cáo được phân loại theo chủ thể ban hành 40
Bảng 2.4: Bảng tổng kết lỗi thể thức và kỹ thuật trình bày 42
Bảng 2.5: Bảng tổng kết số lỗi thể thức và lỗi kĩ thuật trình bày theo chủ thể ban hành báo cáo 42
Bảng 2.6: Lỗi thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản phân loại theo chủ thể ban hành báo cáo 43
Bảng 2.7: Bảng tổng kết lỗi thể thức trong văn bản báo cáo đã khảo sát 44
Bảng 2.8: Bảng tổng kết loại lỗi thể thức tính theo kiểu văn bản báo cáo 44
Bảng 2.9: Báo cáo mắc lỗi thể thức được phân loại theo chủ thể ban hành 45
Bảng 2.10: Bảng tổng kết lỗi thể thức theo các kiểu báo cáo và theo 10 thành phần thể thức và chủ thể ban hành báo cáo
45 Bảng 2.11: Bảng tổng kết lỗi kỹ thuật trình bày trong văn bản BC đã khảo sát 52
Bảng 2.12: Bảng tổng kết loại lỗi kỹ thuật trình bày theo kiểu văn bản BC 53
Bảng 2.13: Báo cáo mắc lỗi kỹ thuật trình bày được phân loại theo chủ thể ban hành 53
Bảng 2.14: Bảng tổng kết lỗi kỹ thuật trình bày văn bản theo 10 thành phần thể thức và chủ thể ban hành báo cáo 54
Bảng 2.15: So sánh kỹ thuật định lề trang, đánh số trang, số phụ lục của văn bản báo cáo khối đảng và khối quản lý nhà nước 64
Bảng 2.16: Bảng tổng hợp lỗi sử dụng phương tiện ngôn ngữ trong BC 66 Bảng 2.17: Bảng tổng kết lỗi chính tả trong các báo cáo được phân loại
Trang 9iv t n u e d u v n/
Số hóa bởi Trung tâm Học
liệu
theo cấp ban hành 66
Trang 10Bảng 2.18: Bảng tổng kết các kiểu lỗi về từ theo kiểu văn bản và chủ thể
ban hành 69Bảng 2.19: Số lượng câu mắc lỗi chia theo kiểu báo cáo và tỉ lệ % tính theo
số câu mắc lỗi 72Bảng 2.20: Bảng tổng kết số lượng câu mắc lỗi trong các loại văn bản báo
cáo phân loại theo chủ thể ban hành 72Bảng 2.21: Bảng tổng kết số lượng câu mắc lỗi trong các văn bản báo cáo
phân loại theo kiểu câu mắc lỗi 78Bảng 3.1: Những điểm khác nhau cơ bản trong trình bày thể thức văn bản
của Đảng và văn bản quản lý Nhà nước 85
Trang 11Báo cáo là một kiểu văn bản được dùng thường xuyên trong các đơn vị
hành chính và trong đời sống hàng ngày Tuy là một loại văn bản có vị trí kháquan trọng trong giao tiếp nhưng các ý kiến về cách viết một văn bản báo cáovẫn còn có chỗ chưa thực sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu
Thực tế khảo sát 400 văn bản báo cáo ở một số cấp, ngành, đơn vị và địaphương cho thấy có khá nhiều văn bản báo cáo mắc lỗi Những lỗi này rất đadạng: đó có thể là lỗi về thể thức văn bản và kĩ thuật trình bày; cũng có thể làlỗi sử dụng các phương tiện ngôn ngữ, như lỗi sử dụng các yếu tố ngữ âm, lỗidùng từ hay lỗi đặt câu, v.v
Theo điều tra bước đầu của chúng tôi, đến nay chưa thấy có một công trìnhnghiên cứu nào dành riêng cho việc tìm hiểu tình hình mắc lỗi trong văn bảnbáo cáo một cách kĩ lưỡng và bài bản, mặc dù như đã nói, đây là một kiểu vănbản quen thuộc và được dùng thường xuyên trong giao tiếp hành chính
1.2 Lí do chủ quan
Là người làm việc tại Ban Tuyên giáo của một tỉnh, chúng tôi thườngxuyên được nhận văn bản báo cáo cũng như thường xuyên phải viết báo cáo.Đứng từ góc độ người nhận báo cáo, chúng tôi thấy tình trạng văn bản báocáo mắc lỗi, đặc biệt là lỗi sử dụng ngôn ngữ nhiều khi đã gây ra những cáchhiểu văn bản khác nhau cho người tiếp nhận báo cáo
Đứng từ góc độ người viết báo cáo, chúng tôi cũng ý thức được tầm quantrọng của văn bản báo cáo và cái khó khăn của những người viết báo cáo.Muốn viết được một văn bản báo cáo tốt, người viết không những phải nắmđược thể thức cũng như kỹ thuật trình bày nội dung mà còn phải biết sử dụng
các phương tiện ngôn ngữ sao cho đúng, cho hay Bởi vậy, chọn đề tài “Một số
kiểu lỗi thường gặp trong văn bản báo cáo tiếng Việt” để nghiên cứu, người
Trang 12viết hy vọng luận văn có thể làm tư liệu tham khảo cho những ai muốn nghiêncứu hay viết báo cáo, giúp họ tránh được những lỗi không đáng có trong sửdụng ngôn ngữ khi tạo lập kiểu văn bản này.
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Tình hình nghiên cứu văn bản báo cáo
Có thể nói, đến nay đã có khá nhiều tài liệu bàn về cách viết văn bản, vấn
đề qui chuẩn một số văn bản hành chính - công vụ nói chung và văn bản báocáo nói riêng Khó có thể liệt kê hết các công trình nghiên cứu này Dưới đây làmột số tài liệu và công trình nghiên cứu tiêu biểu về văn bản hành chính - công
vụ, trong đó có văn bản báo cáo, từ những năm 1982 trở lại đây:
(1) Thông tư 02/BT, ngày 11 tháng 01 năm 1982 của Bộ trưởng - Tổng
Thư ký Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về “Hướng dẫn việc xây dựng
và ban hành văn bản” Thông tư này đã đề cập tới nguyên tắc xây dựng và ban
hành văn bản Thông tư nêu rõ: “… cơ quan ban hành văn bản phải theo đúng
thẩm quyền của mình Các văn bản của cơ quan Nhà nước ở các ngành, các cấp ban hành đều phải căn cứ vào Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh và các văn bản của cấp trên Hình thức văn bản phải theo đúng quy định của pháp luật; từ ngữ, cách viết cũng phải theo đúng từ ngữ, cách viết văn bản Nhà nước…”.
Qui định về viết văn bản báo cáo cũng không nằm ngoài những qui định vớicác văn bản khác được nói đến ở đây
(2) Quyết định (sau đây viết tắt là QĐ) số 31-QĐ/TW, ngày 01 tháng 10
năm 1997 của Ban Chấp hành Trung ương về việc “Ban hành qui định về thể
loại, thẩm quyền ban hành và thể thức văn bản của Đảng”.
Ngoài việc trình bày những qui định chung về hệ thống văn bản, các cấpban hành văn bản, ngôn ngữ viết văn bản hay những qui định sửa đổi, bổ sung,bãi bỏ văn bản, QĐ này còn giới thiệu 23 thể loại văn bản của Đảng, trong đó
có báo cáo
Về thể thức văn bản, “Quyết định ban hành qui định về thể loại, thẩm
quyền ban hành và thể thức văn bản của Đảng” qui định rất rõ thể thức chung
Trang 13(3) Qui định số 251-QĐ/TW, ngày 31 tháng 7 năm 2009 của Ban Bí thư
“Qui định về chế độ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư” đã trình bày ba chương
với ba nội dung lớn :
+ Chương 1, Qui định chung: Chương này gồm ba điều: 1) Đối tượng
điều chỉnh, 2) Thể loại và yêu cầu báo cáo, 3) Hình thức báo cáo, thẩm quyền
ký báo cáo và thời hạn báo cáo
+ Chương 2, Nội dung báo cáo: Chương này gồm 4 điều: 1) Báo cáo
chung, 2) Báo cáo quí, báo cáo sơ kết 6 tháng và báo cáo tổng kết năm, 3) Báocáo chuyên đề, 4) Báo cáo đột xuất và các báo cáo khác
+ Chương 3, Tổ chức thực hiện: Chương này gồm 2 điều: 1) Trách nhiệm
thực hiện, 2) Hiệu lực thi hành
Quy định này là một trong những tài liệu quan trọng mà người viết các vănbản hành chính - công vụ, trong đó có báo cáo cần tìm hiểu kỹ
(4) Nghị định số 110/2004/NĐ-CP, ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính
phủ “về công tác văn thư”, Nghị định này gồm 6 chương nêu những điều khoản
về công tác văn thư Trong đó, chương II là chương qui định cụ thể về hìnhthức văn bản, các thành phần thể thức và cách soạn thảo các văn bản thuộcphong cách hành chính – công vụ Theo Nghị định này, thể thức văn bản hànhchính - công vụ được qui định cụ thể căn cứ vào từng loại văn bản (Nghị địnhchia thành 4 loại): văn bản quy phạm pháp luật, thể thức văn bản chuyênngành, thể thức văn bản của tổ chức chính trị - xã hội, văn bản trao đổi với cơquan, tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài được thực hiện theo thông lệ quốc tế.(Xin xem điều 5, chương II của Nghị định)
Trang 14(5) Hướng dẫn số 11-HD/VPTW, ngày 28 tháng 5 năm 2004 của Văn
phòng Trung ương Đảng “về thể thức văn bản của Đảng” đã trình bày rất chi
tiết 8 thành phần thể thức bắt buộc và 3 thành phần thể thức bổ sung (xem mục
I và II) của các văn bản hành chính – công vụ, trong đó có báo cáo
Cũng trong tài liệu hướng dẫn này, 5 yêu cầu về kỹ thuật trình bày văn bảncủa Đảng được qui định rất rõ và có ví dụ minh họa hoặc mẫu kèm theo
Hướng dẫn này cơ bản không có gì khác với những tài liệu dẫn trên về quiđịnh thể thức văn bản Sự khác nhau ở đây có lẽ chỉ là ở mức độ chi tiết nhữngqui định về kỹ thuật trình bày
(6) Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP, ngày 06 tháng 5
năm 2005 của Bộ Nội vụ và Văn phòng Chính phủ “Hướng dẫn về thể thức và
kỹ thuật trình bày văn bản” là một trong những tài liệu trình bày khá chi tiết về
thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản
Về thể thức văn bản, Thông tư này nêu ra 10 thành phần thể thức bắt buộc
và 5 thành phần thể thức khác Mỗi thành phần thể thức được tài liệu chi tiếthóa và làm rõ bằng những lời giải thích hoặc có ví dụ minh họa
Về kỹ thuật trình bày, Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP
“Hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản” gồm hai nội dung lớn:
1) Qui định về: khổ giấy, kiểu trình bày, định dạng lề và 2) Cách trình bày các thành phần thể thức nói trên
Có thể coi Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP “Hướng dẫn
về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản” là một tài liệu tham khảo hữu ích khi
soạn thảo văn bản hành chính - công vụ nói chung và văn bản báo cáo nói riêng.(7) Thông tư số 01/2011/TT-BNV, ngày 19 tháng 01 năm 2011 của Bộ
Nội vụ “Hướng dẫn thể thức và kĩ thuật trình bày văn bản hành chính” cũng
đã trình bày tương đối kĩ những qui định về thể thức, kĩ thuật trình bày văn bảnhành chính (Thông tư đã nêu 15 điều qui định về soạn thảo văn bản hành chínhnói chung Xin xem từ trang 1 đến trang 17) Ngoài ra, trong Thông tư này còn
Trang 1506 tháng 5 năm 2005 của Bộ Nội vụ và Văn phòng Chính phủ hướng dẫn thểthức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính trái với Thông tư này bị bãi bỏ.(8) Nghị định số 110/2004/NĐ-CP, ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính
phủ “về công tác văn thư” có quy định hình thức, thể thức văn bản của tổ chức
chính trị, chính trị - xã hội do người đứng đầu cơ quan Trung ương của tổ chức
đó quy định Chúng tôi đã khảo sát qui định về thể thức văn bản của một số tổchức chính trị - xã hội, cụ thể như sau:
- Hướng dẫn số 29-HD/TWĐTN-VP, ngày 29 tháng 10 năm 2013 của
Ban Bí thư Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh về “thể thức văn bản của
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh” có qui định văn bản chính thức của Đoàn bắt buộc
phải có đủ 8 thành phần thể thức và tùy theo nội dung và tính chất có thể có cácthành phần thể thức bổ sung như: dấu chỉ mức độ mật; dấu chỉ mức độ khẩn;các chỉ dẫn về phạm vi phổ biến, giao dịch, bản thảo và tài liệu hội nghị Nhưvậy thể thức văn bản của Đoàn về cơ bản giống thể thức văn bản của Đảng
- Quy định về thể loại văn bản, thể thức và thẩm quyền ban hành các loạivăn bản của tổ chức Công đoàn ban hành kèm theo Quyết định số 1013/QĐ-TLĐ, ngày 19 tháng 8 năm 2011 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đãliệt kê 22 thể loại văn bản và một số loại giấy tờ hành chính khác Về thể thức,văn bản này qui định văn bản của tổ chức Công đoàn các cấp có 8 thành phầnthể thức và tùy theo nội dung và tính chất có thể có các thành phần thể thức bổsung Qui định này không khác nhiều so với Hướng dẫn số 11-HD/VPTW,
ngày 28 tháng 5 năm 2004 của Văn phòng Trung ương Đảng “Hướng dẫn về
thể thức văn bản của Đảng”.
- Tương tự như trên, Hướng dẫn số 15-HD/VP, ngày 24 tháng 01 năm
2011 của Văn phòng Trung ương Hội Nông dân Việt Nam cũng liệt kê 8 thành
Trang 16phần thể thức bắt buộc và 3 thành phần thể thức bổ sung áp dụng với hệ thống văn bản của Hội Nông dân Việt Nam.
(9) Ngoài các tài liệu thuộc cấp Trung ương ban hành vừa dẫn, nhữngcông trình của cá nhân dưới đây cũng cần được nhắc đến:
- Cuốn “Soạn thảo, ban hành và quản lý văn bản quản lý nhà nước” của
Tạ Hữu Ánh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, H 1999;
- Cuốn “Hướng dẫn soạn thảo văn bản quản lý hành chính nhà nước” của
Lưu Kiếm Thanh, Nhà xuất bản Thống kê, H 2000;
- Cuốn “Kỹ năng và ngôn ngữ soạn thảo văn bản quản lý nhà nước” của
Bùi Khắc Việt, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, H 1997;
- Cuốn “Soạn thảo và xử lý văn bản quản lý nhà nước” của Nguyễn Văn
Thâm (tái bản lần thứ tư), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, H 2006,…
Điểm chung của tất cả các tài liệu này là đã giới thiệu và phân loại đượcmột hệ thống văn bản quản lý hành chính nhà nước Đặc biệt, hầu hết các công
trình đều có mục “Hướng dẫn soạn thảo văn bản hành chính nhà nước”, trong
đó có khá nhiều loại văn bản và hầu như không có công trình nào ở đây không
nhắc đến báo cáo Trong mục “Hướng dẫn soạn thảo văn bản hành chính nhà
nước” này đều nêu những qui định về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản
một cách rõ ràng,
(10) “Giáo trình kỹ thuật soạn thảo văn bản quản lý kinh tế và quản trị kinh
doanh”, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân, H 2008 của TS Nguyễn Thế
Phán là giáo trình dùng nội bộ của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Ngoài những vấn đề chung về văn bản, như khái niệm, chức năng và phân
loại văn bản, Giáo trình kỹ thuật soạn thảo văn bản quản lý kinh tế và quản trị
kinh doanh của TS Nguyễn Thế Phán đã dành phần nội dung cơ bản cho việc
hướng dẫn cách soạn thảo một văn bản hành chính – công vụ; riêng văn bảnbáo cáo đã chiếm gần 6 trang
Bàn về soạn thảo báo cáo, Giáo trình kỹ thuật soạn thảo văn bản quản lý
kinh tế và quản trị kinh doanh đã nêu các thành phần thể thức và những qui
Trang 177 t n u e d u v n/
Số hóa bởi Trung tâm Học
liệu
định về kỹ thuật trình bày văn bản báo cáo Theo đó, 10 thành phần bắt buộc và
1 thành phần bổ sung được hướng dẫn cách viết khá kỹ
Cũng như các tài liệu nói trên, cuốn giáo trình này chưa nói đến vấn đềmắc lỗi trong báo cáo
(11) Cuốn “Soạn thảo và ban hành văn bản của cơ quan nhà nước”, Nhà
xuất bản Lao động, H 2008 của tác giả Tạ Hữu Ánh là tài liệu trình bày tươngđối tỉ mỷ về các loại văn bản hành chính - công vụ thường gặp
Cuốn sách đã nêu được những vấn đề chung về văn bản, như: Văn bản là
gì, khái niệm văn bản quản lí nhà nước, khái niệm văn bản hành chính Ýnghĩa, tác dụng của văn bản, phân loại văn bản theo hình thức, thẩm quyền của
cơ quan, tổ chức ban hành hình thức văn bản Theo đó, bốn kiểu văn bản được
tác giả bàn khá kĩ trong công trình này bao gồm: Văn bản qui phạm, văn bản
hành chính, văn bản chuyên ngành và văn bản của tổ chức chính trị - xã hội.
Báo cáo là một trong số 23 kiểu văn bản hành chính được cuốn sách nhắc
đến Tác giả quan niệm: “Báo cáo là một hình thức văn bản dùng để gửi cho
cấp trên để tường trình hoặc xin ý kiến về một hoặc một số vấn đề, vụ việc nhất định; để sơ kết, tổng kết công tác của một cơ quan, một tổ chức; để trình bày một vấn đề, một sự việc hoặc một đề tài trước hội nghị hoặc trước một người hay một cơ quan có trách nhiệm theo chế độ đã qui định”.
Ngoài việc nêu khái niệm, cuốn sách của tác giả Tạ Hữu Ánh còn phânloại báo cáo thành nhiều kiểu theo chức năng và nhiệm vụ của chúng Theo tácgiả, một văn bản báo cáo muốn có chất lượng phải đảm bảo ba yêu cầu cơ bản:1) Trung thực, chính xác, 2) Thông tin phải đầy đủ, có chọn lọc, có tính tổnghợp và 3) Kịp thời
Trong chương VIII, tác giả dành riêng cho việc hướng dẫn cách soạn thảomột số loại văn bản hành chính, bao gồm cả văn bản báo cáo
Mười thành phần thể thức của văn bản báo cáo được trình bày ở đây cũngkhông có gì đặc biệt, chỉ có điều chúng được minh họa bằng các mẫu cụ thểnên người đọc có thể dựa vào đó khi soạn báo cáo Ngoài ra, tác giả còn nói rõrằng, viết báo cáo nên theo ba bước: công tác chuẩn bị, viết đề cương, viết nội
Trang 18dung báo cáo Thiết nghĩ, ba bước này tuy không phải là lý thuyết mới nhưngcũng không phải là cũ, bởi đó là những bước người soạn thảo văn bản cần làm
để tránh lỗi không đáng có
Những qui định về sử dụng ngôn ngữ, cách thức trình bày một văn bảnbáo cáo cũng được trình bày khá chi tiết trong công trình này Và cũng như cáctài liệu khác, cuốn sách này chưa bàn về những lỗi thường gặp trong báo cáo
(12) Văn bản “Qui định về thể thức, kỹ thuật trình bày và mẫu các loại
văn bản của Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh” (Ban hành
kèm theo Quyết định số 436/QĐ-ĐHCN ngày 06 tháng 6 năm 2012 của Hiệutrưởng Trường Đại học Công nghiệp Tp Hồ Chí Minh), cũng đã đưa ra một sốqui định về thể thức văn bản và kỹ thuật trình bày văn bản, trên cơ sở phân loạivăn bản hành chính thành 21 loại
Tóm lại, tất cả các tài liệu và công trình nghiên cứu tiêu biểu bàn về soạnthảo văn bản hành chính - công vụ, trong đó có báo cáo dẫn trên đều mới chỉ đềcập đến những nội dung khái quát chung về văn bản hành chính – công vụ,như: khái niệm văn bản hành chính - công vụ; phân loại văn bản hành chính –công vụ; thẩm quyền của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản; hiệu lực vànguyên tắc ứng dụng văn bản; giám sát, kiểm tra văn bản trái pháp luật; thểthức và kỹ thuật trình bày văn bản; trình tự soạn thảo, ban hành văn bản… màchưa có một công trình nào khảo sát và bàn đến lỗi cũng như nguyên nhân,cách sửa các kiểu lỗi thường gặp trong các văn bản hành chính - công vụ nóichung, trong văn bản báo cáo nói riêng
2.2 Tình hình nghiên cứu về các kiểu lỗi văn bản và lỗi thường gặp trong văn bản báo cáo
2.2.1 Tình hình nghiên cứu về các kiểu lỗi văn
bản
Có thể nói ngay rằng, đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu bàn
về các kiểu lỗi văn bản nói chung, bao gồm cả văn bản báo cáo Dưới đây làmột số công trình tiêu biểu:
Trang 199 h t t p
://www.lrc-t n u e d u v n/
Số hóa bởi Trung tâm Học
liệu
(1) Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên), Nguyễn Văn Hiệp, Tiếng Việt thực
hành, Nxb ĐHQG, H.1997: Trong công trình nghiên cứu này, các tác giả không
nói cụ thể thế nào là một văn bản mắc lỗi, song theo các tác giả, để tạo lập đượcmột văn bản tốt, ngoài những kỹ năng khác, người viết cần phải có kỹ năngphát hiện và chữa các lỗi về chính tả, dùng từ, viết câu và viết đoạn văn
- Lỗi chính tả gồm những lỗi, như: viết sai qui tắc viết hoa, viết sai kí tựghi âm các âm vị, phiên âm tiếng nước ngoài, v.v…
- Lỗi dùng từ bao gồm những lỗi như: dùng từ sai vỏ âm thanh, dùng từ sai
do không hiểu nghĩa, dùng từ không đúng khả năng kết hợp của từ, dùng từthừa, dùng từ không đúng phong cách, v.v…
- Lỗi về câu bao gồm những lỗi như: lỗi cấu tạo câu, lỗi sử dụng dấu câu ,lỗi về ngữ nghĩa, v.v…
- Lỗi về đoạn văn gồm những kiểu lỗi tiêu biểu, như: đoạn văn thiếu ý,đoạn văn lặp ý, đoạn văn mâu thuẫn ý, đoạn văn sử dụng phương tiện liên kếtsai, v.v…
Theo đó, văn bản nào mắc những lỗi trên sẽ bị xếp vào loại văn bản mắc lỗi
(2) Nguyễn Đức Dân, (2002), Giáo trình tiếng Việt thực hành, Nxb ĐHQG
Tp HCM: Cũng như các tác giả vừa dẫn ở (1), tác giả Nguyễn Đức Dân quantâm đến vấn đề sử dụng chuẩn các phương tiện ngôn ngữ, đặc biệt là kỹ năngviết câu khi tạo lập văn bản, bất kể đó là kiểu văn bản thuộc phong cách nào
Tác giả chỉ rõ, “Nếu không lưu ý tới ngôn từ, ai cũng có thể viết ra những
câu sai, câu vô nghĩa, thậm chí những câu trái ngược với ý nghĩ, quan điểm của mình” (Giáo trình tiếng Việt thực hành, Nxb ĐHQG Tp HCM, 2002; tr.3) Trên
tinh thần đó, tác giả đã đưa ra một vài nhận xét về tình hình sử dụng ngôn ngữhiện nay trong giao tiếp hàng ngày cũng như trong tạo lập văn bản viết, trước hết
là vấn đề viết câu sai
Theo tác giả, câu sai là những câu mắc lỗi về nhiều phương diện, như: saichính tả, sai ngữ pháp, sai từ ngữ, sai lôgích, sai phong cách, sai tri thức, …
Trang 20Ngoài việc nêu quan điểm về “câu sai” và các loại câu sai, tác giả Nguyễn Đức
Dân còn
Trang 2111 h t t p
://www.lrc-t n u e d u v n/
Số hóa bởi Trung tâm Học
liệu
nhấn mạnh rằng “nhìn nhận một hiện tượng sai không đơn giản”, “bởi có câu,
với người này thì là sai nhưng người khác lại thấy là đúng”.
Tác giả nói thêm: “… đứng trước một hiện tượng sai, lại có thể có cách
nhìn khác nhau” và “mỗi loại câu sai có những nguyên nhân đặc thù”, “do đó tùy cách nhìn và từng nguyên nhân mắc lỗi mà có cách sửa lỗi cho phù hợp”
[17; tr23]
Như vậy, cách hiểu về câu sai của tác giả Nguyễn Đức Dân khá rộng Đây
là lỗi tổng hợp tương đương với 3 kiểu lỗi: lỗi chính tả, lỗi từ ngữ và lỗi câu màhai tác giả nói ở (1) quan niệm Ngoài ra, khi nói về lỗi câu, GS.TS NguyễnĐức Dân còn thêm một kiểu lỗi mà hai tác giả dẫn trên không bàn đến, đó làkiểu câu mơ hồ
Như vậy, để tạo lập được một văn bản đúng và hay, người viết trước hết cầntránh những lỗi về câu như GS.TS Nguyễn Đức Dân đã nêu
(3) Bài báo với nhan đề “Giật mình vì lỗi sơ đẳng trong văn bản hành chính”
(Theo Thanh Quí – Tuấn Anh) , to as o a n @n g uo i d u at in v n , ngày 05-7-2013.Các tác giả của bài viết này đã bày tỏ sự lo ngại về tình trạng mắc lỗi trongkiểu văn bản hành chính - công vụ Bài báo đã dựa vào kết quả điều tra củaViện Công nghệ Thông tin về thực trạng mắc lỗi chính tả trong văn bản tiếng
Việt và kết luận lỗi chính tả trong văn bản ở một số ban ngành “đã ở mức báo
động, vượt quá cao với tiêu chuẩn” Tác giả nêu rõ, tình trạng văn bản mắc lỗi
không chỉ thấy ở những văn bản do cấp địa phương ban hành mà ngay cả ở
những văn bản của “… các cơ quan thuộc Bộ cũng có tỷ lệ lỗi chính tả khá cao.
Đặc biệt, có đơn vị có tỷ lệ mắc lỗi gần 40% như Cục Vệ sinh an toàn thực phẩm…”.
Bài báo này còn bình luận: “ Ý tưởng ngô nghê, ngôn từ phản cảm, thậm
chí là quá mức đời thường đang xuất hiện ngày một nhiều trong các công thư nhân danh cơ quan nhà nước, tổ chức nghề nghiệp… khiến tính trang nghiêm
và chuẩn mực vốn có của văn bản này bị ảnh hưởng nghiêm trọng…”.
Trang 22Như vậy, vấn đề văn bản mắc lỗi không phải là vấn đề xa lạ với chúng ta.Chỉ có điều nó chưa được quan tâm một cách đúng mức để tìm ra những giảipháp hạn
Trang 232.2.2 Tình hình nghiên cứu về lỗi trong các văn bản báo cáo
Như đã nói ở mục Lí do chọn đề tài, đến nay chưa có một công trình nghiêncứu nào dành riêng cho việc nghiên cứu lỗi trong văn bản báo cáo một cáchcông phu, bài bản Tuy vậy, về vấn đề này cũng có một vài bài báo với tư cách
“tản văn”, xin dẫn hai bài báo:
(1) Bài “Giật mình vì ông chủ tịch”, đăng tải trên
Lỗi của văn bản báo cáo này là đã đưa ra những “lưu ý hết sức ngô nghê”,
như: “… ngoài ra cũng cần phải lưu ý đến các mối quan hệ: Thái Bình là quê
của một Phó Thủ tướng, một Bộ trưởng, hai Thứ trưởng,… nên cân nhắc việc giảm tải ở bến xe…”.
Ngoài ra, bài báo này còn dẫn một số báo cáo mắc lỗi khác và cuối cùng
kết luận bằng việc đưa ra lời bàn: “Trong việc ban hành văn bản, đặc biệt là văn
bản hành chính, bao gồm cả báo cáo, vấp lỗi về ngôn từ, nội dung diễn đạt không còn xa lạ…”.
(2) Bài báo mang nhan đề: “Kỹ năng viết báo cáo”,
(Congchuc-vienchuc.com/…/ky-nang-viet-bao-cao(2014).html), ngoài các nội dung cơbản, như: Ý nghĩa của viết báo cáo, các loại báo cáo, yêu cầu của báo cáo, cácyếu tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo, các bước viết báo cáo, … bài báo
còn trình bày sơ lược về “Các lỗi thường gặp trong báo cáo”, cụ thể đó là ba
kiểu lỗi sau đây:
- Thứ nhất: Lỗi trình bày bản báo cáo Lỗi trình bày gồm 4 kiểu nhỏ:
+ Lỗi đánh số;
Trang 24+ Lỗi hình ảnh, bảng biểu và công thức trong báo cáo;
+ Lỗi sử dụng dấu câu và khoảng trắng;
+ Ý không rõ ràng, ý trước mâu thuẫn với ý sau
- Thứ ba: Lỗi nội dung Các lỗi thường gặp là:
+ Không nêu bật được những vấn đề trọng tâm;
+ Nêu những vấn đề nội dung ít liên quan đến tiêu đề của báo cáo
Tóm lại, thực trạng viết những văn bản hành chính nói chung, văn bản báocáo nói riêng mắc lỗi đang ở mức “báo động” Hiện tượng soạn thảo văn bảnmắc lỗi không chỉ gặp ở cấp địa phương mà còn gặp ở cả cấp Trung ương
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những kiểu lỗi thường gặp trong vănbản báo cáo tiếng Việt
- Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chính phủ; của một số
Bộ, Ban, ngành và cơ quan ở Trung ương (như: Bộ Giáo dục và Đào tạo, BộCông Thương, Uỷ ban Dân tộc, Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Tổ chứcTrung ương, Ban Dân vận Trung ương, Trung tâm Thông tin công tác Tuyêngiáo Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ
Trang 25- Báo cáo của cơ quan Đảng, chính quyền cấp huyện thuộc các tỉnh,thành phố: Thái Nguyên, Bắc Kạn, Thừa Thiên – Huế, Hải Dương, thành phố
- Báo cáo của UBND các xã, thị trấn thuộc huyện Võ Nhai (Thái Nguyên)
- Báo cáo của các trường học trong hệ thống giáo dục quốc dân từ mầmnon đến đại học thuộc các tỉnh, thành phố: Hải Phòng, Thái Nguyên, ThừaThiên – Huế, Sơn La, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Dương, Thanh Hoá
3.2.2 Về nội dung nghiên cứu: Luận văn giới hạn phạm vi nội dung nghiên
cứu ở hai kiểu lỗi thường gặp trong văn bản báo cáo, đó là: 1) Lỗi thể thức và
kỹ thuật trình bày văn bản, và 2) Lỗi sử dụng các phương tiện ngôn ngữ.
Trên cơ sở khảo sát, phân tích các lỗi, luận văn tìm nguyên nhân mắc lỗi
và đề xuất hướng sửa lỗi
4 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, ngoài mục đích làm rõ thực trạng mắc lỗi trong vănbản báo cáo đã được ban hành ở một số đơn vị hành chính, luận văn còn muốnchỉ ra nguyên nhân mắc lỗi và đề xuất hướng khắc phục Theo đó, luận văn cóthể làm tài liệu tham khảo để góp phần giúp người viết báo cáo tránh đượcnhững lỗi không mong muốn
Trang 264.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nói trên, luận văn sẽ phải thực hiện một số nhiệm
vụ chính sau đây:
- Nghiên cứu và khái quát một số vấn đề lí thuyết liên quan được dùng làm
cơ sở lí luận cho đề tài;
- Thống kê và phân loại lỗi của các văn bản báo cáo đã chọn làm ngữ liệutheo các tiêu chí định trước;
- Phân tích, miêu tả các kiểu lỗi văn bản báo cáo đã thống kê và tổng kếtkết quả nghiên cứu;
- Phân tích nguyên nhân mắc lỗi và đề xuất hướng sửa lỗi
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ đặt ra, luận văn sẽ sử dụng một số phương phápnghiên cứu chủ yếu sau đây:
- Phương pháp thống kê, phân loại: Phương pháp nghiên cứu này được
dùng để thống kê lỗi trong các văn bản báo cáo chọn làm ngữ liệu khảo sát Saukhi đã có số liệu lỗi chính xác, luận văn dùng phương pháp phân loại để chiacác lỗi đã thống kê thành các nhóm theo các tiêu chí
- Phương pháp miêu tả: Sau khi phân loại các lỗi thành từng nhóm, luận
văn tiếp tục sử dụng phương pháp nghiên cứu này để miêu tả từng kiểu lỗi,nhằm làm rõ đặc điểm của chúng
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp nghiên cứu này vừa
được dùng để phân tích các kiểu lỗi trong quá trình miêu tả chúng, vừa đượcdùng để phân tích nguyên nhân mắc lỗi của người viết văn bản Sau khi đãphân tích các lỗi và nguyên nhân mắc lỗi, luận văn dùng phương pháp tổng hợp
để khái quát hóa kết quả nghiên cứu
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Phương pháp nghiên cứu này trước hết
được dùng để so sánh tần số xuất hiện của các kiểu lỗi trên các kiểu văn bảnbáo cáo, xem loại lỗi nào người viết thường mắc và loại lỗi nào người viết ít
Trang 276 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Thư mục tài liệu tham khảo và
ngữ liệu thống kê, luận văn gồm ba chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận
- Chương 2: Khảo sát, phân loại và miêu tả lỗi trong văn bản báo cáo tiếng Việt
- Chương 3: Nguyên nhân và hướng khác phục lỗi trong văn bản báo cáo tiếng Việt
Trang 28Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN1.1 Khái quát về văn bản và văn bản mắc lỗi
1.1.1 Sơ lược về văn bản
1.1.1.1 Khái niệm văn bản
Đến nay đã có khá nhiều định nghĩa về văn bản của các tác giả trong vàngoài nước Ở nước ngoài có thể kể đến định nghĩa của W Koch hay của M.Halliday Ở Việt Nam có thể kể đến định nghĩa của tác giả Trần Ngọc Thêm,của đồng tác giả Đình Cao và Lê A, định nghĩa của tác giả Bùi Minh Toán.Định nghĩa của W Koch: “ Văn bản được hiểu ở bậc điển thể là phát ngônbất kì có kết thúc và có tính liên kết, có tính độc lập và đúng về ngữ pháp” [23]Tác giả M Halliday quan niệm văn bản “ …là một đơn vị ngữ nghĩa: Mộtđơn vị không phải của hình thức mà là của ý nghĩa” (M Halliday, 1976)
Tác giả Trần Ngọc Thêm định nghĩa văn bản như sau: “Văn bản là một hệ
thống mà trong đó các câu mới chỉ là phần tử Ngoài các câu – phần tử, trong
hệ thống văn bản còn có cấu trúc Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung Sự liên kết là mạng lưới của những mối quan hệ và liên hệ ấy” [28]
Nhà Việt ngữ học Bùi Minh Toán lại đưa ra một cách hiểu về văn bản:
“ Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, chủ yếu ở dạng viết, thường là tập hợp của các câu, có tính trọn vẹn về nội dung, tính hoàn chỉnh về hình thức, tính liên kết chặt chẽ và hướng tới một mục đích giao tiếp nhất định” [31]
Hai tác giả Đình Cao và Lê A định nghĩa văn bản từ góc nhìn của mônLàm văn như sau:
“ Văn bản là một hệ thống gồm một chuỗi câu được sắp xếp theo hình tuyến
và có tổ chức chặt chẽ Trong đó mỗi câu là một đơn vị liên kết của văn bản.
Trang 291.1.1.2 Đặc trưng của văn bản
Có thể nói, văn bản có nhiều đặc trưng song ba đặc trưng dưới đây là ba đặc trưng cơ bản nhất:
a) Tính liên kết
Liên kết là đặc trưng cần thiết và quan trọng nhất của văn bản Văn bảnkhông thể thiếu tính liên kết Đây là đặc trưng quan trọng để phân biệt văn bản
và chuỗi phát ngôn phi văn bản
Theo tác giả Phan Mậu Cảnh, “Liên kết là mạng lưới các mối quan hệ về
nội dung giữa các thành tố trong văn bản được thể hiện qua những hình thức liên kết nhất định, đồng thời là mối quan hệ giữa văn bản và những nhân tố ngoài văn bản thể hiện qua những dấu hiệu nhất định” [Dẫn theo 28].
Định nghĩa văn bản của tác giả Trần Ngọc Thêm đã hàm chứa khái niệm
liên kết văn bản Tác giả đã chỉ rõ: “…Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của
mỗi câu và những mối quan hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung” [28]
Trang 30Như vậy, nói đến liên kết văn bản là nói đến liên kết hướng nội và liên kếthướng ngoại của văn bản:
Mạng lưới những mối liên hệ và quan hệ giữa các đơn vị của văn bản(câu, đoạn, phần,…) gọi là liên kết nội tại của văn bản
Mạng lưới những mối quan hệ và liên hệ giữa văn bản này với văn bảnkhác gọi là liên kết hướng ngoại của văn bản
b) Tính thống nhất và hoàn chỉnh về nội dung
Tính thống nhất của văn bản thể hiện ở hai điểm sau đây:
- Các đơn vị của văn bản thường xoay quanh một chủ đề chung Vì thế, ta
có thể đặt được đầu đề cho văn bản Tuy nhiên, có những văn bản không mangđặc điểm này, tức văn bản không có sự thống nhất về nội dung, ví dụ, bài hátđồng dao sau đây là văn bản thiếu sự thống nhất về nội dung:
- Dù dài hay ngắn, văn bản luôn trình bày một vấn đề đầy đủ, trọn vẹn
hoặc tương đối đầy đủ, tương đối trọn vẹn Khái niệm “đầy đủ, trọn vẹn” hay
“tương đối đầy đủ, tương đối trọn vẹn” ở đây hiểu theo nghĩa “đã nói thì nói
cho trọn ý, đừng nói dở chừng”, kiểu như: “Hồ Xuân Hương đã hai lần gặp tình duyên trắc trở, một lần với Tổng Cóc.” là cách nói chưa “đầy đủ, chưa trọn vẹn” Muốn sửa lỗi này, ta có hai cách: hoặc bỏ vế “hai lần gặp tình duyên trắc trở”, hoặc viết thêm cho trọn ý: “…, một lần với Tổng Cóc”.
c) Tính hoàn chỉnh về hình thức
Tính hoàn chỉnh về hình thức của văn bản cũng thể hiện ở hai điểm:
- Thứ nhất là không cần phải thêm hoặc bớt từ hay câu nào vào trước câuđầu và sau câu cuối của văn bản
Trang 311.1.1.3 Các phương thức liên kết văn bản
Cách thức sử dụng các phương tiện ngôn ngữ để liên kết các đơn vị của
văn bản hay văn bản này với văn bản khác gọi phương thức liên kết văn bản (có người gọi là phép liên kết văn bản).
Theo nhiều nhà Việt ngữ học, có 7 cách liên kết văn bản, đó là: Phép lặp,
phép đối, phép thế, phép tỉnh lược, phép liên tưởng, phép nối và phép tuyến tính.
(1) Phép lặp: Khi dùng đi dùng lại nhiều lần trong văn bản một phươngtiện ngôn ngữ nào đó nhằm mục đích tạo sự liên kết, ta gọi cách liên kết đó làphép lặp
Cần phân biệt phép lặp là một phương thức liên kết và lỗi lặp Chẳng hạn,khi lặp lại một từ nào đó nhiều lần nhưng không có tác dụng liên kết văn bản
Ví dụ (1): Một chiếc mũ len xanh nếu chị sinh con gái Chiếc mũ sẽ đỏ
tươi nếu chị đẻ con trai [28].
(3) Phép liên tưởng: Phép liên tưởng là phương thức liên kết thể hiện ởviệc sử dụng trong các câu những từ ngữ có cùng trường nghĩa nhưng khôngchứa nét nghĩa đối lập
Chẳng hạn, có ba câu, trong đó một câu chứa từ “gà”, một câu chứa từ
“ngan”, một câu chứa từ “ngỗng” ta nói ba câu này liên kết với nhau nhờ sửdụng phép liên tưởng, vì ba từ này cùng nằm trong một trường chỉ gia cầm
Trang 32Ví dụ (2): Gà lên chuồng từ lúc nãy Hai bác ngan cũng đã ì ạch về chuồng
rồi Chỉ duy có hai chú ngỗng vẫn tha thẩn đứng giữa sân [28]
(4) Phép tỉnh lược: Phép tỉnh lược là một phương thức liên kết thể hiện ởviệc lược bỏ trong câu sau những từ ngữ đã xuất hiện ở câu đứng trước Đểhiểu được nghĩa ở câu sau, phải liên hệ với câu đứng trước Quá trình liên hệnày đã làm cho các câu liên kết với nhau
Ví dụ (3): Một anh học trò hỏi Thượng Đế:
- Ngài coi một triệu đô la là thế nào?
- Bằng một xu! – Thượng Đế trả lời
Câu trả lời của Thượng Đế đã tỉnh lược một bộ phận từ ngữ mà chúng
được nói đến ở câu đứng trước: (Ta coi) một triệu đô la bằng một xu (Phần in
nghiêng là bộ phận tỉnh lược)
(5) Phép đối: Phép đối là phương thức liên kết thể hiện ở việc trong câu sau
sử dụng những từ ngữ mang nghĩa đối lập với từ ngữ đã có ở câu đứng trước
Ví dụ (4): Nhà thơ gói tâm tình của tác giả trong thơ Người đọc mở thơ ra,
bỗng thấy tâm tình của chính mình [28]
Câu sau sử dụng từ “mở” là từ trái nghĩa với từ “gói” ở câu đứng trước.Hai câu này liên kết với nhau nhờ phép đối
(6) Phép nối: Khi hai hay nhiều câu nhờ quan hệ từ hoặc các từ ngữ có tácdụng chuyển tiếp mà liên kết được với nhau, ta gọi cách liên kết đó là phép nối
Ví dụ (5): Tôi mời lão hút trước Nhưng lão không nghe.
Hai câu liên kết với nhau nhờ từ “nhưng” Cách liên kết này là phép nối (7) Phép tuyến tính: Phép tuyến tính là phương thức liên kết thể hiện ởviệc sử dụng trật tự tuyến tính của các câu trong đoạn và / hoặc văn bản để liên kết các câu / đơn vị của văn bản
Ví dụ (6): Cô thèm quá rồi Cô không chịu nổi nữa Cô đánh liều Cô giấu
bà cụ, sắm một mẻ toàn những thứ tân thời [Truyện Cô Kếu tân thời, dẫn theo
Trần Ngọc Thêm]
Trang 3321 t n u e d u v n/
Số hóa bởi Trung tâm Học
liệu
Các câu trên phải sắp xếp theo trình tự như vậy mới phù hợp logich: thèm
– không chịu nổi – đánh liều – (giấu bà cụ) sắm đồ tân thời Suy nghĩ, hành
động của cô Kếu tân thời đều diễn biến phù hợp logich
Về các phép liên kết văn bản, xin xem Trần Ngọc Thêm, Hệ thống liên kết
văn bản tiếng Việt, Nxb KHXH, H.1983.
Cũng như các văn bản khác, văn bản báo cáo cũng sử dụng các phép liên kếtvừa nói trên Chỉ có điều, tần số sử dụng của các phép liên kết không giốngnhau trong kiểu văn bản này Chẳng hạn, phép đối, phép liên tưởng ít sử dụngtrong báo cáo, ngược lại, phép lặp, phép tỉnh lược lại là những phép liên kết cótần số sử dụng khá cao
1.1.1.4 Phân loại văn bản theo phong cách chức năng
Căn cứ vào đặc trưng phong cách sử dụng và đặc điểm ngôn ngữ, có thể
xếp văn bản thành các tiểu loại, như: Văn bản hành chính - công vụ, Văn bản
khoa học, Văn bản nghệ thuật, v.v…
Báo cáo là một trong những kiểu văn bản thuộc phong cách hành chính công vụ
-Về văn bản báo cáo, xin sẽ nói kỹ hơn ở mục 1.2
1.1.2 Văn bản mắc lỗi
1.1.2.1 Khái niệm văn bản mắc lỗi
Có thể nói, đến nay chưa thấy có một định nghĩa khái quát về văn bản mắclỗi Tuy nhiên đã có khá nhiều công trình bàn về các kiểu lỗi trong văn bản.Luận văn này tạm thời xếp những văn bản sau vào loại văn bản mắc lỗi:
Thứ nhất, văn bản không đảm bảo những đặc trưng cần và đủ của văn bản,
như: không có sự liên kết, không thống nhất và trọn vẹn về nội dung và khônghoàn chỉnh về hình thức
Thứ hai, văn bản sử dụng sai các phương tiện ngôn ngữ, như: viết sai
chính tả, dùng từ không đúng, viết câu mắc lỗi, v.v…
Ngoài ra, mỗi văn bản có những lỗi đặc thù Chẳng hạn, văn bản báo cáo
sẽ có qui định về thể thức riêng, như phải có Quốc hiệu ghi trên đầu văn bản
Trang 34mà ở văn bản nghị luận hay văn bản miêu tả không có những qui định như vậy.
Theo đó, văn bản báo cáo sẽ có loại lỗi về thể thức ghi Quốc hiệu, còn văn bản
miêu tả hay nghị luận lại không có loại lỗi này
Xin nói thêm, lỗi văn bản khá đa dạng về kiểu loại Với khuôn khổ củamột luận văn Thạc sĩ, công trình này giới hạn phạm vi nghiên cứu ở một sốkiểu lỗi thường gặp (xem mục 1.1.2.2.)
1.1.2.2 Một số kiểu lỗi văn bản thường gặp
a) Lỗi về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản
- Lỗi thể thức:
Ngoài qui định chung, mỗi kiểu văn bản có thể có qui định riêng về thểthức Văn bản nào vi phạm qui định về thể thức, cũng tức là mắc kiểu lỗi này.Chẳng hạn, viết một văn bản báo cáo hay biên bản mà viết thiếu Quốc hiệu làvăn bản mắc lỗi thể thức Ngược lại, một lá thư gửi cho bạn, một bài văn tườngthuật một trận giao hữu bóng chuyền mà lại viết Quốc hiệu ở đầu trang thì lạikhông ổn, là mắc lỗi
- Lỗi kỹ thuật trình bày:
Kỹ thuật trình bày văn bản bao gồm những qui định “về khổ giấy, kiểutrình bày, định lề trang văn bản, vị trí trình bày các thành phần thể thức, phôngchữ, cỡ chữ, kiểu chữ và các chi tiết trình bày khác, được áp dụng đối với vănbản soạn thảo trên máy vi tính và in ra giấy; văn bản được soạn thảo bằng cácphương pháp hay phương tiện kỹ thuật khác hoặc văn bản được làm trên giấymẫu in sẵn ” [8; tr.1] Cũng như qui định về thể thức, mỗi văn bản có qui địnhriêng về kỹ thuật trình bày văn bản Chẳng hạn:
+ Cỡ chữ khi viết Quốc hiệu trong một văn bản hành chính - công vụ được
qui định rất rõ trong Thông tư số 01/2011/TT-BNV Hướng dẫn thể thức và kỹ
thuật trình bày văn bản hành chính : “Dòng thứ nhất: “CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM ” được trình bày bằng chữ in hoa, cỡ chữ từ 12 đến 13,
kiểu chữ đứng, đậm
Trang 3523 t n u e d u v n/
Số hóa bởi Trung tâm Học
liệu
Dòng thứ hai: “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” được trình bày bằng chữ
in thường, cỡ chữ từ 13 đến 14 (nếu dòng thứ nhất cỡ chữ 12 thì dòng thứ hai
cỡ chữ 13; nếu dòng thứ nhất cỡ chữ 13 thì dòng thứ hai cỡ chữ 14), kiểu chữđứng, đậm; được đặt canh giữa dưới dòng thứ nhất; chữ cái đầu của các cụm từđược viết hoa, giữa các cụm từ có gạch nối, có cách chữ; phía dưới có đường
kẻ ngang, nét liền, có độ dài bằng độ dài của dòng chữ, sử dụng lệnh Draw,không dùng lệnh Underline” [8; tr.3]
+ Về vị trí Quốc hiệu, Thông tư này cũng chỉ rõ: “Quốc hiệu được trìnhbày ở ô số 1; chiếm khoảng ½ trang giấy theo chiều ngang, ở phía trên, bênphải” [8; tr.3]
Trên đây chỉ là một ví dụ nhỏ về qui định thể thức và kỹ thuật trình bàythể thức trong văn bản hành chính Dễ dàng nhận thấy, các qui định này khá rõràng và chi tiết Người soạn thảo văn bản phải tuân thủ tất cả những qui định đómột cách nghiêm ngặt, chuẩn xác, nếu không muốn sản phẩm của mình mắc lỗi
b) Lỗi sử dụng các phương tiện ngôn ngữ
Khó có thể liệt kê hết các lỗi sử dụng các phương tiện ngôn ngữ trongvăn bản Luận văn này chỉ khảo sát và nghiên cứu một số kiểu lỗi thường gặpdưới đây:
- Lỗi chính tả:
Chữ viết là do con người tạo ra Vậy nên chữ viết là qui ước “Qui tắc
chính tả là những qui tắc về sự chuẩn mực trong chữ viết” [17; tr 84].
Chữ viết là qui ước nên chuẩn mực chính tả cũng là qui ước Chữ Việt làthứ chữ ghi âm, khi nói mỗi tiếng là một âm tiết Mỗi âm tiết tiếng Việt ở dạng
đầy đủ gồm năm thành tố: Âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối và thanh điệu.
Do đó, những qui tắc chính tả là những qui tắc liên quan đến năm thành tố này.
Tiếng Việt qui định có chữ viết thường, có chữ viết hoa, có chữ viết
tắt Như vậy, viết thường, viết hoa hay viết tắt cũng liên quan đến chuẩn
mực chính tả
Trang 36Lỗi chính tả là kiểu lỗi người soạn thảo văn bản đã không tuân thủ đúngqui định của chính tả tiếng Việt, cho dù qui định đó có thể còn chưa thật sựkhoa học.
Như đã nói, lỗi chính tả khá đa dạng, hơn nữa, hiện nay vẫn còn có chỗchưa thống nhất về quan niệm sai - đúng chính tả Luận văn này giới hạn khảo
sát lỗi chính tả thường gặp vào hai loại: 1) Lỗi viết hoa và 2) Lỗi sử dụng sai
chữ viết ghi âm vị Chúng tôi theo quan điểm của GS TS Nguyễn Đức Dân về
qui tắc chính tả và lỗi chính tả [17, tr.83 -114]
+ Lỗi viết hoa:
Tiếng Việt có những qui định về viết hoa chữ cái đầu của âm tiết Hiệnnay, qui tắc viết hoa cũng còn nhiều ý kiến, nhưng các nhà nghiên cứu cơ bảnthống nhất qui tắc viết hoa ở một số điểm sau:
Sau dấu ngắt câu thì phải viết hoa chữ cái đầu của âm tiết đứng liền dấu câu
Viết hoa chữ cái đầu của các âm tiết là danh từ riêng (tên người, tên tổchức, tên địa danh,…), ví dụ: Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Trường Đại học Sư phạmThái Nguyên, hay tỉnh Tuyên Quang,…
Viết hoa những danh từ chung được dùng như danh từ riêng, ví dụ: Bác
Hồ là vị cha già của dân tộc Việt Nam Không một người dân Việt Nam nào lại
không biết đến công lao to lớn của Người.
+ Lỗi viết sai kí hiệu âm vị:
Tiếng Việt có 53 âm vị đảm nhiệm chức năng cấu tạo âm tiết tiếng Việt.Trong số 53 âm vị này, có 22 âm vị phụ âm đầu, 16 âm vị nguyên âm, 3 âm vịbán âm (1 âm vị bán âm làm âm đệm và 2 âm vị bán âm làm âm cuối), 6 âm vịphụ âm cuối, 6 âm vị siêu đoạn tính (6 thanh điệu)
Mỗi âm vị có thể có một hoặc hơn một hình thức thể hiện trên chữ viết
(Về sự thể hiện trên chữ viết của các âm vị, xin xem: Đoàn Thiện Thuật, Ngữ
âm tiếng Việt, Nxb ĐH&THCN, H.1997) Cách thể hiện trên chữ viết của các
âm vị tiếng Việt hiện nay tương đối ổn định Về nguyên tắc, khi viết, mọi
Trang 37Chẳng hạn, muốn viết “n” (no đói) mà viết nhầm thành “l” (lo đói) là mắclỗi chính tả Tương tự, viết thanh ngã thành thanh hỏi, kiểu như: „sữa bò‟ viếtthành „sửa bò‟ cũng là mắc lỗi chính tả.
- Lỗi dùng từ:
Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ được dùng để tạo câu Mỗi từ có đặcđiểm riêng Trong giao tiếp hoặc tạo lập văn bản, dùng từ không đúng với đặcđiểm ngữ âm, ngữ nghĩa hay khả năng kết hợp, không đúng hoàn cảnh sử dụngcủa chúng sẽ bị coi là mắc lỗi dùng từ, cũng tức là dùng từ sai
Thực tế sử dụng ngôn ngữ cho thấy lỗi dùng từ khá đa dạng Dưới đây làmột số lỗi dùng từ thường gặp:
+ Lỗi dùng từ sai hình thức ngữ âm
Mỗi từ có một hình thức ngữ âm nhất định, từ dùng không đúng với hìnhthức ngữ âm vốn có của nó sẽ bị xếp vào kiểu lỗi dùng từ sai vỏ ngữ âm
Ví dụ (8): - Họ đã đi xâm nhập thực tế từ tháng trước.
- Hai lớp đã sát nhập vào thành một lớp.
- Cái làng nhỏ nơi Tràng sinh sống lúc bấy giờ cũng đang
đứng trước cơn hoạn loạn khủng khiếp của trận đói.
Trong các ví dụ vừa dẫn, từ “xâm nhập” phải thay bằng từ “thâm nhập”,
từ “sát nhập” phải thay bằng từ “sáp nhập” và từ “hoạn loạn” phải sửa thành
“hoạn nạn”
+ Lỗi dùng từ không đúng nghĩa
Có nhiều lí do khiến người viết dùng từ không đúng nghĩa Có thể ngườiviết đã không hiểu nghĩa của từ một cách chính xác hoặc do nhầm lẫn giữa hai
từ gần giống nhau về vỏ ngữ âm
Trang 38Ví dụ (9): - Anh ấy luôn bàng quang với thời cuộc.
- Nam Cao đã xây dựng thành công hình ảnh của người
nông dân trước cách mạng
- Nhiều người dân trong thành phố sử dụng phế thải không
hợp lý như tự tiện vất rác ra ao hồ [Dẫn theo 30, tr 233].
Trong ba ví dụ vừa dẫn, từ “bàng quang” phải thay bằng từ “bàng quan”,còn từ “hình ảnh” phải thay bằng từ “hình tượng” Ở ví dụ ba có bốn từ dùng sai(in nghiêng) Ba từ: “sử dụng” „sử dụng‟, “hợp lý”, “tự tiện” là những từ dùngsai về nghĩa, còn từ “phế thải” là từ dùng sai khả năng kết hợp
+ Lỗi dùng từ không đúng với khả năng kết hợp
Có rất nhiều từ bản thân chúng đã tiềm ẩn một khả năng kết hợp với các
từ khác Nhiều khi do không nắm được khả năng kết hợp này mà người viết đãdùng từ không đúng
Ví dụ (10): - Đa phần công nhân và những người lao động chân chính đều
rất nghèo
- Hình tượng anh bộ đội trong truyện rất đặc sắc với những phẩm
chất cao quí và tốt đẹp của nhân văn.
“Đa phần” là một kết hợp sai “Đa” là một yếu tố Hán Việt, còn “phần” làyếu tố thuần Việt Chỉ có thể nói “đa số”, “đa ngôn”, “phần đông”, “phầnnhiều” chứ không nói “đa phần” như vừa dẫn
Ở ví dụ sau, “nhân văn” là một tính từ với nghĩa “thuộc về văn hóa củaloài người” Tính từ này không kết hợp với từ “của” Cần sửa lại lỗi dùng từnày bằng cách chuyển từ “nhân văn” lên trước từ “cao quí” và bỏ từ “của”:
Hình tượng anh bộ đội trong truyện rất đặc sắc với những phẩm chất nhân văn cao quí và tốt đẹp.
Trang 3926 t n u e d u v n/
Số hóa bởi Trung tâm Học
liệu
Tương tự, từ “phế thải” ở ví dụ (9) là một động từ không thể làm bổ ngữ
cho động từ “sử dụng” Phải thêm từ “chất” đứng trước: …sử dụng chất phế
thải…
Trang 40+ Lỗi dùng từ không phù hợp phong cách
Dùng từ không phù hợp phong cách nghĩa là chọn từ không phù hợp hoàncảnh giao tiếp, không phù hợp với văn cảnh hoặc thể loại văn bản
Ví dụ (11): - Lời nhận xét ấy có đúng không? Đúng quá đi chứ! Nào, bạn hãy cùng tôi đi phân tích tác phẩm để hiểu rõ vấn đề [Dẫn theo 30, tr 234].
- Họ đã tìm chất thay thế máu khi phải mổ xẻ.
- Chúng tôi xin phiền, các anh ở Sở, giải quyết ngay cho vấn đề nói trên.
Bộ phận in nghiêng trong hai ví dụ dẫn trên là những từ ngữ dùng saiphong cách
Ví dụ (12): - Có thể nói Chí Phèo có thể trở thành người lương thiện nếu
xã hội Chí Phèo sống là một xã hội khác không giống xã hội Chí Phèo.
- Xấp xỉ gần một nghìn dân thì có một di tích.
- Trong công cuộc xây dựng, kiến thiết nước nhà, ngành xây
dựng giữ một vai trò hết sức quan trọng
Trong ví dụ đầu, lỗi lặp từ được thể hiện ở việc nhiều từ lặp lại không cầnthiết bởi chúng có thể thay bằng những từ khác
Ở hai ví dụ sau, lỗi lặp từ do dùng những từ cùng hoặc tương đương
nghĩa trong một câu, dẫn tới hiện tượng dư thừa nghĩa ( xấp xỉ/gần, kiến
thiết/xây dựng).
- Lỗi về câu
+ Khái niệm câu mắc lỗi (câu sai): Tác giả Nguyễn Đức Dân quan niệmcâu sai khá rộng Theo GS, câu sai bao gồm 6 kiểu: