1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số kiểu lỗi thường gặp trong văn bản báo cáo tiếng việt

163 151 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 163
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đứng từ góc độ người viết báo cáo, chúng tôi cũng ý thức được tầm quantrọng của văn bản báo cáo và cái khó khăn của những người viết báo cáo.Muốn viết được một văn bản báo cáo tốt, người

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM –––––––––––––––––––––––

NGUYỄN QUỐC THÁI

MỘT SỐ KIỂU LỖI THƯỜNG GẶP TRONG

VĂN BẢN BÁO CÁO TIẾNG VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2014

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu h t t p ://www.lrc-t n u e d u v n/

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN QUỐC THÁI

MỘT SỐ KIỂU LỖI THƯỜNG GẶP TRONG

VĂN BẢN BÁO CÁO TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam

Mã số 60.22.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐÀO THỊ VÂN

THÁI NGUYÊN - 2014

:

Trang 3

i t n u e d u v n/

Số hóa bởi Trung tâm Học

liệu

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệukhảo sát, điều tra, kết luận trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố ởbất kì công trình nào khác

Tác giả

Nguyễn Quốc Thái

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đào Thị Vân, người

đã tận tình giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo những người đã trực tiếp giúp tác giả nâng cao vốn kiến thức ngôn ngữ trongthời gian theo học chương trình thạc sĩ ngôn ngữ khóa 2012 – 2014 tại trườngĐại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên; cảm ơn các cơ quan, đơn vị và một

-số địa phương đã cung cấp nhiều thông tin và tư liệu quý giá cho luận văn

Sau cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, đồng nghiệp và các họcviên Cao học Ngôn ngữ K20 đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

Trang 5

3 h t t p

://www.lrc-t n u e d u v n/

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

12 4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 13

5 Phương pháp nghiên cứu 14

6 Cấu trúc của luận văn 15

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 16

1.1 Khái quát về văn bản và văn bản mắc lỗi

16 1.1.1 Sơ lược về văn bản 16

1.1.2 Văn bản mắc lỗi 21

1.2 Khái quát về văn bản hành chính - công vụ và văn bản báo cáo 30

1.2.1 Sơ lược về loại văn bản hành chính - công vụ 30

1.2.2 Sơ lược về kiểu văn bản báo cáo 32

1.2.3 Vài nét về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính 35

1.3 Tiểu kết 36

Chương 2: PHÂN LOẠI VÀ MIÊU TẢ CÁC KIỂU LỖI TRONG VĂN BẢN BÁO CÁO TIẾNG VIỆT 38

2.1 Kết quả khảo sát các lỗi trong văn bản báo cáo tiếng Việt 38

2.1.1 Nhận xét chung 38

2.1.2 Bảng tổng kết các loại lỗi trong văn bản báo cáo đã thống kê 40

Trang 6

2.2 Miêu tả các kiểu lỗi trong văn bản báo cáo tiếng Việt 41

Trang 7

t n u e d u v n/

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu iv 2.2.1 Lỗi thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản báo cáo 41

2.2.2 Lỗi sử dụng phương tiện ngôn ngữ 65

2.3 Tiểu kết 79

Chương 3: NGUYÊN NHÂN VÀ HƯỚNG KHẮC PHỤC LỖI TRONG VĂN BẢN BÁO CÁO TIẾNG VIỆT 80

3.1 Nguyên nhân mắc lỗi trong văn bản báo cáo tiếng Việt 80

3.1.1 Nguyên nhân chủ quan 80

3.1.2 Nguyên nhân khách quan 83

3.2 Vấn đề sửa và khắc phục lỗi trong văn bản báo cáo tiếng Việt 90

3.2.1 Vấn đề sửa lỗi trong văn bản báo cáo tiếng Việt 91

3.2.2 Hướng khắc phục lỗi 94

3.3 Tiểu kết 95

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ NGỮ LIỆU THỐNG KÊ 99 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN

Bảng 2.1: Bảng tổng hợp các loại văn bản báo cáo được chọn làm ngữ liệu

khảo sát 38

Bảng 2.2: Bảng tổng hợp số lỗi đã thống kê trong văn bản báo cáo 40

Bảng 2.3: Bảng tổng kết số lỗi/ các văn bản báo cáo được phân loại theo chủ thể ban hành 40

Bảng 2.4: Bảng tổng kết lỗi thể thức và kỹ thuật trình bày 42

Bảng 2.5: Bảng tổng kết số lỗi thể thức và lỗi kĩ thuật trình bày theo chủ thể ban hành báo cáo 42

Bảng 2.6: Lỗi thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản phân loại theo chủ thể ban hành báo cáo 43

Bảng 2.7: Bảng tổng kết lỗi thể thức trong văn bản báo cáo đã khảo sát 44

Bảng 2.8: Bảng tổng kết loại lỗi thể thức tính theo kiểu văn bản báo cáo 44

Bảng 2.9: Báo cáo mắc lỗi thể thức được phân loại theo chủ thể ban hành 45

Bảng 2.10: Bảng tổng kết lỗi thể thức theo các kiểu báo cáo và theo 10 thành phần thể thức và chủ thể ban hành báo cáo

45 Bảng 2.11: Bảng tổng kết lỗi kỹ thuật trình bày trong văn bản BC đã khảo sát 52

Bảng 2.12: Bảng tổng kết loại lỗi kỹ thuật trình bày theo kiểu văn bản BC 53

Bảng 2.13: Báo cáo mắc lỗi kỹ thuật trình bày được phân loại theo chủ thể ban hành 53

Bảng 2.14: Bảng tổng kết lỗi kỹ thuật trình bày văn bản theo 10 thành phần thể thức và chủ thể ban hành báo cáo 54

Bảng 2.15: So sánh kỹ thuật định lề trang, đánh số trang, số phụ lục của văn bản báo cáo khối đảng và khối quản lý nhà nước 64

Bảng 2.16: Bảng tổng hợp lỗi sử dụng phương tiện ngôn ngữ trong BC 66 Bảng 2.17: Bảng tổng kết lỗi chính tả trong các báo cáo được phân loại

Trang 9

iv t n u e d u v n/

Số hóa bởi Trung tâm Học

liệu

theo cấp ban hành 66

Trang 10

Bảng 2.18: Bảng tổng kết các kiểu lỗi về từ theo kiểu văn bản và chủ thể

ban hành 69Bảng 2.19: Số lượng câu mắc lỗi chia theo kiểu báo cáo và tỉ lệ % tính theo

số câu mắc lỗi 72Bảng 2.20: Bảng tổng kết số lượng câu mắc lỗi trong các loại văn bản báo

cáo phân loại theo chủ thể ban hành 72Bảng 2.21: Bảng tổng kết số lượng câu mắc lỗi trong các văn bản báo cáo

phân loại theo kiểu câu mắc lỗi 78Bảng 3.1: Những điểm khác nhau cơ bản trong trình bày thể thức văn bản

của Đảng và văn bản quản lý Nhà nước 85

Trang 11

Báo cáo là một kiểu văn bản được dùng thường xuyên trong các đơn vị

hành chính và trong đời sống hàng ngày Tuy là một loại văn bản có vị trí kháquan trọng trong giao tiếp nhưng các ý kiến về cách viết một văn bản báo cáovẫn còn có chỗ chưa thực sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu

Thực tế khảo sát 400 văn bản báo cáo ở một số cấp, ngành, đơn vị và địaphương cho thấy có khá nhiều văn bản báo cáo mắc lỗi Những lỗi này rất đadạng: đó có thể là lỗi về thể thức văn bản và kĩ thuật trình bày; cũng có thể làlỗi sử dụng các phương tiện ngôn ngữ, như lỗi sử dụng các yếu tố ngữ âm, lỗidùng từ hay lỗi đặt câu, v.v

Theo điều tra bước đầu của chúng tôi, đến nay chưa thấy có một công trìnhnghiên cứu nào dành riêng cho việc tìm hiểu tình hình mắc lỗi trong văn bảnbáo cáo một cách kĩ lưỡng và bài bản, mặc dù như đã nói, đây là một kiểu vănbản quen thuộc và được dùng thường xuyên trong giao tiếp hành chính

1.2 Lí do chủ quan

Là người làm việc tại Ban Tuyên giáo của một tỉnh, chúng tôi thườngxuyên được nhận văn bản báo cáo cũng như thường xuyên phải viết báo cáo.Đứng từ góc độ người nhận báo cáo, chúng tôi thấy tình trạng văn bản báocáo mắc lỗi, đặc biệt là lỗi sử dụng ngôn ngữ nhiều khi đã gây ra những cáchhiểu văn bản khác nhau cho người tiếp nhận báo cáo

Đứng từ góc độ người viết báo cáo, chúng tôi cũng ý thức được tầm quantrọng của văn bản báo cáo và cái khó khăn của những người viết báo cáo.Muốn viết được một văn bản báo cáo tốt, người viết không những phải nắmđược thể thức cũng như kỹ thuật trình bày nội dung mà còn phải biết sử dụng

các phương tiện ngôn ngữ sao cho đúng, cho hay Bởi vậy, chọn đề tài “Một số

kiểu lỗi thường gặp trong văn bản báo cáo tiếng Việt” để nghiên cứu, người

Trang 12

viết hy vọng luận văn có thể làm tư liệu tham khảo cho những ai muốn nghiêncứu hay viết báo cáo, giúp họ tránh được những lỗi không đáng có trong sửdụng ngôn ngữ khi tạo lập kiểu văn bản này.

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Tình hình nghiên cứu văn bản báo cáo

Có thể nói, đến nay đã có khá nhiều tài liệu bàn về cách viết văn bản, vấn

đề qui chuẩn một số văn bản hành chính - công vụ nói chung và văn bản báocáo nói riêng Khó có thể liệt kê hết các công trình nghiên cứu này Dưới đây làmột số tài liệu và công trình nghiên cứu tiêu biểu về văn bản hành chính - công

vụ, trong đó có văn bản báo cáo, từ những năm 1982 trở lại đây:

(1) Thông tư 02/BT, ngày 11 tháng 01 năm 1982 của Bộ trưởng - Tổng

Thư ký Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về “Hướng dẫn việc xây dựng

và ban hành văn bản” Thông tư này đã đề cập tới nguyên tắc xây dựng và ban

hành văn bản Thông tư nêu rõ: “… cơ quan ban hành văn bản phải theo đúng

thẩm quyền của mình Các văn bản của cơ quan Nhà nước ở các ngành, các cấp ban hành đều phải căn cứ vào Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh và các văn bản của cấp trên Hình thức văn bản phải theo đúng quy định của pháp luật; từ ngữ, cách viết cũng phải theo đúng từ ngữ, cách viết văn bản Nhà nước…”.

Qui định về viết văn bản báo cáo cũng không nằm ngoài những qui định vớicác văn bản khác được nói đến ở đây

(2) Quyết định (sau đây viết tắt là QĐ) số 31-QĐ/TW, ngày 01 tháng 10

năm 1997 của Ban Chấp hành Trung ương về việc “Ban hành qui định về thể

loại, thẩm quyền ban hành và thể thức văn bản của Đảng”.

Ngoài việc trình bày những qui định chung về hệ thống văn bản, các cấpban hành văn bản, ngôn ngữ viết văn bản hay những qui định sửa đổi, bổ sung,bãi bỏ văn bản, QĐ này còn giới thiệu 23 thể loại văn bản của Đảng, trong đó

có báo cáo

Về thể thức văn bản, “Quyết định ban hành qui định về thể loại, thẩm

quyền ban hành và thể thức văn bản của Đảng” qui định rất rõ thể thức chung

Trang 13

(3) Qui định số 251-QĐ/TW, ngày 31 tháng 7 năm 2009 của Ban Bí thư

“Qui định về chế độ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư” đã trình bày ba chương

với ba nội dung lớn :

+ Chương 1, Qui định chung: Chương này gồm ba điều: 1) Đối tượng

điều chỉnh, 2) Thể loại và yêu cầu báo cáo, 3) Hình thức báo cáo, thẩm quyền

ký báo cáo và thời hạn báo cáo

+ Chương 2, Nội dung báo cáo: Chương này gồm 4 điều: 1) Báo cáo

chung, 2) Báo cáo quí, báo cáo sơ kết 6 tháng và báo cáo tổng kết năm, 3) Báocáo chuyên đề, 4) Báo cáo đột xuất và các báo cáo khác

+ Chương 3, Tổ chức thực hiện: Chương này gồm 2 điều: 1) Trách nhiệm

thực hiện, 2) Hiệu lực thi hành

Quy định này là một trong những tài liệu quan trọng mà người viết các vănbản hành chính - công vụ, trong đó có báo cáo cần tìm hiểu kỹ

(4) Nghị định số 110/2004/NĐ-CP, ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính

phủ “về công tác văn thư”, Nghị định này gồm 6 chương nêu những điều khoản

về công tác văn thư Trong đó, chương II là chương qui định cụ thể về hìnhthức văn bản, các thành phần thể thức và cách soạn thảo các văn bản thuộcphong cách hành chính – công vụ Theo Nghị định này, thể thức văn bản hànhchính - công vụ được qui định cụ thể căn cứ vào từng loại văn bản (Nghị địnhchia thành 4 loại): văn bản quy phạm pháp luật, thể thức văn bản chuyênngành, thể thức văn bản của tổ chức chính trị - xã hội, văn bản trao đổi với cơquan, tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài được thực hiện theo thông lệ quốc tế.(Xin xem điều 5, chương II của Nghị định)

Trang 14

(5) Hướng dẫn số 11-HD/VPTW, ngày 28 tháng 5 năm 2004 của Văn

phòng Trung ương Đảng “về thể thức văn bản của Đảng” đã trình bày rất chi

tiết 8 thành phần thể thức bắt buộc và 3 thành phần thể thức bổ sung (xem mục

I và II) của các văn bản hành chính – công vụ, trong đó có báo cáo

Cũng trong tài liệu hướng dẫn này, 5 yêu cầu về kỹ thuật trình bày văn bảncủa Đảng được qui định rất rõ và có ví dụ minh họa hoặc mẫu kèm theo

Hướng dẫn này cơ bản không có gì khác với những tài liệu dẫn trên về quiđịnh thể thức văn bản Sự khác nhau ở đây có lẽ chỉ là ở mức độ chi tiết nhữngqui định về kỹ thuật trình bày

(6) Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP, ngày 06 tháng 5

năm 2005 của Bộ Nội vụ và Văn phòng Chính phủ “Hướng dẫn về thể thức và

kỹ thuật trình bày văn bản” là một trong những tài liệu trình bày khá chi tiết về

thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản

Về thể thức văn bản, Thông tư này nêu ra 10 thành phần thể thức bắt buộc

và 5 thành phần thể thức khác Mỗi thành phần thể thức được tài liệu chi tiếthóa và làm rõ bằng những lời giải thích hoặc có ví dụ minh họa

Về kỹ thuật trình bày, Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP

“Hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản” gồm hai nội dung lớn:

1) Qui định về: khổ giấy, kiểu trình bày, định dạng lề và 2) Cách trình bày các thành phần thể thức nói trên

Có thể coi Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP “Hướng dẫn

về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản” là một tài liệu tham khảo hữu ích khi

soạn thảo văn bản hành chính - công vụ nói chung và văn bản báo cáo nói riêng.(7) Thông tư số 01/2011/TT-BNV, ngày 19 tháng 01 năm 2011 của Bộ

Nội vụ “Hướng dẫn thể thức và kĩ thuật trình bày văn bản hành chính” cũng

đã trình bày tương đối kĩ những qui định về thể thức, kĩ thuật trình bày văn bảnhành chính (Thông tư đã nêu 15 điều qui định về soạn thảo văn bản hành chínhnói chung Xin xem từ trang 1 đến trang 17) Ngoài ra, trong Thông tư này còn

Trang 15

06 tháng 5 năm 2005 của Bộ Nội vụ và Văn phòng Chính phủ hướng dẫn thểthức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính trái với Thông tư này bị bãi bỏ.(8) Nghị định số 110/2004/NĐ-CP, ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính

phủ “về công tác văn thư” có quy định hình thức, thể thức văn bản của tổ chức

chính trị, chính trị - xã hội do người đứng đầu cơ quan Trung ương của tổ chức

đó quy định Chúng tôi đã khảo sát qui định về thể thức văn bản của một số tổchức chính trị - xã hội, cụ thể như sau:

- Hướng dẫn số 29-HD/TWĐTN-VP, ngày 29 tháng 10 năm 2013 của

Ban Bí thư Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh về “thể thức văn bản của

Đoàn TNCS Hồ Chí Minh” có qui định văn bản chính thức của Đoàn bắt buộc

phải có đủ 8 thành phần thể thức và tùy theo nội dung và tính chất có thể có cácthành phần thể thức bổ sung như: dấu chỉ mức độ mật; dấu chỉ mức độ khẩn;các chỉ dẫn về phạm vi phổ biến, giao dịch, bản thảo và tài liệu hội nghị Nhưvậy thể thức văn bản của Đoàn về cơ bản giống thể thức văn bản của Đảng

- Quy định về thể loại văn bản, thể thức và thẩm quyền ban hành các loạivăn bản của tổ chức Công đoàn ban hành kèm theo Quyết định số 1013/QĐ-TLĐ, ngày 19 tháng 8 năm 2011 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đãliệt kê 22 thể loại văn bản và một số loại giấy tờ hành chính khác Về thể thức,văn bản này qui định văn bản của tổ chức Công đoàn các cấp có 8 thành phầnthể thức và tùy theo nội dung và tính chất có thể có các thành phần thể thức bổsung Qui định này không khác nhiều so với Hướng dẫn số 11-HD/VPTW,

ngày 28 tháng 5 năm 2004 của Văn phòng Trung ương Đảng “Hướng dẫn về

thể thức văn bản của Đảng”.

- Tương tự như trên, Hướng dẫn số 15-HD/VP, ngày 24 tháng 01 năm

2011 của Văn phòng Trung ương Hội Nông dân Việt Nam cũng liệt kê 8 thành

Trang 16

phần thể thức bắt buộc và 3 thành phần thể thức bổ sung áp dụng với hệ thống văn bản của Hội Nông dân Việt Nam.

(9) Ngoài các tài liệu thuộc cấp Trung ương ban hành vừa dẫn, nhữngcông trình của cá nhân dưới đây cũng cần được nhắc đến:

- Cuốn “Soạn thảo, ban hành và quản lý văn bản quản lý nhà nước” của

Tạ Hữu Ánh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, H 1999;

- Cuốn “Hướng dẫn soạn thảo văn bản quản lý hành chính nhà nước” của

Lưu Kiếm Thanh, Nhà xuất bản Thống kê, H 2000;

- Cuốn “Kỹ năng và ngôn ngữ soạn thảo văn bản quản lý nhà nước” của

Bùi Khắc Việt, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, H 1997;

- Cuốn “Soạn thảo và xử lý văn bản quản lý nhà nước” của Nguyễn Văn

Thâm (tái bản lần thứ tư), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, H 2006,…

Điểm chung của tất cả các tài liệu này là đã giới thiệu và phân loại đượcmột hệ thống văn bản quản lý hành chính nhà nước Đặc biệt, hầu hết các công

trình đều có mục “Hướng dẫn soạn thảo văn bản hành chính nhà nước”, trong

đó có khá nhiều loại văn bản và hầu như không có công trình nào ở đây không

nhắc đến báo cáo Trong mục “Hướng dẫn soạn thảo văn bản hành chính nhà

nước” này đều nêu những qui định về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản

một cách rõ ràng,

(10) “Giáo trình kỹ thuật soạn thảo văn bản quản lý kinh tế và quản trị kinh

doanh”, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân, H 2008 của TS Nguyễn Thế

Phán là giáo trình dùng nội bộ của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Ngoài những vấn đề chung về văn bản, như khái niệm, chức năng và phân

loại văn bản, Giáo trình kỹ thuật soạn thảo văn bản quản lý kinh tế và quản trị

kinh doanh của TS Nguyễn Thế Phán đã dành phần nội dung cơ bản cho việc

hướng dẫn cách soạn thảo một văn bản hành chính – công vụ; riêng văn bảnbáo cáo đã chiếm gần 6 trang

Bàn về soạn thảo báo cáo, Giáo trình kỹ thuật soạn thảo văn bản quản lý

kinh tế và quản trị kinh doanh đã nêu các thành phần thể thức và những qui

Trang 17

7 t n u e d u v n/

Số hóa bởi Trung tâm Học

liệu

định về kỹ thuật trình bày văn bản báo cáo Theo đó, 10 thành phần bắt buộc và

1 thành phần bổ sung được hướng dẫn cách viết khá kỹ

Cũng như các tài liệu nói trên, cuốn giáo trình này chưa nói đến vấn đềmắc lỗi trong báo cáo

(11) Cuốn “Soạn thảo và ban hành văn bản của cơ quan nhà nước”, Nhà

xuất bản Lao động, H 2008 của tác giả Tạ Hữu Ánh là tài liệu trình bày tươngđối tỉ mỷ về các loại văn bản hành chính - công vụ thường gặp

Cuốn sách đã nêu được những vấn đề chung về văn bản, như: Văn bản là

gì, khái niệm văn bản quản lí nhà nước, khái niệm văn bản hành chính Ýnghĩa, tác dụng của văn bản, phân loại văn bản theo hình thức, thẩm quyền của

cơ quan, tổ chức ban hành hình thức văn bản Theo đó, bốn kiểu văn bản được

tác giả bàn khá kĩ trong công trình này bao gồm: Văn bản qui phạm, văn bản

hành chính, văn bản chuyên ngành và văn bản của tổ chức chính trị - xã hội.

Báo cáo là một trong số 23 kiểu văn bản hành chính được cuốn sách nhắc

đến Tác giả quan niệm: “Báo cáo là một hình thức văn bản dùng để gửi cho

cấp trên để tường trình hoặc xin ý kiến về một hoặc một số vấn đề, vụ việc nhất định; để sơ kết, tổng kết công tác của một cơ quan, một tổ chức; để trình bày một vấn đề, một sự việc hoặc một đề tài trước hội nghị hoặc trước một người hay một cơ quan có trách nhiệm theo chế độ đã qui định”.

Ngoài việc nêu khái niệm, cuốn sách của tác giả Tạ Hữu Ánh còn phânloại báo cáo thành nhiều kiểu theo chức năng và nhiệm vụ của chúng Theo tácgiả, một văn bản báo cáo muốn có chất lượng phải đảm bảo ba yêu cầu cơ bản:1) Trung thực, chính xác, 2) Thông tin phải đầy đủ, có chọn lọc, có tính tổnghợp và 3) Kịp thời

Trong chương VIII, tác giả dành riêng cho việc hướng dẫn cách soạn thảomột số loại văn bản hành chính, bao gồm cả văn bản báo cáo

Mười thành phần thể thức của văn bản báo cáo được trình bày ở đây cũngkhông có gì đặc biệt, chỉ có điều chúng được minh họa bằng các mẫu cụ thểnên người đọc có thể dựa vào đó khi soạn báo cáo Ngoài ra, tác giả còn nói rõrằng, viết báo cáo nên theo ba bước: công tác chuẩn bị, viết đề cương, viết nội

Trang 18

dung báo cáo Thiết nghĩ, ba bước này tuy không phải là lý thuyết mới nhưngcũng không phải là cũ, bởi đó là những bước người soạn thảo văn bản cần làm

để tránh lỗi không đáng có

Những qui định về sử dụng ngôn ngữ, cách thức trình bày một văn bảnbáo cáo cũng được trình bày khá chi tiết trong công trình này Và cũng như cáctài liệu khác, cuốn sách này chưa bàn về những lỗi thường gặp trong báo cáo

(12) Văn bản “Qui định về thể thức, kỹ thuật trình bày và mẫu các loại

văn bản của Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh” (Ban hành

kèm theo Quyết định số 436/QĐ-ĐHCN ngày 06 tháng 6 năm 2012 của Hiệutrưởng Trường Đại học Công nghiệp Tp Hồ Chí Minh), cũng đã đưa ra một sốqui định về thể thức văn bản và kỹ thuật trình bày văn bản, trên cơ sở phân loạivăn bản hành chính thành 21 loại

Tóm lại, tất cả các tài liệu và công trình nghiên cứu tiêu biểu bàn về soạnthảo văn bản hành chính - công vụ, trong đó có báo cáo dẫn trên đều mới chỉ đềcập đến những nội dung khái quát chung về văn bản hành chính – công vụ,như: khái niệm văn bản hành chính - công vụ; phân loại văn bản hành chính –công vụ; thẩm quyền của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản; hiệu lực vànguyên tắc ứng dụng văn bản; giám sát, kiểm tra văn bản trái pháp luật; thểthức và kỹ thuật trình bày văn bản; trình tự soạn thảo, ban hành văn bản… màchưa có một công trình nào khảo sát và bàn đến lỗi cũng như nguyên nhân,cách sửa các kiểu lỗi thường gặp trong các văn bản hành chính - công vụ nóichung, trong văn bản báo cáo nói riêng

2.2 Tình hình nghiên cứu về các kiểu lỗi văn bản và lỗi thường gặp trong văn bản báo cáo

2.2.1 Tình hình nghiên cứu về các kiểu lỗi văn

bản

Có thể nói ngay rằng, đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu bàn

về các kiểu lỗi văn bản nói chung, bao gồm cả văn bản báo cáo Dưới đây làmột số công trình tiêu biểu:

Trang 19

9 h t t p

://www.lrc-t n u e d u v n/

Số hóa bởi Trung tâm Học

liệu

(1) Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên), Nguyễn Văn Hiệp, Tiếng Việt thực

hành, Nxb ĐHQG, H.1997: Trong công trình nghiên cứu này, các tác giả không

nói cụ thể thế nào là một văn bản mắc lỗi, song theo các tác giả, để tạo lập đượcmột văn bản tốt, ngoài những kỹ năng khác, người viết cần phải có kỹ năngphát hiện và chữa các lỗi về chính tả, dùng từ, viết câu và viết đoạn văn

- Lỗi chính tả gồm những lỗi, như: viết sai qui tắc viết hoa, viết sai kí tựghi âm các âm vị, phiên âm tiếng nước ngoài, v.v…

- Lỗi dùng từ bao gồm những lỗi như: dùng từ sai vỏ âm thanh, dùng từ sai

do không hiểu nghĩa, dùng từ không đúng khả năng kết hợp của từ, dùng từthừa, dùng từ không đúng phong cách, v.v…

- Lỗi về câu bao gồm những lỗi như: lỗi cấu tạo câu, lỗi sử dụng dấu câu ,lỗi về ngữ nghĩa, v.v…

- Lỗi về đoạn văn gồm những kiểu lỗi tiêu biểu, như: đoạn văn thiếu ý,đoạn văn lặp ý, đoạn văn mâu thuẫn ý, đoạn văn sử dụng phương tiện liên kếtsai, v.v…

Theo đó, văn bản nào mắc những lỗi trên sẽ bị xếp vào loại văn bản mắc lỗi

(2) Nguyễn Đức Dân, (2002), Giáo trình tiếng Việt thực hành, Nxb ĐHQG

Tp HCM: Cũng như các tác giả vừa dẫn ở (1), tác giả Nguyễn Đức Dân quantâm đến vấn đề sử dụng chuẩn các phương tiện ngôn ngữ, đặc biệt là kỹ năngviết câu khi tạo lập văn bản, bất kể đó là kiểu văn bản thuộc phong cách nào

Tác giả chỉ rõ, “Nếu không lưu ý tới ngôn từ, ai cũng có thể viết ra những

câu sai, câu vô nghĩa, thậm chí những câu trái ngược với ý nghĩ, quan điểm của mình” (Giáo trình tiếng Việt thực hành, Nxb ĐHQG Tp HCM, 2002; tr.3) Trên

tinh thần đó, tác giả đã đưa ra một vài nhận xét về tình hình sử dụng ngôn ngữhiện nay trong giao tiếp hàng ngày cũng như trong tạo lập văn bản viết, trước hết

là vấn đề viết câu sai

Theo tác giả, câu sai là những câu mắc lỗi về nhiều phương diện, như: saichính tả, sai ngữ pháp, sai từ ngữ, sai lôgích, sai phong cách, sai tri thức, …

Trang 20

Ngoài việc nêu quan điểm về “câu sai” và các loại câu sai, tác giả Nguyễn Đức

Dân còn

Trang 21

11 h t t p

://www.lrc-t n u e d u v n/

Số hóa bởi Trung tâm Học

liệu

nhấn mạnh rằng “nhìn nhận một hiện tượng sai không đơn giản”, “bởi có câu,

với người này thì là sai nhưng người khác lại thấy là đúng”.

Tác giả nói thêm: “… đứng trước một hiện tượng sai, lại có thể có cách

nhìn khác nhau” và “mỗi loại câu sai có những nguyên nhân đặc thù”, “do đó tùy cách nhìn và từng nguyên nhân mắc lỗi mà có cách sửa lỗi cho phù hợp”

[17; tr23]

Như vậy, cách hiểu về câu sai của tác giả Nguyễn Đức Dân khá rộng Đây

là lỗi tổng hợp tương đương với 3 kiểu lỗi: lỗi chính tả, lỗi từ ngữ và lỗi câu màhai tác giả nói ở (1) quan niệm Ngoài ra, khi nói về lỗi câu, GS.TS NguyễnĐức Dân còn thêm một kiểu lỗi mà hai tác giả dẫn trên không bàn đến, đó làkiểu câu mơ hồ

Như vậy, để tạo lập được một văn bản đúng và hay, người viết trước hết cầntránh những lỗi về câu như GS.TS Nguyễn Đức Dân đã nêu

(3) Bài báo với nhan đề “Giật mình vì lỗi sơ đẳng trong văn bản hành chính”

(Theo Thanh Quí – Tuấn Anh) , to as o a n @n g uo i d u at in v n , ngày 05-7-2013.Các tác giả của bài viết này đã bày tỏ sự lo ngại về tình trạng mắc lỗi trongkiểu văn bản hành chính - công vụ Bài báo đã dựa vào kết quả điều tra củaViện Công nghệ Thông tin về thực trạng mắc lỗi chính tả trong văn bản tiếng

Việt và kết luận lỗi chính tả trong văn bản ở một số ban ngành “đã ở mức báo

động, vượt quá cao với tiêu chuẩn” Tác giả nêu rõ, tình trạng văn bản mắc lỗi

không chỉ thấy ở những văn bản do cấp địa phương ban hành mà ngay cả ở

những văn bản của “… các cơ quan thuộc Bộ cũng có tỷ lệ lỗi chính tả khá cao.

Đặc biệt, có đơn vị có tỷ lệ mắc lỗi gần 40% như Cục Vệ sinh an toàn thực phẩm…”.

Bài báo này còn bình luận: “ Ý tưởng ngô nghê, ngôn từ phản cảm, thậm

chí là quá mức đời thường đang xuất hiện ngày một nhiều trong các công thư nhân danh cơ quan nhà nước, tổ chức nghề nghiệp… khiến tính trang nghiêm

và chuẩn mực vốn có của văn bản này bị ảnh hưởng nghiêm trọng…”.

Trang 22

Như vậy, vấn đề văn bản mắc lỗi không phải là vấn đề xa lạ với chúng ta.Chỉ có điều nó chưa được quan tâm một cách đúng mức để tìm ra những giảipháp hạn

Trang 23

2.2.2 Tình hình nghiên cứu về lỗi trong các văn bản báo cáo

Như đã nói ở mục Lí do chọn đề tài, đến nay chưa có một công trình nghiêncứu nào dành riêng cho việc nghiên cứu lỗi trong văn bản báo cáo một cáchcông phu, bài bản Tuy vậy, về vấn đề này cũng có một vài bài báo với tư cách

“tản văn”, xin dẫn hai bài báo:

(1) Bài “Giật mình vì ông chủ tịch”, đăng tải trên

Lỗi của văn bản báo cáo này là đã đưa ra những “lưu ý hết sức ngô nghê”,

như: “… ngoài ra cũng cần phải lưu ý đến các mối quan hệ: Thái Bình là quê

của một Phó Thủ tướng, một Bộ trưởng, hai Thứ trưởng,… nên cân nhắc việc giảm tải ở bến xe…”.

Ngoài ra, bài báo này còn dẫn một số báo cáo mắc lỗi khác và cuối cùng

kết luận bằng việc đưa ra lời bàn: “Trong việc ban hành văn bản, đặc biệt là văn

bản hành chính, bao gồm cả báo cáo, vấp lỗi về ngôn từ, nội dung diễn đạt không còn xa lạ…”.

(2) Bài báo mang nhan đề: “Kỹ năng viết báo cáo”,

(Congchuc-vienchuc.com/…/ky-nang-viet-bao-cao(2014).html), ngoài các nội dung cơbản, như: Ý nghĩa của viết báo cáo, các loại báo cáo, yêu cầu của báo cáo, cácyếu tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo, các bước viết báo cáo, … bài báo

còn trình bày sơ lược về “Các lỗi thường gặp trong báo cáo”, cụ thể đó là ba

kiểu lỗi sau đây:

- Thứ nhất: Lỗi trình bày bản báo cáo Lỗi trình bày gồm 4 kiểu nhỏ:

+ Lỗi đánh số;

Trang 24

+ Lỗi hình ảnh, bảng biểu và công thức trong báo cáo;

+ Lỗi sử dụng dấu câu và khoảng trắng;

+ Ý không rõ ràng, ý trước mâu thuẫn với ý sau

- Thứ ba: Lỗi nội dung Các lỗi thường gặp là:

+ Không nêu bật được những vấn đề trọng tâm;

+ Nêu những vấn đề nội dung ít liên quan đến tiêu đề của báo cáo

Tóm lại, thực trạng viết những văn bản hành chính nói chung, văn bản báocáo nói riêng mắc lỗi đang ở mức “báo động” Hiện tượng soạn thảo văn bảnmắc lỗi không chỉ gặp ở cấp địa phương mà còn gặp ở cả cấp Trung ương

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những kiểu lỗi thường gặp trong vănbản báo cáo tiếng Việt

- Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chính phủ; của một số

Bộ, Ban, ngành và cơ quan ở Trung ương (như: Bộ Giáo dục và Đào tạo, BộCông Thương, Uỷ ban Dân tộc, Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban Tổ chứcTrung ương, Ban Dân vận Trung ương, Trung tâm Thông tin công tác Tuyêngiáo Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ

Trang 25

- Báo cáo của cơ quan Đảng, chính quyền cấp huyện thuộc các tỉnh,thành phố: Thái Nguyên, Bắc Kạn, Thừa Thiên – Huế, Hải Dương, thành phố

- Báo cáo của UBND các xã, thị trấn thuộc huyện Võ Nhai (Thái Nguyên)

- Báo cáo của các trường học trong hệ thống giáo dục quốc dân từ mầmnon đến đại học thuộc các tỉnh, thành phố: Hải Phòng, Thái Nguyên, ThừaThiên – Huế, Sơn La, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Dương, Thanh Hoá

3.2.2 Về nội dung nghiên cứu: Luận văn giới hạn phạm vi nội dung nghiên

cứu ở hai kiểu lỗi thường gặp trong văn bản báo cáo, đó là: 1) Lỗi thể thức và

kỹ thuật trình bày văn bản, và 2) Lỗi sử dụng các phương tiện ngôn ngữ.

Trên cơ sở khảo sát, phân tích các lỗi, luận văn tìm nguyên nhân mắc lỗi

và đề xuất hướng sửa lỗi

4 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, ngoài mục đích làm rõ thực trạng mắc lỗi trong vănbản báo cáo đã được ban hành ở một số đơn vị hành chính, luận văn còn muốnchỉ ra nguyên nhân mắc lỗi và đề xuất hướng khắc phục Theo đó, luận văn cóthể làm tài liệu tham khảo để góp phần giúp người viết báo cáo tránh đượcnhững lỗi không mong muốn

Trang 26

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nói trên, luận văn sẽ phải thực hiện một số nhiệm

vụ chính sau đây:

- Nghiên cứu và khái quát một số vấn đề lí thuyết liên quan được dùng làm

cơ sở lí luận cho đề tài;

- Thống kê và phân loại lỗi của các văn bản báo cáo đã chọn làm ngữ liệutheo các tiêu chí định trước;

- Phân tích, miêu tả các kiểu lỗi văn bản báo cáo đã thống kê và tổng kếtkết quả nghiên cứu;

- Phân tích nguyên nhân mắc lỗi và đề xuất hướng sửa lỗi

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ đặt ra, luận văn sẽ sử dụng một số phương phápnghiên cứu chủ yếu sau đây:

- Phương pháp thống kê, phân loại: Phương pháp nghiên cứu này được

dùng để thống kê lỗi trong các văn bản báo cáo chọn làm ngữ liệu khảo sát Saukhi đã có số liệu lỗi chính xác, luận văn dùng phương pháp phân loại để chiacác lỗi đã thống kê thành các nhóm theo các tiêu chí

- Phương pháp miêu tả: Sau khi phân loại các lỗi thành từng nhóm, luận

văn tiếp tục sử dụng phương pháp nghiên cứu này để miêu tả từng kiểu lỗi,nhằm làm rõ đặc điểm của chúng

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp nghiên cứu này vừa

được dùng để phân tích các kiểu lỗi trong quá trình miêu tả chúng, vừa đượcdùng để phân tích nguyên nhân mắc lỗi của người viết văn bản Sau khi đãphân tích các lỗi và nguyên nhân mắc lỗi, luận văn dùng phương pháp tổng hợp

để khái quát hóa kết quả nghiên cứu

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Phương pháp nghiên cứu này trước hết

được dùng để so sánh tần số xuất hiện của các kiểu lỗi trên các kiểu văn bảnbáo cáo, xem loại lỗi nào người viết thường mắc và loại lỗi nào người viết ít

Trang 27

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Thư mục tài liệu tham khảo và

ngữ liệu thống kê, luận văn gồm ba chương:

- Chương 1: Cơ sở lí luận

- Chương 2: Khảo sát, phân loại và miêu tả lỗi trong văn bản báo cáo tiếng Việt

- Chương 3: Nguyên nhân và hướng khác phục lỗi trong văn bản báo cáo tiếng Việt

Trang 28

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN1.1 Khái quát về văn bản và văn bản mắc lỗi

1.1.1 Sơ lược về văn bản

1.1.1.1 Khái niệm văn bản

Đến nay đã có khá nhiều định nghĩa về văn bản của các tác giả trong vàngoài nước Ở nước ngoài có thể kể đến định nghĩa của W Koch hay của M.Halliday Ở Việt Nam có thể kể đến định nghĩa của tác giả Trần Ngọc Thêm,của đồng tác giả Đình Cao và Lê A, định nghĩa của tác giả Bùi Minh Toán.Định nghĩa của W Koch: “ Văn bản được hiểu ở bậc điển thể là phát ngônbất kì có kết thúc và có tính liên kết, có tính độc lập và đúng về ngữ pháp” [23]Tác giả M Halliday quan niệm văn bản “ …là một đơn vị ngữ nghĩa: Mộtđơn vị không phải của hình thức mà là của ý nghĩa” (M Halliday, 1976)

Tác giả Trần Ngọc Thêm định nghĩa văn bản như sau: “Văn bản là một hệ

thống mà trong đó các câu mới chỉ là phần tử Ngoài các câu – phần tử, trong

hệ thống văn bản còn có cấu trúc Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung Sự liên kết là mạng lưới của những mối quan hệ và liên hệ ấy” [28]

Nhà Việt ngữ học Bùi Minh Toán lại đưa ra một cách hiểu về văn bản:

“ Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, chủ yếu ở dạng viết, thường là tập hợp của các câu, có tính trọn vẹn về nội dung, tính hoàn chỉnh về hình thức, tính liên kết chặt chẽ và hướng tới một mục đích giao tiếp nhất định” [31]

Hai tác giả Đình Cao và Lê A định nghĩa văn bản từ góc nhìn của mônLàm văn như sau:

“ Văn bản là một hệ thống gồm một chuỗi câu được sắp xếp theo hình tuyến

và có tổ chức chặt chẽ Trong đó mỗi câu là một đơn vị liên kết của văn bản.

Trang 29

1.1.1.2 Đặc trưng của văn bản

Có thể nói, văn bản có nhiều đặc trưng song ba đặc trưng dưới đây là ba đặc trưng cơ bản nhất:

a) Tính liên kết

Liên kết là đặc trưng cần thiết và quan trọng nhất của văn bản Văn bảnkhông thể thiếu tính liên kết Đây là đặc trưng quan trọng để phân biệt văn bản

và chuỗi phát ngôn phi văn bản

Theo tác giả Phan Mậu Cảnh, “Liên kết là mạng lưới các mối quan hệ về

nội dung giữa các thành tố trong văn bản được thể hiện qua những hình thức liên kết nhất định, đồng thời là mối quan hệ giữa văn bản và những nhân tố ngoài văn bản thể hiện qua những dấu hiệu nhất định” [Dẫn theo 28].

Định nghĩa văn bản của tác giả Trần Ngọc Thêm đã hàm chứa khái niệm

liên kết văn bản Tác giả đã chỉ rõ: “…Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của

mỗi câu và những mối quan hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung” [28]

Trang 30

Như vậy, nói đến liên kết văn bản là nói đến liên kết hướng nội và liên kếthướng ngoại của văn bản:

Mạng lưới những mối liên hệ và quan hệ giữa các đơn vị của văn bản(câu, đoạn, phần,…) gọi là liên kết nội tại của văn bản

Mạng lưới những mối quan hệ và liên hệ giữa văn bản này với văn bảnkhác gọi là liên kết hướng ngoại của văn bản

b) Tính thống nhất và hoàn chỉnh về nội dung

Tính thống nhất của văn bản thể hiện ở hai điểm sau đây:

- Các đơn vị của văn bản thường xoay quanh một chủ đề chung Vì thế, ta

có thể đặt được đầu đề cho văn bản Tuy nhiên, có những văn bản không mangđặc điểm này, tức văn bản không có sự thống nhất về nội dung, ví dụ, bài hátđồng dao sau đây là văn bản thiếu sự thống nhất về nội dung:

- Dù dài hay ngắn, văn bản luôn trình bày một vấn đề đầy đủ, trọn vẹn

hoặc tương đối đầy đủ, tương đối trọn vẹn Khái niệm “đầy đủ, trọn vẹn” hay

“tương đối đầy đủ, tương đối trọn vẹn” ở đây hiểu theo nghĩa “đã nói thì nói

cho trọn ý, đừng nói dở chừng”, kiểu như: “Hồ Xuân Hương đã hai lần gặp tình duyên trắc trở, một lần với Tổng Cóc.” là cách nói chưa “đầy đủ, chưa trọn vẹn” Muốn sửa lỗi này, ta có hai cách: hoặc bỏ vế “hai lần gặp tình duyên trắc trở”, hoặc viết thêm cho trọn ý: “…, một lần với Tổng Cóc”.

c) Tính hoàn chỉnh về hình thức

Tính hoàn chỉnh về hình thức của văn bản cũng thể hiện ở hai điểm:

- Thứ nhất là không cần phải thêm hoặc bớt từ hay câu nào vào trước câuđầu và sau câu cuối của văn bản

Trang 31

1.1.1.3 Các phương thức liên kết văn bản

Cách thức sử dụng các phương tiện ngôn ngữ để liên kết các đơn vị của

văn bản hay văn bản này với văn bản khác gọi phương thức liên kết văn bản (có người gọi là phép liên kết văn bản).

Theo nhiều nhà Việt ngữ học, có 7 cách liên kết văn bản, đó là: Phép lặp,

phép đối, phép thế, phép tỉnh lược, phép liên tưởng, phép nối và phép tuyến tính.

(1) Phép lặp: Khi dùng đi dùng lại nhiều lần trong văn bản một phươngtiện ngôn ngữ nào đó nhằm mục đích tạo sự liên kết, ta gọi cách liên kết đó làphép lặp

Cần phân biệt phép lặp là một phương thức liên kết và lỗi lặp Chẳng hạn,khi lặp lại một từ nào đó nhiều lần nhưng không có tác dụng liên kết văn bản

Ví dụ (1): Một chiếc mũ len xanh nếu chị sinh con gái Chiếc mũ sẽ đỏ

tươi nếu chị đẻ con trai [28].

(3) Phép liên tưởng: Phép liên tưởng là phương thức liên kết thể hiện ởviệc sử dụng trong các câu những từ ngữ có cùng trường nghĩa nhưng khôngchứa nét nghĩa đối lập

Chẳng hạn, có ba câu, trong đó một câu chứa từ “gà”, một câu chứa từ

“ngan”, một câu chứa từ “ngỗng” ta nói ba câu này liên kết với nhau nhờ sửdụng phép liên tưởng, vì ba từ này cùng nằm trong một trường chỉ gia cầm

Trang 32

Ví dụ (2): Gà lên chuồng từ lúc nãy Hai bác ngan cũng đã ì ạch về chuồng

rồi Chỉ duy có hai chú ngỗng vẫn tha thẩn đứng giữa sân [28]

(4) Phép tỉnh lược: Phép tỉnh lược là một phương thức liên kết thể hiện ởviệc lược bỏ trong câu sau những từ ngữ đã xuất hiện ở câu đứng trước Đểhiểu được nghĩa ở câu sau, phải liên hệ với câu đứng trước Quá trình liên hệnày đã làm cho các câu liên kết với nhau

Ví dụ (3): Một anh học trò hỏi Thượng Đế:

- Ngài coi một triệu đô la là thế nào?

- Bằng một xu! – Thượng Đế trả lời

Câu trả lời của Thượng Đế đã tỉnh lược một bộ phận từ ngữ mà chúng

được nói đến ở câu đứng trước: (Ta coi) một triệu đô la bằng một xu (Phần in

nghiêng là bộ phận tỉnh lược)

(5) Phép đối: Phép đối là phương thức liên kết thể hiện ở việc trong câu sau

sử dụng những từ ngữ mang nghĩa đối lập với từ ngữ đã có ở câu đứng trước

Ví dụ (4): Nhà thơ gói tâm tình của tác giả trong thơ Người đọc mở thơ ra,

bỗng thấy tâm tình của chính mình [28]

Câu sau sử dụng từ “mở” là từ trái nghĩa với từ “gói” ở câu đứng trước.Hai câu này liên kết với nhau nhờ phép đối

(6) Phép nối: Khi hai hay nhiều câu nhờ quan hệ từ hoặc các từ ngữ có tácdụng chuyển tiếp mà liên kết được với nhau, ta gọi cách liên kết đó là phép nối

Ví dụ (5): Tôi mời lão hút trước Nhưng lão không nghe.

Hai câu liên kết với nhau nhờ từ “nhưng” Cách liên kết này là phép nối (7) Phép tuyến tính: Phép tuyến tính là phương thức liên kết thể hiện ởviệc sử dụng trật tự tuyến tính của các câu trong đoạn và / hoặc văn bản để liên kết các câu / đơn vị của văn bản

Ví dụ (6): Cô thèm quá rồi Cô không chịu nổi nữa Cô đánh liều Cô giấu

bà cụ, sắm một mẻ toàn những thứ tân thời [Truyện Cô Kếu tân thời, dẫn theo

Trần Ngọc Thêm]

Trang 33

21 t n u e d u v n/

Số hóa bởi Trung tâm Học

liệu

Các câu trên phải sắp xếp theo trình tự như vậy mới phù hợp logich: thèm

– không chịu nổi – đánh liều – (giấu bà cụ) sắm đồ tân thời Suy nghĩ, hành

động của cô Kếu tân thời đều diễn biến phù hợp logich

Về các phép liên kết văn bản, xin xem Trần Ngọc Thêm, Hệ thống liên kết

văn bản tiếng Việt, Nxb KHXH, H.1983.

Cũng như các văn bản khác, văn bản báo cáo cũng sử dụng các phép liên kếtvừa nói trên Chỉ có điều, tần số sử dụng của các phép liên kết không giốngnhau trong kiểu văn bản này Chẳng hạn, phép đối, phép liên tưởng ít sử dụngtrong báo cáo, ngược lại, phép lặp, phép tỉnh lược lại là những phép liên kết cótần số sử dụng khá cao

1.1.1.4 Phân loại văn bản theo phong cách chức năng

Căn cứ vào đặc trưng phong cách sử dụng và đặc điểm ngôn ngữ, có thể

xếp văn bản thành các tiểu loại, như: Văn bản hành chính - công vụ, Văn bản

khoa học, Văn bản nghệ thuật, v.v…

Báo cáo là một trong những kiểu văn bản thuộc phong cách hành chính công vụ

-Về văn bản báo cáo, xin sẽ nói kỹ hơn ở mục 1.2

1.1.2 Văn bản mắc lỗi

1.1.2.1 Khái niệm văn bản mắc lỗi

Có thể nói, đến nay chưa thấy có một định nghĩa khái quát về văn bản mắclỗi Tuy nhiên đã có khá nhiều công trình bàn về các kiểu lỗi trong văn bản.Luận văn này tạm thời xếp những văn bản sau vào loại văn bản mắc lỗi:

Thứ nhất, văn bản không đảm bảo những đặc trưng cần và đủ của văn bản,

như: không có sự liên kết, không thống nhất và trọn vẹn về nội dung và khônghoàn chỉnh về hình thức

Thứ hai, văn bản sử dụng sai các phương tiện ngôn ngữ, như: viết sai

chính tả, dùng từ không đúng, viết câu mắc lỗi, v.v…

Ngoài ra, mỗi văn bản có những lỗi đặc thù Chẳng hạn, văn bản báo cáo

sẽ có qui định về thể thức riêng, như phải có Quốc hiệu ghi trên đầu văn bản

Trang 34

mà ở văn bản nghị luận hay văn bản miêu tả không có những qui định như vậy.

Theo đó, văn bản báo cáo sẽ có loại lỗi về thể thức ghi Quốc hiệu, còn văn bản

miêu tả hay nghị luận lại không có loại lỗi này

Xin nói thêm, lỗi văn bản khá đa dạng về kiểu loại Với khuôn khổ củamột luận văn Thạc sĩ, công trình này giới hạn phạm vi nghiên cứu ở một sốkiểu lỗi thường gặp (xem mục 1.1.2.2.)

1.1.2.2 Một số kiểu lỗi văn bản thường gặp

a) Lỗi về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản

- Lỗi thể thức:

Ngoài qui định chung, mỗi kiểu văn bản có thể có qui định riêng về thểthức Văn bản nào vi phạm qui định về thể thức, cũng tức là mắc kiểu lỗi này.Chẳng hạn, viết một văn bản báo cáo hay biên bản mà viết thiếu Quốc hiệu làvăn bản mắc lỗi thể thức Ngược lại, một lá thư gửi cho bạn, một bài văn tườngthuật một trận giao hữu bóng chuyền mà lại viết Quốc hiệu ở đầu trang thì lạikhông ổn, là mắc lỗi

- Lỗi kỹ thuật trình bày:

Kỹ thuật trình bày văn bản bao gồm những qui định “về khổ giấy, kiểutrình bày, định lề trang văn bản, vị trí trình bày các thành phần thể thức, phôngchữ, cỡ chữ, kiểu chữ và các chi tiết trình bày khác, được áp dụng đối với vănbản soạn thảo trên máy vi tính và in ra giấy; văn bản được soạn thảo bằng cácphương pháp hay phương tiện kỹ thuật khác hoặc văn bản được làm trên giấymẫu in sẵn ” [8; tr.1] Cũng như qui định về thể thức, mỗi văn bản có qui địnhriêng về kỹ thuật trình bày văn bản Chẳng hạn:

+ Cỡ chữ khi viết Quốc hiệu trong một văn bản hành chính - công vụ được

qui định rất rõ trong Thông tư số 01/2011/TT-BNV Hướng dẫn thể thức và kỹ

thuật trình bày văn bản hành chính : “Dòng thứ nhất: “CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM ” được trình bày bằng chữ in hoa, cỡ chữ từ 12 đến 13,

kiểu chữ đứng, đậm

Trang 35

23 t n u e d u v n/

Số hóa bởi Trung tâm Học

liệu

Dòng thứ hai: “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” được trình bày bằng chữ

in thường, cỡ chữ từ 13 đến 14 (nếu dòng thứ nhất cỡ chữ 12 thì dòng thứ hai

cỡ chữ 13; nếu dòng thứ nhất cỡ chữ 13 thì dòng thứ hai cỡ chữ 14), kiểu chữđứng, đậm; được đặt canh giữa dưới dòng thứ nhất; chữ cái đầu của các cụm từđược viết hoa, giữa các cụm từ có gạch nối, có cách chữ; phía dưới có đường

kẻ ngang, nét liền, có độ dài bằng độ dài của dòng chữ, sử dụng lệnh Draw,không dùng lệnh Underline” [8; tr.3]

+ Về vị trí Quốc hiệu, Thông tư này cũng chỉ rõ: “Quốc hiệu được trìnhbày ở ô số 1; chiếm khoảng ½ trang giấy theo chiều ngang, ở phía trên, bênphải” [8; tr.3]

Trên đây chỉ là một ví dụ nhỏ về qui định thể thức và kỹ thuật trình bàythể thức trong văn bản hành chính Dễ dàng nhận thấy, các qui định này khá rõràng và chi tiết Người soạn thảo văn bản phải tuân thủ tất cả những qui định đómột cách nghiêm ngặt, chuẩn xác, nếu không muốn sản phẩm của mình mắc lỗi

b) Lỗi sử dụng các phương tiện ngôn ngữ

Khó có thể liệt kê hết các lỗi sử dụng các phương tiện ngôn ngữ trongvăn bản Luận văn này chỉ khảo sát và nghiên cứu một số kiểu lỗi thường gặpdưới đây:

- Lỗi chính tả:

Chữ viết là do con người tạo ra Vậy nên chữ viết là qui ước “Qui tắc

chính tả là những qui tắc về sự chuẩn mực trong chữ viết” [17; tr 84].

Chữ viết là qui ước nên chuẩn mực chính tả cũng là qui ước Chữ Việt làthứ chữ ghi âm, khi nói mỗi tiếng là một âm tiết Mỗi âm tiết tiếng Việt ở dạng

đầy đủ gồm năm thành tố: Âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối và thanh điệu.

Do đó, những qui tắc chính tả là những qui tắc liên quan đến năm thành tố này.

Tiếng Việt qui định có chữ viết thường, có chữ viết hoa, có chữ viết

tắt Như vậy, viết thường, viết hoa hay viết tắt cũng liên quan đến chuẩn

mực chính tả

Trang 36

Lỗi chính tả là kiểu lỗi người soạn thảo văn bản đã không tuân thủ đúngqui định của chính tả tiếng Việt, cho dù qui định đó có thể còn chưa thật sựkhoa học.

Như đã nói, lỗi chính tả khá đa dạng, hơn nữa, hiện nay vẫn còn có chỗchưa thống nhất về quan niệm sai - đúng chính tả Luận văn này giới hạn khảo

sát lỗi chính tả thường gặp vào hai loại: 1) Lỗi viết hoa và 2) Lỗi sử dụng sai

chữ viết ghi âm vị Chúng tôi theo quan điểm của GS TS Nguyễn Đức Dân về

qui tắc chính tả và lỗi chính tả [17, tr.83 -114]

+ Lỗi viết hoa:

Tiếng Việt có những qui định về viết hoa chữ cái đầu của âm tiết Hiệnnay, qui tắc viết hoa cũng còn nhiều ý kiến, nhưng các nhà nghiên cứu cơ bảnthống nhất qui tắc viết hoa ở một số điểm sau:

Sau dấu ngắt câu thì phải viết hoa chữ cái đầu của âm tiết đứng liền dấu câu

Viết hoa chữ cái đầu của các âm tiết là danh từ riêng (tên người, tên tổchức, tên địa danh,…), ví dụ: Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Trường Đại học Sư phạmThái Nguyên, hay tỉnh Tuyên Quang,…

Viết hoa những danh từ chung được dùng như danh từ riêng, ví dụ: Bác

Hồ là vị cha già của dân tộc Việt Nam Không một người dân Việt Nam nào lại

không biết đến công lao to lớn của Người.

+ Lỗi viết sai kí hiệu âm vị:

Tiếng Việt có 53 âm vị đảm nhiệm chức năng cấu tạo âm tiết tiếng Việt.Trong số 53 âm vị này, có 22 âm vị phụ âm đầu, 16 âm vị nguyên âm, 3 âm vịbán âm (1 âm vị bán âm làm âm đệm và 2 âm vị bán âm làm âm cuối), 6 âm vịphụ âm cuối, 6 âm vị siêu đoạn tính (6 thanh điệu)

Mỗi âm vị có thể có một hoặc hơn một hình thức thể hiện trên chữ viết

(Về sự thể hiện trên chữ viết của các âm vị, xin xem: Đoàn Thiện Thuật, Ngữ

âm tiếng Việt, Nxb ĐH&THCN, H.1997) Cách thể hiện trên chữ viết của các

âm vị tiếng Việt hiện nay tương đối ổn định Về nguyên tắc, khi viết, mọi

Trang 37

Chẳng hạn, muốn viết “n” (no đói) mà viết nhầm thành “l” (lo đói) là mắclỗi chính tả Tương tự, viết thanh ngã thành thanh hỏi, kiểu như: „sữa bò‟ viếtthành „sửa bò‟ cũng là mắc lỗi chính tả.

- Lỗi dùng từ:

Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ được dùng để tạo câu Mỗi từ có đặcđiểm riêng Trong giao tiếp hoặc tạo lập văn bản, dùng từ không đúng với đặcđiểm ngữ âm, ngữ nghĩa hay khả năng kết hợp, không đúng hoàn cảnh sử dụngcủa chúng sẽ bị coi là mắc lỗi dùng từ, cũng tức là dùng từ sai

Thực tế sử dụng ngôn ngữ cho thấy lỗi dùng từ khá đa dạng Dưới đây làmột số lỗi dùng từ thường gặp:

+ Lỗi dùng từ sai hình thức ngữ âm

Mỗi từ có một hình thức ngữ âm nhất định, từ dùng không đúng với hìnhthức ngữ âm vốn có của nó sẽ bị xếp vào kiểu lỗi dùng từ sai vỏ ngữ âm

Ví dụ (8): - Họ đã đi xâm nhập thực tế từ tháng trước.

- Hai lớp đã sát nhập vào thành một lớp.

- Cái làng nhỏ nơi Tràng sinh sống lúc bấy giờ cũng đang

đứng trước cơn hoạn loạn khủng khiếp của trận đói.

Trong các ví dụ vừa dẫn, từ “xâm nhập” phải thay bằng từ “thâm nhập”,

từ “sát nhập” phải thay bằng từ “sáp nhập” và từ “hoạn loạn” phải sửa thành

“hoạn nạn”

+ Lỗi dùng từ không đúng nghĩa

Có nhiều lí do khiến người viết dùng từ không đúng nghĩa Có thể ngườiviết đã không hiểu nghĩa của từ một cách chính xác hoặc do nhầm lẫn giữa hai

từ gần giống nhau về vỏ ngữ âm

Trang 38

Ví dụ (9): - Anh ấy luôn bàng quang với thời cuộc.

- Nam Cao đã xây dựng thành công hình ảnh của người

nông dân trước cách mạng

- Nhiều người dân trong thành phố sử dụng phế thải không

hợp lý như tự tiện vất rác ra ao hồ [Dẫn theo 30, tr 233].

Trong ba ví dụ vừa dẫn, từ “bàng quang” phải thay bằng từ “bàng quan”,còn từ “hình ảnh” phải thay bằng từ “hình tượng” Ở ví dụ ba có bốn từ dùng sai(in nghiêng) Ba từ: “sử dụng” „sử dụng‟, “hợp lý”, “tự tiện” là những từ dùngsai về nghĩa, còn từ “phế thải” là từ dùng sai khả năng kết hợp

+ Lỗi dùng từ không đúng với khả năng kết hợp

Có rất nhiều từ bản thân chúng đã tiềm ẩn một khả năng kết hợp với các

từ khác Nhiều khi do không nắm được khả năng kết hợp này mà người viết đãdùng từ không đúng

Ví dụ (10): - Đa phần công nhân và những người lao động chân chính đều

rất nghèo

- Hình tượng anh bộ đội trong truyện rất đặc sắc với những phẩm

chất cao quí và tốt đẹp của nhân văn.

“Đa phần” là một kết hợp sai “Đa” là một yếu tố Hán Việt, còn “phần” làyếu tố thuần Việt Chỉ có thể nói “đa số”, “đa ngôn”, “phần đông”, “phầnnhiều” chứ không nói “đa phần” như vừa dẫn

Ở ví dụ sau, “nhân văn” là một tính từ với nghĩa “thuộc về văn hóa củaloài người” Tính từ này không kết hợp với từ “của” Cần sửa lại lỗi dùng từnày bằng cách chuyển từ “nhân văn” lên trước từ “cao quí” và bỏ từ “của”:

Hình tượng anh bộ đội trong truyện rất đặc sắc với những phẩm chất nhân văn cao quí và tốt đẹp.

Trang 39

26 t n u e d u v n/

Số hóa bởi Trung tâm Học

liệu

Tương tự, từ “phế thải” ở ví dụ (9) là một động từ không thể làm bổ ngữ

cho động từ “sử dụng” Phải thêm từ “chất” đứng trước: …sử dụng chất phế

thải…

Trang 40

+ Lỗi dùng từ không phù hợp phong cách

Dùng từ không phù hợp phong cách nghĩa là chọn từ không phù hợp hoàncảnh giao tiếp, không phù hợp với văn cảnh hoặc thể loại văn bản

Ví dụ (11): - Lời nhận xét ấy có đúng không? Đúng quá đi chứ! Nào, bạn hãy cùng tôi đi phân tích tác phẩm để hiểu rõ vấn đề [Dẫn theo 30, tr 234].

- Họ đã tìm chất thay thế máu khi phải mổ xẻ.

- Chúng tôi xin phiền, các anh ở Sở, giải quyết ngay cho vấn đề nói trên.

Bộ phận in nghiêng trong hai ví dụ dẫn trên là những từ ngữ dùng saiphong cách

Ví dụ (12): - Có thể nói Chí Phèo có thể trở thành người lương thiện nếu

xã hội Chí Phèo sống là một xã hội khác không giống xã hội Chí Phèo.

- Xấp xỉ gần một nghìn dân thì có một di tích.

- Trong công cuộc xây dựng, kiến thiết nước nhà, ngành xây

dựng giữ một vai trò hết sức quan trọng

Trong ví dụ đầu, lỗi lặp từ được thể hiện ở việc nhiều từ lặp lại không cầnthiết bởi chúng có thể thay bằng những từ khác

Ở hai ví dụ sau, lỗi lặp từ do dùng những từ cùng hoặc tương đương

nghĩa trong một câu, dẫn tới hiện tượng dư thừa nghĩa ( xấp xỉ/gần, kiến

thiết/xây dựng).

- Lỗi về câu

+ Khái niệm câu mắc lỗi (câu sai): Tác giả Nguyễn Đức Dân quan niệmcâu sai khá rộng Theo GS, câu sai bao gồm 6 kiểu:

Ngày đăng: 12/02/2019, 12:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tạ Hữu Ánh (1999), Soạn thảo, ban hành và quản lý văn bản quản lý nhà nước, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Soạn thảo, ban hành và quản lý văn bản quản lý nhànước
Tác giả: Tạ Hữu Ánh
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1999
2. Tạ Hữu Ánh (2008), Soạn thảo và ban hành văn bản của cơ quan nhà nước, Nhà xuất bản Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Soạn thảo và ban hành văn bản của cơ quan nhà nước
Tác giả: Tạ Hữu Ánh
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động xã hội
Năm: 2008
3. Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (2007), Ngữ pháp tiếng Việt, tập Một, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2007
4. Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (2008) Ngữ pháp tiếng Việt, tập Hai, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
5. Ban Bí thư (2004), Quyết định 91-QĐ/TW, ngày 16/02/2004 của Ban Bí thư bổ sung thẩm quyền ban hành văn bản trong một số điều của “Quy định về thể loại, thẩm quyền ban hành và thể thức văn bản của Đảng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quy định vềthể loại, thẩm quyền ban hành và thể thức văn bản của Đảng
Tác giả: Ban Bí thư
Năm: 2004
6. Ban Bí thư (2009), Quy định số 251-QĐ/TW, ngày 31/7/2009 của Ban Bí thư “về chế độ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “về chế độ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư
Tác giả: Ban Bí thư
Năm: 2009
7. Ban Bí thư Trung ương Đoàn (2013), Hướng dẫn số 29-HD/TWĐTN-VP, ngày 29/10/2013 của Ban Bí thư Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh về“thể thức văn bản của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “thể thức văn bản của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đoàn
Năm: 2013
8. Bộ Nội vụ (2011), Thông tư 01/2011/TT-BNV ngày 19/01/2011 “Hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hướngdẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính
Tác giả: Bộ Nội vụ
Năm: 2011
11. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2003), “Quy định tạm thời về viết hoa tên riêng trong sách giáo khoa” ban hành theo Quyết định số 07/2003/QĐ-BGDĐT, ngày 13/3/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quy định tạm thời về viết hoa tên riêngtrong sách giáo khoa”
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2003
12. Bộ trưởng - Tổng Thư ký Hội đồng Bộ trưởng (1982), Thông tư 02/BT, ngày 11/01/1982 “Hướng dẫn việc ban hành văn bản”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư "02/BT,ngày 11/01/1982 “"Hướng dẫn việc ban hành văn bản
Tác giả: Bộ trưởng - Tổng Thư ký Hội đồng Bộ trưởng
Năm: 1982
16. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2008), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngônngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2008
17. Nguyễn Đức Dân, (2002), Giáo trình tiếng Việt thực hành, Nxb ĐHQG Tp HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tiếng Việt thực hành
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb ĐHQGTp HCM
Năm: 2002
18. Hữu Đạt (1999), Phong cách học tiếng Việt hiện đại, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoahọc xã hội
Năm: 1999
19. Đinh Văn Đức (1986), Ngữ pháp tiếng Việt, Nhà xuất bản Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học và trunghọc chuyên nghiệp
Năm: 1986
20. Ferdinand de Saussure (1973), Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngôn ngữ học đại cương
Tác giả: Ferdinand de Saussure
Nhà XB: Nhàxuất bản Khoa học xã hội
Năm: 1973
21. Nguyễn Thiện Giáp (1999), Từ vựng học tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1999
22. Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết (1997), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫnluận ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1997
24. Nguyễn Thế Phán (2008), “Giáo trình kỹ thuật soạn thảo văn bản quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh”, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kỹ thuật soạn thảo văn bản quản lýkinh tế và quản trị kinh doanh
Tác giả: Nguyễn Thế Phán
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2008
25. Hoàng Trọng Phiến (1980), Ngữ pháp tiếng Việt, Nhà xuất bản Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học vàtrung học chuyên nghiệp
Năm: 1980
26. Nguyễn Văn Thâm (2006), Soạn thảo và xử lý văn bản quản lý nhà nước, tái bản lần thứ tư, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Soạn thảo và xử lý văn bản quản lý nhà nước
Tác giả: Nguyễn Văn Thâm
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w