1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tín dụng trong chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn việt nam, chi nhánh ninh thuận

131 116 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Mục đích của nghiên cứu này là phân tích tín dụng trong chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận nhằm tìm ra những hạn chế của chuỗi giá trị, từ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGUYỄN THỊ TRÂM ANH

Chủ tịch Hội Đồng:

PGS.TS HỒ HUY TỰU Phòng Đào tạo Sau Đại học:

KHÁNH HÒA - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi – Nguyễn Thị Huyền xin cam đoan toàn bộ nội dung luận văn này là công trình nghiên cứu của bản thân tôi

Mọi tài liệu, số liệu dùng cho phân tích, tính toán và dẫn chứng trong luận văn thạc sĩ của tôi là chính xác, trung thực, hợp lệ và không vi phạm pháp luật

Các số liệu, tư liệu thu thập được sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực

Nội dung của luận văn chưa được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu tương tự nào

Tôi thực hiện nội dung luận văn này dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Trâm Anh

Nguyễn Thị Huyền

Trang 4

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo cùng các đồng nghiệp làm việc tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Ninh Thuận, đã giúp đỡ phối hợp tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Nguyễn Thị Huyền

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC CÁC BẢNG ix

DANH MỤC CÁC HÌNH x

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ VÀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP 4

1.1 Chuỗi giá trị 4

1.1.1 Khái niệm 4

1.1.2 Phân biệt chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng 4

1.1.3 Mô hình chuỗi giá trị của Michael Poster 5

1.1.4 Chuỗi giá trị trong sản xuất nông nghiệp 6

1.2 Tín dụng ngân hàng trong chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp 13

1.2.1 Khái niệm về tín dụng 13

1.2.2 Tín dụng ngân hàng trong phát triển chuỗi giá trị nông sản 13

1.2.3 Các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài 17

1.2.4 Bài học kinh nghiệm của các nước về tín dụng trong chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp 19

1.2.5 Một số mô hình liên kết điển hình ở Việt Nam 23

1.2.6 Mô hình nghiên cứu đề xuất 24

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÍN DỤNG TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ CHĂN NUÔI GIA SÚC TẠI NGÂN HÀNG AGRIBANK TỈNH NINH THUẬN 27

2.1 Tổng quan về tỉnh Ninh Thuận 27

2.1.1 Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp 27

Trang 6

2.1.2 Thực trạng sản xuất một số cây trồng chính trên địa bàn tỉnh 27

2.1.3 Thực trạng ngành chăn nuôi tỉnh Ninh Thuận 29

2.2 Hoạt động tín dụng ngân hàng trong lĩnh vực nông nghiệp tại tỉnh Ninh Thuận 31

2.2.1 Tổng quan về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh tỉnh Ninh Thuận 33

2.2.2 Thực trạng tín dụng tại ngân hàng Agribank tỉnh Ninh Thuận đến 31/12/2017 37

2.2.3 Phân loại nhóm nợ, nợ xấu (tỉ lệ nợ xấu), thu hồi nợ đã XLRR và nợ đã bán VAMC 37

2.2.4 Đánh giá công tác tín dụng 38

2.3 Cho vay theo chuỗi liên kết giá trị tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh tỉnh Ninh Thuận 40

2.3.1 Cho vay theo chuỗi giá trị là gì? 40

2.3.2 Phân tích chuỗi giá trị chăn nuôi heo tại Ninh Thuận (đã có liên kết chuỗi) 43

2.3.3 Các hoạt động của Agribank tỉnh Ninh Thuận trong chuỗi giá trị chăn nuôi heo tại Ninh Thuận 50

2.3.4 Phân tích chuỗi giá trị chăn nuôi bò tại Ninh Thuận (hiện chưa có liên kết) 52

2.3.5 Các hoạt động Agribank Ninh Thuận trong chuỗi giá trị chăn nuôi bò tại Ninh Thuận 57

2.4 Một số hạn chế về thực trạng cho vay theo chuỗi giá trị 58

2.4.1 Hạn chế về phía nhà nông 58

2.4.2 Hạn chế về phía nhà buôn, nhà doanh nghiệp (Các đơn vị cung cấp, tiêu thụ) 60

2.4.3 Hạn chế về phía nhà nước (chính quyền địa phương) 61

2.4.4 Hạn chế về phía nhà khoa học 62

2.4.5 Hạn chế về phía nhà băng (ngân hàng) 62

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN TÍN DỤNG TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ CHĂN NUÔI GIA SÚC TẠI AGRIBANK CHI NHÁNH TỈNH NINH THUẬN 66

3.1 Căn cứ đề xuất giải pháp 66

3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện tín dụng theo chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp 67

Trang 7

3.2.1 Nâng cao chất lượng đầu vào của chuỗi giá trị 67

3.2.2 Tăng cường hợp tác trong chuỗi giá trị 71

3.3 Phát huy vai trò của ngân hàng trong các chuỗi liên kết 72

3.3.1 Ban hành văn bản hướng dẫn quy trình, thủ tục cho vay theo chuỗi giá trị 72

3.3.2 Ngân hàng phải xác định rõ các biện pháp đối phó với rủi ro 73

3.3.3 Tăng nguồn tín dụng dành cho phát triển nông nghiệp thôn thôn 75

3.3.4 Đào tạo, tập huấn kiến thức cho cán bộ tín dụng về mô hình, kỹ thuật cho vay theo chuỗi giá trị 76

3.3.5 Ngân hàng cần tích cực tham mưu, đề xuất với các cơ quan ban ngành, chính quyền địa phương 77

3.4 Kiến nghị với các cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương 79

3.4.1 Quy hoạch và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng 79

3.4.2 Tăng cường khoa học và công nghệ 80

3.4.3 Thành lập các tổ liên kết 80

3.4.4 Xây dựng khung pháp lý về hợp đồng kinh tế dân sự 81

3.4.5 Nghiên cứu, triển khai rộng rãi chính sách bảo hiểm trong nông nghiệp 81

3.4.6 Hoàn thiện việc cấp chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản 82

3.4.7 Mở rộng thị trường 83

3.4.8 Huy động các nguồn lực tham gia thực hiện 84

3.5 Mô hình liên kết chuỗi giá trị đề xuất 85

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Agribank (Vietnam Bank For Agriculture and Rural Development): Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

CBTD: cán bộ tín dụng

Cty CP: Công ty Cổ phần Thức ăn Chăn nuôi CP Việt Nam

DNTN: doanh nghiệp tư nhân

FAO (Food and Agriculture Organization of the United Nations): Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc

GAP (Good Agriculture Practice): Thực hành nông nghiệp tốt

NHNo&PTNT: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn

NHTM: Ngân hàng thương mại

PGD: phòng giao dịch

TCTD: tổ chức tín dụng

TNHH : trách nhiệm hữu hạn

UBND: ủy ban nhân dân

VAMC (Vietnam Asset Management Company): công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam

VietGAP (Vietnamese Good Agriculture Practices): Thực hành nông nghiệp tốt tại Việt Nam

WTO (World Trade Organization): Tổ chức Thương mại Thế giới

XLRR: xử lý rủi ro

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Tổng hợp một số cây trồng chính của tỉnh Ninh Thuận 28 Bảng 2.2: Tổng hợp một số vật nuôi chính của tỉnh Ninh Thuận 30 Bảng 2.3: Cơ cấu cho vay Nông nghiệp nông thôn của các Tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận (31/12/2017) 32 Bảng 2.4: Kết quả, số liệu đầu tư tín dụng nông nghiệp nông thôn của Agribank Ninh Thuận từ 2013-2017 34 Bảng 2.5: Kết quả đầu tư chăn nuôi gia súc của Agribank Ninh Thuận 2017 38 Bảng 2.6 : Danh sách các trang trại chăn nuôi heo có liên kết với Công ty cổ phần thức

ăn chăn nuôi Việt Nam 46 Bảng 2.7: Số liệu đầu tư cho vay chăn nuôi bò tại Agribank Ninh Thuận năm 2017 58 Bảng 3.1: Những hạn chế của người chăn nuôi gia súc tại Ninh Thuận 67

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Chuỗi giá trị tổng quát 6

Hình 1.2: Chuỗi giá trị nông sản giản đơn 7

Hình 1.3: Chuỗi giá trị nông sản mở rộng 8

Hình 1.4 : Mô hình liên kết Võ Duy Khương và Hồ Kỳ Minh 18

Hình 1.5: Sơ đồ mối liên kết trong chuỗi giá trị nông sản 24

Hình 2.1: Sơ đồ chuỗi liên kết giá trị chăn nuôi heo tại Ninh Thuận 43

Hình 2.2: mô hình chăn nuôi 3F (Nguồn: Công ty CP) 47

Hình 2.3: Kiểm tra trang trại chăn nuôi heo khách hàng Nguyễn Long Hải 51

Hình 2.4: Chuỗi giá trị chăn nuôi bò chưa có liên kết 52

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Mục đích của nghiên cứu này là phân tích tín dụng trong chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận nhằm tìm ra những hạn chế của chuỗi giá trị, từ đó xây dựng mô hình liên kết và đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng một mô hình đầu tư tín dụng nông nghiệp nông thôn phát triển, hiệu quả, bền vững, hạn chế thấp nhất rủi ro tín dụng, nâng cao giá trị nông sản và đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Ninh Thuận

Luận văn đã hệ thống lại cơ sở lý thuyết về chuỗi liên kết giữa các hộ nông dân với các chủ thể khác theo quan điểm về chuỗi giá trị, vận dụng lý thuyết và phương pháp luận của Kaplinsky và Morris (2001) để phân tích chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Ninh Thuận Cụ thể:

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tín dụng trong chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp Đánh giá thực trạng tín dụng trong chuỗi liên kết kinh tế giữa hộ nông dân với các chủ thể khác trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận; làm rõ các ưu điểm, hạn chế và các vấn

Trên cơ sở này, tác giả đã đưa ra khuyến nghị mô hình liên kết, tuy nhiên vấn

đề lớn nhất trong chuỗi liên kết giá trị là làm sao thúc đẩy được các bên tham gia sản xuất theo chuỗi liên kết giá trị và cơ cở pháp lý để chuỗi hoạt động có hiệu quả thiết thực, bền vững lâu dài Để giải quyết điều này điều kiện nhất thiết là các giải pháp hỗ trợ từ nhà nước cùng các cấp chính quyền có liên quan

Phát triển tín dụng nông nghiệp nông thôn theo hướng liên kết giữa nông dân và các chủ thể kinh tế khác là một vấn đề mới và tác giả mong muốn góp phần làm sáng

tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn làm cơ sở để xây dựng một mô hình đầu tư tín dụng nông nghiệp nông thôn phát triển, hiệu quả, bền vững, góp phần quan trọng vào

sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Ninh Thuận

* Từ Khóa: Chuỗi giá trị sản xuất, Ngân hàng Nông nghiệp, chi nhánh Ninh Thuận

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tại Việt Nam, việc phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân luôn nhận được sự quan tâm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta Trong Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp được Chính phủ đặt mục tiêu đưa nông nghiệp chuyển dịch lên nền sản xuất hiện đại với các tiêu chí an toàn - bền vững - hiệu quả; đồng thời, cũng nêu rõ việc xây dựng và phát huy các mô hình sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị là hướng đi đúng đắn

Với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, sự liên kết giữa các tổ chức kinh tế với nhau hay giữa các tổ chức kinh tế với cơ sở sản xuất, hộ nông dân để phát huy thế mạnh của mỗi bên nhằm giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận, tăng tính cạnh tranh, thương hiệu, uy tín thị trường là một xu thế tất yếu Muốn phát triển nền kinh tế nông nghiệp bền vững hơn nữa, cách tốt nhất là thực hiện có hiệu quả chuỗi giá trị trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ, tiêu dùng sản phẩm nông sản

Có thể kể đến một số liên kết trong chuỗi giá trị nông sản hàng hóa ở Ninh Thuận như: Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam liên kết trong chăn nuôi heo, gia cầm, chế biến, phân phối sản phẩm; liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp trong sản xuất mía đường, tinh bột mì; Công ty xuất khẩu nông sản Ninh Thuận, Công ty xuất khẩu hạt điều Ninh Thuận; …

Ngân hàng là một trong những tác nhân tham gia vào chuỗi nông sản với vai trò

hỗ trợ ngày càng quan trọng trong việc góp phần cho sản xuất kinh doanh, làm gia tăng giá trị và hiệu quả của chuỗi giá trị Khi ngân hàng tham gia vào chuỗi giá trị sẽ giúp tăng cường năng lực tài chính, và đặc biệt tiết kiệm chi phí… theo đó, bản thân ngân hàng cũng ổn định, bền vững hơn trong sự phát triển của mình Phát huy vai trò chủ lực của NHTM lớn nhất Việt Nam, giữ vai trò chủ đạo trên thị trường tài chính nông thôn là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) đang không ngừng đẩy mạnh hoạt động tín dụng cho doanh nghiệp đầu tư phát triển nông sản trong chuỗi giá trị Agribank Ninh Thuận đồng hành theo chỉ đạo của NHNN triển khai: Quyết định số 1050/QĐ-NHNN ngày 28/5/2014 quy định về chương trình cho vay thí điểm đối với các mô hình liên kết trong chuỗi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, các mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ cao trong sản xuất

Trang 13

nông nghiệp theo Nghị quyết 14/NQ-CP ngày 05/3/2014 của Chính phủ; Nghị định số 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn…

Tuy nhiên, phát triển cho vay chuỗi giá trị nông sản còn đang gặp không ít những trở ngại Trong đó, số tiền cho vay còn nhỏ so với nhu cầu thực sự của các hộ nông dân, HTX Mức độ “mặn mà” của ngân hàng còn rất hạn chế Nguyên nhân không phải vì ngân hàng thiếu vốn hay bị các lĩnh vực khác hút hết, mà có lẽ chủ yếu bởi các rủi ro và đặc trưng của ngành nông sản như thời tiết, khả năng chế biến và bảo quản thường không hàm chứa nhiều kỹ thuật, nên lợi nhuận từ khu vực này thường thấp Món vay từ các hộ nông dân thường nhỏ lẻ khó quản lý

Mặt khác, cho vay theo chuỗi giá trị sản xuất nông sản còn những khó khăn khác như, tính liên kết của các chủ thể trong sản xuất còn lỏng lẻo, tính tuân thủ các cam kết trong hợp đồng còn yếu, quy trình sản xuất chất lượng chưa được tuân thủ chặt chẽ cũng khiến việc phát triển cho vay theo chuỗi giá trị nông sản chưa được như

kỳ vọng Ngoài ra, định chế tài chính tham gia trong chuỗi còn ít; hành lang pháp lý cho mô hình còn nhiều hạn chế

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên là cơ sở để tôi chọn đề tài là “TÍN DỤNG

TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM, CHI NHÁNH NINH THUẬN” vừa là để giúp chi nhánh Agribank tỉnh Ninh Thuận đạt được hiệu

quả kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Phân tích tín dụng trong chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp, qua đó đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả tín dụng trong chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Ninh Thuận

2.2 Mục tiêu cụ thể

Đề tài hướng đến những mục tiêu nghiên cứu cụ thể sau:

- Đánh giá thực trạng tín dụng trong chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp tại ngân hàng Agribank chi nhánh tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2013-2017

- Khảo sát ý kiến chuyên gia và khách hàng về vai trò của tín dụng trong chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp của chi nhánh Agribank tỉnh Ninh Thuận

Trang 14

- Đề xuất giải pháp hoàn thiện tín dụng trong phát triển chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp tại Agribank chi nhánh tỉnh Ninh Thuận

3 Đối tượng nghiên cứu

4 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu tín dụng trong phát triển chuỗi giá trị chăn nuôi gia súc tại Agribank chi nhánh tỉnh Ninh Thuận giai đoạn từ năm 2013-2017

5 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp thông kê, so sánh, phân tích, tổng hợp số liệu dựa trên số liệu báo cáo của ngân hàng Agribank tỉnh Ninh Thuận, báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Ninh Thuận, báo cáo của UBND tỉnh Ninh Thuận

- Phương pháp chuyên gia: phỏng vấn ý kiến các lãnh đạo ngân hàng tại địa bàn tỉnh Ninh Thuận để nâng cao hiệu quả đầu tư tín dụng trong chuỗi giá trị chăn nuôi gia súc tại Agribank tỉnh Ninh Thuận

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài các phần như phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, … đề tài được trình bày gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan tài liệu và cơ sở lý thuyết

Chương 2: Thực trạng tín dụng trong chuỗi giá trị chăn nuôi gia súc tại ngân hàng Agribank chi nhánh tỉnh Ninh Thuận

Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện tín dụng trong chuỗi giá trị chăn nuôi gia súc tại ngân hàng Agribank chi nhánh tỉnh Ninh Thuận

Trang 15

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ VÀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP

1.1 Chuỗi giá trị

1.1.1 Khái niệm

Chuỗi giá trị mô tả toàn bộ những hoạt động cần thiết để đưa một sản phẩm hay dịch vụ đi qua các công đoạn sản xuất khác nhau (liên quan đến việc kết hợp giữa chuyển hóa vật chất và đầu vào các dịch vụ sản xuất khác nhau), đưa đến người tiêu

dùng sau cùng, và bố trí sau sử dụng (Trần Tiến Khai 2014; Kaplinsky, 2000;

Kaplinsky và Morris, 2001)

Theo nghĩa hẹp: Chuỗi giá trị gồm một loạt các hoạt động thực hiện trong một

công ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định Các hoạt động này có thể gồm có: Giai đoạn xây dựng khái niệm và thiết kế, quá trình mua vật tư đầu vào, sản xuất, tiếp thị và phân phối, thực hiện các dịch vụ hậu mãi…Tất cả những hoạt động này tạo thành một

“chuỗi” kết nối người sản xuất với người tiêu dùng Mặt khác, mỗi hoạt động trên chuỗi còn có khả năng bổ sung giá trị cho thành phẩm cuối cùng

Theo nghĩa rộng: Chuỗi giá trị là một phức hợp những hoạt động do nhiều tác

nhân tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất sơ cấp, người chế biến, thương nhân, người cung cấp dịch vụ …) để biến từ một nguyên liệu thô trải qua các quá trình sản xuất trở thành một thành phẩm bán được và tổ chức phân phối đến người tiêu dùng

1.1.2 Phân biệt chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng

Một câu hỏi có thể phát sinh khi chuỗi giá trị được nghiên cứu: chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng khác nhau hay không Về cơ bản chúng giống nhau vì cả hai bao gồm mạng lưới như nhau của các thành viên, những người có mối liên hệ với các thành viên khác để cung cấp hàng hóa và dịch vụ tới người tiêu dùng cuối cùng Nếu chúng

ta so sánh định nghĩa của một chuỗi cung ứng với chuỗi giá trị, chúng ta có thể nhận ra

sự giống nhau và khác nhau của chúng Chuỗi cung ứng, như hàm ý của nó, tập trung chủ yếu vào hiệu quả và chi phí cung ứng Chuỗi cung ứng được hiểu là việc mang nguyên vật liệu cho hoạt động sản xuất và hoàn thiện sản phẩm tới người tiêu dùng một cách suôn sẻ và tiết kiệm Mục tiêu đầu tiên của chuỗi cung ứng là đáp ứng nhu cầu và yêu cầu của khách hàng thông qua việc sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực bao gồm: việc phân bổ công suất, tài nguyên và lao động Một chuỗi cung ứng cố gắng tìm kiếm để làm cho phù hợp nhu cầu với khả năng cung ứng của tài nguyên khoáng

Trang 16

sản Khía cạnh khác của việc đánh giá một cách lạc quan chuỗi cung ứng bao gồm việc giữ liên lạc với nhà cung cấp để loại trừ những yếu tố làm đình trệ khâu sản xuất; chiến lược nguồn lực để tạo nên một sự thăng bằng giữa chi phí nguyên vật liệu và vận chuyển thấp nhất; duy trì sự phối hợp đúng đắn giữa vị trí công ty và kho hàng để phục

vụ thị trường tiêu dùng, và sử dụng vị trí/sự chỉ định vị trí, phân tích đường vận chuyển, chương trình động lực và dĩ nhiên, sự lạc quan vận chuyển truyền thống để tối

đa hiệu quả của việc phân phối

Ngược lại, chuỗi giá trị bố trí sự tập trung của nó vào tổng giá trị cho người tiêu dùng Vì thế, mục tiêu của một chuỗi giá trị là tối đa giá trị tại chi phí thấp nhất có thể cho người tiêu dùng Do đó, sự khác nhau cơ bản giữa một chuỗi cung ứng và một chuỗi giá trị là một sự thay đổi cơ bản trong sự tập trung từ việc cung cấp dựa vào người tiêu dùng

1.1.3 Mô hình chuỗi giá trị của Michael Poster

Mỗi doanh nghiệp là một tập hợp của các hoạt động để thiết kế, sản xuất, bán hàng, phân phối và hỗ trợ sản phẩm của họ Tất cả các hoạt động này có thể được thể hiện trong một chuỗi giá trị (Hình 1.1) Một ngành – hoặc khu vực của ngành có chuỗi giá trị rộng hơn Xét trên đơn vị là doanh nghiệp, mặc dù các doanh nghiệp trong cùng một ngành có thể có những chuỗi giá trị tương tự nhau, nhưng các đối thủ cạnh tranh thường có những chuỗi giá trị khác nhau Hai hãng People Express và United Airline cùng cạnh tranh trong ngành hàng không, nhưng họ có những chuỗi giá trị hoàn toàn khác nhau: từ thủ tục lên máy bay, chính sách dành cho phi hành đoàn và nghiệp vụ bay v.v… Những khác biệt trong chuỗi giá trị của các đối thủ là nguồn gốc cơ bản của lợi thế cạnh tranh Chuỗi giá trị của doanh nghiệp trong ngành sẽ phần nào thay đổi để tạo những khác biệt trong dòng sản phẩm, hoặc những người mua khác, những khu vực địa lý khác, những kênh phân phối khác

Chuỗi giá trị thể hiện tổng giá trị, bao gồm các hoạt động giá trị và lợi nhuận Hoạt động giá trị là những hoạt động đặc trưng về phương diện vật lý và công nghệ của doanh nghiệp Đây là những bộ phận cấu thành để tạo ra các sản phẩm có giá trị và tập hợp các chi phí cho việc thực hiện các hoạt động giá trị Lợi nhuận có thể được đo lường bằng nhiều cách khác nhau Chuỗi giá trị của nhà cung cấp và kênh phân phối cũng bao gồm lợi nhuận, điều này quan trọng trong việc phân biệt rõ những nguồn gốc tình trạng chi phí của doanh nghiệp Lý dó vì lợi nhuận của nhà cung cấp và kênh phân phối là một phần trong tổng chi phí mà người mua phải gánh chịu

Trang 17

Mỗi hoạt động giá trị đều có thu mua đầu vào, nhân lực (người lao động và đội ngũ quản lý), và một hình thái công nghệ nào đó để thực hiện chức năng của nó Các hoạt động giá trị có thể chia ra làm hai loại chính: Hoạt động sơ cấp và hoạt động hỗ trợ

Cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp Quản trị nguồn nhân lực

Phát triển công nghệ Thu mua

Logistics đầu vào

Vận hành

Logistics đầu ra

Marketing &

bán hàng

Dịch

vụ

Hình 1.1: Chuỗi giá trị tổng quát

Hoạt động sơ cấp (Hình 1.1) là những hoạt động mang tính vật chất liên quan đến việc tạo ra sản phẩm, bán và chuyển giao cho khách hàng cũng như những công tác hỗ trợ sau bán hàng

Hoạt động hỗ trợ: bao gồm các hoạt động như thu mua, phát triển công nghệ, quản trị nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng của công ty

1.1.4 Chuỗi giá trị trong sản xuất nông nghiệp

Chuỗi giá trị có thể ứng dụng trong nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau Trong lĩnh vực nông nghiệp, chuỗi giá trị có vai trò hết sức quan trọng trong việc đưa sản phẩm nông nghiệp từ người nông dân đến người tiêu thụ với các tiêu chí như chi phí thấp nhất, thời gian nhanh nhất, chất lượng cao nhất…

- Chuỗi giá trị trong sản xuất nông sản được phát triển ở nhiều quốc gia,

nhưng cho đến nay, chưa có một khái niệm chính thức được sử dụng để nói về chuỗi giá trị trong sản xuất nông sản

Tuy nhiên, có thể thấy, chuỗi giá trị nông sản là tổng thể các hoạt động liên quan đến sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nông sản Trong chuỗi giá trị diễn ra quá trình tương tác giữa yếu tố cần và đủ để tạo ra một hoặc nhóm hàng hóa nông sản và các hoạt động phân phối, tiêu thụ sản phẩm này theo một phương thức nhất định

Trang 18

Chuỗi giá trị nông sản giản đơn

Hình 1.2: Chuỗi giá trị nông sản giản đơn

Hoạt động trong các khâu cơ bản từ điểm khởi đầu sản xuất ra nông sản đến điểm kết thúc của sản phẩm, tức bán trực tiếp đến tay người tiêu dùng cuối cùng (từ thiết kế - sản xuất, phân phối - tiêu dùng) Chẳng hạn, hộ nông dân nuôi gà đẻ trứng, sau khi thu hoạch trứng, mang ra chợ bán trực tiếp cho người tiêu dùng Có thể trước khi đem ra bán, hộ nông dân sẽ sơ chế trứng của mình bằng cách rửa sơ qua bằng nước

và lau chùi trứng sạch sẽ… Trong chuỗi giá trị chỉ có sự tham gia của người nông dân

- người sản xuất trực tiếp và người tiêu thụ nông sản cuối cùng

Chuỗi giá trị nông sản mở rộng

Chuỗi giá trị nông sản mở rộng (Hình 1.3) là được chi tiết hóa hay chuyên môn hóa các hoạt động và các khâu trong chuỗi giá trị nông sản giản đơn Mức độ chi tiết, chuyên môn hóa càng cao thì thể hiện càng nhiều bên tham gia và có liên quan đến nhiều chuỗi giá trị khác nhau

Cũng giống như chuỗi giá trị nông sản giản đơn, vấn đề ở đây là những hoạt động nào và thành phần nào của chuỗi được phối hợp và có khả năng tăng giá trị Quan trọng hơn là tác nhân nào đóng vai trò chủ đạo trong chuỗi giá trị, giữ vai trò phối hợp và thúc đẩy hoạt động hiệu quả của toàn bộ chuỗi

Đầu vào sản xuất

Quá trình sản xuất của

Trang 19

Hình 1.3: Chuỗi giá trị nông sản mở rộng

- Những tác nhân tham gia vào chuỗi nông sản có thể là: Chính quyền địa

phương, Cơ sở nghiên cứu; Hộ gia đình, trang trại; Doanh nghiệp, người thu gom, thương lái; Ngân hàng, Quỹ tín dụng nhân dân; Các cơ sở bán lẻ, siêu thị, …

Các nhân tố và các liên kết chính trong chuỗi giá trị cần được xác định và làm

rõ Giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị được tạo ra bởi các liên kết giữa các tác nhân với nhau và ngay trong tác nhân qua thấu kính của các vấn đề về quản trị, nâng cấp và phân phối

Tùy theo tính chất của sản phẩm (có thể tiêu dùng ngay hay phải qua sơ chế/chế biến), vị trí của người tiêu dùng cuối cùng trên thị trường mà số lượng các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị của sản phẩm có sự khác nhau Ngoài ra cũng tùy tính chất của mỗi tác nhân chính trong chuỗi mà có yêu cầu các hoạt động hỗ trợ khác nhau, qua

đó mức độ tham gia của các tác nhân này cũng khác nhau trong chuỗi giá trị nông sản Cùng với việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị thì vấn đề quan trọng là xác định những hoạt động, thành phần nào của chuỗi cần được hay có thể phối hợp và gia tăng giá trị cho sản phẩm cuối cùng Điều quan trọng

là phải xác định được ai đóng vai trò chủ đạo trong chuỗi giá trị, ai sẽ phối hợp và thúc đẩy toàn bộ hoạt động của toàn chuỗi

Theo đó, trong chuỗi giá trị nông sản, sự tham gia trực tiếp vào chuỗi có thể ở công đoạn sản xuất nông nghiệp, tạo ra các sản phẩm thô, hoặc công đoạn chế biến bao gồm sơ chế và tinh chế nông sản Tham gia vào khâu sản xuất nông nghiệp thường

Quá trình sản

xuất của

người

Thu mua, bán buôn

Người thu gom

Người bán buôn

Người thu gom

Người bán lẻ

Người bán lẻ

Sơ chế

Phân phối

Người thu gom

Người thu gom

Người tiêu dùng

Trang 20

là những hộ nông dân, các trang trại với quy mô sản xuất rất khác nhau do điều kiện đất đai, nguồn nước và các điều kiện khác quyết định Tham gia vào công đoạn chế biến nông sản lại gồm nhiều hình thức khác, như chế biến thủ công, chế biến cơ giới, chế biến tự động hóa và kết hợp giữa thủ công và tự động hóa

Điều quan trọng là giá trị gia tăng được tạo ra ở hai nhóm công đoạn trên khác nhau, thường thì ở công đoạn sản xuất nông nghiệp chỉ tạo ra giá trị gia tăng rất thấp

do năng suất của ngành nông nghiệp thấp hơn so với khu vực chế tạo, quá trình sản xuất với đối tượng là cây trồng, vật nuôi là những sinh vật sống có quy luật sinh trưởng và phát triển riêng, lại chịu sự ảnh hưởng của khả năng sử dụng đất đai, nguồn nước cũng như ảnh hưởng của các điều kiện khí hậu, thời tiết… nên có rất nhiều hạn chế

Ngoài ra, tại các nước đang phát triển như Việt Nam, quy mô sản xuất nông nghiệp nhỏ bé, tính chất sản xuất hàng hóa chưa cao, còn mang nặng tính tự cấp tự túc, lao động thủ công là chính nên năng suất lao động thấp và hạn chế, hơn nữa, khả năng thay đổi công nghệ sản xuất rất khó khăn, khả năng đầu tư vào công nghệ mới rất hạn chế; nông dân thường sản xuất theo tập quán, kinh nghiệm từ xưa đến nay, truyền từ đời này sang đời khác, lạc hậu… nên ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả của sản xuất

và vị thế của nông dân trong đàm phán nói chung và tham gia vào chuỗi giá trị nông sản nói riêng

Trong khi đó, sở hữu công đoạn chế biến là những nhà đầu tư có vốn, có mục đích kinh doanh vì lợi nhuận, họ giữ bí quyết chế biến, và sử dụng nó để mưu cầu lợi nhuận Một nhà chế biến có thể có mối quan hệ với nhiều hộ nông dân sản xuất, vì vậy

họ thường mua bán với hộ nông dân theo nguyên lý “mua đứt, bán đoạn” Sự chia sẻ lợi ích giữa hai công đoạn sản xuất và chế biến là hết sức khó khăn và luôn ẩn chứa những mâu thuẫn, đôi khi nảy sinh quan hệ đối kháng, bất hợp tác

Sự hợp nhất giữa hai nhóm công đoạn nói trên tạo ra mối liên kết dọc và là điều kiện tiên quyết của sự hình thành và phát triển chuỗi giá trị nông sản

Trong trường hợp chuỗi giá trị nông sản mang tính toàn cầu thì hai công đoạn này phải được tổ chức rất chặt chẽ để tạo nên mối liên kết dọc giữa sản xuất nông nghiệp với chế biến công nghiệp, điều này là vô cùng khó vì nhà chế biến thường không quan tâm tới sự hài lòng hay không của người nông dân đã cung cấp đầu vào sản phẩm cho mình Vì vậy sự tham gia trực tiếp vào chuỗi giá trị nông sản ở công đoạn sản xuất nông nghiệp tuy không khó khăn, do không đòi hỏi nhiều vốn và kỹ

Trang 21

thuật cao, nhưng gặp trở ngại lớn về khả năng liên kết với các tác nhân ở công đoạn

chế biến, tức là liên kết giữa tầng lớp nông dân và các doanh nghiệp, nhà đầu tư (Võ

Duy Khương và Hồ Kỳ Minh, 2017)

Phương pháp phân tích chuỗi

Theo Kaplinsky và Morris (2001), phương pháp luận để phân tích chuỗi giá trị bao gồm những bước sau:

Bước 1: Xác định tác nhân đầu tiên để bắt đầu thực hiện nghiên cứu Tùy vào lĩnh vực, phạm vi và mục tiêu nghiên cứu để lựa chọn tác nhân khởi đầu khác nhau cho nghiên cứu chuỗi giá trị Mục tiêu của bước này là xác định hướng luân chuyển của dòng sản phẩm và thông tin

Bước 2: Lập sơ đồ chuỗi giá trị Tiến trình thực hiện bao gồm (i) xác định và vẽ quá trình cốt lõi trong chuỗi giá trị (gồm những hoạt động chính và quan trọng trong chuỗi); (ii) xác định những tác nhân trong mỗi quá trình (tức là những tác nhân thực hiện những chức năng trong mỗi quá trình của chuỗi giá trị); (iii) vẽ dòng luân chuyển sản phẩm giữa các tác nhân dọc theo chuỗi, bao gồm dòng luân chuyển về địa lý; (iv) xác định khối lượng sản phẩm giao dịch luân chuyển giữa các tác nhân; (v) xác định

sự thay đổi giá trị qua mỗi quá trình (tức là xác định mức giá trị gia tăng tạo ra từ mỗi tác nhân cho người tiêu dùng cuối cùng trên cơ sở xác định doanh thu và chi phí) và (vi) xác định các phương thức liên kết và giao dịch giữa các tác nhân trong chuỗi

Bước 3: Xác định những phân đoạn thị trường của sản phẩm và các yếu tố thành công then chốt cho sản phẩm trên thị trường Tức là xác định đặc điểm đa dạng hóa sản phẩm cho từng nhóm khách hàng mục tiêu đa dạng trong những thị trường trọng điểm khác nhau, và xác định những yếu tố then chốt tạo lợi thế cạnh tranh trên thị trường (sự khác biệt hóa sản phẩm, dịch vụ kèm theo hay là giá cả sản phẩm)

Bước 4: Xác định cách thức nhà sản xuất kết nối với thị trường, đánh giá đặc điểm và vai trò của người mua và người bán trên thị trường

Bước 5: Đánh giá và kiểm tra hiệu quả vận hành chuỗi giá trị Tức là đánh giá khả năng cạnh tranh về chi phí, chất lượng, thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách hàng, năng lực thực hiện cải tiến cho sản phẩm cũng như quá trình tạo giá trị

Bước 6: Quản trị chuỗi giá trị bắt đầu bằng việc đánh giá sức mạnh của quyền lực chi phối thị trường ở các tác nhân; xác định tác nhân then chốt và quan trọng nhất trong việc xây dựng chuỗi giá trị bền vững

Trang 22

Bước 7: Nâng cấp chuỗi giá trị bao gồm (i) cải tiến trong quá trình (khả năng cải tiến hoặc thay đổi liên kết hiệu quả giữa các tác nhân), (ii) cải tiến trong sản phẩm, (iii) thay đổi vị trí đảm nhiệm chức năng (tức là điều chỉnh việc đảm nhận các chức năng hoạt động giữa các tác nhân để chuỗi vận hành hiệu quả hơn) và (iv) nâng cấp chuỗi (tức là đa dạng hóa chuỗi giá trị bằng cách tạo thêm các chuỗi giá trị mới)

Tuy nhiên, Kaplinsky và Morris (2001) nhấn mạnh rằng không có một phương pháp chuẩn tắc cho việc phân tích một chuỗi giá trị Xây dựng phương pháp phân tích chuỗi giá trị phụ thuộc vào cách tiếp cận chuỗi và vấn đề nghiên cứu cũng như mục

tiêu đặt ra (Trần Tiến Khai, 2014)

Tầm quan trọng của phân tích chuỗi giá trị

Phân tích chuỗi giá trị giúp tìm hiểu bản chất và các yếu tố xác định sức cạnh tranh, và đóng góp cụ thể vào việc nâng cao tầm nhìn từ từng công ty riêng lẻ đến nhóm các công ty kết nối lẫn nhau

Thông qua tập trung vào tất cả các mắt xích trong chuỗi giá trị (chứ không chỉ mắt xích sản xuất) và vào tất cả các hoạt động trong từng mắt xích (ví dụ như sự chuyển hóa vật chất của nguyên vật liệu trong mắt xích sản xuất), nó giúp nhận diện những hoạt động nào có sinh lợi tăng dần, và những hoạt động nào có sinh lợi giảm dần

Như một hệ quả của khả năng phân biệt bản chất của sinh lợi trong các mắt xích khác nhau của chuỗi giá trị, các nhà hoạch định chính sách được hỗ trợ định hình các chính sách thích hợp và đưa ra những chọn lựa cần thiết Điều này có thể là bảo vệ những mắt xích bị đe dọa (ví dụ như những người nghèo hoạt động trong khu vực phi chính thức) và (hoặc) tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cấp những mắt xích khác nhằm tạo ra sinh lợi lớn hơn

Phân tích chuỗi giá trị cho thấy rằng cho dù sức cạnh tranh có thể đạt được, phương thức kết nối vào nền kinh tế toàn cầu có thể đòi hỏi phải tập trung vào các chính sách vĩ mô và các mối liên kết thể chế, và điều này đòi hỏi một tập hợp phản ứng chính sách khác nhau đối với những mối liên kết giúp mang lại sức cạnh tranh cấp doanh nghiệp

Tham gia vào thị trường toàn cầu, bất kể cạnh tranh đến mức nào vào một thời điểm cụ thể, không chắc mang lại tăng trưởng thu nhập bền vững theo thời gian Thông qua tập trung vào quỹ đạo tiến hóa của sự tham gia vào thị trường toàn cầu, phân tích chuỗi giá trị giúp ta am hiểu các yếu tố động học xác định phân phối thu nhập

Trang 23

Phân tích chuỗi giá trị không nhất thiết hạn chế trong việc đánh giá mức độ mà việc tham gia vào thị trường toàn cầu xác định sự phân bố lợi ích từ toàn cầu hóa như thế nào Phân tích chuỗi giá trị cũng có thể được sử dụng để tìm hiểu động học phân phối thu nhập trong nội bộ đất nước, nhất là ở các nền kinh tế lớn

Như vậy, chuỗi giá trị nông sản thể hiện rõ những ưu điểm trong hoạt động mang tính hệ thống liên hoàn từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đến cung ứng sản phẩm nông sản và những hậu mãi mang lại giá trị gia tăng từ người sản xuất đến người tiêu thụ cuối cùng với các tiêu chí như chi phí thấp nhất, thời gian nhanh nhất, chất lượng cao nhất… Những tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị nông sản có thể kể đến là: Cơ sở nghiên cứu, hộ gia đình, trang trại, doanh nghiệp, thương nhân đầu mối mua tập trung sản phẩm nông sản, người tiêu dùng sản phẩm cuối cùng/thành phẩm; tổ chức tài chính tín dụng như ngân hàng, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô, các cơ sở bán

lẻ, siêu thị… Mối quan hệ giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị hay cụ thể là chuỗi giá trị nông sản được thể hiện bởi mối quan hệ giữa nhà nông, nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, trong đó tổ chức tín dụng - mà chủ yếu là ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong cung ứng vốn cho nhà nông, nhà khoa học và các doanh nghiệp khác

Tài chính trong chuỗi giá trị nông nghiệp

Tài chính trong chuỗi giá trị nông nghiệp được đề cập đến với dòng chảy của các quỹ và trong một chuỗi giá trị để gặp gỡ với sự cần thiết của các thành viên trong chuỗi về vấn đề tài chính, để đảm bảo bán hàng, để mua nguyên liệu đầu vào hoặc sản xuất, hoặc cải thiện hiệu quả năng suất Sự kiểm tra tiềm năng của tài chính chuỗi giá trị liên quan tới tiếp cận một tổng thể để tiếp cận phân tích chuỗi, những người làm việc trong đó, và mối liên kết của họ Các mối liên kết cho phép tài chính theo một dòng chảy qua chuỗi Ví dụ, các nguyên liệu đầu vào có thể được cung cấp tới người nông dân và chi phí có thể được chi trả trực tiếp khi sản phẩm được chuyển đi, không cần tới người nông dân cần chịu khoản nợ từ ngân hàng hoặc các công ty tương

tự Đây là tình huống chung dưới hợp đồng sự sắp xếp nông dân Các loại của tài chính chuỗi giá trị bao gồm tài chính sản phẩm thông qua người buôn bán và nhà cung cấp nguyên liệu tín dụng hoặc tín dụng cung cấp bởi một công ty marketing hoặc một công ty dẫn đầu Các công cụ tài chính thương mại bao gồm tài chính nhận được tại nơi mà ngân hàng đề xuất các quỹ chống lại chuyển nhượng hoặc các khoản phải thu trong tương lai từ người mua, và nhà máy trong một dự án kinh doanh bán tài khoản

Trang 24

phải thu với một mức giảm giá Tương tự sự sụt giảm tài chính trong chuỗi là sự đảm bảo tài sản, như trên cơ sở một biên lai kho, và giảm thiểu rủi ro như là hợp đồng sau,

tương lai hoặc bảo hiểm (Trần Quốc Long, 2016)

1.2 Tín dụng ngân hàng trong chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp

1.2.1 Khái niệm về tín dụng

Theo Bách khoa toàn thư mở - Wikipedia, tín dụng là một phạm trù kinh tế và

nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội Quan hệ tín dụng được phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã Khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, cũng là đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa Thời kỳ này, tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật - hàng hóa Về sau, tín dụng đã chuyển sang hình thức vay mượn bằng tiền tệ

Tín dụng là khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người vay Trong quan hệ này, người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hóa cho vay cho người đi vay trong một khoản thời gian nhất định Người đi vay

có nghĩa vụ trả số tiền hoặc giá trị hàng hóa đã đi vay khi đến hạn trả nợ không kèm hoặc có kèm một khoản lãi Tín dụng có vị trí quan trọng đối với việc tích tụ, tận dụng các nguồn vốn tạm thời nhãn rỗi để phát triển sản xuất kinh doanh

Thực chất tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả

Như vậy, tín dụng tồn tại và hoạt động là yếu tố khách quan và cần thiết cho sự phát triển, với các mối quan hệ cung cầu về vốn như một đòi hỏi cần thiết khách quan của nền kinh tế Tín dụng là một hiện tượng kinh tế nảy sinh trong điều kiện sản xuất hàng hóa Sự ra đời và phát triển của tín dụng không chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu điều hòa vốn trong xã hội mà còn là một động lực thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế đất nước

1.2.2 Tín dụng ngân hàng trong phát triển chuỗi giá trị nông sản

Chuỗi giá trị nông sản có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững, có hiệu quả cao, nhất là nước ta đang hội nhập ngày càng sâu rộng với quốc tế, sản phẩm nông sản chủ yếu là xuất khẩu Do vậy, cần phải có nhiều chính sách đặc thù khuyến khích đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp và phải thực hiện liên kết giữa các bên đủ năng lực đưa sản phẩm nông sản của Việt Nam ra thị trường quốc tế

Trang 25

Doanh nghiệp là lực lượng nòng cốt trên cơ sở liên kết với hộ nông dân Tuy nhiên, để tăng năng lực tổ chức chuỗi giá trị, đặc biệt là hỗ trợ về vốn, theo đó cần tập trung phát huy vai trò của tín dụng ngân hàng

Ngân hàng là một trong những tác nhân tham gia vào chuỗi nông sản với vai trò

hỗ trợ ngày càng quan trọng trong việc góp phần cho sản xuất kinh doanh, làm gia tăng giá trị và hiệu quả của chuỗi giá trị Khi ngân hàng tham gia vào chuỗi giá trị sẽ giúp tăng cường năng lực tài chính, góp phần vào tăng sức “đề kháng” của các tác nhân khác trong chuỗi giá trị tăng thêm đối với những rủi ro thị trường, rủi ro người vay, rủi ro thời tiết, dịch bệnh và đặc biệt tiết kiệm chi phí… theo đó, bản thân ngân hàng cũng ổn định, bền vững hơn trong sự phát triển của mình Thời gian qua, chính sách tín dụng đối với nông nghiệp, nông thôn, trong đó có những chính sách khuyến khích phát triển chuỗi liên kết đã được hệ thống ngân hàng quan tâm và tích cực triển khai: Quyết định số 1050/QĐ-NHNN ngày 28/5/2014 quy định về chương trình cho vay thí điểm đối với các mô hình liên kết trong chuỗi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, các mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp theo Nghị quyết 14/NQ-CP ngày 05/3/2014 của Chính phủ; Nghị định số 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn … Theo đó thì:

(1) Đối tượng được vay vốn là các hộ nông dân, HTX đại diện cho nông dân thực hiện ký hợp đồng liên kết theo chuỗi sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp với các doanh nghiệp đã được Ngân hàng Nhà nước (NHNN), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt gắn với các dự án liên kết cụ thể

(2) Lãi suất cho vay tối đa 7%/năm đối với cho vay ngắn hạn; 10%/năm cho vay trung hạn và 10,5%/năm vay dài hạn Cho vay thí điểm áp dụng đối với những mô hình liên kết theo chuỗi giá trị khép kín, từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ có thời gian vay trên 12 tháng nhưng không quá 18 tháng, mỗi khâu (sản xuất, chế biến, tiêu thụ) đều dưới 12 tháng và khách hàng cam kết trả một phần nợ sau mỗi khâu của chuỗi

để ngân hàng xem xét áp dụng lãi suất cho vay ngắn hạn đối với khách hàng đó

(3) Mức cho vay do ngân hàng và khách hàng thỏa thuận trên cơ sở nhu cầu vay vốn đã được đề xuất, nhưng tối đa bằng 70% giá trị của phương án, dự án vay vốn phục vụ cho các mô hình sản xuất

(4) Thời gian thực hiện cho vay thí điểm là 2 năm kể từ ngày Quyết định cho vay có hiệu lực

Trang 26

Một trong những chính sách đột phá tại Nghị định số 55/2015/NĐ-CP là các doanh nghiệp, tổ chức đầu mối liên kết theo chuỗi giá trị, ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp có thể được vay tín chấp lên tới 70- 80% giá trị của dự án Hay trong trường hợp gặp rủi ro do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng thì các đối tượng này được ngân hàng xem xét cơ cấu lại nợ, khoanh nợ hay xóa nợ…

Việc hỗ trợ tài chính theo chuỗi là một thị trường tiềm năng cho các ngân hàng,

là một phương thức hiệu quả trong tài trợ cho lĩnh vực nông sản Mô hình của một số nước mà Việt Nam có thể áp dụng:

Tại Kazakhstan, các ngân hàng thương mại cung cấp những gói tín dụng cho các nhà chế biến đậu nành và lúa mỳ Sau đó, các nhà máy chế biến này lại cho các nhà cung cấp tiềm năng của mình là các hộ nông dân vay lại để đầu tư sản xuất hoặc thuê thiết bị… Các hộ nông dân trong chuỗi có thể nắm bắt các thông tin để có thị trường và tự do bán sản phẩm của mình cho bất cứ đối tác nào mà họ cho là đáng tin cậy Tuy nhiên, tất cả những hộ nông dân tham gia chương trình liên kết đều phải duy trì một tài khoản tại ngân hàng cho vay và ngân hàng có quyền chuyển tiền từ tài khoản người đi vay sang tài khoản người chế biến tương đương giá trị khoản vay Các thị trường cho những mặt hàng này khá rõ ràng nên người dân hầu như không có lợi ích thêm gì khi bán sản phẩm cho đối tác ngoài hợp đồng Nếu người vay không hoàn trả nợ đúng hạn hoặc bán cho đối tác ngoài hợp đồng họ sẽ đối mặt với rủi ro không được tiếp tục nhận khoản vay trong những năm kế tiếp Trong chuỗi cung ứng này bắt buộc sự tồn tại mối quan hệ khách hàng đối tác lâu dài

Theo kinh nghiệm và khuyến nghị của IFC, các ngân hàng muốn thúc đẩy tín dụng nông nghiệp, nông sản trước hết nên lựa chọn những khu vực có tiềm năng cao

về nông nghiệp với các đặc trưng như: có cây trồng đa dạng, triển khai được nhiều vụ mùa trong năm, có điều kiện tưới tiêu, thủy lợi nội đồng tốt

Hiện nay, Ninh Bình là một trong những tỉnh có tiềm năng, hội tụ đủ các điều kiện theo khuyến nghị IFC đưa ra Khi ngân hàng tham gia sâu rộng vào chương trình cho vay thí điểm phục vụ phát triển nông nghiệp, vai trò của ngân hàng với sản xuất theo chuỗi giá trị sẽ bộc lộ rõ nét hơn Bởi việc ngân hàng lựa chọn cho vay trước với những đối tượng nông dân có rủi ro thấp, đồng thời thiết lập quan hệ hợp tác chiến lược trong các lĩnh vực sản xuất nông sản sẽ giảm thiểu rủi ro thị trường Khi ngân hàng có quan hệ chặt chẽ với các đơn vị làm dịch vụ kỹ thuật sẽ giảm thiểu rủi ro

Trang 27

người vay và kết nối, hợp tác chặt chẽ với các công ty bảo hiểm giảm thiểu rủi ro thời tiết, dịch bệnh…

Vai trò của ngân hàng thể hiện trong việc tiết kiệm chi phí, nhờ tích cực xây dựng cầu nối giữa ngân hàng với khách hàng, thông qua việc triển khai các ngân hàng

di động, đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin, thông qua cho vay với hình thức chuyển khoản trong thanh toán, không nhất thiết phải mở các chi nhánh ở mọi nơi Nhờ vai trò cầu nối này mà ngân hàng có được lợi thế thông tin về các khách hàng của mình Chẳng hạn thông qua các đơn vị cung cấp đầu vào, các đơn vị tiêu thụ, thông qua phòng, sở nông nghiệp ngân hàng dễ dàng biết được quy mô sản xuất, tình hình tiêu thụ, thu nhập của khách hàng Từ đó mà tiết kiệm được chi phí thu thập thông tin khách hàng và khách hàng cũng dễ tiếp cận thuận lợi và nhanh chóng hơn trong giao dịch các hoạt động của ngân hàng

Thông qua ký kết hợp đồng tín dụng với các doanh nghiệp có mô hình chuỗi giá trị trong sản xuất nông sản, các ngân hàng thể hiện quyết tâm trong việc từng bước góp phần xây dựng thành công mô hình, tháo gỡ những hạn chế, tồn tại trong quá trình triển khai nhằm đem lại lợi ích lâu dài cho tất cả các bên tham gia, hướng tới phát triển bền vững các chuỗi liên kết giá trị nông sản, nhằm nâng cao tính cạnh tranh của nông sản Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Theo Vụ Tín dụng các ngành kinh tế - NHNN qua 2 năm triển khai thí điểm mô hình cho vay theo chuỗi giá trị trong phát triển nông sản đã mở thêm cơ hội tiếp cận các dịch vụ tài chính của khu vực nông thôn, đã có 28 doanh nghiệp với 31 dự án được thực hiện tại 22 tỉnh, thành phố trong cả nước tham gia chương trình Lãi suất ngắn hạn áp dụng là 6,5%/năm, một số dự án có lãi suất thấp hơn, ở mức 5,4% - 6,3%/năm Các ngân hàng tham gia chương trình cũng đã chủ động phối hợp cùng doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, đẩy mạnh giải ngân vốn vay thực hiện các dự án theo tiến độ Đến nay, tổng số tiền đã giải ngân theo chương trình trên đạt 6.937 tỷ đồng, vượt số vốn tín

dụng theo các ngân hàng đã cam kết cho vay ban đầu là 5.628 tỷ đồng (Nguyễn Văn

Phận, Nguyễn Khắc Minh, Lê Phan Thanh Hòa, 2017

Agribank đồng hành theo chỉ đạo của NHNN triển khai Quyết định số 1050/QĐ-NHNN về chương trình cho vay thí điểm phục vụ phát triển nông nghiệp với một số cơ chế đặc thù như: lãi suất cho vay chương trình thấp hơn lãi suất cho vay thông thường từ 1-1,5%/năm; mức cho vay lên đến 90% giá trị của phương án, dự án

Trang 28

vốn; ngân hàng có thể xem xét cho vay các thành viên tham gia liên kết không có bảo đảm bằng tài sản nếu kiểm soát được dòng tiền của chuỗi liên kết… Sau một thời gian ngắn triển khai đã dần hình thành mô hình mẫu trong sản xuất nông nghiệp theo chuỗi liên kết giá trị sản phẩm nông nghiệp, góp phần thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế địa phương và tái cơ cấu ngành nông nghiệp

Phát triển cho vay theo chuỗi giá trị nông sản tạo ra cơ hội tiếp cận dịch vụ tài chính của khu vực nông thôn, nhất là đối với các hộ sản xuất nhỏ, vốn là những mắt xích tham gia những chuỗi sản xuất lớn

Tuy nhiên, phát triển cho vay chuỗi giá trị nông sản còn đang gặp không ít những trở ngại Trong đó, số tiền cho vay còn nhỏ so với nhu cầu thực sự của các hộ nông dân, HTX Mức độ “mặn mà” của các ngân hàng còn rất hạn chế Nguyên nhân không phải vì các ngân hàng thiếu vốn hay bị các lĩnh vực khác hút hết, mà có lẽ chủ yếu bởi các rủi ro và đặc trưng của ngành nông sản

Các hoạt động của nông nghiệp thường chịu rất nhiều ảnh hưởng từ thời tiết, khả năng chế biến và bảo quản thường không hàm chứa nhiều kỹ thuật, nên lợi nhuận

từ khu vực này thường thấp Món vay từ các hộ nông dân thường nhỏ lẻ khó quản lý Vấn đề tài sản bảo đảm cũng khó được đáp ứng, do đối tượng vay vốn thường dùng tư liệu sản xuất (đất đai, máy móc thiết bị…) hoặc tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm Ngoài ra, vì rủi ro lớn chủ yếu đến từ thời tiết, chi phí quản lý cao, đồng thời phải đáp ứng được khả năng sinh lời kỳ vọng của ngân hàng, lãi suất lại cao mà người chịu cuối cùng là người vay (nông dân)

Mặt khác, cho vay theo chuỗi giá trị sản xuất nông sản còn những khó khăn khác như, tính liên kết của các chủ thể trong sản xuất còn lỏng lẻo, tính tuân thủ các cam kết trong hợp đồng còn yếu, quy trình sản xuất chất lượng chưa được tuân thủ chặt chẽ cũng khiến việc phát triển cho vay theo chuỗi giá trị nông sản chưa được như

kỳ vọng Ngoài ra, định chế tài chính tham gia trong chuỗi còn ít; hành lang pháp lý

cho mô hình còn nhiều hạn chế

1.2.3 Các công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu của Võ Duy Khương và Hồ Kỳ Minh (2014)

Đề tài đã đánh giá thực trạng liên kết kinh tế giữa nông dân với các chủ thể khác trên địa bàn thành phố Đà Nẵng; làm rõ các ưu điểm, hạn chế và các vấn đề đặt ra cần giải quyết; Xây dựng mô hình liên kết kinh tế giữa nông dân và các chủ thể khác ở

Trang 29

thành phố Đà Nẵng, trong đó xác định rõ vai trò, nhiệm vụ của các chủ thể tham gia liên kết ; Đề xuất các giải pháp phát triển các liên kết kinh tế giữa nông dân và các chủ thể khác ở thành phố Đà Nẵng

Mô hình liên kết hộ nông dân với các chủ thể khác theo chuỗi giá trị được mô phỏng như sau:

Hình 1.4 : Mô hình liên kết Võ Duy Khương và Hồ Kỳ Minh

- Nghiên cứu của Trần Trọng Phong và Thiều Thùy Hương (2016): Tác giả

đưa ra các giải pháp về tài chính, trong đó có chính sách “tín dụng xanh” được xem là

có hiệu quả trong công tác bảo vệ môi trường, từ đó góp phần hướng tới phát triển kinh tế bền vững Bài viết phân tích những cơ hội và thách thức về tình hình phát triển dòng tín dụng xanh tại Việt Nam hiện nay

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, để tín dụng xanh có thể phát huy hết tiềm năng trong tương lai, các ngân hàng và doanh nghiệp phải có những cam kết thực sự mạnh mẽ Bên cạnh đó, để đi đến thành công, cần có sự hỗ trợ chặt chẽ của nhiều bộ, ban, ngành như: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu

tư, Bộ Công thương, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, …

Hợp tác xã/

Người nông dân

Thương lái

Người bán sỉ tại chợ đầu mối

DNTN/Cty chế biến và kinh

doanh tiêu thụ

Người tiêu dùng

Xuất khẩu

Người bán lẻ chợ địa phương/bán rong…

Các tổ chức chính quyền, cơ quan nghiên cứu

Trang 30

1.2.4 Bài học kinh nghiệm của các nước về tín dụng trong chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp

Tính đến thời điểm hiện nay thì đã có khá nhiều nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước liên quan đến đề tài Do không thể liệt kê tất cả các nghiên cứu liên quan đến vấn đề này, nên tác giả chỉ lược khảo một vài nghiên cứu của các tác giả trong nước tiêu biểu, điển hình như sau:

Theo bài viết của Đinh Bảo Linh (2015)

Các nước được lựa chọn để nghiên cứu kinh nghiệm tập trung vào Thái Lan, Hàn Quốc và Nhật Bản Đây là ba nước có nhiều thành tựu trong sản xuất nông nghiệp thời gian qua Nhiều mô hình và kinh nghiệm sản xuất từ các nước này có thể sẽ được chuyển giao vào áp dụng tại Việt Nam Tuy nhiên, việc lựa chọn các kinh nghiệm và

mô hình phù hợp với điều kiện thực tế của nước ta là rất quan trọng, nhằm tăng tính chủ động cho phía Việt Nam trong quá trình hợp tác đầu tư trong sản xuất và xuất khẩu nông sản với họ

Thứ nhất : kinh nghiệm trong tổ chức sản xuất

- Chìa khóa đột phá từ công tác giống

Ở Thái Lan, chính sách giống đã sớm được quan tâm bởi cả Nhà nước và khu vực tư nhân Các cơ quan nghiên cứu và các trường đại học được khuyến khích để phát triển giống, thông qua những hỗ trợ và R&D, thương mại hóa sản phẩm và bảo vệ

sở hữu trí tuệ

Trung tâm Nghiên cứu quốc gia (DOR) chịu trách nhiệm về việc cải thiện di truyền và sản xuất giống nguyên chủng, trong khi các đơn vị sản xuất hạt giống để nhân rộng là các trung tâm giống công cộng - đơn vị ký hợp đồng với nông dân gieo hạt giống trên diện rộng và hạt giống đã đăng ký Các DOR giúp nông dân thành lập

"Trung tâm giống cộng đồng” để sản xuất hạt giống thương mại

Hàn Quốc cũng tập trung nhiều nguồn lực để phát triển và nâng cao chất lượng giống cho sản xuất nông sản Các chính sách đều hướng tới đảm bảo dinh dưỡng cho cộng đồng và cải thiện thu nhập của người nông dân Tập trung vào việc nâng cao chất lượng giống đã từng được coi như chìa khóa cho đột phá trong nông nghiệp của Hàn Quốc giai đoạn đầu của công nghiệp hóa

- Cải tiến phương pháp canh tác: Chìa khóa để tăng năng suất và sản xuất bền vững

Thực tế cho thấy Thái Lan đã đi trước Việt Nam trong việc đẩy mạnh ứng dụng những công nghệ và kỹ thuật hiện đại đồng thời kết hợp kinh nghiệm truyền thống

Trang 31

Hữu cơ hóa đất nông nghiệp thông qua sử dụng các loại phân bón hữu cơ, phân vi sinh

và thuốc trừ sâu sinh học đã giúp nước này cải tạo đất thoái hóa và nâng cao độ màu

mỡ, nhờ đó sử dụng quỹ đất hiệu quả, giảm nhập khẩu phân bón và tăng xuất khẩu nông sản hữu cơ sạch Bí quyết thành công của Thái Lan là xây dựng chuẩn các phương thức canh tác với công nghệ và kỹ thuật canh tác đặc thù cho từng vùng sản xuất có điều kiện tự nhiên khác nhau, nhằm đảm bảo hiệu quả tối ưu của sản xuất nông sản theo vùng

Cơ giới hóa, tin học hóa và các mô hình trang trại thông minh

Tại Thái Lan:cơ giới hóa đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của nông nghiệp

Thái Lan Nước này đã từng bước chủ động sản xuất máy móc nông nghiệp và thiết bị nông nghiệp cho phù hợp với nhu cầu và khả năng tài chính của người sử dụng Hiện nay, hầu hết các thiết bị nông nghiệp được sử dụng ở Thái Lan được sản xuất trong nước như máy kéo, máy cày, máy bừa, máy bơm nước, phun, máy đập lúa, máy gặt, máy gặt đập, làm sạch thiết bị, máy sấy, máy xay xát lúa gạo, và thiết bị chế biến

Từ năm 2008 chính phủ Thái Lan đã thành lập mô hình trang trại thông minh,

có áp dụng công nghệ thông tin và công nghệ điện tử để tăng năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp mà cuối cùng sẽ nâng cao chất lượng sống của người nông dân trong khu vực nông thôn Mô hình trang trại thông minh tập trung vào 4 sản phẩm nông nghiệp chính là lúa, sắn, cao su và mía đường

Tại Hàn Quốc: có hai yếu tố quan trọng nhất thúc đẩy cơ giới hóa trong nông nghiệp ở Hàn Quốc Yếu tố đầu tiên là tăng quy mô sản xuất/hộ nông Thứ hai là những nỗ lực đầu tư nghiên cứu và sản xuất máy nông nghiệp Hàn Quốc không chỉ thành công trong việc tăng tỷ lệ cơ giới hóa trong nông nghiệp mà còn xuất khẩu được máy nông nghiệp sang các thị trường nước ngoài như Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản

Đầu tư kho tàng, phơi sấy, bảo quản vận chuyển, giảm hao hụt

Thái Lan đi trước Việt Nam trong phát triển hệ thống sau thu hoạch, trong đó

có hệ thống kho tàng, vận chuyển nông sản Thậm chí để phục vụ xuất khẩu mạnh sang các nước phương Tây, Chính phủ Thái Lan còn khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp xây kho ở quốc gia có vị trí địa lý trung tâm, thuận tiện xuất khẩu đi các nước lân cận hoặc có thể xuất ngay tại nước đó, ví dụ kho và nhà máy đánh bóng gạo tại Pháp để xuất khẩu sang Hà Lan, Đức Các doanh nghiệp xuất khẩu gạo nước này thu

Trang 32

mua trong nước xong vận chuyển sang các kho ngoại quốc, khi thấy thị trường Pháp hoặc các nước châu Âu khác có nhu cầu thì lấy ra bán ngay, đáp ứng kịp thời hơn so với đối thủ Sắp tới, Thái Lan dự kiến xây thêm kho chứa trái cây xuất khẩu ở các thị trường tiêu thụ chính Thái Lan còn đầu tư rất mạnh cho công nghệ phơi sấy và bảo quản

Tăng cường chế biến phế, phụ phẩm

Hiện ở một số nước như Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc đã phát triển rất mạnh công nghệ và các ngành công nghiệp ăn theo công nghệ chế biến phế, phụ phẩm nông sản Ví dụ sản phẩm cám gạo có giá trị tăng cao hơn từ 100 - 300% khi được chế biến thành thức ăn chăn nuôi, xà phòng, mỹ phẩm hoặc dược phẩm, rơm được chế biến thành viên làm thức ăn gia súc, làm chất độn chuồng trong chăn nuôi hay xuất khẩu Tại các nước này, rơm còn được chế biến Ethanol hay nhiên liệu sinh học (Bio diesel), chế biến plastic sinh học để sản xuất các loại bao bì, cốc chứa đựng sinh học thân thiện với môi trường, làm chất đốt, chế biến xà phòng, dầu ăn, mỹ phẩm,…

Thứ hai : tổ chức tiêu thụ:

Chợ trung tâm/trung tâm giao dịch

Một hệ thống phân phối hiện đại đảm bảo sự kiểm soát tốt hơn cả về giá và chất lượng nông sản Tại nhiều nước, hệ thống đấu giá nông sản tại các chợ trung tâm đã sớm hình thành và giữ vai trò quan trọng trong việc thiết lập các mặt bằng giá, phân loại, quy cách hóa nông sản và phục vụ đắc lực cho việc truy xuất nguồn gốc nông sản Các chợ trung tâm có thể được thiết lập bởi cơ quan chính phủ hoặc các nhà kinh doanh, nhưng thường nằm trong khu vực sản xuất chính Tại Thái Lan, chợ trung tâm của chính phủ được thành lập bởi các cơ quan nhà nước như Ngân hàng Nông nghiệp

và Hợp tác xã Nông nghiệp và Cơ quan Khuyến nông của Bộ Nông nghiệp và Hợp tác

xã Bộ Thương mại Thái Lan hỗ trợ sắp xếp và quản lý các chợ trung tâm của Nhà nước và chợ trung tâm của tư nhân

Tiêu thụ nông sản thông qua các hợp tác xã năng động

Tại Hàn Quốc, Liên đoàn quốc gia Hợp tác xã Nông nghiệp Hàn Quốc (NACF)

đã thiết lập mạng lưới hợp tác xã từ trung ương đến cơ sở Hệ thống hợp tác xã ở Hàn Quốc đã phát triển nhanh, đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng lên của nông dân về

hỗ trợ dịch vụ NACF nắm giữ 40% thị phần nông sản trong nước Nhằm mở rộng thị trường nông sản, NACF quản lý một mạng lưới dịch vụ vận chuyển nông sản từ cửa nông trại đến người tiêu dùng, giúp người nông dân sản xuất theo đúng yêu cầu của thị

Trang 33

trường, giảm tối thiểu chi phí lưu thông, hao hụt, thất thoát NACF cũng điều hành một

hệ thống doanh nghiệp kinh doanh nông sản lớn nhất và cạnh tranh mạnh nhất NACF chịu trách nhiệm cung cấp các vật tư nông nghiệp bảo đảm cho nông dân có đủ vật tư thiết yếu đúng thời gian, giá rẻ, chất lượng Trong khâu chế biến, NACF sở hữu một

hệ thống hạ tầng và thiết bị hùng hậu giúp tăng thêm giá trị cho hàng nông sản Trong hoạt động tín dụng ngân hàng, NACF đáp ứng nhiều loại dịch vụ: giao dịch ngân hàng, dịch vụ thẻ tín dụng, tín dụng cho vay, đầu tư, bảo hiểm, giao dịch quốc tế… Hệ thống bảo hiểm của NACF chiếm lĩnh toàn bộ thị trường nông thôn

Tại Nhật Bản, hợp tác xã nông nghiệp là kênh tiêu thụ nông sản chính: 90% lúa gạo; trên 50% rau, hoa quả, sữa tươi… Một trong những đặc điểm nổi bật nhất của hợp tác xã nông nghiệp Nhật Bản là hợp tác trong phân phối chứ không chỉ hợp tác trong sản xuất Hợp tác xã nông nghiệp thực hiện hai nhiệm vụ chính: một là, cung cấp cho nông dân các yếu tố “đầu vào” phục vụ sản xuất nông nghiệp, như phân bón, hóa chất nông nghiệp, trang thiết bị, kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi gia súc; hai là, giúp nông dân tiêu thụ sản phẩm bằng cách thu gom, bảo quản, dự trữ, bán các nông sản, vật tư dựa vào mạng lưới tiêu thụ sản phẩm quốc gia và quốc tế Để giúp các tổ chức hợp tác

xã hoạt động, Chính phủ Nhật Bản đã tăng cường xây dựng hệ thống phục vụ xã hội hóa nông nghiệp, coi hợp tác xã nông nghiệp là một trong những hình thức phục vụ xã hội hóa tốt nhất và yêu cầu các cấp, các ngành phải bảo vệ quyền lợi hợp pháp của tổ chức này

Xây dựng thương hiệu

Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy để phát triển thương hiệu ngành hàng tốt bao giờ cũng cần đầu mối đủ năng lực để quản lý, phát triển thương hiệu đó, đặc biệt là duy trì chất lượng của sản phẩm này Ví dụ như cà phê Colombia,

họ cũng phải xây dựng liên đoàn quốc gia, trên cơ sở hoạt động của liên đoàn này giữ được chất lượng cà phê để sản xuất, xuất khẩu ra nước ngoài, đồng thời liên đoàn này

có khả năng duy trì hệ thống quản lý, kiểm soát chất lượng hiệu quả Chính hoạt động hiệu quả của liên đoàn dẫn tới sự thành công của thương hiệu cà phê Colombia

Xây dựng thương hiệu có trọng điểm cũng là một kinh nghiệm cần tham khảo Thái Lan là nước xuất khẩu hàng đầu, sản lượng lớn nhưng họ chỉ tập trung làm thương hiệu cho 3 giống lúa Theo đó, Nhà nước và các doanh nghiệp tổ chức sản xuất giống lúa được lựa chọn với quy trình nông nghiệp cao từ đó mới đăng ký thương hiệu

Trang 34

và sản xuất theo chuỗi giá trị Doanh nghiệp xác định có thị trường, người tiêu dùng thị trường đó dùng gạo gì rồi mới quay lại bàn bạc với nông dân để trồng đúng giống lúa đó Ngày nay, nói đến gạo, Hom Mali là cái tên thường được người Thái nhắc tới đầu tiên như một niềm tự hào bởi giống lúa Hom Mali chỉ trồng được và sinh trưởng tốt giữa thời tiết nắng nóng gần như quanh năm ở vùng Đông Bắc Thái nhưng nay đã nổi tiếng khắp trên thế giới

1.2.5 Một số mô hình liên kết điển hình ở Việt Nam

NHNN đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan cũng như các tổ chức tín dụng khảo sát và lựa chọn 20 mô hình liên kết giữa doanh nghiệp với hộ nông dân như mô hình cánh đồng mẫu lớn, mô hình liên kết theo chuỗi giá trị của sản phẩm, các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao… để thí điểm chương trình cho vay hỗ trợ đối với các

mô hình liên kết Mục tiêu nhằm hướng tới: Giảm chi phí đầu vào cho sản phẩm sản xuất liên kết, thông qua việc cho vay lãi suất phù hợp (thấp hơn lãi suất thị trường); Tháo gỡ vướng mắc về tài sản bảo đảm theo hướng cho vay tín chấp nếu nông dân và doanh nghiệp ký kết hợp đồng liên kết có cơ sở pháp lý và ngân hàng kiểm soát được dòng tiền tham gia vào quá trình liên kết Đến nay, trong thực tiễn đã hình thành nhiều

mô hình sản xuất theo hướng tăng cường khả năng liên kết, ứng dụng công nghệ

Một số mô hình đã triển trong thực tiễn phù hợp với mục tiêu của đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp như: Mô hình cánh đồng mẫu lớn ở An Giang và các địa phương khác; mô hình trồng hoa và rau ứng dụng công nghệ cao ở Lâm Đồng; dự án nuôi, chế biến sữa công nghệ cao tại Nghĩa Đàn – Nghệ An… Điển hình như:

Tại TP Cần Thơ (cho vay theo mô hình cánh đồng mẫu lớn):

Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Agribank) Chi nhánh Cần Thơ đã cho vay theo mô hình cánh đồng lớn đối với Công ty TNHH Một thành viên Nông nghiệp Cờ Đỏ - doanh nghiệp được chuyển đổi từ doanh nghiệp Nhà nước là Nông trường Cờ Đỏ (xã Thạc Phú, huyện Cờ Đỏ, TP Cần Thơ) Đây là một trong những mô hình cho vay khép kín trong chuỗi liên kết sản xuất nông nhiệp (doanh nghiệp cung ứng giống, vật tư, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, hỗ trợ về kỹ thuật, máy móc làm đất, thu hoạch và thu mua sản phẩm đầu ra cho bà con nông dân theo hợp đồng đã ký kết) Dư nợ hiện tại: Agribank đã ký 3 hợp đồng tín dụng với số tiền 101,8 tỷ đồng, trong đó: Cho vay trung, dài hạn 2 hợp đồng, 1 hợp đồng cho hộ nông dân mua máy móc thiết bị thông qua Nông trường số tiền 19,3 tỷ đồng; 1 hợp đồng cho Công ty vay đầu tư nhà kho và lò sấy lúa với số tiền 12,5 tỷ đồng

Trang 35

Tại Hà Nam (cho vay liên kết 4 nhà):

Agribank Chi nhánh Hà Nam đã triển khai cho vay theo mô hình liên kết 4 nhà

để chăn nuôi: Người chăn nuôi, nhà cung cấp, ngân hàng và người tiêu thụ Đây là mô hình chăn nuôi trên nền đệm lót sinh học đã phát huy được hiệu quả, giảm thiểu ô nhiễm môi trường khu dân cư, hạn chế dịch bệnh, giảm chi phí trong chăn nuôi…

Với những chương trình thí điểm trên, ngành Ngân hàng không những giải quyết vấn đề về vốn đầu tư tín dụng cho nông nghiệp mà còn hướng sản xuất nông nghiệp từ nhỏ lẻ, manh mún sang sản xuất nông nghiệp hàng hóa, quy mô lớn, liên kết hiệu quả, có tính cạnh tranh cao, theo mục tiêu của Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; từng bước nâng cao đời sống nông dân và thực hiện mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới

1.2.6 Mô hình nghiên cứu đề xuất

Vận dụng mô hình nghiên cứu của TS Nguyễn Thị Thanh Hải (2015), mối quan hệ giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị nông sản được thể hiện bởi mối quan hệ giữa nhà nông, nhà nước, nhà khoa học, nhà băng (ngân hàng), nhà buôn (các doanh nghiệp, đơn vị phân phối)

Hình 1.5: Sơ đồ mối liên kết trong chuỗi giá trị nông sản

Nhà nước: Quản lý nhà nước, tạo môi trường thuận lợi hỗ trợ hỗ trợ nông dân

và doanh nghiệp liên kết sản xuất hàng hóa Tổ chức lại sản xuất dựa trên nguyên tắc gắn chặt với thị trường, quy hoạch vùng sản xuất, cơ cấu sản phẩm, nhất là các sản phẩm chủ lực theo hướng phát huy vai trò, thế mạnh của từng từng địa phương; tổ

Nhà nông

Nhà buôn

Nhà nước

Nhà băng

Nhà khoa học

Trang 36

chức liên kết nông dân sản xuất hàng hóa, tạo dựng liên kết tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi ngành hàng Kết nối giữa nhà nước, nhà doanh nghiệp và nhà nông để sản xuất

và tiêu thụ nông sản Đảm bảo lợi ích hài hòa giữa các bên tham gia; đảm bảo việc thực hiện các điều khoản của hợp đồng khi các bên đã ký kết

Nhà buôn: Nhà Doanh nghiệp và nhà nông là hai tác nhân chính trong chuỗi

ngành hàng nông sản; trực tiếp sản xuất và tiêu thụ nông sản Tùy từng điều kiện, nhà doanh nghiệp cung cấp giống, vật tư, kỹ thuật hỗ trợ nông dân sản xuất hàng hóa Đồng thời, Doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm đầu ra cho nồng dân (đây là vai trò chủ yếu)

Nhà khoa học: Nghiên cứu các giống vật nuôi, cây trồng mới có năng suất cao,

chất lượng tốt phù hợp với điều kiện sinh thái từng vùng, miền; quy trình kỹ thuật canh tác công nghệ cao, công nghệ chế biến bảo quản sau thu hoạch; đưa máy móc, công cụ giải pháp sản xuất phù hợp với từng đối tượng, từng điều kiện sản xuất để nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành, tạo sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc gia, trong nước và khu vực.… Huấn luyện đào tạo nhà nông tiếp thu, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật

Nhà nông: Nông dân sản xuất hàng hóa theo yêu cầu của Doanh nghiêp

Nhà băng: Ngân hàng cung cấp các dịch vụ tài chính cho các thành phần tham gia

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Hệ thống cơ sở lý thuyết về chuỗi giá trị, vận dụng lý thuyết và phương pháp luận của Kaplinsky và Morris (2001) để phân tích chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp Qua đó thấy rõ được tầm quan trọng của việc phân tích chuỗi giá trị, các tác nhân tham gia trong chuỗi và các hoạt động trong chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp

Vấn đề tài chính trong chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp mà cơ bản nhất là tín dụng ngân hàng được cụ thể hóa bằng các văn bản chính sách pháp luật của Việt Nam Tín dụng ngân hàng thể hiện rõ vai trò quan trọng trong chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên việc phát triển cho vay theo chuỗi giá trị nông nghiệp còn có nhiều trở ngại và hạn chế

Chương 1 cũng đã đưa ra các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài Các kinh nghiệm được vận dụng để xây dựng mô hình liên kết chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp

Trang 37

Tác giả đã đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất thể hiện mối quan hệ giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị nông sản, thể hiện bởi mối quan hệ giữa 05 tác nhân: Nhà nông, Nhà nước, Nhà khoa học, Nhà buôn (các doanh nghiệp, đơn vị phân phối) và Ngân hàng

Trang 38

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÍN DỤNG TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI AGRIBANK TỈNH NINH THUẬN

2.1 Tổng quan về tỉnh Ninh Thuận

2.1.1 Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp

Ninh Thuận nằm trong vùng Duyên hải Nam Trung bộ, nằm trong vùng khô hạn nhất cả nước, có nền khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, với các đặc trưng là khô nóng, gió nhiều, lượng bốc hơi lớn Diện tích tự nhiên phần đất liền là 335.833 ha, với đường bờ biển dài 105 km Địa hình của tỉnh có 3 dạng chính là: Địa hình đồi núi của tỉnh chiếm 63,2% diện tích toàn tỉnh, có nhiều điều kiện để phát triển thủy điện quy

mô nhỏ kết hợp với thủy lợi; Địa hình đồi gò bán sơn địa chiếm 14,4% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, có nhiều điều kiện để phát triển rừng kinh tế, các loại cây công nghiệp ngắn ngày; Đồng bằng ven biển chiếm 22,4% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, là nơi có điều kiện để bố trí các công trình công nghiệp, du lịch, nuôi trồng thủy sản, sản xuất muối, phát triển các cây đặc sản của vùng khô hạn

Diện tích đất nông nghiệp của tỉnh là 266.157,80 ha, chiếm tỷ lệ khá lớn (79,25%) so với diện tich tự nhiên của tỉnh Riêng diện tích đất sản xuất nông nghiệp của tỉnh: 73.817,54 ha (21,98%), trong đó: đất trồng lúa: 18.807,62 ha (5,6%), đất trồng cỏ dùng vào chăn nuôi: 154,07 ha (0,05%), đất trồng cây hằng năm khác: 44.632,83 ha (13,29%) Ngoài ra, diện tích đất trồng cây lâu năm của tỉnh: 10.223,02

ha (3,04%) và diện tích đất nuôi trồng thủy sản là 1.801,38 ha (0,54%)

Tài nguyên ven bờ: Có điều kiện để phát triển nuôi trồng thủy sản cho từng loại hình mặt nước như nuôi biển, nuôi nước lợ, trên cát, nuôi nước ngọt và sản xuất giống thủy sản Toàn tỉnh có khoảng 3.000 – 4.000 ha diện tích mặt nước lợ, mặn gồm các đầm, vịnh thuận lợi cho việc đưa vào nuôi trồng thủy sản tập trung quy mô lớn

Vùng biển Ninh Thuận có trên 500 loại cá, trong đó nhóm cá nổi có trên 146 loài, nhóm cá đáy có 392 loài, vùng biển có độ sâu từ 200m trở vào có khoảng 100 loài hải sản có giá trị kinh tế thuộc 4 nhóm động vật chủ yếu là giáp xác, nhuyễn thể, da gai

và cá, tổng trữ lượng hải sản có khoảng 120.000 tấn (UBND tỉnh Ninh Thuận – 2016)

2.1.2 Thực trạng sản xuất một số cây trồng chính trên địa bàn tỉnh

Đối với Ninh Thuận, nho được xác định là cây chủ lực của tỉnh, chiếm khoảng 14,1% diện tích cây ăn quả Có nhiều hộ đã thoát nghèo và vươn lên làm giàu từ hoạt động trồng nho, cụ thể những hộ trồng nho tại huyện Ninh Phước và Tp Phan Rang –Tháp Chàm

Trang 39

Cây táo

Cây táo được phát triển ở Ninh Thuận, do nó là loại cây dễ trồng, phù hợp với điều kiện sinh thái, thổ nhưỡng mang lại giá trị kinh tế cao, góp phần thay đổi đời sống nhân dân “Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2011 - 2020” xác định táo là một trong 8 loại cây trồng chính của Ninh Thuận

Hành, tỏi

Hành, tỏi là sản phẩm được sử dụng trong bữa ăn hằng ngày của mỗi gia đình, các quán ăn, nhà hàng Ngoài ra, tỏi cũng được sử dụng như một loại dược liệu thông dụng để phòng trị một số bệnh trong lĩnh vực Đông y Do vậy, nhu cầu thị trường của hai sản phẩm này mang tính ổn định và phát triển cao Đồng thời, Ninh Thuận là tỉnh

có điều kiện tự nhiên phù hợp với cây tỏi và cây hành (có mùi thơm và vị cay đặc trưng) nên tỉnh đã lợi dụng lợi thế này để duy trì và phát triển sản lượng trong thời gian tới

Bảng 2.1: Tổng hợp một số cây trồng chính của tỉnh Ninh Thuận

Loại cây

trồng

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn) Địa bàn phân bố

huyện Ninh Phước, Ninh Hải và Tp Phan Rang – Tháp Chàm chiếm khoảng 87% diện tích và chiếm 89% về sản lượng nho của toàn tỉnh Ninh Thuận

Rang – Tháp Chàm và huyện Ninh Phước với diện tích chiếm 83% diện tích táo toàn tỉnh và chiếm 89% tổng sản lượng táo của tỉnh Ninh Thuận

huyện Ninh Hải và Tp Phan Rang – Tháp Chàm, chiếm khoảng 92% diện tích

và chiếm 95% về sản lượng hành, tỏi của toàn tỉnh Ninh Thuận

(Tổng hợp từ Niên giám thống kê tỉnh Ninh Thuận 2016)

Trang 40

2.1.3 Thực trạng ngành chăn nuôi tỉnh Ninh Thuận

Chăn nuôi gia súc

Ngành chăn nuôi có vai trò quan trọng trong việc đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp, đồng thời giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp cao hơn giá trị sản xuất của một số sản phẩm trồng trọt Mặc dù, sản phẩm chăn nuôi trên khía cạnh nông nghiệp mặc dù vẫn còn mang đặc điểm chăn nuôi nhỏ lẻ nhưng vẫn có cơ hội tạo ra thu nhập cao hơn trên một đơn vị diện tích đất sản xuất Trong bối cảnh gia tăng nhu cầu sử dụng sản phẩm chăn nuôi trong nước và quốc tế đang tạo ra một cơ hội tốt cho sự phát triển của ngành, có thể tạo ra cơ hội việc làm cho các vùng nông thôn và góp phần tăng thu nhập, giảm nghèo cho nông hộ

Chăn nuôi trâu, bò (Bảng 2.2)

Điều kiện tự nhiên tỉnh Ninh Thuận tương đối thuận lợi cho chăn nuôi trâu, bò nhất là hình thức chăn nuôi thả Các huyện như Ninh Sơn, Ninh Phước, Bác Ái, Thuận Bắc và Thuận Nam là những địa phương có truyền thống chăn nuôi trâu, bò nhất tỉnh Ninh Thuận, đây cũng là những địa phương có điều kiện tốt để định hướng phát triển mạnh đàn trâu bò trong giai đoạn đến năm 2020

Chăn nuôi cừu (Bảng 2.2)

Ngành chăn nuôi cừu cũng rất được quan tâm Nuôi cừu tại Ninh Thuận chủ yếu theo phương pháp quảng canh, phụ thuộc lớn vào đồng cỏ tự nhiên

Giai đoạn từ cuối năm 2013 đến nay ngành chăn nuôi cừu của tỉnh đã dần đần phục hồi trở lại, người chăn nuôi bắt đầu có lãi nên số lượng cừu tăng dần trong giai đoạn 2013 – 2016, năm 2013 tăng lên 91.158 con và đến 2016 tăng đến 112.337 con

Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi cừu cũng gặp nhiều khó khăn do đồng cỏ chăn thả bị thu hẹp dần

Chăn nuôi dê (Bảng 2.2)

Tổng đàn đến năm 2016 là 45.786 con, bên cạnh đó giá dê cũng ổn định hơn những năm trước Cũng như chăn nuôi cừu, việc nuôi dê gặp khó khăn do vùng có rừng, đồng cỏ bị thu hẹp

Chăn nuôi heo (Bảng 2.2)

Từ 2010, Ninh Thuận tập trung đầu tư phát triển mạnh chăn nuôi lợn công nghiệp, bán công nghiệp, trang trại gắn với cơ sở giết mổ, chế biến để đảm bảo vệ sinh môi trường, ngăn ngừa dịch bệnh và tạo ra sản phẩm hàng hoá chất lượng cao đáp ứng nhu cầu nội địa và tham gia xuất khẩu khi có điều kiện Từng bước chuyển hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ ra ngoài khu dân cư, xây dựng các vùng heo nái ở các địa phương

Ngày đăng: 11/02/2019, 22:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w