LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn: “PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH CÂY TRỒNG CỦA CÁC HỘ DÂN XÃ HÒA XUÂN TÂY, HUYỆN ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN” là công
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Người hướng dẫn khoa học:
TS Phạm Thị Thanh Thủy
ThS Lê Trần Phúc Chủ tịch Hội Đồng:
TS NGUYỄN THỊ TRÂM ANH
Phòng Đào tạo Sau Đại học:
KHÁNH HÒA - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH CÂY TRỒNG CỦA CÁC HỘ DÂN
XÃ HÒA XUÂN TÂY, HUYỆN ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN” là công trình
nghiên cứu và thực hiện của cá nhân tôi với sự hướng dẫn của TS Phạm Thị Thanh Thủy; ThS Lê Trần Phúc Trên cơ sở các lý thuyết đã học và tìm hiểu thực tế tại địa phương Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chính xác Chưa công bố trong các công trình nghiên cứu nào khác
Luận văn tham khảo tư liệu và sử dụng thông tin được đăng tải trong danh mục tài liệu tham khảo
Khánh Hòa, tháng 9 năm 2018
Tác giả luận văn
VÕ THỊ BÍCH LY
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập và nghiên cứu nghiêm túc tại lớp thạc sỹ kinh tế của trường Đại Học Nha Trang, luận văn thạc sỹ là kết quả của quá trình nghiên cứu thực tiễn và
lý thuyết nghiêm túc của tôi trước khi tốt nghiệp
Không có thành công nào mà không gắn với những hổ trợ, giúp đỡ của người khác, trong suốt thời gian từ khi bắt đầu quá trình học tập tại lớp thạc sỹ kinh tế của trường Đại Học Nha Trang, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ, chia sẻ của quý Thầy, Cô, gia đình và bè bạn
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi đến quý thầy cô của trường Đại Học Nha Trang
đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường Tôi xin cảm ơn chân thành đến TS Phạm Thị Thanh Thủy, ThS Trần Lê Phúc
đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Với kiến thức và thời gian hạn chế, đề tài còn nhiều thiếu xót Rất mong được sự quan tâm đóng góp ý kiến để đề tài được hoàn thiện hơn
Khánh Hòa, tháng 9 năm 2018
Tác giả luận văn
VÕ THỊ BÍCH LY
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ix
DANH MỤC BẢNG x
DANH MỤC HÌNH xi
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xii
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn 3
1.6 Kết cấu của luận văn 3
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 5
2.1 Khái niệm liên quan 5
2.1.1 Khái niệm về nông hộ 5
2.1.2 Kinh tế nông hộ và đặc điểm của kinh tế nông hộ 6
2.1.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 7
2.1.4 Chuyển dịch cơ cấu cây trồng 7
2.1.5 Phát triển nông nghiệp bền vững 8
2.1.6 Đa dạng hóa hoạt động sản xuất kinh doanh khu vực nông nghiệp 8
Trang 62.2 Cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh tế 9
2.2.1 Khái niệm hiệu quả kinh tế 9
2.2.2 Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế 11
2.2.3 Phân loại hiệu quả kinh tế 12
2.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá lợi ích xã hội 13
2.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 15
2.3.1 Các nghiên cứu trong nước 15
2.3.2 Các nghiên cứu ngoài nước 16
2.4 Các giả thuyết nghiên cứu của đề tài 17
2.4.1 Tuổi của nông hộ 17
2.4.2 Giới tính của nông hộ 18
2.4.3 Học vấn của nông hộ 18
2.4.4 Số người phụ thuộc 18
2.4.5 Số năm kinh nghiệm 18
2.4.6 Diện tích đất canh tác 19
2.4.7 Thu nhập chính từ nông nghiệp 19
2.4.8 Tập huấn 19
2.5 Mô hình nghiên cứu 19
2.5.1 Khung phân tích đề tài 19
2.5.2 Mô hình lượng hóa 21
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 22
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Phương pháp nghiên cứu 23
3.1.1 Quy trình nghiên cứu 23
3.1.2 Cách tiếp cận nghiên cứu 23
3.2 Quy mô mẫu, phương pháp chọn mẫu 24
3.2.1 Quy mô mẫu 24
Trang 73.2.2 Phương pháp chọn mẫu 24
3.3 Phương pháp tiếp cận các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi cây trồng của hộ dân 25
3.3.1 Phương pháp hồi quy Binary logistic 25
3.4 Loại dữ liệu và thu thập dữ liệu 26
3.4.1 Loại dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu 26
3.4.2 Thu thập dữ liệu 26
3.5 Các công cụ phân tích dữ liệu 27
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 27
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
4.2 Tình hình thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng và mô hình chuyển đổi trồng Lạc trên đất Lúa tại xã Hòa Xuân Tây 28
42.1 Tình hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại xã Hòa Xuân Tây 28
4.2.2 Mô hình chuyển đổi trồng Lạc trên đất Lúa tại xã Hòa Xuân Tây 29
4.3 Phân tích hiệu quả kinh tế của nông hộ 32
4.3.1 Các chỉ số kinh tế của mô hình Lúa – Lạc 32
4.3.2 So sánh hiệu quả kinh tế - xã hội giữa các nhóm nông hộ 36
4.4 Kết quả phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi cơ cấu cây trồng 39
4.4.1 Sơ lược thông tin về hiện trạng nông hộ vùng nghiên cứu 39
4.4.2 Tuổi người sản xuất chính 40
4.4.3 Trình độ học vấn của người sản xuất chính 40
4.4.4 Nguồn lực lao động 41
4.4.5 Kinh nghiệm của người sản xuất chính 42
4.4.6 Tập huấn 43
4.4.7 Diện tích đất canh tác 44
4.4.8 Nhận thức của nông hộ về nông nghiệp sinh thái 44
4.4.9 Nguồn thu nhập phi nông nghiệp của nông hộ 45
Trang 84.4.10 Kết quả phân tích tương quan 45
4.5 Kết quả phân tích Binary logistic 48
Tóm tắt chương 4 48
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 51
5.1 Kết luận 51
5.2 Một số giải pháp 51
5.2.1 Ưu tiên hỗ trợ kỹ thuật sản xuất Lạc cho người dân địa phương 52
5.2.2 Ứng dụng ngày càng tốt hơn các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất Lạc 53
5.2.3 Kinh nghiệm chuyển đổi trồng Lạc 54
5.2.4 Một số giải pháp đồng bộ khác 55
5.3 Kiến nghị 55
5.3.1 Đối với chính quyền địa phương 55
5.3.2 Đối với tổ chức khuyến nông 56
5.3.3 Đối với nông dân 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 PTNT: Phát triển nông thôn
2 NN-PTNT: Nông nghiệp- phát triển nông thôn
3 HQKT: Hiệu quả kinh tế
4 HQ: Hiệu quả
5 TCP: Tổng chi phí
6 DT: Doanh thu
7 LN: Lợi nhuận
8 WAI: Trung số trung bình
9 EFA: Phân tích nhân tố
10 BCR: Benefit Cost Ratio
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tổng hợp phương pháp nghiên cứu từ các nghiên cứu liên quan 16
Bảng 2.2 Các yếu tố tác động đến quyết định của nông hộ thông qua các kết quả nghiên cứu 17
Bảng 2.3 Tổng hợp các biến trong mô hình nghiên cứu 21
Bảng 3.1 Phân bố mẫu nghiên cứu 25
Bảng 4.1 Các chỉ số tài chính của mô hình chỉ canh tác Lúa 32
Bảng 4.2 Các chỉ số tài chính của mô hình Lúa luân canh với Lạc 33
Bảng 4.3 So sánh chi phí và lợi nhuận của hai mô hình 34
Bảng 4.4 So sánh Chi phí và lợi nhuận của Lúa và Lạc vụ Hè Thu 35
Bảng 4.5 Hiệu quả tài chính của các nhóm nông hộ 36
Bảng 4.6 Thông tin chung của người sản xuất chính 40
Bảng 4.7 Tuổi của người sản xuất chính 40
Bảng 4.8 Trình độ học vấn của nông hộ 41
Bảng 4.9 Nguồn nhân lực của nông hộ 42
Bảng 4.10 Kinh nghiệm sản xuất của nông hộ 42
Bảng 4.11 Tình hình tập huấn của các nhóm nông hộ 43
Bảng 4.12 Diện tích đất canh tác của các nhóm nông hộ 44
Bảng 4.13 Nhận thức của nông hộ về nông nghiệp sinh thái 45
Bảng 4.14 Ma trận tương quan 46
Bảng 4.15 Kiểm tra omnibus của các hệ số mô hình 48
Bảng 4.16 Mô hình tóm tắt 48
Bảng 4.17 Kết quả mô hình phân tích các yếu tố ảnh hướng đến quyết định chuyển đổi cơ cấu cây trồng của nông hộ xã Hòa Xuân Tây 48
Trang 11
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi cơ cấu cây trồng 20 Hình 4.1: Trình độ học vấn của các nhóm nông hộ 41 Hình 4.2: Tình trạng tập huấn của các nhóm nông hộ 43
Trang 12TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Chuyển đổi mô hình cây trồng là một trong những chủ trương mang lại hiệu quả kinh tế, tạo nguồn thu nhập và việc làm của nông hộ tại huyện Đông Hòa, Tỉnh Phú Yên Trong đó, mô hình chuyển đổi trồng Lạc trên đất Lúa kém hiệu quả là một trong những mô hình được áp dụng có hiệu quả Hiện tại mô hình chuyển đổi này đã được nhân rộng ở nhiều địa phương trong huyện Đông Hòa Xã Hòa Xuân Tây, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên, người dân đa phần hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp với diện tích trồng Lúa nhiều, tuy nhiên còn nhiều diện tích khô cằn không phù hợp để phát triển cây Lúa
Vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa của kết quả nghiên cứu dự kiến mang lại sau khi hoàn thành nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh tế, mô hình chuyển đổi Lúa – Lạc, quyết định chuyển đổi của nông hộ Đề xuất mô hình nghiên cứu với các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi của nông hộ
Xác định quy trình nghiên cứu của đề tài, phương pháp thu thập số liệu, đề xuất
mô hình nghiên cứu Đồng thời mô tả các phương pháp phân tích và sử lý số liệu được
sử dụng trong luận văn, phương pháp tìm mối tương quan giữa các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi cây trồng
Kết quả nghiên cứu, người nghiên cứu thống kê mô tả mẫu nghiên cứu, đưa ra cách xác định cỡ mẫu dựa trên công thức xác định cỡ mẫu của Bartlett, Kotrlik & Higgins (2001), quy mô mẫu nghiên cứu và đưa ra bảng phân bổ mẫu điều tra Trên cơ
sở bảng khảo sát điều tra, người nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS để xây dựng mô hình hồi qui nhị phân, xác định các biến trong mô hình Đồng thời sử dụng phân tích hồi quy để thực hiện Qua kết quả phân tích cho thấy các yếu tố như ảnh hưởng tích cực đến quyết định chuyển đổi cơ cấu cây trồng của nông hộ là trình độ học vấn và trình độ kỹ thuật (tập huấn) của người sản xuất chính, các yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến quyết định chuyển đổi cơ cấu cây trồng là số lao động nông nghiệp trong gia đình,
số người phụ thuộc trong gia đình và diện tích đất sản xuất nông nghiệp của nông hộ
đó
Từ khóa: Yếu tố ảnh hưởng, quyết định chuyển đổi mô hình cây trồng, xã Hòa Xuân Tây.
Trang 13CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất của nền kinh tế quốc dân và là một
bộ phận trọng yếu của tái sản xuất xã hội, phát triển nông nghiệp luôn giữ một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Đặc biệt với Việt Nam, từ lâu nông nghiệp đã trở thành một thế mạnh, là chỗ dựa vững chắc để đất nước có thể vượt qua những khó khăn, thử thách và xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh
Phú Yên, một trong những vựa Lúa của Miền Trung Hai năm gần đây, nhiều địa phương đã mạnh dạng chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất Lúa, chủ yếu là đất Lúa
1 vụ, không chủ động nước tưới sang trồng cây các loại cây khác mang lại hiệu quả kinh tế cao Nếu năm 2013, diện tích đất Lúa được các địa phương chuyển đổi cơ cấu cây trồng chỉ đạt 353 ha thì năm 2014 đã tăng lên hơn 500 ha Theo báo Phú Yên tháng 10/2015 đã đưa tin, nông dân Phú Yên đã đăng ký với chính quyền các địa phương đến năm 2015 tiếp tục chuyển 750 ha đất trồng Lúa sang trồng các loại cây khác Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Phú Yên năm 2016, cơ cấu cây trồng được nông dân sản xuất là rau màu, các loại cây họ đậu, dưa hấu, đã mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều lần so với trồng Lúa Nhiều địa phương đã xây dựng các mô hình luân canh trên đất Lúa như: Lúa-Dưa hấu phủ bạc, Lúa-ngô-mướp, Lúa- đậu-dưa, dưa-mướp đắng-dưa đạt doanh thu từ 90 đến 150 triệu đồng/ha, một vụ nông hộ thu nhập được từ 30-100 triệu đồng/ha, sau khi đã trừ các khoản chi phí Từ
đề án của Sở Nông nghiệp và PTNT Phú Yên về việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cho nông hộ Năm 2014, nông dân huyện Tuy An đã chuyển gần 200 ha đất Lúa, không chủ động nước tưới sang trồng luân canh cây đậu xanh với rau màu, doanh thu trung bình 100 triệu đồng/ha/năm
Đông Hòa là huyện đồng bằng ven biển nằm ở phía Nam tỉnh Phú Yên Bắc giáp thành phố Tuy Hòa và huyện Phú Hòa, Nam giáp tỉnh Khánh Hòa, Tây giáp huyện Tây Hòa, Đông giáp biển Đông Huyện có chiều dài bờ biển gần 50km kéo dài
từ xã Hòa Hiệp Bắc đến xã Đại Lãnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa Diện tích tự nhiên 26.561,91 ha, chiếm tỷ lệ 5,30% diện tích tự nhiên toàn tỉnh; dân số trung bình
hành chính: Trong đó có 08 xã và 02 thị trấn
Trang 14Theo Phòng NN-PTNT huyện Đông Hòa, với tập quán canh tác độc canh và kỹ thuật canh tác lạc hậu, lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật của người dân trong một thời gian dài đã làm cho một số diện tích đất nông nghiệp bị bạc màu, sản xuất kém hiệu quả Để góp phần cải tạo đất, giảm chi phí sản xuất và giúp bà con tiếp cận với nhiều cây trồng phù hợp những năm qua, Phòng NN-PTNT huyện Đông Hòa đã thực hiện một số mô hình chuyển đổi cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân và được bà con hưởng ứng trong số đó có mô hình chuyển đổi trồng Lạc trên đất Lúa kém hiệu quả
Xã Hòa Xuân Tây có 79 hộ nông dân tham gia mô hình trồng Lạc giống TB25 trên diện tích 20 ha năng suất từ 3,4 đến 4,2 tấn/ha, sau khi trừ chi phí lãi ròng đạt 46 triệu đồng/ha
Xuất phát từ thực tiễn trên về tầm quan trọng của quá trình chuyển đổi cây trồng góp phần phát triển kinh tế - xã hội của xã Hòa Xuân Tây, huyện Đông Hòa, tỉnh
Phú Yên, tác giả chọn đề tài “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển
đổi mô hình cây trồng của các hộ dân xã Hòa Xuân Tây, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Các nội dung nghiên cứu của đề tài tập trung giải đáp các câu hỏi:
Trang 15- Thứ nhất: Mô hình chuyển đổi Lạc trên đất Lúa mang lại hiệu quả kinh tế như thế nào so với mô hình chỉ trồng Lúa?
- Thứ hai: Những nhân tố nào ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi mô hình cây trồng từ Lúa sang Lạc của người nông dân tại xã Hòa Xuân Tây, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên?
- Thứ ba: Những chính sách nào có thể áp dụng để khuyến khích hộ nông dân tham gia chuyển đổi mô hình cây trồng từ Lúa sang Lạc tại xã Hòa Xuân Tây, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng khảo sát: Là các hộ dân đã chuyển đổi cây trồng từ Lúa sang Lạc và
những hộ dân chưa chuyển đổi trong giai đoạn từ năm 2011-2016
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: Đề tài sử dụng số liệu thứ cấp của Chi cục Thống kê tỉnh Phú Yên, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Đông Hòa, … trong giai đoạn 2011-2016 để viết tình hình cơ bản của nghiên cứu Số liệu sơ cấp được thu thập trong năm 2016
- Phạm vi về không gian: Đề tài được thực hiện tại Thôn Nam Bình 1, Nam Bình 2, Thạch Chẩm là những vùng nằm trong quy hoạch chuyển đổi cây trồng từ Lúa sang Lạc
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu hữu ích giúp các lãnh đạo địa phương đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp bằng việc chuyển đổi cây trồng, từ đó góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập nông hộ ở xã Hòa Xuân Tây, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên
- Kết quả nghiên cứu cũng có thể giúp các hộ dân trên địa bàn xã Hòa Xuân Tây, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên có cơ hội hiểu biết về mô hình chuyển đổi cây trồng
- Với góc độ cá nhân, tác giả có thể ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tế,
tự sản xuất và làm tốt công tác quản lý
1.6 Kết cấu của luận văn
Kết cấu của đề tài gồm năm chương như sau:
Trang 16Chương 1: Giới thiệu
Chương này trình bày tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, cũng như ý nghĩa của nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương này trình bày các cơ sở lý thuyết, các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại địa bàn nghiên cứu; cũng như tổng quan các công trình nghiên cứu trước liên quan nhằm tích lũy hình thành khung phân tích phù hợp cho nghiên cứu của luận văn và đưa ra các giả thuyết nghiên cứu nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương này giới thiệu các phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu trong luận văn như phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích nhị phân
Chương 4: Phân tích và thảo luận kết quả nghiên cứu
Nội dung chương này tập trung phân tích và thảo luận các kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và các hàm ý chính sách
Chương này trình bày các kết luận rút ra từ nghiên cứu, cũng như đề xuất các hàm ý chính sách khuyến khích tham gia chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại địa bàn nghiên cứu
Trang 17CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Khái niệm liên quan
2.1.1 Khái niệm về nông hộ
- Nông hộ là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp, là các thành viên có tài sản chung, cùng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác do pháp luật quy định và là chủ thể trong các quan hệ sản xuất, kinh doanh (Phạm Văn Dương, 2010)
Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn
Theo tổ chức Nông lương thế giới, FAO (2007) định nghĩa nông hộ là những hộ
có các hoạt động trong nghề trồng trọt, nghề rừng, nghề cá, nghề chăn nuôi và nghề nuôi trồng thủy sản Các sản phẩm nông nghiệp được hình thành thông qua quá trình quản lý và tổ chức sản xuất bởi các thành viên trong gia đình và phần lớn chủ yếu dựa vào lao động nhà, bao gồm cả nam lẫn nữ
Tác giả Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn
Trần Xuân Long (2009) đã nghiên cứu rằng: Hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn, vì tất cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu được thực hiện qua sự hoạt động của hộ nông dân
Hộ nông dân có những đặc điểm sau: (i) Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng; (ii) Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ tự cấp, tự túc, trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân và thị trường; (iii) Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau khiến khó giới hạn thế nào là một hộ nông dân
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về nông hộ nhưng khái niệm nông hộ có những điểm sau đây: Là những hộ gia đình sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp; nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông; là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một đơn vị tiêu dùng
Trang 182.1.2 Kinh tế nông hộ và đặc điểm của kinh tế nônghộ
Kinh tế nông hộ
Trong tiến trình xây dựng Nông thôn mới, khái niệm kinh tế hộ gia đình được hiểu rằng đây là một lực lượng sản xuất quan trọng ở nông thôn Việt Nam Hộ gia đình nông thôn thường sản xuất, kinh doanh đa dạng, kết hợp trồng trọt với chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh ngành nghề phụ (Đỗ Văn Quân, 2013)
Kinh tế nông hộ là một hình thức kinh tế cơ bản có hiệu quả và tự chủ trong nông nghiệp Nó được hình thành và phát triển một cách khách quan, lâu dài, dựa trên
sự tư hữu các yếu tố sản xuất, là loại hình kinh tế có hiệu quả, phù hợp với sản xuất nông nghiệp, thích ứng và tồn tại phát triển trong mọi chế độ kinh tế xã hội (Phạm Anh Ngọc, 2008)
Ở Việt Nam, từ khi thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị khóa VI (1988) về
“Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp”, hộ nông dân đã thực sự trở thành những đơn
vị tự chủ trong sản xuất nông nghiệp Hộ được tự chủ trong sản xuất kinh doanh, được toàn quyền trong điều hành sản xuất, sử dụng lao động, mua sắm vật tư kỹ thuật, hợp tác sản xuất và tiêu thụ sản phẩm do họ làm ra Như vậy, có thể hiểu kinh tế hộ gia đình là một tổ chức kinh doanh thuộc sở hữu của hộ gia đình, trong đó các thành viên
có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định (Mai Thị Thanh Xuân, Đặng Thị Thu Hiền, 2013)
Tóm lại, kinh tế nông hộ là một loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh của hộ gia đình, trong đó các hoạt động chủ yếu là dựa vào lao động gia đình Quá trình phát triển của kinh tế hộ gắn liền với quá trình phát triển của hộ đang hoạt động
Đặc điểm của kinh tế nông hộ
- Hoạt động của kinh tế nông hộ chủ yếu là dựa vào lao động gia đình hay là
lao động có sẵn mà không cần phải thuê ngoài Các thành viên tham gia hoạt động kinh tế hộ có quan hệ gắn bó với nhau về kinh tế và huyết thống
- Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng nhất không thể thiếu của sản xuất kinh
tế hộ nông dân
- Người nông dân là người chủ thật sự của quá trình sản xuất trực tiếp tác động vào sinh trưởng, phát triển của cây trồng vật nuôi, không qua khâu trung gian, họ làm việc không kể giờ giấc và bám sát vào tư liệu sản xuất của họ
Trang 19- Kinh tế nông hộ có cấu trúc lao động đa dạng, phức tạp, trong một hộ có nhiều loại lao động, vì vậy chủ hộ vừa có khả năng trực tiếp điều hành, quản lý tất cả các khâu trong sản xuất, vừa có khả năng tham gia trực tiếp quá trình đó
- Do có tính thống nhất giữa lao động quản lý và lao động sản xuất nên kinh tế
hộ nông dân giảm tối đa chi phí sản xuất và nó tác động trực tiếp lên lao động trong
hộ nên có tính tự giác để nâng cao hiệu quả và năng suất lao động (Nguyễn Phạm Hùng, 2014)
2.1.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là sự thay đổi quan hệ tỉ lệ về mặt lượng giữa các thành phần, các yếu tố và các bộ phận hợp thành nền kinh tế nông nghiệp theo xu hướng nhất định Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp diễn ra theo hai cách: tự phát và tự giác
Chuyển dịch tự giác: là sự chuyển dịch theo một xu hướng, mục tiêu sẵn cả về lượng và chất, là sự chuyển dịch có sự can thiệp, tác động của con người nhằm thúc đẩy, định hướng cơ cấu kinh tế theo xu hướng có lợi và hiệu quả hơn
Chuyển dịch tự phát: là quá trình kinh tế nông nghiệp chuyển dịch không theo một xu hướng mục tiêu định trước mà là sự chuyển dịch phụ thuộc vào tác động của các qui luật và điều kiện kinh tế khách quan
Trong nghiên cứu của Trương Toại Nguyện (2014) về ảnh hưởng của đa dạng hóa thu nhập tác giả cũng định nghĩa đa dạng hóa thu nhập có thể được xem là quá trình chuyển đổi từ sản xuất cây trồng có giá trị thấp sang cây trồng, vật nuôi và các hoạt động phi nông nghiệp có giá trị cao hơn Định nghĩa này tập trung vào việc đa dạng hóa như là một nguồn để nâng cao thu nhập hay đó là một chiến lược nhằm giảm rủi ro Vì vậy những nông hộ thường sẵn sàng chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp của mình nếu như việc chuyển chuyển đổi đó mang lợi lợi nhuận ổn định cho họ
2.1.4 Chuyển dịch cơ cấu cây trồng
Theo Đào Xuân Kiên (2012) Cơ cấu cây trồng là thành phần các giống và loại cây được bố trí theo không gian và thời gian trong hệ sinh thái nông nghiệp nhằm tận dụng hợp lý các nguồn lợi về tự nhiên, kinh tế-xã hội sẵn có của vùng Cơ cấu cây trồng là một bộ phận của cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nó còn là một nội dung chủ yếu của hệ thống canh tác nông nghiệp
Trang 20Chuyển đổi cơ cấu cây trồng là chuyển từ trạng thái cây trồng cũ sang trạng thái cây trồng mới để nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế, phát triển những cây trồng có triển vọng trên thị trường, có giá trị gia tăng cao
Việc chuyển đổi cơ cấu cầy trồng bao gồm đa dạng hóa, mở rộng quy mô hoặc
là chuyển đổi phương thức canh tác Trong đó chuyển đổi phương thức canh theo hướng nông nghiệp bền vững đang được quan tâm hơn cả Theo Nguyễn Xuân Thành (2013) Mục đích của phát triển nông nghiệp bền vững là kiến tạo nên một hệ thống canh tác bền vững về sinh thái, có tiềm lực về kinh tế, có khả năng thỏa mãn những nhu cầu của con người mà không huỷ diệt đất đai, không làm ô nhiễm môi trường
2.1.5 Phát triển nông nghiệp bền vững
Trong những năm đầu thập niên 80, Douglas GK đã phân loại 3 nhóm khác
nhau về định nghĩa nông nghiệp bền vững (Tác giả tham khảo bài viết của tác giả
Phạm Văn Đông, 2011 nghiên cứu về phát triển bền vững nông nghiệp nông thôn)
Nhóm thứ nhất: Nông nghiệp bền vững được nhấn mạnh chủ yếu vào khía cạnh kinh tế-kỹ thuật Năng suất lao động tăng và duy trì trong dài hạn là bằng chứng cho
sự tăng trưởng nông nghiệp theo con đường bền vững
Nhóm thứ hai: Nông nghiệp bền vững là nhấn mạnh chủ yếu vào khía cạnh sinh thái Một hệ thống nông nghiệp làm suy yếu, ô nhiễm và cân bằng sinh thái thì hệ thống đó không thể nào là bền vững được
Nhóm thứ ba: Nông nghiệp bền vững được nhấn mạnh chủ yếu vào khía cạnh môi trường con người Một hệ thống nông nghiệp không cải thiện được trình độ về giáo dục, sức khỏe và dinh dưỡng của người dân nông thôn thì hệ thống đó không được xem là bền vững
Theo tổ chức SARE (Sustainnable Aricultire Research & Education) ba nền móng quan trong của phát triển bền vững là:
- Lợi nhuận trong dài hạn
- Quản lý được đất đai, không khí và nguồn nước
- Đảm bảo được chất lượng cuộc sống của nông dân, chủ trang trại và cộng đồng
2.1.6 Đa dạng hóa hoạt động sản xuất kinh doanh khu vực nông nghiệp
Theo mô hình ba giai đoạn phát triển nông nghiệp của Todaro (1990), quá trình phát triển nông nghiệp trải qua ba giai đoạn từ thấp đến cao, tương ứng với mỗi giai đoạn
là cơ cấu kinh tế nông nghiệp phù hợp với vai trò ảnh hưởng của các nhân tố, cụ thể:
Trang 21Giai đoạn 1: Nền kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp-Đất đai và lao động là những yếu tố chủ yếu tham gia vào quá trình sản xuất, đầu tư vốn không cao
Giai đoạn 2: Chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa sản xuất, thể hiện ở chỗ: cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên từng đơn vị diện tích đất nông nghiệp, trên từng hộ được phát triển theo hướng hỗn hợp và đa dạng, để thay thế cho chế độ độc canh trong sản xuất trước kia
Cải tiến kỷ thuật canh tác, sử dụng giống mới kết hợp với phân bón hóa học và tưới tiêu nước chủ động làm tăng năng suất, sản lượng nhưng đồng thời tiết kiệm được diện tích đất sản xuất, phát triển nhiều loại sản phẩm hàng hóa phù hợp với nhu cầu thị trường và góp phần tăng thu nhập nông hộ
Giai đoạn 3: Phát triển sản xuất ở quy mô trang trại lớn theo hướng chuyên môn hóa, áp dụng tối đa công nghệ mới vào sản xuất một số loại sản phẩm riêng biệt có lợi thế cạnh tranh cao Do đó yếu tố vốn và công nghệ trở thành các yếu tố quyết định với tăng sản lượng nông nghiệp
Tóm lại, Todaro đã nhấn mạnh vai trò của các yếu tố vốn và công nghệ đến quá trình thay đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp qua các giai đoạn từ độc canh sang chuyên canh và chuyên môn hóa ở mức cao
Song song đó, mục đích của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn cũng nhằm để tăng năng suất lao động cho người dân, đồng thời qua đó nâng cao thu nhập của họ Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, giá cả nông sản không ổn định và thấp là một trong những yếu tố thúc đẩy nông dân chuyển đổi loại hình sản xuất hoặc
cơ cấu kinh tế nông hộ để đối phó với rủi ro của thị trường Họ phải chấp nhận sự lựa chọn giữa nâng cao thu nhập và rủi ro cao, hoặc thu nhập vừa với rủi ro thấp, từ đó đa dạng hóa sản xuất là biện pháp hữu hiệu để giảm rủi ro một khi họ chấp nhận tham gia vào thị trường (Todaro,1990)
2.2 Cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh tế
2.2.1 Khái niệm hiệu quả kinh tế
Hiệu quả là một phạm trù kinh tế chung nhất, liên quan trực tiếp đến nền kinh tế sản xuất hàng hóa Về HQKT, có hai quan điểm: Truyền thống và quan điểm mới cùng tồn tại Ngày nay, khi đánh giá hiệu quả đầu tư của các dự án phát triển, nhất là các dự
án đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn, đòi hỏi phải xem xét HQKT trên nhiều phương diện
Trang 22Quan điểm truyền thống cho rằng, nói đến HQKT tức là nói đến phần còn lại của kết quả sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ chi phí Nó được đo bằng các chi phí và lời lãi Nhiều tác giả cho rằng, HQKT được xem như là tỷ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra, hay ngược lại là chi phí trên một đơn vị sản phẩm hay giá trị sản phẩm Những chỉ tiêu hiệu quả này thường là giá thành sản phẩm hay mức sinh lời của đồng vốn Nó chỉ được tính toán khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh
Các quan điểm truyền thống trên chưa thật toàn diện khi xem xét hiệu quả kinh
tế Thứ nhất, có coi quá trình sản xuất kinh doanh trong trạng thái tĩnh, chỉ xem xét hiệu quả sau khi đã đầu tư Trong khi đó hiệu quả là chỉ tiêu rất quan trọng không những cho phép chúng ta biết được kết quả đầu tư mà còn giúp chúng ta xem xét trước khi ra quyết định đầu tư tiếp và nên đầu tư bao nhiêu, đến mức độ nào Trên phương diện này, quan điểm truyền thống chưa đáp ứng đầy đủ được Thứ hai, nó không tính yếu tố thời gian khi tính toán thu và chi cho một hoạt động sản xuất kinh doanh Do
đó, thu và chi trong tính toán HQKT theo quan điểm này thường chứa tính đủ và chính xác Thứ ba, HQKT theo quan điểm truyền thống chỉ bao gồm hai phạm trù cơ bản là thu và chi Hai phạm trù này chủ yếu liên quan đến yếu tố tài chính đơn thuần như chi phí về vốn, lao động, thu về sản phẩm và giá cả Trong khi đó, các hoạt động đầu tư và phát triển lại có những tác động không chỉ đơn thuần về mặt kinh tế mà còn cả các yếu
tố khác nữa Và có những phần thu lợi hoặc những khoản chi phí lúc đầu không hoặc khó lượng hóa được nhưng nó là những con số không phải là nhỏ thì lại không được phản ánh ở cách tính này
Quan điểm mới về HQKT: Gần đây các nhà kinh tế đã đưa ra quan niệm mới về HQKT, nhằm khắc phục những điểm thiếu của quan điểm truyền thống Theo quan điểm mới khi tính HQKT phải căn cứ vào tổ hợp các yếu tố:
+ Trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra Về mối quan hệ này, cần phân biệt rõ ba phạm trù: Hiệu quả kỹ thuật (Technical effciency); hiệu quả phân
bổ các nguồn lực (Allocative efficiency) và hiệu quả kinh tế (Economic efficiency) Hiệu quả kỹ thuật là số sản phẩm (O) thu thêm trên một đơn vị đầu vào (I) đầu tư thêm Tỷ số DO/DI được gọi là sản phẩm biên Hiệu quả phân bổ nguồn lực là giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn vị chi phí đầu tư thêm Thực chất nó là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố giá sản phẩm và giá đầu vào Nó đạt tối đa khi doanh thu biên bằng chi phí biên HQKT là phần thu thêm trên một đơn vị đầu tư thêm Nó chỉ
Trang 23đạt được khi hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả sử dụng nguồn lực là tối đa (Nguyễn Quốc Chỉnh, 2006)
2.2.2 Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế
Trong nền kinh tế nhiều thành phần phát triển theo cơ chế thị trường đang khuyến khích mọi ngành, mọi lĩnh vực sản xuất tham gia sản xuất kinh doanh để tìm kiếm cơ hội với yêu cầu mục đích khác nhau nhưng mục đích cuối cùng là tìm kiếm lợi nhuận Nhưng làm thế nào để có hiệu quả kinh tế cao nhất, là sự kết hợp các yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra trong điều kiện sản xuất, nguồn lực nhất định Ngoài ra còn phụ thuộc vào mục đích yêu cầu khoa học kỹ thuật và việc áp dụng vào trong sản xuất, vốn, chính sách quy luật khan hiếm nguồn lực trong khi đó nhu cầu của xã hội
về hàng hóa, dịch vụ ngày càng tăng và trở nên đa dạng hơn, có như vậy mới nâng cao được HQKT
Quá trình sản xuất là sự liên hệ mật thiết giữa các yếu tố đầu vào và yếu tố đầu
ra, là biểu hiện mối quan hệ của kết quả và hiệu quả sản xuất Kết quả là một đại lượng vật chất được biểu hiện bằng nhiều chỉ tiêu, nhiều nội dung tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể Khi xác định HQKT không nên chỉ quan tâm đến hoặc là quan hệ so sánh (phép chia) hoặc là quan hệ tuyệt đối (phép trừ) mà nên xem xét đầy đủ mối quan hệ kết hợp chặt chẽ giữa các đại lượng tương đối và đại lượng tuyệt đối HQKT ở đây được biểu hiện bằng giá trị tổng sản phẩm, thu nhập, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận HQKT trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu do hai quy luật chi phối:
- Quy luật cung-cầu
- Quy luật năng suất cận biên giảm dần
HQKT là một đại lượng để đánh giá, xem xét kết quả hữu ích được tạo ra như thế nào, chi phí là bao nhiêu, trong điều kiện sản xuất cụ thể nào, có được chấp nhận hay không? Như vậy, HQKT liên quan trực tiếp đến yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu
ra của quá trình sản xuất
Việc vận dụng các chỉ tiêu đánh giá HQKT trong sản xuất nông nghiệp là rất đa dạng vì ở một mức sản xuất nhất định cần phải làm thế nào để có chi phí vật chất, lao động trên một đơn vị sản phẩm là thấp nhất Việc đánh giá phần lớn phụ thuộc vào quy trình sản xuất là sự kết hợp gắn bó giữa các yếu tố đầu vào và khối lượng đầu ra, nó là một trong những nội dung hết sức quan trọng trong việc đánh giá HQKT Tùy thuộc vào từng ngành, quy mô, đặc thù của ngành sản xuất khác nhau thì hiệu quả kinh tế
Trang 24được xem xét dưới góc độ khác nhau, cũng như các yếu tố tham gia sản xuất Xác định các yếu tố đầu ra: Các mục tiêu đạt được phải phù hợp với mục tiêu chung của nền kinh tế quốc dân, hàng hóa sản xuất ra phải được trao đổi trên thị trường, các kết quả đạt được là: Khối lượng, sản phẩm, lợi nhuận Xác định các yếu tố đầu vào: Đó là những yếu tố chi phí về vật chất, công lao động, vốn
Phân tích HQKT trong sản xuất nông nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường việc xác định các yếu tố đầu vào, đầu ra gặp các trở ngại sau:
- Khó khăn trong việc xác định các yếu tố đầu vào: tính khấu hao, phân bổ chi phí, hạch toán chi phí Yêu cầu này phải chính xác và đầy đủ
- Khó khăn trong việc xác định các yếu tố đầu ra: Việc xác định các kết quả về mặt xã hội, môi trường sinh thái, độ phì của đất không thể lượng hóa được
Bản chất của HQKT xuất phát từ mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế xã hội là thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng về vật chất, tinh thần của mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội Muốn như vậy thì quá trình sản xuất phải phát triển không ngừng cả về chiều sâu và chiều rộng như: Vốn, kỹ thuật, tổ chức sản xuất sao cho phù hợp nhất để không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế của quá trình sản xuất Vì bất kỳ quá trình sản xuất nào đều liên quan đến hai yếu tố cơ bản đó là kết quả thu được và chi phí bỏ ra để tiến hành sản xuất Mối liên hệ này là nội dung cơ bản để phản ánh HQKT sản xuất, nhưng để làm rõ được bản chất của HQKT cần phải phân định sự khác nhau về mối liên hệ giữa kết quả và hiệu quả
- Kết quả là một đại lượng vật chất phản ánh về quy mô số lượng của sản xuất
- Hiệu quả là đại lượng để xem xét kết quả đạt được tạo ra như thế nào, nguồn chi phí vật chất bỏ ra bao nhiêu để đạt được kết quả đó
Như vậy, hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài mục đích, yêu cầu đặt ra đều quan tâm đến HQKT nó có vai trò trong việc đánh giá, so sánh, phân tích kinh tế nhằm tìm ra giải pháp có lợi nhất cho sản xuất
2.2.3 Phân loại hiệu quả kinh tế
Hoạt động sản xuất của nền kinh tế-xã hội được diễn ra ở các phạm vi khác nhau, đối tượng tham gia vào các quá trình sản xuất và các yếu tố sản xuất càng khác nhau thì nội dung nghiên cứu HQKT càng khác nhau Do đó để nghiên cứu HQKT đúng cần phải phân loại HQKT
Có thể phân loại HQKT theo các tiêu chí sau:
- Phân loại theo phạm vi và đối tượng xem xét HQKT được chia theo các khía cạnh sau:
Trang 25+ HQKT quốc dân: Là HQKT tính chung cho toàn bộ nền sản xuất xã hội của một quốc gia
+ HQKT ngành: Là HQKT tính riêng cho từng ngành sản xuất vật chất nhất định như công nghiệp, nông nghiệp
+ HQKT theo lãnh thổ: Tính riêng cho từng vùng, từng địa phương
+ HQKT của từng quy mô tổ chức sản xuất-kinh doanh: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, hộ gia đình
+ HQKT từng biện pháp kỹ thuật, từng yếu tố đầu vào sản xuất
- Phân loại hiệu quả theo bản chất, mục tiêu:
+ HQKT: Phản ánh mối tương quan giữa kết quả hữu ích về mặt kinh tế và chi phí bỏ ra, nó đánh giá chủ yếu về mặt kinh tế của hoạt động kinh tế mang lại
+ HQ xã hội: Phản ánh mối tương quan giữa kết quả các lợi ích về mặt xã hội do hoạt động sản xuất mang lại
+ HQ kinh tế-xã hội: Phản ánh mối tương quan giữa kết quả tổng hợp về mặt kinh tế-xã hội với các chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó như bảo vệ môi trường, lợi ích công cộng
+ HQ phát triển và bền vững: là hiệu quả kinh tế - xã hội có được do tác động hợp lý để tạo ra nhịp độ tăng trưởng tốt nhất và đảm bảo những lợi ích kinh tế, xã hội lâu dài
- Nếu căn cứ vào các yếu tố cơ bản của sản xuất các nguồn lực và hướng tác động vào sản xuất thì chia HQKT thành:
+ Hiệu quả sử dụng đất đai
+ Hiệu quả sử dụng lao động
+ Hiệu quả sử dụng các yếu tố tài nguyên như năng lượng, vốn
+ Hiệu quả việc áp dụng khoa học kỹ thuật như hiệu quả làm đất, hiệu quả bón phân (Nguyễn Hữu Ngoan, 2005)
2.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá lợi ích xã hội
Theo Nguyễn Văn Hậu (2010), để phát triển bền vững giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích có thể tăng vụ, thay đổi cây trồng, giống cây trồng hoặc tăng đầu tư Tác giả cũng nêu rõ một hệ thống cây trồng mang lại hiệu quả về mặt kinh tế cần thõa mãn một số điều kiện như: Đảm bảo yêu cầu chuyên canh và tỷ lệ sản phẩm hàng hóa cao, đảm bảo thu hút lao động và vật tư kỹ thuật có hiệu quả kinh tế, đảm bảo chất lượng và giá trị hàng hóa cao hơn cơ cấu cây trồng cũ
Trang 26Đánh giá hiệu quả kinh tế có thể dựa vào một số chỉ tiêu như sau: năng suất, tổng sản lượng, giá thành, thu nhập và mức lãi của các sản phẩm hàng hóa (Nguyễn Văn Hậu, 2010)
Nguyễn Đức Vũ và cộng sự (2013), đã xậy dựng một số tiêu chí đánh giá hiệu hiệu quả kinh tế trong mô hình nông lâm kết hợp theo hướng bền vững như sau:
- Chi phí: Tổng chi phí, chi phí công, chi phí vật tư (bình quân/ha/năm)
- Thu nhập: Tổng thu nhập trong cả chu kì, thu nhập ròng bình quân/năm
- Lãi suất đầu ra
Kế thừa những nghiên cứu trên, một số tiêu chí được tác giả sử dụng để đánh giá hiệu quả kinh tế trong nghiên cứu này là:
- Doanh thu là số tiền có được từ việc bán các sản phẩm nông sản Trong nghiên cứu này, tác giả lấy giá bán thực tế của nông sản tại thời điểm điều tra làm cơ
sở tính toán
Doanh thu = Sản lượng * Giá bán
- Tổng chi phí là tất cả các khoản đầu tư mà nông hộ bỏ ra trong quá trình hoạt động sản xuất, bao gồm chi phí công lao động gia đình
TCP = Chi phí vật chất + Chi phí lao động + Chi phi khác
- Chi phí lao động gia đình là số ngày mà nông hộ trực tiệp sản xuất bỏ ra để chăm sóc Chi phí này được tính theo ngày công lao động thuê mướn
- Lợi nhuận là khoản chênh lệch giữ doanh thu và tổng chi phí
Lợi nhuận = Doanh thu – Tổng chi phí
- Doanh thu/tổng chi phí (DT/TCP): tỉ số này phản ánh một đồng chi phí đầu tư thì chủ thể đầu tư sẽ thu được bao nhiêu đồng doanh thu Nếu chỉ số DT/TCP nhỏ hơn
1 thì chủ thể bị lỗ, nếu DT/TCP bằng 1 thì hòa vốn, DT/TCP lớn hơn 1 người chủ thể đầu tư mới có lời
DT/TCP = Doanh thu/ Tổng chi phí
- Lợi nhuận trên chi phí (LN/TCP): tỷ số này nói lên 1 đồng chi phí bỏ ra thì nông hộ sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Đây chính là tỷ suất lợi nhuận Tỷ số này lớn hơn 1 càng nhiều thì việc đầu tư càng hiệu quả
LN/TCP = Lợi nhuận/Tổng chi phí
- Lợi nhuận/doanh thu (LN/DT): cho biết 1 đồng thu nhập có bao nhiêu đồng lợi nhuận hay phản ánh mức lợi nhuận so với thu nhập
LN/DT = Lợi nhuận/Doanh thu
Trang 272.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.3.1 Các nghiên cứu trong nước
- Nhóm tác giả Mai Văn Thành, Trần Nam Anh và cộng sự (2004) với bài
nghiên cứu về “Các nhân tố ảnh hưởng đến người dân trong việc ra quyết định áp
dụng hệ thống nông lâm kết hợp tại xã Cao Sơn, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình”
Nghiên cứu đã sử dụng trọng số trung bình (WAI) phương pháp phân tích nhân tố và hàm hồi qui logit để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng hệ thống nông lâm kết hợp của người dân Kết quả cho thấy khi phân tích nhân tố ảnh hưởng dựa trên nhận thức về mức độ quan trọng thì nhóm nhân tố kinh tế (tăng thu nhập, vốn, sản phẩm đa dạng ) có ảnh hưởng mạnh nhất sau đó là nhóm nhân tố xã hội (thị trường, dịch vụ khuyến nông, hỗ trợ đầu vào, an toàn lương thực, nông hộ thành công, quyền sở hữu đất ) và cuối cùng là nhóm nhân tố lý sinh (chất lượng đất, nguồn nước, sâu bệnh ) Khi phân tích nhân tố ảnh hưởng dựa trên nhận thức về mức độ ảnh hưởng thì giống mới, tăng thu nhập, thị trường, an toàn lương thực và nông hộ thành công là các nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất đến quyết định áp dụng mô hình nông lâm kết hợp của nông hộ Tuy nhiên các nhân tố chính trong 19 nhân tố thuộc 3 nhóm nhân tố lớn
có ảnh hưởng đến quết định của nông hộ là an toàn lương thực, dịch vụ khuyến nông,
hỗ trợ đầu vào, tổ chức địa phương và quyền sở hữu đất
Mai Văn Nam và Nguyễn Thị Phương Dung (2010) đã có nghiên cứu “Các giải
pháp phát triển ngành hàng bưởi Năm roi Phú Hữu Hậu Giang” dựa trên số liệu được
thu thập từ 318 nông hộ sản xuất và các tác nhân tham gia tiêu thụ bưởi trên địa bàn tỉnh Hậu Giang Nghiên cứu này nhằm phân tích hiệu quả sản xuất của nông hộ ở Hậu Giang và phân tích kênh tiêu thụ bưởi năm roi, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm phát triển hiệu quả sản xuất và tiêu thụ bưởi Năm roi ở Hậu Giang Nghiên cứu sử dụng mô hình Probit để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mở rộng quy
mô trồng bưởi của nông hộ Theo đó, kinh nghiệm, lao động, diện tích, giá bán bưởi, sâu bệnh, tập huấn, tuổi và năng suất là những yếu tố được cho rằng ảnh hưởng đến quyết định mở rộng hay không mở rộng quy mô sản xuất của nông hộ Kết quả chạy
mô hình Probit cho thấy chỉ có hai yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của họ là tuổi của chủ hộ và năng suất Trong đó, đa số các hộ tiếp tục mở rộng sản xuất bưởi (71,7%) Tuy nhiên, có 28,3% hộ sẽ chuyển sang trồng cây khác bởi đất đã không còn cho cây bưởi phát triển và giá phân bón cao nhưng giá bưởi thấp ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của họ
Trang 282.3.2 Các nghiên cứu ngoài nước
- Maria S Bowman và David Zilberman (2013), Phạm Thanh Vũ (2013), Đào Xuân Kiên (2012), Rehima M, Belay K và công sự, (2013) đã xác định có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng của nông hộ và có thể được chia thành 4 nhóm lớn đó là nguồn nhân lực của nông hộ, đặc điểm của người ra quyết định sản xuất, các yếu tố kinh tế-xã hội và điều kiện tự nhiên, vị trí địa lí
- Theo Rehima M, Belay K và công sự (2013), diện tích đất canh tác có ảnh hưởng tích cực đến mức độ đa dạng hóa cây trồng của nông dân, nghiên cứu chỉ ra rằng diện tích đất càng tăng thì nông dân có xác suất đa dạng hóa cây trồng càng tăng
- Rehima và cộng sự (2013) cho rằng điều kiện thổ nhưỡng có ảnh hưởng đến
sự chuyển dịch các mô hình sản xuất nông nghiệp Rehima và cộng sự (2013) trong một bài nghiên cứu đã tìm ra rằng, đất đai càng màu mỡ thì người dân có xu hướng chỉ trồng những loại cây mang lại lợi nhuận cao, khai thác triệt để dinh dưỡng của đất, ít
có xu hướng đa dạng hóa
- Theo de Lauwere (2004), Bosma và cộng sự (2012), Canavari và cộng sự (2005), Phạm Thanh Vũ và cộng sự (2013) quyết định chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp của hộ còn bị ảnh hưởng bởi xu hướng chuyển đổi của cộng đồng địa phương
- Thái độ của nông dân, giáo dục và kiến thức cũng là những yếu tố ảnh hưởng tới người nông dân khi họ quyết định áp dụng hoặc không áp dụng khoa học kỷ thuật vào trong nông nghiệp để mở rộng quy mô sản xuất, hay có ý thức hoặc không có ý thức đối với việc bảo môi trường tự nhiên (McCann, 1997; Rehima và cộng sự, 2013)
Bảng 2.1 Tổng hợp phương pháp nghiên cứu từ các nghiên cứu liên quan
Anh và cộng sự
Các nhân tố ảnh hưởng đến người dân trong việc ra quyết định áp dụng hệ thống nông – lâm kết hợp tại xã Cao Sơn huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình
- Trọng số trung bình (WAI);
- Phân tích nhân tố (EFA);
- Hàm hồi qui logit
Thị Phương Dung
Các giải pháp phát triển ngành bưởi Năm roi Phú Hữu Hậu Giang
- Thống kê mô tả;
- Mô hình Heckman 2 bước (probit và OLS)
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)
Trang 29Qua các kết quả nghiên cứu cho thấy, đa phần các nghiên cứu về quyết định của nông hộ thường sử dụng một mô hình phổ biến, đó là mô hình prop, để tìm ra các yếu
tố tác động đến quyết định của nông hộ Các yếu tố tác động đến quyết định của nông
hộ có thể được tóm tắt trong bảng sau:
Bảng 2.2 Các yếu tố tác động đến quyết định của nông hộ thông qua các kết quả
nghiên cứu
Nguồn: Tổng hợp các nghiên cứu trước có liên quan
2.4 Các giả thuyết nghiên cứu của đề tài
Dựa vào khung phân tích và mô hình kinh tế lượng có thể thấy mô hình này biểu diễn mối quan hệ giữa các nhân tố chính đến quyết định chuyển đổi của nông hộ Các nhân tố chính ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi của nông hộ đó là tuổi của người
ra quyết định, giới tính, học vấn, số người phụ thuộc, số năm kinh nghiệm, diện tích, thu nhập chính từ nông nghiệp, tập huấn Nghiên cứu đã xây dựng các giả thuyết nhằm
để trả lời các câu hỏi nghiên cứu đã nêu ra
2.4.1 Tuổi của nông hộ
Quá trình tham gia sản xuất nông nghiệp, độ tuổi của nông hộ thể hiện được những đặc điểm trong canh tác nông nghiệp, do đó độ tuổi của người ra quyết định sẽ ảnh hưởng đến việc lựa chọn có chuyển đổi hay không chuyển đổi
Mai Văn Nam và Nguyễn Thị Phương Dung (2010) cho rằng khi tuổi của chủ
hộ cao thì số năm họ gắn bó với sản xuất là lâu, vì thế cách thức chăm sóc và am hiểu quá trình sản xuất sao cho hiệu quả nhất
Giả thuyết H1: Vì vậy, trong nghiên cứu này kỳ vọng tuổi của nông hộ càng lớn
thì quyết định chuyển đổi cơ cấu cây trồng càng cao, kỳ vọng dấu (+)
Trang 302.4.2 Giới tính của nông hộ
Là biến giả, nhận giá trị 1 nếu là nam giới, nhận giá trị 0 cho nữ giới Do đặc điểm giới tính, nữ giới thường phải đảm nhận các công việc gia đình, chăm sóc con cái
và thường thích ổn định nên không dành nhiều cho quá trình sản xuất đồng thời ít có khả năng thay đổi canh tác Vì vậy, nông hộ là nam thì khả năng chuyển đổi cao hơn
so với nông hộ là nữ giới Vì vậy, đặc điểm của giới tính cũng rất cần được kiểm định trong nghiên cứu này
Giả thuyết H2: Nếu nông hộ là Nam thì quyết định chuyển đổi sẽ cao hơn nông
hộ là Nữ, kỳvọng dấu (+)
2.4.3 Học vấn của nông hộ
Thể hiện số năm đi học trung bình của nông hộ Trình độ học vấn của các thành viên trong hộ nói chung và của người quyết định nói riêng có ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi của nông hộ Khi trình độ học vấn càng cao, khả năng tiếp thu nhanh các tiến bộ khoa học kỹ thuật về các loại cây trồng và sử dụng hiệu quả các nguồn lực khác để tăng hiệu quả sản xuất
Giả thuyết H3: Trình độ học vấn càng cao thì khả năng quyết định chuyển đổi
càng tăng, kỳ vọng dấu (+)
2.4.4 Số người phụ thuộc
Thể hiện số người không tạo ra thu nhập trong gia đình nông hộ, số người phụ thuộc ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi của nông hộ Khi số người phụ thuộc càng nhiều thì nông hộ cần phải mở rộng, thay đổi canh tác sản xuất để tăng thu nhập
Giả thuyết H4: Số người phụ thuộc càng nhiều thì khả năng quyết định chuyển
đổi càng tăng, kỳ vọng dấu (+)
2.4.5 Số năm kinh nghiệm
Biến số này được hiểu là số năm tham gia sản xuất của nông hộ Kinh nghiệm là yếu tố quyết định đến việc chuyển đổi cơ cấu câu trồng, các chủ hộ có nhiều kinh nghiệm sẽ biết đưa ra các quyết định liên quan tới việc thay đổi cây trồng mới phù hợp với điều kiện sản xuất, dự đoán và ứng phó với những rủi ro trong quá trình sản xuất tốt hơn
Như vậy, nghiên cứu trên cho thấy kinh nghiệm làm việc của nông hộ và quyết
định chuyển đổi cơ cấu cây trồng của nông hộ có quan hệ đồng biến
Giả thuyết H5: Kinh nghiệm làm việc của nông hộ càng cao thì khả năng chuyển
đổi cơ cấu cây trồng càng lớn, kỳ vọng dấu (+)
Trang 312.4.6 Diện tích đất canh tác
Trong nông nghiệp, đất là tư liệu sản xuất chủ yếu và khó thay thế Nông hộ có điều kiện để mở rộng quy mô hay tham gia sản xuất hay không đều phụ thuộc vào lượng diện tích sản xuất Việc không có hoặc có ít đất sản xuất làm cho nông hộ e dè trong việc quyết định chuyển đổi cây trồng
Giả thuyết H6: Vì vậy, trong nghiên cứu này kỳ vọng diện tích đất canh tác của
hộ càng lớn thì quyết định chuyển đổi cơ cấu cây trồng càng cao, kỳ vọng dấu (+)
2.4.7 Thu nhập chính từ nông nghiệp
Thu nhập nông nghiệp là thành quả nhận được của nông hộ trong quá trình canh tác Đây cũng là yếu tố không thể thiếu để giúp nông hộ mua vật tư, máy móc, thuê lao động, để tiếp tục canh tác trong những vụ tới Đồng thời, tạo cho nông hộ gắn bó và phát triển trong quá trình sản xuất
Giả thuyết H7: Hộ có thu nhập từ nông nghiệp cao thì khả năng chuyển đổi cao,
kỳ vọng dấu (+)
2.4.8 Tập huấn
Là biến thể hiện số lần tham gia tập huấn các mô hình chuyển đổi cây trồng, kỹ thuật trồng trọt, thể hiện sự tiếp cận kiến thức, khoa học kỹ thuật tiên tiến về nông nghiệp Nghiên cứu của Lê Xuân Thái (2014) cho thấy rằng, nông hộ áp dụng các kiến thức được tập huấn vào sản xuất đến khi thu hoạch được sản lượng cao hơn các nông
hộ không tham gia tập huấn Do vậy, trong nghiên cứu kỳ vọng rằng biến số này có quan hệ thuận chiều với thu nhập nông hộ
Giả thuyết H8: Tập huấn có quan hệ thuận chiều với quyết định chuyển đổi cơ
cấu cây trồng của nông hộ, kỳ vọng dấu (+)
2.5 Mô hình nghiên cứu
2.5.1 Khung phân tích đề tài
Kế thừa từ các kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định của nông hộ của các tác giả nghiên cứu trước và từ cơ sở lý thuyết, khung phân tích bao gồm 8 nhân tố ảnh hưởng đến quyết định huyển đổi cơ cấu cây trồng của nông hộ tại
xã Hòa Xuân Tây, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên
Trang 32- Để giải quyết mục tiêu 1, tác giả sử dụng các chỉ tiêu sau để đánh giá:
- Để giải quyết mục tiêu 2, tác giả sử dụng mô hình sau để phân tích:
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ lý thuyết và các nghiên cứu liên quan
Hình 2.1 Khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi cơ
cấu cây trồng
Quyết định chuyển đổi
cơ cấu cây trồng
Tập huấn
Trang 332.5.2 Mô hình lượng hóa
Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi cây trồng của nông
hộ được thể hiện qua phương trình mô hình hồi quy nhị phân như sau:
Bảng 2.3: Tổng hợp các biến trong mô hình nghiên cứu
dấu Biến phụ thuộc
Biến giả, thể hiện giới tính của nông
hộ nhận giá trị bằng 1 nếu nông hộ là nam, bằng 0 nếu nông hộ là nữ
+
1 = Có
0 = Không
Biến giả, nhận giá trị bằng 1 nếu nông
hộ có tham gia tập huấn khuyến nông, bằng 0 nếu không tham gia
+
Trang 35CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phương pháp nghiên cứu
3.1.1 Quy trình nghiên cứu
(Nguồn: Xây dựng của tác giả)
3.1.2 Cách tiếp cận nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp là vừa sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng
Điều tra thử: Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp với 30 nông hộ theo cách lấy mẫu thuận tiện để kiểm tra và hiệu
Đưa ra gợi ý chính sách để nâng cao chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại
xã Hòa Xuân Tây, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên
Định hướng mô hình lý thuyết
Cơ sở lý thuyết và mô hình
nghiên cứu
Phỏng vấn chuyên gia, thảo luận
Xác định vấn đề, mục tiêu, nội dung và đối tượng nghiên cứu
Trang 36chỉnh bản câu hỏi Bước này nhằm khám phá, điều chỉnh và bổ sung các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ ngoài những nhân tố được đưa ra trong mô hình nghiên cứu đề xuất
Sau phần nghiên cứu định tính các mục hỏi sẽ được chỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp hơn, làm cơ sở cho việc hoàn thiện bản câu hỏi chính thức để tiến hành nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp định lượng, bằng cách phát bảng hỏi ngay khi bản câu hỏi được chỉnh sửa từ kết quả nghiên cứu sơ bộ để thu thập dữ liệu khảo sát Đơn vị nghiên cứu là các nông hộ trên địa bàn xã Hòa Xuân Tây Toàn bộ dữ liệu hồi đáp sẽ được mã hóa sau đó sẽ được phân tích với sự hỗ trợ phần mềm SPSS
3.2 Quy mô mẫu, phương pháp chọn mẫu
3.2.1 Quy mô mẫu
Trong phân tích thống kê, quy mô mẫu cần thu thập phải đủ lớn để đạt được
mục tiêu nghiên cứu và đạt được độ tin cậy nhất định
Theo Tabachnick & Fidell (2007) để phân tích hồi quy đạt được kết quả tốt nhất với dữ liệu là dạng số liệu chéo (cross-sectional data), thì quy mô mẫu phải thỏa mãn
công thức n ≥50 + 8k (với k là số biến độc lập trong mô hình)
Nghiên cứu này có tổng cộng là 8 biến độc lập nên số lượng mẫu tối thiểu cần
thiết cho phân tích hồi quy là: n = 50 + 8* 8 =114 mẫu
Tuy nhiên, nhằm đảm bảo tính đại diện, nâng cao độ tin cậy trong kết quả phân tích, nghiên cứu thực hiện khảo sát 150 nông hộ trên địa bàn xã Hòa Xuân Tây
3.2.2 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu là quá trình chọn lựa một bộ phận tương đối nhỏ từ một tổng thể, với
tư cách là đại diện cho tổng thể nghiên cứu Việc chọn mẫu được tiến hành điều tra các đối tượng mang tính đại diện cho tổng thể Sau khi có thông tin thu được từ mẫu
nghiên cứu sẽ suy rộng cho các đặc tính của tổng thể nghiên cứu
Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu: Trong nghiên cứu này, mẫu nghiên cứu được chọn bằng phương pháp lấy mẫu thuận tiện Phiếu điều tra được gởi trực tiếp cho
hộ dân có hướng dẫn trả lời
Trang 37Bảng 3.1 Phân bố mẫu nghiên cứu
(Nguồn: Báo cáo tổng kết nông nghiệp và kết quả điều tra của tác giả, 2016)
3.3 Phương pháp tiếp cận các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển đổi cây trồng của
hộ dân
Mô hình Probit được giới thiệu lần đầu tiên bỡi Chester Bliss vào năm 1935
Giả sử theo phân tích đơn vị xác suất là có một phương trình phản ứng có dạng:
Trong đó Ф(t) là hàm phân phối chuẩn
3.3.1 Phương pháp hồi quy Binary logistic
Mô hình hồi quy Binary Logistic sử dụng biến phụ thuộc dạng nhị phân để ước lượng xác suất một sự kiện sẽ xảy ra với những thông tin của biến độc lập Thông tin cần thu thập về biến phụ thuộc là một sự kiện nào đó có xảy ra hay không (biến phụ
thuộc Y lúc này có hai giá trị 0 và 1, với 0 là không xảy ra sự kiện và 1 là có xảy ra)
và tất nhiên là cả thông tin về các biến độc lập X1, X2,…, Xk Từ biến phụ thuộc nhị
Trang 38phân này, một thủ tục sẽ được dùng để dự đoán xác suất sự kiện xảy ra theo quy tắc nếu xác suất được dự đoán lớn hơn 0.5 (điểm cắt mặc định) thì kết quả dự đoán sẽ cho
là “có” xảy ra sự kiện, ngược lại thì kết quả dự đoán sẽ cho là “không”
tục liên hệ qua phương trình:
Y = B0 + Σni=1BiXi + u
3.4 Loại dữ liệu và thu thập dữ liệu
3.4.1 Loại dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu
Trong luận văn, tác giả thu thập hai loại dữ liệu đó là dữ liệu thứ cấp và dữ liệu
sơ cấp
Dữ liệu thứ cấp: Số liệu được thu thập từ phòng thống kê huyện Đông Hòa, niên
giám thống kê tỉnh Phú Yên năm 2016, các báo cáo của ủy ban nhân dân xã Hòa Xuân Tây và các HTX NN trên địa bàn xã
Dữ liệu sơ cấp: Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu điều tra, phỏng vấn
trực tiếp nông hộ
3.4.2 Thu thập dữ liệu
3.4.2.1.Công cụ thu thập dữ liệu – Bản câu hỏi
Bản câu hỏi được thiết kế theo 03 bước:
Bước 1: Dựa vào cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan trước đây để hình thành bản câu hỏi ban đầu
Bước 2: Bản câu hỏi ban đầu được tham khảo ý kiến chuyên gia và thảo luận nhóm để điều chỉnh lại cho phù hợp và dễ hiểu
Sau quá trình thảo luận nhóm, bản câu hỏi điều tra được thiết kế 03 phần Phần thứ nhất gồm thông tin chung về hộ gia đình, phần này điều tra những thông tin về nhân khẩu chủ hộ, trình độ học vấn, số người sống trong hộ, diện tích đất canh tác, kinh nghiệm làm việc Phần thứ hai là những thông tin về doanh thu từ hoạt động nông nghiệp Phần cuối cùng thu thập những thông tin khác về ý kiến của hộ, các thông tin như tham gia tập huấn, các chính sách khuyến nông, …
Bước 3: Bản câu hỏi được hoàn chỉnh và khảo sát thử trước khi gửi đi khảo sát chính thức
Trang 393.4.2.2 Quá trình thu thập dữ liệu
Bản câu hỏi để thu thập thông tin đã được gửi trực tiếp đến đối tượng khảo sát và
đề nghị thời gian thu lại sau khi hoàn tất Nhằm đảm bảo tính bảo mật của người trả lời, trên bản câu hỏi đã cam kết chỉ sử dụng thông tin cho mục đích nghiên cứu và cam kết bảo mật thông tin cho người trả lời
Nghiên cứu sẽ thực hiện khảo sát với tổng số phiếu phát ra là 150 phiếu
3.5 Các công cụ phân tích dữ liệu
* Làm sạch dữ liệu: Trước khi xử lý và phân tích dữ liệu, các bản câu hỏi được kiểm tra để loại bỏ những phiếu trả lời mâu thuẫn, những phiếu trả lời không sử dụng được Sau đó số liệu sẽ được nhập vào máy tính để kiểm tra lỗi nhập dữ liệu, loại bỏ những quan sát có điểm bất thường bằng các bảng tần số, bảng kết hợp
* Phương pháp thống kê mô tả: Các thống kê mô tả sử dụng trong nghiên cứu này dùng để nghiên cứu sự khác nhau về thu nhập giữa các biến như trình độ học vấn, quy
mô hộ gia đình, số người sống phụ thuộc, diện tích đất, Thông qua phân tích thống
kê mô tả chúng ta có thể kiểm định sơ bộ các giả thuyết nghiên cứu đặt ra
* Sử dụng các phương pháp kinh tế lượng để phân tích hiệu quả kinh tế nông hộ
và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi cây trồng
TÓM TẮT CHƯƠNG 3
Trong chương 3, nghiên cứu đã xây dựng quy trình nghiên cứu; trình bày phương pháp nghiên cứu gồm nghiên cứu định tính thông qua phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua hình thức phát bản hỏi với bảng hỏi chi tiết đã được chuẩn
bị sẵn, với số lượng mẫu được đưa vào nghiên cứu chính thức là 150 mẫu
Trang 40CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.2 Tình hình thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng và mô hình chuyển đổi trồng Lạc trên đất Lúa tại xã Hòa Xuân Tây
42.1 Tình hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại xã Hòa Xuân Tây
Trong những năm gần đây, tình hình hạn hán diễn ra liên tục, nắng hạn gay gắt trên toàn vùng đã ảnh hưởng nghiêm trọng và gây thiệt hại cho sản xuất trồng trọt Theo báo cáo của huyện Đông Hòa trong vụ Hè Thu 2016 thời tiết nắng nóng kéo dài dẫn đến hơn 117ha Lúa đã gieo sạ bị hạn Ngoài ra, một số diện tích chân ruộng cao, không chủ động nước phải bỏ hoang hoặc chuyển sang trồng các loại cây trồng khác khoảng 96ha Bên cạnh đó, thời tiết nắng nóng kéo dài thiếu nguồn nước tưới phục vụ cho gieo sạ không đảm bảo Đồng thời, một số vùng vụ Đông Xuân thường xuyên bị ngập trũng làm chậm trễ quá trình gieo sạ của bà con nhân dân
Trước những khó khăn do ảnh hưởng của thời tiết gây ra, hàng năm Sở Nông nghiệp và PTNT đã chỉ đạo các địa phương chuyển diện tích Lúa bấp bênh, không chủ động nước, năng suất thấp sang trồng các loại cây: ngô lai, cây Lạc, đậu xanh cho phù hợp với từng vùng Trên chân cao đang sản xuất 2 vụ Lúa không hoàn toàn chủ động tưới, chuyển sang sản xuất 1 vụ Lúa + 1 vụ màu hoặc 2 vụ màu để giảm bớt áp lực về nước tưới trong vụ Hè Thu
Từ năm 2015 đến nay, xã Hòa Xuân Tây đã chuyển đổi sản xuất đất Lúa kém hiệu quả thành công từ 2 vụ/năm sang 1 vụ/năm đem lại hiệu quả kinh tế rõ rệt
Từ khi thực hiện công tác chuyển đổi cây trồng đến nay, xã Hòa Xuân Tây đã chuyển đổi 319,16ha để sản xuất Lúa 1 vụ và 2 vụ bấp bênh sang trồng cây nông nghiệp khác có hiệu quả phù hợp Trong đó, chuyển đổi cây Ngô với diện tích 76 ha, cây Lạc 78 ha, Đậu các loại chiếm diện tích 57 ha, cỏ chăn nuôi bò là 16,6 ha, diện tích chuyển đổi để trồng sen chiếm 37,16 ha, rau các loại chiếm 31 ha và cây trồng khác là 23,4 ha
Việc chuyển đổi từ trồng Lúa sang cây trồng cạn đã góp phần tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích đất sản xuất, tăng hiệu quả kinh tế cho người dân, trong đó những mô hình luân canh thường được người dân xã Hòa Xuân Tây thực hiện như: Lúa (ĐX) - Lạc (HT); Lúa (ĐX) - Ngô (HT);… Tuy nhiên, diện tích chuyển đổi cây trồng tại địa phương là chưa nhiều và còn nhiều hộ chưa thực hiện chuyển đổi, sản