1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cải thiện môi trường đầu tư tại khu kinh tế dung quất, tỉnh quảng ngãi

104 138 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Trên cơ sở các nghiên cứu về môi trường đầu tư MTĐT cũng như cơ sở thực tiễn của các quốc gia, địa phương về cải thiện MTĐT, đề tài đánh giá các nhân tố thuộc MTĐT tại

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS NGUYỄN THỊ KIM ANH

Chủ tịch Hội Đồng:

TS PHẠM THÀNH THÁI Phòng Đào tạo Sau Đại học:

KHÁNH HÒA - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Cải thiện môi trường đầu tư tại Khu

kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa

từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho đến thời điểm này

Khánh Hòa, tháng 10 năm 2018

Tác giả luận văn

Cao Minh Hùng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bài luận này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện tại trường Đại học Nha Trang; xin cảm ơn phòng đào tạo sau đại học đã tổ chức đào tạo chương trình cao học này

Xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Kim Anh đã tận tình, chu đáo hướng dẫn tôi thực hiện khóa luận này

Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Song

do mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp cận với thực tế cũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được Tôi rất mong được sự góp ý của quý Thầy, Cô giáo để bài luận được hoàn chỉnh hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Khánh Hòa, tháng 10 năm 2018

Tác giả luận văn

Cao Minh Hùng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC BẢNG BIỂU ix

DANH MỤC HÌNH x

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ VÀ CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ 6

1.1 Cơ sở lý luận về môi trường đầu tư 6

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, và phân loại môi trường đầu tư …….6

1.1.2 Nội dung của môi trường đầu tư 11

1.1.3 Những yếu tố tác động đến môi trường đầu tư 13

1.2 Cơ sở lý luận về cải thiện môi trường đầu tư 14

1.2.1 Quan niệm về cải thiện môi trường đầu tư 14

1.2.2 Nội dung cải thiện môi trường đầu tư 15

1.2.3 Cơ sở thực tiễn về cải thiện MTĐT……… 19

Tiểu kết chương 1 23

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ VÀ HOẠT ĐỘNG CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ TẠI KHU KINH TẾ DUNG QUẤT 24

2.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, KT-XH tỉnh Quảng Ngãi 24

2.1.1 Vị trí địa lý 24

2.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 25

2.1.3 Hạ tầng kỹ thuật 26

2.1.4 Giáo dục, đào tạo nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực 27

2.1.5 Kinh tế - xã hội 29

2.2 Tổng quan về KKT Dung Quất 29

2.2.1 Vị trí địa lý KKT Dung Quất 29

2.2.2 Quản lý Nhà nước KKT Dung Quất 29

2.3 Tình hình đầu tư vào KKT Dung Quất 34

Trang 6

2.3.1 Thực trạng vốn đầu tư vào KKT Dung Quất trong thời gian qua 34

2.3.2 Hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn KKT Dung Quất 39

2.4 Thực trạng về môi trường đầu tư tại KKT Dung Quất 39

2.4.1 Pháp luật, cơ chế và chính sách về đầu tư 39

2.4.2 Cơ chế thực thi và thủ tục hành chính 41

2.4.3 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội 49

2.5 Thông tin so sánh về cơ chế chính sách ưu đãi đặc thù của chính quyền địa phương đối với KKT và các chỉ số đánh giá đối với chính quyền tỉnh………55

2.6 Đánh giá thực trạng MTĐT tại KKT Dung Quất thông qua điều tra khảo sát doanh nghiệp 60

2.6.1 Giới thiệu chung về cuộc điều tra khảo sát của tác giả 60

2.6.2 Kết quả xử lý dữ liệu điều tra khảo sát 61

2.7 Đánh giá chung MTĐT tại KKT Dung Quất 68

2.7.1 Mặt tích cực của môi trường đầu tư KKT Dung Quất 68

2.7.2 Hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế môi trường đầu tư KKT Dung Quất 69

Tiểu kết Chương 2 72

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ TẠI KKT DUNG QUẤT 70

3.1 Quan điểm, mục tiêu phát triển KKT Dung Quất đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025 70

3.1.1 Quan điểm phát triển 70

3.1.2 Mục tiêu phát triển 70

3.2 Mục tiêu và phương hướng cải thiện môi trường đầu tư KKT Dung Quất trong thời gian đến 71

3.2.1 Mục tiêu cải thiện 71

3.2.2 Phương hướng cải thiện …….72

3.3 Những lợi thế, hạn chế và thách thức trong phát triển KKT Dung Quất 73

3.3.1 Những lợi thế 73

3.3.2 Những hạn chế và thách thức 74

3.4 Một số giải pháp cải thiện MTĐT tại KKT Dung Quất 74

3.4.1 Giải pháp hoàn thiện cơ chế chính sách về đầu tư 78

3.4.2 Giải pháp đẩy mạnh cải cách hành chính trong quản lý đầu tư 79

Trang 7

3.4.3 Giải pháp cải thiện cơ sở hạ tầng liên quan đến đầu tư 77

3.4.4 Giải pháp phát triển nguồn nhân lực tại địa phương 79

3.4.5 Giải pháp nâng cao năng lực, tính tích cực lao động của cán bộ, công chức đang làm việc tại Ban quản lý KKT Dung Quất 80

3.5 Một số kiến nghị 81

Tiểu kết Chương 3 83

KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

BOT: Building Operate Transfer (Xây dựng Kinh doanh Chuyển giao) BT: Building Transfer (Xây dựng Chuyển giao)

BTO: Building Transfer Operate (Xây dựng Chuyển giao Kinh doanh) CBCC: Cán bộ công chức

CN: Công nghiệp

CSHT: Cơ sở hạ tầng

DN: Doanh nghiệp

DV: Dịch vụ

FDI: Foreign Direct Investment (Đầu tư trực tiếp nước ngoài)

KCN: Khu công nghiệp

NSTW: Ngân sách Trung Ương

ODA: Official Development Assistance (Hỗ trợ phát triển chính thức) PAR INDEX: Chỉ số cải cách hành chính

PAPI: Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công

PCI: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

SXKD: Sản xuất kinh doanh

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Tốc độ phát triển vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tỉnh Quảng Ngãi các năm

2014 – 2016 so với năm trước (theo giá hiện hành) 29

Bảng 2.2 Lượng vốn đầu tư vào KKT Dung Quất tính đến 30/06/2017 35

Bảng 2.3 Những dự án bị thu hồi tại KKT Dung Quất tính đến hết năm 2017……….38

Bảng 2.4 Cơ cấu vốn đầu tư vào KKT Dung Quất phân theo ngành tính đến hết tháng 06/2017 39

Bảng 2.5 Đóng góp của các doanh nghiệp trên địa bàn KKT Dung Quất trong thời gian qua 39

Bảng 2.6 Trình độ người lao động tại KKT Dung Quất (2013 - 2017)……….53

Bảng 2.7 Thông tin so sánh KKT Dung Quất với KKTM Chu Lai 55

Bảng 2.8 Số lao động của doanh nghiệp hiện đang sử dụng 61

Bảng 2.9 Kết quả điều tra về các loại văn bản, thủ tục, giấy phép liên quan; chính sách thuế của tỉnh Quảng Ngãi 62

Bảng 2.10 Hình thức có được mặt bằng SXKD của doanh nghiệp 61

Bảng 2.11 Kết quả điều tra về thời gian giao mặt bằng SXKD cho DN 61

Bảng 2.12 Đánh giá của doanh nghiệp về cơ chế thực thi pháp luật và quy định cấp trên 65

Bảng 2.13 Số lượt thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp/năm 65

Bảng 2.14 Kết quả điều tra về thủ tục hành chính 66

Bảng 2.15 Kết quả điều tra về cơ sở hạ tầng kỹ thuật 64

Bảng 2.16 Đánh giá chung về CSHT kỹ thuật trong KKT Dung Quất 64

Bảng 2.17 Kết quả điều tra về cơ sở hạ tầng xã hội (nguồn lao động) …67

Bảng 2.18 Đánh giá chung của doanh nghiệp về MTĐT tại KKT Dung Quất 70

Bảng 2.19 Chỉ số PCI của Quảng Ngãi qua các năm (2013 - 2017)……….71

Bảng 2.20 Kết quả 10 chỉ số thành phần PCI qua các năm (2013 - 2017)………71

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Mối quan hệ giữa Chính phủ, MTĐT và nhà đầu tư 9

Hình 1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến MTĐT 14

Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Ngãi 25

Hình 2.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý nhà nước tại KKT Dung Quất 30

Biểu đồ 2.1 Trình độ người lao động tại KKT Dung Quất……… 54

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Trên cơ sở các nghiên cứu về môi trường đầu tư (MTĐT) cũng như cơ sở thực tiễn của các quốc gia, địa phương về cải thiện MTĐT, đề tài đánh giá các nhân tố thuộc MTĐT tại Khu kinh tế (KKT) Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi; trong đó tập trung đề cập đến các yếu tố cấu thành MTĐT như: (i) Pháp luật, cơ chế và chính sách đầu tư; (ii) Cơ chế thực thi và thủ tục hành chính (TTHC); (iii) Cơ sở hạ tầng (CSHT) kỹ thuật - xã hội phục vụ phát triển

Thông qua kết quả khảo sát 84 doanh nghiệp trong và ngoài nước đang thực hiện đầu tư tại KKT Dung Quất (nhưng kết quả thu về chỉ có 68 doanh nghiệp là hợp lý), bằng phương pháp thống kê mô tả, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của MTĐT đó là: doanh nghiệp phải tiếp nhiều đoàn thanh, kiểm tra trong năm; các quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho dân không phù hợp, công tác đền bù giải phóng mặt bằng để giao đất sạch cho doanh nghiệp triển khai dự án còn chậm; hệ thống giao thông (đường sá, bến cảng, sân bay) được đánh giá là thiếu đồng bộ, chất lượng chưa cao và quá tải không đáp ứng được yêu cầu phát triển; thị trường lao động thiếu lao động có trình độ tay nghề cao, số lao động đã qua đào tạo nghề vẫn còn thấp; cán bộ công chức đang làm việc tại ban quản lý KKT Dung Quất thiếu kinh nghiệm, thiếu tinh thần trách nhiệm trong xử lý công việc nên gây khó khăn, hạch sách doanh nghiệp Đánh giá chung của doanh nghiệp về MTĐT tại KKT Dung Quất đạt ở mức tương đối hài lòng (50 ý kiến, chiếm 73,53% số doanh nghiệp được phỏng vấn)

Do đó, để thu hút đầu tư mạnh hơn nữa vào KKT Dung Quất, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới, chính quyền tỉnh cần nâng cao chất lượng MTĐT tại KKT Dung Quất nói riêng và tỉnh Quảng Ngãi nói chung, thay đổi tích cực nhận thức của nhà đầu tư đối với MTĐT là những bước đi mà chính quyền tỉnh Quảng Ngãi phải tính đến và thực hiện trong giai đoạn phát triển tới đây Các giải pháp được đề xuất từ kết quả nghiên cứu để cải thiện MTĐT tại KKT Dung Quất trong thời gian tới là: (i) Hoàn thiện cơ chế chính sách về đầu tư; (ii) Đẩy mạnh cải cách hành chính trong quản lý đầu tư; (iii) Cải thiện cơ sở hạ tầng liên quan đến đầu tư; (iv) Phát triển nguồn nhân lực tại địa phương; (v) Nâng cao năng lực, tính tích cực lao động của cán bộ, công chức đang làm việc tại Ban quản lý KKT Dung Quất

Từ khóa: Môi trường đầu tư, Khu kinh tế, Dung Quất

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Dưới tác động mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, toàn cầu hóa kinh tế thế giới và hội nhập là xu thế tất yếu để các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng tồn tại và phát triển Với sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ giữa các quốc gia, giữa các khu vực đã trở thành thách thức đối với Việt Nam trong thu hút nguồn vốn đầu tư; từ nhiều phân tích của các học giả và thực tiễn đã cho thấy Việt Nam vẫn còn tồn tại một số rào cản gây trở ngại cho những nhà đầu tư, cũng như cơ chế thị trường còn thiếu tính minh bạch, hệ thống pháp luật còn chưa đồng bộ, cơ sở hạ tầng kỹ thuật – xã hội còn yếu kém, trình độ tay nghề người lao động chưa cao, thủ tục hành chính (TTHC) chưa giải quyết nhanh gọn…tất cả đã gây cản trở đối với các nhà đầu tư Chính vì sự khốc liệt của sự cạnh tranh ngày càng cao thì Việt Nam cần phải có những hướng làm mới mình, cải thiện MTĐT của mình hơn để là nơi đáng tin cậy cho các nhà đầu tư

Để Việt Nam có thể làm mới mình, cải thiện MTĐT mình theo hướng tốt hơn thì bản thân từng địa phương, từng khu công nghiệp, khu kinh tế phải thay đổi theo lối tư duy mới Khu kinh tế (KKT) Dung Quất – một KKT trọng điểm của cả nước, KKT trung tâm của các tỉnh duyên hải Miền Trung; từ khi thành lập và đi vào hoạt động cho đến nay thì hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài nước vào Quảng Ngãi, đặc biệt đầu tư vào KKT Dung Quất cũng mạnh mẽ hơn; cụ thể qua 20 năm hình thành và phát triển thì KKT Dung Quất đã thu hút được 256 dự án đầu tư (trong đó có

43 dự án FDI) Đây là tín hiệu đáng mừng cho KKT Dung Quất nói riêng và cho nhân dân, chính quyền Quảng Ngãi nói chung; tăng cường thu hút đầu tư là vậy nhưng trong thời gian qua một số dự án vẫn còn triển khai rất chậm chạp với nhiều nguyên nhân như: suy giảm kinh tế gây ảnh hưởng không nhỏ, một số dự án xin giãn tiến độ, một số

dự án bị tỉnh thu hồi…; nhưng nguyên nhân chính phải kể đến đó là môi trường đầu tư tại KKT Dung Quất đang tồn tại nhiều bất cập Do vậy, công việc cấp bách hiện nay là tạo lập một môi trường đầu tư thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư để từ đó có thể đẩy nhanh quá trình xây dựng và phát triển toàn diện, bền vững đưa KKT Dung Quất trở thành hạt nhân tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung trong tương lai Với mong muốn đóng góp những giải pháp nhằm góp phần cải thiện môi trường đầu

tư tại KKT Dung Quất, tôi đã chọn đề tài: “Cải thiện môi trường đầu tư tại Khu kinh tế

Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi ” để nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình

Trang 13

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu này là đánh giá môi trường đầu tư của KKT Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi Qua đó đề xuất một số kiến nghị để MTĐT của KKT Dung Quất được hấp dẫn hơn trong mắt các nhà đầu tư

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Một là, đánh giá thực trạng môi trường đầu tư tại KKT Dung Quất

- Hai là, xác định những hạn chế của môi trường đầu tư tại KKT Dung Quất

thông qua kết quả điều tra doanh nghiệp

- Ba là, đề xuất các giải pháp để khắc phục những vấn đề còn tồn tại trong

MTĐT tại KKT Dung Quất; đồng thời đề xuất một số kiến nghị với cấp TW và cấp địa phương để cải thiện MTĐT tại KKT Dung Quất nói riêng và MTĐT tại Quảng Ngãi nói chung

3 Câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm trả lời các câu hỏi sau:

- Một là, thực trạng về MTĐT tại Khu kinh tế Dung Quất hiện nay ra sao?

- Hai là, MTĐT tại Khu kinh tế Dung Quất còn hạn chế vấn đề gì? Đâu là

nguyên nhân của những hạn chế đó?

- Ba là, cần làm gì và làm như thế nào để cải thiện tốt hơn MTĐT tại Khu kinh

tế Dung Quất trong thời gian tới?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến MTĐT tại Khu kinh tế Dung Quất

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: Thời gian tiến hành khảo sát lấy ý kiến doanh nghiệp về các nhân

tố tác động đến MTĐT được thực hiện từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2017

- Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn KKT Dung Quất tỉnh Quảng Ngãi

Trang 14

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp chuyên gia và điều tra doanh nghiệp (phiếu điều tra, mời đại diện một số doanh nghiệp) Thống kê mô tả để xử lý dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu điều tra khảo sát trực tiếp 84 doanh nghiệp đang hoạt động SXKD tại KKT Dung Quất (kết quả thu về chỉ hợp lý 68 doanh nghiệp) Từ những kết quả thu thập được, tác giả đã xem đó là cơ sở để nhận định và đề xuất các kiến nghị nhằm cải thiện MTĐT tại KKT Dung Quất

6 Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu

tế Dung Quất phục vụ nhu cầu thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước

- Nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên, nhà nghiên cứu trong các cơ quan nghiên cứu, trường đại học

7 Tổng quan tình hình các nghiên cứu liên quan

Vấn đề về phân tích, cải thiện MTĐT đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu với nhiều khía cạnh khác nhau:

7.1 Các công trình nghiên cứu trong nước

- Hồ Sỹ Ngọc (2015), tác giả đưa ra cách tiếp cận mới về MTĐT cấp tỉnh, theo tác

giả “MTĐT cấp tỉnh là tập hợp các yếu tố đặc thù địa phương đang định dạng các cơ hội

và động lực để doanh nghiệp đầu tư có hiệu quả, tạo việc làm và mở rộng sản xuất” Đồng thời, xác định nội hàm (gắn với tiêu chí đánh giá) về MTĐT cấp tỉnh khi nghiên cứu tại địa phương và hướng tới cải thiện, đó là:

(i) MTĐT cấp tỉnh là môi trường tạo nền cơ chế, chính sách và các công cụ hỗ trợ trong điều hành thực tiễn địa phương (đo lường mức độ sáng tạo, tính phù hợp và

ổn định)

Trang 15

(ii) MTĐT cấp tỉnh thể hiện ở năng lực điều hành của chính quyền địa phương trong thực thi pháp luật, cơ chế và chính sách trung ương cũng như giải quyết các thủ tục hành chính liên quan

(iii) MTĐT cấp tỉnh thuộc về cơ sở hạ tầng kỹ thuật - xã hội địa phương trong việc hỗ trợ phát triển, có tác động lớn đến quyết định lựa chọn địa điểm đầu tư

Qua quá trình phân tích, đánh giá thực trạng MTĐT cấp tỉnh - Nghiên cứu điển hình tại tỉnh Nghệ An gắn với 3 tiêu chí đánh giá trên thông qua số liệu thứ cấp của các sở, ngành và điều tra doanh nghiệp, cán bộ quản lý Nghiên cứu phân tích định lượng trong mối quan hệ tương quan tác động qua lại lẫn nhau, từ đó xác định mức độ tác động của từng yếu tố đến MTĐT cấp tỉnh và sự cần thiết cần phải điều chỉnh nhằm làm bài học kinh nghiệm cho các địa phương có tính chất tương đồng, hướng tới một MTĐT minh bạch, hiệu quả và đáng tin cậy

- Đỗ Hải Hồ (2011), đề tài nghiên cứu và đánh giá thực trạng MTĐT tại các tỉnh

trung du miền núi phía Bắc Việt Nam trên cơ sở điều tra doanh nghiệp để phân tích và chỉ ra rằng MTĐT tại các tỉnh trung du miền núi phía Bắc là rất hạn chế, dẫn đến kết quả thu hút đầu tư thấp, tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện thấp (chỉ là 30%) so với vốn đầu tư đăng ký, số dự án đi vào hoạt động SXKD thấp (chỉ là 36%) so với số dự án đăng ký Tác giả đề xuất mô hình kinh tế lượng gồm 3 biến độc lập đó là:

(i) Sự đồng thuận

(ii) Chất lượng CSHT địa phương

(iii) Chất lượng nguồn nhân lực

Và chứng minh rằng kết quả thu hút đầu tư tăng khi có sự cải thiện các yếu tố của MTĐT và kiểm định yếu tố nào tác động tới MTĐT cũng như mức độ tác động của từng yếu tố

- Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (2005),

đưa ra khái niệm về MTĐT “MTĐT được hiểu là bao gồm tất cả các điều kiện liên quan đến kinh tế, chính trị, hành chính, CSHT tác động đến hoạt động đầu tư và kết quả hoạt động của doanh nghiệp” và đưa ra 8 giải pháp nhằm cải thiện MTĐT nông thôn Việt Nam, trong số 8 giải pháp đó có giải pháp về thành lập một cơ quan chuyên trách về quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), làm cầu nối giữa các nhà đầu tư và các nhà hoạch định chính sách đầu tư Mục tiêu của cơ quan chuyên trách này là hỗ trợ các nhà đầu tư trong giai đoạn hình thành dự án đầu tư, giai đoạn chuẩn bị đầu tư Như

Trang 16

vậy, về mặt cơ cấu tổ chức sẽ có thêm một cơ quan làm công tác quản lý FDI ngoài Sở

Kế hoạch và Đầu tư và Ban Quản lý KKT, KCN, khu chế xuất (KCX)

7.2 Các công trình nghiên cứu của nước ngoài

- World Bank (2005), mô hình nghiên cứu về MTĐT với 2 nhóm yếu tố:

(i) Chính sách và ứng xử của Chính phủ trong việc kiềm chế trục lợi, tạo dựng

độ tin cậy, củng cố lòng tin và tính chính thống;

(ii) Yếu tố truyền thống, vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Đồng thời, đưa ra quan điểm phân cấp quản lý tài chính có ảnh hưởng tích cực đến MTĐT tạo ra sự cạnh tranh về thể chế và tăng tính sáng tạo trong xây dựng chính sách trên nhiều phương diện: Thứ nhất, phân cấp trách nhiệm giúp địa phương tiếp cận

và điều chỉnh đúng đối tượng quản lý; Thứ hai, phân cấp ngân sách giúp địa phương chủ động xây dựng cơ sở tính thuế hiệu quả trong điều kiện phát triển kinh tế

- Scott Morgan Robertson (2007), “Việt Nam - Mở cửa để thu hút đầu tư” nội

dung nghiên cứu gồm 2 phần: MTĐT và cơ hội đầu tư tại Việt Nam Tác giả phân tích

3 yếu tố tích cực của MTĐT tại Việt Nam gồm:

(i) Lực lượng lao động trẻ

(ii) Các quy định của pháp luật đã được cải thiện

(iii) Các vấn đề về đất đai, thuế

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, cấu trúc của luận văn gồm 3 chương, cụ thể như sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận về môi trường đầu tư và cải thiện môi trường đầu tư Chương 2 Thực trạng môi trường đầu tư và cải thiện môi trường đầu tư tại KKT Dung Quất

Chương 3 Một số giải pháp cải thiện môi trường đầu tư tại KKT Dung Quất trong thời gian tới

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ VÀ

CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ

1.1 Cơ sở lý luận về môi trường đầu tư

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, và phân loại môi trường đầu tư

1.1.1.1 Khái niệm môi trường đầu tư (MTĐT)

MTĐT là một thuật ngữ đã được nghiên cứu và sử dụng trong lĩnh vực kinh tế

và quản trị kinh doanh ở nhiều nước trên thế giới; cho đến nay vẫn được nhiều tác giả

đề cập đến nhưng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Khái niệm MTĐT được nghiên cứu và xem xét theo nhiều khía cạnh khác nhau tùy thuộc vào mục đích, phạm

vi và đối tượng nghiên cứu Với phạm vi nhất định thì có thể nghiên cứu môi trường đầu tư của một doanh nghiệp, môi trường đầu tư của một ngành, môi trường đầu tư trong nước, môi trường đầu tư khu vực và môi trường đầu tư quốc tế Nhưng nếu tiếp cận môi trường đầu tư theo một khía cạnh, một yếu tố cấu thành nào đó thì ta lại có môi trường hành chính pháp lý, môi trường kinh tế, môi trường chính trị - xã hội, môi trường cơ sở hạ tầng, môi trường lao động… Do đó, trong lý luận và thực tiễn có rất nhiều quan niệm khác nhau về môi trường đầu tư; cụ thể như sau:

- Khái niệm 1: Môi trường đầu tư được hiểu là tổng hợp các yếu tố (điều kiện phát triển về pháp luật, kinh tế, chính trị - xã hội, các yếu tố về cơ sở hạ tầng, năng lực thị trường và các lợi thế của một quốc gia) có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đầu

tư của các nhà đầu tư tại một quốc gia (Vim P.M Vijverberg, 2005)

- Khái niệm 2: Môi trường đầu tư là tập hợp các yếu tố đặc thù địa phương đang định hình cho các cơ hội và động lực để doanh nghiệp đầu tư có hiệu quả, tạo việc làm

và mở rộng sản xuất (Scott Morgan Robertson, 2007)

- Khái niệm 3: Môi trường đầu tư là tổng hòa các yếu tố khách quan và chủ quan của một quốc gia hay một khu vực ; nó đem lại lợi ích, lợi nhuận cho nhà đầu tư; đồng thời quyết định số lượng và chất lượng các dòng vốn đầu tư vào quốc gia và khu

vực đó (Đỗ Hải Hồ, 2011)

- Khái niệm 4: Môi trường đầu tư là tổng hòa các yếu tố của nước nhận đầu tư

có ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, và phát triển kinh tế (Nguyễn

Thị Ái Liên, 2011)

Trang 18

- Khái niệm 5: Môi trường đầu tư có thể hiểu là tổng hòa các yếu tố có ảnh hưởng đến công cuộc kinh doanh của các nhà đầu tư và phát triển kinh tế xã hội của các nước chủ nhà, bao gồm các yếu tố chủ yếu như tình hình chính trị, chính sách đối với FDI, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, dân số và cơ sở hạ tầng xã hội do trình độ của

nền kinh tế quy định (Trần Quang Lâm và An Như Hải, 2006)

Vì MTĐT có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nên để tối thiểu những ảnh hưởng không tốt của môi trường đầu tư đến hoạt động của các doanh nghiệp thì mỗi một địa phương cần phải tạo lập một môi trường đầu tư lý tưởng để thu hút và giữ chân các nhà đầu tư

1.1.1.2 Đặc điểm của môi trường đầu tư

Môi trường đầu tư có các đặc trưng cơ bản sau:

- Tính khách quan và chủ quan: MTĐT phản ảnh trình độ phát triển kinh tế của

một địa phương, một quốc gia; biểu hiện sự phát triển năng động của các doanh nghiệp khi bỏ vốn đầu tư Tính khách quan được thể hiện ở sự ràng buộc, không có một nhà đầu tư nào hay một doanh nghiệp nào có thể tồn tại một cách biệt lập mà không đặt mình vào một môi trường kinh doanh nhất định, ngược lại cũng không có một môi trường đầu tư nào mà lại không có doanh nghiệp đang hoạt động Có thể nói, ở đâu có hoạt động đầu tư thì ở đó sẽ hình thành môi trường đầu tư, môi trường đầu tư tồn tại một cách khách quan, nó có thể tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp nhưng cũng

có thể gây trở ngại cho doanh nghiệp Mặt khác, MTĐT cũng mang tính chủ quan thể hiện ở sự lồng ghép ý chí của con người thông qua hệ thống pháp luật quy định, ý đồ phát triển trong các bản quy hoạch phát triển, cơ chế chính sách, hỗ trợ đầu tư nhằm hướng tới một MTĐT thuận lợi

- Tính đa dạng (tính tổng hợp): MTĐT là sự đan xen của các môi trường thành

phần như: môi trường pháp lý và hành chính, môi trường kinh tế và tài nguyên, môi trường tài chính, môi trường cơ sở hạ tầng, môi trường lao động…; các yếu tố của môi trường thành phần có tác động và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau giữ cho MTĐT luôn ở trạng thái vận động, biến đổi và phát triển liên tục, do đó khi nghiên cứu phải xem xét

Trang 19

trong mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau giữa các yếu tố chứ không phải xem xét độc lập từng yếu tố Bất cứ sự thay đổi nào của MTĐT đều có ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư, tạo ra trở ngại hoặc cơ hội cho nhà đầu tư Từng yếu tố thay đổi theo hướng tích cực những vẫn có thể chưa giải quyết được những rào cản mà nhà đầu tư gặp phải bởi vì giữa các yếu tố của MTĐT có mối quan hệ tương tác với nhau Chính phủ tách bạch từng lĩnh vực, phân công nhiệm vụ tách bạch cho các bộ, ngành nên khi đánh giá việc cải thiện MTĐT cũng cần phải phối hợp giữa các bộ, ngành, các cấp với nhau

- Tính hai chiều: Các nhà đầu tư luôn hoạt động trong MTĐT nhất định Giữa

Chính phủ, MTĐT và nhà đầu tư có mối quan hệ tương tác với nhau MTĐT tạo ra cơ hội đầu tư, ảnh hưởng tới quá trình đầu tư thông qua tác động đến chi phí, rủi ro, rào cản cạnh tranh và từ đó sẽ ảnh hưởng đến lợi ích và hiệu quả của hoạt động đầu tư MTĐT sẽ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, bỏ vốn đầu tư bao nhiêu và bỏ vốn đầu tư

ở đâu; hay MTĐT có ảnh hưởng đến giá trị cũng như cơ cấu đầu tư của một quốc gia Ngược lại, nhà đầu tư khi đầu tư sẽ ảnh hưởng đến MTĐT theo hai hướng: tích cực hoặc tiêu cực, như nâng cao trình độ nghề nghiệp và quản lý của người lao động hoặc làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên Bên cạnh đó, trình độ khoa học công nghệ cũng ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư và ngược lại đầu tư cũng tác động đến quá trình phát triển công nghệ của quốc gia đó

Tính hai chiều của MTĐT còn thể hiện vai trò của Nhà nước với quá trình cải thiện MTĐT Có những yếu tố của MTĐT mà Chính phủ ít có ảnh hưởng như vị trí địa

lý, thời tiết, khí hậu,…Chính phủ lại có ảnh hưởng mạnh đến các yếu tố cuat MTĐT như: chính trị, pháp luật, cơ sở hạ tầng Thông qua vai trò quản lý của mình thì Chính phủ có thể đánh giá MTĐT, sử dụng các kênh thông tin khác nhau để giới thiệu về MTĐT, cũng như cơ hội đầu tư đến các nhà đầu tư Nhà đầu tư là chủ thể ra quyết định đầu tư và thực hiện đầu tư; nếu nhà đầu tư không có thông tin về MTĐT thì không bỏ vốn đầu tư, quốc gia không thu hút được vốn đầu tư Ngược lại, Chính phủ cần nhận thông tin từ nhà đầu tư phản ảnh để có hướng xử lý phù hợp Mối quan hệ hai chiều giữa Chính phủ, MTĐT và nhà đầu tư được thể hiện ở sơ đồ sau:

Trang 20

Hình 1.1: Mối quan hệ giữa Chính phủ, MTĐT và nhà đầu tư

(Nguồn: Nguyễn Thị Ái Liên, 2011)

- Tính động: Sự ổn định của môi trường đầu tư chỉ mang tính tương đối, các yếu

tố cấu thành nên môi trường đầu tư luôn luôn vận động và biến đổi qua từng thời kỳ Các yếu tố của MTĐT cũng như sự vận động của chúng có ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư theo chu kỳ dự án đầu tư từ quá trình đua ra quyết định đầu tư, chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, ảnh hưởng tới chi phí, lợi ích và hiệu quả của hoạt động đầu tư Sự vận động và biến đổi này chịu sự tác động của các quy luật vận động nội tại của từng yếu tố cấu thành nên môi trường đầu tư và của nền kinh tế, chúng vận động theo xu thế ngày càng hoàn thiện Bản thân hoạt động đầu tư cũng ảnh hưởng đến các yếu tố của MTĐT như thay đổi về công nghệ, về cơ sở hạ tầng…Chính vì MTĐT luôn vận động nên các nhà đầu tư cần dự đoán được những thay đổi của MTĐT cũng như sự thay đổi của các yếu tố tạo nên MTĐT để có quyết định lựa chọn địa điểm bỏ vốn, quy mô đầu

tư và ngành đầu tư nhằm thu được hiệu quả cao nhất Vì vậy, khi nghiên cứu và phân tích môi trường đầu tư thì các nhà đầu tư cần phải đứng trên quan điểm động hay nói cách khác là cần phải xem xét các yếu tố của môi trường trong trạng thái động

Muốn thu hút được vốn đầu tư thì MTĐT cần phải ổn định, gồm ổn định môi trường chính trị, pháp luật; ổn định môi trường kinh tế…để đồng vốn nhà đầu tư bỏ ra được bảo toàn và sinh lời Khi MTĐT ổn định, nhà đầu tư không gặp phải những rủi ro trong quá trình đầu tư do các yếu tố của MTĐT tạo ra

- Tính hệ thống: Môi trường đầu tư có tính hệ thống vì MTĐT là tổng hòa của

các yếu tố có mối liên hệ với nhau và chịu sự tác động của MTĐT quốc tế MTĐT của một quốc gia là một hệ thống đặc biệt vì bản thân nó bao gồm nhiều hệ thống nhỏ hơn MTĐT quốc gia bao gồm MTĐT của các tỉnh, thành phố nếu phân theo vùng; gồm MTĐT các ngành; gồm môi trường tự nhiên, môi trường chính trị - xã hội, môi trường kinh tế

Chính phủ

Nhà đầu tư

Môi trường đầu tư

Trang 21

- Tính mở: MTĐT có tính mở thể hiện sự thay đổi các yếu tố của MTĐT còn

chịu ảnh hưởng của MTĐT ở cấp độ cao hơn Sự vận động các yếu tố của MTĐT cấp tỉnh chịu tác động của MTĐT cấp quốc gia, và sự biến đổi các yếu tố của MTĐT cấp quốc gia chịu tác động của MTĐT quốc tế trong điều kiện mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng Chính vì MTĐT có tính mở nên Chính phủ cần chú ý thuộc tính thích nghi với môi trường đầu tư quốc tế, cần chú ý tới quản lý thay đổi trong quá trình cải thiện MTĐT quốc gia; ví dụ như khi quốc gia gia nhập WTO thì cũng cần phải thay đổi hệ thống pháp luật cho phù hợp với quy định của WTO

1.1.1.3 Phân loại môi trường đầu tư

 Nếu phân loại theo phạm vi thì MTĐT gồm 3 loại:

 Nếu phân loại theo yếu tố cấu thành thì MTĐT gồm các môi trường bộ phận:

- Môi trường tự nhiên - Môi trường chính trị

- Môi trường pháp lý và hành chính - Môi trường kinh tế

 Nếu phân loại theo chức năng quản lý Nhà nước, MTĐT chia thành 2 nhóm:

- Nhóm Chính phủ có ảnh hưởng mạnh như: sự ổn định chính trị và kinh tế; chính sách kinh tế - xã hội; luật và văn bản dưới luật liên quan đến đầu tư như luật đầu tư, luật thuế, luật doanh nghiệp…; bộ máy hành chính; cơ sở hạ tầng kỹ thuật – xã hội

- Nhóm Chính phủ ít có ảnh hưởng như: giá nguồn lực đầu vào do thị trường quyết định; đặc điểm tự nhiên của quốc gia như: tài nguyên thiên nhiên, thời tiết, khí hậu, vị trí địa lý; quy mô thị trường; uy tín của các nhà cung cấp…

 Nếu phân loại theo đặc điểm (hay hình thái vật chất), MTĐT gồm 2 nhóm:

- MTĐT cứng (thiên tạo): là môi trường gồm các yếu tố khó có thể cải thiện được của MTĐT như vị trí địa lý, tiềm năng đất đai, tài nguyên thiên nhiên…

- MTĐT mềm (nhân tạo): là môi trường gồm các yếu tố có thể cải thiện được của MTĐT gồm hệ thống pháp luật, chế độ chính sách về ưu đãi đầu tư, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực quản lý nhà nước…(Hồ Sỹ Ngọc, 2015)

Trang 22

1.1.2 Nội dung của môi trường đầu tư

1.1.2.1 Pháp luật, cơ chế và chính sách về đầu tư

Để điều chỉnh hành vi kinh doanh của các nhà đầu tư thì các quốc gia đều có hệ thống pháp luật quy định về hoạt động đầu tư như: quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư; khuyến khích và ưu đãi đầu tư; quản lý Nhà nước về đầu tư Môi trường pháp lý đối với hoạt động đầu tư gồm toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến hoạt động đầu tư Hệ thống các chính sách và những quy định của Nhà nước liên quan đến hoạt động đầu tư gồm: chính sách tài chính, chính sách thu nhập, chính sách tiền tệ, chính sách xuất nhập khẩu…Gắn với các chính sách là các ưu đãi, hỗ trợ các nhà đầu tư; bên cạnh đó cũng

có những chế tài để kiểm soát các hoạt động đầu tư Điều này cho thấy Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng hệ thống pháp luật và tạo lập một MTĐT thuận lợi

Môi trường pháp luật về quản lý đầu tư được hiểu trên 3 khía cạnh (pháp lý –

cơ chế - chính sách) – đó là những quy định, quy tắc, yêu cầu cho biết các cá nhân/tổ chức có thể hay không thể làm gì Trong đó; quy định pháp lý được hiểu là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, đảm bảo thực hiện bằng cưỡng chế, có hiệu lực thực hiện cao và áp dụng với tất cả các đối tượng nhằm đảm bảo trật tự, an toàn, và công bằng xã hội; còn cơ chế - chính sách là thể hiện những mong muốn, định hướng

mà Nhà nước/địa phương giành cho những đối tượng, những ngành nghề, những lĩnh vực cụ thể

đề cải cách TTHC hướng tới nền hành chính Nhà nước thích nghi trong thực thi pháp luật và các văn bản liên quan dưới luật liên quan đên hoạt động đầu tư Cụ thể như sau:

Trang 23

- Cơ chế thực thi bằng pháp luật và tăng cường tính pháp chế của luật và các văn bản dưới luật thông qua công cụ bảo hộ đầu tư, bao gồm các quy định pháp lý về chế định đầu tư, quy định pháp lý bảo hộ quyền sở hữu tài sản, quy định pháp lý về các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước của chủ đầu tư, quy định pháp lý khác về tổ chức hoạt động đầu tư Cơ chế thực thi thuận lợi sẽ tạo môi trường đảm bảo, cơ chế ràng buộc có tính chất pháp lý cao trong đầu tư

- Cơ chế ưu đãi đầu tư, gồm ưu đãi về thuế, hỗ trợ của Nhà nước về mặt pháp

lý, tiếp cận mặt bằng sản xuất, đào tạo nhân lực, chuyển giao công nghệ, trao đổi thương mại,…Các hỗ trợ của Nhà nước cho nhà đầu tư có vai trò rất quan trọng trong giai đoạn đầu cũng như trong quá trình đầu tư và vận hành kết quả đầu tư khi gặp phải khó khăn do điều kiện khách quan mang lại như: lũ lụt, hạn hán, …

- Vận hành theo cơ chế thị trường (tôn trọng quy luật khách quan như quy luật giá cả, quy luật giá trị, quan hệ cung cầu…), hạn chế sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình sản xuất kinh doanh và quản lý Nhà nước thông qua công cụ định hướng đầu

tư gồm quy hoạch, chiến lược, kế hoạch phát triển quốc gia và địa phương Thông qua thông tin định hướng, nhà đầu tư có thể dự báo được các lĩnh vực ưu tiên và tham gia đầu tư để có đối sách thích nghi

Thủ tục hành chính cần được cải cách để tạo niềm tin cho các nhà đầu tư, tiến hành việc cải cách thủ tục hành chính liên quan đến tạo lập MTĐT, bao gồm: cải cách thể chế nền hành chính theo hướng “một cửa” và “một cửa liên thông”; hoàn thiện quy trình nghiệp vụ, thông tin liên quan đến quá trình đăng ký thành lập doanh nghiệp; cần phải thay đổi thái độ và phong cách làm việc của công chức và bộ máy nhà nước, làm cho cơ quan quản lý nhà nước và công chức gần dân hơn; đề cao kỷ luật hành chính trong quản lý nhà nước đối với đầu tư bằng cách vừa tăng cường giáo dục, đào tạo công chức, vừa nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, thanh tra, đánh giá cán bộ công chức, xử lý nghiêm các cá nhân và tổ chức sai phạm; rà soát, đánh giá đội ngũ cán bộ công chức một cách có hệ thống với nhiều tiêu chí cụ thể như: trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, độ tuổi, trình độ tin học, ngoại ngữ, quá trình thực thi nhiệm vụ được giao,…

1.1.2.3 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội

Hệ thống cơ sở hạ tầng (CSHT) kỹ thuật bao gồm mạng lưới giao thông, hệ thống cảng biển, cảng hàng không, mạng lưới thông tin liên lạc, hệ thống cung cấp năng lượng, cấp thoát nước, các công trình công cộng phục vụ sản xuất kinh doanh

Trang 24

cũng như phục vụ đời sống nhân dân nhự hệ thống chợ, trường học, y tế…CSHT tác động đến quyết định đầu tư, hiệu quả sản xuất kinh doanh, tốc độ chu chuyển đồng vốn CSHT tốt là một trong các yếu tố quan trọng giúp giảm chi phí gián tiếp hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Ví dụ:

- Mạng lưới giao thông vận tải gồm: đường sắt, đường bộ, và đường không hiện đại sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung ứng nguyên vật liệu đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra cho doanh nghiệp, đặc biệt là các đầu mối giao thông tiếp giáp với các vùng trong và ngoài nước Một mạng lưới giao thông thuận tiện và hiện đại sẽ giúp các nhà đầu tư giảm được các cước phí vận chuyển không cần thiết

- Hệ thống cung cấp năng lượng và nước sạch là điều kiện đảm bảo cần thiết cho sản xuất quy mô lớn và liên tục của doanh nghiệp

- Hệ thống thông tin liên lạc là nhân tố quan trọng hàng đầu trong bối cảnh hội nhập, khi tất cả các biến động trên thị trường được truyền tải một cách liên tục Sự chậm trễ thông tin sẽ đánh mất cơ hội đầu tư, cơ hội tiếp cận thị trường và tiềm năng

có thể khai thác của các nhà đầu tư

CSHT xã hội như: ngôn ngữ, tôn giáo, phong tục tập quán, đạo đức, thị hiếu, thẩm mỹ, hệ thống giáo dục…Tất cả những vấn đề này tác động không nhỏ đến việc lựa chọn lĩnh vực đầu tư, tới hoạt động sản xuất kinh doanh

- Yếu tố ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư như việc thiết kế sản phẩm, cách thức quảng cáo sao cho phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng

- Trình độ phát triển giáo dục và đào tạo sẽ quyết định chất lượng lao động; nếu nhân cách và kỹ năng của người lao động không đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp sẽ làm tăng chi phí sản xuất của doanh nghiệp (phí đào tạo lại) Ngoài ra, yếu

tố văn hóa gồm cách suy nghĩ, phong tục tập quán, lỷ luật lao động…cũng phản ảnh chất lượng nguồn lao động

(Nguồn: Hồ Sỹ Ngọc, 2011)

1.1.3 Những yếu tố tác động đến môi trường đầu tư

Để tiến hành đầu tư, các chủ đầu tư sẽ

- Bước 1: Tiếp cận thị trường Do đó cần xem xét các yếu tố của hoạt động này bao gồm: Tình hình an ninh, chính trị - xã hội; Sự thân thiện và năng động của chính quyền; Thủ tục thành lập doanh nghiệp; Vấn đề xuất nhập cảnh; Sự công khai, minh bạch chính sách đầu tư

Trang 25

- Bước 2: Tiến hành triển khai hoạt động SXKD tức là vận hành quá trình đầu

tư Trong giai đoạn này, nhà đầu tư cần phải kiểm soát chặt chẽ mọi hoạt động và xác định rõ các yếu tố có liên quan đến hoạt động kinh doanh, đó là: Ưu đãi đầu tư; Thuế; Tuyển dụng lao động; Tiếp cận đất đai; Chi phí sản xuất; Khiếu kiện; Bảo hộ tài sản; Lĩnh vực được phép kinh doanh; Chất lượng CSHT…

Sau khi tiến hành đầu tư trong một khoảng thời gian nhất định, nếu nhà đầu tư không muốn tiếp tục kinh doanh hoặc dự án đầu tư bị phá sản thì nhà đầu tư cần xem xét đến các yếu tố có liên quan đến việc chấm dứt hoạt động đầu tư như: Phá sản; Giải thể; Khiếu kiện; Giải quyết tranh chấp liên quan đến phân chia tài sản

Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư được minh họa ở sơ đồ dưới đây

Hình 1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến MTĐT

(Nguồn: Huỳnh Viết Trọng, 2017)

Từ sơ đồ trên, ta nhận thấy hầu hết là các yếu tố thuộc về cơ chế, chính sách, thủ tục liên quan đến đầu tư và tác động trực tiếp đến hoạt động đầu tư Việc tạo ra các yếu tố này gắn với vai trò hoạt động của chính quyền điều hành các hoạt động kinh tế,

xã hội của từng địa phương hay của từng quốc gia

Vì vậy, nghiên cứu MTĐT phần lớn là xem xét, phân tích đánh giá các ảnh hưởng và các yếu tố tác động của bộ máy chính quyền đến hoạt động của nhà đầu tư

1.2 Cơ sở lý luận về cải thiện môi trường đầu tư

1.2.1 Quan niệm về cải thiện môi trường đầu tư

Cải thiện môi trường đầu tư là những hoạt động nhằm tạo lập một môi trường đầu tư thuận lợi hơn, lý tưởng hơn cho các nhà đầu tư

Trang 26

Chúng ta có thể hiểu, môi trường đầu tư lý tưởng là môi trường đầu tư có các yếu tố cấu thành tác động thuận lợi đến hoạt động đầu tư giúp chủ đầu tư có thể đạt được mục tiêu sử dụng vốn với chi phí và rủi ro thấp nhất có thể Các yếu tố thuận lợi

có thể là các cơ chế, chính sách của Nhà nước minh bạch và nhiều ưu đãi; kinh tế vĩ

mô ổn định, dễ dự đoán; điều kiện thị trường các yếu tố đầu vào và đầu ra thuận lợi giúp cho nhà đầu tư dễ dàng tiếp cận các thị trường này với chi phí thấp và ít rủi ro; cơ

sở hạ tầng được trang bị đầy đủ, thuận tiện cho hoạt động đầu tư diễn ra suôn sẻ; nơi đầu tư có nguồn lực lao động rẻ, dồi dào, có khả năng đáp ứng được nhu cầu của các nhà đầu tư…

Tất cả những cải cách chính sách từ phía Chính phủ đều với mục đích là cố gắng tạo ra một môi trường đầu tư ít rủi ro, chi phí cơ hội thấp và ít cản trở nhà đầu tư trong quá trình sản xuất kinh doanh của họ Như vậy, một môi trường đầu tư tốt sẽ giúp cho các doanh nghiệp xóa bỏ được những chi phí và rủi ro không đáng có cũng như những rào cản đối với cạnh tranh Từ đó tạo cơ hội và động lực cho các doanh nghiệp phát triển, thích ứng và áp dụng những phương thức hoạt động tốt hơn để góp phần nâng cao năng suất và thúc đẩy tăng trưởng nhanh hơn

(Nguồn: Nguyễn Thị Mỹ Vân, 2011)

1.2.2 Nội dung cải thiện môi trường đầu tư

1.2.2.1 Cải thiện quy hoạch đầu tư

Quy hoạch là công cụ định hướng phát triển quan trọng đối với các hoạt động đầu tư Chất lượng quy hoạch và kỷ luật thực thi quy hoạch ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của hoạt động đầu tư Việc quy hoạch đầu tư sẽ giúp các nhà đầu tư lựa chọn và xây dựng được kế hoạch đầu tư phù hợp hơn

Có nhiều loại quy hoạch để định hướng đầu tư như: quy hoạch phát triển kinh tế

- xã hội, quy hoạch xây dựng, quy hoạch đất, quy hoạch ngành, quy hoạch sản phẩm…Tính đúng, hiện đại và ổn định của quy hoạch đầu tư là yêu cầu quan trọng Quy hoạch để có định hướng đúng đắn về ngành nghề và đối tượng cần thu hút trong mối quan hệ hợp lý với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương trong dài hạn luôn tạo cho các nhà đầu tư sự an tâm trong quá trình xem xét đầu tư

Trong các loại quy hoạch, quy hoạch đất có vai trò đặc biệt Hiện nay, chất lượng quy hoạch đất đai ở nước ta rất thấp, đa phần các quy hoạch đã lạc hậu so với sự phát triển thực tế chưa kể nhiều quy hoạch của địa phương không dự báo cho khoảng

Trang 27

thời gian dài cần thiết, không phân kỳ thực hiện… Chính vì thế, hoạt động đầu tư ở nước ta bị cản trở rất lớn ở khía cạnh tiếp cận mặt bằng sản xuất kinh doanh, những thủ tục pháp lý cần thiết để nhà đầu tư có được mặt bằng đã làm nản chí không ít nhà đầu tư Vì vậy, cần phải chấn chỉnh lại công tác quy hoạch đất theo hướng sau:

- Xác định công tác quy hoạch luôn luôn phải đi trước một bước để thu hút đầu tư

- Hoàn chỉnh hệ thống các quy hoạch lãnh thổ trong cả nước trên cở sở Nhà nước cấp đủ kinh phí, phương tiện, nhân lực và nghiệm thu chất lượng chặt chẽ Chấm dứt tình trạng làm quy hoạch cho “phải phép” do không đủ kinh phí

- Mở rộng tầm dài hơn của quy hoạch, thà chấp nhận chi phí cao để làm quy hoạch tổng thể hơn là cấp kinh phí nhỏ giọt để làm quy hoạch một cách chắp vá

- Phối hợp quy hoạch của các tỉnh theo quy hoạch chung của vùng và cả nước Tăng cường vai trò chỉ đạo, phối hợp các kế hoạch sử dụng đất theo vùng để sử dụng một cách hiệu quả nhất nguồn tài nguyên đất

- Gấp rút hoàn thành các quy hoạch chi tiết về mặt bằng cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước trên cơ sở rà soát lại quy hoạch của các khu, cụm công nghiệp theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ đầu tư tiếp cận đất đai Tiến hành rà soát toàn bộ các quy hoạch đã có, điều chỉnh những quy hoạch đã lạc hậu, xóa bỏ quy hoạch treo, dự án treo

1.2.2.2 Cải thiện môi trường hành chính

- Để cải thiện hơn về môi trường hành chính thì việc đầu tiên phải thực hiện là cải cách các thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp có liên quan đến hoạt động đầu tư; bên cạnh đó cần nâng cao năng lực của cán bộ quản lý Nhà nước về đầu tư để hoạt động thu hút đầu tư được thuận lợi hơn

- Với xu hướng hiện nay thì việc hoàn thiện quá trình cải cách hành chính phải theo hướng “một cửa” và “một cửa liên thông”, trong đó nhấn mạnh yêu cầu cơ quan Nhà nước phải phối hợp chặt chẽ với nhau để thực thi các thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư Nhà nước cũng cần nghiên cứu quy trình cấp phép đầu tư để loại bỏ các thủ tục chồng chéo, rườm rà, không cần thiết Quy định các cơ quan quản lý cấp phép đầu tư phải công khai quy trình, thời gian và trách nhiệm của các bộ phận liên quan trong quy trình xét và cấp giấy phép đầu tư

- Hoàn thiện quy trình nghiệp vụ, thông tin liên quan đến quá trình đăng ký thành lập doanh nghiệp Hoàn tất kho dữ liệu tên doanh nghiệp và nối mạng quốc gia

Trang 28

để mỗi khi lập hồ sơ, doanh nhân có thể tra cứu, tránh sự trùng lặp hoặc nhầm lẫn tên

và cũng tránh tình trạng chờ đợi để có được tên doanh nghiệp Triển khai nộp thực hiện đăng kí kinh doanh qua mạng để giảm tối đa chi phí đi lại và thời gian đăng kí kinh doanh

- Cần phải thay đổi thái độ và phong cách làm việc của công chức và bộ máy Nhà nước, làm cho cơ quan quản lý Nhà nước và công chức gần dân hơn

- Đề cao kỷ luật hành chính trong quản lý Nhà nước đối với đầu tư bằng cách vừa tăng cường giáo dục, đào tạo công chức, vừa nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, thanh tra, đánh giá cán bộ công chức, xử lý nghiêm các cá nhân và tổ chức sai phạm

- Rà soát, đánh giá đội ngũ cán bộ công chức một cách có hệ thống với nhiều tiêu chí cụ thể như: trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, độ tuổi, trình độ tin học, ngoại ngữ, quá trình thực thi nhiệm vụ được giao,…

- Tổ chức các lớp bồi dưỡng, các buổi hội thảo khoa học để đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng thực thi công vụ nhằm nâng cao khả năng đảm nhiệm công việc của cán bộ, công chức

- Xây dựng và ban hành cơ chế đưa cán bộ, công chức không đủ năng lực ra khỏi biên chế Nhà nước để thay thế bằng những cán bộ đủ năng lực

- Cải thiện thu nhập, chăm lo đời sống vật chất và điều kiện làm việc cho cán

bộ, công chức trong các cơ quan hành chính Nhà nước

- Xây dựng và nâng cao vai trò của văn hóa công sở trong việc phát huy tính tích cực lao động của cán bộ công chức

1.2.2.3 Cải thiện môi trường cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xã hội

- Nâng cao chất lượng của kế hoạch, quy hoạch phát triển ngành giao thông vận tải, nhất là kế hoạch phát triển các cảng biển, đường giao thông, điện và sân bay theo hướng ưu tiên, tập trung cho các dự án trọng điểm có tác động lớn và sâu rộng đến nền kinh tế

- Đầu tư thích đáng cho các công trình trọng điểm để rút ngắn thời gian hoàn thành và nâng cao chất lượng từng công trình

- Nhà nước cần cải cách mạnh mẽ cơ chế quản lý đấu thầu, cơ chế quản lý và sử dụng nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, trong đó đề cao tính minh bạch trong quy trình đấu thầu, quy trình kiểm tra, giám sát, nghiệm thu công trình

- Đấu tranh tích cực ngay trong bộ máy quản lý Nhà nước và công chức để hạn chế tham ô, tham nhũng, giảm nguy cơ xuống cấp của các công trình xây dựng cơ sở

hạ tầng

Trang 29

- Khuyến khích tối đa các thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng dưới nhiều hình thức

1.2.2.4 Cải thiện chất lượng nguồn nhân lực, thị trường tài chính tại địa phương

- Nhà nước cần phải xác định rõ mục tiêu đào tạo lực lượng lao động về cơ cấu ngành, nghề, về kỹ năng trong cả hệ thống giáo dục

- Đẩy nhanh việc triển khai nâng cấp đầu tư và chất lượng đào tạo của hệ thống các trường học, mở rộng và nâng cấp hệ thống dạy nghề cho người lao động ở 3 cấp trình độ (sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề) Cần mở rộng và đào tạo lại

số lao động của địa phương để đạt được cơ cấu hợp lý ở 3 trình độ như trên mới có khả năng đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của thị trường lao động

- Tăng cường giáo dục tính kỷ luật lao động công nghiệp văn minh cho người lao động và ý thức hợp tác của người lao động với người sử dụng lao động

- Khuyến khích các nhà đầu tư, nhất là doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực đào tạo nghề

- Khuyến khích các tổ chức đào tạo trong nước hợp tác đào tạo với các tổ chức nước ngoài để nhanh chóng nâng cao chất lượng lao động

- Nhà nước cần phải đảm bảo cho nền kinh tế vĩ mô ổn định cụ thể là lạm phát

ở mức thấp, mức nợ có thể chấp nhận được và tỷ giá hối đoái thỏa đáng nhằm đảm bảo cho thị trường tài chính hoạt động có hiệu quả

- Trong ngắn hạn, ngân hàng Nhà nước nên quy định mức trần lãi suất cho vay một cách thỏa đáng được áp dụng cho tất cả các loại hình ngân hàng để có thể giúp cho doanh nghiệp ổn định sản xuất kinh doanh

- Mở cửa thị trường tài chính mạnh mẽ hơn nữa nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc tiếp cận vốn vay

1.2.2.5 Cải thiện môi trường chính sách quản lý và hỗ trợ đầu tư

- Nghiên cứu để tạo lập, huy động hình thành một số quỹ hỗ trợ doanh nghiệp: quỹ hỗ trợ đào tạo lao động, quỹ hỗ trợ xây dựng thương hiệu, quỹ xúc tiến đầu tư…

- Xây dựng cơ chế ưu đãi, khuyến khích các nhà đầu tư xây dựng hạ tầng khu, cụm công nghiệp; các dự án đầu tư có công nghệ cao; các dự án đầu tư sản xuất phụ trợ cho các ngành công nghiệp

Trang 30

1.2.2.6 Cải thiện môi trường tiếp cận thông tin về cơ hội và môi trường đầu tư cho các nhà đầu tư

- Tăng cường hỗ trợ, tuyên truyền và đối xử thân thiện với các nhà đầu tư để biến họ thành những người vận động đầu tư có hiệu quả

- Cần tạo lập một hình ảnh tốt, một hình tượng hấp dẫn, có ấn tượng cho các thị trường mục tiêu của địa phương

- Tận dụng và khai thác tốt các sự kiện quảng bá, chương trình vận động về mặt thông tin để đưa những đặc trưng riêng biệt về môi trường đầu tư đến với nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước

(Nguồn: Nguyễn Thị Mỹ Vân, 2011)

1.2.3 Cơ sở thực tiễn về cải thiện MTĐT

1.2.3.1 Thực tiễn về cải thiện MTĐT của một số quốc gia

* Kinh nghiệm về cải thiện MTĐT của Thái Lan

Thái Lan có xuất phát điểm về kinh tế không cao, nhưng chỉ sau vài thập kỷ, Thái Lan đã nằm trong top dẫn đầu các nước trong khu vực Có được như thế chính là

do MTĐT của Thái Lan đã thu hút được các nhà đầu tư

Thứ nhất, MTĐT Thái Lan điều chỉnh linh hoạt và đồng bộ các chính sách hỗ trợ

đắc lực các chiến lược như: thay thế hàng nhập khẩu, hướng về xuất khẩu và kết hợp đồng thời, hài hòa cả thay thế nhập khẩu với hướng về xuất khẩu; giảm dần đầu tư Chính phủ, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân

Thứ hai, MTĐT Thái Lan thực hiện chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với từng nhóm

dự án đầu tư cụ thể được phân loại theo tác động của dự án đó đến nền kinh tế cả nước; theo hàm lượng khoa học công nghệ tiên tiến và mức chuyển giao công nghệ, mức đầu tư cho nghiên cứu triển khai (R&D) và cho đào tạo lao động, tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm, tỷ lệ nợ trên vốn và theo vị trí địa lý (dự án trong KCN và càng xa Bangkok thì mức độ ưu đãi càng lớn)

Thứ ba, Thái Lan coi trọng sử dụng ưu đãi tổng hợp cả về miễn, giảm thuế; về

cung ứng lao động; về CSHT và TTHC; giảm dần ưu đãi dự án theo vùng miền và tăng ưu đãi cho những dự án lớn, trọng điểm, có sức lan tỏa thu hút các đầu tư khác

(Nguồn: Lê Huy Hoàng, 2012)

Trang 31

* Kinh nghiệm về cải thiện MTĐT của Singapore

Sau khi thành một nhà nước tự chủ vào năm 1959, Singapore có xuất phát điểm thấp, nguồn tài nguyên gần như ở con số 0 Nhưng trong những năm gần đây, các nhà đầu

tư chọn Singapore là nơi đầu tư cho mình kể cả lúc kinh tế thế giới rơi vào khủng hoảng Singapore có được kết quả trên là nhờ thực hiện có hiệu quả các chính sách sau:

Thứ nhất, Singapore thu hút vốn FDI để tập trung vào 3 lĩnh vực ưu tiên như sau:

ngành sản xuất mới, xây dựng và xuất khẩu Bên cạnh đó, tùy từng điều kiện cụ thể của mỗi thời kỳ, Singapore chủ trương thu hút FDI vào các ngành thích hợp Với sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp điện tử và một số công nghệ tiên tiến khác, Singapore sử dụng nguồn vốn đầu tư tập trung vào những ngành, như: sản xuất máy vi tính, điện tử, hàng bán dân dụng, công nghiệp lọc dầu và kỹ thuật khai thác mỏ…

Thứ hai, Singapore đã tạo nên một môi trường kinh doanh ổn định, hấp dẫn cho

các nhà đầu tư nước ngoài bởi vì Chính phủ đã thực hiện công khai, không quốc hữu hoá các doanh nghiệp nước ngoài Bên cạnh đó, Singapore rất chú trọng xây dựng kết cấu hạ tầng, phục vụ cho hoạt động sản xuất Đặc biệt, Singapore đã xây dựng được hệ thống pháp luật hoàn thiện, nghiêm minh, công bằng và hiệu quả Tệ nạn tham nhũng được xét xử rất nghiêm, tất cả các doanh nghiệp không kể trong nước, ngoài nước đều được đối xử như nhau, mọi người đều làm việc, tuân thủ theo pháp luật

Thứ ba, Singapore ban hành những chính sách khuyến khích các nhà tư bản nước

ngoài bỏ vốn vào đầu tư Singapore áp dụng chính sách ưu đãi rất đặc biệt, đó là: Khi kinh doanh có lợi nhuận, nhà đầu tư nước ngoài được tự do chuyển lợi nhuận về nước; Nhà đầu tư có quyền cư trú nhập cảnh; Nhà đầu tư nào có số vốn ủy thác tại Singapore

từ 250.000 đô la Singapore trở lên và có dự án đầu tư thì gia đình họ được hưởng quyền công dân Singapore

Trang 32

xây dựng các chương trình, nội dung xúc tiến, mời gọi đầu tư; luôn sâu sát, lắng nghe

và kịp thời giải quyết tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai dự án tạo niềm tin cho các nhà đầu tư, “coi khó khăn vướng mắc của doanh nghiệp là khó khăn vướng mắc của tỉnh”; tập trung nguồn lực đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng; chỉ đạo quyết liệt việc thực hiện các giải pháp cải thiện MTĐT, CCHC thực hiện đề án nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Cụ thể:

- Thứ nhất, luôn chú trọng công tác quy hoạch hạ tầng giao thông, khu công

nghiệp, khu đô thị, thông tin - viễn thông, điện, nước, quỹ đất sạch sẵn có… khá đồng

bộ và từng bước hiện đại; chú trọng phối hợp với các tỉnh, thành trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, để phát huy hiệu quả đầu tư xây dựng của toàn vùng đáp ứng nhu cầu phát triển, tạo điều kiện rất thuận lợi trong vận chuyển, đi lại; đảm bảo đầy

đủ các yêu cầu cho nhà đầu tư khi đến Bình Dương

- Thứ hai, công tác cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính

được thực hiện quyết liệt, triệt để ở tất cả các cấp, các ngành Việc vận hành khu hành chính mở tại trung tâm hành chính tỉnh với mô hình một cửa, một cửa liên thông, hỗ trợ tư vấn pháp lý các thủ tục hành chính, đặc biệt là: cấp giấy chứng nhận đầu tư, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy phép xây dựng sẽ tạo điều kiện thuận lợi, đảm bảo tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin cho người dân, doanh nghiệp, tạo ra một môi trường bình đẳng, thuận lợi và an toàn cho các nhà đầu tư

- Thứ ba, Bình Dương thực hiện nhất quán và triệt để khẩu hiệu “Chính quyền

đồng hành cùng doanh nghiệp” bằng các chương trình và kế hoạch cụ thể như: Đơn giản hóa, rút ngắn thời gian giải quyết các TTHC cho doanh nghiệp; Xử lý nghiêm những CBCC nhũng nhiễu, gây khó khăn cho doanh nghiệp…

Nhờ vậy, đến nay Bình Dương đã trở thành một trong 5 địa phương thu hút FDI nhiều nhất cả nước, là một “địa chỉ đỏ” về thu hút FDI của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

(Nguồn: Sở Kế hoạch và đầu tư Tỉnh Bình Dương, 2016)

* Tỉnh Vĩnh Phúc

Trong những năm qua, tỉnh Vĩnh Phúc đã nỗ lực thực hiện nhiều giải pháp đồng

bộ nhằm cải thiện MTĐT, nâng cao chỉ số PCI và đã đạt được những bước tiến vượt

bậc Cụ thể như sau:

Trang 33

- Thứ nhất, tổ chức tuyên truyền, nghiên cứu, quán triệt và nâng cao nhận thức

tăng cường hành động của các cấp chính quyền về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp; tạo lập môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp khởi nghiệp Kết quả thu được đó là rút ngắn thời gian thành lập doanh nghiệp xuống còn 3 ngày (trước đây là 5 ngày) theo quy định của Luật Doanh nghiệp

- Thứ hai, ngành thuế Vĩnh Phúc tiến hành tập huấn kê khai thuế qua mạng

Internet cho 100% doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn Cắt giảm số giờ kê khai thuế GTGT theo tháng xuống kê khai theo quý Cắt giảm thời gian kiểm tra trước hoàn thuế GTGT từ 60 ngày xuống còn 40 ngày Cắt giảm thủ tục hành chính để thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào ngân sách Nhà nước từ 537 giờ/năm xuống còn 117 giờ/năm

- Thứ ba, tổ chức chương trình đối thoại doanh nghiệp thực hiện theo mô hình

“cafe doanh nhân” bước đầu tạo ra sự chuyển động của bộ máy chính quyền trong việc nắm bắt, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp; tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng thương hiệu sản phẩm, trợ giúp đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, vốn Hỗ trợ, khuyến khích khởi nghiệp nhằm ươm mầm, phát triển các ý tưởng kinh doanh, thành lập doanh nghiệp mới…

Trong những năm gần đây, Vĩnh Phúc đã thực hiện việc thu hút đầu tư có chọn lọc, hướng đến các dự án có công nghệ hiện đại, giá trị sản xuất gia tăng cao, thân thiện với môi trường, đảm bảo đúng định hướng phát triển của tỉnh Ngoài ra, việc quy hoạch các lĩnh vực đầu tư hợp lý đã và đang làm thay đổi diện mạo KCN mới thành lập, đóng góp nhất định vào sự phát triển KT-XH của Vĩnh Phúc

(Nguồn: Báo Vĩnh Phúc, 2017)

* Thành phố Đà Nẵng

- Thứ nhất, Đà Nẵng có chủ trương tạo điều kiện để các doanh nghiệp đều có cơ

hội phát triển trên cơ sở bảo đảm các quy định, quy trình của pháp luật; rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ, thủ tục để nhà đầu tư nhanh chóng mở rộng dự án lên quy mô lớn hơn; tiếp tục xây dựng MTĐT thông thoáng

- Thứ hai, Đà Nẵng ban hành những chính sách ưu đãi rất cụ thể, thiết thực dành

cho các doanh nghiệp đầu tư vào thành phố này Các thủ tục liên quan đến việc thiết lập, triển khai và mở rộng dự án đầu tư được thực hiện thông qua cơ chế "một cửa liên thông" tại Trung tâm Xúc tiến Đầu tư Đà Nẵng, giúp nhà đầu tư tiết kiệm tối đa thời gian và chi phí

Trang 34

- Thứ ba, thực hiện công khai, minh bạch các chủ trương và chính sách cũng như

các hoạt động công vụ… Công tác quản lý đất đai, từ quy hoạch tổng thể đến quy hoạch chi tiết, nội dung dự án đầu tư, khung giá đất, kết quả áp giá đền bù đều được công khai để người dân, doanh nghiệp xem xét, góp ý

- Thứ tư, lãnh đạo thành phố luôn đồng hành cùng các nhà đầu tư, trực tiếp lắng

nghe, giải quyết các vướng mắc và có sự điều chỉnh khi cần thiết Một vấn đề mà các nhà đầu tư rất hài lòng là khả năng giao “đất sạch” cho nhà đầu tư, giúp cho dự án sớm được triển khai và đi vào hoạt động

- Thứ năm, triển khai đầu tư hạ tầng thiết yếu như sân bay, bến cảng và giao

thông đường bộ… tạo một hành lang hạ tầng thiết yếu đáp ứng yêu cầu cơ bản nhất đối với các nhà đầu tư

- Thứ sáu, trung tâm Xúc tiến đầu tư Đà Nẵng, được sự hỗ trợ của Cục Đầu tư

nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) và của Liên Hợp quốc, đã thực hiện hệ thống quy định điện tử Theo đó, các thủ tục thiết lập một dự án đầu tư nước ngoài tại thành phố được chi tiết hóa từng bước Mỗi giao dịch thực hiện được coi là một bước Với mỗi bước, hệ thống chỉ ra kết quả mong muốn cuối mỗi bước, các công chức phụ trách các bước này, các mẫu biểu và các tài liệu khác cần có, chi phí (nếu có), thời gian xử lý, cơ

sở pháp lý và cách thức khiếu nại trong trường hợp bất đồng

- Thứ bảy, để đa dạng danh mục dự án đầu tư, Đà Nẵng mở rộng hình thức đầu tư

hợp tác công tư (PPP) để huy động nguồn lực tài chính, khả năng quản lý và kinh nghiệm của khu vực tư nhân vào đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ công

(Nguồn: Báo mới, 2016)

Tiểu kết chương 1

Trong chương này, tác giả đã trình bày những lý luận cơ bản liên quan đến MTĐT như: Khái niệm về MTĐT, đặc điểm, cách phân loại MTĐT; nội dung của MTĐT; những yếu tố tác động đến MTĐT Ngoài ra, tác giả cũng tìm hiểu một số kinh nghiệm cải thiện MTĐT của một số quốc gia trong khu vực và một số địa phương trong nước với những thành tựu đáng kể trong thu hút đầu tư

Trang 35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ VÀ HOẠT ĐỘNG CẢI THIỆN

MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ TẠI KHU KINH TẾ DUNG QUẤT

2.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, KT-XH tỉnh Quảng Ngãi

2.1.1 Vị trí địa lý

Tỉnh Quảng Ngãi tái lập vào ngày 1 tháng 7 năm 1989, trên cơ sở tách tỉnh Nghĩa Bình thành 2 tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định Quảng Ngãi là một tỉnh ven biển nằm ở vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ, Việt Nam Đường bờ biển Quảng Ngãi có chiều dài khoảng 129 km, với vùng lãnh hải rộng lớn 11.000 km2 và 6 cửa biển vốn giàu nguồn lực hải sản với nhiều bãi biển đẹp Quảng Ngãi nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Nam Trung Bộ được Chính phủ chọn khu vực Dung Quất để xây dựng nhà máy lọc dầu đầu tiên của Việt Nam

Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Ngãi

Quảng Ngãi trải dài từ 14°32′ đến 15°25′ Bắc, từ 108°06′ đến 109°04′ Đông, tựa vào dãy núi Trường Sơn hướng ra Biển Đông với chiều dài bờ biển 144 km, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam với chiều dài đường địa giới 98 km, phía Nam giáp tỉnh Bình Định với chiều dài đường địa giới 83 km, phía Tây giáp tỉnh Kon Tum với chiều dài đường địa giới 79 km, phía Đông giáp Biển Đông, ngoài ra Quảng Ngãi còn giáp

Trang 36

giới với tỉnh Gia Lai theo hướng cực Tây Nam, đoạn này dài trên dưới 10 km nằm giữa vườn quốc gia Kon Chư Răng Nằm ở vị trí trung độ của cả nước, Quảng Ngãi cách thủ đô Hà Nội 890 km về phía Bắc và cách Thành phố Hồ Chí Minh 824 km về phía Nam theo đường Quốc lộ 1A

Tỉnh Quảng Ngãi bao gồm 1 thành phố trực thuộc và 13 huyện trong đó có 1 huyện đảo, 6 huyện đồng bằng, 6 huyện miền núi, trong đó có với 184 đơn vị hành chính cấp xã, gồm có 9 thị trấn, 9 phường và 166 xã

Quảng Ngãi có địa hình tương đối phức tạp, có xu hướng thấp dần từ tây sang đông với các dạng địa hình đồi núi, đồng bằng ven biển, phía tây của tỉnh là sườn Đông của dãy Trường Sơn, tiếp đến là địa hình núi thấp và đồi xen kẽ đồng bằng, có nơi núi chạy sát biển Khí hậu ở Quảng Ngãi là khí hậu nhiệt đới và gió mùa, nên nhiệt

độ cao và ít biến động Chế độ ánh sáng, mưa ẩm phong phú, nhiệt độ trung bình 26,9°C Khí hậu nơi đây phân hóa thành 2 mùa rõ rệt, gồm có mùa mưa và mùa nắng Đất đai trong địa bàn tỉnh được chia làm 9 nhóm đất chính với 25 đơn vị đất và 68 đơn

25-vị đất phụ Các nhóm đất chính là cồn cát, đất cát ven biển, đất mặn, đất phù sa, đất giây, đất xám, đất đỏ vàng, đất đen, đất nứt nẻ, đất xói mòn trơ trọi đá Trong đó, nhóm đất xám có vị trí quan trọng với hơn 74,65% diện tích đất tự nhiên, thích hợp với cây công nghiệp dài ngày, cây đặc sản, dược liệu, chăn nuôi gia súc và nhóm đất phù

sa thuộc hạ lưu các sông chiếm 19,3% diện tích đất tự nhiên, thích hợp với trồng lúa, cây công nghiệp ngắn ngày, rau đậu… Đất Quảng Ngãi có thành phần cơ giới nhẹ, hơi chặt, thích hợp với trồng mía và các cây công nghiệp ngắn ngày

(Nguồn: Cổng thông tin điện tử Bộ kế hoạch và đầu tư Quảng Ngãi, 2017)

2.1.2 Tài nguyên thiên nhiên

- Trên diện tích 513.688,14 ha, Quảng Ngãi có 9 nhóm đất chính với 25 đơn vị đất và 68 đơn vị đất phụ 9 nhóm đất chính là: cồn cát, đất cát ven biển, đất mặn, đất phù sa, đất giây, đất xám, đất đỏ vàng, đất đen, đất nứt nẻ, đất xói mòn trơ trọi đá Trong đó, nhóm đất xám có vị trí quan trọng (chiếm 74,65% diện tích đất tự nhiên) thích hợp với cây công nghiệp dài ngày, cây đặc sản, dược liệu, chăn nuôi gia súc và nhóm đất phù sa thuộc hạ lưu các sông (chiếm 19,3% diện tích đất tự nhiên), thích hợp với trồng lúa, cây công nghiệp ngắn ngày, rau đậu Diện tích đất của Quảng Ngãi được

sử dụng gồm 322.034,59 ha đất nông nghiệp (62,5% diện tích đất tự nhiên), 45.636,2

ha đất phi nông nghiệp (8,86% diện tích đất tự nhiên) và 147.595,9ha đất chưa sử dụng (28,64% diện tích đất tự nhiên)

Trang 37

- Rừng Quảng Ngãi phong phú về lâm, thổ sản với nhiều loại gỗ như: trắc, huỳnh, đinh hương, sến, kiền kiền, gụ, dỗi…, tổng trữ lượng gỗ khoảng 9,8 triệu m3

So với các tỉnh trong vùng duyên hải miền Trung, vốn rừng tự nhiên của Quảng Ngãi rất ít, chủ yếu là rừng trung bình và rừng nghèo, nhưng nếu so về trữ lượng (tính trên 1 ha) thì trữ lượng các loại rừng của Quảng Ngãi lại cao hơn mức trung bình của cả nước

- Tài nguyên khoáng sản của Quảng Ngãi không đa dạng về chủng loại, chủ yếu

là khoáng sản phục vụ cho công nghiệp vật liệu xây dựng, nước khoáng và một số khoáng sản khác Những khoáng sản có thể khai thác trong 10 năm tới là: graphít trữ lượng khoảng 4 triệu tấn, trong đó trữ lượng cho phép đưa vào khai thác 2,5 triệu tấn, hàm lượng cácbon trung bình 20%, có nơi 24% nằm trên địa bàn huyện Sơn Tịnh; silimanhit trữ lượng 1 triệu tấn, phân bổ ở Hưng Nhượng (Sơn Tịnh); than bùn ở Bình Phú (Bình Sơn) trữ lượng 476 nghìn m3; cao lanh ở Sơn Tịnh trữ lượng khoảng 4 triệu tấn Đá xây dựng gồm các loại đá làm vật liệu xây dựng, rải đường giao thông, áp tường, lát nền, trữ lượng trên 7 tỷ m3, phân bố ở Đức Phổ, Trà Bồng và một số huyện khác; nước khoáng ở Thạch Bích (Trà Bồng), Đức Lân (Mộ Đức), Nghĩa Thuận (Tư Nghĩa) và Sơn Tịnh

- Với bờ biển dài khoảng 129km, cùng vùng lãnh hải rộng lớn 11.000 km2, có 6 cửa biển, dồi dào nguồn lực hải sản, Quảng Ngãi còn có một khả năng lớn để đi lên từ phát triển kinh tế biển đặc biệt là khai thác có hiệu quả, chủ yếu là khai thác cá nổi trữ lượng khoảng 68.000 tấn các loại Ðây cũng là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Với 6 huyện ven biển và một huyện đảo, có thể nói biển đảo Quảng Ngãi có nhiều tiềm năng

về cảnh quan, địa hình, nhiều di tích lịch sử, lễ hội truyền thống, là một trong các tỉnh

có bờ biển dài và đẹp, có diện tích khai thác, nuôi trồng thủy hải sản rộng lớn Đặc biệt, đảo Lý Sơn còn là nơi lưu giữ hình ảnh của những đội hùng binh xưa dong buồm

ra biển Đông, đặt những viên đá chủ quyền thiêng liêng đầu tiên trên quần đảo Hoàng

Trang 38

triển thông qua các dự án như: Dự án Năng lượng nông thôn I và II; các dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng lưới điện WB, ADB, KFW… và hiện nay đang triển khai dự án đầu

tư cấp điện nông thôn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2013 - 2020, cải thiện đáng kể cuộc sống của nhân dân Đến cuối năm 2016, số xã, phường, thị trấn có điện lưới quốc gia

là 180/180 (chiếm 100%); số hộ dân có điện toàn tỉnh đạt 98,6%

Hệ thống cấp nước: Nhà máy cấp nước thành phố Quảng Ngãi với công suất 45.000m3/ngày đêm, cung cấp được nước sạch cho 80 – 90% dân số tại trung tâm thành phố Quảng Ngãi với tiêu chuẩn dùng nước là 120 lít/người/ngày và 30 – 40% dân số vùng ven với tiêu chuẩn dùng nước 80 – 100 lít/người/ngày

Hệ thống thông tin liên lạc: Quảng Ngãi có mạng lưới viễn thông khá tốt Bưu điện trung tâm Tỉnh, huyện, xã được trang bị: Vi ba, cáp quang đảm bảo liên lạc thông suốt Hệ thống internet qua đường truyền ADSL cũng là một kênh liên lạc quan trọng hiện nay đối với sự phát triển của toàn tỉnh

Trên địa bàn tỉnh có Quốc lộ 1 với quy mô đường cấp III dành cho 4 làn xe và đường sắt Bắc - Nam chạy qua; có cảng sâu Dung Quất II

2.1.4 Giáo dục, đào tạo nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực

Công tác xã hội hóa giáo dục, đa dạng hóa các loại hình giáo dục, đào tạo, dạy nghề của tỉnh trong giai đoạn qua đạt được một số kết quả quan trọng Mạng lưới cơ sở giáo dục, đào tạo tiếp tục được đầu tư phát triển Chất lượng giáo dục ở các cấp học được tăng lên, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ

sở tiếp tục được giữ vững và nâng cao chất lượng Giáo dục đại học, cao đẳng có bước phát triển về quy mô và chất lượng đào tạo

Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý các bậc học được đẩy mạnh Nhiều năm trở lại đây Quảng Ngãi thực hiện tinh giản biên chế nên đội ngũ giáo viên luôn ở tình trạng thiếu hụt; số lượng các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề trên địa bàn tỉnh tăng lên cả về số lượng và chất lượng so với trước đây nhưng thực tế là chương trình đào tạo nặng về lý thuyết hơn thực hành nghề nghiệp do đó nhiều sinh viên, học viên ra trường đi làm nhưng vẫn chưa thạo việc Chính vì vậy đội ngũ công nhân có tay nghề cao của tỉnh Quảng Ngãi còn quá thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu của các nhà đầu tư

Trang 39

- Nguồn vốn đầu tư của các khu vực để phát triển xã hội của tỉnh Quảng Ngãi được thể hiện ở Bảng 2.1 cho thấy trong những năm gần đây nguồn vốn để đầu tư luôn tăng, năm sau nhiều hơn năm trước – đây là một tín hiệu đáng mừng cho tỉnh nhà; tuy nhiên khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài giai đoạn 2014 – 2016 có nguồn vốn khá cao nhưng đến năm 2017 tình hình thu hút nguồn vốn nước ngoài giảm mạnh; điều này cho thấy môi trường đầu tư tại tỉnh Quảng Ngãi đã không làm thỏa mãn nhu cầu đầu tư của các nhà đầu tư nên họ đã rút đầu tư khỏi tỉnh Quảng Ngãi

Bảng 2.1 Tốc độ phát triển vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tỉnh Quảng Ngãi

các năm 2014 – 2017 so với năm trước (theo giá hiện hành) (Đơn vị tính: %)

Chỉ tiêu 2014 2015 2016 2017

Khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài 110,5 119,9 109,4 72,92

Tổng cộng 111,5 111,9 108,7 129,56

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi)

2.2 Tổng quan về KKT Dung Quất

2.2.1 Vị trí địa lý KKT Dung Quất

KKT Dung Quất được thành lập trên cơ sở KCN Dung Quất cũ theo quyết định

số 50/2005/QĐ-TTg ngày 11/03/2005 của Thủ tướng Chính phủ Khu kinh tế Dung Quất lúc thành lập có phạm vi diện tích khoảng 14.000 ha (trong đó: 10.300 ha đất thuộc tỉnh Quảng Ngãi bao gồm các xã Bình Chánh, Bình Thạnh, Bình Đông, Bình Thuận, Bình Trị, Bình Hải và một phần diện tích đất của các xã Bình Phước, Bình Hòa

và Bình Phú của huyện Bình Sơn; và 3.700 ha thuộc tỉnh Quảng Nam) Để tiếp tục tạo động lực cho phát triển, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định 124/QĐ-TTg ngày 20/1/2011 phê duyệt Đề án mở rộng Khu Kinh tế Dung Quất, đưa diện tích 14.000 ha

Trang 40

hiện nay lên 45.332 ha (bao gồm: KKT hiện hữu 10.300 ha, phần diện tích mở rộng khoảng 24.280 ha, và khoảng 10.752 ha diện tích mặt biển) để hình thành Thành phố công nghiệp mở, Trung tâm lọc hóa dầu quốc gia (công suất ban đầu là 10 triệu tấn/năm) gắn với cảng nước sâu Dung Quất II, sân bay Quốc tế Chu Lai và là trung tâm kinh tế của tỉnh Quảng Ngãi trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

Về ranh giới của KKT Dung Quất sau khi được mở rộng:

- Phía Bắc: Giáp tỉnh Quảng Nam;

- Phía Tây: Giáp đường sắt Bắc - Nam;

- Phía Đông: Giáp Biển Đông;

- Phía Nam: Giáp ranh giới quy hoạch mở rộng thành phố Quảng Ngãi

Như vậy, toàn bộ KKT Dung Quất mở rộng sẽ gồm: toàn bộ diện tích các xã Bình Đông, Bình Thạnh, Bình Chánh, Bình Thuận, Bình Trị, Bình Hải, Bình Phước, Bình Hòa, Bình Phú, Bình Dương, Bình Thanh Đông, Bình Thanh Tây, Bình Tân, Bình Châu, Bình Thới và một phần các xã Bình Nguyên, Bình Long, Bình Hiệp, Bình Trung của huyện Bình Sơn; thị trấn Châu Ổ; toàn bộ diện tích các xã Tịnh Phong, Tịnh Hòa, Tịnh Kỳ và một phần xã Tịnh Thọ thuộc huyện Sơn Tịnh; toàn bộ diện tích huyện đảo Lý Sơn; khu vực mặt biển liền kề (diện tích khoảng 10.752 ha)

KKT Dung Quất được Chính phủ Việt Nam quy hoạch trở thành một KKT đa ngành - đa lĩnh vực, với trọng tâm là công nghiệp lọc hóa dầu, công nghiệp nặng quy

mô lớn (luyện cán thép, đóng tàu, cơ khí, sản xuất xi măng, chế tạo ô tô,…), các ngành công nghiệp nhẹ, các dịch vụ tài chính, ngân hàng, du lịch, bất động sản…nên sẽ rất đa dạng về hình thức đầu tư

(Nguồn: Ban quản lý KKT Dung Quất, 2017)

2.2.2 Quản lý Nhà nước KKT Dung Quất

2.2.2.1 Sơ đồ bộ máy quản lý Nhà nước của KKT Dung Quất

Ban Quản lý KKT Dung Quất là cơ quan quản lý Nhà nước trực tiếp đối với KKT Dung Quất, giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo thực hiện việc xây dựng và phát triển KKT Dung Quất theo quy hoạch, kế hoạch, tiến độ đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và theo quy chế hoạt động nhằm thực hiện quản lý tập trung thống nhất hoạt động trên các lĩnh vực đầu tư, phát triển kinh tế tại KKT Dung Quất

Ngày đăng: 11/02/2019, 21:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm