CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM .... Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,kết quả trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận vănchưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hải Yến
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, em xin được bày tỏ lòng biết ơn tới:
- Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo là lãnh đạo, cán bộ, giảng viên KhoaTâm lý - Giáo dục, Phòng Đào tạo, Phòng Đào tạo Sau Đại học, Trường Đạihọc Sư phạm Thái Nguyên đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ em trong suốt thờigian học tập và nghiên cứu tại trường
- Gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, những người luôn sát cánh động viên,giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
- Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Nguyễn Thị Tính - PhóHiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên người đã hết lòng hướngdẫn, chỉ bảo, động viên và giúp đỡ em trong quá trình học tập và thực hiện luậnvăn để có thể hoàn thành luận văn này
Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng do khả năng và kinh nghiệm còn hạn chếnên khó tránh khỏi những sai sót Em rất kính mong được sự góp ý, chỉ dẫn củaquý thầy cô và các anh chị đồng nghiệp
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2014
Người thực hiện luận văn
Nguyễn Thị Hải Yến
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1
u 3
ng nghiên c u 3
u 3
3 vi nghiên c u 4
7 Phươ u 4
4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM 5
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.2 Các khái niệm công cụ 6
1.2.1 Quản lý 6
1.2.2 7
1.2.3 Đánh giá 8
1.2.3 Đánh giá kết quả học tập của sinh viên 10
1.2.4 Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ 12
Trang 41.3 Những vấn đề cơ bản về quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập củasinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm 16
1.3.1 Đặc điểm hoạt động của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ 16
1.3.2 Mục đích, ý nghĩa của đánh giá kết quả học tập của sinh viên
trong đào tạo theo học chế tín chỉ 191.3.3 Những yêu cầu cơ bản đối với hoạt động đánh giá kết quả học tập
của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ 211.3.4 Phương pháp đánh giá kết quả học tập của sinh viên trong đào tạo
theo học chế tín chỉ 231.4 Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên trong đào
tạo theo học chế tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm 281.4.1 Mục đích của quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh
viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ 281.4.2 Nội dung quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh
viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ 281.4.3 Vai trò của Hiệu trưởng, phòng chức năng, khoa, tổ chuyên môn,
giáo viên trong quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh
viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ 34
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐHSP - ĐHTN 39
2.1 Tổ chức khảo sát về hoạt động đánh giá năng lực học tập của sinh viêntrong đào tạo theo học chế tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên 39
2.1.1 Một vài nét về trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên 392.1.2 Tổ chức khảo sát về hoạt động đánh giá năng lực học tập của sinh
Trang 5viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm - Đạihọc Thái Nguyên 40
Trang 62.2 Thực trạng đánh giá kết quả học tập của sinh viên trong đào tạo theohọc chế tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên 412.2.1 Thực trạng nhận thức của CBQL, GV và SV về đánh giá kết quảhọc tập của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ 412.2.2 Thực trạng nội dung đánh giá kết quả học tập của sinh viên trongđào tạo theo học chế tín chỉ 422.2.3 Thực trạng phương pháp đánh giá kết quả học tập của sinh viêntrong đào tạo theo học chế tín chỉ 432.2.4 Thực trạng đánh giá kết quả học tập của sinh viên trong đào tạotheo học chế tín chỉ 462.3 Thực trạng quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm Đại
học Thái Nguyên 482.3.1 Thực trạng về công tác xây dựng kế hoạch cho hoạt động đánhgiá kết quả học tập của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ 482.3.2 Thực trạng công tác tổ chức cho hoạt động đánh giá kết quả họctập của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ 492.3.3 Thực trạng chỉ đạo hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viêntrong đào tạo theo học chế tín chỉ 50
2.3.4 Thực trạng kiểm tra, thanh tra hoạt động đánh giá kết quả học tập của
SV trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở trường ĐHSP - ĐHTN 58
2.4 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên 59
2.4.1 Những kết quả đã đạt được 592.4.2 Về hạn chế 61
Trang 7Chương 3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH
GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRONG ĐÀO TẠO
THEO HỌC
CHẾ TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÁI NGUYÊN
65
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 65
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính khách quan 65
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính dự báo 65
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính dân chủ 65
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính phát triển 66
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 66
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên 66
3.2.1 Nâng cao nhận thức cho cán bộ, giảng viên, sinh viên về hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ 66
3.2.2 Xây dựng hệ thống các văn bản quy định về đánh giá kết quả học tập của SV đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ 68
3.2.3 Chỉ đạo khoa, tổ chuyên môn hướng dẫn giảng viên thiết kế lại đề cương môn học theo đúng bản chất của đào tạo theo học chế tín chỉ nhằm gắn giảng dạy với đánh giá 74
3.2.4 Chỉ đạo Khoa, Tổ chuyên môn và giảng viên đánh giá kết quả học tập của sinh viên theo đề cương chi tiết môn học phù hợp với đào tạo theo học chế tín chỉ 77
3.2.5 Chỉ đạo Khoa, tổ chuyên môn và giảng viên xây dựng và phát triển ngân hàng đề thi theo tính mở 80
3.2.6 Chỉ đạo Khoa, Tổ chuyên môn đa đạng hóa các hình thức đánh giá kết quả học tập của SV, coi trọng đánh giá quá trình trong đào tạo theo học chế tín chỉ 83
Trang 8ọc Thávii Ngu
3.2.7 Mối quan hệ giữa các biện pháp 85
Trang 93.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 86
3.3.1 Mục đích khảo nghiệm 86
3.3.2 Nội dung khảo nghiệm 86
3.3.3 Đối tượng khảo nghiệm 86
3.3.4 Phương pháp khảo nghiệm 87
3.3.5 Kết quả khảo nghiệm 87
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT
2 Bộ GD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Nhận thức của CBQL, GV và SV về đánh giá kết quả học
tập của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ 41Bảng 2.2: Đánh giá của CBQL, GV và SV về việc thực hiện nội dung
ĐGKQ học tập 42Bảng 2.3: Thực trạng sử dụng các phương pháp đánh giá kết quả quá
trình học tập của sinh viên 44Bảng 2.4: Thực trạng sử dụng các phương pháp đánh giá tổng kết kết
quả học tập của sinh viên (thi hết môn) 46Bảng 2.5: Đánh giá của CBQL, GV về công tác xây dựng kế hoạch
hoạt động đánh giá kết quả học tập của SV theo học chế tín chỉ 48
Bảng 2.6: Thực trạng chỉ đạo ra đề thi và hoàn thiện ngân hàng đề thi 51Bảng 2.7: Thực trạng chỉ đạo công tác xây dựng, hoàn thiện và bổ
sung ngân hàng đề thi 52Bảng 2.8: Thực trạng chỉ đạo công tác tổ chức coi thi 54Bảng 2.9: Thực trạng phản hồi thông tin đánh giá kết quả học tập đến
sinh viên 56Bảng 3.1: Mức độ cần thiết của các biện pháp quản lý hoạt động đánh
giá kết quả học tập của sinh viên 87Bảng 3.2: Mức độ thể hiện tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt
động đánh giá kết quả học tập của sinh viên 88
Trang 12MỞ ĐẦU
Trong xu thế hội nhập và phát triển, Giáo dục - Đào tạo giữ vị trí vai trò
vô cùng quan trọng vì vậy
Trang 13-
)”
Trang 14Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng hoạt
sinh viên của giảng viên với các biện pháp quản lý của Hiệu trưởng và PhòngKhảo thí đảm bảo chất lượng của nhà trường
-kết quả
phụ thuộc
-
Trang 16-.
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đánh giá là một hoạt động tự thân, nó được hình thành và phát triển cùngvới sự phát triển của khoa học giáo dục, nó là một khâu trong quá trình giáo dục,dạy học vì vậy đòi hỏi phải có những nghiên cứu riêng về khoa học đánh giá
Trên thế giới đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về khoa họcđánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục đó là các công trình của một số tácgiả sau đây:
Examen et docmolgic cho rằng:
"Đánh giá là một khoa học tự nó hình thành”
Warren Piper.D (1993), trong tác phẩm “Quản lý chất lượng trong cáctrường học” đã xác định các chức năng ĐBCL của cơ sở đào tạo bao gồm: xáclập chuẩn, xây dựng quy trình, xác định tiêu chí đánh giá và vận hành, đolường, đánh giá, thu thập và xử lý số liệu
Ralf Tyler, nhà giáo dục và tâm lí học nổi tiếng của Mĩ đã nghiên cứuquy trình đánh giá để đánh giá sự tiến bộ của học sinh
Theo Freeman (1994), trong tác phẩm “Đảm bảo chất lượng trong giáodục và đào tạo”, ĐBCL là một cách tiếp cận mà công nghiệp sản xuất sử dụngnhằm đạt được chất lượng tốt nhất ĐBCL là một cách tiếp cận có hệ thốngnhằm xác định nhu cầu thị trường và điều chỉnh các phương thức làm việcnhằm đáp ứng được các nhu cầu đó
Ở các nước phát triển họ coi trọng hoạt động đánh giá và trách nhiệmchính trong hoạt động đánh giá là thuộc về giáo viên, giảng viên của các trường
Ở Việt Nam khoa học đánh giá đang phát triển những năm gần đây cómột số công trình nghiên cứu của một số tác giả:
Trang 18Trần Thị Tuyết Oanh (1999), Nghiên cứu về kĩ thuật trắc nghiệm trongđánh giá (Luận án TS).
Trần Bá Hoành (2001) nghiên cứu về đánh giá trong giáo dục đã kháiquát quy trình đánh giá, chỉ ra các phương pháp, kĩ thuật đánh giá
Nguyễn Công Khanh (2012) Nghiên cứu về đo lường trong đánh giá kếtquả học tập của người học
Nguyễn Công Khanh (2014) nghiên cứu về kiểm tra, đánh giá trong giáodục đã khai thác đánh giá kết quả học tập của học sinh theo tiếp cận năng lực,các phương pháp và kĩ thuật đánh giá
Về lĩnh vực quản lý có tác giả Nguyễn Thanh Tú (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu về đánh giá kết quả học tập của sinh viên tiếp cận theo tiêu chuẩnkiểm định chất lượng trường đại học
Ngoài ra còn nhiều luận văn khác nghiên cứu về các vấn đề kiểm tra,đánh giá việc thực hiện quy chế chuyên môn của tổ, của giáo viên, giảng viên,chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về quản lý đánh giá kết quả họctập của sinh viên trường đại học sư phạm
1.2 Các khái niệm công cụ
Một định nghĩa giải thích tương đối rõ nét về quản lí được James Stoner
và Stephen Robbins trình bày như sau: “Quản lí là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.”
Trang 19Quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản
lý thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý nhằm đưa tổ chức đạt được mục tiêu đã đề ra.
Trang 20thường và liên tục phát triển, mở rộng cả về số lượng cũng như chất lượng[9,tr.1]
Trang 21Hay: QLGD là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủthể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm huy động, tổ chức, điều phối, giám sátmột cách hiệu quả các nguồn lực cho giáo dục và các hoạt động phục vụ chomục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội [9,tr.1]
Ở cấp độ trường học: QLGD là hệ thống tác động có mục đích, có kếhoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhà trường, làm cho nhà trường vậnhành theo đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện được các tínhchất của nhà trường mà tiêu điểm là quá trình dạy học - giáo dục, đưa nhàtrường tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất, góp phần thực hiệnmục tiêu chung của giáo dục: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡngnhân tài phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước [9,tr.1]
Đánh giá (Evaluation) là vấn đề được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu
và đưa ra nhiều định nghĩa, quan niệm khác nhau
Ralf Tyler, nhà giáo dục và tâm lí học nổi tiếng của Mĩ, được coi là mộttrong những người đầu tiên đưa ra khái niệm ĐGGD [20], ông sử dụng thuậtngữ ĐG để biểu thị quy trình ĐG sự tiến bộ của người học theo các mục tiêuđạt được
Trang 22Theo Woodhouse: Đánh giá (evaluation) là sự lượng giá (assessment)
mà kết quả là điểm, có thể cho bằng số (phần trăm hoặc một thang điểm ngắn hơn từ 1 đến 4), bằng chữ (từ A đến F) hay là sự miêu tả (Xuất sắc, giỏi, khá, đạt, không đạt) Điểm cũng có thể là “qua” (Pass) hay “trượt” (Fail) Câu hỏi đánh giá “Kết quả của bạn như thế nào ?” [20].
Theo tác giả Trần Bá Hoành: ĐG là quá trình hình thành những nhậnđịnh, phán đoán về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích các thông tin thuđược, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất nhữngquyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng vàhiệu quả công việc [7]
Theo tài liệu biên soạn của Nguyễn Thị Tính (Đại học Sư phạm Thái
Nguyên) thì: "Đánh giá trong giáo dục là một quá trình hoạt động được tiến hành có hệ thống nhằm xác định mức độ đạt được của đối tượng quản lý về mục tiêu đã định nó bao gồm sự mô tả định tính và định lượng kết quả đạt được thông qua những nhận xét, so sánh với mục tiêu đã đề ra" [17]
Các định nghĩa trên đều được xem xét dưới các góc độ mục đích và đốitượng đánh giá Các định nghĩa đó phù hợp với những các lĩnh vực mà họ cầnđánh giá Vấn đề đo lường và đánh gía trong giáo dục thì người ta quan tâmđến việc: “Đánh giá là một khái niệm để chỉ việc thu thập thông tin một cách hệthống, xử lý, phân tích dữ liệu làm cơ sở để đưa ra các quyết định nhằm nângcao chất lượng giáo dục”
Đánh giá là quá trình thu thập và xử lí kịp thời có hệ thống thông tin vềhiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dụccăn cứ vào mục tiêu giảng dạy, mục tiêu đào tạo làm cơ sở cho những chủtrương, biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo nhằm phát huy kết quả, sửachữa những thiếu sót
Trang 231.2.3 Đánh giá kết quả học tập của sinh viên
i Kết quả học tập của sinh viên
Có một số quan niệm về kết quả học tập “Kết quả học tập là bằng chứng
sự thành công sinh viên về kiến thức, kĩ năng, năng lực, thái độ đã được đặt ratrong mục tiêu giáo dục” (James Madison University, 2003; James O Nichols,2002) Một quan niệm khác là “Kết quả học tập là kết quả của một môn học,một chuyên ngành hay của cả một khóa đào tạo.” hay “Kết quả học tập của sinhviên bao gồm các kiến thức, kĩ năng và thái độ mà họ có được Các kiến thức,
kĩ năng này được tích lũy từ các môn học khác nhau trong suốt quá trình họcđược quy định cụ thể trong chương trình đào tạo
Những quan niệm này tuy cách nói khác nhau nhưng tất cả đều cho rằng
kết quả học tập bao gồm các kiến thức, kỹ năng và thái độ mà người học có được trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường được lượng hóa bằng các điểm số hay con chữ thể hiện thông qua đánh giá quá trình (điểm KT điều kiện, điểm KT kết thúc môn) và ĐG tổng kết khóa học.
ii Đánh giá kết quả học tập của sinh viên
Việc đánh giá kết quả học tập, không những cần đề cập đến nhiều yếu tố,
mà mối quan hệ giữa những yếu tố ấy cũng rất phức tạp Bởi vậy, trong quátrình này, cần phải coi trọng việc nghiên cứu những kinh nghiệm của giáo viên
đã tích luỹ được trong việc đánh giá kết quả học tập, mặt khác còn phải xuấtphát từ những lý luận về đánh giá giáo dục, lý luận giáo dục học nói chung vàcác chính sách giáo dục, để tiến hành nghiên cứu tổng hợp Mục đích của đánhgiá kết quả học tập là làm cho công tác đánh giá kết quả học tập được phát triểnđúng đắn, từ đó sẽ làm tăng động cơ học tập của người học đồng thời khôngngừng nâng cao chất lượng giáo dục
Trước khi làm rõ khái niệm đánh giá kết quả học tập, chúng ta cần tìmhiểu kết quả học tập - Achievement test/assessment - là gì?
Trang 24Trong khoa học và trong thực tế thì KQHT được hiểu theo hai nghĩasau đây:
• Thứ nhất KQHT là mức độ người học đạt được so với các mục tiêu đãxác định (dựa vào các tiêu chí)
• Thứ hai KQHT là mức độ mà người học đạt được so sánh với nhữngngười cùng học khác (theo chuẩn)
Dù hiểu theo cách nào thì KQHT đều thể hiện ở mức độ đạt được mụctiêu của việc dạy học Mục tiêu của việc dạy học gồm có mục tiêu về: kiếnthức, kỹ năng và thái độ Ở bậc đại học việc đánh giá KQHT bao gồm 2 loạiđánh giá khác nhau tuỳ theo mục tiêu đánh giá:
Một là: Đánh giá quá trình (Formative assessment): loại đánh giá nàyđược tiến hành nhiều lần trong quá trình đào tạo nhằm cung cấp các thông tinngược để giáo viên và học viên kịp thời điều chỉnh quá trình đào tạo Kiểu đánhgiá này được tiến hành sau khi kết thúc một nội dung học tập chính, sau mộtbài học hay sau một đơn vị học trình hoặc thậm chí một chương để thu thập sựphản hồi nhanh của sinh viên để giáo viên có thể kịp thời bổ sung những phầnkiến thức còn thiếu hụt của họ đồng thời bổ sung thêm phần tài liệu còn thiếu
và điều chỉnh nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy cho phù hợpvới người học ở các giai đoạn khác nhau Loại đánh giá này cũng giúp sinhviên điều chỉnh họat động học tập của mình và nó cũng cung cấp các số liệuchứng minh sự tiến bộ của sinh viên
Hai là: Đánh giá tổng kết(Summative assessment): Đánh giá tổng kếtđược tiến hành khi kết thúc quá trình đào tạo nhằm cung cấp các thông tin vềchất lượng đào tạo Đánh giá này nhằm xếp loại sinh viên được học tiếp cácnăm sau hay không; nó còn để cấp các văn bằng hay chứng chỉ Đánh giá tổngkết nó cho số liệu để thừa nhận hoặc bác bỏ sự hoàn thành hoặc chưa hòanthành một chương trình học, nó chỉ tiến hành sau khi kết thúc một giai đoạnhọc tập nhất định: như kết thúc môn học, kết thúc khóa học do vậy loại đánhgiá này không tiến hành thường xuyên
Trang 25Với một học phần cụ thể thì đánh giá tổng kết chỉ ra mức độ mà sinhviên đạt được như thế nào trong các mục tiêu cụ thể trong môn học đó.
Đánh giá kết quả học tập của sinh viên là một quá trình giảng viên và nhà quản lý thu thập thông tin về thực trạng năng lực học tập của sinh viên làm
rõ những kết quả đã đạt được và những kết quả chưa đạt được so với mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra từ đó đề xuất biện pháp điều chỉnh quá trình dạy - học, phát triển chương trình đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.
Đánh giá kết quả học tập của sinh viên là một quá trình bao gồm các khâu: Kiểm tra nhằm đo thực trạng học tập của sinh viên
Lượng giá nhằm ước lượng trình độ đạt được của sinh viên
Đánh giá và phản hồi thông tin để điều chỉnh quá trình dạy và học, pháttriển chương trình đào tạo, hoàn thiện chuẩn đầu ra của quá trình đào tạo
1.2.4 Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ
i Đào tạo theo học chế tín chỉ
Hiện nay, có nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về phương thứcđào tạo theo tín chỉ (cũng gọi là Học chế TC, viết tắt là ĐTTC) Quyết định số43/2007/QĐ - BGD&ĐT về ban hành “Quy chế Đào tạo đại học và cao đẳng hệchính quy theo hệ thống tín chỉ” (gọi tắt là Quy chế 43) đã xác định rõ các đặcđiểm và yêu cầu của ĐTTC
ĐTTC là phương thức đào tạo tiên tiến, có tính nhân văn và tính hiệu quảcao, đồng thời đã và đang là xu thế tất yếu ở các trường ĐH Dưới đây là một
số đặc điểm và cũng là ưu thế của phương thức đào tạo theo tín chỉ
Trao quyền chủ động cho SV và đòi hỏi cao tính chủ động của họ
ĐTTC với đặc điểm là “hướng tới người học, lấy người học là trungtâm” và cá nhân hoá quá trình đào tạo mà các hệ thống khác không có được.Mặt khác, cho phép SV chủ động tiến tới văn bằng đại học bằng lựa chọnnhiều cách tổ hợp các đơn nguyên kiến thức có số TC khác nhau (tức là cógiá trị khác nhau);
Trang 26Cho phép SVcó quyền lựa chọn các môn học, giúp họ chủ động lập kếhoạch cho toàn bộ quá trình học tập tại trường ĐH tuỳ thuộc vào các điều kiệncủa cá nhân SV đó, và ghi nhận kịp thời các thành tích của họ sau mỗi giaiđoạn tích luỹ Cho phép đặt ra những mục tiêu ngắn hạn để hoàn thành, mộtđiều có lợi cho các SV không có điều kiện xây dựng kế hoạch dài hạn.
Trong ĐTTC, mỗi môn học chỉ kéo dài và chấm dứt sau 1 học kỳ, do đóđòi hỏi SV phải chủ động hơn trong việc học Việc kiểm tra đánh giá được tiếnhành bằng nhiều hình thức đa dạng và cũng kéo dài trong suốt học kỳ nên gánhnặng thi cử được giảm nhẹ, nhưng cũng không cho phép SV được chây lười
Tính mềm dẻo và linh hoạt của chương trình đào tạo
Cho phép SV chuyển đổi ngành học chuyên môn chính trong quá trìnhhọc, bằng cách công nhận các TC đã được SV tích luỹ và chỉ cần bổ sung các
TC còn lại để hoàn tất một ngành học mới và nhận văn bằng
Việc sử dụng hệ thống TC tạo điều kiện để các trường ĐH phát triển cácchương trình song đôi (twin program, văn bằng kép), văn bằng thứ 2 và chươngtrình chuyển tiếp Như vậy, sẽ cho phép SV nhận văn bằng (ĐH, SĐH) của mộtngành đào tạo khác, ở khoa khác, hoặc của trường ĐH khác mà không tốn kémnhiều (thời gian, kinh phí ) Ở đây, hệ thống TC được xem là ngôn ngữ chungcủa các trường ĐH cho phép việc chuyển đổi SV giữa các truờng ĐH gặp ítkhó khăn hơn SV có thể hoàn thành phần đầu của chương trình đào tạo ở mộttrường ĐH, phần còn lại sẽ được hoàn thành ở một ngành học khác, trườngkhác, hoặc ở nước ngoài theo yêu cầu của trường cấp bằng
ĐTTC tạo hiệu quả về mặt quản lý SV trong đào tạo
Trong ĐTTC, thành tích học tập của SV được đo trên cơ sở tích luỹkhối lượng TC ứng với từng môn học Việc chưa hoàn thành một môn học cóảnh hưởng không nhiều tới quá trình học tập của SV như trong đào tạo theoniên chế, vì họ có thể học lại môn học đó hoặc chọn một môn học khác thaythế Như vậy, SV không phải học lại cả năm học hay bỏ học, giá thành đào tạo
Trang 27vì vậy giảm đi đáng kể Tuy nhiên, ĐTTC cũng đòi hỏi cao người học: nếukhông đạt 3.0 điểm trung bình chung mỗi năm học, họ buộc phải “dừng tiến
Các đặc điểm của ĐTTC đã kéo theo thay đổi đặc điểm hoạt động họctập của SV trên các phương diện Mục tiêu học tập, nội dung, phương pháp vàđiều kiện học tập cần có của họ…Nói cách khác, ĐTTC vừa là sự đòi hỏi ở SVcao hơn rất nhiều, vừa cho phép họ chủ động lập kế hoạch (dưới sự hướng dẫncủa CVHT) cho toàn bộ quá trình học tập tại trường đại học và tự chịu tráchnhiệm cao nhất về kết quả học tập của mình
ii Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ
QL hoạt động ĐGKQHT là một bộ phận của QL đào tạo có quan hệ tớicác nội dung quản lý khác như: xây dựng kế hoạch chiến lược, tầm nhìn; QLchương trình, QL nhân sự và QL các nguồn lực khác QL ĐGKQHT chịu sựchi phối của nhiều nội dung QL khác nhưng nó cũng tác động trở lại cho việc
ra quyết định của nhà quản lý và xây dựng chiến lược phát triển nhà trường QLhoạt động ĐGKQHT là một trong những nội dung của công tác QLGD trongnhà trường nên thực chất là loại QL nhà nước để QL việc thực hiện đồng bộcác các yếu tố: mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp dạy học và
Trang 28phương pháp học tập trong QL đào tạo QL hoạt động ĐGKQHT còn bao gồmquản lý chất lượng học tập, QL tinh thần thái độ trong học tập của SV; khôngchỉ giới hạn trong phạm vi giảng dạy, giáo dục SV trên lớp, trong nhà trường
mà bao gồm một loạt các hoạt động khác nhau như các hoạt động ngoài giờ lênlớp, tham gia các câu lạc bộ, ngoại khóa, thực hành, thực tập, tham quan, giaolưu, tự học, tự nghiên cứu
QL hoạt động ĐGKQHT của SV theo học chế tín chỉ có thể thực hiện tốtđược vai trò của mình trong mối quan hệ với các chức năng quản lý khác trongnhà trường như: QL chương trình đào tạo, QL hoạt động dạy và học, QL nhân
sự, QL tài chính Chương trình đào tạo đề ra mục tiêu và nội dung cho hoạtđộng ĐG; đội ngũ tham gia hoạt động ĐG được đào tạo và bồi dưỡng có trình
độ chuyên môn và nghiệp vụ cao sẽ làm cho hoạt động ĐG đảm bảo chính xác,
có độ tin cậy cao; nguồn tài chính được đầu tư đầy đủ không chỉ góp phần đảmbảo các điều kiện để triển khai tổ chức mà còn góp phần động viên, khuyếnkhích đội ngũ tham gia thực hiện tốt hoạt động này Quản lý hoạt độngĐGKQHT của sinh viên được tiến hành thường xuyên, khách quan, trung thực
có tác dụng giúp nhà trường hoàn thiện chương trình đào tạo và đổi mớiphương pháp, hình thức tổ chức dạy học
Như vậy, QL hoạt động ĐGKQHT là những tác động của Hiệu trưởng và Phòng Khảo thí đám bảo chất lượng tới giảng viên, tổ, khoa chuyên môn và quá trình đánh giá kết quả học tập của sinh viên nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động đánh giá , tạo động lực cho hoạt động dạy và hoạt động học phát triển, hoàn thiện.
Quản lý hoạt động ĐGKQHT của sinh viên gồm các khâu lập kế hoạch,
tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra hoạt động ĐG nhằm làm cho hoạt độngĐGKQHT đạt hiệu quả cao hơn, tức là làm cho hoạt động ĐG phát huy đượcvai trò và đảm bảo được các nguyên tắc đề ra
Trang 291.3 Những vấn đề cơ bản của hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở trường Đại học Sư phạm.
1.3.1 Đặc điểm hoạt động của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ.
Hoạt động có tính tự lực, tự nghiên cứu cao và thể hiện ở nhiều mức độkhác nhau, tự học theo bài giảng trên lớp, nghiên cứu giáo trình, tài liệu thamkhảo, thảo luận, seminar chuyên đề vv…
Hoạt động học tập mang tính định hướng nghề nghiệp cao ngoài việc nắmkiến thức, sinh viên phải học cách tìm kiếm tri thức và rèn kỹ năng nghề nghiệp
Hoạt động học tập của sinh viên rất đa dạng và phong phú được thể hiện
+ Nghiên cứu khoa học
Trong ĐTTC, hoạt động học tập của SV được thể hiện ở một số đặcđiểm sau:
- Trước hết, trong phương thức ĐTTC, tiến độ học tập của người học phụthuộc vào sự lựa chọn và quyết định của bản thân mỗi SV, cụ thể là phụ thuộcvào mục tiêu, nguồn lực và hoàn cảnh của từng SV SV có nhiệm vụ phải đăng
ký “ tiến độ học tập” đầu mỗi khóa học, năm học và kỳ học
Đăng ký tiến độ học tập theo KHHT cá nhân là một công việc thuộc lĩnhvực “học vụ” rất đặc thù của ĐTTC Kế hoạch đào tạo mà nhà trường đưa ra,với thời khóa biểu của từng học kỳ chỉ là kế hoạch gợi ý tiêu chuẩn để SV hoàntoàn chủ động có thể lựa chọn môn học, lựa chọn GV, đăng ký lớp học theotừng buổi học và lựa chọn tiến độ tích lũy một khối lượng TC cần thiết cho mỗi
kỳ học, mỗi năm học Do đó buộc SV phải tính toán, cân nhắc và lựa chọn cácmôn học, thời gian học, tiến trình học tập nhanh, chậm phù hợp với điều kiệncủa mình…tùy thuộc mục tiêu phát triển cá nhân và điều kiện cụ thể của mình
Trang 30Mỗi SV cần phải và hoàn toàn có thể tự quyết định kế hoạch học tập đểtốt nghiệp sớm hơn, hoặc muộn hơn khung CTĐT: SV phải chủ động xem xét
và ra quyết định lựa chọn khối lượng học tập (số TC cần tích luỹ) cho mỗi kỳhọc, phải lựa chọn trong số nhiều hình thức học và thời khóa biểu khác nhaucho từng môn học, cũng như cho cả quá trình học tập trong trường đại học Saukhi đã quyết định và phác thảo lộ trình khóa học, họ sẽ phải “đăng ký KHHT-tiến độ học tập” toàn khóa ngay từ những tuần đầu tiên của khóa học và đăng
ký khối lượng TC và môn học, lịch học… cho mỗi năm học, kỳ học ngay từtrước khi năm học mới bắt đầu…
- Thứ hai, ĐTTC không chỉ là nhằm trang bị cho SV một trình độ họcvấn với một khối lượng kiến thức, kĩ năng nghề nghiệp tối thiểu cần thiết, màcòn hướng tới hình thành ở SV năng lực tự học và tự học suốt đời và nhữngphẩm chất của người trí thức hiện đại có tư duy hệ thống và có các kỹ năngmềm thích ứng với những thay đổi của cuộc sống ĐTTC là phương thức đàotạo đòi hỏi cao tính chủ động của SV và thông qua tác động của phương thứcnày đã tạo cho SV năng lực chủ động trong việc lập KHHT, xác định thời gian,phương tiện, biện pháp để thực hiện các mục tiêu đề ra trong KHHT đó Khi
đó, hình thành ở SV ý thức xây dựng KHHT một cách chủ động và nỗ lực thựchiện các KHHT sao cho quá trình học tập hiệu quả nhất
- Thứ ba, vớí các hình thức tổ chức dạy học trong ĐTTC, hoạt động tựhọc của SV được quy định như là một thành phần bắt buộc trong thời khóa biểu
và là một nội dung quan trọng của đánh giá kết quả học tập Hoạt động dạy học trong ĐTTC được tổ chức chủ yếu theo ba hình thức: Lên lớp, thực hành
-và tự học Trong ba hình thức tổ chức dạy học này, hai hình thức đầu được tổchức có sự tiếp xúc trực tiếp giữa GV và SV (GV giảng bài, hướng dẫn; SVnghe giảng, thực hành, thực tập dưới sự hướng dẫn của GV, ); hình thức thứ ba
có thể không có sự tiếp xúc trực tiếp giữa GV và SV (GV giao nội dung để SV
tự học, tự nghiên cứu, tự thực hành và sẵn sàng tư vấn khi được yêu cầu)
Trang 31Cách tổ chức thực hiện một tiết học trong ĐTTC cho thấy một đặc điểmhọc tập của SV khác biệt so với trong đào tạo niên chế Nếu hoạt động tự họctrong học chế niên chế chỉ mang tính chất tự nguyện thì ĐTTC coi tự học làmột thành phần hợp pháp và bắt buộc phải có trong hoạt động học tập của SV.
Để học được 1 giờ lý thuyết hay 2 giờ thực hành, thực tập trên lớp SV cần phải
có tối thiểu 2 giờ chuẩn bị ở nhà Đó là yêu cầu bắt buộc trong cơ cấu thời gian
tự học của SV
- Thứ tư, nội dung một bài giảng trong hệ thống TC thường gồm 3 thànhphần chính: Phần nội dung bắt buộc phải biết (N1) được giảng trực tiếp trênlớp; Phần nội dung nên biết (N2) có thể không được giảng trực tiếp trên lớp màgiáo viên có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể SV tự học, tự nghiên cứu ởngoài lớp; Phần nội dung có thể biết (N3) dành riêng cho tự học, chuẩn bị bài,làm bài tập, thảo luận nhóm, xemina,… và các hoạt động khác có liên quan đếnmôn học
Như vậy, kiến thức của mỗi môn học được phát triển thông qua nhữngtìm tòi của người học dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của GV Nếu SV không tựhọc thì họ không thể lĩnh hội đầy đủ khối lượng kiến thức của bài học và nhưvậy đồng nghĩa với việc họ không đạt được yêu cầu của môn học đó
- Một đặc điểm nữa, cũng rất quan trọng và khác biệt với học chế niênchế, là trong ĐTTC hoạt động học tập của SV được kiểm tra, đánh giá thườngxuyên thông qua các bài kiểm tra, bài tập, các buổi thảo luận …trong suốt cảquá trình học, chứ không chỉ ở bài thi hết môn Theo quy chế, trọng số của cácbài tập cá nhân, nhóm và điểm giữa kỳ …chiếm từ 40% đến 50% giá trị điểm
số đánh giá môn học Đối với xử lý kết quả đánh giá Kết quả trong học theo tínchỉ thì không có thi lại mà chỉ có học lại và học cải thiện
Hoạt động học tập của sinh viên được tiến hành theo năng lự c học tập
và theo nhu cầu học tập của sinh viên, sinh viên có thể học vượt chươngtrình đào tạo, học liên thông để nhận hai văn bằng, hoặc học cải thiện để
Trang 32nâng điểm, hoặc rút bớt môn học khi thấy khả năng thực hiện của bản thânchưa tốt để đảm bảo an toàn.
Trang 331.3.2 Mục đích, ý nghĩa của đánh giá kết quả học tập của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ
i Mục đích của đánh giá kết quả học tập của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ
KT, ĐG là một yếu tố quan trọng của giáo dục Song nó có mối quan hệkhăng khít với sự phát triển của xã hội, những ảnh hưởng của xã hội như cácchủ trương, chế độ, chính sách của nhà nước, sự bền vững của giá trị, sự thayđổi hoặc cố gắng duy trì một tình trạng nào đó cũng có tác động đến nhu cầuđánh giá KT, ĐG có mục đích chung là để thúc đẩy động cơ học tập và pháttriển của sinh viên Mục đích của việc đánh giá là nhằm xác định xem sinhviên đã tiếp thu đến đâu, giáo viên đã truyền thụ được gì so với mục tiêu giáodục đã đềra Muốn vậy mục đích của đánh giá phải đạt được những nội dung cơbản sau:
• Đối với giáo viên
Thông qua đánh giá giáo viên thu được những thông tin về hoạt độngnhận thức của sinh viên trong quá trình học Dự đoán xem sinh viên có đủ điềukiện để tiếp thu kiến thức mới? Từ đó định hướng cụ thể cho việc bồi dưỡng,điều chỉnh, bổ sung kiến thức cho phù hợp với từng đối tượng Thông qua đógiáo viên tự điều chỉnh nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức sư phạm chophù hợp đối với từng nội dung bài giảng, từng đối tượng
• Đối với học sinh, sinh viên
Kết quả học tập được công khai hoá, tạo cơ hội cho sinh viên phát triển
kỹ năng tự đánh giá, giúp sinh viên nhận ra sự tiến bộ của mình qua đó kíchthích và thúc đẩy quá trình tự học Sinh viên tự điều chỉnh quá trình tiếp thukiến thức của mình, nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập, trong tudưỡng đạo đức, nhằm khắc phục khó khăn trong học tập KQHT giúp cho sinhviên thêm tự tin vào khả năng, sức lực của chính mình
Như vậy, mục đích đánh giá có ba chức năng rõ rệt: chức năng xã hội,chức năng giải trình và chức năng sư phạm Do vậy, thái độ của giáo viên trong
Trang 34đánh giá có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển động cơhọc tập của sinh viên.
Trang 35ii Ý nghĩa của đánh giá kết quả học tập của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ
KT, ĐG là hai công việc khác nhau nhưng có mối quan hệ mật thiết vàhữu cơ với nhau Kiểm tra nghiêm túc thì sẽ dẫn đến việc đánh giá chính xác.Đánh giá chính xác sẽ là nguồn động lực thúc đẩy quá trình học tập của sinhviên Do vậy, quá trình KT, ĐG không phải chỉ quan trọng và có ý nghĩa quyếtđịnh tới sinh viên và với giáo viên mà còn có ý nghĩa rất lớn với người làmcông tác quản lý
• Đối với giáo viên
Việc KT, ĐG cung cấp cho giáo viên những thông tin “Liên hệ ngoài”giúp cho người giáo viên tự điều chỉnh quá trình hoạt động sư phạm của mình
KT, ĐG kết hợp với theo dõi thường xuyên, tạo điều kiện giúp cho giáo viênnắm bắt năng lực học tập sinh viên trong lớp Trên cơ sở đó giúp cho giáo viên
có thể điều chỉnh mục tiêu, nội dung và phương pháp giảng dạy của mình chophù hợp với khả năng tiếp thu của người học đồng thời giáo viên cũng tự đánhggiá tính hiệu quả công tác giảng dạy của mình từ đó có những biện pháp, kếhoạch điều chỉnh cả về nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động sưphạm Người giáo viên có trách nhiệm và có kinh nghiệm thường xem KT, ĐGnhư một biện pháp cá nhân hoá dạy học
• Đối với sinh viên
- Việc kiểm tra đánh giá có hệ thống và thường xuyên cung cấp kịp thờithông tin “Tự liên hệ ngược bên trong” về kết quả học tập của sinh viên
- Sinh viên tự điều chỉnh, tự hoàn thiện quá trình học tập của mình chophù hợp
+ Về mặt giáo dưỡng: KT, ĐG chỉ cho mỗi sinh viên thấy mình tiếp thuđược và chưa được những gì ở đâu và cần phải có học bổ sung kiến thức, kỹnăng ra sao?
Trang 36+ Về mặt phát triển năng lực nhận thức: Thông qua các hình thức kiểmtra, thi cử sinh viên có điều kiện tiến hành hoạt động trí tuệ như: Ghi nhớ, táihiện, chính xác hoá, khái quát hoá, hệ thống hoá kiến thức Từ đó, sẽ phát huyđược năng lực tư duy sáng tạo, vận dụng linh hoạt các kiến thức đã học vàotình huống thực tế.
+ Về mặt giáo dục: KT, ĐG nếu được tổ chức nghiêm túc sẽ giúp cho SVnâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập, ý chí vươn lên đạt những kết quảcao hơn, tin vào khả năng của chính mình, nâng cao ý thức tự giác, khắc phụctính chủ quan, tính tự mãn
• Đối với cán bộ quản lý:
Thông qua KT, ĐG đã cung cấp được những thông tin cơ bản về thựctrạng việc dạy và học trong nhà trường, qua đó có những biện pháp chỉ đạo kịpthời, nhằm đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu đã đề ra của quá trình dạy và họctrong một nhà trường nói riêng, mục tiêu đào tạo của cả nước nói chung Đồngthời có những biện pháp chỉ đạo điều chỉnh chương trình đào tạo cho phù hợp
Như vậy, trong quá trình Dạy và Học thì việc KT, ĐG là một khâu quantrọng, không thể thiếu khi thực hiện các mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục
1.3.3 Những yêu cầu cơ bản đối với hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ
i Đảm bảo tính mục đích
Đánh giá trong giáo dục được thực hiện nhằm đảm bảo được mục tiêukhông ngừng nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường Đối với việc đánhgiá kết quả học tập nhằm đảm bảo tính mục đích đối với người học đó là: tựđánh giá sự tiến bộ của bản thân, tự tổ chức quá trình học tập theo định hướng
rõ ràng và biết lựa chọn phương pháp học tập phù hợp nhất Đối với giáo viêntính mục đích của việc đánh giá kết quả học tập được thể hiện thông qua một sốđiểm như: Giúp giảng viên lựa chọn, sắp xếp các bài giảng cho phù hợp, tìm racác phương pháp truyền đạt kiến thức cho người học một cách hiệu quả nhất và
Trang 37đặt ra một tiêu chuẩn phù hợp nhất để đánh giá người học Ngoài ra, còn giúpcho nhà trường ĐG được chất lượng đào tạo, ĐG được chương trình đào tạo đãphù hợp về mục tiêu, nội dung, số lượng và thời lượng các học phần trongchương trình đào tạo để có những sự điều chỉnh và bổ sung cho phù hợp.
ii Đảm bảo tính toàn diện, tính hệ thống, tính thường xuyên, liên tục
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên phải được thực hiện mộtcách toàn diện về cả kiến thức, kỹ năng và thái độ học tập của người học Đánhgiá trước, trong và sau quá trình học tập Kiển tra, đánh giá kết quả học tập phảiđược thực hiện một cách thường xuyên, liên tục, kết hợp cả đánh giá trong vàđánh giá ngoài
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập phải thực hiện một cách toàn diện cả
về mặt số lượng và chất lượng Đồng thời phải tiến hành thường xuyên, liên tục
iii Đảm bảo tính khách quan
Đánh giá phải đảm bảo phản ánh đúng thực trạng kết quả học tập, trình
độ của người học Nếu đánh giá không chính xác về trình độ của người học sẽ
là lực cản kìm hãm sự phát triển của quá trình đào tạo của nhà trường
Đánh giá chuẩn xác và khách quan về kết quả học tập của người học sẽgiúp người học bộc lộ rõ tính chất, khả năng và trình độ của mình, ngăn chặnnhững biểu hiện thiếu trung thực trong kiểm tra, đánh giá
Đánh giá khách quan, chính xác đòi hỏi thang đánh giá phải xác định rõ
và có tính phân loại rõ ràng Nó đòi hỏi nhà quản lý phải tránh cái nhìn chủquan, phiến diện và áp đặt đối với người học
Đánh giá như con dao hai lưỡi, nếu đảm bảo được tính khách quan,chuẩn xác sẽ tạo ra tính tích cực trong hoạt động học tập, nghiên cứu của ngườihọc cũng như hoạt động đào tạo của nhà trường; nếu không sẽ là lực cản tạo ra
sự trì trệ trong quản lý và xuất hiện nhiều biểu hiện tiêu cực, làm mất ý chíphấn đấu của người học, người dạy và nhà trường
Trang 38iv Đảm bảo tính phát triển
Khi sử dụng hình thức đánh giá kết quả học tập của sinh viên theo họcchế tín chỉ phải đảm bảo đem lại hiệu quả cao hơn, phát huy được tính chủđộng, sáng tạo của người học và khắc phục được những nhược điểm khi thựchiện đào tạo theo niên chế Bên cạnh đó, việc đánh giá kết quả học tập của sinhviên theo học chế tín chỉ cần phải mang tính chất động, cần phải dựa vào kếtquả của việc đánh giá để từ đó có thể tác động đến quá trình dạy và học, khôngngừng nâng cao chất lượng đào tại trong nhà trường
v Đảm bảo tính công khai
Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên phải được thực hiệnmột cách công khai, kết quả kiểm tra đánh giá phải được công bố kịp thời đểsinh viên có khể tự đánh giá xếp hạng trong tập thể; để họ có thể tự điều khiển,điều chỉnh hoạt động học tập của mình
Việc công khai hóa kết quả kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinhviên giúp nhà trường nắm bắt được tình hình đào tạo; để các khoa chuyên môn,giảng viên có thể điều khiển hoạt động giảng dạy sao cho phù hợp
vi Đảm bảo tính kế hoạch
Việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên phải có kế hoạch cụ thể Kếhoạch thi kết thúc học phần được phòng Đào tạo xây dựng theo đăng ký khốilượng học tập của sinh viên
Kế hoạch thi là căn cứ để tổ chức thi, làm đề thi và thanh tra thi Lịch thicủa mỗi cá nhân sinh viên sẽ được Phòng đào tạo thông báo sau khi lịch thichính thức được công bố
1.3.4 Phương pháp đánh giá kết quả học tập của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ
Chất lượng đào tạo hiện nay đang là mối quan tâm của toàn xã hội, đểnói không với bệnh thành tích trong xã hội và không tiêu cực trong thi cử, thìtrước hết nền giáo dục phải đổi mới toàn diện về mục tiêu, nội dung đến cáchình thức tổ chức dạu học Các phương pháp KTĐG cũng cần phải có nhữngđổi mới cho phù hợp với mục tiêu giáo dục và đào tạo
Trang 39i Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát giúp GV xác định các kỹ năng thực hành, một số
kỹ năng về nhận thức và thái độ của SV
Ưu điểm:
Kết quả thu được bằng phương pháp quan sát trung thực, khách quan và
có độ tin cậy cao
ii Phương pháp vấn đáp
Phương pháp này do GV trực tiếp hỏi trong phiếu thi
Phương pháp này do GV trực tiếp hỏi trong phiếu thi và có thể đặt thêmcâu hỏi khi cần, do vậy có thể đánh giá đúng mực, thực chất kiến thức của sinhviên
Phương pháp vấn đáp được sử dụng trong kiểm tra từng phần cũng nhưtrong kiểm tra cuối học kỳ, cuối khoá học
Ưu điểm:
- Có điểm ngay nên kết quả có thể được công bố sớm
- Do hỏi và trả lời trực tiếp nên giáo viên thu được tín hiệu ngược nhanhchóng từ các đối tượng sinh viên làm cơ sở để hiệu chỉnh hoạt động dạy học
Trang 40- Góp phần thúc đẩy sinh viên trong học tập thường xuyên có hệ thống
và có điều kiện rèn luyện kỹ năng diễn đạt bằng ngôn ngữ nói đối với vấn đềhọc tập