1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy nạp quy tắc phân lớp sử dụng lý thuyết tập thô

75 93 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xấp xỉ dưới của một khái niệm X là tập tất cả các đối tượng trong U chắc chắn thuộc X , còn xấp xỉ trên là tập các đối tượng trong U có thể thuộc X dựa trên những thông tin từ tập dữ liệ

Trang 1

Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông – Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập.

Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề luận văn của mình.

Thái Nguyên, ngày 18 tháng 07 năm 2014

Tác giả

Lê Quang Đạt

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướngdẫn của PGS.TS Nguyễn Thanh Tùng Các số liệu, kết quả nghiên cứu trongluận văn là trung thực và chưa được ai công bố

Tác giả

Lê Quang Đạt

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC .iii DANH MỤC BẢNG v DANH MỤC HÌNH vi MỞ ĐẦU 1

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ KHAI PHÁ DỮ LIỆU VÀ BÀI TOÁN PHÂN LỚP 4

1.1 Khái quát về khai phá dữ liệu 4

1.1.1 Khai phá dữ liệu là gì 4

1.1.2 Quy trình khai phá dữ liệu 5

1.1.3 Các kỹ thuật khai phá dữ liệu 6

1.1.4 Các ứng dụng của khai phá dữ liệu 8

1.1.5 Một số thách thức đặt ra cho việc khai phá dữ liệu 11

1.2 Bài toán phân lớp 12

1.2.1 Phát biểu bài toán 12

1.2.2 Phương pháp tiếp cận chung để giải quyết bài toán phân lớp 15

1.3 Kết luận chương 1 18

Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT TẬP THÔ 19

2.1 Giới thiệu 19

2.2 Hệ thông tin 20

2.3 Quan hệ bất khả phân biệt 21

2.3.1 Sự dư thừa thông tin 21

2.3.2 Quan hệ tương đương - Lớp tương đương 22

2.3.3 Thuật toán xác định lớp tương đương 23

2.3.4 Xấp xỉ tập hợp 24

Trang 4

2.3.5 Sự không chắc chắn và hàm thuộc 34

2.3.6 Sự phụ thuộc giữa các tập thuộc tính 35

2.4 Rút gọn thuộc tính 36

2.4.1 Khái niệm 36

2.4.2 Ma trận phân biệt và hàm phân biệt 39

2.5 Kết luận chương 2 42

Chương 3: SỬ DỤNG LÝ THUYẾT TẬP THÔ VÀO VIỆC QUY NẠP QUY TẮC QUYẾT ĐỊNH TỪ TẬP CÁC VÍ DỤ HỌC 43

3.1 Mở đầu 43

3.2 Một số khái niệm về quy nạp quy tắc quyết định 45

3.2.1 Quy tắc quyết định 45

3.2.2 Các loại thuật toán quy nạp quy tắc 49

3.3 Các thuật toán quy nạp quy tắc quyết định 50

3.3.1 Thuật toán sinh bộ quy tắc tối tiểu 51

3.3.2 Thuật toán sinh bộ quy tắc vét cạn 57

3.3.3 Các thuật toán sinh bộ quy tắc thỏa mãn yêu cầu 58

3.4 Về tính toán thực nghiệm 61

3.5 Kết luận chương 3 63

KẾT LUẬN 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Tập đối tượng Động vật có xương sống

13Bảng 1.2 Ma trận liên hợp (trường hợp 2 lớp)

17Bảng 2.1 Một hệ thông tin đơn giản

20Bảng 2.2 Một hệ quyết định với C = {Age, LEMS} và D = {Walk}

21Bảng 2.3 Một bảng dữ liệu thừa thông tin

22Bảng 2.4 Một hệ quyết định điều tra vấn đề da cháy nắng

25Bảng 2.5 Hệ thông tin về thuộc tính của xe hơi

28Bảng 2.6 Bảng quyết định dùng minh họa hàm thuộc thô

35Bảng 2.7 Hệ thông tin dùng minh họa ma trận phân biệt

39Bảng 3.1 Một ví dụ về tập dữ liệu

53

a ba thuật toán (thể hiện bằng %)

62Bảng 3.3 So sánh đặc điểm của quy tắc quyết định

63

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Các bước thực hiện quá trình khai phá dữ liệu 6Hình 1.2 Bài toán phân lớp 14Hình 1.3 Phương pháp tiếp cận phổ biến xây dựng mô hình phân lớp 17Hình 2.1: Xấp xỉ tập đối tượng trong bảng 1-2 bằng các thuộc tính điều kiệnAge và LEMS Mỗi vùng được thể hiện kèm theo tập các lớp tương

ứng 28Hình 2.2: Ma trận phân biệt của Bảng 2.7 39Hình 2.3: Ma trận phân biệt của hệ thông tin Bảng 2.7 xây dựng trên tậpthuộc tính {a,b} 40Hình 2.4: Ma trận phân biệt Hình 2.2 sau khi chọn c vào tập rút gọn f A =

I,j,i j, cij {˅c * | cij * cij} 41

Trang 7

số lượng bạch cầu, … ), ta cần khẳng định một người có mắc phải một chứngbệnh nào đó không Các tình huống như thế được gọi là các bài toán phân lớp(classification) hay bài toán nhận dạng mẫu (Pattern Recognition).

Để giải quyết một bài toán phân lớp, người ta dựa vào một tập các đối

tượng đã được phân lớp Tập các đối tượng này được gọi là tập các ví dụ học (set of learning examples) hay tập huấn luyện (training set).

Quy nạp quy tắc phân lớp (hay quy tắc quyết định) là việc phát hiện ra các quy tắc phân lớp từ tập các ví dụ học S đã cho Một quy tắc phân lớp có

thể được mô tả bằng một biểu thức toán học hoặc bằng một mệnh đề có dạng

sở hữu ngày một nhiều những cơ sở dữ liệu lớn, chứa đựng những tri thức

Trang 8

hữu ích Thực tế này đòi hỏi con người phải “Tìm cách dạy cho máy tính biết

khai thác những khối tri thức khổng lồ mà con người có được, từ đó làm cho

nó có thể nhận biết các sự kiện, bày tỏ cảm xúc với con người, có thể trả lời các câu hỏi một cách thông minh” [4] Do đó, nhiều lĩnh vực khoa học mới

đã ra đời: Học máy (Machine Learning) hay còn gọi là Học thống kê(Statistical Learning), Khai phá dữ liệu, Lý thuyết tập thô, … Các lĩnh vựckhoa học mới này nhằm giải quyết nhiều vấn đề khác nhau của khoa học máytính, trong đó có bài toán quy nạp quy tắc quyết định

Lý thuyết tập thô, do Z Pawlak đề xuất vào những năm đầu thập niêntám mươi thế kỷ hai mươi, là một công cụ toán học nhằm xử lý những sự mơ

hồ, không chắc chắn trong khai phá dữ liệu

Lý thuyết tập thô bắt nguồn từ quan sát rằng các đối tượng trong mộtquần thể nào đó có thể là bất khả phân biệt do thông tin có được về chúng bịhạn chế Do đó, sẽ tồn tại những khái niệm (là những tập các đối tượng trong

lý thuyết tập thô) không thể định nghĩa được một cách chính xác thông quanhững thông tin có sẵn có mà chỉ có thể định nghĩa một cách xấp xỉ Với lý do

đó, Pawlak đã đề xuất khái niệm “tập thô” Tập thô được đặc trưng bởi mộtcặp khái niệm chính xác gọi là xấp xỉ dưới và xấp xỉ trên Xấp xỉ dưới của

một khái niệm X là tập tất cả các đối tượng trong U chắc chắn thuộc X , còn xấp xỉ trên là tập các đối tượng trong U có thể thuộc X dựa trên những thông

tin từ tập dữ liệu

Các nghiên cứu gần đây cho thấy Lý thuyết tập thô có thể được coi như

là cơ sở lý thuyết để giải quyết hiệu quả một số vấn đề quan trọng trong họcmáy, khai phá dữ liệu, trí tuệ nhân tạo Các vấn đề quan trọng nhất bao gồm:tìm kiếm mô tả cho các tập các đối tượng thông qua các giá trị thuộc tính,kiểm tra phụ thuộc (hoàn toàn hay một phần) giữa các thuộc tính, rút gọn

Trang 9

Nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 trình bày tổng quan về khai phá dữ liệu và bài toán phân lớp.Chương 2 nghiên cứu cơ sở lý thuyết tập thô

Chương 3 trình bày các thuật toán quy nạp quy tắc phân lớp sử dụng lýthuyết tập thô, gồm 3 loại: thuật toán quy nạp bộ quy tắc tối tiểu, thuật toánquy nạp bộ tất cả các quy tắc có thể và thuật toán quy nạp bộ quy tắc đáp ứngyêu cầu người sử dụng

Trang 10

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ KHAI PHÁ DỮ LIỆU VÀ BÀI TOÁN PHÂN LỚP

1.1 Khái quát về khai phá dữ liệu

khoa học, Đúng như John Naisbett [4] đã cảnh báo “Chúng ta đang chìm

ngập trong dữ liệu mà vẫn đói tri thức”.

Khai phá dữ liệu (Data Mining) là một lĩnh vực khoa học mới xuất hiện,nhằm tự động hóa khai thác những thông tin, tri thức hữu ích, tiềm ẩn trongcác CSDL cho các tổ chức, doanh nghiệp, từ đó thúc đẩy khả năng sảnxuất, kinh doanh, cạnh tranh của tổ chức, doanh nghiệp này Các kết quảnghiên cứu cùng với những ứng dụng thành công trong khai phá dữ liệu,khám phá tri thức cho thấy khai phá dữ liệu là một lĩnh vực khoa học tiềmnăng, mang lại nhiều lợi ích, đồng thời có ưu thế hơn hẳn so với các công cụphân tích dữ liệu truyền thống Hiện nay, khai phá dữ liệu được ứng dụngrộng rãi trong các lĩnh vực như: Phân tích dữ liệu hỗ trợ ra quyết định, điềutrị y học, tin-sinh học, thương mại, tài chính, bảo hiểm, khai phá văn bản, khaiphá web

Trang 11

Do sự phát triển nhanh chóng về phạm vi áp dụng và các phương pháptìm kiếm tri thức, nên đã có nhiều quan điểm khác nhau về khai phá dữ liệu.Tuy nhiên, ở một mức độ trừu tượng nhất định, chúng ta định nghĩa khai phá

dữ liệu như sau [4]:

Khai phá dữ liệu là quá trình tìm kiếm, phát hiện các tri thức mới, hữu ích tiềm ẩn trong cơ sở dữ liệu lớn.

1.1.2 Quy trình khai phá dữ liệu

Khám phá tri thức trong CSDL (Knowledge Discovery in Databases –KDD) là mục tiêu chính của khai phá dữ liệu, do vậy hai khái niệm khai phá

dữ liệu và KDD được các nhà khoa học xem là tương đương nhau Thếnhưng, nếu phân chia một cách chi tiết thì khai phá dữ liệu là một bước chínhtrong quá trình KDD

Khám phá tri thức trong CSDL là lĩnh vực liên quan đến nhiều ngànhnhư: CSDL, xác suất, thống kê, lý thuyết thông tin, học máy, lý thuyết thuậttoán, trí tuệ nhân tạo, tính toán song song và hiệu năng cao, Các kỹ thuậtchính áp dụng trong khám phá tri thức phần lớn được thừa kế từ các ngànhnày

Quá trình khám phá tri thức có thể phân ra các công đoạn sau [4]:

Trích chọn dữ liệu: Là bước tuyển chọn những tập dữ liệu cần được

khai phá từ các tập dữ liệu lớn (databases, data warehouses, data repositories)ban đầu theo một số tiêu chí nhất định

Tiền xử lý dữ liệu: Là bước làm sạch dữ liệu (xử lý dữ liệu không đầy

đủ, dữ liệu nhiễu, dữ liệu không nhất quán, ), tổng hợp dữ liệu (nén, nhóm

dữ liệu, xây dựng các histograms, lấy mẫu, tính toán các tham số đặc trưng ), rời rạc hóa dữ liệu, lựa chọn thuộc tính Sau bước tiền xử lý này, dữ liệu sẽ nhất quán, đầy đủ, được rút gọn

Trang 12

Biến đổi dữ liệu: Là bước chuẩn hóa và làm mịn dữ liệu để đưa dữ liệu

về dạng thuận lợi nhất nhằm phục vụ việc áp dụng các kỹ thuật khai phá ởbước sau

Khai phá dữ liệu: Là bước áp dụng những kỹ thuật phân tích (phần

nhiều là các kỹ thuật học máy) nhằm khai thác dữ liệu, trích lọc những mẫu tin(information patterns), những mối quan hệ đặc biệt trong dữ liệu Đây đượcxem là bước quan trọng và tiêu tốn thời gian nhất của toàn bộ quá trình KDD

Đánh giá và biểu diễn tri thức: Những mẫu thông tin và mối quan hệ

trong dữ liệu đã được phát hiện ở bước khai phá dữ liệu được chuyển sang vàbiểu diễn ở dạng gần gũi với người sử dụng như đồ thị, cây, bảng biểu, luật, Đồng thời bước này cũng đánh giá những tri thức khai phá được theo nhữngtiêu chí nhất định

Hình 1.1 dưới đây mô tả các công đoạn của KDD:

Tiền sử lý

dữ liệu

Dữ liệu tiền xử lý

Hình 1.1 Các bước thực hiện quá trình khai phá dữ liệu

1.1.3 Các kỹ thuật khai phá dữ liệu

Theo quan điểm của học máy (Machine Learning), thì các kỹ thuật khai phá dữ liệu bao gồm:

Trang 13

Học có giám sát (Supervised Learning): Là quá trình phân lớp các

đối tượng trong cơ sở dữ liệu dựa trên một tập các ví dụ huấn luyện

về các thông tin về nhãn lớp đã biết

Học không có giám sát (Unsupervised Learning): Là quá trình phân

chia một tập các đối tượng thành các lớp hay cụm (clusters) tương tựnhau mà không biết trước các thông tin về nhãn lớp

Học nửa giám sát (Semi-Supervised Learning): Là quá trình phân

chia một tập các đối tượng thành các lớp dựa trên một tập nhỏ các ví

dụ huấn luyện với thông tin về nhãn lớp đã biết.

Nếu căn cứ vào các lớp bài toán cần giải quyết, thì khai phá dữ liệu bao gồm các kỹ thuật sau:

Phân lớp và dự đoán (classification and prediction): Là việc xếp các

đối tượng vào những lớp đã biết trước Ví dụ, phân lớp các bệnhnhân, phân lớp các loài thực vật, Hướng tiếp cận này thường sửdụng một số kỹ thuật của học máy như cây quyết định (decisiontree), mạng nơ-ron nhân tạo (neural network), Phân lớp và dựđoán còn được gọi là học có giám sát

Phân cụm (clustering/segmentation): Là việc xếp các đối tượng theo

từng cụm tự nhiên

Luật kết hợp (association rules): Là việc phát hiện các luật biểu diễn

tri thức dưới dạng khá đơn giản Ví dụ: “70% nữ giới vào siêu thịmua phấn thì có tới 80% trong số họ cũng mua thêm son”

Phân tích hồi quy (regression analysis): Là việc học một hàm ánh xạ

từ một tập dữ liệu thành một biến dự đoán có giá trị thực Nhiệm vụcủa phân tích hồi quy tương tự như của phân lớp, điểm khác nhau là

ở chỗ thuộc tính dự báo là liên tục chứ không phải rời rạc

Trang 14

Phân tích các mẫu theo thời gian (sequential/temporal patterns):

Tương tự như khai phá luật kết hợp nhưng có quan tâm đến tính thứ

tự theo thời gian

Mô tả khái niệm và tổng hợp (concept description and zation): Thiên về mô tả, tổng hợp và tóm tắt các khái niệm Ví dụ

summari-tóm tắt văn bản

Hiện nay, các kỹ thuật khai phá dữ liệu có thể làm việc với rất nhiều kiểu

dữ liệu khác nhau Một số dạng dữ liệu điển hình là: CSDL quan hệ, CSDL đachiều (Multidimensional Data Structures), CSDL giao tác, CSDL quan hệhướng đối tượng, dữ liệu không gian và thời gian, CSDL đa phương tiện, dữliệu văn bản và web,

1.1.4 Các ứng dụng của khai phá dữ liệu

Như đã nói ở trên, khai phá dữ liệu là một lĩnh vực liên quan tới nhiềungành khoa học khác như: hệ CSDL, thống kê, trực quan hoá… Hơn nữa, tuỳvào cách tiếp cận được sử dụng, khai phá dữ liệu còn có thể áp dụng một số

kỹ thuật như mạng nơron, phương pháp hệ chuyên gia, lý thuyết tập thô, tậpmờ So với các phương pháp này, khai phá dữ liệu có một số ưu thế rõ rệt

Phương pháp học máy chủ yếu được áp dụng đối với các CSDL đầy

đủ, ít biến động và tập dữ liệu không qua lớn Trong khi đó, các kỹ thuật khaiphá dữ liệu có thể được sử dụng đối với các CSDL chứa nhiễu, dữ liệu khôngđầy đủ hoặc biến đổi liên tục

Phương pháp hệ chuyên gia được xây dựng dựa trên những tri thứccung cấp bởi các chuyên gia Những dữ liệu này thường ở mức cao hơn nhiều

so với những dữ liệu trong CSDL khai phá, và chúng thường chỉ bao hàmđược các trường hợp quan trọng Hơn nữa, giá trị và tính hữu ích của các mẫuphát hiện được bởi hệ chuyên gia cũng chỉ được xác nhận bởi các chuyên gia

Trang 15

Phương pháp thống kê là một trong những nền tảng lý thuyết của khaiphá dữ liệu, nhưng khi so sánh hai phương pháp với nhau có thể thấy cácphương pháp thống kê có một số điểm yếu mà chỉ khai phá dữ liệu mới khắcphục được

Với nhưng ưu điểm trên, khai phá dữ liệu hiện đang được áp dụng mộtcách rộng rãi trong nhiều lĩnh vực kinh doanh và đời sống khác nhau như:marketing, tài chính, ngân hàng và bảo hiểm, khoa học, y tế, an ninhinternet… Rất nhiều tổ chức và công ty lớn trên thế giới đã áp dụng thànhcông kỹ thuật khai phá dữ liệu vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh củamình và thu được những lợi ích to lớn Các công ty phần mềm lớn trên thếgiới cũng rất quan tâm và chú trọng tới việc nghiên cứu và phát triển kỹ thuậtkhai phá dữ liệu: Oracle tích hợp các công cụ khai phá dữ liệu vào bộOracle9i, IBM đã đi tiên phong trong việc phát triển các ứng dụng khai phá

dữ liệu với các ứng dụng như Intelligence Miner…

Các ứng dụng này được chia thành 3 nhóm ứng dụng khác nhau: Phát hiệngian lận (fraud detection), các ứng dụng hỗ trợ tiếp thị và quản lý khách hàng,cuối cùng là các ứng dụng vào phát hiện và xử lý lỗi hệ thống mạng

Phát hiện gian lận (fraud detection):

Gian lận là một trong những vấn đề nghiêm trọng đối với các công ty viễnthông, nó có thể làm thất thoát hàng tỷ đồng mỗi năm Có thể chia ra làm 2hình thức gian lận khác nhau thường xảy ra đối với các công ty viễn thông:Trường hợp thứ nhất xảy ra khi một khách hàng đăng ký thuê bao với ý địnhkhông bao giờ thanh toán khoản chi phí sử dụng dịch vụ Trường hợp thứ hailiên quan đến một thuê bao hợp lệ nhưng lại có một số hoạt động bất hợppháp gây ra bởi một người khác Những ứng dụng này sẽ thực hiện theo thờigian thực bằng cách sử dụng dữ liệu chi tiết cuộc gọi, một khi xuất hiện mộtcuộc gọi nghi ngờ gian lận, lập tức hệ thống sẽ có hành động ứng xử phù hợp,

Trang 16

ví dụ như một cảnh báo xuất hiện hoặc từ chối cuộc gọi nếu biết đó là cuộc gọi gian lận.

Các ứng dụng quản lý và chăm sóc khách hàng

Các công ty viễn thông quản lý một khối lượng lớn dữ liệu về thông tinkhách hàng và chi tiết cuộc gọi (call detail records) Những thông tin này cóthể cho ta nhận diện được những đặc tính của khách hàng và thông qua đó cóthể đưa ra các chính sách chăm sóc khách hàng thích hợp dựa trên dự đoánhoặc có những chiến lược tiếp thị hiệu quả

Một trong các ứng dụng phổ biến của khai phá dữ liệu là phát hiện luật kếthợp giữa các dịch vụ viễn thông khách hàng sử dụng Hiện nay trên mộtđường điện thoại khách hàng có thể sử dụng rất nhiều dịch vụ khác nhau, ví

dụ như : gọi điện thoại, truy cập internet, tra cứu thông tin từ hộp thư tựđộng, nhắn tin, gọi 108, v.v Dựa trên cơ sở dữ liệu khách hàng, chúng ta cóthể khám phá các liên kết trong việc sử dụng các dịch vụ, có thể đưa ra cácluật như (khách hàng gọi điện thoai quốc tế) => (truy cập internet) v.v Trên

cơ sở phân tích được các luật như vậy, các công ty viễn thông có thể điềuchỉnh việc bố trí nơi đăng ký các dịch vụ phù hợp, ví dụ điểm đăng ký điệnthoại quốc tế nên bố trí gần với điểm đăng ký Internet chẳng hạn

Một ứng dụng khác phục vụ chiến lược marketing đó là sử dụng kỹ thuậtkhai phá luật kết hợp của khai phá dữ liệu để tìm ra tập các thành phố, tỉnhnào trong nước thường gọi điện thoại với nhau Ví dụ, ta có thể tìm ra tập phổbiến (Cần Thơ, HCM, Hà Nội ) chẳng hạn Điều này thật sự hữu dụng trongviệc hoạch định chiến lược tiếp thị hoặc xây dựng các vùng cước phù hợp.Cuối cùng, một ứng dụng cũng rất phổ biến đó là phân lớp khách hàng(classifying) Dựa vào kỹ thuật học trên cây quyết định (decision treelearning) xây dựng được từ dữ liệu khách hàng và chi tiết cuộc gọi có thể tìm

Trang 17

ra các luật để phân loại khách hàng Ví dụ ta có thể phân biệt được khách hàng nào thuộc đối tượng kinh doanh hay nhà riêng dựa vào các luật sau:

Luật 1 : Nếu không quá 43% cuộc gọi có thời gian từ 0 đến 10 giây và

không đến 13% cuộc gọi vào cuối tuần thì đó là khách hàng kinh doanh

Luật 2 : Nếu trong 2 tháng có các cuộc gọi đến hầu hết từ 3 mã vùng giống

nhau và dưới 56,6% cuộc gọi từ 0-10 giây thì có là khách hàng nhà riêng.Trên cơ sở tìm được các luật tương tự như vậy, ta dễ dàng phân loại khách hàng, từ đó có chính sách phân khúc thị trường hợp lý

Các ứng dụng phát hiện và cô lập lỗi trên hệ thống mạng viễn thông (Network fault isolation )

Mạng viễn thông là một cấu trúc cực kỳ phức tạp với nhiều hệ thốngphần cứng và phần mềm khác nhau Phần lớn các thiết bị trên mạng có khảnăng tự chuẩn đoán và cho ra thông điệp trạng thái, cảnh báo lỗi (status andalarm message) Với mục tiêu là quản lý hiệu quả và duy trì độ tin cậy của hệthống mạng, các thông tin cảnh báo phải được phân tích tự động và nhận diệnlỗi trước khi nó xuất hiện làm giảm hiệu năng của mạng Bởi vì số lượng lớncác cảnh báo độc lập và có vẻ như không quan hệ gì với nhau nên vấn đềnhận diện lỗi không ít khó khăn Kỹ thuật khai phá dữ liệu có vai trò sinh racác luật giúp hệ thống có thể phát hiện lỗi sớm hơn khi nó xảy ra Kỹ thuậtkhám phá mẫu tuần tự (sequential/temporal patterns) của data mining thườngđược ứng dụng trong lĩnh vực này thông qua việc khai thác cơ sở dữ liệutrạng thái mạng (network status data)

1.1.5 Một số thách thức đặt ra cho việc khai phá dữ liệu

Số đối tượng trong cơ sở dữ liệu thường rất lớn

Số chiều (thuộc tính) của cơ sở dữ liệu lớn

Dữ liệu và tri thức luôn thay đổi có thể làm cho các mẫu đã phát hiện không còn phù hợp

Trang 18

Dữ liệu bị thiếu hoặc nhiễu

Quan hệ phức tạp giữa các thuộc tính

Giao tiếp với người sử dụng và kết hợp với các tri thức đã có

Tích hợp với các hệ thống khác…

1.2 Bài toán phân lớp

1.2.1 Phát biểu bài toán

Chúng ta hiểu bài toán phân lớp ở đây là bài toán phân lớp có giám sát.Bài toán phân lớp là bài toán tìm quy tắc xếp các đối tượng đã cho vào mộttrong các lớp đã được định nghĩa trước dựa vào một tập đối tượng mẫu (tậpđối tượng huấn luyện) Bài toán phân lớp có rất nhiều ứng dụng Ví dụ nhưviệc tìm kiếm các thư rác dựa vào tiêu đề và nội dung bức thư, phân loại ulành tính hay u ác tính dựa trên kết quả chụp MRI, phân loại dải ngân hà dựatrên hình dạng của chúng, …

Dữ liệu đầu vào của bài toán phân lớp là một tập hợp các bản ghi cácthuộc tính của các đối tượng Mỗi bản ghi được xác định bởi một cặp tọa độ

(x, y), trong đó x là tập hợp các giá trị thuộc tính điều kiện và y là giá trị thuộc

tính quyết định (còn được gọi là thuộc tính đích) chỉ nhãn lớp Bảng 1.1 thểhiện một tập hợp dữ liệu mẫu, được sử dụng để phân loại các loài Động vật cóxương sống thành một trong những loại sau: Động vật có vú, Chim, Cá, Bòsát, hay Động vật lưỡng cư

Trang 19

Sống dưới nước

Biết bay

Có chân

Ngủ đông

Nhãn lớp

có vú

có vú

lưỡng cư

có vúChim bồ

câu

có vú

Chim

cánh cụt

có vú

lưỡng cư

Trang 20

Tập thuộc tính trong bảng 1.1 bao gồm các đặc tính của loài Động vật

có xương sống như thân nhiệt, phương pháp sinh sản, khả năng bay, và khảnăng sống dưới nước Các thuộc tính điều kiện trong bảng 1 đều là nhữngthuộc tính định tính, nhưng trong nhiều ứng dụng thực tiễn khác thuộc tính

điều kiện có thể là thuộc tính định lượng liên tục Trong tất cả các trường

hợp, thuộc tính quyết định luôn là một thuộc tính định tính, nó chỉ ra nhãn lớp

của dữ liệu Đó là đặc điểm chính để phân biệt bài toán phân lớp so với bài

toán hồi quy, bài toán dự đoán trong đó y là một thuộc tính liên tục.

Định nghĩa 1.1 (Phân lớp) Phân lớp là việc phát hiện ra hàm mục tiêu f, ánh

xạ từ tập các thuộc tính x lên tập các nhãn lớp đã được định nghĩa trước y dựa

vào một tập đối tượng mẫu (tập đối tượng huấn luyện)

Hình 1.2 Bài toán phân lớp

Hàm mục tiêu thường được biết đến như là một mô hình phân lớp Môhình phân lớp thường được sử dụng cho những mục đích sau:

Miêu tả: Một mô hình phân lớp có thể dùng như một công cụ vừa để

giải thích vừa để phân biệt giữa các đối tượng thuộc các lớp khác nhau Ví dụ,như đối với bài toán phân loại các loài động vật trên đây, mô hình phân lớp sẽgiúp cho các nhà sinh học có một công cụ vừa để miêu tả, tóm tắt dữ liệu chotrong bảng 1 vừa để giải thích được đặc tính nào xác định một loài Động vật

có xương sống là loài Động vật có vú, loài Bò sát, loài Chim, loài cá, hay loàilưỡng cư

Dự đoán: Mô hình phân lớp cũng có thể được dùng để dự đoán nhãn lớp

chưa xác định Hình 2 cho thấy một mô hình phân lớp có thể được dùng như

Trang 21

một hộp đen để tự động gắn nhãn lớp khi cho biết tập hợp các thuộc tính của đối tượng mới

Giả sử chúng ta cĩ các thuộc tính của một lồi sinh vật đã được biết đến

là quái vật gila Chúng ta cĩ thể sử dụng mơ hình phân lớp được xây dựng từbảng 1 để xác định nhãn lớp mà lồi vật này thuộc vào

nhiệt

Đẻ con

Sống dưới nước

Biết bay

Cĩ chân

Ngủ đơng

Nhãn lớp

lạnh

Các kỹ thuật phân lớp thích hợp cho hầu hết các trường hợp cần dựđốn hay miêu tả các tập đối tượng nhị phân hoặc đa phân Chúng ít hiệu quảhơn với các loại dữ liệu thơng thường (ví dụ như chiều cao, trọng lượng…),bởi vì các kỹ thuật này khơng xem xét đến thứ tự ngầm giữa các loại

1.2.2 Phương pháp tiếp cận chung để giải quyết bài tốn phân lớp

Kỹ thuật phân lớp là cách tiếp cận cĩ hệ thống nhằm xây dựng mơ hìnhphân lớp từ một tập đối tượng đầu vào Cĩ nhiều phương pháp phân lớp:Phương pháp phân biệt tuyến tính của Fisher, phương pháp nạve Bayes,phương pháp mạng nơron, phương pháp máy véc-tơ hỗ trợ, phương pháp câyquyết định, … Mỗi phương pháp cần một giải thuật học để tìm ra mơ hìnhtốt nhất, phù hợp với mối quan hệ giữa tập các thuộc tính điều kiện và vàthuộc tính nhãn lớp của dữ liệu đầu vào Mơ hình được tạo ra bởi một giảithuật học cần phải phù hợp với cả dữ liệu nhập vào và dự đốn chính xácnhãn lớp của tập đối tượng mà nĩ chưa gặp trước đĩ Do đĩ, đối tượng chínhcủa việc nghiên cứu thuật tốn là xây dựng một mơ hình cĩ khả năng kháiquát tốt, nghĩa là các mơ hình phải dự đốn chính xác nhãn lớp của các tậpđối tượng chưa từng xuất hiện trước đĩ

Trang 22

Hình 3 thể hiện cách tiếp cận phổ biến để giải quyết bài toán phân lớp.Đầu tiên, cung cấp một tập đối tượng huấn luyện bao gồm các tập đối tượng

mà nhãn lớp đã được xác định Tập huấn luyện này được sử dụng để xây dựng

mô hình phân lớp rồi sau đó áp dụng cho các tập đối tượng kiểm tra, tập nàybao gồm các tập đối tượng chưa xác định nhãn lớp

Việc đánh giá một mô hình phân lớp dựa trên số lượng tập kiểm tra mà

mô hình dự đoán chính xác và chưa chính xác Các con số này được sắp xếptrong một bảng tạo thành một ma trận liên hợp Bảng 2 mô tả ma trận liên hợpcho bài toán phân lớp nhị phân Mỗi thành phần fij trong bảng thể hiện số tậpđối tượng từ lớp i được dự đoán thuộc lớp j Ví dụ, f01 là số tập đối tượng ởlớp 0 nhưng được dự đoán không chính xác là ở lớp 1 Từ các thành phần của

ma trận ta có tổng số dự đoán đúng của mô hình là (f11 + f00), và tổng số dựđoán sai là (f10 + f01)

Mặc dù ma trận liên hợp cung cấp những thông tin cần thiết để xác địnhmột mô hình phân lớp thực hiện tốt tới mức độ nào, nhưng việc đúc kết nhữngthông tin này thành các con số sẽ thuận tiện hơn cho việc so sánh các mô hìnhkhác nhau Điều này có thể thực hiện được bằng cách sử dụng một số đo gọi

là “độ chính xác” Độ chính xác của mô hình được định nghĩa như sau:

độ chính xác = số dựtổng số dự đoán đ o án đ ú ng = f 11+ f 00

f11 + f10 + f01 + f00Một cách tương đương, chất lượng của một mô hình có thể được miêu

tả bởi “sai số”, xác định như sau:

sai số = sốtổng số dự đoán dự đ o án sai = f 10 + f 01

f11 + f10 + f01 + f00Hầu hết các thuật toán phân lớp đều tìm kiếm những mô hình cho phépđạt được độ chính xác cao nhất (sai số thấp nhất) khi ứng dụng vào tập đốitượng kiểm tra

Trang 23

Hình 1.3 Phương pháp tiếp cận phổ biến xây dựng mô hình phân lớp

Bảng 1.2 Ma trận liên hợp (trường hợp 2 lớp)

Nhãn lớp dự đoán

Nhãn lớpthực tế

Trang 24

hóa khai thác những thông tin, tri thức hữu ích, tiềm ẩn trong các CSDL, giúp

chúng ta giải quyết tình trạng ngày một gia tăng trong những năm qua: “Ngập

trong dữ liệu mà vẫn đói tri thức” Các kết quả nghiên cứu cùng với những

ứng dụng thành công trong khai phá dữ liệu, khám phá tri thức cho thấy khaiphá dữ liệu là một lĩnh vực khoa học tiềm năng, mang lại nhiều lợi ích, đồngthời có ưu thế hơn hẳn so với các công cụ phân tích dữ liệu truyền thống.Nội dung của chương 1 đã trình bày khái quát về khai phá dữ liệu và bàitoán phân lớp Nội dụng khái quát về khai phá dữ liệu bao gồm tóm tắt quátrình khai phá, các phương pháp, các ứng dụng và những thách thức Với bàitoán phân lớp, học viên đã phát biểu bài toán, các phương pháp tiếp cận,phương pháp đánh giá mô hình và thuật toán giải bài toán phân lớp

Trang 25

2.1 Giới thiệu

Chương 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT TẬP THÔ

Lý thuyết tập thô (rough set theory) lần đầu tiên được đề xuất bởi Z.

Pawlak và nhanh chóng được xem như một công cụ xử lý các thông tin mơ hồ

và không chắc chắn Phương pháp này đóng vai trò hết sức quan trọng tronglĩnh vực trí tuệ nhân tạo và các ngành khoa học khác liên quan đến nhận thức,đặc biệt là lĩnh vực máy học, thu nhận tri thức, phân tích quyết định, phát hiện

và khám phá tri thức từ cơ sở dữ liệu, các hệ chuyên gia, các hệ hỗ trợ quyếtđịnh, lập luận dựa trên quy nạp và nhận dạng [1,3,7]

Lý thuyết tập thô dựa trên giả thiết rằng đề định nghĩa một tập hợp,chúng ra cần phải có thông tin về mọi đối tượng trong tập vũ trụ Ví dụ, nếucác đối tượng là những bệnh nhân bị một bệnh nhất định thì các triệu chứngcủa bệnh tạo thành thông tin về bệnh nhân Như vậy tập thô có quan điểmhoàn toàn khác với quan điểm truyền thống của tập hợp, trong đó mọi tập hợpđều được định nghĩa duy nhất bởi các phần tử của tập hợp Rõ ràng, có thể tồntại một số đối tượng giống nhau ở một số thông tin nào đó, và ta nói chúng cóquan hệ bất khả phân biệt với nhau Đây chính là quan hệ mấu chốt và là điểmxuất phát của lý thuyết tập thô: biên giới tập thô là không rõ ràng, và để xácđịnh nó chúng ta phải đi xấp xỉ nó bằng các tập hợp khác nhằm mục đích cuốicùng là trả lời được (tất nhiên càng xác định càng tốt) rằng một đối tượng nào

đó thuộc tập hợp hay không Lý thuyết tập thô với cách tiếp cận như vậy đãđược ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội

Trong chương này chúng ta sẽ nghiên cứu các khái niệm và ý nghĩa cơbản của lý thuyết tập thô Đây là những kiến thức quan trọng cho việc ápdụng tập thô vào bài toán quy nạp các quy tắc phân lớp được đề cập trongchương 3

Trang 26

tượng, mỗi cột thể hiện một thuộc tính (một đặc trưng) của các đối tượng,

được gọi là một hệ thông tin (information system)

Một cách hình thức, người ta định nghĩa hệ thông tin là một cặp S = (U,

A) trong đó U là tập hữu hạn không rỗng các đối tượng và được gọi là tập vũ trụ, A là tập hữu hạn không rỗng các thuộc tính sao cho a : U → V a với mọi

Ví dụ 1-1 : Bảng dữ liệu trong Bảng 2.1 dưới đây cho ta hình ảnh về

một hệ thông tin với 7 đối tượng và 2 thuộc tính [1]

Bảng 2.1: Một hệ thông tin đơn giản

Ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng trong bảng trên, các cặp đối tượng x 3,

x 4 và x 5 , x 7 có giá trị bằng nhau tại cả hai thuộc tính Khi đó ta nói rằng các

đối tượng này không phân biệt từng đôi đối với thuộc tính {Age, LEMS}.

Trong nhiều ứng dụng, tập vũ trụ được chia thành các tập đối tượng con

bởi một tập các thuộc tính phân biệt được gọi là tập thuộc tính quyết định.

Nói cách khác tập vũ trụ đã được phân lớp bởi tập thuộc tính quyết định Hệ

thông tin trong trường hợp này được gọi là một hệ quyết định hay bảng quyết

Trang 27

định Như vậy hệ quyết định là một hệ thông tin có dạng S = (u, C D)

trong đó A = C D, C ∩ D = C và D lần lượt được gọi là tập thuộc tính

điều kiện và tập thuộc tính quyết định của hệ thông tin

Ví dụ 1-2 : Bảng 2.2 dưới đây thể hiện một hệ quyết định, trong đó tập

thuộc tính điều kiện giống như trong Bảng 1-1 và một thuộc tính quyết định

{Walk} được thêm vào nhận hai giá trị kết xuất là Yes và No [1].

Bảng 2.2: Một hệ quyết định với C = {Age, LEMS} và D = {Walk}

Một lần nữa ta thấy rằng, các cặp đối tượng x 3 , x 4 và x 5 , x 7 vẫn có giá trị

như nhau tại hai thuộc tính điều kiện, nhưng cặp thứ nhất {x 3 , x 4} thì có giá trịkết xuất khác nhau (tức giá trị tại thuộc tính quyết định khác nhau), trong khi

đó cặp thứ hai {x 5 , x 7} thì bằng nhau tại thuộc tính quyết định

2.3 Quan hệ bất khả phân biệt

2.3.1 Sự dư thừa thông tin

Một hệ quyết định (hay một bảng quyết định) thể hiện tri thức về các đốitượng trong thế giới thực Tuy nhiên trong nhiều trường hợp bảng này có thểđược tinh giảm do tồn tại ít nhất hai khả năng dư thừa thông tin sau đây:

- Nhiều đối tượng giống nhau, hay không thể phân biệt với nhau lạiđược thể hiện lặp lại nhiều lần

Trang 28

quan tâm sẽ không bị mất mát.

Ví dụ 1-3: Trong bảng 2.3 dưới đây nếu chúng ta chỉ quan tâm tới tập

thuộc tính {a,b,c} của các đối tượng thì ta sẽ có nhận xét: có thể bỏ đi thuộc tính c mà thông tin về các đối tượng vẫn không đổi, chẳng hạn nếu ta có một đối tượng với hai thuộc tính a, b nhận hai giá trị 0, 1 thì có thể nói ngay rằng giá trị của nó tại thuộc tính c là 1.

Bảng 2.3: Một bảng dữ liệu thừa thông tin

2.3.2 Quan hệ tương đương - Lớp tương đương

Chúng ta bắt đầu xem xét vấn đề dư thừa thông tin nói trên qua khái

niệm quan hệ tương đương Một quan hệ hai ngôi R X X được gọi là quan

hệ tương đương khi và chỉ khi:

-R là quan hệ phản xạ: xRx, X.

-R là quan hệ đối xứng : xRy yRx,

Trang 29

-R là quan hệ bắc cầu : xRy và yRx xRz,

Một quan hệ tương đương R sẽ phân hoạch tập đối tượng thành các lớp

tương đương, trong đó lớp tương đương của một đối tượng x là tập tất các đối

tượng có quan hệ R với x.

Tiếp theo, xét hệ thông tin S = (U, A) Khi đó mỗi tập thuộc tính B A đều tạo ra tương ứng một quan hệ tương đương IND A :

INDA (B) = {(x,x’) 2 |

INDA(B) được gọi là quan hệ B – bất khả phân biệt Nếu (x, x’)

A(B) thì các đối tượng x và x’ là không thể phân biệt được với nhau qua tập thuộc tính B Với mọi đối tượng x U , lớp tương đương của x trong quan hệ INDA(B) được ký hiệu bởi [x] B Nếu không bị nhầm lẫn ta viết

IND(B) thay cho INDA(B) Cuối cùng, quan hệ B – bất khả phân biệt phân hoạch tập đối tượng U thành các lớp tương đương mà ta ký hiệu là U |

IND(B).

Ví dụ 1-4: Tập thuộc tính {a, b, c} trong bảng 1-3 phân tập đối tượng

{1,2,…,9} thành các lớp tương đương sau:

Trang 30

Thuật toán:

Bước 1: L =

Bước 2: N ế u O =

Thì : Thực hiện bước 5

Ngư ợ c lại: Thực hiện bước 3

Hết nếu:

với m ọi :

L = L Bước 4 : Thực hiện bước 2

Trang 31

có thể được mô tả một cách rõ ràng thông qua tập các giá trị tại các tập thuộc tính điều kiện Để làm rõ ý tưởng quan trọng này ta xem ví dụ dưới đây.

Ví dụ 1-5 : Xét hệ quyết định điều tra vấn đề da cháy nắng sau đây : Bảng 2.4 : Một hệ quyết định điều tra vấn đề da cháy nắng

Trong hệ quyết định trên, thuộc tính Kết quả là thuộc tính quyết định

và hai thuộc tính giữa là thuộc tính điều kiện Tập thuộc tính điều kiện C =

{Trọng lượng, Dùng thuốc} phân hoạch tập các đối tượng thành các lớp

tương đương:

U | IND(C) = {1,2}, {3}, {4}}

Nhận xét rằng tất cả các đối tượng thuộc cùng một lớp tương đương đều

có cùng giá trị tại thuộc tính quyết định Do đó ta có thể mô tả thuộc tínhquyết định như sau :

- Kết quả sẽ là không cháy nắng nếu và chỉ nếu

trọng lượng là nhẹ và có dùng thuốc hoặc

trọng lượng là trung bình và không dùng thuốc.

- Kết quả sẽ là cháy nắng nếu và chỉ nếu

trọng lượng là nặng và không dùng thuốc.

Ta nói hai khái niệm Cháy nắng và Không cháy nắng trong thuộc tính

Kết quả có thể được định nghĩa rõ ràng qua hai thuộc tính Trọng lượng và Dùng thuốc Tuy vậy không phải lúc nào cũng có thể định nghĩa một khái

Trang 32

điều kiện Age và LEMS : hai đối tượng x 3 và x 4 thuộc cùng một lớp tươngđương tạo bởi 2 thuộc tính có điều kiện nhưng lại có giá trị khác nhau tại

Walk, vì vậy nếu một đối tượng nào đó có (Age, LEMS) = (31 – 45, 1 – 25)

thì ta vẫn không thể biết chắc chắn giá trị của nó tại thuộc tính Walk (Yes hay

No ?), nói cách khác ta sẽ không thể có một luật như sau : “Walk là Yes nếu Age là 31 – 45 và LEMS là 1 – 25” Và đây chính là nơi mà khái niệm tập thô được sử dụng!

Mặc dù không thể mô tả khái niệm Walk một cách rõ ràng nhưng căn cứ tập thuộc tính {Age, LEMS} ta vẫn có thể chỉ ra được chắc chắn một số đối tượng có Walk là Yes, một số đối tượng có Walk là No, còn lại là các đối tượng thuộc về biên giới của hai giá trị Yes và No, cụ thể :

- Nếu đối tượng nào đó có giá trị tập thuộc tính {Age,LEMS} thuộc tập {16 – 30, 50}, {16- 30, 26 – 49}} thì có Walk là Yes.

- Nếu đối tượng nào có giá trị tại tập thuộc tính {Age,LEMS} thuộc tập {{16 – 30, 0}, {46 – 60, 26 – 49}} thì có Walk là No.

- Nếu đối tượng nào có giá trị tại tập thuộc tính {Age, LEMS} thuộc tập {{31 – 45, 1- 25}} thì có Walk là Yes hoặc No Những đối tượng này, như nói ở trên thuộc về biên giới của 2 giá trị Yes và No.

Những khái niệm trên được thể hiện một cách hình thức như sau

Cho những hệ thông tin A = (U, A), tập thuộc tính B A, tập đối tượng

X U Chúng ta có thể xấp xỉ tập hợp bằng cách chỉ sở dụng các thuộc tính

trong B từ việc xây dựng các tập hợp B – xấp xỉ dưới và xấp xỉ trên được

định nghĩa như sau :

- B – xấp xỉ dưới của tập X : B X = {x | [x] B X}

- B – xấp xỉ trên của tập X : BX = { x | [x]B X

Trang 33

Tập hợp BX là tập các đối tượng trong U mà sử dụng các thuộc tính trong B ta có thể biết chắc chắn là các phần tử của X.

Tập hợp BX là tập các đối tượng trong U mà sử dụng các thuộc tính trong B ta chỉ có thể nói rằng chúng có thể là các phần tử của X.

Tập hợp BN B (X) = BX \ BX được gọi là B-biên của tập X và chứa những

đối tượng mà sử dụng các thuộc tính của B ta không thể xác định được chúng

có thuộc tập X hay không.

Tập hợp U \ BX được gọi là B-ngoài của tập X, gồm những đối tượng

mà sử dụng tập thuộc tính B ta biết chắc chắn chúng không thuộc tập X.

Mọt tập hợp được gọi là thô nếu đường biên của nó là không rỗng, ngược lại ta nói tập này là rõ Lưu ý rằng do khái niệm biên của một tập đối

tượng gắn liền với một tập thuộc tính nào đó nên khái niệm thô hay rõ ở đâycũng gắn liền với tập thuộc tính đó

Trong đa số trường hợp, người ta luôn muốn hình thành các định nghĩacủa các lớp quyết định từ các thuộc tính điều kiện

Ví dụ 1-7 :

Xét bảng 1-2 ở trên với tập đối tượng W = {x | Walk (x) = Yes} = {x 1 , x 4 ,

x 6 } và tập thuộc tính B = {Age,LEMS} Khi đó ta nhận được các vùng xấp xỉ

sau đây của W thông qua B :

BW = {x 1 , x 6 }, BW = {x 1 , x 3 , x 4 , x 6 }

BN B (W) = {x 3 , x 4 }, U \ BW = {x 2 , x 5 , x 7 }

Trang 34

Age và LEMS Mỗi vùng được thể hiện kèm theo tập các lớp tương

ứng.

Ví dụ 1-6 : Ta xét một ví dụ khác với bảng giá trị về thuộc tính của xe

hơi như sau :

Bảng 2.5 : Hệ thông tin về thuộc tính của xe hơi

Đối

Trang 35

Ta có tập vũ trụ U = {1,2,…,14} Giả sử chọn tập thuộc tính B =

{Cylinder, Power, Weight} và chọn thuộc tính quyết định là D = Mileage.

Như vậy thuộc tính quyết định gồm 2 khái niệm D Medium = “Mileage = Medium” và D High = “Mileage = High”.

Trang 36

Nên : P B(Y), từ đó : o B (Y)

Vậy : B (X) B(Y) Tương tự ta chứng minh được B (X) B

Trang 37

9 Chứng minh tương tự hoặc có thể suy ra từ 8.

10 Từ định nghĩa của tập xấp xỉ dưới :

Dựa vào ý nghĩa của các xấp xỉ trên và xấp xỉ dưới, người ta định nghĩa

bốn lớp cơ bản của các tập thô, hay bốn hình thức củ sự mơ hồ (vagueness):

(a) X được gọi là định nghĩa được một cách thô (roughly definable) nếu và chỉ nếu B (X) ≠ và B (X) ≠ U.

B-(b) X được gọi là B-không định nghĩa được một cách nội vi(interally B-undefinable) nếu và chỉ nếu B (X) = và B (X) ≠ U.

(c) X được gọi là B-không định nghĩa được một cách ngoại vi (externally B-undefinable) nếu và chỉ nếu B (X) ≠ và B (X) = U.

(d) X được gọi là B-không định nghĩa được một cách hoàn toàn (totally B-undefinable) nếu và chỉ nếu B (X) = và B (X) = U.

Các khái niệm trên có thể diễn tả như sau:

- X là B-định nghĩa được một cách thô nghĩa là: với sự giúp đỡ của tập thuộc tính B ta có thể chỉ ra một số đối tượng của U thuộc về tập X và một số đối tượng của U thuộc về U\X

- X là B-không định nghĩa được một cách nội vi nghĩa là: sử dụng tập thuộc tính B ta có thể chỉ ra một số đối tượng của U thuộc về U\X nhưng lại không chỉ ra được các đối tượng thuộc về X.

- X là B-không định nghĩa được một cách ngoại vi nghĩa là : sử dụng tập thuộc tính B ta có thể chỉ ra một số đối tượng của U\X thuộc về

U\X nhưng lại không chỉ ra được các đối tượng thuộc về U.

Ngày đăng: 11/02/2019, 19:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w