BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG VIỆN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG NHIỆT ĐỘ, LOÀI TẢO, LƯỢNG TẢO CHO ĂN VÀ THỂ TÍCH NUÔI LÊN SỰ LỌC THỨC ĂN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG VIỆN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG NHIỆT ĐỘ, LOÀI TẢO, LƯỢNG TẢO CHO ĂN VÀ THỂ TÍCH NUÔI LÊN SỰ LỌC THỨC ĂN CỦA
COPEPODA Pseudodiaptomus annandalei (SEWELL, 1919)
ĐỰC TRƯỞNG THÀNH TẠI CAM RANH
Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Thúy
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Ngọc Huyền
Mã số sinh viên: 56132474
Khánh Hòa - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐI HỌC NHA TRANG
VIỆN NUÔI TỒNG THỦY SẢN
BỘ MÔN CƠ SỞ SINH HỌC NGHỀ CÁ
COPEPODA Pseudodiaptomus annandalei (SEWELL, 1919)
ĐỰC TRƯỞNG THÀNH TẠI CAM RANH
GVHD: ThS NGUYỄN THỊ THÚY
SVTH: TRẦN THỊ NGỌC HUYỀN
MSSV: 56132474
Khánh Hòa, tháng 6/ 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đồ án của Tôi là một phần trong nội dung nghiên cứu của ThS Đoàn Xuân Nam
và TS Đinh Văn Khương Tôi xin cam đoan đây là nghiên cứu của nhóm tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trình bày trong đồ án là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Ngọc Huyền
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, bên cạnh nỗ lực học tập và nghiên cứu của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, quan tâm và động viên của nhiều tập thể và cá nhân Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành!
Đầu tiên, tôi xin gửi lời cám ơn đến Ban Lãnh đạo Trường Đại học Nha Trang, Ban Chủ nhiệm Viện Nuôi trồng Thủy sản, đã tạo những điều kiện thuận lợi về kiến thức chuyên môn và cơ sở vật chất để tôi thực hiện đồ án này
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc nhất tới thầy/cô hướng dẫn ThS Nguyễn Thị Thúy, TS Đinh Văn Khương và ThS Đoàn Xuân Nam, là người không chỉ tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành đồ án tốt nghiệp, mà còn dạy dỗ và cho tôi những lời khuyên quý báu trong suốt thời gian học tập và hoàn thành đồ án Nội dung đồ án là một phần trong luận văn nghiên cứu sinh của Thầy Đoàn Xuân Nam cho phép sử dụng báo cáo
Và tôi xin gửi lời biết ơn đến những người thân trong gia đình đã động viên, giúp
đỡ và hy sinh nhiều thời gian cho tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành đồ án This research was financially supported by the International Foundation for Science, Stockholm, Sweden, through a grant to Dr Khuong Van Dinh (Grant A/5916-1) We also acknowledge the support by the Organisation for the Prohibition of Chemical Weapons (OPCW) No parts of the thesis are allowed to publish in journals, books or conference proceedings without the written permission of Dr Khuong Van Dinh, Nha Trang University
Khánh Hòa, ngày 25 tháng 6 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Ngọc Huyền
Trang 5TÓM TẮT
Đồ án nghiên cứu ảnh hưởng nhiệt độ, loài tảo, lượng tảo cho ăn và thể tích nuôi
lên sự lọc thức ăn của Copepoda Pseudodiaptomus annandalei (Sewell, 1919) đực
trưởng thành tại Cam Ranh Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá nhiệt độ, loài
tảo và thể tích nuôi khác nhau để nuôi loài Copepoda này Nghiên cứu này sử dụng ba
loài tảo: Isochrysis galbana, Chaetoceros muelleri, Tetraselmis chuii ở ba nhiệt độ
yếu tố duy trì trong điều kiện tiến hành thí nghiệm: nước thí nghiệm có độ mặn 20 ppt,
3200μgC/L được bố trí thí nghiệm Đề tài được bố trí với 2 thí nghiệm: thí nghiệm 1
bố trí ở 3 nhiệt độ 25oC, 30oC, 35oC với 3 loài tảo Isochrysis galbana, Chaetoceros
muelleri, Tetraselmis chuii và 9 mức tảo cho ăn 12,5, 25, 50, 100, 200, 400, 800, 1600,
3200gC/L; thí nghiệm 2 bố trí ở 3 nhiệt độ 25oC, 30oC, 35oC, 3 loài tảo Isochrysis
galbana, Chaetoceros muelleri, Tetraselmis chuii và 5 mức thể tích 3ml, 100ml,
250ml, 500ml, 1000ml
Kết quả thí nghiệm cho thấy: Nhiệt độ, loài tảo, lượng tảo cho ăn và thể tích nuôi
có ảnh hưởng đến sự lọc thức ăn của Copepoda P annandalei đực trưởng thành
Copepoda đực có thể có mức cho ăn thích hợp khoảng 400μgC/L đến 800μgC/L khi
cho ăn tảo Isochrysis galbana, Chaetoceros muelleri, Tetraselmis chuii và thể tích
nuôi thích hợp cho Copepoda là từ 100 đến 250ml tương ứng 1 con đực được nuôi
Từ khóa: Copepoda, Pseudodiaptomus annandalei, nhiệt độ, thể tích nuôi
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Một số đặc điểm sinh học Copepoda Pseudodiaptomus annandalei 3
1.1.1 Vị trí phân loại 3
1.1.2 Đặc điểm hình thái 3
1.1.3 Các giai đoạn phát triển 4
1.1.4 Đặc điểm phân bố 6
1.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng 6
1.1.6 Đặc điểm sinh sản 7
1.2 Các nghiên cứu về Copepoda Pseudodiaptomus annandalei 8
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 8
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 9
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 11
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 11
2.1.2 Thời gian nghiên cứu 11
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu 11
2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 12
2.3 Vật liệu nghiên cứu 12
2.3.1 Nguồn nước thí nghiệm 12
2.3.2 Vi tảo sử dụng làm thức ăn cho Copepoda 13
2.4 Bố trí thí nghiệm 15
2.4.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của nhiệt độ, loài tảo và lượng tảo cho ăn lên sự lọc thức ăn của Copepoda P annandalei đực trưởng thành 15
Trang 72.4.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của nhiệt độ, loài tảo và thể tích nuôi lên sự
lọc thức ăn của Copepoda P annandalei đực trưởng thành 17
2.5 Phân tích và xử lý số liệu 18
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 19
3.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ, loài tảo và lượng tảo cho ăn lên sự lọc thức ăn của Copepoda P annandalei đực trưởng thành 19
3.1.1 Ảnh hưởng của lượng tảo cho ăn của loài tảo Chaetoceros muelleri ở ba nhiệt độ 25 o C, 30 o C và 35 o C 19
3.1.2 Ảnh hưởng của lượng tảo cho ăn của loài tảo Isochrysis galbana ở ba nhiệt độ 25 o C, 30 o C, 35 o C 22
3.1.3 Ảnh hưởng của lượng tảo cho ăn của loài tảo Tetraselmis chuii ở ba nhiệt độ 25 o C, 30 o C và 35 o C 25
3.1.4 Ảnh hưởng của loài tảo Chaetoceros muelleri, Isochrysis galbana, Tetraselmis chuii ở ba nhiệt độ 25o C, 30 o C, 35 o C 28
3.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ, loài tảo và thể tích nuôi lên sự lọc thức ăn của Copepoda P annandalei đực trưởng thành 30
3.2.1 Ảnh hưởng của thể tích nuôi lên sự lọc thức ăn khi cho Copepoda ăn tảo Chaetoceros muelleri ở 3 nhiệt độ 25o C, 30 o C, 35 o C 30
3.2.2 Ảnh hưởng của thể tích nuôi lên sự lọc thức ăn khi cho Copepoda ăn tảo Isochrysis galbana ở 3 nhiệt độ 25o C, 30 o C, 35 o C 33
3.2.3 Ảnh hưởng của thể tích nuôi đến tốc độ lọc thức ăn khi cho Copepoda ăn tảo Tetraselmis chuii ở 3 nhiệt độ 25o C, 30 o C, 35 o C 35
3.2.4 Ảnh hưởng của loài tảo làm thức ăn ở các thể tích nuôi khác nhau trong điều kiện nhiệt độ 25 o C, 30 o C, 35 o C 38
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 41
4.1 Kết luận 41
4.2 Đề xuất ý kiến 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1 1: Pseudodiaptomus annandalei (SEWELL, 1919) con cái (a), con đực (b)
Nguồn: Thầy Đoàn Xuân Nam 4
Hình 2 1: Phòng thí nghiệm ướt 11
Hình 2 2: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 12
Hình 2 3: Buồng đếm hồng cầu 15
Hình 3 1: Lượng phân thải ra trong 1 ngày của Copepoda đực trưởng thành khi ăn tảo Chaetoceros muelleri ở các mức khác nhau trong điều kiện nhiệt độ nuôi 25oC (A), 30oC (B), 35oC (C) 20
Hình 3 2: Lượng phân thải ra trong 1 ngày của Copepoda đực trưởng thành khi ăn tảo Isochrysis galbana ở các mức khác nhau trong điều kiện nhiệt độ nuôi 25oC (A), 30oC (B), 35oC (C) 23
Hình 3 3: Lượng phân thải ra trong 1 ngày của Copepoda đực trưởng thành khi ăn tảo Tetraselmis chuii ở các mức khác nhau trong điều kiện nhiệt độ nuôi 25oC (A), 30oC (B), 35oC (C) 26
Hình 3 4: Lượng phân thải ra trong 1 ngày của Copepoda đực trưởng thành khi cho ăn tảo Chaetoceros muelleri ở các thể tích nuôi khác nhau trong điều kiện nhiệt độ nuôi 25oC (A), 30oC (B), 35oC (C) 32
Hình 3 5: Lượng phân thải ra trong 1 ngày của Copepoda đực trưởng thành khi cho ăn tảo Isochrysis galbana ở các thể tích nuôi khác nhau trong điều kiện nhiệt độ nuôi 25oC (A), 30oC (B), 35oC (C) 34
Hình 3 6: Số lượng phân thải ra trong 1 ngày của con đực khi cho ăn tảo Tetraselmis chuii ở các mức cho ăn khác nhau trong điều kiện nhiệt độ nuôi 25oC (A), 30oC (B), 35oC (C) 37
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2 1 Khối lượng của 3 loài tảo làm thí nghiệm 13Bảng 2 2 Mức tảo cho ăn và quy đổi ra mật độ tảo thực tế 14 Bảng 3 1 Ảnh hưởng của nhiệt độ lên số lượng phân thải ra của Copepoda đực khi cho
ăn tảo C muelleri ở các mức cho ăn khác nhau 21
Bảng 3 2 Ảnh hưởng của nhiệt độ lên số lượng phân thải ra của Copepoda đực khi cho
ăn tảo I galbana ở các mức cho ăn khác nhau 24
Bảng 3 3 Ảnh hưởng của nhiệt độ lên số lượng phân thải ra của Copepoda đực khi cho
ăn tảo T chuii ở các mức cho ăn khác nhau 27 Bảng 3 4 Ảnh hưởng của loài tảo C muelleri, I galbana, T chuii lên số lượng phân
thải ra của Copepoda đực trưởng thành ở các mức cho ăn khác nhau trong điều kiện nhiệt độ nuôi 25oC (A), 30oC (B), 35oC (C) 29Bảng 3 5 Ảnh hưởng của nhiệt độ lên số lượng phân thải ra bởi con đực khi cho ăn tảo
Chaetoceros muelleri ở các thể tích nuôi khác nhau 33
Bảng 3 6 Ảnh hưởng của nhiệt độ lên số lượng phân thải ra bởi con đực khi cho ăn tảo
Isochrysis galbana ở các thể tích nuôi khác nhau 35
Bảng 3 7 Ảnh hưởng của nhiệt độ lên số lượng phân thải ra bởi con đực khi cho ăn tảo
Tetraselmis chuii ở các thể tích nuôi khác nhau 38
Bảng 3 8 Ảnh hưởng của loài tảo Chaetoceros muelleri, Isochrysis galbana,
Tetraselmis chuii lên số lượng phân thải ra bởi con đực ở thể tích nuôi khác nhau trong
C (A), 30oC (B), 35oC (C) 39
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
P annandalei: Pseudodiaptomus annandalei
I galbana: Isochrysis galbana
C muelleri: Chaetoceros muelleri
T chuii: Tetraselmis chuii
%: phần trăm
‰, ppt: Phần nghìn
EPA: Axit eicosapentaenoic (20:5n-3)
DHA: Axit secosahexaenoic (22:6n-3)
NI: Ấu trùng Naupli giai đoạn 1
NII: Ấu trùng Naupli giai đoạn 2
NIII: Ấu trùng Naupli giai đoạn 3
NIV: Ấu trùng Naupli giai đoạn 4
NV: Ấu trùng Naupli giai đoạn 5
NVI: Ấu trùng Naupli giai đoạn 6
CI: Con non giai đoạn 1
CII: Con non giai đoạn 2
CIII: Con non giai đoạn 3
CIV: Con non giai đoạn 4
CV: Con non giai đoạn 5
Trang 11MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, Nuôi trồng Thủy sản đang trở thành một ngành kinh
tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân Đặc biệt ngành nuôi hải sản đang ngày càng
có vai trò quan trọng trong việc giải quyết nhu cầu thực phẩm con người nhất đối với các sản phẩm có nguồn gốc từ biển Các đối tượng nuôi trồng thủy sản đã và đang được mở rộng cả về quy mô, chất lượng và số lượng loài được nuôi Tuy nhiên, khi nghề nuôi cá biển phát triển sẽ gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là vấn đề giải quyết con giống Trước đây con giống chủ yếu được khai thác từ tự nhiên với số lượng hạn chế, phụ thuộc vào mùa vụ, không chủ động được con giống và không thể đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người nuôi Mặc khác, khi khai thác quá nhiều con giống ngoài tự nhiên sẽ làm cạn kiệt nguồn lợi con giống đồng thời tăng nguy cơ tuyệt chủng Trước tình hình đó, việc nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo các loài cá biển
có giá trị kinh tế cao, được thị trường ưa chuộng là điều rất cần thiết Việc sản xuất các loài cá biển đòi hỏi phải có nguồn thức ăn đảm bảo cả chất lượng lẫn số lượng sống cung cấp cho giai đoạn đầu khi cá mới bắt đầu ăn thức ăn ngoài
Copepoda được xem là một mắt xích quan trọng trong chuỗi thức ăn, chủ yếu ăn thực vật phù du và cũng là nguồn thức ăn quan trọng của nhiều loài động vật thủy sinh Copepoda được chú trọng sử dụng làm thức ăn trong sản xuất giống các loài thủy hải sản do có giá trị dinh dưỡng cao, chứa nhiều acid amin và các acid béo thiết yếu, hàm lượng protein tương đối cao, đồng thời hàm lượng enzyme tiêu hóa và vitamin cũng cao nên rất thích hợp cho nhu cầu dinh dưỡng của ấu trùng các loài động vật thủy sản (Lavens & Sorgeloos, 1996) Mặt khác, do Copepoda di chuyển theo hình zíc zắc nên ấu trùng các loài động vật thủy sản dễ dàng phát hiện ra chúng; bên cạnh
đó vòng đời Copepoda trải qua nhiều giai đoạn khác nhau từ Nauplius, Copepodite đến Copepoda trưởng thành nên có nhiều kích cỡ khác nhau có thể cung cấp làm thức
ăn cho ấu trùng tôm cá ở các giai đoạn phát triển khác nhau (Nguyễn Văn Khôi, 2001) [1]
Loài Pseudodiaptomus annandalei là một trong những loài Copepoda có tiềm
năng lớn trong việc nuôi sinh khối để làm thức ăn sống cho các ấu trùng của động vật
Trang 12thủy sản Việc nghiên cứu đặc điểm sinh học của chúng sẽ hỗ trợ cho việc xây dựng quy trình nuôi sinh khối phát triển loài này.
Nhận thấy đây là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn và thiết thực góp phần tích cực trong sự phát triển của ngành nuôi trồng thủy sản, vì vậy tôi đã thực hiện đồ án:
“Nghiên cứu ảnh hưởng nhiệt độ, loài tảo, lượng tảo cho ăn và thể tích nuôi lên
sự lọc thức ăn của loài Copepoda Pseudodiaptomus annandalei đực trưởng thành
tại Cam Ranh”.
Mục tiêu của đề tài: nhằm đánh giá nhiệt độ, loài tảo, lượng tảo cho ăn và thể
tích nuôi phù hợp để nuôi Copepoda P annandalei đực trưởng thành.
Đề tài này thực hiện với những nội dung nghiên cứu sau:
- Nội dung 1: Thí nghiệm về ảnh hưởng nhiệt độ, loài tảo và lượng tảo cho ăn lên sự lọc
thức ăn của Copepoda P annandalei đực trưởng thành
- Nội dung 2: Thí nghiệm về ảnh hưởng nhiệt độ, loài tảo và thể tích nuôi lên sự lọc
thức ăn của Copepoda P annandalei đực trưởng thành
Do thời gian thực tập ngắn, cơ sở vật chất và kiến thức về lĩnh vực này còn nhiều hạn chế nên đồ án tốt nghiệp không thể tránh được những thiếu sót Rất mong quý thầy cô và quý bạn đọc đóng góp ý kiến để đồ án được hoàn thiện hơn Trân trọng cảm ơn!
Trang 13Nguyễn Văn Khôi (2001) đã mô tả loài Schmackeria dubia trong thủy vực ven
bờ Việt Nam, nhưng thực sự loài này được chuyển theo danh pháp hợp lệ là P
annandalei (Sewell, 1919) [1]
Con cái (♀): chiều dài 1,0 – 1,2mm Cơ thể hình trứng, phần trước đầu có dạng
tù tròn Mép sau hai bên đốt ngực 2 - 3 có 5 - 6 gai nhỏ Góc bên sau ngực (thorax 5)
tù tròn, hai bên mép có hàng răng nhỏ, khoảng 10 cái Đốt sinh dục dài, to, phần trước hơi rộng hơn phần sau, hai bên có gai dạng móc câu cong về phía sau, mặt bụng có 1 gai nhỏ dạng mỏ chim Mép sau đốt bụng 2 - 3 có vòng răng nhỏ Chạc đuôi ngắn, chiều dài gấp 2,5 lần chiều rộng Lông cứng chạc đuôi thứ 3 phình to ở gốc Râu I dài tới đốt bụng 3 Chân ngực V, đốt 2 rộng to, gần hình vuông, mép ngoài có 1 gai nhỏ, đốt 3 hình chữ nhật, mép đỉnh ngoài có 1 gai dài, mép đỉnh ngoài đốt đỉnh có 1 gai nhỏ, gai đỉnh nhỏ và dài (Hình 1.1a) [1]
Con đực (♂): chiều dài: 1,0mm Đầu ngực giống con cái nhưng nhỏ hẹp hơn Góc bên sau ngực tù tròn, mép trong hai bên có 1 gai nhỏ Đốt bụng 1 ngắn, mép sau bụng 2-4 có hàng răng nhỏ xếp vòng tròn Phần gốc lông cứng chạc đuôi không phình
to Râu I có 20 đốt, râu bên phải thành râu ôm, đốt 14 - 17 phình to, giữa đốt 18 - 19
có thể gập lại, mép trước 2 đốt này có răng nhỏ Chân ngực V không đối xứng, chân trái có lồi, mép trong đốt 2 rất thô, to, đỉnh lồi dạng ngón (Hình 1.1b) [1]
Trang 14Hình 1 1: Pseudodiaptomus annandalei (SEWELL, 1919) con cái (a), con đực (b) Nguồn:
Thầy Đoàn Xuân Nam
1.1.3 Các giai đoạn phát triển
Các nghiên cứu về sinh học của loài này cũng không nhiều, bắt đầu từ năm 2004
với nghiên cứu về các giai đoạn phát triển của P annandalei của Golez và cộng sự (2004) cho thấy vòng đời của P annandalei trải qua 3 thời kỳ: ấu trùng, con non và
con trưởng thành Các giai đoạn ấu trùng và con non trải qua 5 giai đoạn khác nhau (ấu trùng giai đoạn I – VI và con non giai đoạn I – V) [9]
Vòng đời của P annandalei được chia làm 6 giai đoạn của ấu trùng (Naupli):
NI, NII, NIII, NIV, NV và NVI và 5 giai đoạn của con non (Copepodite): CI, CII, CIII, CIV, CV (Golez và cs, 2004; Vũ Ngọc Út & Huỳnh Phước Vinh, 2014) [9] [2]
Ấu trùng giai đoạn I (NI): bắt đầu xuất hiện sau 18 tiếng tính từ lúc trứng nở ra
và có chiều dài trung bình 0,15 ± 0,02mm, cơ thể đối xứng và có dạng hình trứng Phần đuôi bao gồm 2 lông tơ nhỏ bằng nhau và râu gồm 2 đốt
Ấu trùng giai đoạn II (NII): sự phát triển từ giai đoạn I sang giai đoạn II khá nhanh (2 tiếng) Nhìn chung cơ thể NII giống NI nhưng dài hơn Có chiều dài trung bình 0,17 ± 0,11mm Phần đuôi đã bao gồm 1 gai thô và 1 còn dạng lông với chiều dài bằng nhau Râu gồm 3 đốt
Ấu trùng giai đoạn III (NIII): giai đoạn này mất 35 giờ từ lúc trứng nở Hình dạng cũng không khác ở giai đoạn II chỉ có phần đuôi phát triển có dạng hình mũi tên
Trang 15Kích thước trung bình 0,19 ± 0,01mm Chạc đuôi đã bao gồm 1 nhánh có 1 gai nhỏ và
1 lông nhỏ, nhánh còn lại trơn nhẵn
Ấu trùng giai đoạn IV (NIV): sự chuyển đổi từ giai đoạn III sang giai đoạn IV mất 10 giờ Hình dạng cơ thể tương tự như giai đoạn III nhưng dài hơn với chiều dài trung bình là 0,22 ± 0,01mm Chiều dài của phần đuôi chuyển sang đối xứng
Ấu trùng giai đoạn V (NV): 75 giờ sau khi trứng nở, chiều dài trung bình đạt 0,28 ± 0,004mm Chiều dài của chạc đuôi là không đổi với ấu trùng giai đoạn IV Hàm trên 1 (maxilla) có 2 đốt
Ấu trùng giai đoạn VI (NVI): 95 giờ sau khi nở, có chiều dài trung bình 0,31 ± 0,11mm Ở giai đoạn này phần gai có sự chuyển đổi khác với giai đoạn 5 và có 2 đốt Phần phụ ở hàm trên (maxilla 2) bắt đầu định hình Các phần phụ của chân bơi 1 và 2 (P1, P2) đã bắt đầu xuất hiện
Con non giai đoạn I (CI): có sự biến đổi khá nhiều về hình thái từ giai đoạn ấu trùng sang giai đoạn con non Quá trình này mất 15 tiếng kể từ lúc hình thành giai đoạn ấu trùng VI Chiều dài trung bình ở giai đoạn này 0,44 ± 0,01mm Hai cặp chân bơi và 4 cặp lông trên mỗi chạc đuôi đã bắt đầu xuất hiện
Con non giai đoạn II (CII): từ giai đoạn CI đến CII mất 140 giờ kể từ lúc nở, chiều dài trung bình lúc này đạt 0,56 ± 0,01mm và có 3 cặp chân bơi, mỗi chạc đuôi
có 2 cặp lông Phần bụng gồm 2 đốt nhưng giai đoạn CI
Con non giai đoạn III (CIII): 165 giờ kể từ lúc nở, chiều dài trung bình 0,65 ± 0,004mm Cơ thể có 4 cặp chân bơi và 6 lông trên mỗi chạc đuôi, bụng vẫn 2 đốt như
2 giai đoạn trước
Con non giai đoạn IV (CIV): 220 giờ từ lúc nở Cơ thể đã có 5 cặp chân bơi, đốt bụng đã có 3 đốt Nhánh ngoài của cả 2 chân trái và phải đều có 1 gai ở mặt bên và 2 gai ở đốt cuối Chiều dài trung bình đạt 0,91 ± 0,03mm và dài Chân bơi 5 có dạng đối xứng, nhỏ hơn so với con đực
Con non giai đoạn V (CV): P annandalei mất 240 giờ để phát triển đến giai
đoạn này kể từ lúc nở Phần chạc đuôi có số lông không đổi so với giai đoạn CV Con
Trang 16cái có chiều dài trung bình 1 ± 0,04mm Phần bụng chỉ có 3 đốt, chân bơi 5 dày hơn
so với giai đoạn CIV
P annandalei giai đoạn trưởng thành: 260 giờ kể từ lúc nở, con đực có chiều dài
1,1 ± 0,04mm Chân bơi 5 là một trong những bộ phận quan trọng trong việc phân loại Ở giai đoạn này, phần bụng con đực có 5 đốt Con cái có chiều dài trung bình 1,10 ± 0,02mm Phần bụng có 4 đốt, chân 5 có dạng đối xứng Thời gian phát triển
C) này nhanh hơn 4h so
C (264h) và của Vũ Ngọc Út
độ có thể ảnh hưởng đến thời gian phát triển và thành thục của P annandalei [2, 9]
1.1.4 Đặc điểm phân bố
P annandalei là một loài chân mái chèo sống ở vùng ven biển, cửa sông [3] và
nước lợ [9], phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới [6]
Ở các ao nuôi thủy sản Philippines, P annandalei phát triển tốt nơi nước quanh
năm nhiệt độ dao động trong khoảng 24-36°C [10] Copepoda này thích nghi với tình trạng thiếu oxy và độ mặn thấp [20]
P annandalei là loài có khả năng thích nghi với độ mặn thấp (<32‰) và con
đực có khả năng thích nghi với sự thay đổi nhiệt độ đột ngột hơn con cái (Chen và
cộng sự, 2006) Cũng trong nghiên cứu của mình thì Chen và cộng sự đã cho thấy P
annandalei thích nghi và phát triển tốt nhất ở độ mặn 15‰ [3]
Ở Việt Nam chúng phân bố trong vùng nước lợ cửa sông từ Hải Phòng đến Cà
các vùng nước lợ ven bờ biển tỉnh Triết Giang, Phúc Kiến (Trung Quốc), Biển Đông
và vùng ven biển Ấn Độ [1] [3]
1.1.5 Đặc điểm dinh dƣỡng
Trong tự nhiên Copepoda P annandalei có tập tính ăn lọc chủ động, thức ăn của
được xem như là một loài có giá trị cao, các nghiên cứu đã cho thấy kết quả thuận lợi
trên ấu trùng sống sót khi áp dụng Pseudodiaptomus naupli làm thức ăn sống [25]
Trang 17Chúng có thể cung cấp HUFA cho ấu trùng cá thông qua chuyển giao dinh dưỡng [21]
Copepoda P annandalei có giá trị dinh dưỡng cao, chứa nhiều acid amin và các
acid béo thiết yếu Docosahecxaenoic acid (22:6 n-3, DHA), Eicosapentaenoic acid (20:5 n-3, EPA) nhờ thu nhận từ các loài tảo làm thức ăn [7] Axit béo không no đa đóng vai trò quan trọng vai trò trong sinh lý học của động vật, chẳng hạn như duy trì tính lưu động màng tế bào và ổn định chức năng thần kinh trong Copepoda [22] Hàm lượng protein tương đối cao (44-52%), đồng thời hàm lượng enzyme tiêu hóa và vitamin cũng cao có thể dùng cho ăn trực tiếp mà không cần giàu hóa, tiết kiệm được chi phí và nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng [15]
Nhiều nghiên cứu cho thấy một số Copepoda có hàm lượng dinh dưỡng cao hơn
nhiều Artemia, điển hình như Tisbe và Tigriopus có hàm lượng EPA và DHA cao [7,
24] Vì vậy, chúng rất giàu dinh dưỡng và thích hợp cho ương nuôi ấu trùng cá biển
1.1.6 Đặc điểm sinh sản
Thời gian thành thục: Sau thời gian khoảng 12 – 18 ngày nuôi từ lúc trứng mới
nở thì thời gian thành thục của S dubia trung bình là 15,4 ± 1,7 ngày, sớm nhất là 12,94 ngày và chậm nhất là 18,27 ngày So với loài P annandalie đạt kích cỡ trưởng
Thời gian phát triển phôi: Thời gian phát triển phôi được tính từ lúc trứng mới
đẻ ra cho đến khi nở thành ấu trùng Ở các loài Copepoda nói chung và S dubia nói
riêng thời gian phát triển của phôi chịu ảnh hưởng lớn bởi nhiệt độ môi trường Ở một
loài Copepoda cùng thuộc bộ Calanoida và cùng họ với loài S dubia - loài P
annandalei, các cá thể cái mang trứng được nuôi ở nhiệt độ 15oC thì có hiện tượng
so với thời gian trứng nở các mức nhiệt độ còn lại (2 - 3 ngày) (Golez et al., 2004) [9]
Do thí nghiệm bố trí trong điều kiện nhiệt độ được duy trì ổn định, dao động trong
Trang 18triển của phôi nên thời gian phát triển phôi của S dubia tương đối ngắn, dao động từ
20,5 – 27 giờ, thời gian phát triển phôi trung bình 24,2 ± 2,32 giờ
Nhịp sinh sản: Nhịp sinh sản được xác định là khoảng thời gian giữa 2 lần sinh
sản hay khoảng cách giữa 2 lần đẻ trứng S dubia là loài có tốc độ sinh sản nhanh,
nhịp sinh sản trung bình là 30,54 ± 9,75 giờ, chậm nhất là 43,33 giờ và nhanh nhất là
16 giờ
Sức sinh sản: là số lượng trứng sinh ra từ 1 con cái trong suốt vòng đời Sức sinh
sản ở S dubia trung bình là 106 ± 6 trứng/con cái So với những loài khác như loài
Temora stylefera có thể đẻ từ 12 – 54 trứng/con cái/ngày và có thể đẻ trên 1,774
trứng/con cái (47 ngày) và loài Calanus helgolandicus có thể đẻ từ 13 – 43 trứng/con
cái/ngày, tổng số khoảng 1,139 trứng/con cái (81 ngày) khi hai loài này được cho ăn
dubia là rất thấp so với các giống Copepoda trên
Bên cạnh đó, có nhiều nghiên cứu liên quan nhiệt độ đến sản xuất trứng và tỷ lệ
nở Copepoda, một số trong số đó đã được báo cáo bởi Corkett McLaren (1970) [5], McLaren Leonard (1995) [18] Trong nghiên cứu này, cho thấy ảnh hưởng của nhiệt
độ đến sinh sản của Copepoda Lúc nhiệt độ thấp kéo dài tình trạng noãn tính của Copepoda cái mang trứng, trong khi buồng trứng của chúng vẫn còn mang trứng noãn
C, 28oC và 33oC trứng nở tốt
C [9]
Ngoài ra, thành phần dinh dưỡng của tảo còn là yếu tố quyết định đến số lượng
trứng Copepoda P annandalie cái mang trứng sinh ra [8, 17] Khi lượng tảo thấp,
Copepoda cái mang trứng có xu hướng đẻ ít hơn, nhưng trứng lớn hơn và ngược lại [4] [11] Copepoda cũng đẻ ít hơn và trứng nhỏ hơn khi thức ăn thiếu chất dinh dưỡng [12]
1.2 Các nghiên cứu về Copepoda Pseudodiaptomus annandalei
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Pseudodiaptomidae được thiết lập bởi Sars (1902) gồm hai giống là Pseudodiaptomus Herrick, 1884 và Calanipeda Kritchagin, 1973 Poppe và Richard
Trang 19(1890) đã công bố giống mới là Schmackeria ở Trung Quốc và sau này được xem là tên đồng vật của Pseudodiaptomus [19]
Sewell (1924) đã chia giống Pseudodiaptomus làm hai nhóm cơ bản dựa vào các cấu trúc của chân thứ 5 của cả con đực và con cái [23]
Trong nghiên cứu của mình, Marsh (1933) đã chuyển 9 loài của giống Pseudodiaptomus vào giống Schmackeria Tuy nhiên, ngày nay nhiều tác giả bao gồm
cả các tác giả trên đều thống nhất rằng Schmackeria là tên đồng vật của giống Pseudodiaptomus và các loài mà Marsh (1993) đã mô tả cũng được đưa về giống Pseudodiaptomus [16] Johnson (1939) đã tạo ra một giống phụ là Pseudodiaptallous
với loài Pseudodiaptallous euryhalinus với con cái chỉ có hai đốt ở phần đuôi so với
ba hay bốn đốt ở mẫu chuẩn [14]
Bên cạnh đó, một số các nghiên cứu về ảnh hưởng của nguồn thức ăn đến các tập
tính bơi của P annandalei cũng đã được chú ý như: sự ảnh hưởng của nguồn thức ăn (Isochrysis galbana) đến tập tính bơi của ấu trùng P annandalei được Wu và cs
(2011) [26]
annandalei của Golez và cộng sự (2004) cho thấy, vòng đời của P annandalei trải
qua 3 thời kỳ: ấu trùng, con non và con trưởng thành [9]
Tuy nhiên, trên thế giới vẫn chứ có nghiên cứu nào về sự ăn thức ăn của loài này
muelleri, Tetraselmis chuii) và lượng tảo cho ăn (12,5, 25, 50, 100, 200, 400, 800,
1600, 3200μgC/L), thể tích nuôi 3ml, 100ml, 250ml, 500ml, 1000ml lên sự lọc thức
ăn của loài P annandalei đực trưởng thành
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Gần đây, Vũ Ngọc Út và Huỳnh Phước Vinh (2014) cũng đã xem xét đến tốc độ
ăn lọc của loài Schmackeria dubia (tên đồng vật của loài P annandalei) với các loài tảo Chaetoceros calcitrans, Isochrysis galbana và Dunaliella tertiolacta và xác định
một số đặc điểm sinh sản của loài này [2]
Trang 20Tuy nhiên, vẫn chứ có nghiên cứu nào về sự ăn thức ăn của loài này thử nghiệm
ở nhiệt độ (25o
Tetraselmis chuii) và lượng tảo cho ăn (12,5, 25, 50, 100, 200, 400, 800, 1600,
3200μgC/L), thể tích nuôi 3ml, 100ml, 250ml, 500ml, 1000ml lên sự lọc thức ăn của
loài P annandalei đực trưởng thành
Trang 21CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Nguồn Copepoda P annandalei được thu từ ao nuôi cá Măng tại Trại thực
nghiệm Cam Ranh, Viện Nuôi Trồng Thủy sản
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 3/2018 – 6/ 2018
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu
Các thí nghiệm được bố trí tại Phòng thí nghiệm ướt - Trại thực nghiệm nuôi trồng thủy sản Cam Ranh, Khánh Hòa
Hình 2 1: Phòng thí nghiệm ướt
Trang 222.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
2.3 Vật liệu nghiên cứu
Công thức đường chéo:
Kết quả và thảo luận Kết luận và đề xuất ý kiến
Ảnh hưởng nhiệt độ, loài tảo và
lượng tảo cho ăn lên sự lọc thức ăn
của Copepoda đực trưởng thành
Nghiên cứu ảnh hưởng nhiệt độ, loài tảo và lượng tảo cho ăn, thể tích nuôi lên sự lọc thức
ăn của loài Copepoda Pseudodiaptomus annandalei đực trưởng thành
Ảnh hưởng nhiệt độ, loài tảo và thể tích nuôi lên sự lọc thức ăn của Copepoda đực trưởng thành
Số phân thải ra/con
Hình 2 2: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu
Trang 23Trong đó:
C là độ mặn nước cần đạt được
2.3.2 Vi tảo sử dụng làm thức ăn cho Copepoda
Tảo sử dụng làm thí nghiệm cho Copepoda là tảo Isochrysis galbana,
Chaetoceros muelleri, Tetraselmis chuii có nguồn gốc từ phòng tảo Công Ty TNHH
Toàn Hưng, Nha Trang Tảo được nuôi theo phương pháp bán liên tục trong điều kiện
trong bình thủy tinh 5 lít Ánh sáng sử dụng nuôi tảo từ 2 đèn huỳnh quang 60W (dài 1,2m) với chế độ chiếu sáng liên tục 24/24 giờ Môi trường sử dụng nuôi tảo là môi trường f/2 Nguồn nước được sử dụng để nuôi tảo cũng được xử lý như nước nuôi Copepoda nhưng độ mặn được điều chỉnh về 25 ppt
Khối lượng các loài tảo sử dụng trong thí nghiệm được tham khảo từ các nghiên cứu trước, thể hiện ở bảng 2.1:
Bảng 2 1 Khối lƣợng của 3 loài tảo làm thí nghiệm
Loài tảo làm thí
nghiệm
Khối lƣợng tế bào (pgC/tế bào) Tài liệu tham khảo
Isochrysis galbana 25,9 Berggreen và ctv (1988)
Chaetoceros muelleri 9,2 McKinnon A.D và ctv (2003)
Tetraselmis chuii 89,9 McKinnon A.D và ctv (2003)
Các mức cho ăn sử dụng trong thí nghiệm được quy đổi ra mật độ tảo dựa vào khối lượng tế bào tảo:
Trang 24Bảng 2 2 Mức tảo cho ăn và quy đổi ra mật độ tảo thực tế
Mức cho ăn (μgC/ml) 0,013 0,025 0,05 0,1 0,2 0,4 0,8 1,6 3,2 Mật độ tảo (tế bào/ml)
Isochrysis galbana 483 965 1931 3861 7722 15444 30888 61776 123552
Chaetoceros muelleri 1359 2717 5435 10870 21739 43478 86957 173913 347826
Tetraselmis chuii 139 278 556 1112 2225 4449 8899 17798 35595
Tảo được xác định mật độ trước khi cho Copepoda ăn trong các thí nghiệm
tương ứng các mức cho ăn trong bảng 2.2
Phương pháp xác định mật độ tảo:
Sử dụng buồng đếm hồng cầu Neubacur’s Hemacytometer của Đức (Buồng đếm
có 25 ô vuông lớn, mỗi ô vuông lớn có 16 ô vuông nhỏ, mỗi ô vuông nhỏ có diện tích
200ml và nhỏ 1 giọt lugol lắc đều mẫu tảo Dùng micropipet hút 1ml mẫu tảo cho vào
buồng đếm đã được đậy sẵn lamen sau đó đặt dưới kính hiển vi với vật kính 4 để quan
sát Điều chỉnh phù hợp qua vật kính 10 để đếm số tế bào tảo có trong 1ml Mỗi mẫu
tảo được đếm 5 lần
Công thức tính mật độ tế bào tảo (tế bào/ml):
Ta đếm 5 ô nhỏ ở trong ô lớn E, ta được có tổng số N tế bào (tổng số tế bào tảo
trong 5 ô đếm), do trong ô lớn E có 25 ô nhỏ nên ta có công thức:
Mật độ tế bào (tb/ml) = N * 5 *10 4
Tính trung bình mật độ tảo/ml trên 5 lần đếm
Trang 25Hình 2 3: Buồng đếm hồng cầu
2.4 Bố trí thí nghiệm
2.4.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của nhiệt độ, loài tảo và lượng tảo cho ăn
lên sự lọc thức ăn của Copepoda P annandalei đực trưởng thành
Chuẩn bị dụng cụ cho thí nghiệm với 1 loài tảo, 9 mức cho ăn và 3 chế độ nhiệt
độ nuôi:
mật độ tảo tương ứng với 9 mức cho ăn (12,5, 25, 50, 100, 200, 400, 800, 1600,
Trang 26 Cần 135 đĩa peptri để thu phân
Thiết kế thí nghiệm cho tảo Isochrysis galbana: 1 loài tảo * với 9 mức tảo cho
Copepoda P annandalei được bắt từ ao có độ mặn 20ppt, lọc sạch loại bỏ con
non và ấu trùng bằng lọc 40 µm Sau đó đưa vào nuôi giữ Copepoda trưởng thành trong nước sạch có cùng độ mặn và không cho ăn trong 12h
Sau 12 giờ, Copepoda đực được phân lập tách riêng Bố trí 30 con vào 1 chai thủy tinh 1000ml có mật độ tảo tương ứng với 9 mức cho ăn, bố trí ở 3 mức nhiệt độ (Tổng 27 chai thủy tinh 1000ml) Copepoda được giữ ổn định sinh lý trong 4h trong
độ) Cứ mỗi giờ lắc nhẹ bình 1 lần để tảo phân bố đều lại trong nước Sau 4h ổn định sinh lý, tương ứng ở các mức nhiệt độ và mức cho ăn, 20 Copepoda khỏe mạnh trong tổng 30 con ở mỗi chai lần lượt được bắt đưa vào 5 lọ thủy tinh (4 con/lọ) – có chứa 100ml nước cùng nhiệt độ và đã có mật độ tảo tương ứng với mỗi nghiệm thức
Các lọ thủy tinh (các đơn vị thí nghiệm) sau khi đã bố trí Copepoda được đưa
1 lần để tảo phân bố đều lại trong nước Sau 6h lọc thu toàn bộ phân trong các lọ thủy
lugol Đặt đĩa petri dưới kính soi nổi để đếm số lượng phân
Số phân thải ra bởi 1 con đực trong 6 giờ = tổng số phân trong mẫu/số con đực trong mẫu
Trung bình số lượng phân con đực thải ra trong 24 giờ = Trung bình số phân thải ra ở 5 lần lặp * 4
Thí nghiệm được bố trí tương tự cho tảo C muelleri và tảo T chuii
Trang 272.4.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của nhiệt độ, loài tảo và thể tích nuôi lên sự lọc
thức ăn của Copepoda P annandalei đực trưởng thành
Trong thí nghiệm, mức cho ăn cho Copepoda đực trưởng thành của cả 3 loài tảo
I galbana, T chuii, C muelleri đều là 1600µgC/L tương ứng với mật độ tảo thể hiện
ở Bảng 2.2
Chuẩn bị dụng cụ cho thí nghiệm với 1 loài tảo, 5 mức thể tích và 3 chế độ nhiệt
độ nuôi:
vào 30 con Copepoda đực trưởng thành
tương ứng để bố trí thí nghiệm
Thiết kế thí nghiệm cho tảo Isochrysis galbana: 1 loài tảo * với 5 mức thể tích
nghiệm
Copepoda P annandalei được bắt từ ao có độ mặn 20 ppt, lọc sạch loại bỏ con
non và ấu trùng bằng lọc 40µm Sau đó đưa vào nuôi giữ Copepoda trưởng thành trong nước sạch có cùng độ mặn và không cho ăn trong 12h
Sau 12 giờ, Copepoda đực được phân lập tách riêng Bố trí 30 con vào 1 chai thủy tinh 1000ml có mật độ tảo tương ứng với mức cho ăn 1600µgC/L, bố trí ở 3 mức nhiệt độ (Tổng 15 chai thủy tinh 1000ml) Copepoda được giữ ổn định sinh lý trong
chỉnh nhiệt độ) Cứ mỗi giờ lắc nhẹ bình 1 lần để tảo phân bố đều lại trong nước Sau 4h ổn định sinh lý, tương ứng ở các mức nhiệt độ và mức cho ăn, 20 Copepoda khỏe mạnh trong tổng 30 con ở mỗi chai lần lượt được bắt đưa vào 5 lọ thủy tinh (4 con/lọ) – tương ứng cho thể tích từ 100ml đến 1000ml nước cùng nhiệt độ và đã có mật độ