Sự cần thiết của chính sách Phục hồi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán...15 3.1 Đối với chủ nợ...15 3.2 Đối với doanh nghiệp mất khả năng thanh toán...16 CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ P
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA LÝ LUẬN - CHÍNH TRỊ
SV
LÊ HUỲNH ĐỨC
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHI NHÁNH VĂN PHÒNG LUẬT SƯ VŨ TĂNG
PHÁP LUẬT VỀ PHỤC HỒI DOANH NGHIỆP
MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN
TẠI VIỆT NAM THỰC TIỂN TƯ VẤN, GIẢI QUẾT VẤN ĐỀ PHÁ SẢN CHO CÁC DOANH NGHIỆP TẠI CHI NHÁNH VĂN PHÒNG LUẬT SƯ VŨ TĂNG
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
ĐỒNG HỚI, NĂM 2018
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 4
LỜI MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐƠN VỊ THỰC TẬP NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHỤC HỒI DOANH NGHIỆP MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN 9
1 Giới thiệu chung về đơn vị thực tập 9
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của chi nhánh văn phòng luật sư Vũ Tăng 9
1.2 Cơ sở vật chất của chi nhánh văn phòng luật sư Vũ Tăng 9
1.1 Cơ cấu tổ chức quản lý của chi nhánh văn phòng luật sư Vũ Tăng 10
2 Khái quát về chính sách Phục hồi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán 11
2.1 Khái niệm 11
2.2 Ý nghĩa chính sách hồi phục doanh nghiệp 13
3 Sự cần thiết của chính sách Phục hồi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán 15
3.1 Đối với chủ nợ 15
3.2 Đối với doanh nghiệp mất khả năng thanh toán 16
CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ PHỤC HỒI DOANH NGHIỆP MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 17
1 Pháp luật về hồi phục doanh nghiệp mất khả năng thanh toán của một số quốc gia trên thế giới 17
1.1 Nước Anh 17
1.2 Nước Pháp 20
2 Việt Nam 22
2.1 Qúa trình hoàn thiện pháp luật Việt Nam về phục hồi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán quy định trong Luật phá sản 22
2.2 Một số bất cập trong các quy định về phục hồi hoạt động của doanh nghiệp 23
CHƯƠNG 3: PHỤC HỒI DOANH NGHIỆP MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN TẠI VIỆT NAM – THỰC TIỄN VÀ GIẢI PHÁP 25
1 Thực tiễn thi hành pháp luật về phục hồi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán 25
1.1 Tại Việt Nam 25
1.2 Tại chi nhánh văn phòng luật sư Vũ Tăng t.x Dĩ An 26
2 Đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam về phục hồi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán 26
2.1 Đề xuất hoàn thiện Luật phá sản 2014 26
Trang 32.2 Đề xuất hoàn thiện pháp luật phá sản Việt Nam dựa trên kinh nghiệm quốc tế 272.3 Đề xuất phương pháp tư vấn cho văn phòng luật đối với doanh nghiệp đến tư vấn.29
KẾT LUẬN 31
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến các thầy, cô giáo trong khoa Lý luận chính trị trường Đạihọc Quảng Bình cùng tập thể thầy, cô giáo trong trường Đại Học Quảng Bình đã giúp
đỡ tạo điều kiện cho em hoàn thành chương trình khoá học
Đặc biệt em xin trân thành cảm ơn sâu sắc tới cô giáo - Tiến sỹ: Trần ThịSáu đã tạo điều kiện, giúp đỡ, hướng dẫn cho em trong quá trình nghiên cứu và để emhoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp này
Qua đây tôi xin trân thành cảm ơn các luật sư cùng các trợ lý của văn phòng luật
sư Vũ Tăng chi nhánh thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã cho phép, giúp đỡ và tạo điều
kiện tốt nhất cho tôi thực tập tại cơ quan trong suốt thời gian từ ngày 15/01/2018 đếnngày 24/03/2018
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các cô chú, anh chị trong cơ quan, đã tận
tình giúp đỡ tôi tiếp cận với thực tế nhiều trong thời gian thực tập Đặc biệt, tôi xinchân thành cảm ơn luật sư Mai Tiến Luật là người đã hướng dẫn tôi trong suốt thờigian thực tập và giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu
Cuối cùng, em xin kính chúc thầy, cô giáo, các cô chú, anh chị trong cơ quan dồidào sức khỏe, thành công trong sự nghiệp và hạnh phúc trong cuộc sống
Em xin chân thành cảm ơn
Dĩ An, ngày 24 tháng 03 năm 2016
Sinh viên
LÊ HUỲNH ĐỨC
Trang 5- LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong suốt hơn 30 năm thực hiện chủ trương Hội nhập kinh tế thế giới, từ Đạihội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI đến Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứXIII, nước ta đã và đang từng bước, chủ động hội nhập ngày càng sâu rộng vào nềnkinh tế khu vực và thế giới, nâng cao vị thế của quốc gia trên trường quốc tế Những
sự kiện trọng đại như Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vàotháng 01/2007 hay trở thành thành viên của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương(TTP) vào tháng 10/2015 đã đánh dấu sự hội nhập toàn diện của Việt Nam vào nềnkinh tế toàn cầu Tuy nhiên bên cạnh những tác động tích cực từ các hoạt động kinh tếđối ngoại thì nền kinh tế non trẻ Việt Nam còn phải đối mặt với nhiều thách thức, khókhăn Mở cửa hội nhập đồng nghĩa với việc thị trường Việt Nam chào đón sự xuất hiệncủa nhiều doanh nghiệp hàng đầu thế giới Dưới tác động của cạnh tranh và quy luậtđào thải của nền kinh tế, rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã phải sớm rút khỏi thịtrường hoặc duy trì sự tồn tại một cách yếu ớt
Theo báo cáo Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) về tình hình doanhnghiệp Việt Nam 2017, số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động là 60.553 doanh nghiệp,
số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 12.113 doanh nghiệp, lấy số liệu trên sosánh với 126.859 doanh nghiệp đăng ký thành lập cùng năm1, có thể thấy cứ 02 doanhnghiệp mới của Việt Nam tham gia thị trường lại có hơn 01 doanh nghiệp cũ của ViệtNam rút khỏi thị trường Riêng trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong năm 2017 đã có
412 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh, 301 doanh nghiệp đăng ký giải thể.Tại văn phòng luật sư Vũ Tăng chi nhánh tại tỉnh Bình Dương từ khi thành lập đến nay
đã tiếp nhận hơn 300 lượt khách hàng đến yêu cầu tư vấn về việc giải thể công ty.Trong đó văn phòng luật đã giải quyết cho 16 khách hàng giải thể công ty thành công
Tư vấn cho hàng chục doanh nghiệp đứng lên quay trở lại thị trường kinh doanh.Thực tiễn này đặt ra một câu hỏi cho chính sách kinh tế của Việt Nam nói chung
và tỉnh Bình Dương nói riêng là cần phải làm gì để giảm bớt đi sự biến mất của doanhnghiệp Việt ngay tại thị trường trong nước Và một trong những giải pháp được xâydựng suốt hơn 25 năm qua, kể từ khi Luật phá sản Việt Nam lần đầu tiên được banhành vào năm 1993 đến nay, đó chính là chính sách “Phục hồi doanh nghiệp mất khảnăng thanh toán” Có thể nói, “Phục hồi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán” làchính sách tận dụng được những thành quả của doanh nghiệp đã đạt được trong quátrong quá trình hoạt động cũ và là cơ hội để doanh nghiệp khắc phục được những sailầm đã dẫn đến sự tình trạng phá sản của mình
1
Tình hình kinh tế xã hội năm 2017, xem thêm: https://www.gso.gov.vn
Trang 6Tuy nhiên, chỉ với vọn vẹn 10 Điều luật được quy định tại Chương VII, Luật phá sảnViệt Nam hiện hành, liệu đã đủ điều chỉnh một giải pháp hồi sinh hàng nghìn doanhnghiệp Việt Nam mỗi năm? Hằng trăm doanh nghiệp ở tỉnh Bình Dương mỗi năm?Văn phòng luật sư nơi mà chủ các doanh nghiệp đến tìm kiếm giải pháp cho chính họcần làm gì để giúp các doanh nghiệp bên lề phá sản vực dậy? Đây chính là động lực đã
thôi thúc tác giả thực hiện đề tài “GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHI NHÁNH VĂN PHÒNG LUẬT SƯ VŨ TĂNG PHÁP LUẬT VỀ PHỤC HỒI DOANH NGHIỆP MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN TẠI VIỆT NAM THỰC TIỂN TƯ VẤN, GIẢI QUẾT VẤN ĐỀ PHÁ SẢN CHO CÁC DOANH NGHIỆP TẠI CHI NHÁNH VĂN PHÒNG LUẬT SƯ VŨ TĂNG” làm đề tài nghiên cứu.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong các công trình nghiên cứu pháp luật phá sản trong thời gian qua, đã có nhiềucông trình nghiên cứu về vấn đề phục hồi doanh nghiệp trong nước như sau:
- Bài viết của tác giả Nguyễn Quang Trung “Phục hồi doanh nghiệp theo luật
phá sản 2014”, Luận văn thạc sĩ luật học, Viện Khoa học xã hội, năm 2017;
- Bài viết của tác giả Dương Hương Sơn “Phục hồi doanh nghiệp phá sản, một
mục tiêu lớn trong vấn đề lập pháp đối với pháp luật phá sản hiện đại”, Bộ Tư pháp,
năm 2013;
- Bài viết của tác giả Bùi Thị Dung Huyền, “Tìm hiểu các quy định của Luật Phá
sản năm 2004 về thủ tục phục hồi, thủ tục thanh lý, tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã
bị phá sản và một số kiến nghị”, Chuyên đề khoa học xét xử, Viện Khoa học xét xử
Tòa án nhân dân tối cao, năm 2010;
- Bài viết của tác giả Trần Minh Tiến “Thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm vào
tình trạng phá sản theo Luật phá sản 2004”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại
học Luật Hà Nội, năm 2007;
- Bài viết của tác giả Nguyễn Thị Hường “Thủ tục phục hồi doanh nghiệp lâm
vào tình trạng phá sản theo Luật Phá sản 2004”, Luận văn Thạc sĩ luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2005;
- Bài viết của PGS.TS.Dương Đăng Huệ “Luật Phá sản Việt Nam năm 2004 với
việc cải thiện môi trường kinh doanh”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 3 năm 2005.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quy định của pháp luật về phục hồi doanhnghiệp mất khả năng thanh toán
- Phạm vi nghiên cứu:
Nội dung: Quy định pháp luật về chủ thể, trình tự thủ tục của hoạt động phụchồi doanh nghiêp
Trang 7Phạm vi: Pháp luật phá sản của Việt Nam, nước Anh và nước Pháp
Thời gian: Các vấn đề về thực trạng hồi phục doanh nghiệp mất khả năng thanhtoán nghiên cứu trong giai đoạn từ 2005 đến nay
4 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Làm rõ sự cần thiết phải phục hồi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán trên
02 phương diện:
Đối với doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
Đối với chủ nợ của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
- Phân tích những quy định của pháp luật phá sản Việt Nam về phục hồi doanhnghiệp mất khả năng thanh toán
- Phân tích những quy định của pháp luật phá sản của hai quốc gia Anh vàPháp về phục hồi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
- Phân tích những vấn đề đặt ra đối với pháp luật phá sản của Việt Nam và gợi
ý giải pháp loại bỏ những bất cập của Luật phá sản năm 2014 trên cơ sở học hỏi vềquy định trên thế giới và thi hành các quy định về phục hồi hoạt động của doanhnghiệp
- Phân tích những bất cập, thiếu sót của văn phòng luật sư khi tư vấn và tìmgiải pháp cho các chủ doanh nghiệp bên lề phá sản
5 Phương pháp nghiên cứu.
Để thực hiện đề tài này, tác giả đã sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiêncứu điển hình để phân tích đề tài dưới góc độ luật pháp và kinh nghiệm thực thi củacác quốc gia, cụ thể:
- Phương pháp so sánh luật: tác giả tiếp cận và so sánh các quy định pháp luậtcủa nhiều quốc gia về chính sách “Phục hồi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán”
Từ đó rút ra những điểm tương đồng, khác biệt và khái quát nên những vấn đề cần lưu
ý để đóng góp hoàn thiện pháp luật Việt Nam
- Phương pháp xã hội học: tác giả đã thực hiện công tác thống kê, so sánh, phântích và tổng hợp các thông tin từ sách, báo, một số đề tài nghiên cứu và các tài liệu từinternet để khái quát những vấn đề liên quan đến chủ đề nghiên cứu dựa trên nền tảng
lý luận và pháp lý
- Phương pháp dẫn chiếu luật: tác giả thực hiện phân tích, so sánh và đối chiếucác quy định pháp luật Việt Nam và nước ngoài về chính sách “Phục hồi doanh nghiệpmất khả năng thanh toán”
- Bên cạnh đó, tác giả cũng đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý thuyếtnhư: phương pháp đọc, phương pháp thống kê,…
Trang 86 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của Đề tài
- Qua quá trình nghiên cứu quy định pháp luật trong nước và pháp luật nướcngoài, đề tài đưa ra những gợi ý nhằm hoàn thiện cho pháp luật phá sản hiện hành nóiriêng và pháp luật Việt Nam nói chung
- Đưa ra một số giải pháp hữu ích trong việc tư vấn cho các chủ doanh nghiệpbên lề phá sản tìm đến với văn phòng luật sư
- Đề tài được sử dụng như một nguồn tài liệu tham khảo cho các đọc giả vànhững tác giả muốn nghiên cứu các vấn đề có liên quan từ sau
7 Bố cục Báo cáo
Với tên gọi “GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHI NHÁNH VĂN PHÒNG LUẬT SƯ VŨTĂNG PHÁP LUẬT VỀ PHỤC HỒI DOANH NGHIỆP MẤT KHẢ NĂNG THANHTOÁN TẠI VIỆT NAM THỰC TIỂN TƯ VẤN, GIẢI QUẾT VẤN ĐỀ PHÁ SẢNCHO CÁC DOANH NGHIỆP TẠI CHI NHÁNH VĂN PHÒNG LUẬT SƯ VŨTĂNG”, Đề tài được chia làm ba chương sau:
Chương 1: Giới thiệu chung về đơn vị thực tập Những vấn đề lý luận về phục
hồi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
Chương 2: Những quy định về phục hồi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
trong hệ thống pháp luật Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới
Chương 3: Phục hồi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán tại việt nam – thực
tiễn và giải pháp
Trang 9- CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐƠN VỊ THỰC TẬP NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHỤC HỒI DOANH NGHIỆP MẤT KHẢ NĂNG
THANH TOÁN
1 Giới thiệu chung về đơn vị thực tập.
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của chi nhánh văn phòng luật sư Vũ Tăng.
Lịch sử hình thành:
Chi nhánh văn phòng luật sư Vũ Tăng tại thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương là mộttrong những chi nhánh của văn phòng luật sư Vũ Tăng thuộc đoàn luật sư tỉnh ĐồngNai Được thành lập và đi vào hoạt động vào ngày 25 tháng 10 năm 2016 với mãdoanh nghiệp 3600916897-002 cấp ngày 06 tháng 05 năm 2017 Được thành lập theo
đúng quy định của luật luật sư (khoản 1 Điều 32, điều 33)
Tình hình phát triển:
Là một văn phòng mới thành lập hoạt động trong lĩnh vực đại diện, tư vấn pháp lýtrên tất cả các lĩnh vực của pháp luật Tuy vừa mới thành lập văn phòng đã và đangnhận được rất nhiều sự tin tưởng từ phía khách hàng bằng lòng nhiệt huyết, trình độchuyên môn và tinh thần trách nhiệm cao từ các luật sư cùng các trợ lý Hiện vănphòng có 5 luật sư, 5 trợ lý và 1 kế toán do trưởng phòng luật sư Mai Tiến Luật quảnlý
1.2 Cơ sở vật chất của chi nhánh văn phòng luật sư Vũ Tăng.
Chi nhánh văn phòng luật sư Vũ Tăng có trụ sở tại Số 230 Đường GS.01 KP NhiĐồng 2, P Dĩ An, TX Dĩ An, T Bình Dương
văn phòng gồm có hai tầng:
- Tầng 1: Nơi làm việc của các luật sư cùng các trợ lý
+ 5 máy tính bàn, 1 máy photocopy, 2 máy in, 1 máy quay phim, 3 điều hòa
+ Bàn, ghế cho các luật sư và trợ lý làm việc Bàn, ghế cho khách hàng đến với văn phòng
+ Các thiết bị văn phòng phẩm khác…
- Tầng 2: Nơi làm việc của trưởng văn phòng, kế toán và thư ký – trợ lý trưởng phòng Phòng họp văn phòng, khu vực lưu trử hồ sơ và tài liệu…
+ 4 máy tính bàn, 1 máy photocopy, 1 máy in, 1 máy chiếu, 3 điều hòa…
+ Bàn ghế làm việc, giá sách, các thiết bị văn phòng phẩm khác…
Trang 101.3 Cơ cấu tổ chức quản lý của chi nhánh văn phòng luật sư Vũ Tăng.
Cơ cấu tổ chức văn phòng:
SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC VĂN PHÒNG
Chi nhánh văn phòng luật sư Vũ Tăng tại thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương dotrưởng văn phòng luật sư Mai Tiến Luật chịu trách nhiệm quản lý và là người đại diệncủa văn phòng có quyền hạn cao nhất trong văn phòng Các luật sư có quyền quản lýcác trợ lý của mình
Trưởng văn phòng Luật Sư MAI TIẾN LUẬT
Luật Sư NGUYỄN HỮU
BỘ Trợ Lý CAO THỊ ÁNH
DƯƠNG
Luật Sư CAO VĂN TỤNG Trợ Lý HOÀNG THỊ BÉ
Luật Sư HOÀNG THỊ HIỀN Trợ Lý HOÀNG TUẤN ĐẠT
Luật Sư PHẠM THỊ NGỌC ÁNH Trợ Lý HOÀNG THỊ THẢO
Trợ Lý, Thư ký PHẠM HẢI YẾN
Kế Toán
PHAN THANH
HẢI
Trang 112Khái quát về chính sách Phục hồi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
2.1 Khái niệm
Khái niệm doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
So với Luật Phá sản năm 2004, Luật Phá sản năm 2014 thay thế quy định “lâmvào tình trạng phá sản” bằng “mất khả năng thanh toán” nhằm thể hiện đúng bản chấtcủa đối tượng ở điểm “không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn
03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán” Quy định này khẳng định đối tượng trênkhông phải là chỉ có con đường bị phá sản mà còn có con đường khác trong nhữngtrường hợp nhất định, như là phục hồi hoạt động kinh doanh, tái cơ cấu 2 Theo quy
định tại khoản 1 Điều 4 Luật phá sản 2014, “Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng
thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán” Như vậy, một doanh nghiệp
mất khả năng thanh toán sẽ bao gồm các dấu hiệu sau:
Thứ nhất, khoản nợ đến hạn mà doanh nghiệp không thanh toán được là khoản
nợ không có bảo đảm và khoản nợ có bảo đảm một phần Điều này dựa trên quy địnhpháp luật về Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản dành cho các chủ nợ không cóbảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần3 Trên thực tế, có nhiều trường hợp chủ nợ cóbảo đảm toàn bộ có thể chuyển thành chủ nợ có bảo đảm một phần hoặc chủ nợ không
có bảo đảm Tuy nhiên, để có thể chuyển đổi từ chủ nợ có bảo đảm toàn bộ sang chủ
nợ có bảo đảm một phần hoặc chủ nợ không có bảo đảm, thì phải có sự thỏa thuậngiữa chủ nợ và con nợ về việc định giá lại giá trị tài sản bảo đảm, nếu đạt được thỏathuận này chủ nợ có bảo đảm sẽ chuyển thành chủ nợ có bảo đảm một phần hoặc chủ
nợ không có bảo đảm và có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanhnghiệp mất khả năng thanh toán Nhưng trường hợp này rất ít xảy ra do việc thỏathuận khó có thể đạt được khi thỏa thuận đó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của doanhnghiệp
Thứ hai, mất khả năng thanh toán không có nghĩa là doanh nghiệp không còn tàisản để trả nợ mà mặc dù doanh nghiệp còn tài sản để trả nợ nhưng đã không thực hiệnnghĩa vụ trả nợ đúng hạn cho chủ nợ không có đảm bảo và chủ nợ có đảm bảo mộtphần Điều này đảm bảo được lợi ích của các chủ nợ, kịp thời thực hiện các biện pháp
để lấy lại được các khoản nợ của mình Nếu không đưa ra một thời gian cụ thể có thểdẫn đến doanh nghiệp mắc nợ đã tiêu tán hết sản nghiệp của mình hoặc lẩn trốn việcthanh toán nợ
2
ThS Trần Thị Thu Hà, TS Đỗ Trung Hiếu, Đại học Kinh tế Nghệ An Học viện Chính trị khu vực I,
“Một số vấn đề về tiêu chí xác định doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, xem them tại http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/phap-luat-kinh-te.aspx?ItemID=179
3
Khoản 1, Điều 5, Luật phá sản 2014
Trang 12Thứ ba, pháp luật hiện hành không quy định một giá trị nợ cụ thể để xác địnhdoanh nghiệp mất khả năng thanh toán Trên thực tế, các cơ quan chức năng có thể dễdàng kiểm tra tình hình hoạt động của doanh nghiệp thông qua Báo cáo tài chính từngnăm và chứng từ khác Thời gian doanh nghiệp nợ lâu, dai dẳng không thanh toánđược nợ sẽ phản ánh được rõ nét tình hình họat động Do đó, việc căn cứ vào thờiđiểm thanh toán đã được các bên thỏa thuận sẽ giúp cơ quan nhà nước, chủ nợ và cácbên có liên quan thuận lợi theo dõi hơn Cụ thể là trong thời hạn 03 tháng kể từ ngàyđến hạn thanh toán.
Như vậy, doanh nghiệp bị coi là mất khả năng thanh toán khi doanh nghiệp đókhông thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ đến hạn trong thời hạn 03 tháng kể từngày đến hạn thanh toán Chỉ khi doanh nghiệp có đầy đủ các dấu hiệu này thì Tòa ánmới ra quyết định mở thủ tục phá sản theo yêu cầu của các chủ thể có quyền nộp đơnyêu cầu mở thủ tục phá sản
Thủ tục Phục hồi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
Bản chất thủ tục Phục hồi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là thủ tục được
áp dụng cho một doanh nghiệp lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn
và được toà án dành cho một khoảng thời gian nhất định nhằm tạo cơ hội để hồi phụclại hoạt động kinh doanh của chính mình Các dấu hiệu pháp lý cơ bản về thủ tục phụchồi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán như sau:
Thứ nhất, phục hồi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là thủ tục được điềuhành bởi Tòa án Tòa án là chủ thể có thẩm quyền ra quyết định áp dụng thủ tục phụchồi và đảm bảo các quyết định đó được thực hiện trên thực tế Tòa án là chủ thể cóquyền kiểm tra, giám sát, đánh giá, ghi nhận toàn bộ quá trình áp dụng thủ tục phụchồi, đồng thời phối hơp với chủ thể khác trong quá trình xây dựng, thông qua thựchiện phương án phục hồi4
Thứ hai, phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là một thủ tục đặc biệtnằm trong thủ tục phá sản và có nhều điểm khác biệt so với những thủ tục khác Chẳnghạn như, thủ tục phục hồi chỉ được áp dụng khi có sự đồng ý của hội nghị chủ nợ5 Khi
áp dụng thủ tục phục hồi, chủ doanh nghiệp mất khả năng thanh toán hoặc người đạidiện hợp pháp khác có thể bị thay đổi nếu Hội nghị chủ nợ thấy họ không đủ năng lực
để tiếp tục duy trì hoạt động của doanh nghiệp, không thể đưa doanh nghiệp ra khỏitình trạng mất khả năng thanh toán hiện tại để trở lại hoạt động bình thường Trongtrường hợp này, thẩm phán là người có quyền ra quyết định thay thế.6
Trang 13Từ đó có thể đưa ra khái niệm về thủ tục phục hồi doanh nghiệp mất khả năng
thanh toán như sau: “Thủ tục phục hồi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là thủ
tục được điều hành bởi Tòa án, trong đó, một doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán sẽ được cho một thời gian nhất đinh để thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh do Hội nghị chủ nợ thông qua dưới sự giám sát của Tòa án và các chủ nợ.”
2.2 Ý nghĩa chính sách hồi phục doanh nghiệp
Ý nghĩa của chính sách phục hồi doanh nghiệp đối với các chủ nợ.
Chính sách phục hồi hoạt động doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nhằm tạođiều kiện thuận lợi nhất cho việc trả nợ cho các chủ nợ, từ đó đảm bảo quyền lợi chocác chủ nợ và những người có liên quan Khi một doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản,đối tượng phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất về tài sản luôn là chủ nợ không có bảođảm Bởi lẽ theo Luật phá sản 2014, chủ nợ không có bảo đảm là “cá nhân, cơ quan, tổchức có quyền yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã phải thực hiện nghĩa vụ thanh toánkhoản nợ không được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc củangười thứ ba”7, trong khi tài sản nợ thường lớn hơn rất nhiều so với tài sản còn lại củadoanh nghiệp và ưu tiên trả nợ cho các chủ nợ có bảo đảm Điều này mang đến một rủi
ro rất lớn chính là sự phá sản dây truyền của những doanh nghiệp có liên quan Trongnền kinh tế thị trường, đa phần các doanh nghiệp đều có sự hợp tác, liên kết kinhdoanh với nhau Như vậy có nhiều khả năng khoản tiền mà doanh nghiệp phá sản thứnhất nợ chính là nguồn vốn để duy trì hoạt động của doanh nghiệp thứ hai Trongtrường hợp, doanh nghiệp thứ nhất là một doanh nghiệp lớn thì hệ lụy tất yếu là sự sụp
đổ của các doanh nghiệp nhỏ phụ thuộc Do đó, nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi cho cácchủ nợ và những người có liên quan, phục hồi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
là giải pháp mà các chủ nợ luôn mong muốn Bởi lẽ, khi doanh nghiệp thoát khỏi khókhăn hiện tại và tiếp tục hoạt động kinh doanh thì khả năng trả nợ cho các chủ nợ là rấtlớn
Ý nghĩa của chính sách phục hồi doanh nghiệp đối với người lao động
Một trong những phương án của các doanh nghiệp đang mất dần khả năng thanhtoán là sự tiết giảm biên chế Đặc biệt sẽ cắt giảm đi số lượng lớn các công nhân sảnxuất hay người lao động có vị trí thấp Bên cạnh đó là sự trì trệ trong việc trả lương,thưởng cho người lao động Tình trạng này có thể kéo dài cho đến khi các doanhnghiệp này được Tòa án tuyên bố mất khả năng thanh toán thật sự Chính vì vậy mộttrong những chức năng cơ bản của pháp luật phá sản là tìm giải pháp bảo vệ lợi íchchính đáng của những người lao động Giải pháp đó không chỉ là tạo điều kiện đểdoanh nghiệp chi trả những khoản lương cuối cùng cho người lao động mà tạo lại công
Khoản 2, Điều 47, Luật phá sản 2014
7
Khoản 4, Điều 4, Luật Phá sản 2014
Trang 14việc cho những công nhân của mình Có như vậy mới giảm thiểu được những thiệt hại
để khôi phục lại tài sản, khôi phục lại khả năng thanh toán và uy tín trênthương trường Đồng thời, thông qua chính sách phục hồi, các chủ nợ, những người cóliên quan của con nợ cũng có cơ hội thể hiện sự chia sẻ khó khăn với con nợ Như vậy,vai trò của chính sách phục hồi trong việc bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp mất khảnăng thanh toán được thể hiện ở chỗ, khi thủ tục phục hồi được mở, doanh nghiệp mắc
nợ sẽ có một khoảng thời gian cần thiết, dưới sự bảo vệ của pháp luật để xây dựng vàthực hiện việc phục hồi hoạt động kinh doanh của mình Quá trình thực hiện phương
án phục hồi, con nợ có thể nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ rất lớn từ phía các chủ nợ trên
cơ sở thỏa thuận đã được xác lập giữa chính con nợ với các chủ nợ thông qua hội nghịchủ nợ
Ý nghĩa của thủ tục phục hồi doanh nghiệp đối với xã hội
Việc một doanh nghiệp mất khả năng thanh toán thực hiện thành công phương
án phục hồi và quay trở lại hoạt động bình thường sẽ có ý nghĩa to lớn đối với xãhội Như đã trình bày ở trên, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, mức độ phụ thuộccủa các doanh nghiệp ngày càng lớn, vì vậy khi một doanh nghiệp bị phá sản tất yếu sẽ
có những tác động xấu đến nhiều chủ thể khác Đặc biệt, nếu con nợ là những doanhnghiệp hoạt động trong các lĩnh vực như tài chính, tín dụng,…việc phá sản của con nợ
đó có thể kéo theo sự đổ vỡ của các doanh nghiệp khác có liên quan và gấy ra sự rốiloạn trong nền knh tế Ngoài ra, khi một doanh nghiệp bị phá sản, những người laođộng làm việc trong doanh nghiệp đó sẽ bị mất việc làm và mất đi nguồn thu nhập đểduy trì cuộc sống của họ và gia đình, từ nó tạo nên một gánh nặng trong vấn đề an sinh
xã hồi
Phá sản là hiện tượng không hiếm gặp trong nền kinh tế thị trường, tuy nhiên hậuquả của hiện tượng này không chỉ tác động lên doanh nghiệp bị phá sản còn ảnh hưởngđến lợi ích chung của xã hội, đến tình hình an ninh trật tự chung của cộng đồng Do đóviệc áp dụng thành công chính sách phục hồi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán sẽgóp phần hạn chế những tác động tiêu cực đối với xã hội Đặc biệt, nếu giải quyết thỏađáng mối quan hệ lợi ích giữa chủ nợ và con nợ, giữa những người lao động với doanhnghiệp sẽ góp phần duy trì trật tự, ổn định xã hội và lành mạnh hóa môi trường kinhdoanh cho các doanh nghiệp
Trang 15 Ý nghĩa của thủ tục phục hồi doanh nghiệp đối với văn phòng luật sư.
Thủ tục phục hồi doanh nghiệp là một trong những phương pháp, lựa chọn củacác luật sư khi tư vấn cho các doanh nghiệp, khách hàng của mình Trên nền kinh tếthị hiện nay việc doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là một hiện tượng tất yếukhông thể tránh khỏi trong môi trường cạnh trạnh cực kỳ gay gắt Việc nhiều chủdoanh nghiệp đang đứng bên bờ vực phá sản tìm đến văn phòng luật sư để tìm kiếmgiải pháp tối ưu nhất cho chính mình, thì chính sách phục hồi doanh nghiệp là mộttrong những giải pháp đáng để các luật sư quan tâm khi đưa ra lời tư vấn cho kháchhàng
3 Sự cần thiết của chính sách Phục hồi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
3.1 Đối với chủ nợ
Từ năm 1994, Quốc hội đã ban hành Luật Phá sản đầu tiên Thế nhưng, thực tế
số lượng thụ lý đơn về yêu cầu mở thủ tục phá sản của Tòa án là rất ít Nhất là so sánhvới tỷ lệ hàng chục ngàn, thậm chí hàng trăm ngàn doanh nghiệp khó khăn, nợ nần,phải giải thể hoặc “phá sản” thật, nhưng lại không được theo đúng thủ tục phá sản tạiLuật Phá sản8 Bất cập chính là nằm trong những thủ tục phá sản rườm rạ dẫn đến đếntâm lý lo lắng của các chủ nợ Chính vì vậy, đa phần các chủ nợ sẽ lựa chọn thủ tụcdân sự để đòi nợ khi thấy được nguy cơ mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp.Tuy nhiên, khi phải giải quyết mối quan hệ nợ nần giữa con nợ với chủ nợ thì thủ tụcdân sự đã thể hiện một số khiếm khuyết như:
Thứ nhất, nếu sử dụng thủ tục lấy nợ dân sự trong trường hợp một con nợ cónhiều chủ nợ thì sẽ có sự xuất hiện đồng thời của nhiều vụ kiện dân sự Trên thực tếđiều này dẫn đến hệ quả là sự quá tải của hệ thống Tòa án cũng như chi phí đòi nợ lớn
sẽ làm tiêu hao sản nghiệp vốn đã hạn hẹp của con nợ và trực tiếp ảnh hưởng đến lợiích của các chủ nợ
Thứ hai, thủ tục dân sự chỉ cho phép chủ nợ thực hiện quyền đòi nợ của mình khikhoản nợ đã đáo hạn Vì vậy, khi các khoản nợ không đáo hạn cùng một lúc sẽ dẫnđến tình trạng “lo âu” của các chủ nợ có các khoản nợ đáo hạn sau khi mà họ nhìn thấysản nghiệp của con nợ đã không còn hoặc còn rất ít và chắc chắn sẽ không đủ để thựchiện nghĩa vụ thanh toán đối với mình.9
8
Trần Hồng PhonG (2017), Phá sản doanh nghiệp lối thoát cho tất cả các bên, Thời báo kinh
tế Sài Gòn online Xem them tại: thoat-cho-tat-ca-cac-ben.html
http://www.thesaigontimes.vn/157723/Pha-san-doanh-nghiep-loi-9
Ths Trần Anh Tú, Nguyễn Văn Giang, Điều hòa lợi ích giữa chủ nợ và con nợ thông qua thủ tục phá sản, trang Đại học Kiếm sát Hà Nội online Xem them tại: http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa- hoc/chi-tiet/117/194
Trang 16Như vậy việc áp dụng thủ tục phá sản chưa gắn liền với thực tiễn dẫn đến việcchủ nợ lựa chọn thủ tục dân sự để đòi lại các khoản nợ ngày càng phổ biến Tuy nhiên,thủ tục dân sự với những khiếm khuyết nên trên vẫn không thể dung hòa hợp lý lợi íchcủa cả hai bên - chủ nợ và con nợ Do đó, việc đưa ra những cơ hội cho doanh nghiệpphục hồi lại khi mà quyền lợi của chủ nợ và nhu cầu xã hội có thể được đáp ứng tốthơn bằng cách duy trì hoạt động của doanh nghiệp lại trở thành một giải pháp tối ưu.Chính điều này cũng tạo ra cơ hội hạn chế tối đa các tổn thất, mất mát của các chủ nợtrong quá trình đòi nợ.
3.2 Đối với doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
Phá sản là hiện tượng mà cả chủ nợ, con nợ và người lao động đều không mongmuốn, vì vậy, việc tạo ra cơ hội cũng như tìm ra các biện pháp để ngăn chặn nó là điềucần thiết Do đó đối với doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, việc áp dụng chínhsách hồi phục hoạt động kinh doanh chính là cơ hội tái sinh vô cùng quý giá Bên cạnhviệc trả nợ cho chủ nợ, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán sẽ trả thêm nợ chochính mình, tức là tiền bạc, thời gian, công sức,… Doanh nghiệp đó đã đầu tư vào hoạtđộng kinh doanh
Phục hồi doanh nghiệp là một bước đi trước khi tiến hành thủ tục thanh lý Saukhi quá trình phục hồi doanh nghiệp thành công, doanh nghiệp sẽ trả được nợ cho chủ
nợ Đồng thời, sau khi trả xong nợ, doanh nghiệp có thể sẽ được tái tạo lại với nhữngphương hướng hoạt động hiệu quả hơn Như vậy sẽ không cần tiến hành thanh lýdoanh nghiệp nữa Với quy định pháp luật hiện nay, doanh nghiệp có nhiều lựa chọncho các biện pháp hồi phục hoạt động kinh doanh, chẳng hạn như: Huy động vốn,giảm nợ, miễn nợ, hoãn nợ, thay đổi mặt hàng sản xuất, kinh doanh; đổi mới côngnghệ sản xuất; tổ chức lại bộ máy quản lý; sát nhập hoặc chia tách bộ phận sản xuất; tổchức lại bộ máy quản lý; sát nhập hoặc chia tách bộ phận sản xuất; bán cổ phần chochủ nợ và những người khác; bán hoặc cho thuê tài sản không cần thiết; các biện phápkhác không trái với quy định của pháp luật10 Như vậy doanh nghiệp có thể dễ dànghơn trong việc lựa chọn phương án phù hợp với hoàn cảnh của mình và thủ tục phụchồi thật sự sẽ trở thành liều thuốc tái sinh cho doanh nghiệp
10
Trang 17- CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ PHỤC HỒI DOANH NGHIỆP MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VÀ MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 1Pháp luật về hồi phục doanh nghiệp mất khả năng thanh toán của một số quốc gia trên thế giới
có thể là phá sản dây chuyền dẫn đến bất ổn định về kinh tế, chính trị và xã hội Do đó,trong hệ thống pháp luật Anh - Mỹ, khởi đầu cho quy định “hướng vào con nợ” là LuậtCông ty đường sắt của Anh năm 1867 với các quy định về “người quản lý” trong thủtục phá sản đã được ra đời Quá trình phát triển, các quy định nhằm hướng vào bảo vệlợi ích con nợ dần được hoàn thiện hơn ở Luật Công ty 1929.11
Bên cạnh đó, dưới tác động của các cuộc cách mạng công nghiệp muộn làm trỗidậy sự phát triển của các doanh nghiệp nhà nước Nước Anh đã nhanh chóng ban hànhthêm nhiều đạo luật để điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp một cách sát saohơn Tiếp nối sự ra đời của Luật Công ty 1929 là Luật công ty năm 1949 Đạo luật nàyquy định thêm nội dung về “chỉnh lý và tổ chức lại” Tuy nhiên, Luật công ty 1949 vẫncòn nhiều thiếu sót và chưa đảm bảo được hiệu quả đối với thủ tục phục hồi doanhnghiệp do thiếu hẳn những quy định ràng buộc trách nhiệm pháp lý dành cho nhữnggiám đốc và người quản lý doanh nghiệp
Năm 1977, báo cáo Bullock của chính phủ Anh đã đề xuất cải tổ để cho phépnhân viên tham gia vào việc lựa chọn ban giám đốc nhưng chính quyền Vương quốcAnh (gồm nước Anh, xứ Wales, Scotland và Bắc Ai-Len) lại không thực hiện cải tổkinh tế dẫn đến các cuộc tranh luận lớn vào năm 197912 Sự kiện này đã xóa sổ Luậtcông ty năm 1986 và thay thế bằng Luật mất khả năng thanh toán 1986 Sự ra đời củađạo luật này đã hình thành những chế tài nghiêm khắc hơn cho ban giám đốc, ngườiquản lý đã khiến doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản Luật mất khả năng thanh
11
Dương Hương Sơn (2013), Phục hồi doanh nghiệp phá sản, một mục tiêu lớn trong vấn đề lập pháp
đối với pháp luật phá sản hiện đại, Bộ Tư pháp.
12
Report of the Parliamentary Committee on Joint Stock Companies (1844) British Parliamentary Papers vol VII