Ứng dụng phương pháp chọn tạo giống bằng chỉ thị phân tử trong tạo giống lúa chịu mặn .... Từ đó có thể kiểmsoát được các alen đặc biệt trong các cá thể của quần thể.Bằng phương pháp chọ
Trang 1LÊ XUÂN PHƯƠNG
CHỌN TẠO GIỐNG LÚA CHỊU MẶN BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHỈ THỊ PHÂN TỬ CHO VÙNG
VEN BIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Thái Nguyên - 2014
Trang 2LÊ XUÂN PHƯƠNG
CHỌN TẠO GIỐNG LÚA CHỊU MẶN BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHỈ THỊ PHÂN TỬ CHO VÙNG VEN BIỂN
ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
Chuyên ngành: Công nghệ Sinh học
Mã số: 60 42 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ HÙNG LĨNH
Thái Nguyên - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu của tôi dưới sựhướng dẫn của TS Lê Hùng Lĩnh, sự giúp đỡ của các cán bộ tại Bộ môn Sinhhọc phân tử - Viện Di truyền nông nghiệp Các số liệu, kết quả trong luận văn
là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
này
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những số liệu trong luận văn
Thái Nguyên, ngày 19 tháng 9 năm 2014
Tác giả luận văn
Lê Xuân Phương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sỹ này, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới
TS Lê Hùng Lĩnh - Trưởng Bộ môn sinh học phân tử - Viện Di truyền NôngNghiệp, người đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và giúp đỡ tôi trong suốt quátrình thực hiện đề tài và hoàn chỉnh luận văn của mình
Bên cạnh đó, tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡquý báu, nhiệt tình của tập thể cán bộ thuộc:
1 Bộ môn Sinh học phân tử - Viện Di truyền Nông nghiệp
2 Khoa Khoa học sự sống, Đại học Khoa học Thái Nguyên
Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới gia đình,đồng nghiệp và bạn bè đã luôn động viên, khích lệ, chia sẻ những khó khăncùng tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Thái Nguyên, ngày 19 tháng 9 năm 2014
Tác giả luận văn
Lê Xuân Phương
Trang 5DANH MỤC BẢNG Bảng Tên bảng Trang Bảng 1.1 Dự báo mức gia tăng trung bình toàn cầu của nhiệt độ không khí và
mực nước biển theo các kịch bản biến đổi khí hậu khác nhau 9
Bảng 2.1 Thông tin về các chỉ thị phân tử trên NST1 29 Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng của môi trường Yoshida 35 Bảng 2.3 Đánh giá tiêu chuẩn cải tiến (SES) qua quan sát mức hại của mặn ở
giai đoạn mạ (IRRI, 1997) 37
Bảng 3.1 Kết quả thanh lọc mặn sau 2 tuần của các giống 43 Bảng 3.2 478 44 Bảng 3.3 Kết quả thanh lọc mặn sau 2 tuần của các dòng 50 Bảng 3.4
2013 tại Giao Thủy, Nam Định 51
Bảng 3.5 Năng suất và các yếu tố cấu tăng năng suất của các dòng tham g
2013 53
Bảng 3.6.
2014 tại Giao Thủy, Nam Định 55
Bảng 3.7 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất các dòng tham gia thí
nghiệm tại Giao Thủy, Nam Định 2014 57
Trang 6DANH MỤC HÌNH Hình Tên hình trang
Hình 1.1 Dự báo sự thay đổi của mực nước biển đến năm 2100 6
Hình 1.2 Diễn biến nhiệt độ ở quy mô toàn cầu và khu vực 6
Hình 1.3 Diễn biến của nhiệt độ (a) và lượng mưa (b) ở Việt Nam 11
trong 50 năm 11
Hình 1.4 Diễn biến của mực nước biển tại trạm hải văn Hòn Dấu 12
Hình 2.1 Vị trí các chỉ thị trên NST1 và Locus gen Saltol 28
Hình 2.2 Sơ đồ phương pháp MABC ……… ………33
3.1 6 (P1) và FL478 (P2) 46
Hình 3.2. Hình 3.3 Hình 3.4. 1F1 47
1F1 48
1F2 49
Trang 7TT Từ viết tắt Nội dung
1 ANLT An ninh lương thực
2 BĐKH Biến đổi khí hậu
3 CNSH Công nghệ sinh học
5 CTAB Cetyl trimethyl amonium bromide
7 ENSO El Nino Southern Oscillation
8 FAO Tổ chức lương thực thế giới
9 IPCC Uỷ ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu của Liênhiệp quốc
10 IRRI The International Rice Research Institute - Viện Nghiêncứu lúa quốc tế
11 MABC Marker assisted backcrossing - Chọn giống hồi giaonhờ chỉ thị phân tử
12 MAS Marker assisted selection - Chọn lọc nhờ chỉ thị phân tử
14 PCR Polymerase Chain Reaction - Phản ứng trùng hợp chuỗi
15 QTL/QTLs Quantitative Trait Loci(s) - Locus kiểm soát tính trạngsố lượng
16 SSR Simple Sequence repeat - Sự lặp lại của trình tự đơngiản
17 TBE Tris - Bric Acid - EDTA
19 TGST Thời gian sinh trưởng
Trang 8Lời cam đoan i Lời cám ơn .ii Danh mục bảng .iii Danh
mục hình iv
Danh mục các từ viết tắt v Mục lục vi MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Nội dung Nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa của đề tài 3
4.1 Ý nghĩa khoa học 3
4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
5.1 Đối tượng nghiên cứu 4
5.2 Phạm vi nghiên cứu 4
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU .5
1.1 Tình hình của BĐKH trên Thế giới và Việt Nam 5
1.1.1 Tình hình của BĐKH trên Thế giới 5
Trang 91.2.2 Ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn tạo giống lúa chịu mặn 16
Trang 101.2.3 Nghiên cứu lập bản đồ QTL/gen Saltol chịu mặn từ giống lúa Pokkali
18 1.2.4 Ứng dụng phương pháp chọn tạo giống bằng chỉ thị phân tử trong tạo giống lúa chịu mặn 19
1.2.5 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống lúa chịu mặn trong nước 23
Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .28
2.1 Vật liệu nghiên cứu 28
2.2 Địa điểm nghiên cứu 30
2.3 Nội dung nghiên cứu 30
2.4 Phương pháp nghiên cứu 30
2.4.1 Phương pháp lai hữu tính giữa giống lúa cho và nhận gen 30
2.4.2 Phương pháp chọn lọc nhờ chỉ thị phân tử và lai trở lại (MABC)
32 2.4.3 Phương pháp thí nghiệm đồng ruộng 34
2.4.4 Phương pháp thử độ mặn nhân tạo 34
2.4.5 Phương pháp tách chiết DNA và phân tích di truyền chỉ thị phân tử 37
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43
3.1 Kết quả đánh giá xác định vật liệu bố mẹ trong nghiên cứu chọi tạo giống lúa chịu mặn 43
3.1.1 Kết quả đánh giá khả năng chịu mặn của các giống lúa trong điều kiện nhân tạo 43
3.1.2 Kết quả ịnh vật liệu bố mẹ 44
Trang 11ử dụng chỉ thị phân tử xác định các cá thể mang locus genchịu mặn trong quần thể BC1F1 47
Trang 123.2.3 Sử dụng chỉ thị phân tử xác định các cá thể mang locus gen chịu mặntrong quần thể BC1F2 483.3 Đánh giá vật liệu sử dụng trong nghiên cứu và chọn tạo giống lúa chịu mặn 49
3.3.1 Đánh giá tính chịu mặn của các dòng lúa chọn tạo trong điều kiện nhân tạo 49
3.3.2 Đánh giá các đặc tính nông sinh học, yếu tố cấu thành năng suất và khả năng chịu mặn của các dòng được tạo ra mang QTL/Saltol trong vụ mùa 2013 51
3.3.3 Đánh giá các đặc tính nông sinh học, yếu tố cấu thành năng suất và khả năng
chịu mặn của các dòng được tạo ra mang QTL/Saltol trong vụ xuân 2014
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức lớn nhất đốivới nhân loại trong thế kỷ 21 BĐKH dẫn đến nhiều thay đổi bất thường củathời tiết, tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường BĐKHcòn làm tăng tính biến động và tính cực đoan của các hiện tượng thời tiếtnguy hiểm như bão, tố, lốc, các thiên tai thời tiết khô nóng, lũ, ngập úng, hayhạn hán, rét hại, xâm nhập mặn, sâu bệnh, làm ảnh hưởng rất lớn đến sản xuấtnông nghiệp Hậu quả của BĐKH đối với Việt Nam là nghiêm trọng và làmột nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo, cho việc thực hiệncác mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước
Cây lúa là cây trồng quan trọng nhất ở Việt Nam, đồng thời cũng lànguồn thức ăn quan trọng nhất cho một nửa dân số thế giới Việt Nam lànước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ 2 trên thế giới sau Thái Lan Lúa gạo lànguồn thu ngoại tệ lớn nhất của nền nông nghiệp xuất khẩu Việt Nam vàcũng là nguồn thức ăn chính của 86 triệu dân số trong nước Đồng bằng SôngHồng và đồng bằng sông Cửu Long có sản lượng gạo lần lượt là 17% và 50%[5] Đáp ứng sản lượng lúa ở Việt Nam là rất cần thiết cho ứng phó với điềukiện biến đổi khí hậu Do vậy, chọn tạo giống lúa năng suất cao chống chịumặn là hết sức cần thiết và có ý nghĩa cho an toàn lương thực và tăng thunhập của nông dân tại vùng chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
Chọn giống bằng chỉ thị phân tử (Marker assisted selection - MAS) làphương pháp thiết thực, hiệu quả trong việc chuyển locus gen quy định tínhtrạng di truyền số lượng (Quantitative Trait Loci - QTL) hay gen đích vàogiống mới Phương pháp MAS cho phép rút ngắn quá trình chọn lọc, chọn lọcđược những tính trạng khó và đắt tiền hay nhiều gen cùng một lúc Chọn
Trang 14giống bằng MAS sẽ giảm được giá thành và thời gian Chọn giống nhờ chỉ thịphân tử là kỹ thuật hiệu quả cho phép chọn lọc trực tiếp hệ gen của từng cáthể trong quần thể Chọn giống nhờ chỉ thị phân tử có thể sử dụng chỉ thị đểkiểm tra di truyền của dòng bố mẹ và các cá thể con lai Từ đó có thể kiểmsoát được các alen đặc biệt trong các cá thể của quần thể.
Bằng phương pháp chọn giống nhờ chỉ thị phân tử và lai trở lại (Markerassisted backcrossing - MABC), các nhà chọn giống các nước pháp triển trênthế giới đã thành công mang lại kết quả trong việc tạo ra các giống lúa vừa cónăng suất cao, vừa có khả năng chống chịu với các điều kiện phi sinh học bấtlợi như ngập chìm, mặn và chống chịu sâu bệnh Những giống lúa này có thểgiúp cho các vùng bờ biển giảm bớt thiệt hại do ảnh hưởng của biến đổi khíhậu [21], [22] Từ những vấn đề nêu trên, việc ứng dụng công nghệ chọngiống nhờ chỉ thị phân tử để chọn tạo giống lúa có năng suất cao, có khả năngchống chịu mặn là một vấn đề cấp thiết Vì vậy chúng tôi xây dựng đề tài:
“Chọn tạo giống lúa chịu mặn bằng phương pháp chỉ thị phân tử cho vùng
ven biển Đồng bằng sông Hồng”.
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Sử dụng phương pháp chọn giống bằng chỉ thị phân tử chọn tạo giống lúachịu mặn đáp ứng nhu cầu giống lúa cho vùng ven biển Đồng bằng SôngHồng ứng phó với tác động biến đổi khí hậu
3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đánh giá vật liệu bố mẹ trong nghiên cứu chọn tạo giốnglúa chịu mặn
- Ứng dụng chỉ thị phân tử xác định cá thể mang locus gen Saltol
Trang 15- Đánh giá và trồng thử nghiệm các dòng chịu mặn được chọn tạo bằngphương pháp chọn giống nhờ chỉ thị phân tử Xác định các dòng chịu mặntriển vọng phục vụ công tác phát triển giống lúa chịu mặn cho sản xuất.
4 Ý nghĩa của đề tài
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Những thành công bước đầu trong việc ứng dụng chỉ thị phân tử để chọnlọc các cá thể lai sẽ mở ra hướng ứng dụng rộng rãi trong công tác chọn tạogiống nói chung, không chỉ với đặc tính chịu mặn mà còn đối với nhiều đặctính nông sinh học quý khác
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ chọn tạo ra một số dòng/giống lúa chịumặn cho các vùng ven biển Đồng bằng Sông Hồng nơi chịu ảnh hưởng nặng
nề của biến đối khí hậu
- Bổ sung thêm cơ sở lý luận trong công tác chọn tạo giống lúa bằng chỉthị phân tử nhưng vẫn kế thừa các phương pháp chọn giống truyền thống
Trang 165 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
5.1 Đối tượng nghiên cứu
- Giống lúa FL478 là thuần mang QTL/Saltol (gen chịu mặn) được nhập
từ Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (The International Rice Research Institute IRRI)
Giống TL6 Là giống lúa chịu thâm canh khá, chống chịu tốt với một sốsâu bệnh hại chính như: bệnh Đạo ôn, khô vằn và bạc lá Phẩm chất gạongon, thơm, cơm mềm, nhưng không dính Gieo cấy được 2 vụ trong năm, cótiềm năng cho năng suất cao
- Các chỉ thị phân tử có liên quan được sử dụng trong nghiên cứu
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Thí nghiệm được triển khai tại: Phòng thí nghiệm Sinh học phân tử thuộcViện Di truyền Nông nghiệp (Từ Liêm, Hà Nội); Huyện Giao Thuỷ, NamĐịnh
Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2012 đến năm 2014
Trang 17Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình của BĐKH trên Thế giới và Việt Nam
1.1.1 Tình hình của BĐKH trên Thế giới
Biến đổi khí hậu là do các hoạt động trực tiếp và gián tiếp của conngười gây ra, nó làm thay đổi các thành phần trong khí quyển toàn cầu.BĐKH đã và đang gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của conngười trên mọi lĩnh vực, cả về môi trường và kinh tế-xã hội Trong 150 nămqua, nhiệt độ bình quân bề mặt trái đất giai đoạn 1900-2005 tăng khoảng 0,80C; nhiệt độ đại dương tăng 0,50 C nhiệt độ bình quân bề mặt toàn cầu đã tăng0,760C [20] Sự nóng lên toàn cầu đã gây nên khí hậu thay đổi nhiều hơn, nhưnhững biến đổi của mưa và gia tăng tần suất, cường độ và tính biến động vàtính cực đoan của các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như bão, lốc, các thiêntai liên quan đến nhiệt độ và mưa như thời tiết khô nóng, lũ, ngập lụt, hạnhán, rét hại, xâm nhập mặn, dịch bệnh và dẫn đến mực nước biển bình quântoàn cầu dâng cao
Theo các nhà khoa học về BĐKH toàn cầu và nước biển dâng cho thấy,đại dương đã nóng lên đáng kể từ cuối thập kỷ 1950 Các nghiên cứu từ sốliệu quan trắc trên toàn cầu cho thấy, mực nước biển trung bình toàn cầutrong thời kỳ 1961-2003 đã dâng với tốc độ 0,5 - 1,8mm/năm [20] Dự báo sựthay đổi của mực nước biển và diễn biến nhiệt độ ở quy mô toàn cầu đến năm
2100 thể hiện ở hình 1.1 và hình 1.2
Trang 18Hình 1.1 Dự báo sự thay đổi của mực nước biển đến năm 2100
(Nguồn: IPCC, 2007) [20]
Hình 1.2 Diễn biến nhiệt độ ở quy mô toàn cầu và khu vực
Trang 19Các từ viết tắt:
- CCSR/NIES: Trung tâm nghiên cứu hệ thống khí hậu và Viện nghiên cứu môi trường Quốc gia; Sử dụng mô hình CCSR/NIES AGCM + CCSR OGCM Models 1890-2100.
- CCCma: Trung tâm phân tích và xây dựng mô hình khí hậu Canada.
Trang 20của các nhà khoa học, trong thập kỷ vừa qua, mực nước biển dâng nhanh nhất
ở vùng phía Tây Thái Bình Dương và phía Đông Ấn Độ Dương [20]
BĐKH đã ảnh hưởng trực tiếp đến ngành nông nghiệp, đây là ngànhcung cấp lương thực chính cho con người đang phải đứng trước thách thức vôcùng to lớn, những khu vực tập trung trồng lúa nhiều nhất trên thế giới lại cónguy cơ bị xâm nhiễm mặn khi mực nước biển dâng cao Do đó, cần phải cócác giống lúa có khả năng chịu được ngập và độ mặn cao
Bên cạnh đó, theo báo cáo của FAO (2010), trên 800 triệu ha đất trêntoàn thế giới bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi muối và khoảng 20% diện tíchtưới (khoảng 45 triệu ha) được ước tính bị vấn đề xâm nhiễm mặn theo mức
độ khác nhau Mặt khác, tài liệu “Tác động của mực nước biển dâng cao đến các nước đang phát triển: Phân tích so sánh” của Ngân hàng Thế giới (WB)
thực hiện tháng 2/2007 đã đánh giá các tác động của mực nước biển dâng caođối với tất cả các nước đang phát triển bằng cách sử dụng bộ chỉ số đồng nhấtcác chỉ thị và với các kịch bản khác nhau về mực nước biển dâng cao WB đãchia 84 nước đang phát triển ở ven biển thành 5 nhóm theo 5 văn phòng khuvực của WB gồm: Mỹ Latin và Caribê (25 nước); Trung Đông và Bắc Phi (13nước); Châu Phi cận Xahara (29 nước); Đông Á (13 nước); và Nam Á (4nước) Các kết quả nghiên cứu cho thấy 0,31% (194.309 km2) vùng lãnh thổcủa 84 nước đang phát triển bị ảnh hưởng khi mực nước biển dâng cao 1m
Tỷ lệ bị ngập có thể tăng lên 1,2% theo kịch bản nước biển dâng cao 5m Cho
dù tỷ lệ này nhỏ song sẽ có khoảng 56 triệu người (hay 1,28% dân số) ở 84nước đang phát triển bị ảnh hưởng khi mực nước biển dâng cao 1m Với kịchbản nước biển dâng cao 1m, Bahamas (khu vực Mỹ latinh và Caribê) là nước
bị ảnh hưởng nặng nhất xét về diện tích bị ảnh hưởng (12% tổng diện tích).Việt Nam đứng đầu danh sách 10 nước bị ảnh hưởng về dân số, khu vực đô
Trang 21thị và đất ngập nước (khoảng 10%) Nông nghiệp của Ai Cập bị ảnh hưởngnhiều nhất, gần 13% 28% diện tích đất ngập nước của Việt Nam, Jamaica vàBelize có thể bị ảnh hưởng khi mực nước biển dâng cao 1m Xét về tất cả cácchỉ thị, theo Báo cáo của WB, Việt Nam nằm trong danh sách 5 nước bị ảnhhưởng nhiều nhất cùng với Ai Cập, Suriname và Bahamas [14].
Dự báo mức gia tăng trung bình toàn cầu của nhiệt độ không khí vàmực nước biển theo các kịch bản biến đổi khí hậu khác nhau được thể hiện ởbảng 1.1
Bảng 1.1 Dự báo mức gia tăng trung bình toàn cầu của nhiệt độ không
khí và mực nước biển theo các kịch bản biến đổi khí hậu khác nhau
2099 so với giai đoạn 1980 – 1999) Đánh giá tốt nhất Phạm vi có thểxảy ra
Phạm vi mô hình cơ
sở ngoai trừ sự biến đổi động lực của dòng chảy băng trong tương lai Hàm lượng KNK không đổi ở
Trang 22Ghi chú:
- a: Sự đánh giá này được đánh giá từ một hệ thống mô hình, bao gồmmột mô hình khí hậu đơn giản, một số mô hình Trái đất có mức tạp vừa phải
và số lớn mô hình hoàn lưu toàn cầu khí quyển – đại dương (AOGCMs)
- b: Hàm lượng khí nhà kính (KNK) cố định năm 2000 được lấy từAOGCMs
1.1.2 Ảnh hưởng của BĐKH tại Việt Nam
Cũng như các nước khác trên thế giới, khí hậu đã, đang và sẽ biến đổitrên lãnh thổ Việt Nam Kết quả phân tích các số liệu khí hậu cho thấy nhữngbiến đổi chủ yếu của các yếu tố khí hậu và mực nước biển như sau:
- Nhiệt độ: Trong 50 năm qua (1958 - 2007), nhiệt độ trung bình năm ở
Việt Nam tăng lên khoảng từ 0,50C đến 0,70C Nhiệt độ mùa đông tăng nhanhhơn nhiệt độ mùa hè và nhiệt độ ở các vùng khí hậu phía Bắc tăng nhanh hơn
ở các vùng khí hậu phía Nam (hình1.3a) Nhiệt độ trung bình năm của 4 thập
kỷ gần đây (1961 - 2000) cao hơn trung bình năm của 3 thập kỷ trước đó(1931 - 1960) Nhiệt độ trung bình năm của thập kỷ 1991 - 2000 ở Hà Nội,
Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931
-1940 lần lượt là 0,8; 0,4 và 0,60C Năm 2007, nhiệt độ trung bình năm ở cả 3nơi trên đều cao hơn trung bình của thập kỷ 1931 - 1940 là 0,8 - 1,30C và caohơn thập kỷ 1991 - 2000 là 0,4 - 0,50C
Trang 23Hình 1.3 Diễn biến của nhiệt độ (a) và lượng mưa (b) ở Việt Nam
trong 50 năm
- Lượng mưa: Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lượng mưa trung
bình năm trong 9 thập kỷ vừa qua (1911 - 2000) không rõ rệt theo các thời kỳ
và trên các vùng khác nhau: có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảmxuống Lượng mưa năm giảm ở các vùng khí hậu phía Bắc và tăng ở cácvùng khí hậu phía Nam (hình 1.3b) Tính trung bình trong cả nước, lượngmưa năm trong 50 năm qua (1958 - 2007) đã giảm khoảng 2%
- Tần suất và cường độ El Nino tăng lên rõ rệt trong những thập niêngần đây Trong 5 thập niên gần đây, tác động của hiện tượng ENSO ngàycàng mạnh mẽ đối với chế độ thời tiết và khí hậu trên nhiều khu vực ở ViệtNam Biến đổi của ENSO và tác động của nó đến sự biến đổi của gió mừa sẽảnh hưởng mạnh hơn đối với sự biến đổi của mưa Hiện tượng ENSO cũngảnh hưởng đến sự thay đổi sự xuất hiện, cường độ và các đặc trưng của xoáythuận nhiệt đới và sự biến đổi của nó giữa các năm
Trang 24- Mực nước biển: Số liệu quan trắc tại các trạm hải văn dọc ven biển
Việt Nam cho thấy tốc độ dâng lên của mực nước biển trung bình ở Việt Namhiện nay là khoảng 3mm/năm (giai đoạn 1993 - 2008), tương đương với tốc
độ tăng trung bình trên thế giới Trong khoảng 50 năm qua, mực nước biểntại trạm hải văn Hòn Dấu dâng lên khoảng 20cm (hình 1.4)
Hình 1.4 Diễn biến của mực nước biển tại trạm hải văn Hòn Dấu [20]
Mực nước biển dâng cao dẫn đến mặn xâm nhập sâu vào hệ thốngsông ngòi, kênh rạch và tầng chứa nước ngầm ở đồng bằng châu thổ sôngHồng – Thái Bình, Đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng ven biển miềnTrung, làm cho nước nhạt (nước ngọt) bị nhiễm mặn và do đó làm giảmlượng nước nhạt có thể khai thác, sử dụng Theo kết quả các kịch bản biếnđổi khí hậu đã được đưa ra, nếu mực nước biển có thể dâng cao 0,75 – 1 m
so với thời kỳ 1980 – 1999, thì khoảng 20 – 38% diện tích Đồng bằng sôngCửu Long và đồng bằng sông Hồng bị ngập, là hai vùng sản xuất lúa chính
Trang 25của Việt Nam và do đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất lương thực đểcung cấp cho hơn 86 triệu dân Việt Nam và gần 100 triệu dân trên thế giới.Việt Nam có bờ biển dài khoảng 3260 km, hơn một triệu km2 lãnh hải vàtrên 3000 hòn đảo gần bờ và hai quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa,nhiều vùng đất thấp ven biển Nước biển dâng cùng với nước dâng do bão,sóng lớn, triều cường ảnh hưởng lớn đến hạ tầng cơ sở (hệ thống đê biển,
bờ bao, giao thông, du lịch, công trình dân sinh và quốc phòng…) vùng ven
bờ biển và những vùng đất thấp nằm dọc theo bờ biển Nước biển dângcũng sẽ tác động đến các đầm phá, vũng vinh, đảo nhỏ, các cồn cát và bãitắm, các bãi phù sa, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản
Ở Việt Nam là một trong 5 nước trên thế giới được đánh giá là sẽ chịuảnh hưởng nghiêm trọng của BĐKH và nước biển dâng Trong đó, đồng bằngchâu thổ sông Hồng và sông Cửu Long là hai vùng chịu tác động BĐKH vànước biển dâng nhiều nhất Đây là hai vùng sản xuất nông nghiệp chính củaViệt Nam nhưng địa hình thấp, phần lớn chỉ cao hơn 1 m so với mực nướcbiển, thậm chí có nơi thấp dưới mực nước biển Theo kết quả các kịch bảnbiến đổi khí hậu đã được đưa ra, nếu mực nước biển có thể dâng cao 0,75đến1m so với thời kỳ 1980 – 1999, thì khoảng 20 – 38% diện tích Đồng bằngsông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng bị ngập và do đó ảnh hưởng nghiêmtrọng đến sản xuất lương thực để cung cấp cho hơn 86 triệu dân Việt Nam vàgần 100 triệu dân trên thế giới
1.2 Nghiên cứu di truyền và chọn giống lúa chịu mặn
1.2.1 Cơ sở di truyền tính chống chịu mặn ở cây lúa
Lúa (Oryza sativa L.) là cây rất nhậy cảm với những yếu tố gây stress
phi sinh học như mặn, khô hạn, nhiệt độ Đất mặn là yếu tố chính làm giảmnăng suất, sản lượng của lúa Người ta tập trung sự chú ý vào đối tượng mặn
Trang 26đây là dạng gây stress quan trọng đối với sản xuất lúa, và đặt ra mục tiêuhướng tới để cải tiến giống lúa trên qui mô toàn cầu Xác định gen chốngchịu mặn là trọng tâm quan trọng trong chọn giống lúa, nó có những khókhăn nhất định mà nhà chọn giống phải đối mặt như: Nguồn gen kháng khanhiếm, tính trạng chống chịu mặn là tính trạng di truyền số lượng (Quantitativetrait loci), cơ chế chống chịu mặn phức tạp, và rất khó để đánh giá chính xácnhững tính trạng sinh lý liên quan đến khả năng chịu mặn Có một số phươngpháp chọn giống chống chịu mặn được các nhà chọn giống thường xuyên ápdụng như, cải tạo các giống lúa địa phương có khả năng chống chịu mặn bằngcách gây đột biến hay lai tạo rồi chọn lọc theo phương pháp truyền thống Sửdụng công nghệ sinh học bằng cách tạo mô sẹo (callus) từ phôi hay nuôi cấybao phấn, sàng lọc và tái sinh cây trong môi trường bổ xung hàm lượng NaClvới nồng độ khác nhau, hay chuyển gen chịu mặn vào giống có tiềm năngnăng suất nhưng mẫn cảm với mặn Biện pháp chọn tạo giống lúa chống chịumặn nhờ chỉ thị phân tử (MAS) tỏ ra là phương pháp hiệu quả, chính xác đãđược các nhà chọn giống sự dụng trong những năm gần đây trên thế giới.
Rất nhiều nghiên cứu đã chứng minh yếu tố di truyền tính chống chịumặn biến động khác nhau giữa các giống lúa Vì vậy, muốn chọn giống lúachống chịu mặn có hiệu quả, cần nghiên cứu sâu về cơ chế di truyền tínhchống chịu mặn, từ đó loại bỏ ở ngay từ những thế hệ đầu, những dòng khôngđáp ứng được yêu cầu của người chọn giống Nghiên cứu di truyền số lượngtính chống chịu mặn cho thấy, cả hai ảnh hưởng hoạt động của gen cộng tính
và gen không cộng tính đều có ý nghĩa trong di truyền tính chống chịu mặn[19], [25]
Bằng những thí nghiệm đánh giá tính chống chịu mặn tại giai đoạn mạcủa cây lúa trong dung dịch dinh dưỡng Yoshida có độ mặn tương đối cao
Trang 27(EC = 12 dSm-1) trong môi trường kiểm soát được các yếu tố ngoại cảnh;người ta thấy, tính trạng chiều dài chồi, hàm lượng Na và K ở trong chồi,khối lượng khô của chồi và rễ thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữagiống chống chịu và giống nhiễm, tính trạng này chủ yếu được điều khiển dohoạt động của nhóm gen cộng tính Hệ số di truyền tính chống chịu thông quacác tính trạng này rất thấp [38] Trong giai đoạn trưởng thành của cây lúa tínhtrạng chiều cao cây, năng suất trong điều kiện mặn được điều khiển bởinhững gen cộng tính [28].
Do ảnh hưởng lớn của môi trường bên ngoài, sự thể hiện di truyền làrất thấp trong các tính trạng Phương pháp chọn giống chống chịu mặn có thểdùng phương pháp trồng dồn có cải tiến hoặc có thể dùng phương pháp chọnlọc cá thể (single seed descent) sẽ là thích hợp trong chọn giống chịu mặn.Bằng phương pháp lai diallel đầy đủ, Gregorio và Senadhina (1993) cho rằng,
có thể tìm ra một số cặp lai tốt phục vụ cho chương trình ưu thế lai Nghiêncứu về di truyền số lượng tính chống chịu mặn thông qua lai diallel 6 x 6,năng suất thể hiện hoạt động của nhóm gen cộng tính không có ý nghĩa trongđiều kiện bình thường, nhưng trở nên có ý nghĩa trong điều kiện xử lý mặn.Năng suất lúa bị giảm là do ảnh hưởng của mặn Trong một số giống lúa, ưuthế hoạt động của gen cộng tính đối với năng suất là điều kiện thuận lợi chochọn lọc giống trong môi trường mặn [19]
Nghiên cứu về các thông số di truyền Mishra và cs, (1996) cho rằng,chiều dài bông và khối lượng 1000 hạt chịu tác động rất ít bởi các yếu tố môitrường, nếu như chọn giống chống chịu mặn dựa vào hai tính trạng này làkhông có hiệu quả Khối lượng bông, số hạt chắc trên bông, chiều cao cây có
hệ số path rất cao trong môi trường mặn Chính ba tính trạng này đóng gópphần lớn trong việc tăng năng suất lúa trong môi trường mặn, nhất là khối
Trang 28lượng bông và số hạt chắc trên bông [29] Narayanan và cs., (1990) cho rằng,
số hạt chắc trên bông, chiều dài bông là tính trạng chính đóng góp vào năngsuất của các giống lúa trong những vùng đất bị nhiễm mặn[32]
1.2.2 Ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn tạo giống lúa chịu mặn
Ứng dụng chỉ thị phân tử trong nghiên cứu di truyền và phục vụ cho côngtác chọn giống cây trồng đang được nhiều phòng thí nghiệm trên thế giớitriển khai rộng rãi Nhiều bản đồ phân tử cùng vị trí các gen kiểm soát cáctính trạng khác nhau đã được xác định và ứng dụng trong chọn giống Đi tiênphong trong lĩnh vực này là các nhà khoa học ở Trường Đại học tổng hợpCornel (Mỹ), đã thiết lập lên bản đồ di truyền phân tử đầu tiên ở lúa Đếnnay, hàng chục nghìn chỉ thị phân tử SSR (vi vệ tinh) ở lúa đã được xác định,trong đó có nhiều chỉ thị liên kết với gen có ý nghĩa kinh tế quan trọng Vớiviệc sử dụng chỉ thị phân tử trong phân tích di truyền, hàng nghìn QTLs đãđược phát hiện cho các tính trạng khác nhau ở cây lúa như chịu hạn, chịumặn, chịu độc nhôm, chịu thiếu phốt-pho, bất dục đực nhân nhậy cảm quangchu kỳ, bất dục đực nhân nhậy cảm nhiệt độ, gen tương hợp rộng Phân tích,lập bản đồ di truyền phân tử đã được thiết lập rất phổ biến bằng việc sử dụngquần thể phân ly F2 hay dòng cập phối (RIL) từ tổ hợp lai xa về di truyền như
giữa hai loài phụ Indica và Japonica, thế hệ tái tổ hợp thu được nhiều đa hình
hơn là trong cùng loài phụ Như vậy đối với tính chịu mặn, việc phân tích cáctính trạng phức tạp liên quan đến tính chịu mặn có nghĩa là việc hiểu rõ bản
đồ gen QTLs sẽ cung cấp thông tin hữu ích cho việc làm tăng tính chịu mặncho lúa Các phân tích QTL về tính chịu mặn của lúa đã được tiến hành bằngcác chỉ thị phân tử trong nhiều nhóm nghiên cứu Nhiều bản đồ di truyềnphân tử đã được thiết kế với việc sử dụng quần thể F2 hoặc tái tổ hợp [31],[40], [41], [42], hoặc quần thể cây đơn bội kép [27], [43]
Trang 29Năm 2000, Prasad và cs đã xác định được bẩy QTL cho tính trạng cây mạliên quan với khả năng chống chịu mặn trên các nhiễm sắc thể khác nhau.
Zhang và cs (1995) đã phát hiện QTLs cho trọng lượng 1000 hạt trên nhiễmsắc thể số 7 bằng cách sử dụng quần thể F2 dưới điều kiện có NaCl Năm
2000, Prasad và cs đã xác định được QTLs cho các tính trạng của cây giốngnhư sự nảy mầm của hạt, chiều dài rễ, trọng lượng khô và sức sống của câycon dưới tác động của muối (salt stress) bằng cách sử dụng một quần thể đơn
bội kép xuất phát từ lai giữa các giống Indica và Japonica Năm 2001,
Koyama và cs đã phát hiện ra QTLs cho việc thu nhận Na+, K+ và tỷ lệ Na+ :
K+ trong chồi non Tương tự như vậy Lin và cs (2004) đã công bố một sốQTLs cho các tính trạng lý sinh như thu nhận Na+, K+ và tỷ lệ Na+ : K+ trong
rễ và chồi bằng cách sử dụng quần thể F2, F3 bắt nguồn từ việc lai chéo giữahai giống Koshihikari và Nona Bokra Những nghiên cứu trước đây về tínhchịu mặn của lúa cũng đã được thực hiện bằng cách sử dụng các quần thể F2,RILs hoặc DH Prasad và cs, (2000) đã lập bản đồ một số QTL liên kết khảnăng chịu mặn ở giai đoạn mạ trên các nhiễm sắc thể khác nhau Sử dụng
quần thể F2 từ giống lúa Japonica chịu mặn và giống lúa thường nhiễm mặn
77-170A Zhang và cs (1995) đã xác định được gen chịu mặn chính nằm trênnhiễm sắc thể số 1 Lin và cs (2004), Ren và cs (2005) cùng xác định QTLliên kết với khả năng chịu mặn trên nhiễm sắc thể số 1 [24], [26], [34], [35],[36], [44]
Tính chịu mặn của lúa có thể phụ thuộc vào các chất vận chuyển chấttruyền vận K+ ái lực cao, những chất này làm trung gian cho chất vận chuyểnchuyên biệt Na+ hoặc chất truyền vận Na+- K+ và giữ một vai trò quan trọngtrong điều hoà sự ổn định Na+ [30]
Trang 301.2.3 Nghiên cứu lập bản đồ QTL/gen Saltol chịu mặn từ giống lúa
Pokkali
Giống Pokali là giống lúa chịu mặn điển hình, Pokali đã và đang đượccác nhà chọn giống trên thế giới chọn là giống cho gen chịu mặn trongchương trình chọn giống của mình Những nghiên cứu đã xác định được rõnhững đặc điểm sinh thái học cũng như mức độ phân tử về khả năng chịumặn của giống Pokali Khả năng chịu mặn được thể hiện ở cả hai khả năng làduy trì thấp tỷ lệ Na+/K+ ở chồi và phát triển nhanh trong điều kiện mặn [23]
Gegorio và cs (2002) đã xác định QTL chính, tên là Saltol trên nhiễm sắc
thể số 1 tại vị trí giữa hai SSR marker RM23 và RM140 từ quần thể lai giữa
giống chịu mặn điển hình Pokkali và giống IR29 QTL Saltol có độ dài
khoảng 1cM quyết định tới khoảng 40 – 65% tính chống chịu mặn của lúa.Giống Pokkali là giống mang alleles trội với khả năng chịu mặn [18]
Mohammadi – Nejad và cs., (2008) đã lập bản đồ chi tiết cho QTL chịu
mặn Saltol bằng những chỉ thị phân tử vệ tinh SSR trên nhiễm sắc thể số 1 6
marker là: RM10745, RM1287, RM8094, RM3412, RM493 và RM140 liênkết chặt với đoạn Saltol ở vị trí 10.8 đến 12.28 Mb Xác định lập bản đồ QTL
Saltol chịu mặn đã được một số nhà khoa học Viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI nghiên cứu và khẳng định lại khả năng chịu mặn của Saltol.
Michael J Thomson và cs (2010) đã sử dụng 140 dòng tái tổ hợp (RILs)
từ tổ hợp lai giữa IR29/Pokkali xác định lại Saltol trên nhiễm sắc thể số 1 và
xác định thêm một số QTL chịu mặn khác Kết quả đã xác định được 2 QTLchịu mặn, một trên nhiễm sắc thể số 4 và một trên nhiễm sắc thể số 9 QTLcho tỷ lệ Na+/K+ được xác định trên nhiễm sắc thế số 6 Bản đồ chi tiết cho
QTL saltol cũng được tác giả xác định liên kết với những chỉ thị phân tử SSR
trên nhiễm sắc thể 1 [39]
Trang 311.2.4 Ứng dụng phương pháp chọn tạo giống bằng chỉ thị phân tử trong tạo giống lúa chịu mặn
Từ lâu, các nhà chọn giống đã quan tâm đến các chỉ thị hình thái liên kếtvới một số tính trạng nông học quan trọng và sử dụng chúng như một phươngtiện hữu ích trong quy trình chọn tạo giống mới Ở đây, thay vì phải đánh giákiểu hình của cả một quần thể nhằm phát hiện những cá thể chứa gen mongmuốn, người ta chỉ cần đi tìm những cá thể riêng biệt mang các chỉ thị hìnhthái liên kết với các gen đó Tuy nhiên các chỉ thị hình thái vốn có số lượngkhông nhiều, còn những chỉ thị “may mắn” (liên kết với gen quan tâm) lạicàng hiếm gặp, vì thế giá trị thực tiễn của chỉ thị hình thái trong chọn giốnggặp nhiều hạn chế Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ chỉ thị phân tử,các nhà chọn giống bắt đầu quan tâm mạnh mẽ hơn tới vấn đề “chọn giốngnhờ chỉ thị phân tử” (Marker-assisted selection = MAS) với ý đồ sử dụng cácchỉ thị phân tử liên kết với các gen mong muốn trong chọn tạo giống mới
So với chỉ thị hình thái, chỉ thị phân tử có những ưu thế sau:
a Kiểu gen của các lôcút chỉ thị phân tử có thể được xác định tại bất
kỳ giai đoạn nào và ở bất cứ mức độ nào: Tế bào, mô hay toàn bộ cơ thể,trong khi kiểu hình của phần lớn các chỉ thị hình thái chỉ có thể phân biệtđược trong những giai đoạn nhất định và thường ở mức độ toàn bộ cơ thể
b Số lượng các chỉ thị phân tử là cực kỳ lớn, trong khi số lượng cácchỉ thị hình thái rất hạn chế
c Các alen khác nhau của chỉ thị phân tử thường không liên kết với cáchiệu ứng có hại, trong khi việc đánh giá các chỉ thị hình thái thường hay đikèm với những hiệu ứng kiểu hình không mong muốn
d Các alen của các chỉ thị phân tử phần lớn là đồng trội, vì thế cho
Trang 32phép phân biệt mọi kiểu gen ở bất kỳ thế hệ phân ly nào, còn các alen của cácchỉ thị hình thái thường tương tác theo kiểu trội-lặn, do đó bị hạn chế sử dụngtrong nhiều tổ hợp lai.
e Đối với chỉ thị hình thái, các hiệu ứng lấn át thường làm sai lệch việcđánh giá các cá thể phân ly ở trong cùng một quần thể phân ly, còn đối vớichỉ thị phân tử, hiệu ứng lấn át hoặc cộng tính rất hiếm gặp
Ngày nay, phương pháp chọn giống nhờ chỉ thị phân tử là một phươngtiện hữu hiệu trợ giúp đắc lực cho chọn giống truyền thống nhằm khắc phụcnhững trở ngại mà công tác chọn giống truyền thống rất khó giải quyết Sựphát triển của công nghệ chỉ thị phân tử đã giải phóng các nhà chọn giốngkhỏi một lượng lớn công việc khi phải chọn lọc, phát hiện một lượng ít ỏinhững cá thể quan tâm trong số vô vàn các cá thể khác nhờ việc xác định sự
có mặt hay vắng mặt của những chỉ thị phân tử liên kết với những alen đặchiệu mà không cần đánh giá kiểu hình Phương pháp này còn có thể giúp tachọn lọc những cá thể mang những tổ hợp gen cần thiết và loại bỏ các nhiễu
do các tương tác trong cùng alen hay giữa các alen gây ra - những tương tácnày thường không thể phát hiện được bằng các phân tích kiểu hình Phươngpháp này đặc biệt hiệu quả trong trường hợp cần đưa gen lặn hoặc thậm chíđưa cùng lúc nhiều gen khác nhau vào một genôm đích
Như vậy, chỉ thị phân tử làm tăng thêm hiệu quả sàng lọc trong cácchương trình chọn giống với các ưu điểm sau:
- Khả năng chọn lọc ngay từ giai đoạn cây con đang nẩy mầm trong khinhiều dấu hiệu chỉ có thể sàng lọc khi chúng được biểu hiện ở những giaiđoạn muộn hơn trong quá trình sống nếu chỉ sử dụng phương pháp chọngiống cổ điển (ví dụ: chất lượng quả và hạt, tính bất dục đực, khả năng phảnứng chu kỳ quang)
Trang 33- Khả năng sàng lọc những dấu hiệu mà việc đánh giá các đặc tính nàykhó khăn, đắt tiền, tốn thời gian (ví dụ như hình thái rễ, tính kháng nhiễm đốivới các dịch hại hoặc đối với những nòi, những bệnh đặc hiệu, hay tính khángnhững điều kiện gây sốc sinh học như hạn, mặn, thiếu muối, các chất độc).
- Khả năng phân biệt trạng thái đồng hợp tử hay dị hợp tử của nhiềulôcut trong cùng một thế hệ mà không cần kiểm tra thế hệ sau
- Khả năng chọn lọc đồng thời vài đặc tính trong cùng một thời gian, dovậy mà có thể đưa vào cùng lúc vài gen có giá trị về mặt nông học, ví dụ đưavào cùng một lúc nhiều gen kháng dịch hại khác nhau Trong trường hợp này,các phương pháp sàng lọc kiểu hình các cá thể thông qua sự lây nhiễm (đồngthời hoặc thậm chí lần lượt từng thể gây bệnh hay từng côn trùng gây hại) rấtkhó đạt được kết quả, nếu không muốn nói là không thể được Nhưng nếu ta
áp dụng công nghệ chỉ thị phân tử, ta có thể kiểm tra sự có mặt hay vắng mặtcủa từng alen kháng (hay nhiễm) khác nhau ở từng cá thể riêng biệt
Phương pháp chọn tạo giống bằng chỉ thị phân tử (MAS) là sử dụng chỉthị phân tử liên kết chặt với lôcut gen đích để xác định các cá thể mang gentrong quần thể phân ly thay cho chọn lọc đánh giá kiểu hình Bằng phươngpháp này cho phép tạo được giống mới mang một hay một vài tính trạngmong muốn một cách nhanh chóng và chính xác Nhược điểm của phươngpháp MAS là giống mới được tạo ra không còn giữ được đặc tính quý củagiống ban đầu Phương pháp chọn giống bằng chỉ thị phân tử và lai trở lại(MABC) có thể khắc phục được nhược điểm này Với mục tiêu chuyển mộttính trạng đặc biệt vào một giống cây trồng Chọn giống bằng chỉ thị phân tử
và lai trở lại là phát triển tiềm năng của lai trở lại trong nghiên cứu và dunhập gen đích vào giống nhận gen Bằng phương pháp này, chỉ cần chọn lọcđến thế hệ BC3 thì có thể chọn lọc được cá thể mang gen đích và có nền di
Trang 34truyền đạt 99.6 - 100% hệ gen của cây nhận gen Từ đó có thể thấy rằng đây
là phương pháp thiết thực, hiệu quả trong việc chuyển lôcut gen quy định tínhtrạng di truyền số lượng (QTL) hay gen vào giống đồng thời rút ngắn quátrình chọn lọc
sau:
Phương pháp chọn giống bằng chỉ thị phân tử và lai trở lại có ba bước
* Bước thứ nhất: Sử dụng chỉ thị phân tử liên kết chặt với locus haygen đích để chọn lọc trực tiếp lôcut hay gen tính trạng đó từ các cá thể trongquần thể BC1F1, BC2F1, BC3F1, BC3F2
* Bước thứ hai: Sử dụng chỉ thị phân tử quanh vùng locus gen, chọnlọc cá thể tái tổ hợp mang gen đích, giảm tối thiểu các locus gen không mongmuốn quang vùng gen đích Bước này còn gọi là chọn lọc tái tổ hợp(recombinant selection)
* Bước thứ ba: Sử dụng chỉ thị phân tử đa hình, không liên kết với genđích trên 12 nhiễm sắc thể để chọn lọc cá thể có nền di truyền lớn nhất củagiống nhận gen Bằng phương pháp này có thể giảm ít nhất là 2 nhưng có thể
3 thậm chí là 4 thế hệ lai lại so với chọn lọc lai lại truyền thống
Những năm gần đây, IRRI đã sử dụng phương pháp chọn giống nhờ chỉthị phân tử và lai trở lại (MABC) và đã thành công trong việc chọn tạo giống
lúa chịu mặn bằng việc chuyển QTL Saltol có khả năng chịu mặn nằm trên
nhiễm sắc thể số 1 vào ba giống lúa trồng đại trà Kết quả đã tạo được một sốdòng triển vọng như: IR72046-B-R-8-3-1-3, IR52713-2B-8-2B-1-2,IR77674-3B-8-2-2-8-3-AJY5, IR45427-2B-2-2B-1-1, IR55179-3B-11-3,IR64197-3B-3-1, IR74099-3R-3-3, IR66946-3R-178-1-1 (FL478)
Trang 35pháp này chỉ mất ba năm trong khi phương pháp truyền thống có thể tới 10đến 15 năm [12] Chọn giống nhờ chỉ thị phân tử là kỹ thuật hiệu quả, rútngắn thời gian và rẻ tiền so với phương pháp chọn giống truyền thống Bởi
vì, chọn giống nhờ chỉ thị phân tử cho phép chọn lọc trực tiếp hệ gen củatừng cá thể trong quần thể Chọn giống nhờ chỉ thị phân tử có thể sử dụngmột lượng lớn chỉ thị để kiểm tra di truyền của dòng bố mẹ Từ đó có thểkiểm soát được các alen đặc biệt trong các cá thể của quần thể Kiểm tra theophương pháp đó kết hợp lai trở lại 2 đến 3 thế hệ là có thể thu được cá thể vớinền di truyền của dòng mẹ và mang gen chuyển Các dòng này có thể cho tựthụ, thu hạt để làm thí nghiệm thử nghiêm trên đồng ruộng
1.2.5 Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống lúa chịu mặn trong nước
Việt Nam có đường bờ biển 3.620 km nằm trải dài từ Bắc vào Nam, hiệntượng xâm thực của nước biển ngày càng trở lên nghiêm trọng làm ảnhhưởng đến năng suất cây trồng nông nghiệp đặc biệt là cây lúa, một cây trồngchủ đạo trong nền nông nghiệp của nước ta Gần đây, phong trào nuôi tômnước mặn kết hợp trồn
0,3-0,4% thậm chí có nơi cao hơn cả chục lần.Theo báo cáo của Cục Thủy lợi - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
bằng sông Hồng lên cao và xâm nhập vào trong nội địa từ 30 - 40km làm chodiện tích nhiễm mặn lên tới 100.000ha ở một số tỉnh: Hải Phòng, Nam Định,Ninh Bình, Thanh Hoá
Hơn nữa nghề trồng lúa ở vùng nhiễm mặn đang phải đối mặt với những
Trang 36là một trong 10 quốc gia bị thiệt hại nhiều nhất do biến đổi khí hậu gây ra;các quốc gia khác đó là: Bangladesh, Myanma, Honduras, Nicaragoa, Haiti,
Ấn Độ, Cộng hòa Đôminica, Philippines và Trung Quốc Theo kết quảnghiên cứu và dự báo của Uỷ ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu của Liênhiệp quốc (IPPC) và Ngân hàng Thế giới thì trong vòng 100 năm tới, nướcbiển sẽ dâng 1m, nhiệt độ sẽ tăng thêm 20C Nếu nước biển dâng cao 1m thìvùng đồng bằng sông Cửu Long sẽ có 1,5 -2 triệu ha đất nông nghiệp bị ngậpnước; còn ở vùng đồng bằng sông Hồng sẽ có 1.668 km2 đất bị ngập, trong
đó có khoảng 0,3-0,5 triệu ha đất chủ yếu là đất lúa bị ngập Sự biến đổi khíhậu ở nước ta cũng làm gia tăng thiên tai khiến năng suất cây trồng giảm, ướctính nếu tăng thêm 10C thì năng suất lúa giảm 10% [20]
Trước những biến đổi nghiêm trọng đó, trồng các giống lúa chống chịutốt với mức nhiễm mặn cao sẽ là giải pháp để khắc phục các hiện tượng trên.Các biện pháp như xây dựng công trình thủy lợi bao đê ngăn mặn, hay bóncác loại phân hữu cơ vào đất (bón vôi, thạch cao để cải thiện cấu trúc đất, càysâu cải thiện tính thoát nước tốt nhằm giảm đóng váng trên mặt đất) thườngtốn kém và hiệu quả không cao
Nhiều giống lúa chống chịu mặn như OM732, OM861,OM1314, OM
1490, OM2031, OM1314, OM576, IR42, OM344, OM924, Trắng Điệp,Móng Chim Rơi, Móng Chim, Nếp Áo Già, Nếp Bờ Giếng, Nàng Quốc Đỏ,Rồng Xanh, Đốc Phụng, Nhỏ Đỏ, Tám Vuốt, TD2, CM1, CM5 M6, MT6,MT163, BM9855, BM9820, BM9830.v.v đã được triển khai ở vùng đồngbằng Sông Cửu Long và Sông Hồng [2], [3], [9], [8]
Trang 37
-Co đỏ, Bảy Dảnh, Một Bụi Giống FRG67, có nguồn gốc từ Pakistan chonăng suất cao, chống ch [8].
Diện tích đất mặn nhiều và tập trung nhất ở nước ta là đồng bằng sôngCửu Long, vào khoảng 0,7 triệu ha [4] Các nhà chọn giống lúa Viện lúađồng bằng sông Cửu Long đã đánh giá 418 giống lúa địa phương trong điềukiện mặn với độ dẫn điện EC: 6 – 12 dS/m đã thu được 44 mẫu giống lúachống chịu tốt, trong đó có các giống điển hình: Nàng co đỏ, Sóc nâu, Đốc
đỏ, Đốc phụng, Trái mây, Cà đung trắng Đó là những mẫu giống cho genmục tiêu để cải tiến giống lúa chịu mặn có hiệu quả [5]
Nghiên cứu của Trường Đại học Cần Thơ (1997) cho thấy, ở nồng độmuối EC = 10dS/
: Nếp Áo Già, Trắng Điệp, Móng Chim, Móng Chim Rơi và Nếp
Bờ Giếng [6] Theo Ngô Đình Thức (2006) đã 172 giống lúa mùađịa phương và cao sản ở giai đoạn nẩy mầm với 1,5% NaCl và giai đoạn mạvới EC = 12dS/m cho thấy có 8 giống lúa mùa địa phương chống chịu mặncấp 3, tương đương với giống Pokkali là Nàng Quốc Đỏ, Canh Nông Lùn,Rồng Xanh, Đốc Phụng, Nhỏ Đỏ, Tám Vuốt, Trắng Điệp, TD2 Hai giống lúatrung mùa chống chịu tốt với mặn tương đương với giống Pokkali là ThầnNông Đỏ và OM1352-5 [9]
Trang 38gây đột biến nguồn Coban (Co 60) đã tạo ra những biến dị có lợi cho chọngiống Các giống lúa CM1, CM5, là những giống tạo ra cho vùng mặn, kếthợp được những đặc tính chống chịu mặn, kháng đổ ngã, kháng bệnh và chonăng suất cao [1].
Tuy nhiên phần lớn các giống lúa có khả năng chịu mặn tốt thì năng suấtlại thấp, tính thích nghi kém Do đó, hướng lai tạo tập trung vào chuyển genchống chịu mặn ở giống lúa chịu mặn tốt và một số giống lúa mang đặc tính
ưu việt về năng suất, chất lượng đang được phát triển Thông thường phảimất đến 3 - 4 năm lai tạo để chuyển gen Ngoài ra, một khó khăn thường gặptrong lai tạo giống mới là đôi khi có mối liên kết khá chặt chẽ giữa tính trạngchống chịu mặn với các tính trạng xấu, không mong muốn thường được laichuyển vào các con lai cùng lúc Các gen điều khiển tính trạng không mongmuốn này ảnh hưởng xấu đến biểu hiện của con lai Do đó lai tạo tính trạngchống chịu mặn có thể kéo dài đến 10 – 15 năm để phát triển một giống lúamới [12] Vì vậy, phương pháp lai tạo truyền thống thường khó, mất nhiềuthời gian và không hiệu quả
Năm 2000, Vương Đình Tuấn và cs đãxác định được 3 chỉ thị RFLP đó là: R1928, R674 và G257 liên kết với cácQTL điều khiển tính chịu mặn trên các nhiễm sắc thể số 1, 6 và 11[10] Bùi