1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

“Sử dụng biện pháp trực quan trong dạy học phân môn kể chuyện ở lớp 4”

65 340 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 115,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một giáo viên Tiểu họctrong tương lai tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Sử dụng biện pháp trực quantrong dạy học phân môn Kể chuyện ở lớp 4” với hy vọng kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chúng ta đang sống trong những năm đầu của thế kỉ 21, thế kỉ của nềnvăn minh trí tuệ và sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ và thôngtin cùng với sự vươn lên nhanh chóng của các cường quốc.Trong khi đó ViệtNam chúng ta vẫn xếp vào những nước nghèo và chậm phát triển mặc dùchúng ta có đầy đủ những điều kiện cần thiết để vươn lên.Vấn đề đặt ra làphải đào tạo ra một thế hệ người lao động mới có đủ trình độ , năng lực vàphẩm chất để có thể sử dụng triệt để những nguồn lực của đất nước – vai tròcủa giáo dục là đặc biệt quan trọng, đây chính là nguồn động lực để thúc đẩy

sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.Vì vậy, cần đầu tư cho giáo dục mộtcách toàn diện, đúng mức Trước tiên là bậc Giáo dục Tiểu học vì đây là bậchọc đầu tiên, nền tảng, các em sẽ là người lao động trong thế kỉ mới , sẽ lànhững người quyết định việc đất nước ta sánh vai cùng các cường quốc trênthế giới

Để các em có thể trở thành chủ nhân thực sự của đất nước thì ngay từbậc Tiểu học, các em phải được đào tạo một cách cơ bản tạo cơ sở nền móngvững chắc cho sự phát triển toàn diện của một con người Lứa tuổi học sinhTiểu học có những đặc điểm tâm sinh lý riêng rất hồn nhiên, ngây thơ, ham

Trang 2

thích khám phá những điều mới lạ, hấp dẫn Đó là những mầm non khỏemạnh tràn đầy nhựa sống sẽ trở thành người lao động xã hội chủ nghĩa trongtương lai Chính vì lý do trên giáo dục tiểu học ngày càng được đổi mới saocho phù hợp với tầm nhận thức và tâm sinh lí của trẻ.

Hiện nay, giáo dục đã có nhiều đổi mới mang tính đột phá nhằm pháthuy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.Thầy trở thành người chỉđạo, hướng dẫn, học sinh chủ động, tích cực chiếm lĩnh, tự tìm ra tri thức.Đây là phương pháp dạy học tích cực và đang được sử dụng thành công trongtrường học góp phần nâng cao chất lượng tiếp thu bài giảng của học sinh.Bên cạnh đó, con đường nhận thức chân lí khách quan của học sinhTiểu học cũng chính là con đường nhận thức chung của loài người, đó là từtrực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thựctiễn Học sinh tiếp thu bài giảng qua các giác quan :thính giác, thị giác, vịgiác, khứu giác, xúc giác Vì vậy, cần sử dụng hình vẽ, tranh ảnh, vật mẫu,băng ghi âm, ghi hình…hỗ trợ cho bài giảng Đó là những phương tiện trựcquan giúp cho các em có thể tiếp thu được bài học nhanh nhất và dễ dàngnhất

Vấn đề trực quan hiện nay được giáo viên rất quan tâm và đang được

sử dụng khá phong phú trong các bài dạy Tuy nhiên đồ dùng trực quan chưađược sử dụng một cách có hiệu quả và triệt để Là một giáo viên Tiểu họctrong tương lai tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Sử dụng biện pháp trực quantrong dạy học phân môn Kể chuyện ở lớp 4” với hy vọng kết quả nghiên cứu

sẽ giúp cho tôi và các đồng nghiệp của tôi sau này sử dụng đồ dùng trực quan

có hiệu quả cao và đúng mức độ hơn Ở Tiếng Việt lớp 4, phân môn Kểchuyện đã được tách riêng vói phân môn Tập đọc, vì thế giờ Kể chuyện giúphọc sinh củng cố lại nội dung của các chủ điểm, phát triển vốn từ và rènkỹ

Trang 3

năng kể chuyện sáng tạo Do đó đi sâu vào tìm hiểu nghiên cứu vấn đề trực quan trong phân môn Kể Chuyện ở khối lớp 4 là vô cùng cần thiết.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề trực quan đã được rất nhiều nhà nghiên cứu giáo dục quan tâm

và đi sâu nghiên cứu các khía cạnh khác nhau Đặc biệt đã có nhiều tài liệu cógiá trị được công bố

Về mặt lí luận có tác giả “Phan Trọng Ngọ, Dương Triệu Hoa, LêTràng Địch”, trong cuốn “Vấn đề trực quan trong dạy học” Ngoài ra còn rấtnhiều tác giả khác quan tâm đến vấn đề này

“Xu hướng phát triển của hệ thống phương tiện kỹ thuật với việc đổi mới phương pháp dạy học”

Trần Đức VượngThông tin Khoa học giáo dục số 106/2004

“Vấn đề tổ chức xây dựng và sử dụng phần mềm dạy học ở bậc Tiểu học” Đào Thái Lai

Tác giả Đàm Hồng Quỳnh đã cho ra đời hai cuốn sách “Hướng dẫn sử

dụng và tự làm thiết bị dạy học môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học” Nxb Giáo

dục năm 1999 và “ Hướng dẫn sử dụng thiết bị dạy học môn Tiếng Việt ở lớp

1” Tác giả nêu lên cơ sở khoa học và thực tiễn trong sử dụng và tự làm thiết

bị dạy học, tạo ra khả năng tối ưu trong việc trình bày vấn đề một cách sâu sắc.Như vậy, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu, các bài viết về vấn

đề trực quan ở nhiều khía cạnh và mức độ khác nhau và đã chỉ ra được tính ưuviệt của trực quan đối với dạy học ở Tiểu học Trong phạm vi của khóa luận

và thời gian cho phép tôi chỉ tìm hiểu “Sử dụng biện pháp trực quan trong dạyhọc phân môn Kể chuyện ở lớp 4”, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đồ dùngtrực quan trong dạy học phân môn Kể chuyện ở lớp 4

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Trang 4

Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động dạy học sử dụng đồ dùng trực quan trong phân môn Kể chuyện phương tiện trực quan đó

Nhiệm vụ nghiên cứu

Khóa luận này tôi đi vào giải quyết những nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề trực quan trong dạy học phân môn Kể chuyện ở lớp 4

- Tìm hiểu đồ dùng trực quan trong dạy học phân môn Kể chuyện ở lớp 4

- Hướng dẫn sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học phân môn Kể chuyện 4

- Thể nghiệm một số giáo án

5 Giả thuyết khoa học

Nếu nghiên cứu thành công khóa luận này sẽ góp phần giúp cho cácgiáo viên biết cách sử dụng hợp lý các đồ dùng trực quan để đạt hiệu quả vàgóp phần nâng cao chất lượng giáo dục

6 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

+ Phương pháp tổng hợp lý luận

Trang 5

+ Phương pháp điều tra, thống kê, phân loại, tổng hợp.

7 Dự kiến kết cấu khóa luận Khóa luận gồm 3 phần:

Phần mở đầu Phần nội dung: Gồm 3 chương.

Chương 1: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn của việc sử dụng biện pháp trựcquan trong dạy học phân môn Kể chuyện ở lớp 4

Chương 2: Hướng dẫn sử dụng một số đồ dùng trực quan trong dạy học phân môn Kể chuyện ở lớp 4

Chương 3: Thể nghiệm

Phần kết luận Phụ lục

Tài liệu tham khảo

Trang 6

NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG BIỆN PHÁP TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC

PHÂN MÔN KỂ CHUYỆN Ở LỚP 4

Cơ sở lý luận về trực quan và phương tiện trực quan trong dạy học

Các khái niệm về trực quan

Theo từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2004

- Trực quan là những vật dụng cụ thể hay ngôn ngữ cử chỉ làm cho họcsinh có được những hình ảnh cụ thể về những điều được học

- Phương tiện trực quan là những đồ dùng trong dạy học để cho họcsinh quan sát tiếp thu bài học đạt được mục đích dạy học

- Đồ dùng dạy học được hiểu là những dụng cụ trực quan để giáo viên

và học sinh thực hiện quá trình dạy học hay những phương tiện và đồ dùngphi kĩ thuật

- Thiết bị dạy học là các phương tiện kĩ thuật và các đồ vật có tính chấtvật lý là kim khí, máy móc… gọi là thiết bị dạy học (PGS, TS Đặng ThànhHưng)

Trước kia nói đến đồ dùng trực quan là nói đến các đồ dùng quen thuộcnhư tranh ảnh, vật thật, mô hình bản đồ, biểu bảng… Trong đổi mới giáodục hiện nay có thêm nhiều đồ dùng trực quan mang tính chất hiện đại như:Máy chiếu, máy vi tính, đĩa mềm…… Người ta dùng cụm từ trực quan là tên

gọi chung trong đó bao gồm :các đồ dùng trực quan, thiết bị dạy học, phương

tiện trực quan.

Quá trình dạy học gồm hoạt động dạy và hoạt động học, cũng như bất

cứ quá trình sản xuất nào nó cũng cần những phương tiện nhất định Trong

Trang 7

giáo dục có nhiều phương tiện dạy học khác nhau Tuy vậy trong đề tài nàytôi chỉ nghiên cứu về việc sử dụng các phương tiện trực quan theo quan điểmhiện đại thể hiện trong định nghĩa sau:

Trực quan theo đúng nghĩa của nó không đơn giản chỉ là quan sát sự vật bằng các giác quan mà là hành động tác động lên sự vật làm biến đổi các dấu hiệu bề ngoài của chúng, làm cái bản chất, các mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của chúng được bộc lộ, được phơi bày một cách cảm tính mà nếu không có những tác động đó thì chúng mãi là bí ẩn đối với con người.

Các loại hình đồ dùng trực quan thường được sử dụng trong dạy học phân môn Kể chuyện

- Tranh: tranh là những tác phẩm hội hoạ phản ánh hiện thực bằngđường nét, hình mảng và màu sắc

- Ảnh: ảnh là những tác phẩm nghệ thuật ghi lại bằng khí cụ quang học(như máy ảnh) hình ảnh người, vật, phong cảnh sau đó in, phóng trên giấyảnh

- Bản đồ: bản đồ là sự thể hiện thu nhỏ quy ước của bề mặt trái đất lênmặt phẳng, xây dựng trên cơ sở toán học, phản ánh sự phân bố,trạng thái vàmối quan hệ tương quan của các hiện tượng tự nhiên và xã hội loài người

- Mô hình: mô hình là những vật cùng hình dạng, có thể thu nhỏ vàphóng to nhằm mô phỏng hình dạng, cấu tạo, hoạt động của vật gốc, để nhằmnghiên cứu, học tập

- Vật mẫu: vật mẫu là những vật sẵn có trong tự nhiên, trong đời sống

xã hội được dùng nguyên dạng (con cá, con ve, củ gừng, múi bưởi… ) hoặc

đã được xử lý (mẫu ngâm, mẫu nhồi, mẫu ép khô… )

- Băng ghi âm: băng ghi âm là loại băng mềm bằng chất dẻo có phủmột lớp mỏng chất từ tính, ghi lại âm thanh (lời nói, ca nhạc, tiếng động…)vàphát lại nội dung đó qua máy ghi âm

Trang 8

- Băng ghi hình: băng ghi hình là loại băng mềm bằng chất dẻo có phủmột lớp mỏng chất từ tính, ghi lại đồng thời hình ảnh và âm thanh của các sự vật,hiện tượng trong thiên nhiên, trong đời sống xã hội và phát lại nội dung đó quamáy thu hình (ti vi).

- Phim đèn chiếu: phim đèn chiếu là loại hình phim ghi hình trên phimbằng phương pháp chụp ảnh (trên phim dương bản) hoặc vẽ, viết trực tiếp (trênbản trong, trên giấy bóng kính, giấy can,… ) được chiếu lên màn ảnh hoặc quansát trực tiếp bằng cách nhìn qua ống nhòm

- Ngoài ra trong phân môn Kể chuyện còn sử dụng một loại hình trựcquan được dùng phổ biến từ bậc Mẫu giáo, đó là trực quan quy ước Trực quanquy ước được hiểu là việc giáo viên đưa ra bất kì một vật thể nào đó và hướngdẫn HS tưởng tượng ra một sự vật tương ứng có trong truyện kể

Vai trò của đồ dùng trực quan trong dạy học

Đồ dùng trực quan giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong việc nâng caochất lượng dạy học

Đẩy mạnh hoạt động nhận thức của học sinh

- Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học giúp học sinh nhận thức mộtcách nhanh nhất những hành động chuyển ngôn ngữ bên ngoài thành ngôn ngữbên trong, là tư duy từ chỗ chưa biết đến hiểu biết, đến kĩ năng kỹ xảo và vậndụng vào thực tiễn

- Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học giúp học sinh biết cách tổchức có kế hoạch, có suy nghĩ, biết tư duy một cách độc lập linh hoạt, biết ghinhớ một cách khoa học, hợp lý, biết tưởng tượng một cách chính xác, đúnghướng

Giúp học sinh tự khám phá hoàn chỉnh kiến thức

- Theo hướng dạy học đổi mới, lấy học sinh làm trung tâm, học sinh tựkhám phá chiếm lĩnh tri thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên thì đồ dùng trựcquan trở nên rất đắc lực

Trang 9

- Các đồ dùng trực quan làm cụ thể hoá, chính xác hoá những nội dungkiến thức ở trong sách giáo khoa Thông qua tranh ảnh minh hoạ, học sinh có thể

tự hiểu một cách cụ thể về các sự vật, nhân vật, sự kiện được mô tả trong bài học.Nhiều đồ dùng trực quan nhất là băng ghi âm, ghi hình, máy chiếu trực tiếp trìnhbày nội dung kiến thức cơ bản của đối tượng nghiên cứu dưới dạng hệ thống hoá,khái quát hoá, đơn giản hoá hiện thực phức tạp muôn màu muôn vẻ của đời sống

tự nhiên và xã hội tạo điều kiện cho các em biết phân tích, so sánh, suy nghĩ độclập để tìm ra tri thức

Phát triển ngôn ngữ cho học sinh

Phân môn Kể chuyện có nhiệm vụ mở rộng và tích cực hoá vốn từ ngữ,phát triển tư duy và rèn kỹ năng nói cho học sinh Phân môn Kể chuyện có nhiệm

vụ đáp ứng nhu cầu được nghe kể chuyện của học sinh, phát triển ngôn ngữ, đặcbiệt là kĩ năng nghe – nói Do đó trong quá trình sử dụng đồ dùng trực quan, giáoviên cần chú ý rèn cho học sinh năng lực quan sát, năng lực ghi nhớ, tưởngtượng, phân tích, tổng hợp để từ việc quan sát đó học sinh kể được câu chuyệnbằng ngôn ngữ của mình một cách sáng tạo, đồng thời rèn cho học sinh kĩ năngnói trước đông người dưới dạng độc thoại thành đoạn bài theo phong cách nghệthuật

Giáo dục nhân cách cho học sinh

Phương tiện trực quan trong phân môn Kể chuyện có tác động trực tiếp vàmạnh mẽ đến sự hình thành nhân cách của học sinh Tiểu học thông qua hệ thốngtranh ảnh, vật thật, vật mẫu, nhất là qua băng ghi âm, ghi hình… Các em đượctrực tiếp nhìn thấy, nghe thấy những câu chuyện kể hay, chuẩn xác với giọngtrầm bổng, tha thiết giúp các em cảm nhận được sự hấp dẫn, cảm động, giàu ýnghĩa của câu chuyện, giúp các em rút ra được những bài học nhận thức thấmthía

Như vậy sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học phân môn Kểchuyện góp phần bồi dưỡng cho học sinh về nhận thức, tình cảm, đạo đức hình

Trang 10

Kích thích hứng thú nhận thức của học sinh

Như ta đã biết, hứng thú là trạng thái được đặc trưng bởi khát vọng họcthật sự nỗ lực, tự nguyện trong quá trình nghiên cứu, khám phá, nắm vững trithức Hứng thú học tập là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nhậnthức của học sinh Vì thế, để kích thích hứng thú học sinh cần phải sử dụng các

đồ dùng trực quan trong dạy học, giúp các em có hứng thú khám phá tri thức từnhững đồ dùng trực quan

Tuy vậy, khi sử dụng đồ dùng trực quan, giáo viên phải có những địnhhướng và gợi mở rõ ràng để các em tự tìm hiểu, phát hiện và giải quyết vấn đề tạokhả năng tích cực hoá hoạt động của học sinh

Hợp lý hoá quá trình dạy học của giáo viên và học sinh

Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học góp phần hợp lý hoá quá trìnhdạy của giáo viên vì nhiều hoạt động dạy học đã được bản thân đồ dùng trực quanthực hiện Ví dụ như việc đọc mẫu trong giờ Kể chuyện đã được thay thế bằngmáy ghi âm, băng ghi hình, CD Việc sử dụng đồ dùng trực quan giúp giảm nhẹcông việc của giáo viên, để tập trung hướng dẫn học sinh hành động Ngoài raviệc sử dụng đồ dùng trực quan còn hợp lý hoá quá trình học của học sinh vì thayviệc nghe giáo viên hướng dẫn để ghi nhớ nội dung câu chuyện, học sinh chuyểnsang hành động với đồ dùng trực quan như quan sát tranh ảnh, vật thật để nắmđược nội dung Từ đó các em biết kể lại chuyện theo ngôn ngữ của mình, việchọc bớt căng thẳng mệt mỏi, tăng cường hứng thú, giúp cho quá trình học tậphiệu quả hơn

Chức năng của đồ dùng trực quan trong dạy học phân môn Kể chuyện

Đồ dùng trực quan là công cụ đắc lực để đạt được mục đích dạy học trongphân môn Kể chuyện Đồ dùng trực quan thể hiện một số chức năng sau:

+ Chức năng minh hoạ: Chúng ta đều biết rằng vốn sống, vốn hiểu biết, vốn từ ngữ của học sinh Tiểu học có những hạn chế nhất định Trong khi đó,

Trang 11

những câu chuyện kể thường đề cập tới những sự vật, hiện tượng, sự việc xa lạvới vốn sống, vốn từ ngữ của các em, nếu không được giảng giải rõ ràng sẽ gâytrở ngại cho việc hiểu thấu đáo nội dung câu chuyện, sự tưởng tượng của học sinh

dễ bị sai lệch, chệch hướng Trong những trường hợp này, giáo viên sử dụng đồdùng trực quan sẽ có tác dụng minh hoạ cho lời giảng giải, lời kể của giáo viên,

bổ sung thêm những thông tin, hình ảnh mà giáo viên không thể trình bày được.+ Chức năng thông tin: đồ dùng trực quan đóng vai trò chính trong việccung cấp những nội dung thông tin để học sinh học tập, thực hành Chẳng hạn vớikiểu bài nghe- kể lại câu chuyện vừa nghe thầy(cô) kể trên lớp thì câu chuyệnđược trình bày thành tranh kèm lời dẫn giải ngắn gọn trong sách giáo khoa sẽgiúp các em nhanh chóng nắm được nội dung chính của câu chuyện để từ đó các

em biết dùng ngôn ngữ của mình kể lại câu chuyện đầy đủ, hấp dẫn

+ Chức năng định hướng: những đồ dùng trực quan như tranh, ảnh minhhoạ, máy ghi âm… chính là những tài liệu vật chất có tính tiền đề gợi mở, địnhhướng, tác động vào giác quan của học sinh, để lại một ấn tưởng rất sâu đậm Từcái nhìn cụ thể trên tranh,ảnh minh hoạ học sinh lại vẽ ra những bức tranh minhhoạ trong đầu mình- tranh ảnh minh hoạ thực sự đã góp phần kích thích, địnhhướng cho tưởng tượng của các em bay bổng, bay xa

+ Chức năng bồi dưỡng: bồi dưỡng vốn sống, tình cảm, thẩm mỹ, năng lựctrí tuệ và tư tưởng cho học sinh thông qua đồ dùng trực quan

Qua đó chúng ta thấy rằng đồ dùng trực quan có vị trí vô cùng quan trọngtrong dạy học phân môn Kể chuyện ở Tiểu học nói chung và ở lớp 4 nói riêng Sửdụng đồ dùng trực quan giúp cho giờ dạy đạt hiệu quả cao hơn Tuy vậy, cũngnên tuỳ từng câu chuyện cụ thể mà lựa chọn loại hình trực quan cho phù hợp

Trang 12

Cơ sở giáo dục học

Quan niệm trực quan trong dạy học đã có từ ngàn xưa và đạt đến điểm đỉnhtrong lý luận dạy học của các nhà sư phạm J A Cômenxky (1592 – 1670), JJ.Rutxoo (1712 – 1788), Petxtalozi (1746- 1827), KĐ Usinxki (1824 – 1780)

… vv…

Theo quan niệm thông thường, trực quan là chủ thể sử dụng một hay nhiềugiác quan để quan sát từ đó tạo ra các hình ảnh bên ngoài của đối tượng nhậnthức Quan niệm này được hình thành trên hai cơ sở chủ yếu đó là cơ sở triết học

và xã hội Về mặt xã hội, nhằm khắc phục lối dạy học nhồi sọ đang ngự trị trongcác trường học thời bấy giờ Về triết học, phương pháp dạy học trực quan đượcdựa trên thuyết “ duy cảm” học thuyết đề cao vai trò của cảm giác trong quá trìnhnhận thức

Mặc dù mang tính duy cảm nhưng cách hiểu trực quan và phương pháptrực quan theo quan niệm truyền thống là một bước tiến bộ so với dạy học kinhviện trước đây Theo đó, học tập được bắt đầu từ sự quan sát hiện tượng bênngoài Thông qua quan sát, học sinh sẽ thu nhận được những bằng chứng về sựvật hiện tượng, tạo ra niềm tin đối với tri thức được truyền thụ, chống lại lối dạyhọc giáo điều theo kiểu nhồi nhét kiến thức cho học sinh

Tuy vậy trong thời đại hiện nay, lối dạy học theo kiểu truyền thống khôngcòn phù hợp nữa và quan niệm về trực quan cũng thay đổi theo quan niệm hiệnđại: trực quan theo đúng nghĩa của nó không đơn giản chỉ là quan sát các sự vậtbằng các giác quan, mà là hành động tác động lên sự vật, làm biến đổi các dấuhiệu bề ngoài của chúng làm cho các bản chất, các mối liên hệ, quan hệ có tínhquy luật của chúng được bộc lộ, được phơi bày một cách cảm tính mà nếu không

có sự tác động đó thì chúng còn mãi bí ẩn đối với nhận thức con người

Trang 13

1.1.5 Cơ sở tâm lý học

Giai đoạn học sinh Tiểu học chủ yếu là từ 6 đến 11 tuổi, đây là giai đoạn

có nhiều biến đổi quan trọng về tâm lý, sinh lý Ở độ tuổi này năng lực chú ýthấp, trí nhớ kém bền vững chủ yếu là tư duy cụ thể phát triển, tư duy trừu tượngbước đầu hình thành và phát triển nhưng còn yếu Trong giai đoạn này học sinhluôn hiếu động, thích các đồ chơi mới lạ, hấp dẫn với nhiều màu sắc sặc sỡ nhưnglại rất nhanh chán Đối với trẻ những điều mới lạ thường kích thích các em tò

mò, muốn tìm hiểu khám phá Nhận thức của các em vẫn mang tính cảm tính đi

từ cái cụ thể đến cái khái quát, từ tư duy cụ thể đến tư duy trừu tượng Do vậyphương pháp dạy học trực quan thường được các thầy cô sử dụng trong nhiều tiếthọc của bậc Tiểu học Trên cơ sở tìm hiểu tâm lý học sinh Tiểu học, có thể chiahọc sinh Tiểu học thành 2 nhóm lớp:

+ Nhóm lớp 1, 2, 3: Bao gồm các em từ 6 đến 9 tuổi

+ Nhóm lớp 4, 5 : Bao gồm các em từ 9 đến 11 tuổi

* Nhóm lớp 4,5: Ở giai đoạn này, tư duy cụ thể vẫn tiếp tục phát triển, tưduy trừu tượng đang dần dần hình thành và chiếm ưu thế, nghĩa là học sinh cókhả năng thực hiện các thao tác trí tuệ với ngôn ngữ và các loại kí hiệu của cácmôn học để tiếp thu tri thức Các em đã biết quan sát tìm ra các dấu hiệu đặctrưng bản chất của các sự vật hiện tượng, biết phân biệt chi tiết các dấu hiệu để điđến so sánh tổng hợp, có khả năng tri giác các sự vật như một chỉnh thể thốngnhất, có mục đích và phương hướng rõ ràng Khi khái quát hoá, các em đã biếtdựa vào dấu hiệu bản chất bên trong để tìm ra khái niệm, quy luật Các em đã biếtquan sát các sự vật hiện tượng theo diễn biến, vận động, từ một hiện tượng các

em có thể biết nhiều nguyên nhân Bước đầu các em có khả năng lập luận trongphán đoán của mình, không chỉ xác lập mối quan hệ giữa nguyên nhân đến kếtquả mà còn xác lập được mối quan hệ từ kết quả đến nguyên nhân

Trang 14

Dạy học trực quan phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi học sinhTiểu học và phù hợp với phương pháp dạy học tích cực hiện nay Vì vậy, giáoviên cần phải quan tâm đúng mức đến phương pháp dạy học trực quan, sử dụngphương tiện trực quan một cách hợp lý, phù hợp với tâm lý của học sinh Tiểu họctrong các giai đoạn khác nhau.

Cơ sở thực tiễn của việc sử dụng biện pháp trực quan trong dạy học phân môn Kể chuyện ở lớp 4

Phân môn Kể chuyện có tác dụng về nhiều mặt như bồi dưỡng tâm hồn,trau dồi vốn sống, vốn từ ngữ, vốn văn học, phát triển óc tưởng tượng, năng lựctrí tuệ cho học sinh (rèn luyện trí nhớ, óc phán đoán, óc suy luận logic….) Ởlứa tuổi Tiểu học nghe kể chuyện là một nhu cầu tất yếu, không thể thiếu được.Việc sử dụng các biện pháp trực quan trong phân môn Kể chuyện khôngthể không đề cập tới các phương tiện trực quan khác nhau như tranh, ảnh, phimđèn chiếu, băng ghi âm, băng ghi hình,… đôi khi còn dùng những vật thật đểminh hoạ cho một số tình tiết có liên quan tới nội dung câu chuyện Ở nhiềunước trên thế giới, giờ kể chuyện được thực hiện trong những phòng chuyên biệt

bố trí sẵn các phương tiện cốt yếu như phông màn, đạo cụ, quần áo đóng hoạtcảnh, con rối, máy ghi âm, máy chiếu phim đèn chiếu, đầu máy video,… để tạo

ra môi trường phù hợp với nội dung từng câu chuyện Còn ở nước ta, do chưa có

đủ điều kiện về cơ sở vật chất nên việc xây dựng những phòng chuyên biệt dànhriêng cho tiết kể chuyện là chưa có Nhìn chung phân môn Kể chuyện hiện nay

đã được chú trọng hơn so với trước đây Tuy nhiên, thực tế giảng dạy trong cáctrường Tiểu học ở nước ta cho thấy sự chuẩn bị của giáo viên chưa thực sự chuđáo và sự tiếp nhận của học sinh còn yếu trong phân môn này

Trang 15

Khi thực tập tại trường Tiểu học Lưu Quý An, Phúc yên, Vĩnh Phúc – mộtngôi trường được thành lập vào tháng 10/1998, cho tới nay trường đã đạt được rấtnhiều thành tích về học tập cũng như các hoạt động khác Đội ngũ cán bộ và giáoviên của trường đều đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn, số lượng học sinh củatrường ngày càng đông Tuy nhiên cơ sở vật chất của trường vẫn chưa đáp ứngđược số phòng học 2 buổi/ngày cho tất cả các lớp Nhà trường chưa có đủ cácphòng học chức năng theo quy định Vì vậy việc học sinh được tiếp xúc với cácthiết bị dạy học hiện đại còn hạn chế, việc sử dụng các phương tiện trực quantrong dạy học cũng không được chú trọng nhiều Khi dự giờ một số tiết giảngdạy phân môn Kể chuyện ở khối lớp 4 tôi có thu được một số kết quả sau:

Sự chuẩn bị của giáo viên

Một thực tế cho thấy giáo viên đang trực tiếp giảng dạy ở lớp 4 nắm rấtchắc về quy trình giảng dạy của ba kiểu bài kể chuyện lớp 4 Tất cả các giáo viênđều có sự chuẩn bị chu đáo về giáo án giảng dạy và được nhà trường trang bị đầy

đủ về sách giáo khoa, sách giáo viên Tuy nhiên, giáo viên chỉ chuẩn bị trên cơ sở

lý thuyết, giáo viên nắm rõ quy trình, nắm rõ nội dung câu chuyện nhưng một sốgiáo viên không hoàn toàn thuộc truyện mà khi kể phải cầm văn bản truyện, vàđặc biệt sự chuẩn bị về phương tiện trực quan không được chu đáo Mặc dù ở lớp

4 kiểu bài kể chuyện đã nghe, đã đọc và kiểu bài kể chuyện đã chứng kiến hoặctham gia ít sử dụng tới các phương tiên trực quan như tranh, ảnh minh hoạ, máyghi âm, máy ghi hình… Tuy nhiên kiểu bài kể chuyện đã nghe thầy(cô) kể trênlớp, do được trình bày thành tranh kèm lời dẫn giải ngắn gọn trong sách giáokhoa, nên giáo viên chỉ dựa vào những bức tranh trong sách giáo khoa làmphương tiện trực quan khi yêu cầu học sinh quan sát hình ảnh trong sách chứ rất ítthầy(cô) phóng to hình ảnh này Hiện nay việc ứng dụng công nghệ thông tin vàotrong giảng dạy đã

Trang 16

được khai thác rất nhiều và việc lựa chọn các bài giáo án điện tử để giảng dạyphân môn Kể chuyện cũng được áp dụng nhiều bởi không những học sinh sẽđược quan sát hình ảnh động thay vì hình ảnh tĩnh của tranh, ảnh minh hoạ màcòn có sự kết hợp với các yếu tố về âm thanh giúp cho bài giảng thêm phần hấpdẫn, lôi cuốn học sinh Tuy nhiên một số giáo viên rất ngại sử dụng bởi sự cầu kì

về soạn giảng và cũng vì ở một số trường chưa được trang bị đầy đủ thiết bịtrình chiếu

Khi thực tập tại trường Tiểu học Lưu Quý An - Phúc Yên - Vĩnh Phúc tôi

có hỏi một số giáo viên đang trực tiếp giảng dạy ở khối lớp 4 về việc sử dụng đồdùng trực quan trong giảng dạy phân môn Kể chuyện thì các giáo viên đều đưa

ra ý kiến cho rằng, việc sử dụng phương tiện trực quan sẽ giúp ích rất nhiều chohọc sinh, giúp học sinh khắc ghi nội dung câu chuyện tốt hơn, sẽ bồi dưỡng trítuệ và óc tưởng tượng của học sinh Tuy nhiên các giáo viên đều phản ánh rằnghiện nay rất ít trường Tiểu học trang bị cho giáo viên đồ dùng trực quan để dạyhọc phân môn Kể chuyện Khi được hỏi về việc sử dụng máy ghi âm đã đượcgiáo viên thu âm trước nội dung câu chuyện ở nhà hoặc sử dụng máy ghi âm thu

âm giọng kể của giáo viên khác cho tiết dạy của mình, các giáo viên cho rằng sửdụng máy ghi âm có rất nhiều ưu điểm như người kể chuyện không chỉ trình bàylại đúng nội dung câu chuyện mà còn trình bày một cách sinh động có ngữ điệu,nhịp điệu của lời thoại, đúng trạng thái tâm lý của nhân vật Hơn nữa, băng ghi

âm kể chuyện còn có tác dụng lôi cuốn, hấp dẫn, kích thích hứng thú học tập củahọc sinh, giúp cho học sinh dễ dàng tiếp nhận được tính diễn cảm của ngôn ngữvăn chương và góp phần làm giảm bớt công việc của giáo viên trên lớp Việc sửdụng băng ghi âm ghi lại giọng của mình hay của giáo viên khác cũng đều có tácdụng tốt Tuy nhiên bên cạnh một số ưu điểm cũng có một số hạn chế vì tốn kém

và chi phí cao, như kinh phí để đầu tư hệ thống loa và tăng âm cho các lớphọc Lớp học

Trang 17

đông, nếu không được trang bị về loa, học sinh dưới cuối lớp sẽ không nghe thấy.Một hạn chế nữa đó là học sinh chỉ nghe câu chuyện chứ không được vừa nghevừa quan sát cử chỉ, điệu bộ của giáo viên, lạm dụng băng ghi âm sẽ dẫn tới tìnhtrạng giáo viên không nhớ câu chuyện.

Từ đó giáo viên cần có sự kết hợp hài hoà, đúng mức loại hình trực quandùng máy ghi âm

Thực tiễn tiếp nhận của học sinh

Qua khảo sát dự giờ ở trường tiểu học Lưu Quý An, chúng tôi nhận thấymột tình trạng chung mà học sinh lớp 4 thường mắc phải trong phân môn Kểchuyện đó là: học sinh thường không nhớ câu chuyện, hay bỏ sót những chi tiếtchính của câu chuyện Kĩ năng kể chuyện của các em còn yếu, các em kể mà chưathuộc truyện, diễn đạt còn lủng củng Đối với kiểu bài kể chuyện được chứngkiến hoặc tham gia thì học sinh chưa biết cách sắp xếp theo trình tự câu chuyện,thời gian diễn ra trong câu chuyện còn lộn xộn, kể chuyện rườm rà, chưa hay Kĩnăng nói của các em chưa rõ ràng, còn ấp úng, nhiều câu cụt Khi nghe giáo viên

kể chuyện, học sinh phân biệt rất tốt giọng của các nhân vật trong truyện, tuynhiên các em chưa biết cách thể hiện giọng kể của các nhân vật, đôi khi còn lẫngiữa giọng của nhân vật này với nhân vật kia

Thực tiễn dạy học kể chuyện ở lớp 4

* Đối với kiểu bài nghe - kể lại câu chuyện vừa nghe thầy, cô kể trên lớp

- Trong dạy học kiểu bài này, giáo viên còn bám quá sát văn bản khi kể,chưa sử dụng câu hỏi gợi ý giúp học sinh đặt lời thuyết minh cho tranh cũng nhưgiúp học sinh kể lại câu chuyện đúng ngữ điệu, giọng kể của nhân vật

* Đối với kiểu bài kể lại câu chuyện đã nghe, đã đọc

Trang 18

- Giáo viên chưa hướng dẫn để học sinh biết sắp xếp lại các ý của câuchuyện mà chỉ gợi ý cho học sinh một số câu chuyện học sinh đã biết, đã đượchọc để học sinh tự kể theo suy nghĩ của mình, kể một cách chung chung những gì

mà học sinh nhớ

* Đối với kiểu bài kể lại câu chuyện đã được chứng kiến hoặc tham gia Vìđây là một kiểu bài kể chuyện tương đối khó nên học sinh thường không biếtbắt đầu kể từ đâu, giáo viên có hướng dẫn học sinh thông qua gợi ý giống nhưsách giáo khoa, tuy nhiên giáo viên chưa giúp các em lập dàn ý một cách chi tiếtcho câu chuyện, chỉ hướng dẫn chung chung Vì vậy các em thường khó khăn

trong kể diễn biến của câu chuyện và thường kể chuyện mộtcách lộn xộn

Trong khi hướng dẫn học sinh kể chuyện, giáo viên thường không sử dụngbất kì loại hình trực quan nào, do đó tiết kể chuyện thuộc kiểu bài này thườngdiễn ra rất khô khan và nhàm chán

Thực tế dự giờ cho thấy phân môn Kể chuyện vẫn chưa thực sự được chútrọng nhiều và việc đầu tư về phương tiện dạy học cũng như sử dụng phương tiệndạy học vẫn còn rất hạn chế ở các trường Tiểu học hiện nay

Tóm lại, giáo dục và đào tạo đang là vấn đề thách thức của toàn cầu Hiệnnay các quốc qia trên thế giới đang nỗ lực đổi mới nội dung và phương pháp giáodục – đào tạo với nhiều mô hình, biện pháp khác nhau nhằm mở rộng quy mô,nâng cao tính tích cực trong dạy học một cách toàn diện, dạy làm sao để giúpngười học hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động.Muốn vậy cần phải nâng cao, cải tiến đồng bộ các thành tố liên quan trong đóphương tiện dạy học là một thành tố quan trọng

Nói chung, trong quá trình dạy học các phương tiện dạy học sẽ giúp giảmnhẹ công việc của giáo viên và giúp cho học sinh tiếp thu kiến thức một cáchthuận lợi Đặc biệt, trong dạy học ở Tiểu học, với đặc điểm tâm sinh lý,

Trang 19

đặc điểm nhận thức của các em thì việc sử dụng các phương tiện trực quan sẽ gópphần nâng cao tính tích cực, độc lập của học sinh và từ đó nâng cao hiệu quả củaquá trình tiếp thu, lĩnh hội kiến thức và hình thành kĩ năng, kĩ xảo cho các em.Phát huy hết vai trò của đồ dùng trực quan trong dạy học là bước tiến quan trọngcủa sự thành công trong giáo dục.

Trang 20

Chương 2 HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG MỘT SỐ ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN

TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN KỂ CHUYỆN Ở LỚP 4

Để sử dụng có hiệu quả các đồ dùng trực quan trong dạy học phân môn Kểchuyện ở lớp 4, trước hết giáo viên cần nắm được mục tiêu, nhiệm vụ của phânmôn này đồng thời nắm được khái quát về chương trình và nội dung của phânmôn này để từ đó có thể lựa chọn các đồ dùng trực quan phù hợp với từng bài

Chương trình phân môn Kể chuyện ở lớp 4

Mục tiêu của phân môn Kể chuyện ở lớp 4

Phân môn Kể chuyện giúp học sinh:

- Củng cố kĩ năng kể chuyện đã được hình thành và rèn luyện ở các lớp 1,

2, 3 đồng thời hình thành những kĩ năng mới về kể chuyện

- Mở rộng hiểu biết, góp phần hình thành nhân cách con người mới

Nhiệm vụ của phân môn Kể chuyện lớp 4

* Phát triển kĩ năng nghe và nói cho học sinh bao gồm:

về nhân vật và sự kiện trong truyện

- Kĩ năng nói: kể lại một truyện đã đọc hoặc một việc đã làm, tập thay đổingôi khi kể chuyện

* Củng cố mở rộng và tích cực hoá vốn từ ngữ, phát triển tư duy hình tượng và tư duy logic, nâng cao sự cảm nhận về hiện thực đời sống qua nội dung câu chuyện.

Trang 21

* Bồi dưỡng tình cảm tốt đẹp, trau dồi hứng thú đọc và kể chuyện, đem lại niềm vui tuổi thơ trong hoạt động học tập môn Tiếng Việt.

nội dung, chương trình phân môn Kể chuyện lớp 4

Phân môn Kể chuyện ở lớp 4 gồm 3 kiểu bài: kể chuyện đã nghe thầy cô

kể trên lớp; kể chuyện đã nghe, đã đọc; kể chuyện đã được chứng kiến hoặctham gia Với 10 chủ điểm trong chương trình lớp 4, 3 kiểu bài này được thựchiện một cách hợp lý ở các tuần trong mỗi một chủ điểm

Thương người như

5 Kể một câu chuyện mà em đã được nghe, được

đọc về tính trung thực

6 Kể một câu chuyện về lòng tự trọngTrên đôi cánh ước

7 Kể chuyện “ Lời ước dưới trăng”

8 Kể một câu chuyện về những ước mơ đẹp hoặc

những ước mơ viển vông, phi lí

9 Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia: Kể

chuyện về một ước mơ đẹp của em hoặc củabạn bè, người thân

Có chí thì nên 11 Kể chuyện “ Bàn chân kì diệu”

12 Kể chuyện đã nghe, đã đọc: Kể một câu chuyện

về người giàu nghị lực

Trang 22

13 Kể một câu chuyện em được chứng kiến hoặc

trực tiếp tham gia thể hiện tinh thần kiên trì vượt khó

Tiếng sáo diều 14 Kể chuyện “ Búp bê của ai?”

15 Kể chuyện đã nghe, đã đọc: Kể một câu chuyện

có nhân vật là những đồ chơi của trẻ em hoặcnhững con vật gần gũi với em

16 Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia: Kể

một câu chuyện có liên quan đến đồ chơi của

em hoặc của các bạn xung quanh

17 Kể chuyện “ Một phát minh nho nhỏ”

Người ta là hoa đất 19 Kể chuyện “ Bác đánh cá và gã hung thần”

20 Kể chuyện đã nghe, đã đọc: Kể một câu chuyện

về người có tài

21 Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia: Kể

chuyện về một người có khả năng hoặc có sức khoẻ đặc biệt mà em biết

Vẻ đẹp muôn màu 22 Kể chuyện “ Con vịt xấu xí”

23 Kể chuyện đã nghe, đã đọc” Kể một câu chuyện

ca ngợi cái đẹp, phản ánh cuộc đấu tranh giữacái đẹp với cái xấu, cái thiện với cái ác

24 Kể chuyện về việc em hoặc người xung quanh

đã làm gì để giữ gìn xóm làng, đường phố, trường học xanh, sạch, đẹp

Trang 23

31 Kể một câu chuyện về một cuộc du lịch hay

cắm trại mà em được tham giaTình yêu cuộc sống 32 Kể chuyện “ Khát vọng sống”

33 Kể chuyện đã nghe, đã đọc: kể một câu chuyện

về tinh thần lạc quan, yêu đời

34 Kể một câu chuyện về một người vui tính mà

9 trong chủ điểm “ Trên đôi cánh ước mơ”

Nguyên tắc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học

Vấn đề trực quan trong dạy học là vô cùng quan trọng, nhưng nếu không biết cách sử dụng thì đồ dùng trực quan sẽ không được khai thác hết hiệu quả của nó Chính vì vậy việc nghiên cứu và đưa ra các cách để sử dụng các đồ dùng trực quan có hiệu quả là vô cùng cần thiết và phải tuân theo những nguyên tắc nhất định

Sử dụng đồ dùng trực quan phải đáp ứng nhu cầu cần và đủ Cần:

có nghĩa là đáp ứng được sự cần thiết của việc giảng dạy nội dung

kiến thức, nếu thiếu đồ dùng trực quan này thì hiệu quả của tiết dạy sẽ kém đi

Trang 24

Ví dụ: Dạy bài kể chuyện “ Những chú bé không chết” của vích, đề bài yêu cầu : Dựa vào các tranh dưới đây, kể lại từng đoạn của câuchuyện mới được nghe cô giáo (thầy giáo) kể Sách giáo khoa đã vẽ bốn hìnhminh hoạ cho nội dung câu chuyện Song giáo viên cần hướng dẫn học sinh quansát từng bức tranh, phân tích chi tiết của từng bức tranh sau khi đã kể cho họcsinh nghe câu chuyện để từ việc phân tích tranh minh hoạ kết hợp với việc nghegiáo viên kể chuyện, học sinh sẽ nắm rõ được nội dung chính của truyện, nắmđược tình tiết chính của từng bức tranh Từ đó giúp học sinh biết kể lại từng đoạncủa câu chuyện một cách đầy đủ và sáng tạo bằng ngôn ngữ của mình Nếu giáoviên chỉ đơn thuần để học sinh nghe mà không hướng dẫn học sinh dựa vào tranhminh hoạ, hướng dẫn học sinh quan sát, phân tích tranh thì học sinh sẽ rất khónhớ được nội dung của câu chuyện Giáo viên sẽ phải kể đi kể lại nhiều lần câuchuyện đó.

Quy-ra-xkê-Đủ: đủ là có số lượng đồ dùng trực quan cần thiết để hình thành kiến thức.Giáo viên cần xác định rõ mỗi bài học cần bao nhiêu đồ dùng trực quan là đủ, căn

cứ vào nội dung từng bài cụ thể ở từng kiểu bài, căn cứ vào trình độ, tâm lý củalứa tuổi học sinh, căn cứ vào đặc điểm các vùng miền khác nhau và các điều kiệncho phép để lựa chọn các loại hình trực quan cho phù hợp Có như vậy đồ dùngtrực quan mới phát huy được hết tác dụng trong quá trình giảng dạy

Đối với học sinh lớp 4, tư duy cụ thể vẫn tiếp tục phát triển, tư duy trừutượng đang dần dần hình thành và chiếm ưu thế Do đó khi quan sát một bứctranh, bức ảnh các em đã biết tìm ra các dấu hiệu đặc trưng, bản chất của các sựvật hiện tượng, biết phân biệt chi tiết Vì thế, khi sử dụng đồ dùng dạy học giáoviên cần hướng dẫn học sinh biết cách khai thác sâu vào chi tiết quan trọng Cónhư vậy mới phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh

Trang 25

trong chiếm lĩnh tri thức và phát huy được vai trò, tác dụng của đồ dùng trực quan trong dạy học.

Việc trình bày bất kì một đồ dùng dạy học nào, bao giờ cũng kèm theo lờinói của giáo viên Chính lời nói của giáo viên đã định hướng học sinh quan sátvào cái cần thiết, cái bản chất của đối tượng, lời nói của giáo viên và đồ dùng trựcquan trong quá trình dạy học có tác dụng bổ trợ cho nhau rất hữu hiệu Sự phốihợp này thay đổi phụ thuộc vào mục đích cụ thể, vào nội dung bài học, vào chấtlượng của đồ dùng trực quan

Có 4 hình thức phối hợp:

- Học sinh tự rút ra tri thức từ quan sát, thao tác với đối tượng trực quan

- Lời nói của giáo viên giúp cho học sinh hiểu được những mối liên hệgiữa các hiện tượng mà học sinh nghiên cứu, khám phá, nhận biết trong quá trìnhquan sát và tác động vào đồ dùng trực quan

- Tri thức mới, học sinh tiếp thu được từ sự thông báo bằng lời của giáoviên, còn trực quan là nhằm cụ thể hoá hoặc khẳng định các tri thức này

- Giáo viên thông báo mối liên hệ giữa các hiện tượng, rút ra những kếtluận từ sự quan sát của học sinh

Đồ dùng trực quan trong dạy học phân môn Kể chuyện có cách sử dụng vànhững yêu cầu riêng Do đó cần nắm vững vai trò của từng loại hình đồ dùng trựcquan trong từng bài để xác định được phương pháp khai thác hiệu quả nhất

Sử dụng đồ dùng trực quan đúng mục đích

Mỗi tiết học kể chuyện nói chung và mỗi tiết học kể chuyện ở lớp 4 nóiriêng đều đặt ra yêu cầu và mục đích nhất định Mục đích này quy định hoạt độngdạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh, quy định việc lựa chọn và sửdụng đồ dùng trực quan (tranh, ảnh, vật mẫu,… ) Sử dụng đồ dùng trực quanphải bám vào mục đích đã định của bài học Thông thường, khi sử

Trang 26

dụng những đồ dùng dạy học quen thuộc, giáo viên cần khai thác hết các khíacạnh tích cực của nó, tận dụng hết các chức năng của nó để hướng dẫn, địnhhướng học sinh quan sát, nghiên cứu, khám phá đạt tới mục đích truyền thụ tốtnhất nội dung dạy học.

2.2.3 Sử dụng đồ dùng trực quan phải đúng lúc

Đây là nguyên tắc đòi hỏi phải sử dụng đồ dùng dạy học đúng thời điểmcần thiết nhất để giáo viên khai thác truyền thụ kiến thức một cách hợp lý, giúphọc sinh quan sát, tiếp nhận nội dung bài học một cách thuận lợi Mỗi bước lênlớp (kiểm tra bài cũ, dạy bài mới, củng cố ) có những thời điểm sử dụng đồ dùngdạy học khác nhau, nhằm truyền thụ một phần nội dung kiến thức của bài học.Khi đồ dùng dạy học đã được sử dụng xong nên cất đi, trước khi sử dụng một đồdùng dạy học khác, tránh tình trạng đưa đồ dùng dạy học ra hàng loạt cùng mộtlúc làm phân tán sự tập trung chú ý của học sinh, phương hại đến quá trình tiếpthu kiến thức của các em

2.2.4 Sử dụng đồ dùng trực quan đúng chỗ

Mỗi loại đồ dùng trực quan cần được xác định vị trí trình bày ở một nơihợp lý trên lớp, phù hợp với góc nhìn, đảm bảo đủ ánh sáng, mang tính thẩm mỹ,học sinh ngồi ở mọi vị trí đều có thể quan sát dễ dàng Vì vậy cần phải có cácmóc để treo tranh, bảng phụ, cần xác định vị trí đặt bàn để đặt các phương tiện kỹthuật như máy chiếu phim, đèn chiếu, máy ghi âm, đài, ti vi Lắp đặt sẵn hệ thống

ổ cắm điện đảm bảo an toàn cho cả thầy và trò

2.2.5 Sử dụng đồ dùng trực quan đúng mức độ

Nguyên tắc này chủ yếu đề cập đến nội dung và phương pháp sử dụng thiết

bị dạy học đúng với phương pháp dạy học của phân môn Kể chuyện và phù hợpvới trình độ kiến thức của học sinh Mỗi đồ dùng trực quan tiềm ẩn nhiều nộidung kiến thức khác nhau Có những kiến thức giới hạn thống nhất với nội dungtrình bày trong SGK, song cũng có những kiến thức bổ sung mở

Trang 27

rộng làm rõ thêm một số chi tiết giúp học sinh hiểu một cách đầy đủ hơn kiếnthức cần tiếp thu Vì vậy khi sử dụng đồ dùng trực quan, giáo viên cần khai thácđúng mức độ, phù hợp với mục đích, yêu cầu bài học, phù hợp với trình độ tiếpthu của học sinh, tránh tình trạng khai thác kiến thức quá cao sâu, học sinh khôngthể tiếp thu được Tránh khai thác những tình tiết quá rộng, sa đà vào những tìnhtiết quá vụn vặt không giúp ích gì cho việc nắm vững nội dung kiến thức cơ bảncủa bài học Sử dụng đồ dùng trực quan đúng mức độ giúp học sinh tiếp nhậnkiến thức một cách chủ động hơn là một khoa học và nghệ thuật sư phạm.

Biện pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học phân môn Kể chuyện ở lớp 4

Biện pháp sử dụng tranh minh hoạ

Tranh mô tả hiện thực bằng thông tin hình tượng ở trạng thái tĩnh, nhằmtác động vào thị giác của con người Trong thực tế các cuốn sách Tiếng Việt thìtranh minh hoạ là loại hình được sử dụng nhiều nhất trong số các đồ dùng trựcquan thuộc môn Tiếng Việt Phân môn Kể chuyện ở lớp 4 cũng vậy, tranh minhhoạ cho các câu chuyện kể được trình bày rất sinh động và phù hợp với từng kiểubài

Tranh minh hoạ là những ấn phẩm hình tĩnh, nhưng lại mang trong nó bảnchất động Bản thân mỗi bức tranh không chỉ đơn thuần mô tả một sự vật, sự việcnào đó ở trạng thái tĩnh mà nó còn gợi mở người quan sát đến một thế giới sốngđộng, hiện hữu trong từng bức tranh Ví dụ: một bức tranh vẽ về máy tuốt lúa,giáo viên có thể gợi mở giúp học sinh tưởng tượng ra tiếng máy quay, thấy thóctuôn ra, thấy những nông dân đang tuốt lúa hoặc bức tranh chỉ vẽ chú bộ độ biênphòng đang cưỡi ngựa trên đường, nhưng giáo viên có thể hướng dẫn học sinhnghe thấy cả tiếng vó ngựa phi nước kiệu

Trang 28

Trong chương trình SGK lớp 4 hiện nay, tranh minh hoạ được tăng lên rấtnhiều Tuy nó đã có phần giảm bớt so với tranh minh hoạ được trình bày trongSGK lớp 1, 2, 3 nhưng độ phong phú, hấp dẫn vẫn không thua kém với tranhminh hoạ ở lớp 1, 2, 3 Trong phân môn Kể chuyện lớp 4, với kiểu bài kể chuyện

đã nghe thầy cô kể trên lớp thì các câu chuyện đều có hình ảnh minh hoạ chotừng đoạn của câu chuyện, với 2 kiểu bài kể chuyện còn lại tranh minh hoạ trongSGK tương đối ít Tuy vậy giáo viên cũng có thể tìm kiếm được tranh ảnh ở bênngoài từ các nguồn như internet, các cuốn truyện… Cho dù tranh ảnh được lấy

từ SGK hay bên ngoài SGK thì giáo viên cũng cần chú ý hướng dẫn học sinh khaithác các bức tranh đạt hiệu quả tạo điểm tựa vững chắc để giúp học sinh nhớ nộidung câu chuyện và kể sáng tạo theo lời kể của mình Cần hướng dẫn học sinhquan sát kĩ từng chi tiết, hình ảnh cụ thể trong tranh để các em vừa có thể đưa rađược nội dung khái quát của bức tranh vừa nhớ lại câu chuyện để kể lại được câuchuyện bằng lời của mình hoặc lời của nhân vật trong truyện

*Sử dụng tranh minh hoạ trong dạy kiểu bài kể chuyện đã nghe thầy

cô kể trên lớp

Để dạy kiểu bài này, giáo viên cần phải chú ý những điểm sau:

- Giáo viên phải thuộc truyện, hiểu truyện, làm cho lời kể của mình cũng

là phương tiện trực quan, in được dấu ấn trong lòng học sinh, giúp các em nhớtruyện, có cảm xúc về câu chuyện, có nhu cầu kể lại

- Giáo viên biết kết hợp lời kể với các phương tiện trực quan khác để họcsinh dễ dàng ghi nhớ

Ví dụ: Kể chuyện “ Lời ước dưới trăng” - Tiếng Việt 4 - Tập 1

- Giáo viên treo bốn bức tranh đã được phóng to minh hoạ nội dung câuchuyện

Trang 29

- Giáo viên nêu yêu cầu: Dựa vào lời kể của cô và theo dõi vào tranh minhhoạ kể lại được từng đoạn câu chuyện “ Lời ước dưới trăng” phối hợp lời kể vớiđiệu bộ, nét mặt.

- Giáo viên kể lần 1 câu chuyện để học sinh hình dung được nội dung chính của truyện

- Giáo viên kể lần 2 kết hợp vừa kể vừa chỉ vào từng tranh minh hoạ phóng to trên bảng

- Hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung của từng bức tranh: giáo viên yêucầu học sinh đọc thầm phần lời dưới mỗi bức tranh

+ Bức tranh 1: giáo viên đặt một số câu hỏi để hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bức tranh để có thể kể lại đoạn 1 của câu chuyện

Câu hỏi: - Bức tranh số 1 miêu tả hình ảnh gì? (hình ảnh các cô gái tròn

15 tuổi đứng bên hồ Hàm Nguyệt vào đêm rằm tháng Giêng)

- Các cô gái tới hồ Hàm Nguyệt để làm gì? (để cầu phúc)

- Em hãy đặt tên cho bức tranh số 1? (có thể đặt tên: các cô gái tuổi 15 vàlời nguyện ước đêm rằm bên hồ Hàm Nguyệt, hồ Hàm Nguyệt và những lờinguyện ước linh thiêng…)

+ Bức tranh 2: giáo viên cũng tiến hành đặt câu hỏi gợi ý cho học sinh Câu hỏi: - Hãy miêu tả khung cảnh, hoạt động có trong bức tranh2?(nhân vật tôi và chị Ngàn bên hồ Hàm Nguyệt)

- Chị Ngàn là người như thế nào?

- Em hãy đặt tên cho nội dung bức tranh 2?

Trang 30

+ Bức tranh 4:

Câu hỏi: - Nhân vật “tôi” hiểu ra điều gì?

Giáo viên lưu ý cho học sinh khi kể hoá thân vào nhân vật, ở đây có thểhoá thân vào nhân vật “tôi”, kể với giọng điệu, cử chỉ của nhân vật, nhìn với cáchnhìn của nhân vật, sống với nhân vật Lấy bức tranh làm điểm tựa để kể lại từngđoạn của câu chuyện theo ngôn ngữ của mình

Ví dụ: Kể chuyện “ Con vịt xấu xí” - Tiếng Việt 4 - Tập 2

- Treo 4 bức tranh minh hoạ nội dung câu chuyện

- Nêu yêu cầu: + Hãy quan sát vào 4 bức tranh trên bảng kết hợp với lắngnghe phần kể chuyện của cô giáo, em hãy sắp xếp lại thứ tự các bức tranh chođúng với cốt truyện Con vịt xấu xí

+ Dựa vào các bức tranh đã sắp xếp lại kể từng đoạn của câu chuyện

- Giáo viên kể chuyện 2 hoặc 3 lần với giọng kể thong thả, chậm rãi, nhấngiọng những từ ngữ gợi cảm, gợi tả miêu tả hình dáng của thiên nga, tâm trạngcuả nó

- Sau khi đã kể lần 1 giáo viên yêu cầu học sinh suy nghĩ để sắp xếp lại các bức tranh và yêu cầu học sinh lên bảng trực tiếp thao tác trên tranh

- Hướng dẫn học sinh quan sát từng bức tranh để tìm ra nội dung chính của từng đoạn truyện

+ Bức tranh 1(tranh 2 - SGK): vợ chồng thiên nga gửi con lại cho vịt mẹ trông giúp

+ Bức tranh 2(tranh 1 - SGK): vịt mẹ dẫn đàn con ra ao Thiên nga con đi sau cùng trông rất cô đơn, lẻ loi

+ Bức tranh 3(tranh 3 - SGK): vợ chồng thiên nga xin lại thiên nga con va cám ơn vịt mẹ cùng đàn vịt con

+ Bức tranh 4(tranh 4 - SGK): thiên nga con theo bố mẹ bay đi Đàn vịt ngước nhìn theo, bàn tán, ngạc nhiên

Trang 31

- Giáo viên yêu cầu học sinh kể lại từng đoạn của câu chuyện.

Giáo viên lưu ý cho học sinh có thể hoá thân thành nhân vật khi kể Ví dụnhư thiên nga con, vịt con, vịt mẹ Khi kể bằng ngôn ngữ của mình, cần có sự kếthợp với giọng điệu, cử chỉ Lấy bức tranh làm điểm tựa để tưởng tượng lại câuchuyện, không nên dập khuôn theo lời kể của giáo viên

* Sử dụng tranh minh hoạ trong dạy kiểu bài kể chuyện đã nghe, đã đọc

Ở kiểu bài này, tranh minh hoạ không có tác dụng giống như điểm tựa đểdựa vào đó học sinh kể lại truyện bởi kiểu bài này học sinh đã có thời gian tìmhiểu, sưu tầm truyện ở nhà, trong các cuốn truyện, sách báo hoặc trong đời sốnghằng ngày (nghe người thân hoặc ai đó kể) để kể lại Tranh ở đây chỉ giúp minhhoạ cho lời kể của học sinh nếu học sinh sưu tầm được truyện và cả tranh minhhoạ của câu chuyện đó để các học sinh trong lớp khi theo dõi bạn kể chuyện kếthợp với tranh sẽ khắc sâu được nội dung câu chuyện Tuy nhiên một số bài cóthể dựa vào khung cảnh trong tranh để kể được nội dung câu chuyện

Ví dụ: kể chuyện “ Nàng tiên Ốc” – Tiếng Việt 4 - Tập 1

Ở bài này học sinh sẽ dựa vào nội dung bài thơ để kể lại truyện Tuy nhiênnếu học sinh không nhớ nội dung bài thơ giáo viên có thể sử dụng tranh minh hoạphóng to trong SGK để hướng dẫn học sinh quan sát và biết nhìn vào từng chitiết để kể lại được câu chuyện này sao cho đúng nội dung mà có sự sáng tạo Ví

dụ như từ việc quan sát khung cảnh ngôi nhà giáo viên giúp học sinh phát hiệnđược hoàn cảnh nghèo khó của bà lão, biết bà phải mò cua bắt ốc để kiếm sốnghay hình ảnh bà lão ôm chầm lấy nàng tiên, học sinh có thể kể được câu chuyệndiễn ra như thế nào

* Sử dụng tranh minh hoạ trong dạy kiểu bài kể chuyện đã được chứng kiến hoặc tham gia

Trang 32

Kiểu bài này yêu cầu học sinh kể những chuyện người thật, việc thật cótrong cuộc sống xung quanh các em Trong chương trình lớp 4 kiểu bài này gồm

có 8 bài, mỗi bài đều có sử dụng tranh minh hoạ nhưng tranh minh hoạ trong kiểubài này không dùng xuyên suốt từ đầu cho tới cuối tiết học giống như kiểu bài kểchuyện vừa nghe thầy cô kể trên lớp Nó chỉ góp phần vào việc giới thiệu hoặcminh hoạ cho câu chuyện ở phần đầu của tiết học

Ví dụ: kể về một ước mơ đẹp của em hoặc của bạn bè, người thân – TiếngViệt 4 - tập 1

Giáo viên có thể dành cho học sinh thời gian vừa suy nghĩ về ước mơ củamình hoặc của người thân, bạn bè sau đó phác họa nhanh ước mơ đó ra một tờgiấy trắng để khi kể, học sinh có thể giới thiệu với cô giáo về ước mơ đó cho mọingười dễ hình dung

Ví dụ: Kể một câu chuyện về việc em (hoặc người xung quanh) đã làm gì

để góp phần giữ gìn xóm làng (đường phố, trường học) xanh, sạch, đẹp

Giáo viên có thể giới thiệu tới học sinh một số hình ảnh của lớp trong một

số phong trào lao động ở trường hay hình ảnh các cô lao công đang miệt mài làmviệc để góp phần cho đường xá sạch sẽ…

Ví dụ: kể lại một câu chuyện về lòng dũng cảm mà em được chứng kiếnhoặc tham gia

- Giáo viên giới thiệu tới học sinh hình ảnh minh hoạ đã phóng to trongSGK, giới thiệu một số ví dụ về lòng dũng cảm Giáo viên cùng học sinh quansát tranh minh hoạ để thấy được sự dũng cảm của các chú bộ đội, công an khôngquản nguy hiểm đã vật lộn với nước lũ để giúp đỡ những người gặp nạn Haytrong cuộc sống hiện nay có rất nhiều người dũng cảm không sợ nguy hiểm đãgóp sức minh giúp đỡ các chú công an bắt cướp mà học sinh đã được theo dõitrên ti vi

Ví dụ: kể chuyện về một cuộc du lịch hoặc cắm trại mà em được tham gia

Ngày đăng: 10/02/2019, 09:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Vũ Hoạt, Phó Đức Hoà ( 1997), Giáo trình Giáo dục học Tiểu học 1, Nxb Giáo dục Khác
2. Bùi Văn Huệ ( 1997), Giáo trình Tâm lý học Tiểu học, Nxb Giáo dục Khác
3. Đàm Hồng Quỳnh ( 2005), Hướng dẫn sử dụng và tự làm thiết bị dạy học môn Tiếng Việt, Nxb Giáo dục Khác
4. Phan Trọng Ngọ ( Chủ biên), Vấn đề trực quan trong dạy học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Khác
5. Lê Phương Nga ( Chủ biên), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học (2002), Nxb Giáo dục Khác
6. Sách giáo khoa Tiếng Việt 4 ( 2 tập), Nxb Giáo dục Khác
7. Tạp chí thiết bị Giáo dục, số 56, tháng 4/2010 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w