Văn học dângian các dân tộc thiểu số đã có những đóng góp quan trọng đối với văn họcdân gian Việt Nam nói chung trong đó đặc biệt phải nói đến truyện cổ suynguyên – bộ phận sớm được sưu
Trang 1Phần mở đầu 1.Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Trong quá trình tạo lập, phát triển cuộc sống, các dân tộc đã cùng nhausáng tạo ra nền văn hóa, văn học truyền thống có giá trị to lớn Văn học dângian các dân tộc thiểu số đã có những đóng góp quan trọng đối với văn họcdân gian Việt Nam nói chung trong đó đặc biệt phải nói đến truyện cổ suynguyên – bộ phận sớm được sưu tầm và hiện còn lưu giữ một nguồn tác phẩmdày dặn Có thể khẳng định, với truyện cổ suy nguyên, các dân tộc thiểu số đãsáng tạo nên những sản phẩm văn hóa tinh thần đặc sắc, độc đáo phản ánhquan niệm về nguồn gốc vũ trụ, muôn loài, nguồn gốc của các dân tộc khá sâusắc.Truyện còn là sự phản chiếu chân thực cuộc sống lao động, chiến đấu vàsáng tạo của quần chúng nhân dân thông qua những câu chuyện giàu sứctưởng tượng, giàu yếu tố kì ảo Mỗi một câu chuyện thấm đẫm trong đó biếtbao triết lí nhân sinh, cách cảm cách nghĩ của những cộng đồng dân cư có bảnsắc văn hóa riêng, tập tục riêng.Đọc truyện cổ, người ta thấy được bức tranhđời sống tinh thần có nhiều nét độc đáo của người dân tộc.Đây cũng là bộphận văn học có khả năng phản ánh chân thực, đa dạng nhiều lĩnh vực khácnhau của đời sống hiện thực, qua đó phản ánh suy nghĩ, quan niệm và khátvọng của đồng bào các dân tộc.Truyện còn là bộ phận văn học dân gian gắn
bó máu thịt với văn hóa dân gian, nơi tích tụ những tầng lớp lịch sử, văn hóa,bản sắc các dân tộc thiểu số Nghiên cứu truyện cổ suy nguyên là một côngviệc khoa học hứa hẹn nhiều khám phá thú vị
Hiện nay, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu truyện cổ suynguyên một cách hoàn chỉnh.Việc tìm hiểu truyện cổ suy nguyên của các dântộc thiểu số là một việc cần thiết.Vì vậy, đề tài của luận văn tập trung xác địnhtìm hiểu truyện cổ suy nguyên của các dân tộc thiểu số từ nội dung đến thipháp Chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này trong một bối cảnh thể loại
1
Trang 2truyện cổ dân gian của các dân tộc thiểu số đang được quan tâm sưu tầm,chuyển ngữ và in ấn Do vậy mà nguồn tài liệu dùng làm đối tượng nghiêncứu của chúng tôi cũng rất dồi dào Xét thấy chủ đề “suy nguyên” là một đềtài nổi bật trong nội dung truyện kể dân gian của các dân tộc thiểu số đã sưutầm được nên chúng tôi chọn thực hiện luận văn này với mong muốn có thểphần nào phác thảo đư ợc diện mạo văn học dân gian và những giá trị văn hóatộc người được các dân tộc thiểu số gửi gắm trong nhóm truyện kể về đề tàisuy nguyên này
Với mong muốn trên, luận văn chọn đề tài nghiên cứu là “Khảo sát truyện cổ suy nguyên về nguồn gốc vũ trụ và muôn loài của các tộc người thiểu số ở Việt Nam” làm mục tiêu khoa học cho luận văn.
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Các công trình, bài viết nghiên cứu
Vấn đề này đã được đề cập ở nhiều góc độ khác nhau trong một sốcông trình nghiên cứu văn học dân gian Qua quá trình tìm hiểu, chúng tôitổng hợp được các tài liệu cùng những nhận định sau:
Năm 1980 trong công trình Lịch sử văn học Việt Nam, các tác giả
Nông Quốc Chấn, Phan Đăng Nhật đã dành hai chương tìm hiểu và giớithiệu về phần truyện kể là Thần thoại, trường ca các dân tộc và truyện cổdân gian các dân tộc thiểu số anh em Trong công trình này, tuy các tác giả
có đặt hai thuật ngữ thần thoại và truyện cổ dân gian không liên hệ với nhaunhưng trong từng thuật ngữ, các tác giả cũng đã chú ý tới nội dung suynguyên.Công trình nghiên cứu này có ý nghĩa khởi nguồn, gợi mở hướngnghiên cứu và những suy nghĩ của riêng nhóm tácgiả
Trong công trình nghiên cứu Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam
(2000) tác giả Phan Đăng Nhật đã tiến hành khảo sát thần thoại của các dântộc thiểu số, trong đó có chỉ ra mảng thần thoại suy nguyên Đây là mảng
2
Trang 3quan trọng nhất của truyện cổ suy nguyên Trong phần kết luận cuối sách,tác giả đã chỉ ra một số đặc điểm về mối quan hệ giữa văn học dân gian vàvăn học thành văn, quan hệ giữa văn học dân gian các dân tộc thiểu số vớivăn học dân gian người Kinh Nhìn một cách tổng thể, công trình nghiêncứu của Phan Đăng Nhật đã nghiên cứu rất công phu, tỉ mỉ về diện mạo, giátrị nội dung và nghệ thuật một số loại, loại thể văn học dân gian các dân tộcthiểu số, trong đó có thần thoại suy nguyên Tác giả Võ Quang Nhơn trong
công trình Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam cũng đã dành
mối quan tâm nghiên cứu về bộ phận truyện cổ dân gian, đi sâu vào thầnthoại Về thần thoại, tác giả đặt ra hai vấn đề phân loại Theo ông, có thểphân chia hệ thống thần thoại các dân tộc theo loại hình sau: “loại truyện kể
về việc sinh ra trời, đất, cỏ cây, núi sông; loại truyện kể về việc sinh ra conngười, sinh ra các dân tộc; loại truyện kể về những kì tích sáng tạo văn hóatrong buổi đầu của con người; loại truyện kể về những cuộc đấu tranh xãhội trong buổi đầu của xã hội có giai cấp” [26,tr549] Ngoài ra, tác giả chorằng thần thoại các dân tộc thiểu số đã thống nhất và thể hiện ở chủ đề nổibật: “các anh em trong đại gia đình dân tộc Việt Nam có cùng nguồn gốcchung và nền văn hóa chung” [26,tr640]
Công trình nghiên cứu Văn học dân gian Việt Nam, (2000) tập 1, nhà
nghiên cứu Đỗ Bình Trị đã chỉ ra một số nét đặc sắc của một số thể loạitrong văn học dân gian các dân tộc thiểu số nói chung như: thần thoại,truyện cổ tích, sử thi, truyện thơ, dân ca Trong đó, phần nghiên cứu về thầnthoại tác giả đã đưa ra một số nhận xét, so sánh giữa thần thoại các dân tộcthiểu số so với thần thoại dân tộc Việt: “Nhìn chung, thần thoại của các dântộc thiểu số có phần nguyên vẹn hơn và có hệ thống hơn so với thần thoạicủa dân tộc Kinh ( ) Sự khác biệt giữa thần thoại các dân tộc cũng chỉ làtiểu dị đặc sắc của thần thoại các dân tộc thiểu số nó thể hiện ở chỗ bảotồn được một số nét cổ hơn, tức là ít có dấu vết tái tạo của đời sau hơn so
3
Trang 4với thần thoại của người Việt” [16,tr3] Tuy nhiên, trong công trình này, tácgiả lại dùng thuật ngữ “truyện cổ dân gian” tương đương với thuật ngữ
“truyện cổ tích” Theo chúng tôi, thuật ngữ “truyện cổ dân gian” bao hàmnhiều thể loại truyện cổ khác nhau, trong đó có truyện cổ tích
Trong bộ Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam
[36] (2000) , các nhà nghiên cứu đã có những tổng kết lại tình hình sưu tầm,nghiên cứu bổ sung, nhận xét và phân tích khái quát về các thể loại trong đó
có thể loại truyện kể dân gian của các dân tộc Về thần thoại, nhà nghiêncứu Nguyễn Thị Huế cho rằng thần thoại Việt Nam nói chung và thần thoạicác dân tộc thiểu số nói riêng chia thành hai nhóm tương ứng với hai chủ đềchính: Nhóm thứ nhất là nhóm về thần thoại suy nguyên kể về nguồn gốc
vũ trụ và nguồn gốc muôn loài; nhóm thứ hai là nhóm thần thoại kể về sựchinh phục thiên nhiên và sáng tạo văn hóa Từ đó, tác giả lại tiếp tục chiacác nhóm chính đó ra thành nhiều nhóm nhỏ để tìm hiểu một cách cụ thể.Nhóm về thần thoại suy nguyên kể về nguồn gốc vũ trụ và nguồn gốc muônloài bao gồm: thần thoại suy nguyên kể về nguồn gốc vũ trụ, thần thoại kể
về nguồn gốc muôn loài, thần thoại kể về nguồn gốc loài người Về truyềnthuyết, tác giả Trần Thị An cũng đã có những nhận xét khái quát trên một sốđiểm cơ bản như sau: “Truyền thuyết của các dân tộc thiểu số đã thể hiệntín ngưỡng thờ thần tự nhiên của các dân tộc: thần nước, thần nai, thờ vựcnước sâu, thờ thần cây, thần đá Truyền thuyết các dân tộc thiểu số biểu thị
sự liên quan chặt chẽ giữa thần với đời sống con người Mỗi quan hệ thần –người trong truyền thuyết các dân tộc thiểu số được thể hiện ở hai loại tháiđộ: thần phục và chống đối Về mặt nghệ thuật, truyền thuyết các dân tộcthiểu số có kết cấu lỏng lẻo, các chi tiết nhiều khi được lắp ghép một cáchkhá ngẫu nhiên, tính thống nhất của cốt truyện chưa thật rõ ràng Bên cạnh
đó, một đặc điểm nổi trội của truyền thuyết các dân tộc thiểu số là có sự đanxen nhiều thể loại Có thể thấy rõ các dấu ấn của thần thoại, truyện cổ tích
4
Trang 5và sử thi trong các truyền thuyết ở đây” [35,tr57].
Nhà nghiên cứu Hoàng Tiến Tựu trong công trình Bình giảng truyện dân gian” (2000) khi viết về thần thoại Đẻ đất đẻ nước của người Mường
đã đưa ra một số nhận định về truyện cổ suy nguyên Ông khẳng định Đẻ đất đẻ nước là một sử thi thần thoại nổi bật, độc đáo, thể hiện được tư duy
gần gũi của người dân tộc miền núi Ngoài ra, ông còn so sánh với các tácphẩm truyện cổ suy nguyên khác để thấy quan điểm về cội nguồn của cáctộc người cũng như những biểu hiện niềm tự hào của họ về nguồn cội củamình với các sắc thái khác nhau
Với công trình Nghiên cứu văn nghệ dân gian Việt Nam, tập 1 (1997),
Đặng Nghiêm Vạn khi đề cập đến “Huyền thoại về nạn hồng thủy và nguồngốc các tộc người” đã khẳng định: “Huyền thoại về nguồn gốc các tộcngười không chỉ có dạng kể trên mà còn nhiều dạng khác nhau giải thích địađiểm nơi quê hương ban đầu của tộc người, thời gian và con đường chuyển
cư nửa hư, nửa thực với những chiến công và thất bại được khuếch đại theoqui luật của văn học bình dân [ ] Hoặc còn có các loại huyền thoại giảithích vì sao tộc người này ở núi cao? Tộc người kia ở ven biển, dọc sông”[38,tr840] Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã đưa ra các dạng về nguồngốc các tộc người
Tác giả Lê Hồng Phong khi soạn công trình Tìm hiểu truyện cổ Tây Nguyên – Trường hợp của Mạ và K’ho (2006), ông cũng đi vào tìm hiểu
một nội dung quan trọng trong truyện cổ suy nguyên Đó là “Về nguồn gốctộc người” Ông cho rằng nạn lụt lớn hủy diệt loài người thứ nhất, loàingười thứ hai được sinh ra sau nạn lụt đã đặt ra một số câu hỏi đối vớitrường hợp truyện cổ Mạ - Cơ Ho: Vì sao lụt? Ai báo tin? Nơi tránh lụt? Aisống sót sau lụt? Cuộc hôn phối đó như thế nào? Kết quả sinh ra những tộcnào? Để lí giải, tác giả đưa ra một số bảng tóm tắt các truyện cổ có liênquan và đưa ra một số kết luận [16,tr6]
5
Trang 6Trong công trình Văn học dân gian Ê đê, Mơ nông, (1998) tác giả
Trương Bi đã khai thác những vấn đề cơ bản của văn học dân gian Ê đê.Tácgiả đi sâu vào sử thi, thần thoại với việc xác định nội dung quan trọng tronghai thể loại này là mảng nói về nguồn gốc vũ trụ và muôn loài.Trong mảngnày, truyện cổ của người Ê đê mang tính mẫu hệ rõ rệt
Các kết quả nghiên cứu dù chưa tìm hiểu trực tiếp vào truyện cổ suynguyên của các dân tộc thiểu số nhưng có thể coi như tri thức tiền đề, cơ sởgiúp chúng tôi triển khai đề tài luận văn Đặc điểm truyện cổ các dân tộcthiểu số Việt Nam có ảnh hưởng và chi phối nhất định đến đặc điểm truyện
cổ suy nguyên của các dân tộc thiểu số
2.2 Các công trình sưu tầm
Để giúp người đọc dễ hình dung về tình hình tư liệu, chúng tôi tiếnhành sắp xếp các công trình theo thứ tự ứng với năm công bố :
1. Truyện các dân tộc thiểu số miền Nam (1975)
Tác giả: Hà Văn Thư
Nhà xuất bản: Văn hóa, Hà Nội
Đặc điểm tư liệu: Tài liệu có độ dài 403 trang, gồm 52 truyện Tácgiả dành 22 trang để giới thiệu về truyện cổ các dân tộc thiểu số miềnNam.Sau mỗi truyện tác giả ghi rõ người và địa điểm kể
2. Truyện cổ Khơ Me Nam Bộ(1983)
Tác giả: Huỳnh Ngọc Trảng
Nhà xuất bản: Văn hóa, Hà Nội
Đặc điểm tư liệu: Tài liệu có độ dài 220 trang, gồm 21 truyện Tácgiả không tiến hành phân loại thể loại tác phẩm Sau mỗi truyện, tác giả ghi
rõ người kể và nơi kể chuyện.Ở lời giới thiệu, tác giả khái quát văn hóa vàđặc trưng văn học dân gian của người Khơ Me
6
Trang 73. Tuyển tập Văn học dân gian Việt Nam – Thần thoại, truyền thuyết, Tập1 (1999)
Tác giả: Nguyễn Thị Huế, Trần Thị An
Nhà xuất bản: Giáo dục, Hà Nội
Đặc điểm tư liệu: Tài liệu có độ dài 624 trang, gồm có 339 truyện làthần thoại, truyền thuyết của các dân tộc Việt Nam Các tác giả tiến hànhphân loại các truyện theo thể loại và từng tộc người Trong đó có 81 truyệnthần thoại, 13 truyện truyền thuyết.Đây là tuyển tập các tác phẩm của 22 tộcngười thiểu số với một số lượng tác phẩm khá phong phú.Chúng tôi chọnlọc được 5 truyện thần thoại, 9 truyện truyền thuyết có chứa motif li tán
4. Kho tàng thần thoại Việt Nam(2006)
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo, Nguyễn Thị Huế
Nhà xuất bản: Khoa học Xã hội, Hà Nội
Đặc điểm tư liệu: Tài liệu có độ dài 805 trang, gồm có 199 truyện.Đây là tuyển tập gồm hai phần: thần thoại của dân tộc Kinh và 38 tộc ngườithiểu số Trong đó, chúng tôi nhận thấy các truyện sau: Bok Kơi Dơi - BokSơgor, Truyện ông bà Trống (Ba Na); Nguồn gốc loài người (Cơ Tu);Nguồn gốc các dân tộc (Gia Rai); Tháp lên trời, Vườn địa đàng (H’mông);
Bà Mẹ của trăm con (Hà Nhì); Nguồn gốc vũ trụ và muôn loài (Khơ Me);Hồng thủy (Lô Lô); Nguồn gốc vũ trụ và các dân tộc (Mảng); Chuyện kểtheo mo “Đẻ đất đẻ nước” (Mường); Truyện “Ải Cắp Ý Kèo” (Thái);Nguồn gốc loài người (Bru - Vân Kiều)có nội dung tương tự với các truyện
đã có mặt trong Tuyển tập Văn học dân gian Việt Nam - Thần thoại, truyềnthuyết, Tập 1
5. Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam - Thần thoại,Tập 3(2009)
7
Trang 8Tác giả: Viện Khoa học Xã hội, Viện Nghiên cứu Văn hóa
Nhà xuất bản: Khoa học Xã hội, Hà Nội
Đặc điểm tư liệu: Tài liệu có độ dài 711 trang, gồm có 53 truyện.Các tác giả đã tiến hành sưu tầm, tuyển chọn truyện song ngữ của 10 dântộc.Sau mỗi truyện các tác giả đều ghi rõ người, địa điểm kể
6. Truyện cổ Raglai(2011)
Tác giả: Lê Khắc Cường, Phan Văn Dốp, Nguyễn Văn Huệ, PhanXuân Viện
Nhà xuất bản: Văn hóa Dân tộc, Hà Nội
Đặc điểm tư liệu: Tài liệu có độ dài 263 trang, gồm có 60 truyện.Tác giả ghi rõ người và địa điểm kể nhưng không phân loại tác phẩm.Tàiliệu cũng giới thiệu những nét đặc trưng về truyện cổ của người Raglai.Các công trình sưu tầm trên tuy chưa phân định đâu là rõ truyện cổ suynguyên nhưng đã đi đưa vào những truyện cổ mang đề tài này.Đây chính lànguồn tư liệu quý giá để chúng tôi khảo cứu, đánh giá nội dung, thi pháp củatruyện cổ suy nguyên Đặc biệt, chúng tôi tìm hiểu sâu vào cuốn “Tổng tậpvăn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam” của Nxb Đà Nẵng Đây làcuốn sách tập hợp đầy đủ nhất các truyện cổ suy nguyên Trong tư liệu này,
để phục vụ đề tài nghiên cứu, chúng tôi ưu tiên chọn những nguồn tài liệu cótrích dẫn người kể, nơi kể
3.Đối tượng và phạm vi nghiêncứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Truyện cổ có nội dung suy nguyên được khảo sát chủ yếu trong nhữngtổng tập, tuyển tậptruyện cổ của các dân tộc thiểu số, cập nhật những tậptruyện được sưu tầm và xuất bản gần đây
Đặc trưng văn hóa vùng miền của các dân tộc được thể hiện trong các
8
Trang 9tác phẩm văn học.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát các tác phẩm thuộc truyện cổ suy nguyên của các dân tộcthiểu số Việt Nam bao gồm các nhóm dân tộc sau: Môn – Khơme, Nam - Đảo, Việt - Mường, Tày - Thái và Cơ lao, Hmông – Dao, Tạng - Miến.
- Phương pháp lịch sử - xã hội: đây là phương pháp này để tìm hiểu những cơ
sở lịch sử, xã hội liên quan đến thểloại
- Phương pháp loại hình học: đây là phương pháp nhận thức các hiện tượng
và tác phẩm văn học dân gian thông qua việc khám phá các yếu tố cấuthành cũng như quá trình, những mối liên hệ biện chứng giữa chúng trong
sự vận động của thời gian và không gian
- Phương pháp thống kê: đây là phương pháp thông qua những con số đểkhẳng định, chứng minh cho một kết luận một quan điểm mà chúng tôiđưara
- Phương pháp phân loại: đây là phương pháp nhóm những đối tượng cóchung những đặc điểm thành từng nhóm riêng Chúng tôi sử dụng phươngpháp này để phân chia thành các nhóm dựa trên một số tiêu chí nhấtđịnh
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Là phương pháp nhằm chỉ ra những tươngđồng và khác biệt giữa hai nhóm, hai đối tượng nào đó Chúng tôi dùngphương pháp so sánh để đưa ra một số nhận xét so sánh về những tươngđồng và dị biệt về biểu hiện giữa truyện cổ suy nguyên của các tộc người
9
Trang 10thiểu số với truyện cổ suy nguyên dân gian của người Việt.
6 Đóng góp của luận văn
Đề tài nghiên cứu là “Khảo sát truyện cổ suy nguyên về nguồn gốc
vũ trụ và muôn loài của các tộc người thiểu số ở Việt Nam” có đóng góp
khoa học như sau:
- Tổng hợp, chính xác hóa khái niệm truyện cổ suy nguyên
- Tìm hiểu kết cấu, motif truyện cổ suy nguyên, hệ thống nhân vật vànghệ thuật xây dựng nhân vật của các dân tộc thiểu số
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận; phần Nội dung của luận văn đượctriển khai thành ba chương với nhiệm vụ của từng chương như sau:
Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRUYỆN CỔ SUY NGUYÊN VÀCÁC NHÓM DÂN TỘC THIỂU SỐ
Trong chương 1, chúng tôi đi vào tìm hiểu các vấn đề chung của luậnvăn như khái niệm truyện cổ suy nguyên, đặc điểm văn hóa các dân tộc Chương 2 KẾT CẤU VÀ MOTIF TRONG TRUYỆN CỔ SUY NGUYÊNCÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
Trong chương 2, chúng tôi đi vào tìm hiểu kết cấu và motif truyện cổsuy nguyên của các dân tộc thiểu số
Chương 3 HỆ THỐNG NHÂN VẬT VÀ NGHỆ THUẬT XÂY DỰNGNHÂN VẬT TRTRONG TRUYỆN CỔ SUY NGUYÊN CÁC DÂN TỘCTHIỂU SỐ
Trong chương 3, chúng tôi đi vào tìm hiểu hệ thống nhân vật và nghệthuật xây dựng nhân vật trong truyện cổ suy nguyên của các dân tộc thiểu số
Ngoài ra luận văn còn có phần Phụ lục Nội dung của phụ lụctrình bàytóm tắt các truyện theo các nhóm ngôn ngữ cụ thể
10
Trang 11KHẢO SÁT TRUYỆN CỔ SUY NGUYÊN VỀ NGUỒN GỐC CỦA VŨ TRỤ VÀ
MUÔN LOÀI CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM
Chương 1 Các vấn đề lí thuyết 1.1 Truyện cổ suy nguyên
1.1.1 Khái niệm
Đầu tiên, chúng ta tìm hiểu khái niệm“truyện cổ”.“Cổ” có nghĩa là xưa, cũ.Ta cókhái niệm “truyện cổ” (hoặc “truyện cổ dân gian”, “truyện đời xưa”) dùng để chỉ nhiềuloại truyện dân gian khác nhau.Truyện cổ là một khái niệm có ý nghĩa khái quát, đượcdùng để chỉ một bộ phận của văn học dân gianbao gồm hết thảy các loại truyện do quầnchúng vô danh sáng tác và lưu truyền qua các thời đại.Bộ phận này gồm nhiều thể loại,trong đó có truyện cổ suy nguyên
Vậy truyện cổ suy nguyên là gì? Theo Đinh Gia Khánh [14,tr20-24] đó là tập hợpcác truyện cổ lí giải, phản ánh quan niệm của người thời cổ về nguồn gốc thế giới, đờisống con người, nguồn gốc con người và những hiện tượng của tự nhiên.Trong đó, nhânvật thường là các vị thần được tưởng tượng ra với những nét chấm phá ban đầu Hìnhtượng các vị thần được tái hiện vừa cụ thể, vừa sống động, hồn nhiên, vừa vươn tớidạng thái khái quát của tư duy triết học thuở ban đầu của loài người Khi sáng tạo ra các
vị thần, tư duy người nguyên thủy đã lấy con người làm mẫu nên các thần đều mangbóng dáng của con người Đó cũng có thể là con người, sự vật bình thường nhưng được
kì ảo hóa Từ đó, truyện cổ suy nguyên giải thích các hiện tượng trong tự nhiên vànguồn gốc loài người, các tộc người theo cách của người nguyên thủy Nó cho thấyđược trình độ hiểu biết, sức tưởng tượng, cách cảm nghĩ, những ước mơ, khát vọng củangười Việt thời cổ Những hiểu biết, kinh nghiệm này thể hiện qua những câu trả lời vềnhững hiện tượng trong tự nhiên và xã hội.Những câu trả lời này có thể là sai lầm so với
tư duy ngày nay, nhưng những vấn đề được người cổ đại đặt ra đôi khi vẫn còn nguyên
ý nghĩa đối với chúng ta, như câu hỏi về nguồn gốc trái đất và nhân loại là câu hỏi lớn
Trang 12của triết học, tôn giáo và khoa học.
Truyện cổ suy nguyên bao gồm tất cả thể loại truyện dân gian nhưng nội dungsuy nguyên tập trung ở hai thể loại thần thoại suy nguyên và truyện cổ tích về sự tichmuôn loài
Thần thoại suy nguyên là tập hợp những truyện kể dân gian về các vị thần, nhữngnhân vật anh hùng, các nhân vật sáng tạo văn hóa, phản ánh quan niệm của người thời
cổ về nguồn gốc của thế giới và của đời sống con người[14;tr356].Cách hiểu này đãchỉ ra ba đặc điểm quan trọng nhất của thần thoại: thần thoại là tập hợp những truyện
kể (tức là có số lượng lớn tạo nên một thể loại độc lập); đối tượng phản ánh của thầnthoại là các vị thần, những nhân vật anh hùng, các nhân vật sáng tạo văn hóa; nội dungcủa thần thoại phản ánh quan niệm của người thời cổ về nguồn gốc của thế giới và củađời sống con người Đó là toàn bộ những truyện hoang đường, tưởng tượng về các vịthần hoặc những con người, những loài vật mang tính chất kỳ bí, siêu nhiên do conngười thời nguyên thủy sáng tạo Mục đích để phản ánh và lí giải các hiện tượng trongthế giới tự nhiên và xã hội theo quan niệm vận vật có linh hồn (hay thế giới quan thầnlinh)
Truyện cổ tích về sự tich muôn loài là thể loại kể về sự hình thành thế giới, sự rađời của muôn loài, vạn vật, sự hình thành các dân tộc, con người, xã hội, văn hoá,những hoạt động của con người và thần linh Các nhân vật là con người hoặc sự vậtbình thường
1.1.2 Cơ sở hình thành
Truyện cổ suy nguyên gắn liền với thời kỳ ấu thơ của nhân loại.Trong nhữngcông trình nghiên cứu về nghệ thuật nguyên thuỷ, các nhà khoa học đã nhận thấy rằngtrong giai đoạn phát triển đầu tiên của lịch sử loài người, cũng như những hoạt độngtinh thần khác, nghệ thuật không tồn tại dưới dạng độc lập, mà hầu như hoà làm một vớihoạt động thực tiễn của con người Truyện cổ suy nguyên là một bộ phận của nền nghệthuật ấy, nó cũng phát sinh, nảy nở trên cơ sở đời sống lao động và những sinh hoạt củangười xưa Nghĩa là không thể nào lý giải đúng truyện cổ suy nguyên nếu tách nó ra
Trang 13ngoài xã hội nguyên thuỷ, thế giới quan thần linh và nhu cầu lý giải, tự nhiên, xã hội củacon người thời cổ đại.
Các nhà nhân chủng học cổ điển châu Âu thế kỷ XIX đã nhìn thấy trong cáctruyện cổ phương thức hồn nhiên, tiền (hay phản) khoa học khi giải thích thế giới xungquanh nhằm thoả mãn sự tò mò của người nguyên thuỷ vốn bị đè nặng bởi những sứcmạnh hung bạo của tự nhiên E.M Mêlêtinxki nói rằng: “Trong thần thoại có sự đan kếtnhững yếu tố phôi thai của tôn giáo, triết học, khoa học và nghệ thuật Quan hệ hữu cơcủa thần thoại với lễ nghi vốn được thực hiện qua các phương tiện âm nhạc, vũ đạo, cácphương tiện “tiền sân khấu” và ngôn từ ” [20;tr32] Ông cũng chỉ ra rằng ngườinguyên thuỷ chưa tách mình ra khỏi môi trường tự nhiên và xã hội bao quanh và tư duynguyên thuỷ còn giữ những đặc điểm của sự chưa phân tách, nó hầu như chưa tách khỏimôi trường ấn tượng, tự phát Hệ quả của điều này là sự nhân hoá hồn nhiên toàn bộthiên nhiên, sự đối chiếu “ẩn dụ” các đối tượng thiên nhiên, xã hội, văn hoá Ngườinguyên thuỷ hình dung các hiện tượng tự nhiên như với con người, gán cho chúng tâmhồn, lí trí, tình cảm con người [20;tr32]
Trong quá trình lao động, sản xuất, con người nguyên thuỷ đã vận dụng lý trí nonnớt, sự nhận biết thô sơ của mình về thiên nhiên, vũ trụ để tìm câu trả lời cho những gìxảy ra xung quanh Việc tiếp xúc với thiên nhiên, tiếp xúc với các hiện tượng vũ trụ kỳ
bí, con người thời kỳ nguyên thuỷ cố gắng tìm hiểu, xuyên qua cái bề ngoài để nhậnthức thế giới, nhận thức tự nhiên Thế giới đó luôn bí ẩn và to lớn, nó chế ngự conngười, luôn luôn đe doạ đời sống của họ Tuy sự nhận thức thế giới của con người lúc
đó là hoang đường, ấu trĩ nhưng nó thể hiện khát vọng khám phá mạnh mẽcủa conngười Không đủ hiểu biết để lí giải nên con người tưởng tượng ra, đặt niềm tin vào sựtưởng tượng ấy, rằng thế giới là do các vị thần linh tạo ra Họ đã làm ra thần thoại
Cũng như các dân tộc khác, người Việt Nam đã có sẵn tâm hồn văn nghệ từ rấtxưa.Với trí tưởng tượng chất phác ngộ nghĩnh, với trình độ kiến thức còn thô sơ, họ đãbiết đặt câu ca lời hát cũng như đặt truyện.Truyện cổ suy nguyên Việt xuất hiện khá sớmcùng với nghề nông đại đồ đá giữa hoặc đầu thời đại đồ đá mới Nó phát triển rực rỡ vàothời kỳ chuyển sang thời đại đồ đồng (từ xã hội thị tộc mẫu hệ, bộ tộc riêng lẻ tiến tới
Trang 14thành lập quốc gia Văn Lang).
Truyện cổ suy nguyên Việt hình thành trước hết do nhu cầu nhận thức và lý giảicác hiện tượng tự nhiên (Thần Trụ Trời, ) Truyện cổ cũng hình thành do mong muốnnhận thức và lý giải xã hội (Họ Hồng Bàng, Sơn Tinh Thủy Tinh) Truyện cổ suynguyên được thoát thai từ triết lý sống tự nhiên của con người, được sáng tạo ra trongthời kỳ các thị tộc, bộ lạc đã sớm có ý thức về địa vực cư trú và ý thức giống nòi.Những truyện cổ suy nguyên Việt Nam tuy đơn giản nhưng khá ý nhị, lý thú Đây làtruyền thống văn học dân tộc, là tài liệu về trạng thái sinh hoạt thời kỳ xưa nhất củangười Việt Dùng trí tưởng tượng để hình dung, giải thích và chinh phục thế giới, ngườinguyên thuỷ đã tạo ra truyện cổ suy nguyên và coi nó là một hình thái ý thức nguyênhợp đa chức năng: khoa học, nghệ thuật vô ý thức, tín ngưỡng, tôn giáo
Trong quá trình lâu dài của lịch sử, truyện cổ suy nguyên Việt Nam đã phát triển,
từ những mẫu truyện phản ánh sự nhận thức từng mặt của con người về vũ trụ thiênnhiên, loài vật, các dân tộc trong cộng đồng Việt đã có những hệ thống truyện lớn như
hệ thống truyện “Họ Hồng Bàng” của người Việt, sử thi mo “Đẻ đất đẻ nước” của ngườiMường,
Khi đất nước ta bị các lực lượng ngoại bang xâm chiếm Dưới sự thống trị lâu dàicủa phong kiến phương Bắc, truyện Việt đã bị phân hoá thành các hướng: hoặc bị Hánhoá các thần thoại Việt Mường, hoặc bị phong kiến hoá, bị cắt rời thành những phiênbản rời rạc Có thể thấy rõ điều đó qua sự biến đổi của thần thoại suy nguyên Sự tácđộng này đã sớm đẩy nhiều thần thoại Việt Nam sang giai đoạn bị truyền thuyết, cổ tíchhoá, đặc biệt đã tạo ra truyền thuyết có tính lịch sử Hệ thống thần thoại các dân tộc ViệtNam đã đi từ nguyên sơ đến chỗ phát triển cao hơn với dung lượng rộng lớn hơn trongcác áng mo, sử thi với các hình thức diễn xướng dân gian, và qua quá trình giao lưu, tiếpbiến, thần thoại đã cùng với các thể loại khác của văn học dân gian Điều đó đã làm nênkho tàng văn hoá quý giá của cả dân tộc Việt Nam ta
Mỗi dân tộc Việt thời cổ đều có một kho truyện cổ suy nguyên riêng.Những dântộc sớm có điều kiện phát triển, nền văn hoá của họ cũng được xây dựng sớm hơnnhững dân tộc chậm phát triển.Họ sớm ghi lại được vì thế có hệ thống những truyện cổ
Trang 15suy nguyên truyền tụng đương thời.Ngược lại, ở các dân tộc chậm tiến, truyện cổ suynguyên của họ trong một quá trình lâu dài được lưu truyền bằng miệng Nhiều nguyênnhân như chế độ xã hội thay đổi, thần thoại bị biến tướng, hoặc do văn hoá bên ngoàixâm nhập, thần thoại bị pha trộn, hay do không có chữ viết, truyện cổ suy nguyên khôngđược ghi giữ lại nên chỉ còn từng mảnh rời rạc.
Đến nay, do hoàn cảnh lịch sử, truyện cổ suy nguyên Việt Nam đã bị mất mát khánhiều Vì những lý do riêng, những thiên thần thoại đó đã không còn giữ lại hình thứclúc đầu của chúng nữa, thậm chí cốt truyện cũng đã thay đổi đi nhiều
Hình thức biểu hiện cơ bản của truyện cổ suy nguyên các dân tộc là những hoạtđộng trình diễn mang tính tổng hợp, phong phú và phức hợp.Nó bao gồm các hình thứcnghi lễ cổ sơ, các phong tục và các hình thức diễn xướng, nhảy múa, ca hát,…Những lời
ca cổ cũng là những câu truyện cổ còn sót lại: Ông Đếm cát, ông Kể sao, ông Đào sông,ông Xây rú
Ở dân tộc Mường, khi tiến hành các nghi lễ tang ma cũng chính là lúc họ diễn kểtruyện cổ suy nguyên các dân tộc thiểu số người Việt Nam đã phản ánh một cách kỳdiệu nhận thức của con người về vũ trụ, về công cuộc chinh phục thiên nhiên và về các
sinh hoạt xã hội của các dân tộc trong thời kỳ xưa Toàn bộ hệ thống mo Đẻ đất đẻ nước
thần thoại, đã được hát kể trong mười mấy ngày đêm liền Trong không khí tiễn đưangười chết, người ta được ông mo hát kể cho nghe về việc sinh ra Trời, sinh ra Đất, vềviệc đẻ Nước, đẻ Mường, về việc sinh ra Người và vạn vật cùng muông thú:
“Ông Thu Tha, bà Thu Thiên
Ra truyền: làm ra Đất ra Trời”
Mo Đẻ đất đẻ nước đã phản ánh nhân sinh quan, thế giới quan nguyên thuỷ và
phản ánh về quá trình hình thành dân tộc Mường Nội dung của áng mo này là những
mẩu chuyện thần thoại được liên kết với nhau bởi các lời ca mang nội dung tự sự Đẻ đất đẻ nước quả là tác phẩm mang đậm tính chất sử thi - thần thoại của dân tộc Mường.
Một số dân tộc khác cũng có truyền thống hát kể thần thoại như dân tộc Mường
Đó là dân tộc Thái, Tày và các dân tộc Tây Nguyên, ở đó thần thoại không những chỉđược tồn tại, lưu truyền ở dạng những truyện kể đơn lẻ, sơ khai mà còn được gia nhập
Trang 16vào hệ thống hát kể mo, then, sử thi-khan của các dân tộc.Sử thi - thần thoại Ẳm ẹt luông ở dân tộc Thái gồm ba phần chính: Ẳm ẹt luông (Khai sinh ra cái Lớn), Ẳm ẹt nọi (Khai sinh ra cái Nhỏ) và Khay phắc phạ (Mở họng Trời) Mở đầu tác phẩm có những
câu kể về nguồn gốc tự nhiên:
“Mo xin kể năm kể tháng mới có
Mo xin kể năm kể tháng trời mới làm raNgày xưa thời trước, ngày xưa thời lâu
Họ hỏi: Cái gì có sau Trời? Cái gì có sau Đất?”
Bộ truyện này là những áng văn vần dài kể lại nguồn gốc sinh ra trời đất và muônloài, kể lại quá trình đấu tranh gian khổ của loài người nhằm để sinh tồn và phát triển vàthường được các thày mo đọc trong các buổi cúng lễ Các bộ truyện này cũng giống như
tác phẩm Đẻ đất đẻ nước của người Mường.
Đối với các dân tộc Tây Nguyên, nhiều thần thoại và nhân vật thần thoại đã gianhập và tái hiện vào các sinh hoạt hát sử thi Sinh hoạt hát kể sử thi là một nhu cầu sinhhoạt không thể thiếu trong đời sống người dân Tây Nguyên hàng ngàn đời Trong vốn từvựng của các dân tộc này, sử thi được người Bana gọi là Hmon, người Êđê gọi là Khan,người Giarai gọi là Hri, người Mnông gọi Ot Ndrông Sử thi được các nghệ nhân dângian diễn xướng theo phương thức kết hợp các yếu tố hát, kể, đối thoại, làm điệu bộdiễn xướng Theo ngôn ngữ của người Mnông: Ot có nghĩa là hát, kể Còn Ndrông lànhững câu chuyện xa xưa Trong những tác phẩm sử thi - khan, những thiên thần thoạicùng các nhân vật của nó đã là những phần chính yếu tạo nên cốt lõi của tác phẩm
Những hình thức sinh hoạt này đã giúp cho thần thoại được bảo lưu một cách bềnvững và hệ thống Gắn bó với các hoạt động nghi lễ, phong tục, tuân thủ theo nhữngbước, những quy định chặt chẽ của các nghi thức tang ma, cúng tế, hội lễ, thần thoại củacác dân tộc nói trên được diễn đi diễn lại, được thực hành thường xuyên từ năm nàysang năm khác, đời này sang đời khác, từ thế hệ này tới thế hệ khác Cũng nhờ vậy màcác tác phẩm thần thoại luôn được lưu truyền, bổ sung, thêm bớt và ngày càng hoànchỉnh, hấp dẫn, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của người nghe Trong đó cũng phải kể tớivai trò của các thế hệ thầy mo, thầy cúng, các ông then, bà then, các nghệ nhân kể sử thi
Trang 17ở các dân tộc ít người Việt Nam Họ đã đóng vai trò là những người lưu giữ tích cực khotàng thần thoại các dân tộc.
Quả thực, truyện cổ suy nguyên các dân tộc đã là những chứng tích, những tàiliệu sống, giúp chúng ta hình dung lại được diện mạo sinh hoạt, cách thức tư duy vàsáng tạo văn hoá, sáng tạo nghệ thuật của các dân tộc ít người từ thời xa xưa cho tớingày nay
1.1.3 Đặc trưng chung của truyện cổ suy nguyên
1.1.3.1 Nội dung, ý nghĩa
Truyện cổ suy nguyên là một hình thức văn hóa tinh thần ra đời trong các xã hộinguyên thủy.Nó thể hiện quan niệm của các dân tộc thiểu số về nguồn gốc vũ trụ, conngười trên cơ sở quan niệm vạn vật hữu linh, bái vật giáo, quan niệm và thực hành mathuật.Vì thế, người nguyên thủy có khuynh hướng diễn đạt cái trừu tượng bằng cái cảmtính, cụ thể, họ kém phát triển về mặt trừu tượng hóa.Người nguyên thủy tư duy chưaphát triển năng lực phân biệt, người nguyên thuỷ chưa phân biệt được cái chủ quan vàkhách quan, vật chất và tinh thần Những đặc điểm tư duy trên tạo thành lối tư duytrong truyện cổ suy nguyên với việc tin vào các sự kiện được kể lại trong thần thoại vàthường gắn liền việc diễn xướng thần thoại với các hình thức nghi lễ (các hình thức thựchành tín ngưỡng)
Truyện cổ suy nguyên đã phản ánh một cách kỳ diệu nhận thức của con người về
vũ trụ, về công cuộc chinh phục thiên nhiên và về các sinh hoạt xã hội của các dân tộctrong thời kỳ xa xưa Dù đó là nhận thức thô sơ, hồn nhiên nhưng người nguyên thủy đãcho thấy cuộc đấu tranh bền bỉ trong quá trình hiểu biết, khám phá và chinh phục tựnhiên.Thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của nó là thời kỳ thành lập địa vực cư trú, địa vựcquốc gia Nội dung phong phú nhất của nó là phản ánh một cách hoang đường kỳ vĩ vềnhững hiện tượng vũ trụ, thiên nhiên, con người Nó có một vai trò tích cực trong đờisống tinh thần của con người: đó là phương tiện nhận thức quan trọng của người nguyênthuỷ, cũng là một trong những nguồn hình thành những giá trị tinh thần truyền thốngđầu tiên của dân tộc
Trang 18Truyện cổ suy nguyên là nguồn tư liệu quý giá cho tất cả các ngành khoa học xãhội ngày nay.Truyện cổ suy nguyên tuy không phải là tài liệu sử học thực sự nhưng vì
nó đã phản ánh ít nhiều tình trạng sinh hoạt xã hội loài người trong lịch sử, vì vậy các sửgia phong kiến Việt Nam xưa trong khi viết sử đã tham khảo nhiều ở truyện cổ suynguyên.Việc đặt truyện cổ suy nguyên lên đầu quyển sử, tuy là không chính xác nhưngcũng nói lên một điều là thần thoại đã có cống hiến cho lịch sử
Truyện cổ suy nguyên còn đặt nền móng cho tôn giáo Đối với người nguyên thuỷthì chưa có tôn giáo, mà vạn vật đều hữu linh, thần thoại đã tạo nên tín ngưỡng bái vậtgiáo nguyên thuỷ, là dây nối giữa vật tổ và thị tộc, thần thoại dần dần đã tô điểm, bổsung, làm nền móng cho thế giới thần của tôn giáo
Truyện cổ suy nguyên còn là nguồn cảm hứng vô tận cho mọi sáng tác văn họcnghệ thuật, mỹ học, hội hoạ, xưa và nay Tất cả những điều đó đã khẳng định giá trịmọi mặt của truyện cổ suy nguyên Việt Nam
Các chủ đề chính trong nội dung truyện cổ suy nguyên là:
- Lí giải về nguồn gốc vũ trụ và các hiện tượng tự nhiên:
Ví dụ: Thần trụ trời, Ông Trời, Nữ thần Mặt trăng, Mặt trời, Thần Mưa,
Đây là nội dung lớn thể hiện ý thức muốn tìm hiểu vũ trụ, lý giải vũ trụ và chinhphục thế giới tự nhiên của con người Luôn tiếp xúc với thiên nhiên kỳ vĩ, bí ẩn, conngười đã hình dung, lý giải thiên nhiên bằng trí tưởng tượng của mình, tạo ra cho cáchiện tượng xung quanh mình những hình ảnh sáng tạo, những câu chuyện phong phú,hình dung ra các vị thần lớn lao, những lực lượng siêu nhiên, hữu linh Bằng cách đó,con người đã làm ra truyện cổ suy nguyên
Lí giải về nguồn gốc muôn loài:
Ví dụ: Đẻ đất đẻ nước,…
Đây là các truyện kể về các việc sáng tạo ra muôn loài, Cũng như các vị thầncai quản thế giới ở trên trời, các vị thần cai quản trên mặt đất và dưới mặt đất, đã cùngvới các loài vật và con người tạo nên cuộc sống trần gian Truyện đã kể về hàng loạt cácgiống vật, cây cối, núi sông, gò đống đều không phải tự nhiên mà có mà do các vị thầnhợp sức sáng tạo ra hoặc do một sự kỳ vĩ của vũ trụ mà xuất hiện, trong đó có sáng tạo
Trang 19cả con người.
1.1.3.2 Thi pháp
Đầu tiên, ta chú ý tới cốt truyện.Cốt truyện là một hệ thống cụ thể những sự kiện,biến cố, hành động trong tác phẩm.Nó thể hiện mối quan hệ qua lại giữa các tính cáchtrong một hoàn cảnh xã hội nhất định nhằm thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm Cốttruyện là một cái gì độc đáo, không lặp lại, gắn bó trực tiếp với những yếu tố khác làmcho tác phẩm văn học trở thành một chỉnh thể nghệ thuật [22,tr59].Cốt truyện củatruyện cổ suy nguyên Việt, nhất là thần thoại suy nguyên nhìn chung còn đơn giản, íttình tiết Truyện cổ tích có nội dung suy nguyênthường dài hơn, có nhiều tình tiết hơn
Ví dụ: Chú cuội cung trăng Có những truyện mang hình thức liên kết của nhiều cốttruyện đơn, làm nên một hệ truyện, gồm tổng thể những câu chuyện lí giải về nguồn gốc
vũ trụ muôn loài, đồng thời là hệ thống những quan niệm hoang đường về thế giới
Thứ hai, ta chú ý tới nhân vật Nhân vật là con người hoặc sự vật được nhà vănmiêu tả trong tác phẩm có thể có tên hoặc không Nhân vật chính trong truyện cổ suynguyên là thần, cá nhân hay cộng đồng người hoạc là con vật Song phổ biến thường làthần Thần gắn với quan niệm vạn vật có linh hồn nên nó khác với thần của tôn giáo.Thần được gọi bằng những tên khác nhau như: Ông, bà, thần, tinh, trời các vị thầnkhác nhau ở chức năng, việc làm Đó là kết quả của sự tưởng tượng mộng mơ của conngười thời cổ đại Do vậy nhân vật của truyện cổ suy nguyên hầu như đều được mô tảvới hình dạng khổng lồ, có sức mạnh to lớn, có tính cách đơn giản một chiều, thiên vềmiêu tả hành động Dấu ấn của mầm mống tôn giáo nguyên thủy in đậm ở các nhânvật.Thủ pháp chủ yếu trong xây dựng nhân vật là phóng đại, nhân hóa, ẩn dụ.)
Tiếp đó, ta chú ý tới yếu tố motif Motif trong tiếng Latinh nghĩa là chuyểnđộng; trong văn học Trung Quốc phiên âm là mẫu đề Có thể tìm thấy một số motiftrong truyện cổ suy nguyên Việt: Motif cột chống trời (Thần Trụ Trời), motif bọc trămtrứng (Lạc Long Quân-Âu Cơ).Ở motif nào ta cũng thấy cái nhìn đậm chất thần thánhhóa với sự vật, gắn với cuộc sống khai phá tự nhiên ở miền rừng núi xa xưa
1.2 Khái quát về các nhóm dân tộc thiểu số Việt Nam
Trang 20Truyện cổ suy nguyên của các dân tộc thiểu số gắn bó chặt chẽ với đời sống cư trú,làm ăn, sinh hoạt, văn hóa của họ.Truyện cổ của các dân tộc khu vực này đã phản ánhsinh động, chân xác về không gian cư địa và lịch sử tộc người đặc trưng của đồng bàomiền núi Trong các sáng tác truyện kể, chúng ta cũng bắt gặp một số hình ảnh đặctrưng gắn với đời sống sản xuất, đời sống tín ngưỡng và sinh hoạt văn hóa của các dântộc Tất cả chúng hòa quyện với nhau tạo nên những ấn tượng riêng trong truyện kể cácdân tộc khu vực này.Vì vậy, muốn hiểu về truyện cổ suy nguyên của các dân tộc chúng
ta cần đi vào tìm hiểu về đặc trưng của các nhóm dân tộc này
1.2.1 Nhóm các dân tộc Môn – Khơme [35;tr45]
Cư dân Môn – Khơmelà cư dân bản địa của lục địa Đông Nam châu Á, hiện naybao gồm một số lượng dân tộc nhiều nhất ở nước ta, có thể chia thành hai bộ phận.Một
bộ phận thì sinh tụ và phát triển dọc theo dãy núi Trường Sơn và Tây Nguyên từ miềnnúi các tỉnh Trung và Nam Trung Bộ đến miền Đông Nam Bộ và bốn tỉnh Tây Nguyênbao gồm các dân tộc thuộc chỉ Katuic, Banaic như Bru – Vân Kiều, Tà Ôi, Cơ Tu, Co,Hrê, Giẻ Triêng, Xơ Đăng, Ba Na, Rơ Măm, Brâu, Mnông, Mạ, Cơ Ho, Xtiêng, Chơro.Còn một bộ phận ở Tây Bắc và miền núi hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An thuộc chiKhmuic như Mảng, Khơ mú, Kháng, Xinh Mun, Ơ Đu
Các dân tộc nhóm Môn – Khơme có quá trình giao lưu văn hoá lâu dài với các dântộc cộng cư trong từng vùng Ở Tây Bắc và miền núi tỉnh Nghệ An, họ chịu ảnh hưởngđậm nét của người Thái; còn ở Tây Nguyên, giữa họ và các dân tộc nhóm ngôn ngữNam Đảo có nhiều yếu tố chung, tương đồng; trong khi đó ở Nam Bộ là sự giao tiếp vănhoá giữa người Khơme và người Việt.Các tộc người nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me là cưdân bản địa, có lịch sử lâu đời ở Đông Dương Ngoài đặc điểm chung về ngôn ngữ,phần lớn các tộc người nhóm Môn-Khơ Me sinh sống dựa vào sản xuất nương kết hợpvới ruộng nước Họ sử dụng hình thức chọc lỗ tra hạt, cào cỏ để canh tác trên nươngdốc, dùng gùi để vận chuyển, giỏi đan lát, họ ở nhà sàn, uống rượu cần trong sinh hoạtvăn hoá cộng đồng.Về tín ngưỡng, thần lớn nhất của cư dân Môn-Khơme là ông trời.Tiếp đó là thần lúa, sau đó là thần núi, thần rừng…Ngoài ra, các vị thần đóng vai trò
Trang 21quan trọng và có tác động trực tiếp đến con người là thần sấm sét, thần duy trì phong tụcphù hộ cho cộng đồng trong những cuộc xung đột, thần mưa, thần gió… Đồng bào cònquan niệm có nhiều loại yêu quái mang lại tai họa cho con người và cho rằng số phậncon người phụ thuộc vào quan hệ giữa người đó với thế giới siêu linh Người Tà Ôiquan niệm vạn vật đều có linh hồn, tín ngưỡng đa thần: Thần nước, Thần chỗ ở gia đình,
Thần nhà dài, Thần hổ,…chi phối hầu hết các mặt trong cuộc sống của họ Người
M'nông cũng theo tín ngưỡng đa thần, đặc biệt là các vị thần nông nghiệp và các vị chưthần giống như các vị thần của người Cơ Ho, người Mạ
Đồng bào còn có nền văn học dân gian rất phong phú với các trường ca, cổ tích,truyện cười, ca dao, tục ngữ phản ánh rõ nét nhân cách con người và xã hội TâyNguyên Đây là dân tộc dùng truyện cổ để viết lên lịch sử và các bài học sơ khai từ thuởcòn nguyên sơ của cộng đồng mình.Các truyện đã giải thích một cách ngây thơ song sâusắc về sự hình thành vũ trụ và muôn loài.Sự sâu sắc ấy nằm trong giá trị giáo dục của
truyện cổ Ví dụ truyện Nguồn gốc dân tộc giáo dục về tinh thần đoàn kết các dân tộc anh em Hay truyện Sự tích cưa răng lại giáo dục việc con người cần có trách nhiệm với
cộng đồng Truyện cũng thể hiện cái nhìn riêng của con người với vũ trụ Từ khi xã hộicòn sơ khai, con người chưa phân biệt rõ với các siêu linh.Vạn vật ở đây đều có linhhồn, biết nói năng, có thể hóa người, kết hôn với người Người Môn – Khơme rất đề caotôn giáo nguyên thủy.Họ đưa yếu tố tôn giáo này vào cái nhìn vạn vật Nó là tôn giáobản địa qua các tình tiết sinh nở thần kì, người hóa thần, vật hóa người,…chứ khôngphải do ảnh hưởng của tôn giáo nước ngoài Truyện cổ của dân tộc Môn – Khơme từgiai đoạn này cũng đã xuất hiện truyện đề cao chính nghĩa với sự xuất hiện của thế lựctrợ giúp siêu nhiên.Rõ ràng, ta có thể thấy: dù gần với Ấn Độ song điểm thú vị củatruyện cổ nhóm dân tộc này là không bị ảnh hưởng, chi phối bởi văn hóa nước lớn xungquanh Truyện cổ của nhóm dân tộc này mang đậm bản sắc văn hóa vùng miền.Ngoài
ra, truyện cổ của họ cũng rất đa dạng về thể loại Có cả thần thoại như Nguồn gốc dân tộc, ; sử thi như Chàng Chương dũng cảm, ; truyện cổ tích như Chàng Ná, Cậu bé cứu
Trang 22dân,…; truyền thuyết như Truyền thuyết về đảo Lý Sơn,…truyện ngụ ngôn như Cọp vật thi với côi giã gạo,…
1.2.2 Nhóm các dân tộc Nam - Đảo [35;tr431]
Nhóm ngôn ngữ Nam Đảo gồm có 5 tộc người: Ê Đê, Gia Rai, Ra Glai, Chăm vàChu Ru Đồng bào cư trú rải rác ở vùng đất Tây Nguyên và ven biển miền Trung thuộccác tỉnh Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum, Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận, Ninh Thuận,
…
Các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Đảo là những đại diện tiêu biểu chomối giao thoa với các nền văn hoá Ấn Độ và Trung Hoa ở Việt Nam.Văn hoá của cư dânnhóm Nam Đảo mang đậm dấu ấn mẫu hệ.Điều này được thể hiện rõ nét thông qua đờisống và dấu ấn văn hoá tộc ngườì
Người Chăm đã từng có nhà nước Vương quốc Champa xưa kia để lại một nềnvăn hóa hết sức phong phú với hàng loạt đền tháp rất nổi tiếng Chữ viết Chăm thuộc hệchữ gốc Ấn Độ Phụ nữ Chăm giỏi dệt lụa và làm gốm Hiện tại, bộ phận người Chăm ởduyên hải miền Trung theo đạo Bàlamôn hoặc Bàni Kinh tế truyền thống chính của họ
là nông nghiệp lúa nước Bộ phận ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Nam Bộ theoIslam giáo Họ chủ yếu sinh sống bằng đánh cá, buôn bán và có nghề đóng thuyền nổitiếng
Người Chăm Hroi và 4 tộc người khác thuộc ngữ hệ Nam Đảo (Giarai, Êđê,Raglai, Churu) sinh sống ở Tây Nguyên và miền núi các tỉnh từ Phú Yên vào BìnhThuận Sự phân bố này nối liền với địa bàn cư trú của người Chăm, tạo thành một vùngvăn hoá Nam Đảo ở Đông Dương Các cư dân Nam Đảo có mặt ở Tây Nguyên từ rấtsớm, nhưng sau các cư dân ngôn ngữ Môn – Khơme và trước khi hình thành vươngquốc Champa Nguồn sống chính của họ là lúa rẫy, gieo trồng theo chế độ hưu canh, bỏhoá đất lâu năm rồi mới canh tác trở lại Ruộng nước trước đây chỉ có ở một số nơi cóđất sình lầy.Tổ chức xã hội tự quản cổ truyền là làng, tập hợp các gia đình lớn mẫuhệ.Tuy nhiên, các gia đình nhỏ (gồm một cặp vợ chồng và các con) nay đã phổ biến.Đời sống vận hành theo phong tục Tính cộng đồng làng rất cao, nhưng sự phân hoá
Trang 23giàu nghèo trong dân làng cũng đã rõ.
Do đặc điểm vùng cư trú và ảnh hưởng văn hóa của các nước bên cạnh nên truyện
cổ của nhóm dân tộc này cũng có ít nhiều ảnh hưởng Nhiều truyện giống với truyện củaCampuchia, Lào và cũng không ít truyện có hệ thống nhân vật giống với cả dân tộc Môn– Khơme.Ở đó, ta cũng thấy cách giải thích về sự hình thành vũ trụ và muôn loài giống
các dân tộc khác Ví dụ: truyện Tổ chim Tồ Rộc với motif giải thích tại sao chim làm tổ,
Sự tích con voi với việc lí giải việc thuần dưỡng voi,…Motif sụt đất xuất hiện trong
truyện cổ nhiều dân tộc khác cũng là một motif quen thuộc ở truyện cổ của dân tộc NamĐảo.Từ đó, ta cũng thấy hệ thống truyện lí giải về muôn loài trong kho truyện của dântộc này rất phong phú.Cũng do các cuộc chiến tranh bộ tộc diễn ra liên miên mà dân tộcnày có nhiều sử thi và truyện cổ thần kì Đây là các thể loại vẽ lại cho ta thấy một vùngđất tuy kinh tế còn thấp kém song văn hóa mang nét riêng Những áng anh hùng ca củadân tộc này mang nét giản dị hơn Người anh hùng có thể có xuất thân bình thường nhưchàng trai mồ côi Yrit
1.2.3 Nhóm các dân tộc Việt - Mường [35;tr645]
Nhóm cư dân Việt-Mường gồm có 4 dân tộc: Việt, Mường, Chứt, Thổ Người LạcViệt là tổ tiên của cư dân Việt-Mường Cư dân Việt-Mường là cư dân bản địa, được hìnhthành tại chỗ và đã đóng vai trò chủ thể trong tiến trình lịch sử Việt Nam kể từ thuở sơkhai
Có ý kiến cho rằng, ngay thời Hùng Vương dựng nước, người Lạc Việt đã từ nơi
cư trú thuở ban đầu ở miền núi trung du chuyển cư về miền xuôi, khai phá vùng châuthổ sông Hồng, sông Chu, sông Mã Nhưng có một bộ phận ở (lại) miền núi Con cháusau này của những người đó, chính là người Mường ngày nay.Nhưng có nhiều ý kiếncho rằng việc “tách” đó có thể bắt đầu vào những thế kỷ sau Công nguyên Vào thời kỳBắc thuộc, để tránh áp bức, bóc lột, đồng hóa, lao dịch, nhiều bộ phận người Việt cổ di
cư lên miền ngược, lùi sâu vào vùng núi phía tây Và con cháu của họ sau này là ngườiMường hiện nay, nhưng chỉ sau thế kỷ X thì người Việt và người Mường mới phân hóathành hai tộc người riêng biệt Hay nói cách khác, từ thời đó người Mường bắt đầu được
Trang 24coi là một dân tộc thiểu số.
Hiện nay, nếu xếp thứ tự theo dân số thì người Mường đứng hàng thứ sáu Họ cưtrú trên một địa bàn khá rộng, kéo dài từ Yên Bái, Sơn La đến Hòa Bình (là nôi chính)xuống tận miền tây Thanh Hóa, Nghệ An Người Mường tự gọi mình là Mol - nghĩa làngười, nhưng Mường đã trở thành tộc danh chính thức của họ, dù ấy vốn là từ dùng đểchỉ một địa phương, một khu vực (như Mường Bi, Mường Vang v.v.)
Người Chứt: người ở lèn đá, núi đá, hiện cư trú ở miền tây tỉnh Quảng Bình(huyện Minh Hóa, Tuyên Hóa) và một số ở huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, cũng làmột dân tộc bản địa, có chung nguồn gốc với người Việt và người Mường Trong buổiđầu dựng nước, họ còn nằm trong khối người Lạc Việt, họ tách ra (khỏi khối tiền Việt-Mường) cùng lúc với người Mường Họ vốn cư trú khá lâu đời ở vùng Quảng Trạch, BốTrạch (tỉnh Quảng Bình) cách đây ít nhất nửa thế kỷ, họ đã lùi dần vào vùng núi sâumiền tây Quảng Bình Người Chứt có số dân không đông (đứng ở hàng 44 trong tổng số
54 dân tộc hiện nay), nhưng bao gồm nhiều nhóm như Sách, Mày, Rục, Mã Liềng,Arem,…
Người Thổ: là một tộc người được hình thành gần đây từ sự cố kết của nhiềunhóm khác nhau như Kẹo, Mọn, Cuối, Họ, Ðan Lai - Ly Hà, Tày Poọng Trong đó nhómÐan Lai - Ly Hà, Tày Poọng vốn tách ra từ cộng đồng tiền Việt-Mường mà thời LýTrần được gọi là Trại; còn nhóm Kẹo là con cháu của người Việt, nhóm Mọn là concháu người Mường từ Thanh Hóa chuyển vào Ngoài ra còn có một số nhóm thuộc cộngđồng người Thái nhưng sống gần gũi với các nhóm trên nên đã hợp nhất vào cộng đồngngười Thổ Hiện nay người Thổ sống chủ yếu ở các huyện miền tây Nghệ An, nhưNghĩa Ðàn, Tân Kỳ, Quỳ Hợp, Con Cuông
Tuy nhiên, hiện nay chúng ta chưa sưu tầm được truyện cổ của các dân tộc thiểu
số đó nên thực tế chúng ta chủ yếu đi vào tìm hiểu truyện của dân tộc Mường Truyệncủa dân tộc Mường chịu ảnh hưởng của cả hai dân tộc Việt và Thái Ví dụ: truyện kể vềnhân vật ông Đùng khai thiên phá thạch giống với thần Trụ Trời trong thần thoại dân tộc
Việt và Ải Lậc Cậc của dân tộc Thái Hay người Mường cũng có nhân vật Cuội giống
truyện cổ Việt Song dân tộc Mường vẫn để lại những tác phẩm đặc sắc vượt hơn cả hai
Trang 25dân tộc bạn.Sử thi Đẻ đất đẻ nước của dân tộc Mường là một ví dụ.Bộ sử thi đồ sộ cả về
số lượng và nội dung, nó đã lưu giữ lại cách nhìn thú vị của dân tộc Mường về nguồngốc vũ trụ, muôn loài cũng như quá trình đi lên xây dựng xã hội sơ khai Do xã hội hìnhthành sớm, người Mường có nhiều truyện nói về xã hội với tình tiết khá phức tạp, ví dụ
Nàng vỏ trứng, Người hóa khỉ,…Những truyện này có motif quen thuộc trong truyện cổ
tích xưa với việc bênh vực người nghèo, chống lại bất công xã hội
1.2.4 Nhóm các dân tộc Tày - Thái [35;tr765]
Các tộc người nhóm ngôn ngữ Tày-Thái có chung nguồn gốc lịch sử nằm trongkhối Bách Việt xưa Cư dân Tày-Thái cổ đã góp phần sáng tạo nền văn hoá bản địa ởvùng Nam Trung Quốc và Bắc Đông Dương, được gọi là văn hoá Nam Á hay văn minhSông Hồng
Nhóm ngôn ngữ Tày-Thái có 8 tộc người: Tày, Thái, Nùng, Lào, Lự, Bố Y, SánChay, Giáy Đồng bào cư trú tập trung ở các tỉnh như: Lạng Sơn, Cao Bằng, TháiNguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Hà Giang, Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái,Thanh Hóa, Nghệ An…Cư dân nhóm Tày – Thái thường tụ cư ở các vùng thung lũng và
có trình độ kỹ thuật cao trong canh tác lúa nước, với những biện pháp như dùng cày cótrâu kéo, thâm canh, làm thủy lợi Một số nghề thủ công truyền thống rất phát triển,đặc biệt là dệt vải
Thiết chế gia đình theo truyền thống phụ hệ Từ rất sớm đã xuất hiện hình thức tổchức xã hội theo kiểu phong kiến sơ kỳ, điển hình là chế độ quằng ở ngườiTày, phìa tạo
ở ngườiThái Các cư dân nhóm Tày – Thái thờ cúng tổ tiên và chịu ảnh hưởng củaKhổng giáo, Phật giáo, Đạo giáo ở các mức độ khác nhau.Nhiều giá trị văn hóa của họảnh hưởng không ít đến các tộc người khác trong vùng Ở nhiều nơi, tiếng Tày hoặctiếng Thái đã trở thành ngôn ngữ giao tiếp chung của địa phương Một số cư dân có chữviết riêng, theo mẫu tự Ấn Độ hoặc chữ tượng hình
Đặc điểm xã hội của người Tày – Thái đã được thể hiện rõ trong các truyện cổ.Đó
là các truyện phản ánh về xã hội với phương thức sản xuất lúa nước từ muôn đời.Ta có
thể thấy qua truyện Nguồn gốc cây lúa, Lễ cúng đôi rắn, Sự tích cây báng, Mẹ lúa, Mẹ
Trang 26ngô,…Những truyện này phản ánh kinh nghiệm trồng trọt của dân tộc Tày – Thái và
giáo dục con người cần trân trọng lương thực Tinh thần xã hội của nhóm dân tộc này
cũng được thể hiện qua tinh thần chống ngoại xâm Các truyện Tình bạn, Chàng Ín – nàng Căm,…đã ca ngợi tinh thần chống ngoại xâm của nhân dân biên giới, ca ngợi sự
dung cảm, chính trực của con người trong việc bảo vệ buôn làng Đặc biệt, một sốtruyện trong đó còn ảnh hưởng bởi Nho giáo.Rõ ràng, nhóm dân tộc này tiếp xúc với
văn hóa đa dạng hơn Ta có thể thấy qua truyện Thần núi xanh và anh chàng làm thuê
họ Lục, Thàng Cao Chúa,…Những câu truyện đã xây dựng hình mẫu chuẩn của con
người theo tinh thần Nho giáo Tinh thần ấy còn đi liền với sự phê phán bất công xã hội
hoặc châm biếm những hạng người vô dụng.Ví dụ truyện Chàng Bả Khó phê phán anh chàng không chịu làm ăn, hư hỏng, sau này trở lại nghèo khó Truyện Nàng Khao phê
phán thế lực gian ác, thể hiện ước mơ thiện thắng ác như trong cổ tích Việt.Ngoài ra,trong truyện kể các dân tộc miền núi phía Bắc, đặc biệt là dân tộc Tày, hình ảnh trúc(tre) xuất hiện rất phổ biến Đặc trưng này có liên quan đến một phần là sự phổ biến củaloại cây này trong không gian tự nhiên, một phần là vai trò và giá trị sử dụng của câytrúc, tre trong đời sống và phần lớn là liên quan đến tín ngưỡng, quan niệm của đồngbào các dân tộc Hình ảnh về các loại nhạc đặc trưng của các dân tộc miền núi phía Bắccũng là một nét riêng không lẫn với truyện kể các dân tộc khác.Đồng bào Tày, Nùng,Thái luôn được biết đến với cây tính tẩu (đàn tính), đồng bào Hmông lại nổi tiếng vớicây khèn.Hệ thống hình ảnh đặc trưng đã góp phần phản ánh được những dấu ấn đặc thùcủa đời sống tự nhiên, đời sống vật chất cũng như đời sống tinh thần của đồng bào miềnnúi phía Bắc
1.2.5 Nhóm các dân tộc Hmông – Dao [35;tr1005]
Nhóm ngôn ngữ H’mông – Dao có 03 tộc người : H’mông, Dao, Pà Thẻn Tộcngười H’mông có các nhóm: H’mông Trắng, H’mông Hoa, H’mông Đỏ, H’mông Đen,H’mông Xanh.Tộc người Dao có các nhóm: Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Lô Gang,Dao Tiền, Dao Quần Trắng, Dao Thanh Y, Dao Làn Tiển Mỗi nhóm có nhiều ngành nhỏkhác Tộc người Pà Thẻn, di cư vào Việt Nam cách đây khoảng 200 – 300 năm
Trang 27Dân tộc H'mông cư trú gồm hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc trong một địa bànkhá rộng lớn, dọc theo biên giới Việt - Trung và Việt - Lào từ Lạng Sơn đến Nghệ An,trong đó tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc Đông và Tây bắc Việt Nam như: Hà Giang,Lào Cai, Lai Châu, Sơn La Do tập quán du mục nên một số người H'mông trongnhững năm 1980, 1990 đã di dân vào tận Tây Nguyên, sống rải rác ở một số nơi thuộcGia Lai và Kon Tum.Thuộc ngữ hệ này ở Việt Nam, ngoài người Hmông và người Dao,còn có người Pà Thẻn, tổng dân số của cả 3 dân tộc hơn 1,8 triệu người (2009) Họ cưtrú ở hầu khắp các tỉnh miền núi Bắc Bộ, một số ở bắc Trung Bộ Người Hmông phân
bố trên vùng cao; người Dao và Pà Thẻn chủ yếu sinh sống ở vùng núi giữa
Người H’mông có một đời sống tinh thần đa dạng và phong phú về phong tục tậpquán, tôn giáo tín ngưỡng và chữ viết, tiếng nói, văn hoá nghệ thuật.Trong cộng đồng 54dân tộc Việt Nam, dân tộc H’mông là một trong những dân tộc ít bị mai một hơn về bảnsắc văn hóa truyền thống của dân tộc
Các vùng người H'mông sinh sống thường có chợ phiên.Chợ phiên qui định họp 6ngày một lần (có nơi 5 ngày một phiên).Quan hệ trao đổi hàng hoá trên cơ sở vật đổi lấyvật, dùng tiền tệ trao đổi rất ít.Chợ phiên vừa là nơi trao đổi hàng hoá, vừa là nơi gặp gỡcác tầng lớp trong xã hội.Trong đó, có một phiên chợ mang nét đặc sắc văn hóa củangười H’mông, đó là “Chợ tình” Chợ tình được tổ chức mỗi năm một lần Chợ tìnhSapa, là nơi thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến tìm hiểu nét văn hóa đặc sắcnày
Hôn nhân gia đình của người H’mông theo tập quán tự do kén chọn bạn đời Nhữngngười cùng dòng họ không lấy nhau.Thanh niên nam nữ được lựa chọn bạn đời.Việc lựachọn bạn đời được biểu hiện ở tục “cướp vợ” trước đây Người thanh niên cùng bạn bècướp người con gái yêu thích về ở nhà mình vài hôm rồi thông báo cho gia đình nhà gáibiết Vợ chồng người H’mông rất ít bỏ nhau, họ sống với nhau hòa thuận, cùng làm ăn,cùng lên nương, xuống chợ
Các dân tộc này đều thực hiện tổ chức gia đình và xã hội theo chế độ phụ hệ trong
đó vai trò của người đàn ông là rất quan trọng Nhưng trong truyện cổ tích, ta thấy xuấthiện xung đột giữa nhân vật con rể trong quan hệ với bố mẹ vợ Như vậy, chế độ phụ hệ
Trang 28trong tổ chức gia đình ở đồng bào thiểu số miền núi phía Bắc vẫn còn sót lại một số biểuhiện của chế độ mẫu hệ.
Văn hoá của nhóm dân tộc này là một thành tố văn hoá Việt Nam, bản sắc văn hoáđộc đáo của họ đã đóng góp và làm phong phú cho nền văn hoá Việt Nam Trong thời
kỳ hội nhập quốc tế như hiện nay, để phát triển “hòa nhập” mà không bị hòa tan, mấtbản sắc, thì việc bảo tồn văn hóa dân tộc đòi hỏi phải có sự nghiên cứu, tâm huyết, bền
bỉ, lâu dài Có như thế những giá trị văn hóa sẽ mãi mãi được gìn giữ và phát huy
Truyện cổ của dân tộc này cũng thể hiện đúng bản sắc văn hóa dân tộc, đặc biệt thểhiện quan điểm về hình thành vũ trụ và sự phản kháng với tầng lớp thống trị.Với họ,người khổ nhất trong xã hội là người mồ côi.Đây cũng là đối tượng bị bóc lột, đènén.Người bóc lột có khi lại là chính gia đình, họ hàng của họ Vì thế người Hmông đã
sáng tạo ra những chi tiết ưu ái cho người mồ côi, ví dụ: truyện Chiếc cối xay có chi tiết
xay ra thịt, cơm mà chỉ người mồ côi mới được hưởng Người mồ côi cũng được ưu áikhi xây dựng với bao tính cách, tài năng tốt đẹp.Một tài năng không thể thiếu và trởthành đặc trwung của nhân vật trong truyện cổ Hmông là tài thổi khèn.Trong truyện
Trâu Trua múa khèn, ta thấy nhân vật mồ côi đã giành được người vợ xinh đẹp cũng
nhờ tài thổi khèn của mình Vì sống theo chế độ mẫu hệ nên nhân vật phải chịu nhiềubất công trong truyện cổ của người Hmông lại là các chàng rể Các chàng hay phải chịu
ấm ức, mâu thuẫn với bố vợ Truyện “Người vợ chim” phản ánh mâu thuẫn tới mức cao
độ khi ông bố vợ buộc phải giết con rể để giữ lại truyền thống cũ Trogn truyện củangười Dao, mâu thuẫn xã hội được xây dựng qua cuộc đấu tranh giữa những dũng sĩ với
bạo chúa Trong Chàng nghèo lên làm vua, dũng sĩ Đản Kháo đã tiêu diệt được bạo
chúa và được suy tôn làm vua Mảng truyện suy nguyên về vũ trụ cũng cho thấy quanđiểm riêng của người Hmông Dân tộc này xây dựng motif đại hồng thủy và việc haianh em lấy nhau để biện hộ cho chế độ quần hôn khá lạc hậu của họ Nhiều truyện ca
ngợi đất như Mẹ đất, mẹ hiền cho thấy dân tộc này rất coi trọng đất đai canh tác Có một
số truyện giải thích nhân dạng của con người qua con mắt nguyên thủy rất hồn nhiên, ví
dụ Phụ nữ có vú nuôi con, Mái tóc của người,…
Trang 291.2.6 Nhóm các dân tộc Tạng - Miến [35;tr1095]
Nhóm ngôn ngữ Tạng – Miến thuộc ngữ hệ Hán – Tạng, phân bố rộng ở ĐôngNam Á lục địa: từ Myanmar, bắc Thái Lan, bắc Lào, tây bắc Việt Nam cho đến namTrung Quốc và sang tận đông bắc Ấn Độ Có rất nhiều tộc người: Akha, Yi, Lisu,Kachin, Chin, Naga, Karen, Mosso, Bisu Ở Myanmar, người Miến (Bamar) đã lập nênquốc gia
Ở Việt Nam, thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng – Miến có 6 dân tộc: Hà Nhì, La Hủ, Lô
Lô, Cống, Si La và Phù Lá, tổng dân số gần 50.000 người (2009) Một số ít có mặt ởmiền núi Bắc Bộ từ rất sớm, còn phần lớn di cư tới trong khoảng từ thế kỷ 17 đến đầuthế kỷ 20 Họ sống thành những xóm nhỏ rải rác trên các vùng núi cao gần biên giớiphía bắc, mưu sinh chủ yếu bằng nông nghiệp nương rẫy, hoặc ruộng bậc thang (trồngngô, lúa ), kết hợp với săn bắn, bắt cá và hái lượm Trong đời sống, nhiều yếu tố cổtruyền vẫn được bảo lưu.Một kiểu trang trí đặc sắc, khá phổ biến ở các tộc người nhómTạng - Miến, là trên y phục thường có ghép các mảnh vải màu, dấu ấn của văn hóa dumục.Hạt cây, vỏ ốc, xu bạc cũng được sử dụng trong trang trí hoặc làm trang sức
Dân tộc này cũng có nhiều truyện giải thích nguồn gốc vũ trụ, muôn loài, ví dụ
như: Rồng và người, Mặt trời và mặt trăng,…Những truyện này thể hiện dấu ấn sâu sắc
của chế độ quần hồn xa xưa Đồng thời các truyện cũng cho thấy công sức của conngười trong việc chiếm lĩnh tự nhiên Nhiều truyện đã chứng minh: con người là giống
thông minh, tài giỏi nhất, có thể làm thay đổi vạn vật Ví dụ truyện Sự tích mặt trời và mặt trăng đã kể lại cuộc đấu tranh vất vả của con người để giành lại được nguồn ánh
sáng thiên nhiên từ mặt trời, mặt trăng Khỉ cũng là một loài tượng trưng cho thế lực tànphá cuộc sống của con người Có lẽ nó bắt nguồn từ việc người dân thường xuyên phảichống lại việc khỉ tới tàn phá mùa màng.Ngoài khỉ còn có beo già Vì thế truyện hayxây dựng hình ảnh con người đấu tranh chống lại các loài này Cuộc đấu tranh ấy thểhiện sức mạnh, ý chí quyết tâm của con người.Người tài năng trong số họ sẽ được suytôn làm người đứng đầu để giúp nhân dân diệt trừ các loài ác thú, bảo vệ cuộc sống yênbình Việc tìm nguồn lương thực lâu dài cũng là một cuộc đấu tranh của con người
Trang 30Truyện cổ các dân tộc này đã thông qua những sự tích để kể lại công cuộc trồng lúanước từ sơ khai của con người Từ hái lượm họ chuyển sang trồng trọt và đạt đượcthành quả lớn Vì xã hội sớm phân hóa nên nhiều truyện cổ của dân tộc này đã phản ánh
cuộc đấu tranh thiện – ác, giàu – nghèo rõ nét Trong truyện Vàng Ý Lỳ ta gặp hình ảnh
chàng trai mồ côi Ý Lỳ đối mặt với thói gian xảo của tầng lớp thống trị và cuối cùng đã
giành thắng lợi Hay trong truyện Đầu rắn, ta thấy cuộc đấu tranh thiện – ác qua nhân
vật người anh độc ác và người em vị tha Người em tha cho anh nhưng vì lòng thamkhông đáy người anh đã tự tìm đến cái chết
2 Các tác phẩm truyện cổ suy nguyên phát triển và lưu giữ chủ yếu ở các đồngbào dân tộc ít người Truyện cổ suy nguyên của họ trong một quá trình lâu dài được lưutruyền bằng miệng.Mỗi dân tộc Việt thời cổ đều có một kho truyện cổ suy nguyên riêngtương ứng với nét đặc sắc văn hóa mỗi vùng miền Các câu truyện này là những chứngtích, những tài liệu sống, giúp chúng ta hình dung lại được diện mạo sinh hoạt, cáchthức tư duy và sáng tạo văn hoá, sáng tạo nghệ thuật của các dân tộc ít người từ thời xa
Trang 31xưa cho tới ngày nay.
Từ những nhận định trên, chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu sâu đặc điểm truyện cổ suynguyên của các đồng bào dân tộc để làm rõ đặc sắc văn hóa này.Phần này sẽ làm làm rõ
ở chương 2 và 3
Chương 2
Trang 32Kết cấu và motif trong truyện cổ suy nguyên
của các dân tộc thiểu số 2.1 Kết cấu
2.1.1 Kết cấu cốt truyện suy nguyên về nguồn gốc hình thành vũ trụ
Đa phần những tác phẩm thuộc đề tài này có kết cấu ở dạng đơn giản, chưa cónhiều chi tiết, thể hiện cách lý giải còn thô sơ rời rạc trong nhận thức về thế giới của conngười thời cổ Kết cấu này xây dựng theo một số sơ đồ nhất định, theo một đườngthẳng, tuyến tính, sự kiện nào xảy ra trước kể truớc, sự kiện nào xảy ra sau kể sau vàmang tính chất trọn vẹn Ở những cốt truyện này thường có kết cấu:
- Mở đầu: Vũ trụ hỗn mang
- Phần trung tâm: Thần xuất hiện để kiến tạo vũ trụ
- Kết thúc: Vũ trụ được hình thành Xong công việc, thần ra đi
Ở phần mở đầu trong truyện cổ suy nguyên, ta thấy các dân tộc thiểu số đã lí giảinguồn gốc vũ trụ từ cái chưa có đi đến cái có, từ chỗ chưa bắt đầu đến bắt đầu, từ chỗhỗn mang đến chỗ thiết lập những trật tự của thế giới với những mô hình nhất định Vaitrò của phần này là giới thiệu khái quát về bối cảnh, các điều kiện, nguyên nhân làm nảysinh sự kiến tạo vũ trụ Hoàn cảnh ở đây thường nằm trong trạng thái tĩnh, nhân vật kiếntạo chưa xuất hiện, chưa phát huy tính năng động của mình
Trong sử thi Đẻ đất đẻ nước, dân tộc Mường đã khắc họa những nét đẹp hoành
tráng song đơn giản trong việc khai sinh vũ trụ Người nghệ sĩ dân gian đã dựng lại được
cả một bức tranh hoành tráng về cảnh tượng một thế giới Mường cổ vào cái thời hỗnmang Cuộc sống qua lời kể và trong con mắt người xưa thuở ấy được hình dung tưởngtưởng tượng thật đáng sợ, chứ tuyệt nhiên không kì thú
“Bên trái ra gió ầm ầm Bên phải ra gió cuồn cuộn Cuốn đất đã thành đất Cuốn nước đã thành nước Trời ra trước là khât”.
Trang 33“Ngày xưa sinh đời trước Dưới đất chưa có đất Trên trời chưa có trời Trên trời chưa có ngôi sao đo đỏ Dưới đất chưa có ngọn cỏ xanh xanh…”
Phần mở đầu của truyện Hạt dẻ thần kì (dân tộc Ê-đê) kể rằng thuở xa xưa, vũ trụ
chỉ là một hạt dẻ to bằng cái ché Mọi thứ trống vắng, chưa có loài vật, con người Sựhoang tàn ấy cứ đi cùng mưa nắng Nhưng rồi hạt dẻ to dần chiếm cả không gian bao la.Phần mở đầu này đã giới thiệu ngay được hạt dẻ - hình ảnh biểu tượng trung tâm chínhtrong tác phẩm Trong quan niệm của người dân Ê-đê bấy giờ, vũ trụ gắn với những thứgần gũi xung quanh, tiêu biểu là hạt dẻ Tuy chưa biết hình dạng vũ trụ song họ đãtưởng tưởng vụ trụ có hình cầu giống hạt dẻ Tưởng tượng ấy vừa mang tính duy vật thô
sơ vừa thể hiện triết lí về một vũ trụ ẩn tàng nhiều yếu tố bên trong
Trong phần trung tâm, truyện cổ suy nguyên xoay quanh kết cấu: Một vị thần xuấthiện – thần thực hiện công việc Đây là kết quả của sự tưởng tượng nguyên thủy, từ sựnhân hóa tự nhiên để hình dung ra các vị thần để rồi lại tưởng tượng chính các vị thần
đã kiến tạo thế giới Nhân vật thường xuất hiện đột ngột trong cõi hỗn mang, hình dạngkhổng lồ, thực hiện công việc của người sáng tạo ra thế giới Phần này có vai trò bộc lộtrực tiếp những yêu cầu cần kiến tạo vũ trụ có từ trước, các nhân vật sẽ đứng trướcnhững thử thách, đòi hỏi phải hành động nhằm thay đổi vũ trụ Chúng ta có thể thống kêkết cấu này qua bảng như sau:
Bảng mô tả về kết cấu phần trung tâm của truyện cổ suy nguyên
Trang 34Thần thoại của
người Bana
Bok Kơi Dơi, Ia Kon Keh IaKonKeh dùng cám vắt ra trời
đất, Bok Kơi Dơi thì làm ra mặttrăng, mặt trời và các ngôi sao
Ông bà tạo ra trời, đất
Khúa Kê (Hơ
mông)
ông Chày bà Chày Ông Chày tạo ra bầu trời và bà
Chày tạo ra trần gian, nắn mặtđất hẹp lại cho khớp với bầu trờiThần thoại của
người Thái ở
Tây Bắc
vị thần Chẩu răng dệt pú,
vị thần Chẩu răng dệtphẳng, vị thần Chẩu chụcchẩu chao
vị thần Chẩu răng dệt pú là ngườiđắp nên núi cao, vị thần Chẩurăng dệt phẳng là người đào nênkhe sâu, vị thần Chẩu chục chẩuchao là người san gò đống, đắp
hồ ao, tạo nên ruộng nương
Ở phần kết thúc, thế giới được tạo ra vừa kì diệu vừa hợp lí Nó phù hợp với logic
về lao động của người xưa Lao động phải tạo ra thành quả làm thay đổi cuộc sống Sau
đó, tất cả các thần đều biến mất, để lại vũ trụ cho muôn loài và con người Phần này cóvai trò nêu kết quả của quá trình tạo lập vũ trụ một cách cụ thể Bao giờ phần kết thúccũng được giải quyết một cách tự nhiên, phù hợp với qui luật của cuộc sống, phù hợpvới ước muốn chủ quan của con người
Trong truyện Hạt dẻ thần kì, sau khi tạo núi tạo sông và con người xong, thần biến
đi mất một cách tự nhiên và đột ngột như khi thần xuất hiện Trong sử thi Đẻ đất đẻ nước, dân tộc Mường cũng để các vị thần biến mất ngay sau khi hoàn thành công việc
để nhường chỗ cho một nhân vật khác xuất hiện Cùng với đó là sự ra đời của vũ trụ tođẹp như để đền đáp công lao của họ Các truyện đều xây dựng hình ảnh vũ trụ từ hỗmang, hoang sơ thành có bầu trời, trái đất phân minh Trên đất đai có sự sống, cây cối,muông thú và đặc biệt hình thành con người
Rõ ràng, kết cấu trong những tác phẩm này tuy đơn giản nhưng có nhiệm vụ tổchức hệ thống quá trình dẫn tới việc tạo lập vũ trụ đồng thời tô đậm hành động của nhânvật, làm cho những yếu tố đó gắn bó chặt chẽ, tác động qua lại ngay từ bên trong tác
Trang 35phẩm Bằng kết cấu này, truyện kể về nguồn gốc vũ trụ và tự nhiên phản ánh cách giảithích, nhìn nhận hết sức hồn nhiên của con người thời cổ về vũ trụ, núi sông, biển cả,đất trời và muôn vàn các hiện tượng tự nhiên khác, đã chứa đựng cả khoa học và triếthọc duy vật sơ khai Có thể tìm thấy trong đó cái logic biện chứng của mối quan hệ giữacon người với thiên nhiên và môi trường sinh tụ thuở ban đầu, khi con người mới định
cư trên những vùng đất hoang sơ còn nhiều lạ lẫm
2.1.2 Kết cấu cốt truyện suy nguyên về nguồn gốc hình thành muôn loài và loài người
Kết cấu này cũng được xây dựng theo một đường thẳng, tuyến tính và mang tínhchất trọn vẹn, nhưng phức tạp hơn Nó kể về toàn bộ số phận, cuộc đời của nhân vậtchính, từ khi sinh ra đến khi kết thúc Kết cấu nội dung của truyện luôn bao gồm sự xuấthiện liên tiếp các motif khác nhau ở các thời điểm khác nhau Nó có thể mang hình thứcmột cốt truyện với nhiều chủ đề, kết cấu của truyện là các cốt truyện đơn, song đã cóthêm một số tình tiết, biến cố, sự kiện (Truyện về chủ đề Hồng thuỷ xen cài với chủ đềQuả bầu, chủ đề Sáng tạo loài người, ) Hiện tượng phức hợp về chủ đề trong kết cấuphản ánh sự chứa đựng nhiều lớp văn hoá đã được chồng lấp lên nhau trong quá trìnhlưu truyền Dạng kết cấu lớn nhất của truyện là dạng nhiều cốt truyện đơn làm nên một
hệ truyện Đó là tổng thể những câu chuyện về các thần và các nhân vật, đồng thời là hệthống những quan niệm hoang đường về thế giới Kết cấu này, nhìn chung là kết cấu củanhững áng sử thi - thần thoại lớn Ở những hệ truyện này, trong quá trình lưu truyền, cáccốt truyện đơn có mối liên hệ móc xích với nhau đồng thời ở mức độ nào đó chúng có
tính độc lập tương đối như: Mo Đẻ đất đẻ nước (người Mường), Ẳm ẹt luông (người Thái), Báo Luông – Slao Cải (người Tày), Các cốt truyện đơn, tuy có tính độc lập
tương đối, nhưng ít nhiều đều có mối liên hệ với nhau tạo thành hệ thống liên hoàn
Dù phức tạp nhưng những cốt truyện này cũng có kết cấu ba phần cơ bản:
- Mở đầu: Sự vật, con người chưa được sinh ra
- Phần trung tâm: Xảy ra một sự việc hoặc biến cố dẫn tới hình thành sự vật, conngười
Trang 36- Kết thúc: Sự vật, con người được hình thành.
Phần mở đầu trong các truyên cổ suy nguyên thường miêu tả một thế giới hoang
vu, chưa có sự vật, loài người vì thế bắt buộc thần phải kiến tạo lên thế giới như mộtđiều tất yếu.Việc này hoàn thành nhiệm vụ của thần bên cạnh việc kiến tạo vũ trụ Trong
sử thi Đẻ đất đẻ nước, dân tộc Mường miêu đất và nước đã được tách biệt, không còn
hỗn mang nhưng không gian hoang vu, không có sự sống.Ông Thu Tha và bà Thu Thiênđành tiếp tục tạo ra loài vật.Trong những truyện khác, tác giả dân gian nhấn mạnh sự
cấp thiết phải có một sự vật nào đó trên thế giới Trong truyện Nguồn gốc cây lúa, cây ngô của người Dao, ta thấy tác giả miêu tả cảnh dân rơi vào nạn đói Điều đó là lí do
bức thiết phải tìm cây lúa, cây ngô để dân ăn, tránh nạn đói
Phần trung tâm của truyện cổ suy nguyên là các sự việc lí giải cho sự hình thànhmuôn loài và con người
Đầu tiên là việc sáng tạo ra muôn loài Phần trung tâm trong các truyện nàythường kể các hành động của thần nhằm tạo ra muôn loài hoặc kể về các biến cố tạo nênmột sự vật nhất định Truyện của các dân tộc đã kể về hàng loạt các giống vật, cây cối,núi sông, gò đống đều không phải tự nhiên mà có mà do các vị thần hợp sức sáng tạo ra
hoặc do một sự kỳ vĩ của vũ trụ mà xuất hiện Truyện người Tày (Truyện Ải lậc Cậc và Ông chống trời, bà chống mây) kể: Pựt Luông tạo ra mặt trời, mặt trăng, ngàn vạn vì
sao mới làm nên trời đất Pựt làm ra cây cỏ, các giống loài từ loài ăn cỏ, ăn cá đến cácloài mối mọt, chim chóc Người Bana cho rằng cây cối, mọi vật trên mặt đất đều có thầnlinh ngự trị Trong thần thoại của Bana, thần Cây được gọi là Yang Hơlơn, thần Núi làYang Gông Cơrôi, hay Yang Bót Rang, hay còn gọi là Yang Bót Keling Diện mạo củamỗi thần mang bóng dáng thoát thai của mình, như thần Sông thì giống hình con Rồng,thần Suối thì giống hình con Rắn, thần Cây là một người đàn ông có cặp mắt to tròn nhưcối giã gạo Theo thần thoại của người Mnông, tương tự như ở tầng Trời, ở tầng Đấtcũng có các vị thần.Trong số các vị thần ở tầng Đất là vị thần Lúa, là một vị thần có vaitrò quan trọng (có tên gọi là Truh Ba).Thần Lúa có nhiệm vụ bảo vệ mặt đất, chăm chocây lúa lớn nhanh, không cho sâu bọ làm hại mùa màng Ngoài ra cư ngụ trên mặt đấtcòn có thần Núi (Brah Yok), thần Rừng (Brah Bri) cai quản núi rừng, thần Suối (Brah
Trang 37Dak) cai quản các ngọn núi, dòng sông, thần Brah Kuât và Brah Njuk là những thần hộmệnh giữ gìn sức khỏe cho con người,
Trong các truyện kể về sự tích muôn loài, ta lại hay gặp các biến cố dẫn tới sự hình
thành sự vật Truyện Sự tích cồng chiêng kể lại việc hai cha con đi rừng hái quả bị lạc.
Nghe được âm thanh kì lạ, họ đi theo thì đến một buôn làng, được già làng tiếp đón và ởđấy suốt mấy mùa rẫy Ngày chia tay, già làng tặng bộ cồng đá Về sau buôn làng TâyNguyên dùng đồng thau để đúc thành bộ cồng chiêng.Không thiếu những truyện cổ suynguyên về nguồn gốc muôn loài gắn với motif về bi kịch tình yêu Kết cấu chung củacác truyện là hai người yêu nhau song không đến được với nhau Họ chết và hóa thành
một sự vật nào đó Truyện Sự tích cây Kơ nia của người Ê đê tương tự như thế Truyện
kể về chàng K Đăm mồ côi làm nô lệ cho Mtao, yêu nàng Hnia cũng là tôi tớ của Mtao.Hai người muốn lấy nhau phải có sự đồng ý của Mtao, Mtao ép K Đăm làm quần quật,
đi tìm cây đại thụ trong rừng cho hắn Voi giúp K Đăm hạ được cây.Mtao lại bắt K Đăm
đi bắt thuồng luồng.Thủy thần giúp K Đăm bắt được thuồng luồng.Mtao lại bắt chàng
đi phát rẫy.H Nia mang nước cho K Đăm, nắng gắt lại đói khát, H Nia gục ngã.K Đămchạy lại đỡ H Nia, chàng cũng chết bên cạnh.Hai người hóa thành cây Kơnia Cũng có
truyện sáng tạo ra để lí giải một thói quen, tập tính nào đó của loài vật Truyện Gà và Chó lí giải vì sao chó hay đuổi gà Ngày xưa, Gà và Chó không giống như bây giờ Chó
ngày xưa lông vũ, gà thì lông mao Do bộ lông hai con vật khó khăn trong cuộc sống vàsinh hoạt nên muốn đổi bộ lông cho nhau.Chó muốn đổi lông cho Gà nhưng Gà còn làmcao lưỡng lự Cuối cùng hai con đổi lông cho nhau Chó tức vì câu nói xỏ của Gà, nên
hễ thấy Gà đâu là đuổi đi.Trong các truyện cổ suy nguyên về muôn loài ta cũng hay gặptruyện cổ về nguồn gốc các địa danh Kết cấu các truyện này cũng bám sát một biến cốnào đó, thường là của con người, từ đó hình thành địa danh hoặc lấy tên nhân vật đặt tên
cho địa danh Trong truyện Sự tích dòng sông Dakrông của dân tộc Tà Ôi, biến cố xoay
quanh vợ chồng Dakrông và ba cặp vợ chồng anh chị của họ.Khi vợ chồng Dakrông và
ba cặp vợ chồng anh chị của họ vừa được đoàn viên thì người anh cả trở về Ba ngườianh lớn dắt theo vợ chạy về hướng mặt trời mọc và lạc nhau Người anh cả đuổi theo vợ
Trang 38chồng Dakrông Cảm thương, thần Phăngtơrô ra tay cứu giúp làm xuất hiện dòng nướclớn ngăn cản bước chân người anh cả và cứu vợ chồng Dakrông Cuối cùng người anh
cả mệt quá nên gục chết bên dòng nước.Vợ chồng người em út dựng nhà bên dòng nước
ấy, sinh con đẻ cái, lập làng bản mới.Dòng sông này được người em út đặt tên là sôngDakrông.Như vậy, tác giả dân gian đã giải thích nguồn gốc tên sông qua tên nhân
vật.Hay truyện Sự tích đảo Sing GarPuôr của dân tộc Ê đê cũng nói về cuộc phiêu lưu
của nhân vật chính, từ đó lấy tên nhân vật đặt cho hòn đảo.Truyện kể có một nhà sinhđược hai anh em Sing Gar Puôr, Sing Chơ Nga Lớn lên hai chàng làm hai chiếc thuyền
to như hai ngọn núi để vượt biển trao đổi buôn bán hàng hóa, tiếng tăm họ lan khắp mọivùng Trời bỗng nhiên nổi mưa to gió lớn nước ngập khắp nơi, họ đưa dân làng lên núitránh nạn, xây dựng buôn làng no ấm Một ngày nọ chàng Sing Gar Puôr lại lên thuyền
ra khơi buôn bán, gặp bão, thuyền chàng dạt vào một hoang đảo, về sau chàng lập buôn
ở đảo và đặt tên đảo là Sing GarPuôr
Tiếp theo là các truyện kể về con người được sinh ra và hình thành xã hội Phần nàythường đi liền với truyện về nguồn gốc muôn loài với trình tự: muôn loài được sáng tạotrước, con người sáng tạo sau Với những truyện kể về nguồn gốc con người riêng lẻ, tathấy trung tâm trong các truyện này là các biến cố dẫn tới sự thay đổi nơi ở, ngôn ngữ,
sự hình thành các tộc người, sự tái sinh, đặc điểm nhân chủng của các tộcngười, Truyện người Tày cũng kể: Pựt Luông thấy nhiều quá thành hỗn độn nên Pựttạo ra giống vật hoàn toàn khác các loài động vật khác Đó là loài đi bằng hai chân, đầuđội trời chứ không lấy lưng hứng trời, hai con mắt nằm ngang phía trán chứ không nằm
dọc sống mũi Trong Câu chuyện mở đầu, người H’mông vẫn truyền nhau những lời kể
rằng: Trời thả xuống cây cối vạn vật Lại tìm đất nặn một loài sinh vật đặc biệt, thổi hồn
vào bụng, tiếng nói ở cổ họng và thổi hơi cho sống Đó là con người Hay trong Vì sao người ăn ớt cay, việc sáng tạo ra con người được kể rằng: ông Chày bà Chày nặn ra loại
hình nhân có dáng kì quặc: mũi lồi ra phía trước, miệng lõm vào trong, đầu thì cắm râungô, có hai chân, hai tay, chỉ biết đi, đứng chứ không bay, bơi, nhảy, bò như các loài vậtkhác Không chỉ có thế, ông Chày bà Chày còn nặn cho các loài vật này có hình nam vàhình nữ rất ngộ nghĩnh.Chẳng những thế, ông Chày, bà Chày còn cho hình nhân nam và
Trang 39hình nhân nữ áp bụng vào nhau.Cũng bởi sự ngộ nghĩnh ấy mà loài vật này cứ tinh khôndần ra nên ông Chày bà Chày đặt tên cho loài vật này là Người Rõ ràng, các dân tộcthiểu số còn hiểu rằng: con người là bộ phận của tự nhiên, con người có chung nguồngốc với vạn vật nhưng con người lại là phần tinh túy hơn và có những đặc điểm khácbiệt hẳn so với vạn vật, con người hình thành cùng tự nhiên nhưng đã chiếm lĩnh và trởthành chủ nhân của thiên nhiên Bên cạnh truyện lí giải về sự hình thành loài người,phần trung tâm của nhiều truyện cổ suy nguyên còn lí giải sự hình thành các tộc người.
Ví dụ, người Ê đê lại có một cách giải thích về sự ra đời và phân bố những bộ lạcnguyên thủy của mình qua câu chuyện về hang A Đrênh Truyện kể: Thuở loài ngườisống ở dưới lòng đất sâu, hai cha con Y Tang, Y Tung đuổi theo một con lợn rừng phárẫy, chạy mãi đuổi mãi vào một cái hang, chui lên khỏi hang là mặt đất phì nhiêu chưabao giờ được biết Hai cha con về dẫn các bộ tộc ra khỏi hang sâu dưới đất lên sinh sốngtrên mặt đất Trên đường đi con trâu hai đầu của Y Rit ngáng đường phải giết trâu Thần
Aê Diê phân chia loài người thành các họ khác nhau (Ayun, Mlô, Êban, Niê Kđăm…)chia nhau đi tìm đất sống.(Y Điêng và Hoàng Thao, 1988, Truyện cổ Ê đê, NXB Vănhóa dân tộc) Bản kể 2 lại kể rằng: Thuở người và muông thú còn hiểu tiếng nói củanhau, loài người sống ở hang sâu trong lòng đất, chưa biết nấu cơm nấu rượu, chưa biếtdệt chăn dệt khố Pôlăn (thần Đất) bảo con trai Pô Êpik xuống trần dạy cho loài ngườinấu cơm nấu rượu Khi biết làm ra rượu, họ quên hết mọi thứ, không đi kiếm ăn không
có cái ăn Họ oán Pô Êpik, đánh đuổi thần, đuổi theo mãi thì gặp cái hang, chui lên làmặt đất màu mỡ họ chưa từng biết Đoàn người kéo nhau lên mặt đất sinh sống, trâu của
Y Rit ngáng đường nên Y Rit phải giết trâu Đoàn người lần lượt kéo ra: người Thái,người Mèo, người Tày, người Kinh, người Ê đê… Cái hang nơi họ chui ra gọi là hang A
Đrênh Các tộc người chia nhau đi tìm nơi sinh sống.(Trương Bi, Y Wơn, 2006, Truyện
cổ Tây Nguyên, Sở VHTT ĐăkLăk) Bản kể 3 ghi lại: Thuở trời đất còn mịt mù, loàingười sống dưới lòng đất chưa biết nấu cơm nấu rượu Thần Đất thương tình sai contrai dạy loài người biết chăm lo cuộc sống của mình Con trai của thần dạy loài ngườinấu rượu Loài người từ đó chỉ say sưa uống rượu không đi kiếm ăn Họ đói khát rồiđánh đuổi con trai thần Đất Họ đuổi mãi đến khi chui ra khỏi hang sâu thì thấy mặt đất
Trang 40và bầu trời Đoàn người kéo nhau lên mặt đất Từng bộ tộc lần lượt chui ra: NgườiThái,người Kinh,người Mnông, người Giarai… Ông Trời xuất hiện hỏi từng bộ tộcmuốn chọn vật gì để mang theo hộ thân Người Kinh đã chọn súng và chữ viết, người Ê
đê chọn muối, người Thái chọn gạo… Cái hang nơi họ chui ra gọi là hang A Đrênh Từ
đó họ chia nhau ra đi tìm nơi cư trú.(Trương Bi, Y Wơn, 1997, Truyện cổ Ê đê, tập 2, Sở
VHTT Đăk Lăk) Cả ba bản kể này đều phản ánh giai đoạn nhận thức của người Ê đê vềquá trình chuyển từ hang sâu trong lòng đất lên sống trên mặt đất Đây chính là bướcngoặt trong lịch sử loài người trong việc thay đổi địa bàn cư trú và sự phân chia các tộcngười.Thần thoại của một số dân tộc Tây Nguyên đã khẳng định sự sinh ra của loàingười, của các dân tộc Việt Nam đều từ một gốc Thần thoại Bana kể lại rằng các dântộc anh em (bao gồm người Bana, người Êđê, người Giarai, người Mnông, ngườiXtiêng, và người Kinh) đều từ ông tổ BokXơgơr sinh ra
Ngoài ra, phần trung tâm truyện còn kể về việc con người được tái sinh sau các biến
cố Truyện cổ của các dân tộc còn lưu giữ nhiều ký ức về trận lụt lớn, về nạn đại hồngthuỷ, nó giống như một đại hoạ khủng khiếp khiến cho loài người bị tuyệt diệt và cùngvới đó là ký ức về sự tái sinh của con người nhờ những quả bầu kỳ lạ Nói về trận hồng
thuỷ, người Giáy có truyện Nước ngập trời: “Bỗng một năm, mặt đất mưa mấy tháng liền không dứt cơn, hạt mưa to như quả mận Núi non sạt lở, đất nhão thành bùn, cây to cây nhỏ trôi ầm ầm về phía cửa trời và đá tảng cũng lăn theo đến đó Nước lụt dâng lên vùng thấp, dâng lên núi cao, ngập hết mọi nơi, nước dâng lên tận trời làm cho người và vạn vật đều chết hết” Người Thái có thần thoại Hồng thuỷ: “Ngày xưa có Trời, Đất, Cỏ, Cây Trời giống hình cái nấm khổng lồ làm bằng bảy miếng đất, ba khối
đá, chín con sông Trời bỗng trở nên tối tăm, sấm sét nổi dậy Trong vòng một ngày có trên một trăm ngàn trận mưa rơi đầy mặt đất Tất cả khe suối, ao hồ đều tràn ngập.Đồng ruộng cũng đầy cả nước.Nước dâng cao lên đến tận Trời, tất cả mọi sinh vật sống trên mặt đất đều chết sạch”.Người Raglai cũng ghi lại truyện Hồng thuỷ :
Nước lụt từ biển dâng lên đến ngọn núi, nước lên cao đến tận trời Có hai người ở miềnThượng, một trai một gái chui vào một cái trống Sau trận lụt lớn ấy, tất cả đều chếtsạch, chỉ trừ hai người còn sống sót ở trong cái trống.Họ lấy nhau rồi dần dà sinh sôi