Bùi Thị Thiện Mỹ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NIÊM YẾT VIỆT NAM Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng Mã số: 60340201
Trang 1Bùi Thị Thiện Mỹ
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ
ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NIÊM YẾT
VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS THÂN THỊ THU THỦY
Tp Hồ Chí Minh - năm 2016
Trang 2phiếu tại các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết Việt Nam” là do chính tôi nghiên cứu và thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Thân Thị Thu Thủy
Các số liệu trong luận văn được thu thập chính xác và có nguồn gốc trung thực Kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa được trình bày hay công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 17 tháng 11 năm 2016
Tác giả
Bùi Thị Thiện Mỹ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu 4
1.6 Kết cấu của luận văn 5
1.7 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 5
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NIÊM YẾT 7
Giới thiệu chương 2 7
2.1 Tổng quan về giá cổ phiếu 7
2.1.1 Khái niệm cổ phiếu 7
2.1.2 Các hình thức giá trị của cổ phiếu 7
2.2 Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết 9
2.2.1 Khái niệm ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết 9
2.2.2 Những lợi ích của NHTMCP niêm yết 10
Trang 42.3.1 Các lý thuyết về sự ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến giá cổ
phiếu 11
2.3.2 Các nhân tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến giá cổ phiếu tại các NHTMCP niêm yết 13
2.3.2.1 Lãi suất 13
2.3.2.2 Tỷ giá hối đoái 14
2.3.2.3 Cung tiền 16
2.3.2.4 Tổng sản phẩm quốc nội, chỉ số sản xuất công nghiệp 17
2.3.2.5 Giá vàng 19
2.4 Các nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến giá cổ phiếu 20
2.4.1 Nghiên cứu của A Bhargava (2014) 20
2.4.2 Nghiên cứu của Ayub và Masih (2013) 21
2.4.3 Nghiên cứu của Adaramola, Anthony Olugbenga (2011) 21
2.4.4 Nghiên cứu của Menike (2006) 22
Kết luận chương 2 22
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NIÊM YẾT VIỆT NAM 24
Giới thiệu chương 3 24
3.1 Giới thiệu các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết Việt Nam 24
3.2 Biến động giá cổ phiếu tại các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết Việt Nam 29
Trang 53.3.1 Lãi suất 33
3.3.2 Tỷ giá hối đoái 35
3.3.3 Cung tiền M2 37
3.3.4 Chỉ số sản xuất công nghiệp 39
3.3.5 Giá vàng trong nước 41
Kết luận chương 3 43
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP, DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44
Giới thiệu chương 4 44
4.1 Mô hình nghiên cứu 44
4.1.1 Mô hình nghiên cứu 44
4.1.2 Dữ liệu nghiên cứu 45
4.1.3 Mô tả các biến nghiên cứu 47
4.1.4 Các giả thuyết nghiên cứu 47
4.2 Phương pháp nghiên cứu 48
4.2.1 Dữ liệu bảng 48
4.2.2 Các mô hình ước lượng trên dữ liệu bảng 49
4.2.3 Mô hình hồi quy cho vấn đề nghiên cứu 50
4.3 Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu 52
4.4 Kết quả kiểm định giả thuyết nghiên cứu 53
4.4.1 Kết quả hồi quy 53
4.4.2 Kiểm định mô hình hồi quy 55
4.4.2.1 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 55
Trang 64.4.2.4 Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu 57
4.4.2.5 Khắc phục các khuyết điểm của mô hình hồi quy 58
4.5 Thảo luận kết quả nghiên cứu 60
Kết luận chương 4 62
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ SỰ BIẾN ĐỘNG BẤT THƯỜNG CỦA GIÁ CỔ PHIẾU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NIÊM YẾT VIỆT NAM DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ 63
5.1 Kết luận 63
5.2 Nhóm giải pháp đối với ngân hàng Nhà nước Việt Nam 63
5.2.1 Phát triển thị trường tài chính phái sinh nhằm phòng ngừa rủi ro tỷ giá 63
5.2.2 Giám sát chặt chẽ hoạt động của thị trường vàng 65
5.2.3 Đảm bảo lãi suất thực tại các tổ chức tín dụng dao động trong biên độ cho phép 66
5.2.4 Sử dụng đa dạng các công cụ của chính sách tiền tệ trong việc điều chỉnh cung tiền 66
5.2.5 Cần có sự độc lập tương đối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với Quốc hội và Chính phủ 67
5.3 Nhóm giải pháp đối với Chính phủ 68
5.3.1 Hoàn thiện các cơ chế, chính sách trong việc thu hút nguồn vốn ngoại tệ 68 5.3.2 Triệt để thực hiện đề án tái cấu trúc nền kinh tế 69
5.4 Nhóm giải pháp đối với các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết 69
5.4.1 Phát triển nguồn nhân lực có trình độ về kinh tế học và tài chính định
Trang 75.5 Hạn chế của đề tài và gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo 71 Kết luận chương 5 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8BIDV Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam CPI Chỉ số giá tiêu dùng
EGLS Bình phương nhỏ nhất tổng quát (trên dữ liệu bảng)
Eximbank Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam
FEM Mô hình các ảnh hưởng cố định
HOSE Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
HNX Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
NCB Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc dân
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
OLS Bình phương bé nhất thông thường
REM Mô hình các ảnh hưởng ngẫu nhiên
Sacombank Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín
SHB Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội
Trang 10Bảng 4.1 Kỳ vọng dấu xu hướng tác động của các biến độc lập đến biến
phụ thuộc
48
Bảng 4.5 Giá trị hệ số xác định R2 của các mô hình hồi quy mỗi biến độc
lập theo các biến độc lập còn lại
Trang 11niêm yết Việt Nam giai đoạn 2010 – 09/2015
Đồ thị 3.2 Diễn biến trung bình giá cổ phiếu của các NHTMCP niêm
yết Việt Nam và lãi suất tiền gởi giai đoạn 2010 – 09/2015
34
Đồ thị 3.3 Diễn biến trung bình giá cổ phiếu của các NHTMCP niêm
yết Việt Nam và tỷ giá hối đoái VND/USD bình quân liên ngân hàng giai đoạn 2010 – 09/2015
36
Đồ thị 3.4 Diễn biến trung bình giá cổ phiếu của các NHTMCP niêm
yết Việt Nam và cung tiền M2 giai đoạn 2010 – 09/2015
38
Đồ thị 3.5 Diễn biến trung bình giá cổ phiếu của các NHTMCP niêm
yết Việt Nam và tốc độ tăng trưởng chỉ số sản xuất công nghiệp giai đoạn 2010 – 09/2015
40
Đồ thị 3.6 Diễn biến trung bình giá cổ phiếu của các NHTMCP niêm
yết Việt Nam và giá vàng SJC giai đoạn 2010 – 09/2015
42
Trang 12CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu
Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng ban hành năm 1997 (đã được thay thế bởi Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng ban hành năm 2010) thay thế cho Pháp lệnh ngân hàng đã tạo hành lang pháp lý vững chắc, ổn định, mở ra hướng phát triển mạnh mẽ cho hoạt động ngân hàng song song với quá trình hình thành nền kinh tế thị trường tại Việt Nam Giai đoạn hơn mười năm trở lại đây, không thể phủ nhận những phát triển vượt trội về chất lượng cũng như những đóng góp quan trọng của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế Việt Nam Qui mô tín dụng/GDP trong nền kinh tế luôn ở mức cao hơn 80% kể từ năm
2007, con số này đạt đỉnh cao nhất là 125% vào năm 2010 Như là một quy luật tất yếu trong sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước tại Việt Nam đã diễn ra mạnh mẽ và gần như triệt để Còn nhớ, mỗi đợt ngân hàng phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng, từ các nhà đầu tư cho đến các nhà nghiên cứu luôn dành sự quan tâm đặc biệt các vấn đề liên quan đến cổ phiếu ngân hàng Cổ phiếu của các ngân hàng niêm yết (ACB, STB, VCB, CTG ) luôn nằm trong danh mục đầu tư của từ nhà đầu tư nhỏ lẻ đến các nhà đầu
tư lớn có tổ chức vì một số lý do: tính thanh khoản cao (có thể thế chấp cổ phiếu để vay vốn tại các ngân hàng hoặc thông qua nghiệp vụ mua lại tại các công ty chứng khoán ), cổ tức cao và hơn hết là niềm tin về việc các NHTMCP Việt Nam rất khó phá sản Mặc dù được quan tâm nhiều đến thế nhưng việc niêm yết cổ phiếu ngân hàng trên các SGDCK vẫn còn khá chậm chạp Tính đến thời điểm tháng 9/2015, mới chỉ có 9 trong số 34 ngân hàng có cổ phiếu niêm yết trên HOSE và HNX Để công tác niêm yết đối với ngành ngân hàng được triển khai sớm và khẩn trương hơn, cần thiết có những nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu ngân hàng Những nhân tố này gồm hai nhóm là nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài - các nhân tố kinh tế vĩ mô Vì là phần không thể thiếu trong việc triển khai chính sách tiền tệ của ngân hàng Nhà nước khi điều tiết nền kinh tế, đặc biệt phải chịu sự giám sát chặt chẽ của ngân hàng Nhà nước nhằm bảo đảm sự an toàn của hệ thống
Trang 13tài chính, ngành ngân hàng luôn là lĩnh vực chịu tác động sớm của các chính sách điều tiết vĩ mô Vì lẽ đó, vấn đề nghiên cứu về giá cổ phiếu tại các NHTMCP niêm yết dưới tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô được thực hiện với hy vọng là một kênh tham khảo cho các cơ quan hữu quan trong việc quản lý, điều tiết nền kinh tế; cho các NHTMCP đã và sẽ niêm yết cổ phiếu
1.2 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Ngân hàng là một trong những ngành có giá trị vốn hóa lớn nhất thị trường chứng khoán Việt Nam (tháng 1 năm 2014, sự kiện NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam bắt đầu niêm yết cổ phiếu trên HOSE đã đưa ngành ngân hàng trở thành ngành có giá trị vốn hóa lớn nhất ở thời điểm đó, với tỉ lệ vốn hóa thị trường tập trung là 27%) Có giai đoạn, cổ phiếu ngân hàng trên thị trường chứng khoán được mệnh danh là “cổ phiếu vua”, luôn dẫn dắt thị trường, nhất là trong ngắn hạn.Vì thế, những biến động bất thường về giá cổ phiếu ngân hàng đều có ảnh hưởng đến toàn thị trường Bằng định tính nhận thấy, cổ phiếu ngân hàng rất nhạy cảm với những thông tin của nền kinh tế như những biến động thất thường về lãi suất, giá vàng, tỷ giá hối đoái Vì vai trò đặc biệt của ngành ngân hàng đối với thị trường chứng khoán, với nền kinh tế Việt Nam, cần thiết có một nghiên cứu về xu hướng và mức
độ tác động từ các nhân tố kinh tế vĩ mô đến giá cổ phiếu tại các NHTMCP niêm yết Việt Nam
Ở các quốc gia có thị trường tài chính phát triển, mối quan hệ mật thiết giữa các nhân tố kinh tế vĩ mô và giá cổ phiếu đã được kiểm chứng qua rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm từ những năm 1970 Nổi bật nhất là những nghiên cứu thực nghiệm dựa trên lý thuyết chênh lệch giá - APT (Arbitrage Pricing Theory) Từ sau những năm 1980, nghiên cứu về vấn đề này bắt đầu được thực hiện tại các thị trường mới nổi cả bằng phương pháp định tính và định lượng Tuy nhiên, các nghiên cứu tương tự về cổ phiếu ngân hàng đặc biệt là tại các thị trường chứng khoán non trẻ rất ít Tại Việt Nam, những năm gần đây có khá nhiều các đề tài nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số chứng khoán bằng các công cụ định lượng như mô hình hồi quy đa biến, mô hình đồng liên kết
Trang 14và hồi quy vectơ hiệu chỉnh sai số Mặc dù có ý nghĩa cao về mặt khoa học và thực tiễn, hầu hết các đề tài tại Việt Nam chỉ mới dừng lại ở các nghiên cứu về sự ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá chứng khoán (VN-Index, VN30-index, VNMidcap-Index, VNSmallcap-Index ) hoặc ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến giá cổ phiếu các công ty trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp Hiện tại, chưa tìm thấy công trình nghiên cứu sự ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế
vĩ mô đến giá cổ phiếu của ngành ngân hàng Đây là lí do thứ hai để đề tài “Ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến giá cổ phiếu tại các ngân hàng thương mại
cổ phần niêm yết Việt Nam” được thực hiện Luận văn nghiên cứu sự ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô như lãi suất, tỷ giá hối đoái, cung tiền, chỉ số sản xuất công nghiệp, giá vàng trong nước đến giá cổ phiếu tại các NHTMCP niêm yết Việt Nam Nghiên cứu được thiết kế dựa trên mô hình của Adaramola, Anthony Olugbenga (2011) nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến giá
cổ phiếu của các công ty trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp tại Nigeria
1.3 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Xác định các nhân tố kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng đến giá
cổ phiếu tại các NHTMCP niêm yết Việt Nam và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô này
- Mục tiêu cụ thể: Đo lường được xu hướng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô như lãi suất, tỷ giá hối đoái, cung tiền, chỉ số sản xuất công nghiệp và giá vàng đến giá cổ phiếu tại các NHTMCP niêm yết Việt Nam Từ những kết quả nghiên cứu có được sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế sự ảnh hưởng tiêu cực của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến giá cổ phiếu tại các NHTMCP niêm yết Việt Nam
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu
- Các nhân tố kinh tế vĩ mô: lãi suất, tỷ giá hối đoái, cung tiền, chỉ số sản xuất công nghiệp, giá vàng trong nước có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu tại các NHTMCP niêm yết Việt Nam không?
Trang 15- Nếu có, xu hướng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô nói trên đến giá cổ phiếu tại các NHTMCP niêm yết Việt Nam ra sao?
- Các giải pháp nào cho ngân hàng Nhà nước, Chính phủ và các NHTMCP niêm yết nhằm hạn chế sự ảnh hưởng tiêu cực của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến giá
cổ phiếu tại các NHTMCP niêm yết Việt Nam?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố kinh tế vĩ mô như lãi suất, tỷ giá hối đoái, cung tiền M2, chỉ số sản xuất công nghiệp, giá vàng trong nước ảnh hưởng đến giá cổ phiếu tại các NHTMCP niêm yết trên HOSE và HNX
- Phạm vi nghiên cứu: 09 NHTMCP niêm yết trên HOSE và HNX : (1) NHTMCP Á Châu (mã cổ phiếu ACB, niêm yết năm 2006), (2) NHTMCP Sài Gòn thương tín (mã cổ phiếu SBT, niêm yết năm 2006), (3) NHTMCP Ngoại thương Việt Nam (mã cổ phiếu VCB, niêm yết năm 2009), (4) NHTMCP Công thương Việt Nam (mã cổ phiếu CTG, niêm yết năm 2009), (5) NHTMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (mã cổ phiếu EIB, niêm yết năm 2009), (6) NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội (mã
cổ phiếu SHB, niêm yết năm 2009), (7) NHTMCP Quốc Dân (mã cổ phiếu NVB, niêm yết năm 2010), (8) NHTMCP Quân Đội (mã cổ phiếu MBB, niêm yết năm 2011), (10) NHTMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam (mã cổ phiếu BID, niêm yết năm 2014)
- Thời gian nghiên cứu : Từ tháng 01 năm 2010 đến tháng 09 năm 2015
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học định tính kết hợp định lượng
- Phương pháp nghiên cứu định tính: được sử dụng trong việc dựa trên phân tích thực trạng giá cổ phiếu tại các NHTMCP niêm yết Việt Nam và diễn biến của các nhân tố kinh tế vĩ mô giai đoạn 2010 – 9/2015 kết hợp với việc lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới để xác định các nhân tố kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu tại các NHTMCP niêm yết Việt Nam
- Phương pháp nghiên cứu định lượng: được sử dụng để kiểm định các giả thuyết
Trang 16nghiên cứu đặt ra về xu hướng ảnh hưởng đồng thời đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô: tỷ giá hối đoái, lãi suất, cung tiền, chỉ số sản xuất công nghiệp, giá vàng trong nước đến giá cổ phiếu tại các NHTMCP niêm yết Việt Nam bằng cách sử dụng phần mềm Eviews 8 để thực hiện các mô hình hồi quy trên
dữ liệu bảng, các kiểm định tự tương quan, phương sai sai số thay đổi trên mẫu dữ liệu
1.6 Kết cấu của luận văn
Luận văn có kết cấu 5 chương như sau:
- Chương 1: Giới thiệu
- Chương 2: Tổng quan các nhân tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến giá cổ phiếu tại các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết
- Chương 3: Thực trạng ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến giá cổ phiếu tại các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết Việt Nam
- Chương 4: Phương pháp, dữ liệu và kết quả nghiên cứu
- Chương 5: Kết luận và giải pháp hạn chế sự biến động bất thường của giá cổ phiếu tại các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết Việt Nam dưới ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô
1.7 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu của luận văn là một bằng chứng thực nghiệm về sự ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô như lãi suất, tỷ giá hối đoái, cung tiền, chỉ số sản xuất công nghiệp, giá vàng trong nước đến giá cổ phiếu tại các NHTMCP niêm yết Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015 Mặc dù trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến tỉ suất sinh lợi của cổ phiếu ngân hàng, nhưng dường như rất hiếm nghiên cứu tương tự trên giá cổ phiếu ngân hàng, nhất là tại Việt Nam Một số lí do có thể kể đến như: số lượng các NHTMCP niêm yết trên các SGDCK quá ít so với tổng số các ngân hàng hiện có, thời gian nghiên cứu lịch sử giá cổ phiếu không đủ dài để tăng độ tin cậy trong các nghiên cứu định lượng, chưa có chỉ số chứng khoán xây dựng cho riêng ngành ngân hàng nên không thể sử dụng các kỹ thuật nghiên cứu trên dữ liệu chuỗi thời gian
Trang 17Nghiên cứu trong luận văn sẽ lấp đầy khoảng trống nghiên cứu bằng cách sử dụng phương pháp nghiên cứu trên dữ liệu bảng học hỏi từ mô hình nghiên cứu của Adaramola, A Olugbenga (2011) thay vì nghiên cứu trên dữ liệu chuỗi thời gian như các nghiên cứu đã có trước đây Bên cạnh đó, việc xác định các nhân tố kinh tế
vĩ mô cũng như chiều hướng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này sẽ giúp các
cơ quan quản lý cũng như các NHTMCP nhận diện các rủi ro có thể có đối với sự tăng trưởng giá cổ phiếu tại các NHTMCP niêm yết Việt Nam; từ đó sử dụng các giải pháp phù hợp để hạn chế tác động tiêu cực từ các nhân tố kinh tế vĩ mô đến giá
cổ phiếu tại các NHTMCP niêm yết Đây là những tiền đề cần thiết để quá trình niêm yết cổ phiếu của tất cả các NHTMCP Việt Nam được triển khai sớm
Trang 18CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NIÊM YẾT
Giới thiệu chương 2
Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến giá cổ phiếu tại các NHTMCP niêm yết Việt Nam bắt đầu bằng việc xem lại nền tảng lý thuyết về giá
cổ phiếu, về NHTMCP niêm yết, về các nhân tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến giá cổ phiếu tại các NHTMCP niêm yết Kế đến, lược khảo các nghiên cứu trước đây có liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm xác định một số nhân tố kinh tế vĩ mô có thể ảnh hưởng đến giá cổ phiếu các NHTMCP niêm yết Việt Nam Việc rà soát lại các kết quả có trước giúp nhận ra khe hổng của các nghiên cứu khi xét tại thị trường Việt Nam, từ đó đúc kết được những nhân tố kinh tế vĩ mô cần thiết, bổ sung hoặc
bỏ bớt những nhân tố kinh tế vĩ mô so với các nghiên cứu đã có
2.1 Tổng quan về giá cổ phiếu
2.1.1 Khái niệm cổ phiếu
Khái niệm cổ phiếu gắn liền với khái niệm công ty cổ phần Theo Luật Doanh nghiệp 2005, công ty cổ phần là doanh nghiệp có vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau, gọi là cổ phần Người sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông Giấy xác nhận quyền sở hữu cổ phần của cổ đông được gọi là cổ phiếu Như vậy, cổ phiếu là bằng chứng và là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với công ty cổ phần Quyền sở hữu của cổ đông trong công ty cổ phần tỉ lệ với số cổ phần mà cổ đông đó nắm giữ Vì vậy, cổ phiếu còn được gọi là chứng khoán vốn
Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, có thể chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Ngày nay khái niệm cổ phiếu được hiểu rộng hơn, đó là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó
2.1.2 Các hình thức giá trị của cổ phiếu
Trang 19Dựa vào quyền lợi của cổ đông, cổ phiếu được chia thành hai loại là cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi Các hình thức giá trị của cổ phiếu thường ở một công ty
cổ phần:
- Mệnh giá hay còn gọi là giá trị danh nghĩa, là giá trị mà công ty cổ phần ấn
định cho một cổ phiếu và được ghi trên cổ phiếu, thể hiện số tiền tối thiểu công ty phải nhận được trên mỗi cổ phiếu mà công ty phát hành ra, có ý nghĩa quan trọng vào thời điểm công ty phát hành cổ phiếu lần đầu nhằm huy động vốn thành lập công ty Mệnh giá cổ phiếu thường được sử dụng để ghi sổ sách kế toán của công
ty, không có giá trị đối với các nhà đầu tư mua cổ phiếu đó trên thị trường thứ cấp Một số nước luật pháp cho phép công ty cổ phần có thể phát hành cổ phiếu thường không có mệnh giá
- Giá trị sổ sách là giá trị của cổ phiếu được xác định dựa trên cơ sở số liệu
sổ sách kế toán của công ty Trường hợp công ty chỉ phát hành cổ phiếu thường thì giá trị sổ sách của một cổ phiếu thường được xác định bằng cách lấy vốn chủ sở hữu hoặc tổng giá trị tài sản thuần (phần giá trị chênh lệch giữa giá trị tổng tài sản với tổng số nợ) của công ty chia cho tổng số cổ phiếu thường đang lưu hành Trường hợp công ty có phát hành cổ phiếu thường lẫn cổ phiếu ưu đãi, thì phải lấy tổng giá trị tài sản thuần trừ đi phần giá trị thuộc cổ phiếu ưu đãi rồi chia cho số cổ phiếu thường đang lưu hành Việc xem xét giá trị sổ sách, cho phép cổ đông thấy được số giá trị tăng thêm của cổ phiếu sau một thời gian công ty hoạt động so với số vốn đã góp ban đầu
- Giá trị nội tại là giá trị thực của cổ phiếu ở thời điểm hiện tại, được tính
toán căn cứ vào cổ tức công ty, triển vọng phát triển của công ty và lãi suất thị trường Trong lĩnh vực tài chính, người ta xem giá trị nội tại của cổ phiếu chính là hiện giá (present value) của tất cả thu nhập từ cổ phiếu trong tương lai theo một lãi suất chiết khấu nào đó Lãi suất chiết khấu này chính là tỉ suất sinh lợi kỳ vọng của mỗi nhà đầu tư Vì lẽ đó, giá trị nội tại của cổ phiếu không thể tính toán chính xác Tuy nhiên, mỗi nhà đầu tư với những dự đoán, những kỳ vọng khác nhau sẽ có riêng những giá trị nội tại khác nhau Đây là căn cứ quan trọng để nhà đầu tư quyết
Trang 20định giao dịch sau khi so sánh giá trị nội tại với giá thị trường của cổ phiếu
- Giá thị trường là giá giao dịch trên thị trường ở thời điểm hiện tại của cổ
phiếu, được thể hiện trong giao dịch cuối cùng đã được ghi nhận Giá thị trường của
cổ phiếu được xác định bởi quan hệ cung - cầu trên thị trường Giá thị trường cổ phiếu của một công ty phụ thuộc rất nhiều yếu tố: những yếu tố bên trong như lợi nhuận công ty, cổ tức hay dòng thu nhập trong tương lai của nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu, kể cả những thông tin về thay đổi nhân sự cấp cao, thông tin về đối thủ cạnh tranh ; những yếu tố bên ngoài như các thông tin kinh tế vĩ mô và đôi khi là những thông tin phi kinh tế như thiên tai, chiến tranh Giá thị trường của cổ phiếu vì lẽ đó
mà thường xuyên biến động
2.2 Ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết
2.2.1 Khái niệm ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết
Theo từ điển Quản trị và kinh doanh Oxford (2016), ngân hàng thương mại là một tổ chức cung cấp rộng rãi các dịch vụ tài chính cho công chúng và các công ty Những hoạt động chính của một ngân hàng thương mại là điều hành những tài khoản giao dịch vãng lai, nhận tiền gởi, cho vay, chấp nhận và chi trả các loại giấy
tờ có giá
Theo Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 của Việt Nam: “Ngân hàng thương mại
là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, chiết khấu và làm phương tiện thanh toán” Nghị định 49/2000/NĐ-CP ngày 12/09/2000 của Chính phủ cũng định nghĩa lại: “Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nước” Ở đây, hoạt động ngân hàng được định nghĩa trong Luật Ngân hàng Nhà nước 1997 là “hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán”
Như vậy, qua các khái niệm về NHTM được đề cập đến ở trên, có thể thống
Trang 21nhất một số điểm về khái niệm NHTM: đó là một loại hình doanh nghiệp hoạt động
vì lợi nhuận, nguồn vốn sử dụng kinh doanh chủ yếu là vốn huy động từ bên ngoài, lĩnh vực kinh doanh của NHTM là tiền tệ, tín dụng và các dịch vụ ngân hàng
NHTMCP là NHTM hoạt động như một công ty cổ phần, nguồn vốn ban đầu
do các cổ đông đóng góp NHTMCP niêm yết là NHTMCP có cổ phiếu được đăng
ký và giao dịch trên thị trường chứng khoán tập trung
2.2.2 Những lợi ích của NHTMCP niêm yết
Việc có cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung giúp các NHTMCP đạt được một số lợi ích như sau:
- Nâng cao uy tín trong ngành: Các NHTMCP phải đạt được những điều kiện nhất định về mặt tài chính, hiệu quả kinh doanh, cơ cấu tổ chức, do các SGDCK quy định thì cổ phiếu mới được niêm yết trên thị trường Vì lẽ đó, các NHTMCP niêm yết hầu như là các ngân hàng có hoạt động kinh doanh tốt Bên cạnh đó, các thông tin về kết quả hoạt động kinh doanh hằng năm của các ngân hàng này đều được kiểm toán và công bố rộng rãi Vì lẽ đó, việc có cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung như một sự đảm bảo về chất lượng trong hiệu quả kinh doanh và sự minh bạch trong hoạt động của các NHTMCP này
- Tăng tính thanh khoản cho cổ phiếu: Không chỉ cổ phiếu ngân hàng, cổ phiếu của các công ty niêm yết nói chung có thể dễ dàng được chuyển nhượng hơn
so với các công ty cổ phần chưa niêm yết vì những thuận lợi của thị trường chứng khoán tập trung mang lại, ví dụ như sự thuận tiện, nhanh chóng trong giao dịch
- Tiếp cận kênh huy động vốn dài hạn: Các NHTMCP niêm yết có thể huy động vốn một cách nhanh chóng và tốn ít chi phí hơn khi phát hành thêm cổ phiếu mới so với hình thức vay nợ
- Cơ hội quảng bá hình ảnh: Niêm yết cổ phiếu không chỉ giúp các NHTMCP nâng cao uy tín trong ngành mà còn là cơ hội đưa hình ảnh ngân hàng đến gần hơn với khách hàng, thu hút khách hàng sử dụng các dịch vụ, sản phẩm của ngân hàng
2.3 Các nhân tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến giá cổ phiếu tại các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết
Trang 222.3.1 Các lý thuyết về sự ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến giá
cổ phiếu
Những nghiên cứu về biến động giá cổ phiếu công ty đã được đề cập từ rất sớm trong các tài liệu học thuật của Keynes (1936) Keynes cho rằng nguyên nhân của những biến động giá cổ phiếu không ngừng là vì những người giao dịch sở hữu hạn chế các thông tin về chứng khoán đang nắm giữ, dẫn đến sự kỳ vọng, sự đầu cơ vào thị trường chứng khoán Keynes cho rằng, khi một nhà phân tích chứng khoán
đề nghị nhà đầu tư mua một cổ phiếu nào đó không có nghĩa nhà phân tích ấy nghĩ rằng đây là cổ phiếu có khả năng sinh lợi cao nhất mà nghĩ rằng đây là cổ phiếu có khả năng sinh lợi cao nhất trong mắt các nhà phân tích khác Keynes cho rằng giá
cổ phiếu phụ thuộc vào những kỳ vọng hơn là dựa vào các yếu tố cơ bản của công
ty, của nền kinh tế Theo quan điểm này, nhiều người tin rằng thị trường chứng khoán khá giống một sòng bạc và nó không đóng góp chút gì vào sự vận động của nền kinh tế Tuy nhiên Keynes cũng cho rằng trong dài hạn, giá cổ phiếu do đầu cơ
sẽ hội tụ với giá cổ phiếu thật – giá được quyết định bởi các yếu tố cơ bản của công
ty đó và của nền kinh tế
Vai trò của các nhân tố kinh tế vĩ mô trong việc ảnh hưởng đến giá cổ phiếu công ty không được đề cập đến một cách có hệ thống mãi cho đến những năm 1970 – khi Eugene Fama (1970) xây dựng lý thuyết Thị trường hiệu quả Fama đã định nghĩa ba dạng của thị trường hiệu quả là dạng yếu, dạng vừa và dạng mạnh Trong
đó, dạng mạnh của thị trường hiệu quả là trường hợp giá cổ phiếu ở thời điểm hiện tại phản ánh đầy đủ mọi nhân tố có liên quan bao gồm các thông tin về giá của chính nó trong quá khứ, các thông tin được công khai như các báo cáo tài chính, sổ sách kế toán, các thông tin kinh tế vĩ mô, các thông báo về cổ tức, nhân sự của công ty , kể cả các thông tin chưa được công bố Theo lý thuyết này, có thể kết luận rằng, nếu thị trường cổ phiếu có dạng hiệu quả mạnh, các thông tin kinh tế vĩ mô đã được phản ánh hoàn toàn trong giá cổ phiếu ở thời điểm hiện tại, vì thế không thể dùng thông tin vĩ mô của hôm nay để dự đoán xu hướng giá cổ phiếu trong tương lai Ngược lại, nếu tính hiệu quả của thị trường cổ phiếu chưa đạt mức độ mạnh, vẫn
Trang 23có thể sử dụng các thông tin kinh tế vĩ mô để dự đoán giá Khi tất cả các nhà đầu tư đều làm như thế thì đến một lúc nào đó, thật sự giá cổ phiếu sẽ hàm chứa thông tin kinh tế vĩ mô ở cùng thời điểm và vì thế việc dự đoán của nhà đầu tư về giá cổ phiếu chỉ còn là vấn đề may mắn hay không Như vậy, những thông tin từ các nhân
tố kinh tế vĩ mô về lâu dài sẽ là một trong những yếu tố quyết định giá cổ phiếu Các thông tin kinh tế vĩ mô sẽ góp phần vào quá trình tăng giảm giá của cổ phiếu và nhà đầu tư phải ý thức được rằng giá cổ phiếu thay đổi liên tục theo tất cả các thông tin được công bố, không thể hy vọng đạt được tỷ suất sinh lợi cao vượt trội so với thị trường
Mặc dù đã được đề cập đến trong lý thuyết Thị trường hiệu quả của Fama, nhưng vai trò của các nhân tố kinh tế vĩ mô trong việc xác định giá cổ phiếu chỉ thật
sự được xem xét một cách đầy đủ qua lý thuyết Chênh lệch giá (Arbitrage pricing theory - APT) do Stephen Ross (1976) đề xướng Tiếp đó, trong một nghiên cứu thực nghiệm của Chen, Roll, Ross (1986) – Economics forces and stock market – Những áp lực kinh tế vĩ mô và thị trường cổ phiếu, trên dữ liệu thu thập từ giá cổ phiếu của các công ty tại Mỹ trong khoảng thời gian từ 1958 – 1984, những nhân tố kinh tế vĩ mô sau đây được cho là có ảnh hưởng quan trọng đến giá cũng như suất sinh lợi của cổ phiếu: (1) Sự thay đổi trong lạm phát (kỳ vọng và không kỳ vọng); (2) Sự thay đổi trong GNP được chỉ ra bởi chỉ số sản xuất công nghiệp; (3) Sự thay đổi trong đường cong lãi suất trái phiếu; (4) Lãi suất ngắn hạn; (5) Chênh lệch giữa lãi suất ngắn hạn và lãi suất dài hạn; (6) Một chỉ số chứng khoán được đa dạng hóa (ví dụ như S&P 500); (7) Sự thay đổi trong giá vàng hoặc giá các kim loại quý khác; (8) Sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái; (9) Giá dầu
Tuy nhiên, nghiên cứu này vẫn không chỉ ra chính xác bao nhiêu nhân tố kinh
tế vĩ mô là cần thiết cho việc xác định giá cổ phiếu Mặc dù vậy, mô hình, kết quả nghiên cứu của Chen, Roll, Ross (1986) đã trở thành một trong những nghiên cứu kinh điển, được nhắc đến trong hầu hết các tài liệu học thuật cũng như được áp dụng trong các nghiên cứu thực nghiệm về sự ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ
mô đến giá cổ phiếu tại các thị trường khác nhau trên thế giới
Trang 242.3.2 Các nhân tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến giá cổ phiếu tại các NHTMCP niêm yết
Trong khuôn khổ nghiên cứu sự ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến giá cổ phiếu tại các NHTMCP niêm yết Việt Nam, chỉ tập trung vào các nhân tố như lãi suất, tỷ giá hối đoái, cung tiền, chỉ số sản xuất công nghiệp, giá vàng trong nước được gợi ý bởi Chen, Roll, Ross (1986)
2.3.2.1 Lãi suất
Giá cổ phiếu nói chung, giá cổ phiếu ngân hàng nói riêng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi lãi suất, vì dòng vốn luôn chảy đến nơi mà khả năng sinh lời cao hơn Tuy nhiên, ảnh hưởng của lãi suất đến giá cổ phiếu ngân hàng không đơn thuần diễn ra một chiều Dòng tiền thu được từ đầu tư cổ phiếu ngân hàng là không cố định, nó phụ thuộc vào lợi nhuận của ngân hàng và có thể thay đổi cùng với lãi suất Mức thay đổi của tỉ suất sinh lợi cổ phiếu có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn mức thay đổi của lãi suất Điều đó dẫn đến giá cổ phiếu ngân hàng có thể giảm, không đổi hoặc tăng tùy thuộc vào mức độ thay đổi của tỉ suất sinh lợi cổ phiếu tăng, không đổi hay giảm Bên cạnh đó, ảnh hưởng của lãi suất lên giá cổ phiếu phụ thuộc vào nguyên nhân gây ra sự biến động lãi suất Khi nền kinh tế đang trong giai đoạn tăng trưởng, các doanh nghiệp cần nhiều vốn để đầu tư vì khả năng sinh lời rất cao, nhu cầu vốn vay tăng nên các NHTMCP sẽ tăng lãi suất tiền gửi để có thể huy động đủ nguồn vốn cho vay Lãi suất tiền gởi tăng thường dẫn đến lãi suất cho vay tăng Tuy nhiên,
sự gia tăng lãi suất lúc này là điều cần thiết, giúp dòng vốn được luân chuyển và sử dụng hiệu quả, nó không phải là lực cản ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp Các doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả nên việc trả nợ vốn và lãi vay cho ngân hàng đúng hạn, vì thế lợi nhuận ngân hàng thu được sẽ tăng Trong trường hợp này, việc lãi suất tiền gửi tăng có thể kích thích giá cổ phiếu tăng lên vì kỳ vọng của nhà đầu tư về lợi nhuận của doanh nghiệp, của ngân hàng sẽ tăng trong tương lai Chính sự tăng trưởng ổn định của nền kinh tế và hoạt động hiệu quả của các doanh nghiệp tạo điều kiện cho các ngân hàng nâng cao lợi nhuận và hoạt động hiệu quả hơn, nhờ đó giá cổ phiếu của ngân hàng cũng sẽ tăng Tuy nhiên, nếu lãi suất tiền
Trang 25gửi tăng do lạm phát tăng, thì việc tăng lãi suất có thể có tác động ngược lại đến việc tăng giá cổ phiếu ngân hàng Lãi suất huy động tiền gửi ngân hàng tăng sẽ làm gia tăng chi phí huy động vốn của ngân hàng Và khi lãi suất huy động vốn tăng, lãi suất cho vay tăng theo khiến ngân hàng khó khăn hơn trong hoạt động tín dụng Hệ quả là lợi nhuận của ngân hàng có thể giảm sút, cổ tức của nhà đầu tư vì thế cũng giảm theo Cùng lúc đó, lạm phát thường có tác động mạnh đến lãi suất theo chiều hướng gia tăng; nhà đầu tư sẽ bị thu hút bởi những kênh đầu tư khác có suất sinh lợi cao hơn như gửi tiền tiết kiệm ngân hàng Do đó, lãi suất tăng có thể làm giá cổ phiếu ngân hàng giảm Tương tự, ở khía cạnh ngược lại, lãi suất giảm sẽ giúp ngân hàng tiết kiệm được chi phí vay vốn, giảm chi phí cho vay vốn, kích thích đầu tư phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng hơn và do đó có thể đẩy giá
cổ phiếu tăng cao
Một số nghiên cứu gần đây về ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến giá cổ phiếu công ty đã chỉ ra tác động ngược chiều của lãi suất đến giá cổ phiếu công ty như nghiên cứu của Menike (2006) tại Srilanka từ năm 1991 đến 2002; của Khaled Hussainey, Le Khanh Ngoc (2009) tại Việt Nam từ 01/2001 đến 04/2008; của Adaramola, A.Olugbenga (2011) tại Nigeria từ năm 1985 đến năm 2009; của A Bhargava (2014) tại Mỹ từ năm 2000 đến năm 2007 Tuy nhiên, nghiên cứu của A Ayub và M.Masih (2013) lại cho rằng lãi suất không phải là nhân tố quan trọng trong việc ảnh hưởng đến giá cổ phiếu tại các ngân hàng phục vụ người Hồi giáo
2.3.2.2 Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là tỷ lệ trao đổi giữa đồng tiền của quốc gia này với đồng tiền của quốc gia khác Tỷ giá có thể được niêm yết trực tiếp (giá trị nội tệ khi đổi một đơn vị ngoại tệ) hoặc gián tiếp (giá trị ngoại tệ khi đổi một đơn vị nội tệ) Tỷ giá hối đoái tác động đến thị trường chứng khoán nói chung và cổ phiếu ngân hàng nói riêng trên nhiều phương diện với những ảnh hưởng có thể rất khác nhau Các phân tích dưới đây bàn về trường hợp tỷ giá hối đoái niêm yết trực tiếp
Tỷ giá hối đoái ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị xuất khẩu ròng của một quốc gia từ đó tác động đến thu nhập của nền kinh tế Đối với bản thân các doanh nghiệp,
Trang 26tỷ giá hối đoái thay đổi sẽ ảnh hưởng đến doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp,
từ đó ảnh hưởng gián tiếp đến giá cổ phiếu trên thị trường Tuy nhiên, việc xác định mối quan hệ đồng biến hay nghịch biến giữa tỷ giá hối đoái đến giá cổ phiếu còn tùy thuộc vào cán cân xuất nhập khẩu của quốc gia đó Nếu cán cân xuất nhập khẩu thiên về xuất khẩu, tỷ giá tăng có thể kéo theo sự tăng giá cổ phiếu trên thị trường Nếu cán cân xuất nhập khẩu thiên về nhập khẩu, mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái với giá chứng khoán là ngược chiều
Bên cạnh đó, sự thay đổi tỷ giá hối đoái sẽ ảnh hưởng đến dòng chu chuyển vốn của các nhà đầu tư nước ngoài Khi tỷ giá tăng cùng với môi trường đầu tư ổn định thì dòng vốn nước ngoài có xu hướng chảy vào trong nước qua các dự án đầu
tư hoặc kênh đầu tư chứng khoán nhằm tìm kiếm tỷ suất sinh lợi cao và hưởng chênh lệch giá nhờ tỷ giá tăng Tuy nhiên, tỷ giá hối đoái tăng cũng gây ra một khó khăn cho các nhà đầu tư nước ngoài muốn rút tiền về nước, bởi khi đó với cùng một lượng tiền nội tệ, nhà đầu tư nước ngoài sẽ thu được ít ngoại tệ hơn so với trước khi
tỷ giá tăng Do đó, trên khía cạnh này, tỷ giá hối đoái tác động đến thị trường chứng khoán theo hướng tích cực hay tiêu cực là phụ thuộc vào dòng chu chuyển vốn thuần của các nhà đầu tư nước ngoài vào trong nước nhiều hay ít
Bên cạnh ảnh hưởng chung đến thị trường chứng khoán, tỷ giá hối đoái biến động có những tác động trực tiếp đến hệ thống ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng
có thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại hối chiếm tỉ trọng lớn Tỷ giá tăng làm cho chi phí huy động ngoại tệ của các ngân hàng tăng cao, nhưng đồng thời làm tăng nguồn thu từ các hoạt động cho vay ngoại hối Mặt khác, tỷ giá biến động nhiều thì hoạt động kinh doanh ngoại hối gặp rủi ro rất lớn Như vậy, tỷ giá hối đoái thay đổi có thể có tác động cùng chiều hay ngược chiều đến lợi nhuận của mỗi ngân hàng phụ thuộc phần lớn vào trạng thái ngoại tệ của mỗi ngân hàng tại thời điểm đó
Cụ thể, nếu trạng thái ngoại tệ của ngân hàng đối với một loại ngoại tệ nào đó là dương (tài sản có ngoại tệ lớn hơn tài sản nợ ngoại tệ, bao gồm cả nội và ngoại bảng) thì tỷ giá tăng sẽ làm phát sinh lãi ngoại hối, ngược lại tỷ giá giảm sẽ phát sinh lỗ ngoại hối Nếu ngân hàng duy trì trạng thái ngoại tệ đối với một loại ngoại tệ
Trang 27nào đó là âm (tài sản có ngoại tệ nhỏ hơn tài sản nợ ngoại tệ, bao gồm cả nội và ngoại bảng) thì tỷ giá tăng sẽ làm phát sinh lỗ ngoại hối, ngược lại tỷ giá giảm sẽ phát sinh lãi ngoại hối Vì tỷ giá có sức ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận ngân hàng nên
sẽ có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu ngân hàng
Một số kết quả nghiên cứu thực nghiệm cũng tìm thấy những tác động khác nhau của tỷ giá hối đoái đến giá chứng khoán nói chung ở những quốc gia khác nhau Nghiên cứu của Menike (2006) tại Srilanka; nghiên cứu của Adaramola và A Olugbenga (2011) tại Nigeria; nghiên cứu của Sadia Saeed, Noreen Akhter (2012) tại Pakistan cho thấy tác động ngược chiều giữa tỷ giá hối đoái đến giá cổ phiếu ngân hàng Nghiên cứu của Choi và các cộng sự (1992) tại Mỹ giai đoạn 1975–1987 lại cho thấy độ nhạy cảm của giá cổ phiếu ngân hàng theo tỷ giá hối đoái thay đổi theo thời gian và tùy theo từng loại ngân hàng
Trong mối liên hệ với lãi suất, cung tiền là nhân tố trực tiếp và quan trọng tác động làm thay đổi cung về vốn trên thị trường tài chính, từ đó làm thay đổi lãi suất Cung tiền tăng lên cũng đồng nghĩa với cung về vốn tăng lên, dẫn đến lãi suất trên thị trường giảm xuống Như đã phân tích ở nhân tố lãi suất, lãi suất giảm sẽ kích thích hoạt động của doanh nghiệp phát triển, các doanh nghiệp mạnh dạn vay vốn
để mở rộng sản xuất nên nguồn thu từ nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng tăng lên kéo theo lợi nhuận của ngân hàng gia tăng Do đó, tăng cung tiền ở mức độ phù hợp
Trang 28sẽ có tác động tích cực đối với thị trường chứng khoán nói chung, với giá cổ phiếu ngành ngân hàng nói riêng Tuy nhiên, cung tiền có thể ảnh hưởng tiêu cực đối với thị trường chứng khoán khi tăng quá nhiều Việc tăng cung tiền quá nhiều là nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát tăng, và hệ quả là thị trường chứng khoán nói chung,
cổ phiếu ngành ngân hàng nói riêng bị ảnh hưởng xấu Mặc dù vậy, việc gia tăng cung tiền quá nhiều thường không gây ra tác động tiêu cực ngay lập tức đến giá chứng khoán Nó chỉ gây ra hậu quả nếu việc gia tăng thường xuyên và kéo dài Nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của cung tiền đến giá cổ phiếu ở các quốc gia khác nhau, qua các giai đoạn khác nhau thu được một số kết quả khác nhau Cụ thể, Adaramola và A Olugbenga (2011) tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa cung tiền và giá cổ phiếu trong nghiên cứu tình huống tại Nigeria Nghiên cứu của Sadia Saeed, Noreen Akhter (2012) tại Pakistan lại cho thấy tác động ngược chiều của cung tiền đến mức giá chung của ngành ngân hàng Tuy nhiên, một số nghiên cứu lại không tìm thấy mối liên hệ giữa cung tiền và giá cổ phiếu, như nghiên cứu của Menike (2006) tại Srilanka, của Kandir (2008) tại Thổ Nhĩ Kỳ
2.3.2.4 Tổng sản phẩm quốc nội, chỉ số sản xuất công nghiệp
Trong kinh tế học, tổng sản phẩm quốc nội (GDP – Gross Domestic Product)
là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ được tạo ra trong phạm vi một lãnh thổ nhất định trong một thời kỳ nhất định GDP là một chỉ tiêu tổng hợp, phản ảnh sự vận hành của nền kinh tế một quốc gia, vì thế việc so sánh GDP giữa các quý hay các năm cho thấy tình hình phát triển kinh tế của quốc gia đó Sự biến động của GDP có mối quan hệ mật thiết với các ngành trong nền kinh tế, đặc biệt là thị trường chứng khoán
Khi nền kinh tế tăng trưởng, biểu thị qua tổng sản phẩm quốc nội tăng, cho thấy các doanh nghiệp trong nền kinh tế đang hoạt động hiệu quả, nhà đầu tư có thể
kỳ vọng về mức cổ tức nhận được từ việc đầu tư vào cổ phiếu Do vậy, giá chứng khoán nói chung tăng Bản thân các ngân hàng, thường là đơn vị cấp tín dụng cho các doanh nghiệp, có thể thu hồi nợ một cách nhanh chóng, đảm bảo được lợi nhuận của bản thân ngân hàng Bên cạnh đó, tình hình kinh tế tăng trưởng tốt kéo theo sự
Trang 29đa dạng trong việc sử dụng các dịch vụ ngân hàng nhằm phục vụ cho các nhu cầu giao dịch như chuyển tiền, thu hộ, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, các nghiệp vụ ngân hàng hiện đại , đây là những hoạt động giúp ngân hàng có thêm nguồn thu mà rất ít rủi ro so với hoạt động cho vay, từ đó làm gia tăng lợi nhuận ngân hàng dẫn đến giá
cổ phiếu ngân hàng gia tăng
Trong GDP, giá trị sản xuất công nghiệp chiếm tỷ trọng khá lớn Giá trị sản xuất công nghiệp là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành công nghiệp tạo ra dưới dạng sản phẩm vật chất và dịch vụ trong thời gian nhất định, thường là một năm Giá trị sản xuất công nghiệp bao gồm: Giá trị của nguyên vật liệu, năng lượng, phụ tùng thay thế, chi phí dịch vụ sản xuất, khấu hao tài sản cố định, chi phí lao động, thuế sản xuất và giá trị thặng dư tạo ra trong cấu thành giá trị sản phẩm công nghiệp Người ta sử dụng chỉ số sản xuất công nghiệp để đánh giá tốc độ phát triển sản xuất của ngành công nghiệp theo tháng, quý, năm Chỉ số này là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng sản xuất công nghiệp tạo ra trong kỳ hiện tại với khối lượng sản xuất công nghiệp kỳ gốc (Theo www.gso.gov.vn) Tốc độ tăng trưởng của giá trị sản xuất công nghiệp cũng như tốc
độ tăng trưởng của chỉ số sản xuất công nghiệp phần nào phản ánh được xu thế tăng trưởng của GDP Trong một số nghiên cứu, người ta thường chọn chỉ số sản xuất công nghiệp làm biến đại diện cho GDP khi cần đánh giá tình hình sản xuất của một quốc gia qua từng tháng trong năm
Rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia khác nhau đã cho thấy mối quan hệ cùng chiều của GDP hoặc của chỉ số sản xuất công nghiệp và giá cổ phiếu, như nghiên cứu của Adrangi (1999) tại Brazil giai đoạn 1986 – 1997; nghiên cứu của Agrawalla, Raman K và S K Tuteja (2008) tại Ấn Độ, giai đoạn 1965 – 2000; nghiên cứu của George Filis (2009) tại Hy Lạp giai đoạn 1996 – 2008; nghiên cứu của Khaled Hussainey, Le Khanh Ngoc (2009) tại Việt Nam giai đoạn 2001 –
2008, nghiên cứu của Adaramola, A.Olugbenga (2011) Bên cạnh đó, Saeed và Akhter (2012) lại nhận thấy tác động ngược chiều của giá trị sản xuất công nghiệp đến mức giá chung của cổ phiếu ngành ngân hàng Pakistan giai đoạn 2000 – 2010
Trang 302.3.2.5 Giá vàng
Vàng là một kim loại quý và đồng thời có tính thanh khoản rất cao, nó được xem như một cơ sở của bản vị tiền tệ Vàng là một tài sản rất quan trọng có cùng lúc hai đặc tính đó là một loại hàng hóa đồng thời cũng là một loại tiền tệ hiện kim Chính vì đặc tính quan trọng này mà vàng là một loại tài sản đầu tư sinh lời đồng thời là một phương tiện cất trữ
Khi nền kinh tế có những biến động theo chiều hướng đi xuống, thị trường tài chính có những dấu hiệu bất ổn, lạm phát gia tăng thì các nhà đầu tư cũng như người dân có xu hướng rút lui khỏi các loại tài sản tài chính nhiều rủi ro và tìm đến vàng như là một nơi trú ẩn an toàn Như vậy, vàng là một kênh đầu tư cạnh tranh dòng tiền với cổ phiếu ngân hàng, thị trường chứng khoán, bất động sản
Giá vàng là biến số được các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán chú ý Đối với các ngân hàng có hoạt động huy động và cho vay vàng thì lợi nhuận và giá
cổ phiếu sẽ bị tác động trực tiếp bởi giá vàng Giá vàng tăng làm cho công tác huy động vốn bằng vàng tốn nhiều chi phí hơn, việc cho vay bằng vàng cũng gặp khó khăn hơn vì người đi vay phải cân nhắc với dự kiến giá vàng sẽ tăng trong tương lai Bên cạnh đó, tâm lý thích vàng ở một số quốc gia sẽ khiến người dân, nhà đầu
tư từ bỏ các kênh đầu tư khác như gởi tiết kiệm, đầu tư chứng khoán đổ xô mua vàng khi vàng tăng giá liên tục Vì thế, ngân hàng nếu muốn thu hút nguồn vốn từ dòng tiền đang đổ vào vàng phải làm cho nhà đầu tư cảm thấy gởi tiết kiệm hấp dẫn hơn so với giữ vàng, ngân hàng buộc phải tăng lãi suất tiền gởi, làm gia tăng chi phí, giảm sút lợi nhuận dẫn đến giá cổ phiếu sụt giảm Ngoài ra sự vận động của giá vàng còn ảnh hưởng chéo tới cổ phiếu ngân hàng thông qua áp lực lạm phát mà nó gây ra đối với tâm lý các nhà đầu tư chứng khoán
Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm tìm thấy mối quan hệ giữa giá vàng và giá chứng khoán như nghiên cứu của Bhunia và Mukhuti (2013) tại Ấn Độ giai đoạn 1991–2012 đã chỉ ra mối quan hệ cùng chiều giữa giá vàng nội địa và giá chứng khoán Tuy nhiên, nghiên cứu của M Yahyazadehfar và A Babaie (2012) lại cho thấy mối quan hệ ngược chiều; kết quả tương tự với nghiên cứu của Graham
Trang 31Smith (2001) với tình huống nghiên cứu tại Mỹ giai đoạn 1991–2001
2.4 Các nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ
mô đến giá cổ phiếu
Nghiên cứu về tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến giá cổ phiếu (price) nói chung và giá cổ phiếu ngân hàng nói riêng không được quan tâm nhiều như nghiên cứu về tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến tỷ suất sinh lợi (return) cổ phiếu ngân hàng Kể cả các nghiên cứu gần đây về cổ phiếu ngân hàng tại các thị trường mới nổi vẫn chú trọng đến tỉ suất sinh lợi như là biến phụ thuộc và các nhân tố kinh tế vĩ mô là biến độc lập trong mô hình nghiên cứu
2.4.1 Nghiên cứu của A Bhargava (2014)
Bhargava với bài nghiên cứu “Các nhân tố cơ bản của công ty, các biến số kinh tế vĩ mô và giá cổ phiếu theo quý ở Mỹ” tìm hiểu về ảnh hưởng của các nhân
tố vi mô của từng công ty như tổng tài sản, nợ dài hạn ; của các nhân tố kinh tế vĩ
mô như tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất, chỉ số giá tiêu dùng đến giá cổ phiếu của các công
ty niêm yết tại thị trường chứng khoán Mỹ Nghiên cứu thu thập số liệu của 3000 công ty và giá cổ phiếu theo quý trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2007 Tác giả sử dụng cả hai mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên động và tĩnh (dynamic and static random effect models) để nghiên cứu Biến phụ thuộc ở cả hai mô hình là giá cổ phiếu vào ngày giao dịch cuối cùng của quý Đối với mô hình tĩnh, các biến độc lập
là tổng tài sản, thu nhập trên mỗi cổ phần, cổ tức trên mỗi cổ phần, nợ dài hạn, tỷ lệ thất nghiệp; sự thay đổi tương đối trong chỉ số giá tiêu dùng; lãi suất trái phiếu; tương tác giữa lãi suất trái phiếu và nợ dài hạn Đối với mô hình động, có tất cả 13 biến độc lập, ngoài các biến độc lập nói trên còn có 5 biến độc lập là giá trị trễ 1 kỳ đối với: tổng tài sản, thu nhập trên mỗi cổ phần, cổ tức trên mỗi cổ phần, nợ dài hạn
và biến phụ thuộc Kết quả nghiên cứu cho kết quả giống nhau về xu hướng tác động trên cả hai mô hình, trong đó đối với các nhân tố kinh tế vĩ mô, lãi suất và tỷ
lệ thất nghiệp có tác động ngược chiều; chỉ số giá tiêu dùng có tác động cùng chiều đến giá cổ phiếu Nghiên cứu cũng chia 3000 công ty trong mẫu làm 10 nhóm ngành và nghiên cứu riêng trên từng nhóm ngành Đối với các công ty thuộc lĩnh
Trang 32vực tài chính, các nhân tố kinh tế vĩ mô đều có ảnh hưởng ngược chiều đến giá cổ phiếu, riêng giá cổ phiếu ở kỳ trước của công ty có ảnh hưởng cùng chiều
2.4.2 Nghiên cứu của Ayub và Masih (2013)
A Ayub và M Masih nghiên cứu “Lãi suất, tỷ giá hối đoái và giá cổ phiếu của các ngân hàng Hồi giáo (Islamic banks)” Tác giả đã sử dụng kỹ thuật phân tích đồng liên kết và vectơ hiệu chỉnh sai số trên dữ liệu bảng (panel cointegration and panel vector error-correction (VECM)) cùng với phương pháp hồi quy động moment mở rộng (General Method of Moments- GMM) để tìm hiểu mối quan hệ nhân quả Granger trong ngắn hạn và dài hạn giữa lãi suất, tỷ giá hối đoái và giá cổ phiếu của các ngân hàng phục vụ người theo đạo Hồi tại 13 quốc gia khác nhau Các dữ liệu nghiên cứu được lấy theo tần suất quý thuộc giai đoạn 2008 – 2012; biến giá cổ phiếu ngân hàng được lấy từ 40 ngân hàng phục vụ người theo đạo Hồi tại các quốc gia Bahrain, Bangladesh, Ai Cập, Jordan, Indonesia, Kuwait, Malaysia, Pakistan, Qatar, Ả Rập Saudi, Thổ Nhĩ Kỳ, các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất
và Vương quốc Anh Trong mô hình nghiên cứu, giá cổ phiếu là biến phụ thuộc; tỷ giá hối đoái, lãi suất là các biến độc lập; ngoài ra còn có các biến kiểm soát là lạm phát và cung tiền M2 Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ giá hối đoái có quan hệ nhân quả Granger hai chiều với giá cổ phiếu ngân hàng, mối quan hệ này là nghịch biến Với các biến còn lại, không tìm thấy mối liên hệ có ý nghĩa giữa lãi suất với giá cổ phiếu, kết quả tương tự với hai biến kiểm soát là lạm phát và cung tiền M2
2.4.3 Nghiên cứu của Adaramola, Anthony Olugbenga (2011)
Adaramola, Anthony Olugbenga (2011) với bài nghiên cứu “Tác động của các chỉ báo kinh tế vĩ mô đến giá cổ phiếu tại Nigeria” đã thu thập dữ liệu theo quý từ năm 1985 đến năm 2009 và sử dụng kỹ thuật hồi quy GLS (general least square) trên dữ liệu bảng với biến phụ thuộc là giá cổ phiếu của 36 công ty trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp ở Nigeria, các biến độc lập là cung tiền M2, lãi suất tiền gởi,
tỷ giá hối đoái, lạm phát, GDP và giá dầu thế giới Kết quả nghiên cứu cho thấy: với mức ý nghĩa 5%, lãi suất, tỷ giá hối đoái có tác động ngược chiều; GDP và giá dầu thế giới có tác động cùng chiều, không tìm thấy tác động có ý nghĩa của nhân tố lạm
Trang 33phát và cung tiền đến giá cổ phiếu các công ty Bên cạnh đó, nghiên cứu còn tiếp cận ở mức độ vi mô, sử dụng mô hình hồi quy GLS trên dữ liệu chuỗi thời gian để nghiên cứu tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến từng công ty trong mẫu nghiên cứu Kết quả cho thấy, trong tổng số 36 công ty được chọn, nhân tố cung tiền có ảnh hưởng đến 15 công ty; nhân tố lãi suất có ảnh hưởng đến 25 công ty; nhân tố tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng đến 29 công ty; giá dầu ảnh hưởng đến 31 công ty; GDP có ảnh hưởng đến 15 công ty và nhân tố lạm phát chỉ ảnh hưởng đến
6 công ty
2.4.4 Nghiên cứu của Menike (2006)
Menike (2006) nghiên cứu “Ảnh hưởng của các biến kinh tế vĩ mô đến giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán mới nổi Srilanka” bằng cách sử dụng dữ liệu theo tháng trong giai đoạn 9/1991 – 12/2002 Nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật hồi quy đa biến áp dụng trên từng mã cổ phiếu của 34 công ty trong mẫu nghiên cứu Trong mô hình nghiên cứu, biến phụ thuộc là giá cổ phiếu vào ngày giao dịch cuối tháng, các biến độc lập lần lượt là cung tiền M2, tỷ giá hối đoái, chỉ số giá tiêu dùng và lãi suất trái phiếu kỳ hạn 3 tháng tại cùng thời điểm với giá trị của biến phụ thuộc, bên cạnh
đó là các biến trễ 1 kỳ và 2 kỳ của cung tiền M2 và chỉ số giá tiêu dùng Kết quả nghiên cứu cho thấy lạm phát (được đại diện bởi chỉ số giá tiêu dùng), tỷ giá hối đoái và lãi suất có tác động âm đến giá cổ phiếu của hầu hết các công ty trong mẫu nghiên cứu; không tìm thấy tác động của các giá trị ở thời kỳ trước của cung tiền và lạm phát Bên cạnh đó, đối với lĩnh vực ngân hàng, mô hình nghiên cứu cho thấy khả năng giải thích là hơn 50%; cung tiền có tác động dương; tỷ giá hối đoái, lãi suất, lạm phát ở kỳ hiện tại có tác động âm; cung tiền và lạm phát ở quá khứ không tác động đến giá cổ phiếu ngân hàng ở hiện tại
Kết luận chương 2
Chương 2 đã hệ thống các khái niệm cơ bản về NHTMCP niêm yết, giá cổ phiếu và các lý thuyết cũng như các phân tích liên quan vấn đề ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến giá cổ phiếu nói chung, giá cổ phiếu của các NHTMCP niêm yết nói riêng Đặc biệt, việc xem xét các nghiên cứu thực nghiệm trước đây
Trang 34trên thế giới về vấn đề ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến giá cổ phiếu giúp chọn lọc mô hình nghiên cứu phù hợp với tình huống nghiên cứu ở Việt Nam, xác định các nhân tố kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu tại các NHTMCP niêm yết Việt Nam
Trang 35CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ
VĨ MÔ ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NIÊM YẾT VIỆT NAM
Giới thiệu chương 3
Nghiên cứu sự ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến giá cổ phiếu tại các NHTMCP niêm yết Việt Nam không thể bỏ qua nghiên cứu về lịch sử biến động giá cổ phiếu của các NHTMCP niêm yết, sự biến động của các nhân tố như lãi suất, tỷ giá hối đoái, cung tiền M2, chỉ số sản xuất công nghiệp và giá vàng trong nước giai đoạn 01/2010 – 09/2015 và mối liên quan giữa các nhân tố kinh tế vĩ mô này đến giá cổ phiếu tại các NHTMCP niêm yết Việt Nam Những nghiên cứu, phân tích thực trạng với mục đích phát hiện xu hướng tác động, từ đó đưa ra các giả thuyết nghiên cứu phù hợp ở chương 4
3.1 Giới thiệu các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết Việt Nam
Tính đến thời điểm tháng 9 năm 2015, hệ thống NHTMCP Việt Nam có tất cả
33 ngân hàng, trong đó 9 ngân hàng có cổ phiếu niêm yết trên HOSE và HNX Bảng 3.1: Các NHTMCP niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
khoán
Ngày niêm yết
SGDCK niêm yết
6 NHTMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam EIB 27/10/2009 HOSE
9 NHTMCP Đầu Tư và Phát Triển Việt
Nam
(Nguồn: HOSE và HNX)
Trang 36* NHTMCP Sài Gòn Thương Tín, tên gọi tắt là Sacombank, được thành lập
theo giấy phép hoạt động số 0006/NH-GP do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp ngày 03/12/1991, giấy phép số 05/GP-UP do Ủy ban nhân dân TPHCM cấp ngày 03/01/1992, trên cơ sở sáp nhập Ngân hàng Phát triển Kinh tế Gò Vấp cùng với hợp tác xã tín dụng Tân Bình, Thành Công và Lữ Gia Đây là một trong những công
ty đầu tiên phát hành cổ phiếu đại chúng ở Việt Nam, cũng là ngân hàng đầu tiên có
cổ phiếu niêm yết trên thị trường tập trung Ngày 12/07/2006, 189.947.299 cổ phiếucủa Sacombank được niêm yết lần đầu trên HOSE với mã chứng khoán là STB Cuối năm 2015, quy mô tổng tài sản của Sacombank là 292.542 tỷ đồng, quy mô vốn điều lệ là 18.852 tỷ đồng, tổng lợi nhuận trước thuế là 1.469 tỷ đồng, các mảng kinh doanh truyền thống như số dư nợ cho vay tăng 45%, tổng huy động tăng 60%
so với năm 2014
* NHTMCP Á Châu, tên gọi tắt là ACB, được thành lập theo giấy phép số
0032/NH-GP do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp ngày 24/04/1993, giấy phép số533/GP-UB do Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/05/1993 và chính thức đi vào hoạt động ngày 04/06/1993 Theo Quyết định số 21/QĐ-TTGDHN ngày 31/10/2006, cổ phiếu của ACB được phép giao dịch trên HNX với
mã là ACB Cùng với NHTMCP Sài Gòn Thương Tín, ACB là một trong những ngân hàng có cổ phiếu được giao dịch trên thị trường tập trung sớm nhất Năm
2015, tổng lợi nhuận sau thuế của ACB là 1.028 tỷ đồng, tổng tài sản là 201.457 tỷđồng So với năm 2014, tổng lợi nhuận sau thuế đã tăng 8%, tổng tài sản tăng 12%, tổng vốn huy động và cho vay tăng lần lượt 13% và 15%
* NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội, tên viết tắt là SHB, tiền thân là NHTMCP
Nông thôn Nhơn Ái, được thành lập theo các Quyết định số 214/QÐ-NH5 ngày 13/11/1993; Quyết định số 93/QÐ-NHNN ngày 20/1/2006 và số 1764/QÐ-NHNN ngày 11/9/2006 với vốn điều lệ ban đầu là 400 triệu đồng và tổng tài sản là 1100 triệu đồng, chỉ có một trụ sở đặt tại tỉnh Cần Thơ Năm 2006, được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Nhơn Ái chuyển đổi mô hình hoạt động lên NHTMCP đô thị và đổi tên thành NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội Ngày 20/04/2009,
Trang 37SHB chính thức niêm yết cổ phiếu trên HNX với mã chứng khoán là SHB Ngày 07/08/2012, Ngân hàng Nhà nước ký quyết định 159/QĐ-NHNN, về việc sáp nhập NHTMCP Nhà Hà Nội (Habubank) vào SHB, hoàn tất thương vụ tái cơ cấu tự nguyện đầu tiên trong ngành ngân hàng Hiện tại, SHB có khoảng 400 chi nhánh và phòng giao dịch trên các tỉnh thành trong nước và 2 chi nhánh quốc tế tại Campuchia, Lào Năm 2015, SHB có số vốn điều lệ gần 9000 tỷ đồng; tổng tài sản
là 204.704 tỷ đồng, tăng 21%; huy động tăng 21%; cho vay tăng 26% so với năm
2014
* NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam, tên gọi tắt là Vietcombank, tiền thân
là Cục ngoại hối trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, chính thức đi vào hoạt động với tư cách là một ngân hàng đối ngoại độc quyền vào ngày 01/04/1963 Ngày 14/11/1990, Vietcombank chính thức chuyển từ ngân hàng chuyên doanh, độc quyền trong hoạt động kinh tế đối ngoại sang mô hình NHTM nhà nước hoạt động
đa năng theo Quyết định số 403-CT ngày 14/11/1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Ngày 02/6/2008, Vietcombank thực hiện thành công kế hoạch cổ phần hóa thông qua việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng Ngày 30/6/2009, cổ phiếu Vietcombank với mã chứng khoán VCB chính thức được niêm yết tại HOSE và đã trở thành một trong những mã chứng khoán được quan tâm nhất trên thị trường Vietcombank ngày nay đã trở thành một ngân hàng đa năng, hoạt động đa lĩnh vực, cung cấp cho khách hàng đầy đủ các dịch vụ tài chính hàng đầu trong lĩnh vực thương mại quốc tế lẫn các nghiệp vụ truyền thống Năm 2015, tổng tài sản của VCB là 674.395 tỷ đồng, vốn điều lệ là 26.650 tỷ đồng, tổng thu nhập trước thuế là 6.827 tỷ đồng
* NHTMCP Công Thương Việt Nam, tên gọi tắt là Vietinbank, được thành
lập vào ngày 26/03/1988 theo Nghị định 53/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về việc thành lập các ngân hàng chuyên doanh, tách ra từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Ngày 23/09/2008 Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án cổ phần hóa Ngân hàng Công thương Việt Nam theo quyết định số 1354/QĐ-TTg và ngày 25/12/2008
đã tổ chức thành công đợt IPO trong nước Cổ phiếu của Vietinbank được giao dịch
Trang 38tại HOSE với mã là CTG Đây là ngân hàng đầu tiên của Việt Nam được cấp chứng chỉ ISO 9001-2000, cũng là ngân hàng Việt Nam đầu tiên mở chi nhánh tại Châu
Âu, đánh dấu bước phát triển của nền tài chính Việt Nam so với thế giới Hiện tại, VietinBank có hệ thống mạng lưới trải rộng toàn quốc với 01 Sở giao dịch, 150 chi nhánh và trên 1000 phòng giao dịch/quỹ tiết kiệm, có quan hệ với trên 900 ngân hàng, định chế tài chính tại hơn 90 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới Tính đến hết năm 2015, quy mô tổng tài sản của Vietinbank là 779.483 tỷ đồng đứng thứ hai trong hệ thống và vốn điều lệ là 37.234 tỷ đồng, đứng thứ nhất trong
hệ thống các NHTMCP Việt Nam
* NHTMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam, tên gọi tắt là Eximbank, được
thành lập vào ngày 24/05/1989 theo quyết định số 140/CT của Chủ tịch Hội đồng
bộ trưởng với tên gọi đầu tiên là Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam Ngân hàng
đã chính thức đi vào hoạt động ngày 17/01/1990 Ngày 06/04/1992, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ký giấy phép số 11/NH-GP cho phép ngân hàng hoạt động trong thời hạn 50 năm với số vốn điều lệ đăng ký là 50 tỷ đồng và tên mới là NHTMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam Ngày 27/10/2009, cổ phiếu của Eximbank chính thức giao dịch tại HOSE với mã chứng khoán là EIB Eximbank có địa bàn hoạt động rộng khắp cả nước với trụ sở chính đặt tại TPHCM, thiết lập quan
hệ đại lý với 869 ngân hàng tại 84 quốc gia trên thế giới Bên cạnh những dịch vụ tài chính ngân hàng thông thường, Eximbank là một trong số ít các NHTMCP Việt Nam thực hiện các nghiệp vụ phái sinh tiền tệ như hoán đổi (Swap), kỳ hạn (Forward) và quyền chọn (Option) Năm 2015, quy mô tổng tài sản của Eximbank
là 124.850 tỷ đồng, vốn điều lệ là 12.355 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế là 61 tỷ đồng (lợi nhuận giảm 12% so với năm 2014 và giảm 93% so với năm 2013)
* NHTMCP Quốc Dân, tên gọi tắt là NCB, là tên gọi hiện tại của NHTMCP
Nam Việt sau khi tham gia vào đề án tái cơ cấu ngành ngân hàng NCB được thành lập vào ngày 18 tháng 09 năm 1995 theo Giấy phép số 00057/NH–CP ngày 18/09/1995 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với tên gọi ban đầu là NHTMCP Nông thôn Sông Kiên Ngày 13 tháng 09 năm 2010 là cột mốc chiến lược trong lịch
Trang 39sử phát triển của NCB với sự kiện chính thức niêm yết cổ phiếu trên HNX theo Quyết định số 566/QĐ–SGDCK ngày 12/08/2010 với mã chứng khoán là NVB Năm 2011, NHTMCP Nam Việt là một trong số 9 ngân hàng được xác định yếu kém và bắt buộc phải tái cơ cấu Tuy nhiên trong trường hợp này, Ngân hàng Nhà nước chấp thuận thông qua đề án tự tái cơ cấu bằng chính nguồn lực của ngân hàng
mà không phải sáp nhập vào đơn vị khác Dù đổi tên, NHTMCP Quốc Dân vẫn tuân theo giấy phép hoạt động của NHTMCP Nam Việt, kế thừa toàn bộ quyền lợi, nghĩa
vụ, trách nhiệm của Nam Việt Sau hơn hai năm thực hiện tái cơ cấu, đến cuối năm
2013, NCB đã thu được một số thành quả: tổng thu nhập trước thuế đạt 24 tỷ đồng; tổng tài sản là 27.074 tỷ đồng, tăng 34,7%; tổng vốn huy động và cho vay cũng tăng lần lượt 49,7% và 4,7% so với cùng kỳ năm trước; nợ xấu giảm 58,48%; chiếm 2,52% so với tổng dư nợ Năm 2015, vốn điều lệ của NCB khoảng 3.010 tỷ đồng, tổng tài sản là 48.230 tỷ đồng, tăng 31%, các mảng hoạt động chính của NCB là huy động tăng 39% và cho vay tăng 23% so với năm 2014
* NHTMCP Quân Đội, tên viết tắt là MB, là một doanh nghiệp của quân đội
nhân dân Việt Nam, trực thuộc Bộ quốc phòng, chính thức đi vào hoạt động ngày 04/11/1994 với số vốn điều lệ ban đầu là 25 tỷ đồng và 25 cán bộ nhân viên Năm
2004, Ngân hàng Quân đội phát hành cổ phần ra công chúng với hình thức đấu giá (đây là ngân hàng Việt Nam đầu tiên thực hiện phương thức đấu giá khi phát hành
cổ phiếu lần đầu ra công chúng) Ngày 01/11/2011, cổ phiếu của MB chính thức niêm yết trên HOSE với mã chứng khoán là MBB Hiện tại, MB được đánh giá là một trong những ngân hàng năng động nhất, luôn giữ vững được niềm tin của khách hàng và các nhà đầu tư Kết thúc năm 1014, MB là ngân hàng thu được lợi nhuận trước thuế là 3174 tỷ đồng, cao nhất trong số các NHTMCP (không kể đến các NHTMCP Nhà nước), MB cũng nằm trong số các ngân hàng có chỉ số hiệu quả kinh doanh tốt với chỉ tiêu EPS đạt 2136 đồng/cổ phiếu Cuối năm 2015, quy mô tổng tài sản của MB là 221.042 tỷ đồng, vốn điều lệ là 16.311 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế là 3.221 tỷ đồng
* NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, tên gọi tắt là BIDV, thuộc loại
Trang 40doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt, được tổ chức theo mô hình Tổng công ty Nhà nước BIDV được thành lập vào ngày 26/04/1957 theo Nghị định 177/TTg của Thủ tướng Chính phủ BIDV đã trải qua các tên gọi : Ngân hàng Kiến Thiết Việt Nam (1957 - 1981), Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam (1981 - 1990), Ngân hàng Đầu Tư và Phát triển Việt Nam (1990-2012) Năm 1994, BIDV chuyển đổi mô hình hoạt động theo mô hình NHTM Tháng 5 năm 2012, BIDV thực hiện cổ phần hóa
và đổi tên thành NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Ngày 24/01/2014, cổ phiếu của BIDV chính thức giao dịch trên HOSE với mã là BID Sự kiện BIDV niêm yết cổ phiếu trên thị trường tập trung đã đưa ngân hàng trở thành ngành có giá trị vốn hóa lớn nhất thị trường tính đến thời điểm tháng 10 năm 2015 Tại thời điểm cuối năm 2015, BIDV là ngân hàng có quy mô tổng tài sản lớn nhất với 850.669 tỷ đồng, quy mô vốn điều lệ đứng thứ hai với 34.187 tỷ đồng và tổng doanh thu lớn nhất là 7.949 tỷ đồng trong hệ thống NHTMCP Việt Nam
3.2 Biến động giá cổ phiếu tại các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết Việt Nam
Khá tương đồng với xu hướng của thị trường chứng khoán Việt Nam, giai đoạn 2010 – 2015 chứng kiến sự thăng trầm của thị trường cổ phiếu các NHTMCP niêm yết Việt Nam Dựa vào xu hướng biến động giá chung của các NHTMCP niêm yết, giai đoạn này được chia thành 3 giai đoạn nhỏ là 01/2010 – 12/2011: đi xuống; 01/2012 – 12/2014: đi ngang và 01/2015– 09/2015: đi lên
Giai đoạn 01/2010–12/2011, trên HOSE và HNX có cổ phiếu của 8 NHTMCP niêm yết, tuy nhiên do NHTMCP Quân đội mới niêm yết cổ phiếu vào tháng 11/2011, vì thế phần này tập trung phân tích vào diễn biến giá cổ phiếu của 7 ngân hàng với các mã là ACB, SHB, NVB, VCB, CTG, STB, EIB Trong giai đoạn này, giá cổ phiếu của Vietcombank luôn cao nhất so với 6 ngân hàng còn lại, kế đến là
cổ phiếu của ACB và thấp nhất là của SHB Xu hướng biến thiên giá cổ phiếu của 7 ngân hàng cũng khá tương đồng Những tháng đầu năm 2010, hầu hết cổ phiếu của các ngân hàng tăng giá nhưng sau đó giảm cho đến đầu tháng 12 Thời điểm cuối tháng 11/2010, cổ phiếu của SHB và NCB (lúc này vẫn là NHTMCP Nam Việt) có