Nhưng doanh nghiệp thủy sản tỉnh Ba ̣c Liêu hiện nay chưa hướng đến phát triển bền vững, như chưa giải quyết mối quan hệ những tồn tại bên trong doanh nghiệp lực lượng lao động chưa ổn đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
PHAN VĂN ĐÀN
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DOANH NGHIỆP THỦY SẢN BẠC LIÊU
Tp Hồ Chính Minh - Năm 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
PHAN VĂN ĐÀN
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DOANH NGHIỆP THỦY SẢN BẠC LIÊU
Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS Lê Thanh Hà
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án “Các yếu tố tác động đến phát triển bền vững
cứu sinh Kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và hiện nay chưa được
công bố ở bất cứ công trình nghiên cứu nào
Nghiên cứu sinh
Trang 4
Chương 1 1
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP THỦY SẢN TỈNH BẠC LIÊU VÀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Tổng quan về tình hình phát triển doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu 2
1.2.1 Tình hình phát triển doanh nghiệp thủy sản 2
1.2.2 Tình hình đóng góp của doanh nghiệp thủy sản vào phát triển kinh tế 3
1.2.2.1 Sản lượng xuất khẩu thủy sản của doanh nghiệp 3
1.2.2.2 Giá trị xuất khẩu thủy sản của doanh nghiệp 4
1.3 Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu 5
1.4 Vấn đề nghiên cứu luận án 7
1.4.1 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 9
1.4.2 Khung nghiên cứu của luận án 9
1.4.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 10
1.4.4 Phương pháp nghiên cứu 11
1.4.4.1 Cơ sở thu thập dữ liệu 11
1.4.4.2 Phương pháp nghiên cứu 12
1.5 Kết quả thảo luận và đóng góp mới của luận án 13
1.6 Kết cấu của luận án 14
Chương 2 15
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH LÝ THUYỂT PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC DOANH NGHIỆP THỦY SẢN BẠC LIÊU 15
2.1 Giới thiệu……… 15
2.2 Khái niệm về phát triển bền vững 15
2.3 Tiếp cận khái niệm phát triển bền vững hướng đến khái niệm phát triển bền vững các doanh nghiệp 19
2.4 Khái niệm phát triển bền vững doanh nghiệp 20
2.5 Cách tiếp cận mô hình lý thuyết phát triển bền vững doanh nghiệp 24
2.5.1 Mô hình lý thuyết các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững doanh nghiệp công nghệ sản xuất cao tại Đài Loan……… 26
Trang 5phát triển bền vững doanh nghiệp ……… 28
5.2.3 Mô hình lý thuyết phát triển bền vững trong doanh nghiệp vừa và nhỏ ở khu vực Australia……… 31
2.6 Sự hình thành mô hình lý thuyết phát triển bền vững các doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu ……… …….35
2.6.1 Yếu tố bên ngoài doanh nghiệp 40
2.6.2 Yếu tố bên trong doanh nghiệp 48
2.6.3 Yếu tố phát triển bền vững doanh nghiệp 54
2.7 Tóm tắt chương 56
Chương 3 57
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 57
3.1 Giới thiệu 57
3.2 Thiết kế nghiên cứu 57
3.2.1 Phương pháp định tính 58
3.2.1.1 Quá trình thực hiện phương pháp định tính 58
3.2.1.2 Kết quả nghiên cứu định tính 59
3.2.2 Phương pháp định lượng 62
3 2.2.1 Thiết kế và kích thước mẫu……… 62
3.2.2.2 Phát triển các câu hỏi………64
3.2.2.3 Thiết kế bảng câu hỏi………64
3.2.2.4 Phân tích dữ liệu………65
3.3 Xây dựng thang đo 68
3.3.1 Thang đo yếu tố bên ngoài 70
3.3.2 Thang đo yếu tố bên trong 76
3.3.3 Thang đo phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản 81
3.4 Mô hình lý thuyết phát triển bền vững các doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu 84
3.5 Tóm tắt chương 85
Chương 4 86
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 86
4.1 Giới thiệu ……… 86
4.2 Phân tích mô tả……… 86
Trang 64.2.2 Ngành nghề hoạt động doanh nghiệp thủy sản ……… 87
4.2.3 Trung bình của các biến quan sát……… ……… 87
4.3 Kết quả mô hình lý thuyết đề nghị về phát triển bền vững các DN thủy sản 89
4.3.1 Kết quả phân tích thang đo Cronbach’s alpha……… 89
4.3.1.1 Kết quả phân tích thang đo yếu tố bên ngoài bằng Cronbach’s alpha… 90
4.3.1.2 Kết quả phân tích thang đo yếu tố bên trong bằng Cronbach’s alpha… …91
4.3.1.3 Kết quả phân tích thang đo yếu tố phát triển bền vững DN thủy sản… …92
4.3.2 Kết quả phân tích thang đo yếu tố khám phá EFA……… …………92
4.3.3 Kết quả mô hình lý thuyết phát triển bền vững các doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu……… ……… … 95
4.3.3.1 Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết 95
4.3.3.2 Kết quả kiểm định sự khác biệt (ANOVA) 103
4.4 Thảo luận kết quả nghiên cứu yếu tố tác động đến phát triển bền vững các doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu……… ………105
4.4 Tóm tắt chương 109
Chương 5 110
KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHO VIỆC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC DOANH NGHIỆP THỦY SẢN BẠC LIÊU 110
5.1 Giới thiệu tổng quát 110
5.2 Kết quả chính và đóng góp mới của luận án 110
5.2.1 Kết quả đo lường mô hình 110
5.2.2 Về mô hình lý thuyết nghiên cứu 112
5.3 Hàm ý cho việc phát phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu 113
5.3.1 Quan điểm phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản……… 113
5.3.2 Hàm ý cho phát triển bền vững các doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu 114
5.3.2.1 Về an sinh xã hội 114
5.3.2.2 Về lực lượng lao động 116
5.3.2.3 Về chính sách hỗ trợ nhà nước 117
5.3.2.4 Về người quản lý/Chủ sở hữu 119
5.3.2.5 Về xu hướng thị trường 120
5.3.2.6 Về thiếu nhu cầu các bên liên quan 121
Trang 75.3.2.8 Về khách hàng 123
5.3.2.9 Về phòng chống ô nhiễm môi trường 124
5.4 Kết luận chung 125
2.5 Một số hạn chế nghiên cứu 127
Trang 81 DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Khung nghiên cứu của luận án
Hình 3.1: Qui trình nghiên cứu
2 DANH MỤC MÔ HÌNH
Mô hình 2.1: Các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc áp dụng phát triển bền
vững doanh nghiệp………
Mô hình 2.2: Mô hình khái niệm liên kết tất cả các biến tác động đến phát triển
bền vững doanh nghiệp trong nghiên cứu………
Mô hình 2.3: Khung lý thuyết phát triển bền vững doanh nghiệp nhỏ và vừa
của Úc………
Mô hình 2.4: Đề nghị mô hình lý thuyết các yếu tố tác động đến phát triển bền
vững doanh nghiệp thủy sản……… ……
Mô hình 4.1: Kết quả mô hình lý thuyết đề nghị cho phát triển bền vững các
doanh nghiệp thủy sản
Biểu đồ 4.1: Kết quả biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa
Biểu đồ 4.2: Biểu đồ hồi quy phần dư chuẩn hóa
100
101
Trang 9Bảng 1.1: Thực trạng doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bạc Liêu
Bảng 1.2: Sản lượng xuất khẩu thủy sản đông lạnh tỉnh Bạc Liêu………
Bảng 1.3: Giá trị xuất khẩu thủy sản tỉnh Bạc Liêu………
Bảng 2.1: So sánh kết quả phát triển truyền thống và phát triển bền vững ở cấp độ vĩ mô………
Bảng 2.2: So sánh kết quả phát triển doanh nghiệp truyền thống và phát triển bền vững doanh nghiệp………
Bảng 2.3: Tóm tắt tiếp cận các yếu tố tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp………
Bảng 3.1: Kết quả các yếu tố tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản………
Bảng 3.2: Kích cỡ mẫu nghiên cứu chính thức………
Bảng 3.3: Thang đo khách hàng………
Bảng 3.4: Thang đo xu hướng thị trường………
Bảng 3.5: Thang đo thiếu nhu cầu các bên liên quan………
Bảng 3.6: Thang đo chính sách hỗ trợ nhà nước………
Bảng 3.7: Thang đo an sinh xã hội………
Bảng 3.8: Thang đo lực lượng lao động ………
Bảng 3.9: Thang đo người quản lý/Chủ sở hữu ………
Bảng 3.10: Thang đo trách nhiệm sản phẩm………
Bảng 3.11: Thang đo phòng chống ô nhiễm môi trường………
Bảng 3.12: Thang đo phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản …………
Bảng 3.13: Tổng hợp xây dựng thang đo phát triển bền vững doanh………
Bảng 4.1: Hình thức sở hữu doanh nghiệp thủy sản………… ………
Bảng 4.2: Ngành nghề hoạt động doanh nghiệp thủy sản………
Bảng 4.3: Trung bình của các biến quan sát về phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu………
Bảng 4.4: Tổng hợp kết quả phân tích yếu tố bên trong và bên ngoài thang đo bằng Cronbach’s alpha……… ……… Bảng 4.5: Kết quả phân tích thang đo yếu tố bên ngoài bằng Cronbach’s
3
4
4
18
23
34
61
63
71
72
74
75
76
77
78
79
81
82
83
86
87
88
89
Trang 10Bảng 4.6: Kết quả phân tích thang đo yếu tố bên trong bằng Cronbach’s
alpha….………
Bảng 4.7: Kết quả phân tích thang đo yếu tố phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản bằng Cronbach’s alpha………
Bảng 4.8: Kết quả phân tích yếu tố bên trong và bên ngoài thang đo khám phá EFA………
Bảng 4.9: Kết quả phân tích yếu tố phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản thang đo khám phá EFA………
Bảng 4.10: Trung bình và độ lệch chuẩn của các yếu tố tác động………
Bảng 4.11: Hệ số xác định mô hình (Model Summaryb) ………
Bảng 4.12: Phân tích phương sai (ANOVA)
Bảng 4.13: Hệ số hồi quy các yếu tố tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản
Bảng 4.14: Kiểm định phương sai phần dư không đổi ………
Bảng 4.15: Kết quả kiểm định ANOVA………
Bảng 4.16: Kết quả kiểm định Post Hoc………
Bảng 4.17: Tóm tắt kết quả giả thuyết các yếu tố tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu………
91
92
93
94
95
97
97
98
100
103
103
104
Trang 11ASEAN: Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
Corporate Responsibility (CR): Trách nhiệm doanh nghiệp
Corporate Social Performance (CPS): Hoạt động xã hội của doanh nghiệp
Dow Jones Sustainability Indices (DJSI): Chỉ số Dow Jones bền vững
European Union (EU): Liên minh châu Âu
International Union for Conservation of Nature and Natural Resources (IUCN):Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế
International Labour Organization (ILO): Tổ chức Lao động Quốc tế
Sustainable Enterprise Model (SEM): Mô hình doanh nghiệp bền vững
Sustainable Development of Enterprise (SDE): Phát triển bền vững doanh nghiệp Socially responsible investment (SRI): Xã hội đầu tư chịu trách nhiệm
The Club of Rome: Tổ chức câu lạc bộ Rome
UBND: Ủy ban nhân dân
VASEP: Theo Hiệp hội Chế biến Thủy sản Việt Nam
WCED (nay là Ủy ban Brundtland): Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới
Trang 12Chương 1
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP THỦY SẢN TỈNH BẠC LIÊU VÀ
VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
1.1 Giới thiệu
Ở Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển khác, doanh nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Với quan điểm phát triển doanh nghiệp là chiến lược lâu dài, nhất quán và xuyên suốt trong Chương trình hành động của Chính phủ, chính sách phát triển doanh nghiệp được coi là trọng tâm góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, đóng vai trò quan trọng tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo và thực hiện tốt công tác an sinh xã hội Tại các nước phát triển và đang phát triển, Chính phủ các nước này đều xác định vai trò quan trọng, lâu dài của doanh nghiệp trong nền kinh tế và công tác xúc tiến, phát triển doanh nghiệp là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong chính sách phát triển kinh tế quốc gia Các nước trong khu vực như Malaysia, Thái Lan, v.v… và cả Việt Nam đều xây dựng Chiến lược 10 năm và Kế hoạch 5 năm phát triển doanh nghiệp Hiện nay, doanh nghiệp tại Việt Nam chủ yếu là loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm trên 97% số lượng doanh nghiệp trên địa bàn cả nước (Cục Phát triển doanh
nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2011)
Rõ ràng, việc phát triển doanh nghiệp theo truyền thống có ổn định, lâu dài hoặc phát triển bền vững doanh nghiệp sẽ mang lại ổn định, lâu dài hơn tại nhiều địa phương trong một thời gian dài là một điểm của cuộc tranh luận và tranh cãi ở các nước đang phát triển nói chung, đặc biệt là Việt Nam Như vậy, việc xem xét tính chất và tìm hiểu các yếu tố tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp là vấn đề nghiên cứu của luận án Thứ nhất, đánh giá tổng quan tình hình phát triển doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu và rút ra một số nguyên nhân, hạn chế phát triển doanh nghiệp thủy sản; Thứ hai, tìm hiểu một số vấn đề nghiên cứu, khoảng trống nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu; Cuối cùng thảo luận kết quả, đóng góp mới và kết cấu của luận án
Trang 131.2 Tổng quan về tình hình phát triển doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bạc Liêu 1.2.1 Tình hình phát triển doanh nghiệp thủy sản
Vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện có rất nhiều doanh nghiệp chuyên ngành chế biến thủy sản xuất khẩu với tổng công suất khoảng 1 triệu tấn/năm, tập trung ở Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cần Thơ và An Giang Trong quá trình hội nhập, những doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu luôn dẫn đầu, đặc biệt có nhiều doanh nghiệp đã sớm hội nhập với thế giới, nâng cao kim ngạch xuất khẩu hàng năm và trở thành doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản hàng đầu của đất nước
Theo Tổng cục Thống kê, tính đến thời điểm 2013 cả nước có 2.536 doanh nghiệp
thủy sản và doanh nghiệp thủy sản chiếm đến 45,2% Đáng chú ý là vùng đồng bằng sông Cửu Long số lượng doanh nghiệp thủy sản chiếm tỷ trọng rất lớn nhưng đang có xu hướng giảm rõ rệt chỉ còn 37% trong năm 2013 so với con số 50% vào năm 2006 Về nguồn vốn, năm 2013 các doanh nghiệp này có tổng vốn tài sản trên 92.100 tỷ đồng, tăng gấp hơn 2 lần năm 2006 và nợ phải trả là 32.300 tỷ đồng, chiếm 35% tổng nguồn vốn hiện có
Trong lĩnh vực doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu là ngành nghề chủ lực của tỉnh Bạc Liêu, số lượng doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực thủy sản chiếm 16,6% so với tổng số doanh nghiệp của tỉnh năm 2013 là 1.318 doanh nghiệp đang hoạt động Chính vì vậy, những năm qua chính quyền tỉnh Bạc Liêu đặc biệt quan
tâm đến hỗ trợ đối với những hoạt động của ngành nghề thủy sản
Tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu tính đến năm 2013 là 1.318 doanh nghiệp, với tổng số vốn đăng ký là 10.776 tỷ đồng Trong
số các doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp thủy sản
có đến 457 doanh nghiệp Chủ yếu tập trung vào các loại hình doanh nghiệp như: Doanh nghiệp tư nhân là 154 doanh nghiệp, với mức vốn đăng ký kinh doanh là 195
tỷ đồng; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là 132 công ty, với mức vốn đăng ký kinh doanh là 477 tỷ đồng; Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên là
122 công ty, với mức vốn đăng ký kinh doanh là 274 tỷ đồng; Công ty trách cổ phần là 49 công ty, với mức vốn đăng ký kinh doanh là 3.199 tỷ đồng (như hình 1.1)
Trang 14Bảng 1.1: Thực trạng phát triển doanh nghiệp tỉnh Bạc Liêu
Loại hình doanh
nghiệp
Tổng số doanh nghiệp
Doanh nghiệp thủy
sản
Tỷ trọng
Số lượng
DN
Vốn ĐKKD (tỷ)
Số lượng
DN
Vốn ĐKKD (tỷ)
Nguồn: Phòng đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư
1.2.2 Tình hình đóng góp của doanh nghiệp thủy sản vào phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bạc Liêu
1.2.2.1 Sản lượng xuất khẩu thủy sản của doanh nghiệp
Theo Tổng cục Thủy sản, năm 2013 được đánh dấu là năm phục hồi đối với nghề sản xuất tôm nước lợ, với các thắng lợi như được mùa, được giá và kiểm soát tốt dịch bệnh, đặc biệt là đối với sản phẩm tôm thẻ chân trắng Tính tính từ năm
2013, diện tích nuôi tôm của cả nước đạt 652.612 ha, bằng 99,2% cùng kỳ năm 2012; trong đó, diện tích nuôi tôm sú là 588.894 ha, tôm thẻ chân trắng 63.719 ha Sản lượng thu hoạch là 475.854 tấn (sản lượng tôm sú là 232.853 tấn, tôm thẻ chân trắng là 243.001 tấn) Theo Hiệp hội Chế biến Thủy sản Việt Nam (VASEP), 2013 Tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam ước đạt 6,5 tỷ USD Trong đó, tôm
và cá tra dự báo chiếm hơn 70,7% tổng giá trị xuất khẩu, đạt 4,6 tỷ USD Một số địa phương có vùng nuôi, số lượng nhà máy chế biến tôm lớn trong cả nước như: tỉnh
Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng,… kim ngạch xuất khẩu tôm có nhiều chuyển biến tích cực Tình hình sản lượng xuất khẩu của tỉnh Bạc Liêu chủ yếu có hai loại hàng hóa chính đó là gạo và thủy sản đông lạnh (bảng 1.2) cho thấy sản lượng xuất khẩu tăng đều qua các năm, sản lượng xuất khẩu năm 2009 đạt 90.340 tấn; trong đó, sản lượng xuất khẩu thủy sản đông lạnh đạt 20.340 tấn, đến năm 2013 sản lượng xuất khẩu đạt 105.861 tấn, trong đó, sản lượng xuất khẩu thủy sản đông lạnh đạt 35.515 tấn
Trang 15Bảng 1.2: Sản lượng xuất khẩu thủy sản đông lạnh tỉnh Bạc Liêu
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bạc Liêu, 2013
Nhìn chung, tình hình xuất khẩu thủy sản tỉnh Bạc Liêu tăng đều qua các
năm, tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2009 là 192.500.000 USD Trong đó, mặt hàng
thủy sản có giá trị xuất khẩu đạt 151.680.000 USD, giá trị xuất khẩu tăng đều đến năm 2013 có tổng kim ngạch xuất khẩu tăng lên 409.164.000 USD Trong đó, mặt hàng thủy sản có giá trị xuất khẩu đạt 376.512.000 USD Điều này cho thấy giá trị xuất khẩu thủy sản tỉnh Bạc Liêu sẽ tiếp tục là mặt hàng chủ lực của tỉnh
1.2.2.2 Giá trị xuất khẩu thủy sản của doanh nghiệp
Trong những năm gần đây được các chuyên gia kinh tế đều nhận định là năm
mà các doanh nghiệp chế biến thủy sản gặp nhiều khó khăn hơn, không chỉ khó về vốn, lãi suất ngân hàng mà còn phải đối đầu với thách thức nguyên liệu chế biến Nhiều nhà máy phải hoạt động cầm chừng, đa số chỉ đáp ứng 40 - 50% công suất để giữ chân người lao động Do tính điều kiện tự nhiên và thiên nhiên, nên tính đặc thù phát triển kinh tế xã hội của tỉnh chỉ mới có hai nhóm mặt hàng xuất khẩu sang nước ngoài đó là hàng nông sản và hàng thủy sản Nhưng mặt hàng xuất khẩu thủy sản chiếm một tỷ trọng rất cao so với mặt hàng nông sản, được thể hiện giá trị xuất khẩu tăng đều như năm 2009 doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản 151.680.000 USD tăng đến năm 2013 lên tới 376.512.000 USD (bảng 1.3)
Bảng 1.3: Giá trị xuất khẩu thủy sản tỉnh Bạc Liêu
Trang 161.3 Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế đất nước Quy mô của doanh nghiệp thủy sản ngày càng mở rộng và vai trò doanh nghiệp thủy sản cũng tăng lên không ngừng trong nền kinh tế quốc gia Doanh nghiệp thuỷ sản là một ngành đặc thù từ khâu sản xuất, chế biến và xuất khẩu bao gồm nhiều lĩnh vực hoạt động mang những tính chất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và dịch vụ, cơ cấu thành một hệ thống thống nhất có liên quan chặt chẽ và hữu cơ với nhau Đồng thời vai trò ngày càng quan trọng trong sản xuất hàng hoá phục vụ nhu cầu tiêu dùng thực phẩm trong nước và xuất khẩu thu ngoại
tệ Doanh nghiệp thuỷ sản không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho người dân, mà còn là một ngành kinh tế giải quyết việc làm cho nhiều lao động, nhất là lao động nông nhàn ở các tỉnh đặc biệt ở những vùng nông thôn và vùng ven biển Doanh nghiệp thủy sản đã tham gia đóng góp nhiều vào các chương trình xóa đói giảm nghèo, công tác an sinh xã hội tại địa phương và được xem là trụ cột xã hội công bằng của đặc trưng phát triển bền vững Tuy nhiên các doanh nghiệp thủy sản đóng vai trò rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh, đồng thời doanh nghiệp thủy sản của tỉnh Bạc Liêu là một trong những tỉnh có thế mạnh về chế biến xuất khẩu thủy sản trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long và cả nước; từ đó doanh nghiệp thủy sản mang tính đặc thù hơn so với các loại doanh nghiệp khác trong tỉnh Nhưng doanh nghiệp thủy sản tỉnh Ba ̣c Liêu hiện nay chưa hướng đến phát triển bền vững, như chưa giải quyết mối quan
hệ những tồn tại bên trong doanh nghiệp (lực lượng lao động chưa ổn định, áp lực
về quản lý, trách nhiệm sản phẩm, áp lực giải quyết về môi trường) và còn đối mặt nhiều thách thức vào yếu tố bên ngoài (thiếu khách hàng, thị trường, thiếu nhu cầu các bên liên quan trong hợp tác kinh doanh, chính sách hỗ trợ nhà nước và áp lực vấn đề xã hội như tham gia công tác an sinh xã hội tại địa phương)
Hiện nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến phát triển bền vững và điển hình như nghiên cứu của Springett (2003a, 2005), Russell et al (2006)
và Byrch et al (2007) đều đưa ra báo cáo nhấn mạnh bởi kinh doanh trên các khía cạnh kinh tế của phát triển bền vững doanh nghiệp Đối với nghiên cứu khả năng phát triển bền vững doanh nghiệp: Ứng dụng với lý thuyết hiệp lực cộng đồng (QU
Trang 17Feng geng 2007) kết quả nghiên cứu phát triển bền vững doanh nghiệp cần chú trọng đến mối quan hệ năng lực ngành công nghiệp, công nghệ, năng lực phát triển thể chế và thị trường và sự tương tác của chúng để thực hiện phát triển bền vững
doanh nghiệp Theo Kris Law (2010) lại đưa kết quả nghiên cứu các yếu tố tác động đến phát triển bền vững: Các công ty công nghệ cao sản xuất tại Đài Loan cho thấy
rằng các công ty sản xuất công nghệ cao công nhận tích cực thúc đẩy tác động của các yếu tố phát triển bền vững từ quản lý, yếu tố nội bộ và bên ngoài Nhưng theo Fairfield, Harmon & Behson (2011) lại nghiên cứu tích hợp doanh nghiệp bền vững
là các mối liên kết giữa các ảnh hưởng bên ngoài và quá trình hướng đến quyết định phát triển bền vững, cho phép cơ bản tổ chức, chất hạn chế nội bộ, phương thức bền vững và hiệu suất Đến năm 2013 có một công trình nghiên cứu điển hình về phát triển bền vững doanh nghiệp vừa và nhỏ ở khu vực Australia: Một khung phân tích, kết quả giải quyết mối quan hệ giữa phát triển bền vững doanh nghiệp từ các yếu tố bên trong và bên ngoài (Salimzadeh, Courvisanos and Nayak, 2013), được xem là một khung lý thuyết cơ bản nhất mà tác giả đã nghiên cứu qua Yếu tố bên trong doanh nghiệp (1 Hiệu suất, 2 Nhân viên, 3 Chủ sở hữu/Người quản lý) và Yếu tố bên ngoài doanh nghiệp (1 Chinh phủ, 2 Khách hàng, 3 Các bên liên quan) Khung lý thuyết này chưa quan tâm đến trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp, sự phòng chống ô nhiễm môi trường thuộc về yếu tố bên trong của doanh nghiệp, và khung lý thuyết này cũng chưa quan tâm đến yếu tố xu hướng thị trường và công tác an sinh xã hội của doanh nghiệp, đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phải
có trách nhiệm với cộng đồng nơi doanh nghiệp đang hoạt động Vì vậy, từ gợi ý kết quả nghiên cứu đã giải quyết một số vấn đề còn hạn chế của khung lý thuyết và cải thiện hoạt động của các doanh nghiệp thủy sản hướng đến phát triển bền vững
Sự cần thiết một khung lý thuyết phân tích các yếu tố tác động phát triển bền vững doanh nghiệp của Salimzadeh, Courvisanos and Nayak (2013) cần phải bổ sung vào
mô hình lý thuyết phát triển bền vững và vận dụng mô hình này kiểm định tại một địa phương cụ thể ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long Đây cũng là khoảng trống khung lý thuyết rất cần được đầu tư nghiên cứu, đồng thời kết hợp với phân tích thực trạng phát triển doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bạc Liêu có những yếu tố được rút
ra mang tính đặc trưng doanh nghiệp thủy sản, và phù hợp với khung lý thuyết của Salimzadeh, Courvisanos and Nayak (2013)
Trang 18Từ lý luận khoa học cũng như tính thực tiễn và khoảng trống khung lý thuyết các yếu tố tác động mạnh đến khả năng phát triển bền vững doanh nghiệp là thể hiện tính liên tục, lâu dài, không gây ra những hậu quả tác hại khó khôi phục ở những lĩnh vực của xã hội và môi trường Từ đó, nghiên cứu sinh xác định được khoảng trống trong nghiên cứu mô hình lý thuyết nghiên cứu của Salimzadeh, Courvisanos and Nayak (2013) và đưa ra định hướng nghiên cứu tiếp theo như: Các yếu tố tác đông đến phát triển bền vững các doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu; chủ yếu tập trung từ các yếu tố bên trong doanh nghiệp (1 Lực lượng lao động, 2 Người quản lý/chủ sở hữu, 3 Trách nhiệm sản phẩm, 4 Phòng chống ô nhiễm môi trường) và yếu tố bên ngoài doanh nghiệp (1 Khách hàng, 2 Xu hướng thị trường,
3 Thiếu nhu cầu các bên liên quan, 4 Chính sách hỗ trợ nhà nước và 5 An sinh xã hội)
1.4 Vấn đề nghiên cứu của luận án
Phát triển bền vững là một khái niệm nền tảng trong nghiên cứu quản lý doanh nghiệp thông qua liên kết của nó với lợi thế cạnh tranh Tiến bộ đáng kể đã được thực hiện ở lĩnh vực này trong những năm gần đây, bao gồm cả việc di chuyển
từ định nghĩa hẹp của tính bền vững, của lợi thế cạnh tranh dựa trên hiệu suất kinh
tế vượt trội so với một sự công nhận tầm quan trọng của thực hiện kết nối với các tác động kinh tế, xã hội và môi trường của doanh nghiệp (Harrison, Bosse, & Phillips, 2010) Điều này đã được tranh luận từ quan điểm lý thuyết phát triển bền vững doanh nghiệp từ các bên liên quan, trong đó xác định lại mục đích chính và mục tiêu của doanh nghiệp là một phần của một hệ thống các bên liên quan ảnh hưởng bởi các thiết lập và các mục tiêu doanh nghiệp (Freeman, 1984)
Khu vực đồng bằng sông Cửu Long là vùng kinh tế trọng điểm của chế biến, xuất khẩu thủy sản và đóng góp lớn vào xuất khẩu thủy sản của cả nước Điều này
đã góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản phát triển , song tốc độ phát triển của xuất khẩu thủy sản trong thời gian qua đã gặp phải sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường thế giới, các rào cản kỹ thuật được các nước đưa ra nhằm hạn chế xuất khẩu thủy sản của Việt Nam , đặc biệt là truyền thông phản ánh hàng thủy sản qua các tổ chức quốc tế về bảo vệ môi trường thiên nhiên và sinh thái, Ngoài ra, các cơ sở sản xuất, kinh doanh tôm và các sản phẩm có chứa tạp chất (kể cả hộ dân
Trang 19tham gia thu mua, sơ chế và đưa tạp chất vào tôm nguyên liệu) gây ảnh hưởng lớn đến uy tín doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam Hiện nay, các doanh nghiệp thủy sản chưa giải quyết triệt để những tồn tại như lực lượng lao động chưa ổn định, người quản lý, trách nhiệm sản phẩm, áp lực giải quyết về môi trường và còn đối mặt nhiều thách thức như thiếu khách hàng, thị trường, thiếu nhu cầu các bên liên quan trong hợp tác kinh doanh, thiếu chính sách hỗ trợ từ nhà nước và áp lực vấn đề xã hội trong kinh doanh Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bạc Liêu cũng nằm trong xu hướng chung của doanh nghiệp thủy sản cả nước
Đối với phát triển doanh nghiệp thủy sản cả nước nói chung và tỉnh Bạc Liêu nói riêng là một lĩnh vực sản xuất hàng hóa, có thương hiệu uy tín, có khả năng cạnh tranh cao trong hội nhập kinh tế quốc tế, trên cơ sở phát huy lợi thế của một lĩnh vực sản xuất – khai thác tài nguyên tái tạo, lợi thế của nghề tôm, tạo sự phát triển đồng bộ, đóng góp ngày càng lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước cũng như tỉnh Bạc Liêu Tuy nhiên, đóng góp của các doanh nghiệp thủy sản rất lớn đối với phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bạc Liêu Nhưng hiện nay, phát triển doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu chưa hướng đến phát triển bền vững, các doanh nghiệp chỉ nghĩ đến lợi ích của họ về kinh tế chưa quan tâm đến môi trường, cộng đồng xã hội mà nơi doanh nghiệp đang hoạt động Như vậy, phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bạc Liêu theo hướng giải quyết hài hòa mối quan hệ những tồn tại bên trong doanh nghiệp như lực lượng lao động chưa ổn định, áp lực về quản lý, trách nhiệm sản phẩm, áp lực giải quyết về môi trường và còn đối mặt nhiều thách thức vào yếu tố bên ngoài như thiếu khách hàng, thị trường, thiếu nhu cầu các bên liên quan trong hợp tác kinh doanh, chính sách hỗ trợ nhà nước và áp lực vấn đề xã hội trong kinh doanh là vấn đề mà các doanh nghiệp cần quan tâm để hướng phát triển bền vững Phát triển bền vững doanh nghiệp là một chủ đề trên diện rộng, nhất
là các doanh nghiệp có nhiều hình thức, không chỉ về quy mô, lĩnh vực và không gian kích thước mà còn về cách thức một doanh nghiệp được quản lý và điều hành,
tư cách pháp nhân và mục tiêu hoạt động Tất cả các doanh nghiệp là một phần của
xã hội, họ hình thành và định hình bởi các cộng đồng nơi họ hoạt động
Tuy nhiên, hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học về lĩnh vực phát triển bền vững doanh nghiệp Nhưng tác giả sẽ mở rộng hướng nghiên cứu mới
đó là “Các yếu tố tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp” Do đó, phát triển
Trang 20bền vững doanh nghiệp là một vấn đề mới ở Việt Nam và liên quan đến quy mô, lĩnh vực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nên rất rộng, cần có sự nghiên cứu chuyên sâu hơn và thu hẹp ở từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nghiên cứu sinh chọn đề tài “Các yếu tố tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu” làm luận án tiến sĩ của mình
1.4.1 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Khi xác định được vấn đề nghiên cứu, phát triển bền vững doanh nghiệp sẽ tác động từ yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Do đó để khám phá các yếu tố thành phần bên trong và bên ngoài doanh nghiệp có mối quan hệ đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản tại tỉnh Bạc Liêu, nghiên cứu tập trung vào một số mục tiêu cụ thể sau:
(1) Xác định các yếu tố có mối quan hệ tác động đến đến phát triển bền vững các doanh nghiệp
(2) Xác định mức độ tác động của các yếu tố đến sự phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu
(3) Xác định hàm ý cho phát phát triển bền vững các doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu
Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu đặt ra, luận án thực hiện thông qua việc trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
(1) Xem xét các yếu tố nào có khả năng tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản?
(2) Xem xét mức độ ưu tiên các yếu tố nào tác động mạnh đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu?
(3) Các doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu cần quan tâm đến yếu tố nào để phát triển bền vững?
1.4.2 Khung nghiên cứu của luận án
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên kết quả nghiên cứu trước đó và phân tích thực trạng phát triển doanh nghiệp thủy sản trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu nhằm kết hợp tìm hiểu các yếu tố đặc trưng phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản Đồng
Trang 21thời tìm hiểu các yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài doanh nghiệp, nghiên cứu được thực hiện thông qua hai bước chính (1) nghiên cứu khám phá bằng phương pháp định tính, (2) và kết hợp nghiên cứu chính thức bằng phương pháp định lượng Hình 1.1 Khung nghiên cứu luận án
1 Câu hỏi xác định các yếu tố bên trong (nội bộ)
và bên ngoài doanh nghiệp
- Kết quả thảo luận nhóm
2 Câu hỏi đánh giá thang đo.
- Kết quả nghiên cứu xây dựng thang đo
Nghiên cứu định lượng
- Xây dựng thang do chính thức
- Kết quả kiểm định thang đo
- Đánh giá mức độ các yếu tố tác động đến sự phát triển bền vững doanh nghiệp
Kết quả nghiên cứu
Mô hình lý thuyết đề nghị cho phát triển bền vững các doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu
Hình 1.1: Khung nghiên cứu của luận án 1.4.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Xác định phần giới hạn của luận án liên quan đến đối tượng khảo sát và nội dung nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu bao gồm những giới hạn về không gian của đối tượng khảo sát, giới hạn quỹ thời gian để tiến hành nghiên cứu và giới hạn quy
mô nội dung được xử lý Cơ sở đề xác định phạm vi và đối tượng nghiên cứu là:
Trang 22- Phạm vi về nội dung là thể hiện tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu; xây dựng cơ sở lý thuyết về phát triển bền vững doanh nghiệp; Tìm hiểu cơ sở thực tiễn của phát triển bền vững doanh nghiệp; Xác định mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu; Xây dựng phương pháp và quy trình nghiên cứu; Đặt ra 9 giả thuyết tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản và kết quả nghiên cứu chấp nhận giả thuyết khoa học Cuối cùng hàm ý cho phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu trong thời gian tới
- Phạm vi nghiên cứu của luận án được chọn là các doanh nghiệp thủy sản đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu
- Phạm vi không gian nghiên cứu là 227 doanh nghiệp thủy sản và mang tính đại diện cho 457 doanh nghiệp thủy sản đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu
- Phạm vi thời gian là quỹ thời gian hoàn tất công trình nghiên cứu của luận
án, tính từ giai đoạn bắt đầu nghiên cứu là năm 2011-2015
- Đối tượng nghiên cứu của luận án chính là các yếu tố bên trong và bên ngoài tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản tại tỉnh Bạc Liêu
- Đối tượng khảo sát những người quản lý các doanh nghiệp thủy sản đang hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu
Doanh nghiệp thủy sản là doanh nghiệp được thành lập theo ngành nghề mà doanh nghiệp đăng ký kinh doanh như: Tôm đông lạnh; Chế biến hàng thuỷ sản; Sản xuất chế biến hàng hải sản; Chế biến và bảo quản các mặt hàng thủy sản; Chế biến thủy sản xuất khẩu; Nuôi trồng thuỷ sản nội địa; Bán buôn thủy sản; Khai thác thuỷ sản biển; Sản xuất giống thuỷ sản
1.4.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.4.1 Cơ sở thu thập dữ liệu
Luận án sử dụng các nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp để phục vụ cho quá trình nghiên cứu như sau
Các dữ liệu thứ cấp sử dụng trong nghiên cứu được thu thập từ Phòng Đăng
ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục thống kế tỉnh Bạc Liêu, trên các địa chỉ internet,…nghiên cứu của các công trình liên quan đến lĩnh vực phát triển bền vững Các dữ liệu trên chỉ phục vụ cho việc thống kê, đánh giá và tìm hiểu một
số tiêu chí có liên quan đến phát triển bền vững doanh nghiệp
Trang 23 Dữ liệu sơ cấp thông qua dàn bài thảo luận nhóm để thu thập được thông tin trong quá trình thảo luận và sau đó thiết kế bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp những người quản lý doanh nghiệp thủy sản
1.4.4.2 Phương pháp nghiên cứu
Ngày nay, có nhiều loại nghiên cứu mà các nhà khoa học hay sử dụng trong nghiên cứu của mình đó là nghiên cứu hàn lâm và nghiên cứu ứng dụng Trong nghiên cứu hàn lâm với mục tiêu là phát triển lý thuyết mới, kết quả là đưa ra lý thuyết, mô hình, luận điểm mới; còn nghiên cứu ứng dụng với mục tiêu là ứng dụng
lý thuyết vào thực tế và kết quả là dựa trên lý thuyết đưa ra các giải pháp hiệu quả
Từ định hướng nghiên cứu, tác giả chọn hướng nghiên cứu cho đề tài luận án của mình theo loại nghiên cứu ứng dụng tại thị trường tỉnh Bạc Liêu và có khám phá các yếu tố mới Do đó, các phương pháp nghiên trong luận án được sử dụng phương pháp định tính và kết hợp với phương pháp định lượng
Thứ nhất là; Nghiên cứu dựa trên nguồn thông tin thứ cấp thông qua các
nghiên cứu đã công bố trên tạp chí ngoài nước và trong nước, một số yếu tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp nhằm xác định các tiêu chí đánh giá hiệu quả phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản
Ở bước này giúp tác giả chuẩn bị nội dung xây dựng và hiệu chỉnh lại nội dung bảng câu hỏi để xây dựng thang đo phù hợp Bảng câu hỏi mà tác giả xây dựng được tham khảo từ tổng hợp các công trình nghiên cứu ở trên
Thứ hai là; Điều tra, khảo sát thực tế Tác giả đã tiến hành khảo sát những
người quản lý trong các doanh nghiệp thủy sản, các chuyên gia đang quản lý ở lĩnh vực thủy sản thông qua bảng câu hỏi trực tiếp
Trang 24Kết quả thông tin thu thập đa dạng và phong phú, đáp ứng được yêu cầu cần thiết cho việc nghiên cứu chính thức Cuối cùng, nhóm được các thuộc tính yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài doanh nghiệp
Nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định lượng được thực hiện dựa trên kết quả nghiên cứu định tính được xác định các yếu bên trong và yếu tố bên ngoài tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bạc Liêu, sử dụng phương pháp định lượng nhằm kiểm định lại kết quả nghiên cứu định tính, xem xét các thuộc tính yếu tố bên trong
và yếu tố bên ngoài nào còn tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bạc Liêu thì giữ lại và yếu tố nào không tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp sẽ bị loại Như vậy, phương pháp nghiên cứu định lượng thực hiện thông qua các bước sau
Bước 1: Xây dựng thang đo
Qui trình xây dựng thang đo trong luận án được dựa vào các bộ tiêu chí trên
và kết quả nghiên cứu định tính để điều chỉnh biến quan sát từ thang đo nguyên thủy, và bổ sung mới thang đo an sinh xã hội Trên cơ sở này một tập biến quan sát được xây dựng để đo lường các yếu tố tác động đến phát triển doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bạc Liêu
Bước 2: Nghiên cứu định lượng
Đối với nghiên cứu bằng nghiên cứu định lượng được phỏng vấn trực tiếp, phỏng vấn bằng thư với bảng câu hỏi để nắm bắt thông tin, thu thập dữ liệu về tác động của biến phụ thuộc và các biến độc lập Trên cơ sở nghiên cứu nhằm kiểm định lại độ tin cậy của thang đo các yếu tố tác động đến sự phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bạc Liêu Phương pháp đánh giá thang đo được sử dụng công cụ hệ số tin cậy (Cronbach’s alpha, ký hiệu là α), phân tích yếu tố khám phát EFA và phân tích hồi quy bội để tìm những thuộc tính yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài tác động trực tiếp đến sự phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu
1.5 Kết quả thảo luận và đóng góp mới của luận án
Luận án sẽ đem lại một số kết quả thảo luận và đóng góp cho các nhà nghiên cứu Việt Nam tham khảo bộ thang đo phát triển bền vững doanh nghiệp; các doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bạc Liêu có được định hướng phát triển bền vững hơn, đồng
Trang 25thời phát triển bền vững ngoài lợi ích của doanh nghiệp mà còn lợi ích của kinh tế, môi trường sống và cộng đồng xã hội; các cơ quan quản lý nhà nước tại tỉnh Bạc Liêu sử dụng kết quả tham khảo để xây dựng chiến lược phát triển bền vững doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực thủy sản, cụ thể đóng góp mới của luận án như sau
Sự đóng góp mới về yếu tố an sinh xã hội được bổ sung vào nhóm yếu tố bên ngoài doanh nghiệp, để mở rộng an sinh xã hội từ quan điểm về khái niệm đưa vào thang đo phát triển bền vững doanh nghiệp
Khám phá mới các yếu tố bên trong và bên ngoài tác động trực tiếp đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản Những yếu tố này có thể làm cơ sở nghiên cứu cho những đề tài có liên quan đến phát triển bền vững các doanh nghiệp đang hoạt động ở từng lĩnh vực kinh doanh khác nhau
Luận án đã đóng góp vào thực tiễn cho việc phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản, thông qua hàm ý cho phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bạc Liêu phù hợp với kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu của luận án cũng làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu về lĩnh vực phát triển bền vững doanh nghiệp ở nhiều lĩnh vực khác nhau tại Việt Nam
1.6 Kết cấu của luận án
Luận án này được nghiên cứu chia thành 5 chương, với nội dung chính của từng chương cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan về tình hình phát triển doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bạc Liêu và vấn đề nghiên cứu của luận án
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình lý thuyết phát triển bền vững các doanh nghiệp thủy sản
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách phát triển bền vững các doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu
Trang 26Chương 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG CÁC DOANH NGHIỆP THỦY SẢN
2.1 Giới thiệu
Trong chương 2 này, nghiên cứu sinh hệ thống các cơ sở lý thuyết liên quan đến phát triển bền vững doanh nghiệp nhằm hình thành mô hình lý thuyết đề nghị nghiên cứu; cụ thể đầu tiên tìm hiểu từ khái niệm phát triển bền vững ở cấp độ vĩ
mô của quốc gia đến khái niệm phát triển bền vững ở cấp độ vi mô doanh nghiệp; thứ hai hệ thống lại các mô hình lý thuyết nghiên cứu có liên quan đến phát triển bền vững và mô hình lý thuyết được kiểm định các yếu tố bên trong và bên ngoài tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp; cuối cùng mối liên hệ mô hình lý thuyết được rút ra nghiên cứu và sau đó, nghiên cứu sinh có điều chỉnh, bổ sung nhằm đề nghị mô hình lý thuyết phù hợp với lĩnh vực doanh nghiệp thủy sản và các yếu tố tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản Bạc Liêu
2.2 Khái niệm về phát triển bền vững
Các vấn đề phát triển bền vững là một trường phái tư tưởng - tương tác với mối quan hệ giữa con người, các tổ chức xã hội và tự nhiên có thể được tìm thấy trong lịch sử phát triển Giới học thuật và chính trị chuyên ngành - ở cấp độ của các mối quan hệ và các tổ chức quốc tế - bắt đầu để giải quyết vấn đề này trong thế kỷ
20, tại một thời điểm khi các vấn đề liên quan đến sự tăng trưởng của dân số, tăng trưởng kinh tế và tăng cường sử dụng nguồn tài nguyên không tái tạo phát sinh
Trong khi định nghĩa cho phép hướng đến nắm bắt được ý chính của khái niệm phát triển bền vững Nhìn chung, các nguyên tắc liên quan đến phát triển bền vững đã được đề xuất trong những năm qua, mặc dù tất cả các nguyên tắc đưa ra một cái nhìn tổng quan về khái niệm phát triển bền vững cụ thể như sau
Khái niệm phát triển bền vững được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là
Ủy ban Brundtland) Trong báo cáo này đưa ra khái niệm: Phát triển bền vững là
“Sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng,
Trang 27tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” Nói cách
khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp, phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường Khái niệm này có chứa hai thành phần cơ bản:
i Các thành phần của nhu cầu, đó là tập trung vào các bộ phận người nghèo của thế giới có nhu cầu như là một ưu tiên
ii Các thành phần của sản xuất bền vững và tiêu thụ được xác định bởi các công nghệ được sử dụng và tổ chức của xã hội
Theo Ngân hàng thế giới (The World Bank Group), phát triển bền vững là khám phá một số các thách thức xã hội, kinh tế và môi trường là một phần của phát triển bền vững bằng cách làm việc thông qua các mô hình học tập Đi sâu vào các vấn đề mà người dân trên khắp thế giới phấn đấu để cân bằng khi ra quyết định thường rất khó khăn về phát triển
Các khái niệm phát triển bền vững được tiếp cận ở ngoài nước
Theo Valentin and Spangenberg (2000), nguyên tắc phát triển bền vững được cấu trúc xung quanh 4 mệnh chuyên đề (cho mỗi kích thước, tức là kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế) và 6 liên kết chuyên đề (cho mỗi chiều kết nối) Nhưng đến khái niệm của McWilliams & Siegel (2001) chỉ tập trung vào một khía cạnh nguồn tài nguyên quý hiếm và khả năng dẫn đến lợi thế cạnh tranh Phát triển bền vững có thể tạo thành một nguồn tài nguyên quý, hiếm (sáng tạo), và khó bắt chước hoặc khả năng dẫn đến lợi thế cạnh tranh Còn Becker (2005) lại đưa ra ba đặc điểm chung (khả năng phục hồi, tự túc và hợp tác) phát triển bền vững Hệ thống phát triển bền vững được cho là có ba đặc điểm chung (khả năng phục hồi, tự túc và hợp tác) lần lượt được chia thành ba chỉ tiêu để tạo điều kiện đo lường
Các khái niệm phát triển bền vững được tiếp cận ở trong nước
Khái niệm “Phát triển bền vững” được biết đến ở Việt Nam về mặt học thuật, thuật ngữ này được giới khoa học nước ta tiếp thu nhanh Đã có hàng loạt công trình nghiên cứu liên quan đến khái niệm phát triển bền vững phải kể đến là công trình do giới nghiên cứu trong nước tiến hành như: Lê Thế Giới và nhóm tác giả (số
5, tr 40.2010) đưa ra quy trình phát triển bền vững được dựa trên thành quả của 4
Trang 28thành tố căn bản của tính bền vững: bền vững sinh thái, bền vững kinh tế, bền vững
xã hội và bền vững thể chế Nhưng đến Trần Anh Phương (VNH3.TB5.2010) đề cập đến 4 vấn đề phát triển bền vững nhưng ở khía cạnh mở rộng hơn Phát triển bền vững trong lĩnh vực kinh tế ở Việt Nam và những tác động chính trị - xã hội
Bốn vấn đề phát triển bền vững trong nghiên cứu của Trần Anh Phương bao gồm:
(1) Phát triển bền vững là yêu cầu cấp bách và xu thế tất yếu của toàn cầu; Việt Nam trong tiến trình hội nhập, phát triển đã và đang tích cực hưởng ứng xu thế này; (2) Một số thành tựu nổi bật về phát triển bền vững trong lĩnh vực kinh tế của Việt Nam trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua; (3) Một số tác động chính trị - xã hội cơ bản từ thành tựu phát triển bền vững trong lĩnh vực kinh tế của Việt Nam; (4) Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn một số biểu hiện chưa bền vững nhưng chúng ta có thể vượt qua và vững tin vào tương lai nếu có các giải pháp phát triển đúng đắn, năng động Theo Nguyễn Ngọc Trân (2011) phát triển chỉ bền vững khi nó bảo đảm cùng một lúc tăng trưởng kinh tế, công bằng và tiến bộ xã hội, và môi trường được bảo
vệ Tăng trưởng kinh tế, thỏa được công bằng và tiến bộ xã hội nhưng môi trường suy thoái, cạn kiệt, sẽ không có được phát triển bền vững Tăng trưởng kinh tế, bảo
vệ được môi trường nhưng xã hội bị phân hóa giàu nghèo, bị phân tầng về giáo dục,
về hưởng thụ văn hóa quá mức, phát triển cũng sẽ không thể có ổn định để phát triển Xã hội công bằng, kết quả của các thành tựu được chia đều cho mọi người, môi trường được bảo vệ nhưng kinh tế không tăng trưởng thì mô hình tồn tại được nhưng sẽ không lâu dài, đặc biệt trong một thế giới cạnh tranh quyết liệt và ngày càng có nhiều giao lưu Cơ sở lý luận và thực tế để xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống
kê phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay (Nguyễn Sinh Cúc, số 3, 2012) Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của
xã hội loài người Nên đã được các quốc gia trên thế giới đồng thuận xây dựng thành Chương trình nghị sự cho từng thời kỳ phát triển của lịch sử
Nhìn chung, phát triển bền vững từ các khái niệm trên chỉ đề cập ở cấp độ vĩ
mô, thường đề cập trên phạm vi tổng quát của quốc gia và chủ yếu đề cập đến ba trụ cột là kinh tế, xã hội và môi trường Phải phát triển bền vững về kinh tế, giữ vững
ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh kinh tế Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, coi chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh là ưu tiên hàng đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri
Trang 29thức Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hoà với phát triển văn hóa, thực hiện tiến
bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân Phát triển kinh tế-xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu Nước ta có điều kiện phát triển nhanh và yêu cầu phát triển nhanh cũng đang đặt ra hết sức cấp thiết Phát triển bền vững là cơ sở
để phát triển nhanh, phát triển nhanh để tạo nguồn lực cho phát triển bền vững Phát triển nhanh và bền vững phải luôn gắn chặt với nhau trong quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế-xã hội (Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam 2011-2020)
Rõ ràng khái niệm phát triển bền vững được sử dụng trong và ngoài nước như một con đường để khắc phục rào cản đối với những lời kêu gọi về một sự công bằng xã hội rõ ràng hơn, và những nhu cầu liên quan đến những chính sách phát triển thịnh hành, và là một phương tiện nhằm huy động sự trợ giúp của những nhóm môi trường của các nước đang phát triển và các nước công nghiệp Khái niệm phát triển bền vững đã được các tổ chức như Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế chấp nhận và được thể chế hóa cùng với cách thức mà chính các tổ chức này đã sử dụng các xu thế phát triển truyền thống trước đây như nhu cầu cơ bản, công nghệ thích hợp, tham gia vào phát triển Như vậy, khái niệm phát triển bền vững ở trên cho thấy phát triển bền vững ở cấp độ vĩ mô của một quốc gia
Bảng 2.1: So sánh kết quả phát triển truyền thống và phát triển bền vững ở cấp độ vĩ mô
Mục tiêu
- Hiệu quả kinh tế
- Công nghệ thích hợp
- Khai thác triệt để nguồn tài nguyên
Phát triển ổn định và lâu dài cần giải quyết được 3 vấn đề trụ cột chính:
- Tăng trưởng kinh tế ổn định
- Môi trường được bảo vệ
- Xã hội công bằng
Nguồn: tổng hợp từ nghiên cứu của Valentin and Spangenberg (2000), Williams & Siegel (2001), Becker (2005) và Lê Thế Giới và nhóm tác giả (2010), Nguyễn Ngọc Trân (2011), Nguyễn Sinh Cúc (2012)
Trang 30Tóm lại, các khái niệm phát triển bền vững mang tính khoa học, hoạt động phát triển bền vững không những đạt hiệu quả kinh tế mà còn góp phần vào việc bảo vệ môi trường, giải quyết hài hòa giữa kinh tế và xã hội Từ khái niệm phát triển bền vững ở cấp độ vĩ mô và doanh nghiệp phù hợp các nguyên tắc của phát triển bền vững, nghiên cứu sinh hướng đến tìm hiểu khái niệm phát triển bền vững
ở cấp độ vi mô của doanh nghiệp
2.3 Tiếp cận khái niệm phát triển bền vững hướng đến khái niệm phát triển bền vững doanh nghiệp
Các doanh nghiệp ngày càng đóng góp rất đáng kể vào sự phát triển bền vững của xã hội và trong nhiều thập kỷ qua, những nỗ lực để đạt được sự phát triển bền vững có thể được nhìn thấy ngay cả trên cấp độ vi mô của các doanh nghiệp, một khi các doanh nghiệp đã quyết định hướng phát triển bền vững hơn so với lợi nhuận thuần túy, doanh nghiệp đề cập đến hiệu quả kinh doanh không chỉ về mặt dịch vụ, sản phẩm được sản xuất và các lợi nhuận, mà còn về các hiệu ứng trên các khía cạnh của con người và xã hội (Dvořáková, Zborková, 2014) Do đó, điều cần thiết để thực hiện thay đổi trong cách tiếp cận truyền thống chuyển sang cách tiếp cận theo xu hướng phát triển bền vững
Trong trường hợp này, chúng ta cần thiết để phân biệt hai loại doanh nghiệp
Đầu tiên bao gồm các doanh nghiệp phát triển theo truyền thống và các doanh nghiệp khác lại chấp nhận phát triển bền vững Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phù hợp với nguyên tắc phát triển bền vững có nghĩa rằng doanh nghiệp đang trên con đường hướng tới phát triển bền vững Do đó sự phát triển bền vững là mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp đang tìm kiếm Khái niệm về phát triển bền vững có thể được vận dụng trong phát triển doanh nghiệp trên cơ sở trách nhiệm của các khả năng liên kết kinh tế, môi trường và xã hội
Các doanh nghiệp bắt đầu nhận ra tầm quan trọng của một sự cân bằng giữa các ưu tiên kinh tế, môi trường và xã hội Để giữ cho phát triển bền vững, chúng ta thực hiện các nguyên tắc phát triển bền vững vào các quá trình kinh doanh của doanh nghiệp (khách hàng, chính phủ, các bên liên quan, xu hướng thị trường, an sinh xã hội, nhân viên, chủ sở hữu/người quản lý, hiệu suất, lực lượng lao động, chủ
sở hữu/người quản lý, trách nhiệm sản phẩm, phòng chống ô nhiễm môi trường) Từ
Trang 31đó, nghiên cứu sinh hướng đến tìm hiểu khái niệm phát triển bền vững doanh nghiệp
2.4 Khái niệm phát triển bền vững doanh nghiệp
Khái quát một số khái niệm về phát triển doanh nghiệp và hướng đến khái niệm phát triển bền vững doanh nghiệp được thể hiện qua các nội dung sau
Thứ nhất, khái niệm phát triển doanh nghiệp
Phát triển doanh nghiệp nhằm giúp cho các tổ chức trong việc đối phó với môi trường bất ổn, cả trong nội bộ và bên ngoài doanh nghiệp, thường xuyên bằng những nỗ lực để ứng phó thay đổi kế hoạch với môi trường bất ổn Những nỗ lực phát triển doanh nghiệp, cho dù được hỗ trợ bởi một chuyên gia bên ngoài hoặc tổ chức chuyên nghiệp và tiến hành trên cơ sở liên tục, mang lại thay đổi kế hoạch trong các tổ chức và các nhóm trong doanh nghiệp Tuy nhiên, chúng chỉ là một loại thay đổi xảy ra trong các tổ chức, cho sự thay đổi có thể được cả hai kế hoạch và không có kế hoạch và có thể xảy ra trong mọi chiều kích của môi trường kinh doanh Từ đó, hướng đến tìm hiểu hai khái niệm phát triển doanh nghiệp sau
Khan Atiqur Rahman (2004) cho rằng phát triển doanh nghiệp là ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của doanh nghiệp: thiếu các kỹ năng ở tất cả các cấp độ, thiếu tổ chức công nghiệp, kích thước giới hạn của thị trường và tốc độ tăng trưởng thấp, thiếu chính sách đúng đắn và mang tính xây dựng, trình độ công nghệ nghèo nàn
Jahangir H Khan (2012) phát triển doanh nghiệp là cách tiếp cận từ các phần
tử kết hợp bao gồm: kinh doanh, hỗ trợ tài chính, chính sách phù hợp và thể chế, các mối liên kết, công nghệ phù hợp và mối quan hệ thị trường/nhu cầu cho các sản phẩm
Nhìn chung, phát triển doanh nghiệp chỉ dừng lại ở mức độ các chủ sở hữu doanh nghiệp đối phó với môi trường bất ổn từ yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, nỗ lực để ứng phó thay đổi kế hoạch với một môi trường bất ổn trong kinh doanh, tập trung quá nhiều từ các mối quan hệ đầu vào - đầu ra sản phẩm để đạt được tối đa hóa giá trị kinh doanh ngắn hạn Cách phát triển doanh nghiệp theo kiểu truyền thống này đã bộc lộ quá nhiều hạn chế như chỉ tập trung ứng phó sự thay đổi bất ổn của môi trường trong ngắn hạn, chưa có tầm nhìn dài hạn phát triển doanh nghiệp, chỉ quan tâm đến các yếu tố đầu vào và đầu ra của sản phẩm, chưa có mục
Trang 32tiêu hướng đến phát triển bền vững doanh nghiệp Từ đó, cần có một cách tiếp cận mới tích hợp hướng đến phát triển bền vững doanh nghiệp, khi doanh nghiệp có những thay đổi quan điểm về phát triển bền vững Lúc này người quản lý/chủ sở hữu sẽ chuyển hướng đến phát triển bền vững doanh nghiệp thành mục tiêu cốt lõi của chiến lược kinh doanh dài hạn hơn Xét về chiến lược dài hạn, việc phát triển bền vững doanh nghiệp sẽ là các yếu quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Như vậy, hướng đến tìm hiểu một số khái phát triển bền vững doanh nghiệp nhằm làm sáng tỏa hơn lợi ích phát triển bền vững doanh nghiệp so với phát triển doanh nghiệp
Thứ hai, khái niệm phát triển bền vững doanh nghiệp
Theo Andrews (2003) phát triển bền vững doanh nghiệp (SEM) không chỉ là một vấn đề của hoạt động từ thiện, vị tha và trách nhiệm đạo đức, mà là lợi ích chiến lược cốt lõi và cơ hội cho các doanh nghiệp của mình Andrews còn mở rộng khái niệm “Một doanh nghiệp bền vững là một doanh nghiệp tăng giá trị cho các cổ đông bằng cách đóng góp nhiều hơn đối thủ cạnh tranh và trở thành các tiêu chí cho một doanh nghiệp bền vững, đóng góp cho phát triển bền vững từ yếu tố thành phần
kinh tế, cung cấp và cải thiện”
Theo Parrish (2005), phát triển bền vững doanh nghiệp có thể được định nghĩa là một tổ chức góp phần phát triển bền vững, nơi “bền vững” được hiểu như
là một tương lai con người và “phát triển” được hiểu là một sự cải thiện chất lượng trong điều kiện con người Jim Schorr (2006) đề xuất mô hình mới cho phát triển bền vững: Lĩnh vực doanh nghiệp xã hội là ở một ngã tư; chúng ta không thể mong đợi để hoạt động các doanh nghiệp hiện tại của chúng ta như là trong dài hạn, vì vậy chúng ta phải tìm những giải pháp mới để phát triển bền vững hoặc phải đối mặt với
sự phá sản doanh nghiệp
Theo Parrish (2007) cho rằng phát triển bền vững doanh nghiệp là một hệ thống xung quanh mà các bên liên quan cá nhân có liên quan và hoạt động trong một hệ thống sinh thái - xã hội rộng lớn hơn Các cá nhân, doanh nghiệp và các hệ thống sinh thái - xã hội có tồn tại và mục đích nhu cầu Các doanh nghiệp bền vững
tổ chức các hoạt động của mình để cả hai loại nhu cầu được đáp ứng đồng thời cho các bên liên quan, tự các doanh nghiệp và hệ thống sinh thái-xã hội
Trang 33Theo Quỹ châu Âu, phát triển bền vững doanh nghiệp là một doanh nghiệp thúc đẩy cuộc sống bền vững thông qua bền vững sản xuất hàng hóa và dịch vụ, cung cấp các giải pháp để hoàn thành các nhu cầu cơ bản để cải thiện đời sống của người dân hiện tại và trong tương lai với tác động môi trường ít nhất có thể, sản
lượng kinh tế xã hội cao nhất có thể
Sự thúc đẩy phát triển bền vững doanh nghiệp theo Báo cáo VI, Hội nghị Lao động Quốc tế (2007): “Phát triển bền vững doanh nghiệp” có liên quan đến cách tiếp cận chung để phát triển bền vững - các hình thức tiến bộ đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng của các thế hệ tương lai để đáp ứng nhu cầu của họ - một cách tiếp cận được giả định quan điểm toàn diện, cân bằng và tích hợp phát triển Tuy nhiên, phát triển bền vững về nhiều hơn chỉ là vấn đề môi trường, nó đòi hỏi sự tích hợp của tất cả ba trụ cột của phát triển - kinh tế, xã hội và
môi trường Theo Feng Geng (2007), phát triển bền vững doanh nghiệp cần chú
trọng đến mối quan hệ năng lực ngành công nghiệp, công nghệ, năng lực phát triển thể chế và thị trường và sự tương tác của chúng để thực hiện phát triển bền vững của doanh nghiệp Trung Quốc Để nhận ra sự phát triển bền vững của doanh nghiệp, chúng ta phải chú trọng đến việc lựa chọn và định hướng công nghiệp, đổi mới công nghệ, cải cách thể chế và bồi dưỡng năng lực phát triển thị trường, để tiến tới hình thành hiệp lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống doanh nghiệp với sự trợ giúp của hội nhập, kiến nghị tương tác hiệp lực của bốn năng lực như công nghiệp,
kỹ thuật, phát triển thể chế và thị trường, để nuôi dưỡng và khả năng phát triển bền
vững của doanh nghiệp liên tục
Đối với doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh phát triển bền vững thì thuộc rất nhiều lĩnh vực khác nhau về sản xuất, kinh doanh, theo Kris Law (2010) nghiên cứu
các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững các công ty công nghệ cao sản xuất tại Đài Loan Điều này chó thấy công ty công nghệ cũng là lĩnh vực sản xuất kinh
doanh, doanh nghiệp thủy sản cũng thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh Như vậy, khái niệm phát triển bền vững doanh nghiệp đều thể hiện lĩnh vực các hoạt động đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, các bên liên quan trong việc bảo vệ môi trường,
xã hội, trách nhiệm sản phẩm, công tác an sinh xã hội và chính sách của nhà nước
sẽ là cần thiết cho doanh nghiệp trong tương lai Fairfield, Harmon & Behson (2011), khái niệm phát triển bền vững doanh nghiệp là các mối liên kết giữa ảnh
Trang 34hưởng bên ngoài và hạn chế nội bộ, quá trình điều khiển quyết định tính bền vững,
cho phép tổ chức cơ bản, phương thức bền vững và hiệu quả
Chỉ số Dow Jones bền vững thế giới (DJSI) của Acharya & Das (2013), phát triển bền vững là khả năng của doanh nghiệp phát triển thịnh vượng trong một môi trường kinh doanh toàn cầu siêu cạnh tranh và thay đổi Các doanh nghiệp dự đoán
và quản lý các cơ hội và rủi ro kinh tế, môi trường, xã hội hiện tại và tương lai bằng cách tập trung vào chất lượng, đổi mới và năng suất sẽ nổi lên như các nhà lãnh đạo rằng có nhiều khả năng để tạo ra một lợi thế cạnh tranh và giá trị các bên liên quan trong dài hạn Còn nghiên cứu Salimzadeh, Courvisanos and Ravi Nayak (2013) đưa ra mô hình lý thuyết phát triển bền vững doanh nghiệp nhỏ và vừa của Úc, kết
quả nhóm hai yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài doanh nghiệp Phát triển bền
vững doanh nghiệp có thể hoạt động như một công cụ để tạo thuận lợi cho sự
chuyển đổi của truyền thống sang hiện đại (Bảng 2.2)
Bảng 2.2: So sánh kết quả phát triển doanh nghiệp truyền thống và phát triển bền vững doanh nghiệp
truyền thống
Phát triển bền vững doanh nghiệp
Mục tiêu - Khai thác triệt để nguồn lực
- Hiệu quả kinh doanh
- Lợi nhuận cuối cùng
- Sự bền vững là mục tiêu cuối cùng của phát triển doanh nghiệp
- Trách nhiệm với xã hội
- Trách nhiệm với môi trường Hiệu quả
- Hiệu quả kinh doanh là cuối cùng
- Lợi nhuận là chính
- Tăng trưởng ổn định và bền vững
- Bảo vệ được môi trường
- Cộng đồng xã hội được quan tâm
Nguồn: tổng hợp từ nghiên cứu Khan Atiqur Rahman (2004), Jahangir H Khan (2012) và Andrews (2003), Parrish (2005), Parrish (2007), Kris Law (2010), Fairfield, Harmon & Behson (2011), Salimzadeh, Courvisanos and Nayak (2013)
Như vậy, phát triển bền vững doanh nghiệp trái ngược với quan điểm hẹp về phát triển doanh nghiệp truyền thống, miêu tả từ các mối quan hệ đầu vào - đầu ra sản phẩm tuyến tính đã tập trung hoàn toàn vào việc tối đa hóa giá trị lợi nhuận doanh nghiệp ngắn hạn, việc xuất hiện một cách tiếp cận mới tích hợp hơn để phát triển bền vững doanh nghiệp và có một cái nhìn toàn diện hơn và lâu dài Chính là khái niệm phát triển bền vững doanh nghiệp ở cấp độ vi mô sẽ có tầm ảnh hưởng
Trang 35lớn hơn trong toàn cầu Hiện nay khái phát triển bền vững doanh nghiệp được các động đồng doanh nghiệp trên thế giới thừa nhận và đặt mục tiêu cho doanh nghiệp
để hướng đến tương lai, phát triển bền vững là một trong những đặc điểm nổi bật của nền kinh tế hiện đại Các doanh nghiệp phải tham gia vào các hoạt động phát triển bền vững để được tồn tại trong nền kinh tế hội nhập toàn cầu Doanh nghiệp cần phải thực hiện các nguyên tắc kinh doanh bền vững trong hoạt động hàng ngày của họ để giảm chi phí, quản lý được rủi ro, phát triển sản phẩm và dịch vụ, cải thiện cơ sở hạ tầng kinh doanh và cấu trúc lại doanh nghiệp (Azapagic, 2003)
Trên cơ sở tiếp cận các khái niệm phát triển bền vững ở cấp độ vi mô của doanh nghiệp Theo quan điểm của nghiên cứu sinh về phát triển bền vững doanh nghiệp được đề nghị như sau “phát triển bền vững doanh nghiệp là khả năng giải quyết mối quan hệ các yếu tố bên trong và bên ngoài tác động đến phát triển bền vững doanh nghiệp” Yếu tố bên trong (Lực lượng lao động; Chủ sở hữu (người quản lý); Trách nhiệm sản phẩm; Phòng chống ô nhiễm môi trường); Yếu tố bên ngoài (Khách hàng; Xu hướng thị trường; Thiếu nhu cầu các bên liên quan; Chính sách hỗ trợ nhà nước và An sinh xã hội) Nhằm hướng đến vận dụng khái niệm phát triển bền vững ở cấp độ vi mô của doanh nghiệp vào nghiên cứu lĩnh vực doanh nghiệp thủy sản tại tỉnh Bạc Liêu
2.5 Cách tiếp cận mô hình lý thuyết phát triển bền vững doanh nghiệp
Cơ sở tiếp cận các mô hình lý thuyết nhằm góp phần đánh giá một cách toàn diện hơn khía cạnh phát triển bền vững trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, nghiên cứu sinh giới thiệu tóm tắt các công trình nghiên cứu, các
bộ tiêu chí được sử dụng rộng rãi trên thế giới có liên quan đến luận án Bởi ngay từ đầu, khi định hướng nghiên cứu của nghiên cứu sinh là theo nghiên cứu ứng dụng với mục tiêu ứng dụng lý thuyết và mô hình nghiên cứu vào thực tế, kết quả là dựa trên lý thuyết đưa ra hàm ý cho phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bạc Liêu Các mô hình lý thuyết có liên quan đến luận án như sau:
Theo nghiên cứu của Andrews (2003) đề xuất mô hình lý thuyết phát triển bền vững doanh nghiệp Những ảnh hưởng tài chính quốc tế và đầu tư, kết quả cho thấy mô hình bền vững doanh nghiệp cung cấp một tập sáng tạo của các mệnh đề như thế nào các doanh nghiệp kinh doanh có thể tạo ra lực lượng năng động hướng
Trang 36tới một xã hội bền vững hơn Đây được xem là một bước đầu tiên nghiên cứu về lĩnh vực bền vững doanh nghiệp, kết quả hữu ích sẽ được hỗ trợ cho các sáng kiến báo cáo hàng năm bắt buộc và so sánh các tác động về kinh tế, xã hội và môi trường của tất cả các công ty giao dịch công khai; Bước thứ hai sẽ được triệu tập thảo luận giữa các nhà lãnh đạo phát triển bền vững trong cộng đồng tài chính quốc tế và đầu
tư riêng của mình, để xác định điểm đòn bẩy hứa hẹn nhất, phù hợp với giới thiệu tiêu chuẩn bền vững một cách rõ ràng hơn vào tài chính và quyết định đầu tư; Thứ
ba, cộng đồng tài chính và đầu tư có thể nói ra với một tiếng nói chung đối với các khoản trợ cấp, giảm thuế, các ưu đãi khác của chính phủ làm bóp méo thị trường tài chính và đầu tư đối với phát triển bền vững, chẳng hạn như những ưu đãi các nhiên liệu hóa thạch, kinh doanh nông nghiệp và công nghiệp khai khoáng khác; Cuối cùng, một bước thứ tư sẽ là một sáng kiến rất cơ bản hơn, các nhà lãnh đạo của cộng đồng tài chính và đầu tư, thiết kế cơ chế cho việc giúp đỡ người nghèo tham gia một cách công bằng, bền vững hơn trong cả sản xuất và sử dụng sự giàu có của thế giới Điều này cho thấy, kết quả nghiên cứu Andrews (2003) được xem là tiền
đề cho các nghiên cứu tiếp theo về sự phát triển bền vững doanh nghiệp Đối với nghiên cứu về phát triển bền vững doanh nghiệp: Ứng dụng với lý thuyết hiệp lực (Feng geng 2007) kết quả nghiên cứu phát triển bền vững doanh nghiệp cần chú trọng đến mối quan hệ năng lực ngành công nghiệp, công nghệ, năng lực phát triển thể chế, thị trường và sự tương tác của chúng để thực hiện phát triển bền vững của doanh nghiệp Trung Quốc Đối với nghiên cứu của Harmon, Fairfield, Behson
(2009) thì lại đề xuất mô hình lý thuyết: “Một phân tích so sánh của chiến lược phát
triển bền vững doanh nghiệp (tổ chức): Những tiền đề và hiệu suất kết quả nhận thức của người Mỹ và người quản lý không phải Mỹ” Kết quả nghiên cứu cho thấy
các yếu tố mô tả các mối tương quan giữa các biện pháp được sử dụng trong nghiên cứu này như: Thực tiễn phát triển bền vững; Tiến trình điều khiển bền vững; Khởi động thực hiện; Các chất hạn chế bền vững; Cải thiện hiệu suất
Như vậy có thể thấy, kết quả cung cấp hỗ trợ cho kỳ vọng của nghiên cứu rằng: (a) Phương thức bền vững đang tích cực liên quan đến cải thiện hiệu suất công ty; (b) Khởi động thực hiện được tích cực liên quan đến việc thực hiện phương thức bền vững; (c) Các điều khiển ra quyết định bền vững đang tích cực liên quan đến cả
Trang 37hai khởi động thực hiện và phương thức bền vững, (d) Các chất hạn chế để phát triển bền vững của công ty có liên quan đến tiêu cực với điều khiển bền vững, khởi động và thực tiễn phát triển bền vững Từ đó, mối liên hệ tiếp cân các mô hình lý thuyết phát triển bền vững doanh nghiệp được nghiên cứu và rút ra từ ba mô hình lý
thuyết phát triển bền vững doanh nghiệp cụ thể như sau
2.5.1 Mô hình lý thuyết các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững doanh nghiệp công nghệ sản xuất cao tại Đài Loan
Theo Kris Law (2010) đề xuất mô hình lý thuyết và kết quả nghiên cứu các
yếu tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững doanh nghiệp: Các doanh nghiệp công nghệ sản xuất cao tại Đài Loan Kết quả cho thấy rằng các công ty sản xuất công
nghệ cao công nhận tích cực thúc đẩy ảnh hưởng của các yếu tố phát triển bền vững
từ quản lý, nội bộ và bên ngoài doanh nghiệp Mô hình đề xuất nghiên cứu các yếu
tố quan trọng ảnh hưởng đến việc áp dụng các nguyên tắc phát triển bền vững Các yếu tố nội bộ (bên trong): Hệ thống; Các biện pháp; Nhu cầu để thúc đẩy; Nâng cao hiệu suất Các yếu tố bên ngoài: Luật, quy định; Áp lực xã hội; Xu hướng thị trường; Cạnh tranh
Các yếu tố thúc đẩy có thể ảnh hưởng đến quản lý phát triển bền vững doanh nghiệp như một phần của kế hoạch chiến lược của mình bằng cách đầu tư đủ nguồn lực Vì vậy, mô hình đưa ra giả thuyết sau:
Các yếu tố bên ngoài
- Nhu cầu để thúc đẩy;
- Nâng cao hiệu suất
Phát triển bền vững doanh nghiệp
Mô hình 2.1: Các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc áp dụng phát triển bền vững doanh nghiệp
Nguồn: Trích từ Law, 2010
Trang 38Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các doanh nghiệp sản xuất công nghệ cao
công nhận tích cực thúc đẩy ảnh hưởng của các yếu tố phát triển bền vững doanh nghiệp từ yếu tố quản lý, các yếu tố nội bộ và yếu tố bên ngoài, trong khi quản lý/chủ sở hữu doanh nghiệp cảm nhận được mức độ sẵn sàng phát triển bền vững chỉ ở mức hợp lý Điều này chứng minh cho giả thuyết (H1): Có một mối tương quan giữa các yếu tố tạo động lực (động lực từ quản lý) và sự sẵn sàng của người quản lý doanh nghiệp Các doanh nghiệp công nghệ cao nhận thức của sự phát triển bền vững và họ thường đánh giá cao các yếu tố nội bộ như động cơ thúc đẩy Các kết quả hơn nữa biện minh cho giả thuyết thiết lập trước đó (H2): Có một mối tương quan giữa các yếu tố tạo động lực và sự sẵn sàng phát triển bền vững của các doanh nghiệp công nghệ cao
Đánh giá chung mô hình lý thuyết các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững doanh nghiệp: Các doanh nghiệp công nghệ cao sản xuất tại Đài Loan Kết
quả nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp công nghệ cao Đài Loan đang hướng đến
sự phát triển bền vững Tóm tắt các yếu tố thúc đẩy thông qua phát triển bền vững
“các yếu tố bên trong” cho giá trị cao nhất trong khi “quản lý” và “yếu tố bên ngoài” là tương đối thấp hơn Điều này có thể được hiểu là các nhận thức về phát triển bền vững được chủ yếu là do các biện pháp hỗ trợ và cơ sở hạ tầng Trong số các biến quan được liệt kê dưới “yếu tố bên trong” thể hiện như: Hỗ trợ tài chính đầy đủ, Kiến thức và chuyên môn, nhu cầu để nâng cao uy tín được coi là các yếu tố thúc đẩy phát triển bền vững doanh nghiệp nhất
Tuy nhiên, mô hình lý thuyết này tập trung vào nghiên cứu các doanh nghiệp công nghệ cao của Đài Loan, nếu vận dụng mô hình này vào nghiên cứu các doanh nghiệp ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long hoặc doanh nghiệp ở một địa phương trong khu vực là không phù hợp Do các doanh nghiệp ở các tỉnh trong khu vực chỉ tập trung sản xuất, kinh doanh một số mặt hàng nuôi trồng thủy sản, chế biến thủy sản xuất khẩu,… Khi vận dụng mô hình lý thuyết phát triển bền vững doanh nghiệp sản xuất công nghệ cao tại Đài Loan sẽ không phù hợp cho nghiên cứu phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bạc Liêu Nhưng một số yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp có thể phù hợp mở rộng cho nghiên cứu phát triển bền
Trang 39vững doanh nghiệp thủy sản tỉnh Bạc Liêu Như vậy, nghiên cứu sinh hướng đến tìm hiểu mô hình lý thuyết thứ hai
5.2.2 Mô hình lý thuyết hợp nhất việc thực hiện của các tổ chức ảnh hưởng đến phát triển bền vững doanh nghiệp
Cách tiếp cận các công trình nghiên cứu và đề xuất về mô hình lý thuyết Theo kết quả nghiên cứu của Sarah Elena Windolph (2011) thì đề xuất mô hình lý thuyết “Đánh giá phát triển bền vững của doanh nghiệp thông qua xếp hạng: những thách thức và nguyên nhân của chúng” Nguyên nhân của những thách thức và xác định ai trong số họ là độc quyền đánh giá cụ thể Kết quả nghiên cứu cho rằng xếp hạng là một cách tiếp cận phù hợp để đánh giá phát triển bền vững của công ty, nhưng các bước nhất định phải được thực hiện để tăng độ tin cậy của họ thông qua kết quả nghiên cứu: Đo lường của công ty phát triển bền vững, đánh giá tính bền vững của công ty, xếp hạng, xã hội, đầu tư chịu trách nhiệm (SRI) Nhưng đối với nghiên cứu của (Byrch, Milne, Morgan, Kearins, 2011) lại đề xuất mô hình lý thuyết “Liên quan ý nghĩa của phát triển bền vững doanh nghiệp để thực hành kinh doanh” Kết quả nghiên cứu phản ứng doanh nghiệp để phát triển bền vững đã ở một số khu, được đánh giá tích cực, có một nền văn hóa mở rộng và mở rộng mô tả những gì có nghĩa là phát triển bền vững cho doanh nghiệp, làm thế nào cần được thực hiện, làm thế nào nó đã được thực hiện thông qua năm yếu tố như: xã hội; chủ nghĩa cá nhân ; sinh thái học ; hiê ̣n thực ; tương lai học Tuy nhiên, việc thực hiện phát triển bền vững của doanh nghiệp đã được đơn giản, hầu hết các hoạt động trong báo cáo này là các dự án mà lợi nhuận tài chính đã được thực hiện từ sáng kiến môi trường, phản ánh một con người quá yếu hoặc quan điểm đòi hỏi ít hoặc cải cách thay đổi hiện trạng Nhưng năm 2012 cũng có một công trình nghiên cứu của Schaltegger, Herzig, Kleiber & Müller (2012) đề xuất mô hình lý thuyết “tầm nhìn của phát triển bền vững bao trùm ba chiều - các khía cạnh kinh tế, sinh thái và
xã hội - và tìm cách tích hợp chúng” Mục tiêu phát triển bền vững đối mặt với các doanh nghiệp kinh doanh với bốn thách thức phát triển bền vững: (1) Thách thức sinh thái: tăng hiệu quả sinh thái; (2) Thách thức xã hội: tăng hiệu quả xã hội; (3) Thách thức kinh tế để quản lý môi trường và xã hội: nâng cao hiệu quả sinh thái hoặc xã hội tính hiệu quả; (4) Thách thức hội nhập: cùng nhau đưa ba thách thức
Trang 40đầu tiên và tích hợp môi trường và xã hội quản lý trong quản lý kinh tế theo định hướng thông thường Nhưng các công trình này cho thấy chưa phù hợp khi vận dụng vào nghiên cứu lĩnh vực phát triển bền vững doanh nghiệp thủy sản tại tỉnh Bạc Liêu Riêng đối với Fairfield, Harmon & Behson (2011) đã kế thừa mô hình nghiên cứu của Harmon (2009) để mở rộng mô hình lý thuyết “Việc thực hiện của
các tổ chức ảnh hưởng đến phát triển bền vững doanh nghiệp: một mô hình hợp nhất” Tích hợp doanh nghiệp bền vững là các mối liên kết giữa ảnh hưởng bên
ngoài doanh nghiệp, quá trình điều khiển quyết định tính bền vững, cho phép tổ chức cơ bản, các hạn chế nội bộ (bên trong doanh nghiệp), phương thức bền vững
và hiệu suất phát triển bền vững doanh nghiệp Bắt đầu từ mô hình, dự kiến rằng việc sử dụng rộng rãi hơn của môi trường và xã hội phương thức bền vững chịu trách nhiệm sẽ mang lại cải thiện hiệu suất lớn hơn Kỳ vọng này dựa trên các bằng chứng tích cực từ các nghiên cứu phát triển bền vững doanh nghiệp (Mô hình 2.2) Như vậy, mô hình lý thuyết và kết quả kiểm định đạt như sau:
1) Tổ chức thực hiện phương thức bền vững ở mức độ nhiều sẽ chứng minh cải thiện hiệu suất tốt hơn so với không thực hiện phương thức phát triển bền vững
2) Các tổ chức thực hiện các vấn đề phát triển bền vững là tiến trình điều khiển quyết định quan trọng hơn sẽ thực hiện phương thức bền vững mở rộng hơn
so với các tổ chức mà họ không thực hiện
3) Các hạn chế nội bộ doanh nghiệp sẽ có tác động tiêu cực đến việc thực hiện các phương thức phát triển bền vững, trực tiếp và gián tiếp làm suy yếu cộng với tiến trình điều khiển quyết định
4) Cho phép nền tảng mạnh sẽ ảnh hưởng tích cực thực hiện các phương thức bền vững, trực tiếp cộng gián tiếp bằng cách tăng cường tiến trình điều khiển quyết định và giảm dần các hạn chế nội bộ
5) Các tổ chức thực hiện phương thức bền vững thông qua ảnh hưởng đến mức
độ tác động tích cực hay tiêu cực của họ trên khả năng nền tảng tổ chức, trình điều khiển quyết định và các hạn chế nội bộ doanh nghiệp