1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các nhân tố tác động đến việc chuyển đổi cơ sở kế toán dồn tích cho các đơn vị kế toán trong khu vực công việt nam khi vận dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế

133 168 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế “Các nhân tố tác động đến việc chuyển đổi cơ sở kế toán dồn tích cho các đơn vị kế toán trong khu vực công Việt Nam trong điều kiện

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

-

PHẠM THỊ NGUYÊN DANH

CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC CHUYỂN ĐỔI

CƠ SỞ KẾ TOÁN DỒN TÍCH CHO CÁC ĐƠN VỊ KẾ TOÁN TRONG KHU VỰC CÔNG VIỆT NAM KHI VẬN DỤNG

CHUẨN MỰC KẾ TOÁN CÔNG QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

-

PHẠM THỊ NGUYÊN DANH

CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC CHUYỂN ĐỔI

CƠ SỞ KẾ TOÁN DỒN TÍCH CHO CÁC ĐƠN VỊ KẾ TOÁN TRONG KHU VỰC CÔNG VIỆT NAM KHI VẬN DỤNG

CHUẨN MỰC KẾ TOÁN CÔNG QUỐC TẾ

Chuyên ngành: Kế Toán

Mã số: 60.34.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN XUÂN HƯNG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế “Các nhân tố tác động đến việc chuyển đổi cơ sở kế toán dồn tích cho các đơn vị kế toán trong khu vực công Việt Nam trong điều kiện vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của bất kỳ ai

Các số liệu và kết quả phân tích trong luận văn là trung thực và chưa được công

bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Nội dung của luận văn có tham khảo

và sử dụng tài liệu, bài báo, công trình nghiên cứu được đăng tải trên các tạp chí, tác phẩm theo Danh mục tài liệu tham khảo của luận văn

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2016

Phạm Thị Nguyên Danh

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Câu hỏi nghiên cứu 2

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2

4.1 Đối tượng nghiên cứu 2

4.2 Phạm vi nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Ý nghĩa của việc thực hiện nghiên cứu 4

7 Kết cấu của đề tài 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới 6

1.1.1 Tổng quan một số nghiên cứu liên quan tới xu hướng cải cách hệ thống kế toán công thông qua việc áp dụng cơ sở kế toán dồn tích 6

1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến sự phát triển các mô hình cải cách kế toán khu vực công theo hướng chuyển đổi CSKT dồn tích và nghiên cứu thực nghiệm các nhân tố tác động đến việc chuyển đổi ở một số quốc gia 10

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 18

1.2.1 Các nghiên cứu liên quan kế toán công và việc vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế tại Việt Nam 18

1.2.2 Các nghiên cứu liên quan đến cơ sở kế toán dồn tích 21

1.3 Nhận xét các nghiên cứu trước và xác định khe hổng nghiên cứu 23

1.3.1 Nhận xét các nghiên cứu trước 23

1.3.2 Xác định khe hổng nghiên cứu 25

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 26

Trang 5

2.1 Tổng quan về khu vực công 26

2.1.1 Khái niệm khu vực công 26

2.1.2 Vai trò của khu vực công 28

2.2 Tổng quan về kế toán khu vực công 28

2.2.1 Khái niệm kế toán công 28

2.2.1 Vai trò của kế toán công 29

2.3 Tổng quan về Chuẩn mực kế toán công quốc tế 30

2.3.1 Giới thiệu chung về Chuẩn mực kế toán công quốc tế 30

2.3.2 Cơ sở kế toán áp dụng trong Chuẩn mực kế toán công quốc tế 31

2.3.2.1 Kế toán theo cơ sở kế toán tiền mặt 32

2.3.2.2 Kế toán theo cơ sở kế toán dồn tích 33

2.3.2.3 So sánh CSKT tiền mặt và dồn tích trong KVC 34

2.4 Các nhân tố giả định sẽ tác động đến việc chuyển đổi cơ sở kế toán dồn tích cho các đơn vị kế toán trong khu vực công 36

2.4.1 Môi trường kinh tế 38

2.4.2 Môi trường chính trị 39

2.4.3 Môi trường Giáo dục, Nghề nghiệp 40

2.4.4 Môi trường Pháp lý 41

2.4.5 Môi trường Quốc tế 42

2.4.6 Môi trường Văn hoá 43

2.4.7 Điều kiện tổ chức 44

2.5 Tổng quan các lý thuyết nền nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng 45

2.5.1 Lý thuyết hành động hợp lý và lý thuyết hành vi dự định 45

2.5.2 Kinh tế học thể chế 46

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 49

3.1 Khung nghiên cứu của đề tài 49

3.2 Phương pháp nghiên cứu 50

3.2.1 Các phương pháp nghiên cứu định tính 50

3.2.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 51

3.3 Mô hình nghiên cứu và Giả thuyết nghiên cứu 52

3.4 Xác định thang đo, chọn mẫu nghiên cứu 53

3.5 Quy trình nghiên cứu 55

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 57

Trang 6

4.1 Kết quả nghiên cứu 57

4.1.1 Kết quả nghiên cứu định tính 57

4.1.1.1 Kết quả phỏng vấn chuyên gia 57

4.1.1.2 Bảng câu hỏi khảo sát 58

4.1.2 Kết quả nghiên cứu định lượng 58

4.1.2.1 Thống kê mô tả 58

4.1.2.2 Phân tích nhân tố khám phá 59

4.2 Bàn luận 70

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73

5.1 Kết luận kết quả nghiên cứu 73

5.2 Kiến nghị 74

5.1.1 Kiến nghị định hướng 74

5.1.2 Các kiến nghị cụ thể 75

5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu trong tương lai 80

5.3.1 Hạn chế của nghiên cứu 80

5.3.2 Hướng nghiên cứu trong tương lai 81

KẾT LUẬN 83

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

 Từ viết tắt có nguồn gốc nước ngoài

ADB Asian Development Bank

Ngân hàng Phát triển Châu Á AFTA ASEAN Free Trade Area

Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN APEC Asia - Pacific Economic Cooperation

Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương ASEAN Association of Southeast Asian Nations

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á CEPT Common Effective Preferential Tariff

Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung CIGAR Comparative International Governmental Accounting Research

Nghiên cứu so sánh kế toán chính phủ quốc tế DMC Developing Member Country

Thành viên các nước đang phát triển ESA European System of Accounts

Hệ thống tài khoản Châu Âu FMIS Financial Management Information System

Hệ thống thông tin quản lý tài chính G7 Group of seven

Nhóm các nước phát triển GAAP Generally Accepted Accounting Principles

Các nguyên tắc kế toán chung được chấp nhận IAS International Accounting Standards

Chuẩn mực kế toán quốc tế IFAC International Federation of Accountants

Liên đoàn Kế toán Quốc tế IFRS International Financial Reporting Standards

Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế

Trang 8

IMF International Monetary Fund

Quỹ Tiền tệ Quốc tế IPSAS International Public Sector Accounting Standards

Chuẩn mực kế toán công quốc tế IPSASB International Public Sector Accounting Standards Board

Ủy ban Chuẩn mực kế toán công quốc tế NPFM New Public Financial Management

Quản lý tài chính công mới NPM New Public Management

Quản lý công mới OECD Organisation for Economic Co-operation and Development

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế PSC Public Sector Committee

Ủy ban KVC TPP Trans-Pacific Partnership

Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương WTO World Trade Organization

Tổ chức thương mại thế giới

 Từ viết tắt có nguồn gốc Tiếng Việt

BCTC Báo cáo tài chính

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

 Danh mục các bảng biểu

Bảng 3.1: Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng chuyển đổi cơ sở kế toán dồn tích cho các

đơn vị kế toán trong khu vực công được kế thừa từ các nghiên cứu trước 53

Bảng 4.1: Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng cải cách kế toán khu vực 57

công Việt Nam theo hướng chuyển đổi CSKT dồn tích trong điều kiện vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế 57

Bảng 4.2: Các biến đặc trưng và các thang đo chất lượng tốt 60

Bảng 4.3: Kiểm định KMO và Bartlett 61

Bảng 4.4: Tổng phương sai được giải thích (Total Variance Explained) 62

Bảng 4.5: Bảng ma trận nhân tố xoay 63

Bảng 4.6 : Kiểm định KMO và Bartlett của biến phụ thuộc 64

Bảng 4.7: Tổng phương sai trích của biến phụ thuộc 64

Bảng 4.8: Ma trận nhân tố trước khi xoay của biến phụ thuộc 65

Bảng 4.9: Mô hình điều chỉnh qua kiểm định Cronbach Alpha và phân 65

tích nhân tố khám phá 65

Bảng 4.10: Hệ số tương quan Person 66

Bảng 4.11: Hệ số hồi quy 67

Bảng 4.12: Tóm tắt mô hình 68

Bảng 4.13: Phân tích phương sai (ANOVA)a 68

Bảng 4.14 Hệ số hồi quy chuẩn hóa 69

 Danh mục các sơ đồ Sơ đồ 2.1: Mô hình lý thuyết hành động hợp lý 45

Sơ đồ 2.2: Mô hình lý thuyết hành vi dự định 46

Sơ đồ 3.1: Khung nghiên cứu 49

Sơ đồ 3.2: Mô hình nghiên cứu đề nghị 53

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, Việt Nam đã không ngừng đổi mới về mọi mặt để đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế thế giới, trong đó kế toán khu vực công cũng có những chuyển biến tích cực, ngày càng tiếp cận với các nguyên tắc và thông lệ quốc tế Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, kế toán công Việt Nam vẫn bị đánh giá là còn nhiều hạn chế và khác biệt so với các nước trên thế giới, chưa cung cấp thông tin hữu ích để đánh giá trách nhiệm giải trình và ra quyết định Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khu vực công trong thập niên vừa qua và định hướng cải cách quản lý tài chính công theo hướng tăng cường hiệu quả sử dụng nguồn lực trong thời gian tới đòi hỏi kế toán khu vực công Việt Nam phải có những cải cách tích cực về vấn đề chất lượng và minh bạch hóa thông tin

Chuẩn mực kế toán công quốc tế được ban hành bởi Hội đồng Chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSASB) nhằm phát triển những chuẩn mực Báo cáo tài chính khu vực công có chất lượng cao, tiến tới hòa hợp chuẩn mực kế toán công quốc gia và quốc

tế nhằm tăng cường chất lượng và tính thống nhất của hệ thống Báo cáo tài chính công trên toàn thế giới Trong xu thế hội nhập toàn cầu, Việt Nam đã ngày càng khẳng định

vị thế của mình khi gia nhập và trở thành thành viên của các tổ chức quốc tế như WB, IMF, ADB, thành viên ASEAN, tham gia AFTA, CEPT, APEC, WTO, TPP… Việc gia nhập các tổ chức này khiến cho Việt Nam gặp nhiều áp lực về vấn đề minh bạch hóa thông tin kế toán, đặc biệt là trong lĩnh vực công nhằm cung cấp thông tin có tính chuẩn mực, có khả năng so sánh và được quốc tế thừa nhận.Do đó, để thông tin kế toán khu vực công Việt Nam được sự thừa nhận của thế giới bắt buột phải tuân theo quy định của Chuẩn mực kế toán công quốc tế

Từ năm 2007, định hướng vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế để xây dựng chuẩn mực kế toán công quốc gia đã được các nhà hoạch định chính sách Việt Nam khẳng định và đưa ra lộ trình ban hành cụ thể (Bùi Văn Mai, 2007; Đặng Thái Hùng, 2011) Theo lộ trình đó, một trong những nội dung quyết định cần đổi mới là cơ

sở kế toán Khác với Chuẩn mực kế toán công quốc tế sử dụng cơ sở kế toán dồn tích hoàn toàn là chủ yếu, kế toán khu vực công Việt Nam hiện nay hầu như sử dụng cơ sở

kế toán tiền mặt, tiền mặt có điều chỉnh, dồn tích có điều chỉnh Điều này gây rất nhiều hạn chế trong việc cung cấp thông tin hữu ích, đánh giá hoạt động cũng như trách nhiệm giải trình của các đơn vị Do đó, cải cách kế toán khu vực công Việt Nam theo hướng

Trang 11

chuyển đổi cơ sở kế toán dồn tích hoàn toàn theo hướng vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế cũng như nghiên cứu những nhân tố tác động tới quá trình chuyển đổi này

là vấn đề cấp thiết trong giai đoạn hiện nay

Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài “Các nhân tố tác động đến việc chuyển đổi cơ sở kế toán dồn tích cho các đơn vị kế toán trong khu vực công Việt Nam trong điều kiện vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế” làm đề tài

nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chủ yếu của đề tài là nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc chuyển đổi CSKT dồn tích KVC Việt Nam trong điều kiện vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế Chính vì vậy, mục tiêu cụ thể của đề tài tập trung vào:

- Xác định những nhân tố tác động đến việc chuyển đổi CSKT dồn tích KVC

Việt Nam trong điều kiện vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế

- Đo lường mức độ tác động của từng nhân tố tới việc chuyển đổi CSKT

- Đề xuất một số kiến nghị nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi

3 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu của đề tài, nội dung nghiên cứu cần trả lời các câu hỏi như

- Câu hỏi nghiên cứu 3: Những kiến nghị nào cần đề xuất để tác động tới các nhân tố nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi?

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là các nhân tố tác động đến việc chuyển đổi CSKT dồn tích KVC Việt Nam trong điều kiện vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc

tế

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài này giới hạn trong phạm vi những đặc điểm chủ yếu cũng như những khái niệm cơ bản về khu vực công, kế toán công, hệ thống IPSAS, các nhân tố tác động tới việc chuyển đổi CSKT dồn tích khu vực công tại Việt Nam, không đi vào phân tích chi

Trang 12

tiết từng Chuẩn mực kế toán công quốc tế Cũng không đi sâu vào nội dung và hạch toán chi tiết các giao dịch kinh tế phát sinh theo từng CSKT Cụ thể:

- Về Chuẩn mực kế toán công quốc tế: chỉ giới thiệu khái quát về chuẩn mực như: định nghĩa và lịch sử hình thành, mục tiêu chuẩn mực… Không đi vào phân tích cụ thể từng IPSAS và cũng không tìm hiểu các bút toán hạch toán kế toán trong từng chuẩn mực đó

- Về khu vực công, kế toán công: tác giả chỉ tìm hiểu một số khái niệm của các tác giả, tổ chức dưới những góc độ khác nhau về khu vực công, kế toán công; đồng thời tìm hiểu về vai trò của hai lĩnh vực này

- Về cơ sở kế toán: chỉ tìm hiểu về định nghĩa, ưu điểm và hạn chế của hai CSKT theo Chuẩn mực kế toán công quốc tế; nhận diện được các nhân tố tác động tới việc chuyển đổi CSKT dồn tích; không đi sâu vào nội dung cũng như nghiệp vụ hạch toán chi tiết các giao dịch kinh tế phát sinh theo từng CSKT

- Về mặt không gian, bài nghiên cứu được thực hiện tại các tỉnh thành miền Trung

và miền Nam

- Về mặt thời gian, đối tượng nghiên cứu được khảo sát vào quý 3 năm 2016

5 Phương pháp nghiên cứu

Để làm rõ chủ đề nghiên cứu, tác giả sử dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Trong đó, phương pháp nghiên cứu định tính khái quát hóa các lý thuyết nghiên cứu, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc chuyển đổi CSKT dồn tích KVC Việt Nam trong điều kiện vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSAS) Phương pháp nghiên cứu định lượng kiểm định các nhân tố đã được tổng hợp trong phạm vi rộng hơn nhằm xác định rõ mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố, làm cơ

sở cho các đề xuất phía sau Cụ thể:

 Đối với câu hỏi nghiên cứu 1: tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu

định tính để giải quyết như sau:

- Phương pháp tiếp cận hệ thống

Phương pháp này được tác giả sử dụng để tiếp cận với các nghiên cứu trong và ngoài nước nhằm phát hiện các nhân tố tác động đến việc chuyển đổi CSKT dồn tích tại các quốc gia nói chung và tại Việt Nam nói riêng trong điều kiện vận dụng IPSAS Đồng thời, nghiên cứu xu hướng cải cách kế toán khu vực công và quá trình chuyển đổi CSKT dồn tích khu vực công tại một số quốc gia trên thế giới, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

- Phương pháp tổng hợp, phân tích và so sánh

Trang 13

Phương pháp này được tác giả sử dụng với mục đích tổng hợp các nhân tố đã được phát hiện từ quá trình tiếp cận nghiên cứu trong và ngoài nước Từ những nhân tố

đã được tổng hợp, kết hợp với phỏng vấn chuyên gia, tác giả tiếp cận được với thực trạng hệ thống kế toán công Việt Nam để tiến hành phân tích, so sánh và đánh giá những nhân tố có ảnh hưởng đến việc chuyển đổi

- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia

Thực hiện phương pháp này, tác giả có cuộc trao đổi với các chuyên gia, đặc biệt

là những người đã và đang giảng dạy, công tác nhiều năm trong lĩnh vực kế toán công Cuộc phỏng vấn xoay quanh nội dung: quan điểm riêng của họ về những nhân tố tác động đến việc chuyển đổi CSKT dồn tích KVC Việt Nam trong điều kiện vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế Cuộc trao đổi này sẽ củng cố những nhận thức của tác giả để có sự nhìn nhận đúng đắn về các nhân tố thực sự đang tác động đến việc chuyển đổi CSKT

 Đối với câu hỏi nghiên cứu 2: tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu

định lượng để giải quyết như sau:

- Phương pháp thống kê mô tả:

Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát rộng rãi cho tất cả các đối tượng đang làm việc, nghiên cứu liên quan đến kế toán KVC, nội dung khảo sát là mức độ đồng ý của đối tượng khảo sát đối với các nhân tố ảnh hưởng tới việc chuyển đổi CSKT dồn tích KVC Việt Nam Sau đó thống kê kết quả khảo sát để bổ sung thông tin cho các nhận định của tác giả

- Thống kê định lượng:

Tác giả sử dụng công cụ phân tích nhân tố khám phá (EFA) để xác định và kiểm định các nhân tố tác động đến việc chuyển đổi CSKT dồn tích KVC Việt Nam trong điều kiện vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế

 Đối với câu hỏi nghiên cứu 3:

Tác giả sử dụng hầu hết các phương pháp nghiên cứu định tính như tổng hợp, phân tích, lý luận khách quan… để đưa một số kiến nghị, góp phần thúc đẩy việc chuyển

đổi CSKT dồn tích tại Việt Nam

6 Ý nghĩa của việc thực hiện nghiên cứu

 Về mặt lý luận

Bài nghiên cứu này đóng góp vào kho tàng nghiên cứu những lý luận liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến việc việc chuyển đổi CSKT dồn tích KVC Việt Nam trong điều kiện vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế

Trang 14

 Về mặt thực tiễn

Xác định được các nhân tố ảnh hưởng, đo lường, đánh giá mức độ tác động, đồng thời phân tích nguyên nhân phát sinh và mối liên hệ của các nhân tố đến việc chuyển đổi CSKT dồn tích KVC Việt Nam trong điều kiện vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất các kiến nghị nhằm tác động vào các nhân tố Qua đó, những người làm chính sách có thể tham khảo để từng bước thực hiện việc chuyển đổi CSKT dồn tích nhằm cung cấp thông tin có tính hữu ích và minh bạch cho các đối tượng quan tâm

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và phụ lục, đề tài bao gồm 5 chương:

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý luận

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Trang 15

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Phần tổng quan nghiên cứu này cung cấp một bức tranh tổng quát về quá trình tìm hiểu các vấn đề có liên quan đến nội dung của đề tài Trong phần này, tác giả tiến hành khái quát hóa những công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về một số mảng nội dung khác nhau có liên quan đến hướng nghiên cứu của tác giả Từ đó, xác định khe hổng của vấn đề nghiên cứu và minh chứng cho tính cấp thiết của đề tài này

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới

Trong 20 năm qua, lĩnh vực công trên toàn thế giới đã được đánh dấu bởi những cải cách căn bản về tổ chức, quản lý và kế toán Mục đích của những cải cách này là để nâng cao hiệu quả và trách nhiệm của chính phủ trong việc cung cấp dịch vụ công Dưới đây là một số công trình nghiên cứu liên quan về cải cách khu vực công, đặc biệt là cải cách kế toán công theo hướng chuyển đổi CSKT dồn tích ở các nước trên thế giới mà tác giả tìm hiểu được

1.1.1 Tổng quan một số nghiên cứu liên quan tới xu hướng cải cách hệ thống

kế toán công thông qua việc áp dụng cơ sở kế toán dồn tích

Sarath Lakshman Athukorala - Chuyên gia quản lý tài chính và Barry Reid - Nhân viên tư vấn của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) (2003), dựa trên kinh nghiệm làm việc liên quan đến kế toán KVC tại các nước phát triển và các nước đang phát triển ở khu vực châu Á Thái Bình Dương, trong bài nghiên cứu “Ngân sách dồn tích, kế toán công và các vấn đề liên quan tại các nước đang phát triển”, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính như: tiếp cận hệ thống, nghiên cứu tài liệu, phân tích, so sánh… với mục tiêu cuối cùng là để cung cấp các tư vấn kỹ thuật về cải cách kế toán KVC theo hướng chuyển đổi CSKT dồn tích; cung cấp các kiến nghị nền tảng cho các nước đang phát triển (DMCs) để có thể cải thiện hệ thống kế toán công của họ theo một

lộ trình cụ thể Kết quả, tác giả khẳng định cải cách KVC hiện nay là một xu hướng và

đã được tiến hành ở nhiều quốc gia, không chỉ thành viên các nước phát triển, chẳng hạn như G7 mà còn ở thành viên các nước đang phát triển (DMCs) Kế toán khu vực công của họ hoặc là đã chuyển đổi, hoặc là đang xem xét chuyển đổi từ CSKT tiền mặt sang CSKT dồn tích Tuy nhiên, đối với DMCs, quá trình chuyển đổi sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề mà các nước phát triển không phải đối mặt Từ việc nghiên cứu những bài học, những hạn chế trong quá trình thực hiện kế toán dồn tích ở một số quốc gia, tác giả kết luận rằng để thực hiện thành công kế toán dồn tích, chính phủ các nước DMC cần: (i) Xem xét một cách cẩn thận chiến lược thực hiện và thời gian thực hiện; (ii) Sự cần thiết của cam kết chính trị; (iii) Dự định và mục tiêu phải được truyền đạt rõ ràng; (iv)

Trang 16

Nhân viên kế toán có trình độ; (v) Hệ thống thông tin quản lý tài chính phải phù hợp; (vi) Các vấn đề kế toán cụ thể; và (vii) Để tối đa hóa lợi ích, học hỏi nên là một phần của cải cách Nghiên cứu cũng đã đề xuất một lộ trình các bước tiếp cận nhằm giúp chính phủ các nước DMC áp dụng thành công kế toán dồn tích Hạn chế là nghiên cứu mới chỉ đưa ra những kiến nghị chung cho các nước đang phát triển, chưa có kiến nghị

cụ thể và chưa nghiên cứu cho từng quốc gia cụ thể bởi mỗi quốc gia có những điều kiện

về môi trường thực hiện khác nhau

Chan J.L (2005), trong bài nghiên cứu “IPSAS và Cải cách kế toán chính phủ tại

các nước đang phát triển”, sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính như: nghiên cứu tài liệu, phân tích… tác giả đi đến kết luận rằng chính phủ các nước đang phát triển

có nhu cầu, thậm chí là một nhu cầu lớn về thông tin kế toán dồn tích Qua đó, nhấn mạnh hai yếu tố: đảm bảo toàn vẹn tài chính và chuyển đổi CSKT dồn tích theo IPSASs

là rất cần thiết để phát triển xã hội cũng như đem lại lợi ích kinh tế Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi CSKT ở các quốc gia này không hề dễ dàng khi có quá nhiều rào cản như:

hệ thống chính trị thiếu sự dân chủ, ý chí đổi mới không mạnh, nhu cầu đòi hỏi thông tin của người dân không cao, thiếu kỹ thuật, thiếu tài chính… Do đó, tác giả cho rằng

sự thành công của cải cách kế toán công phụ thuộc vào sự hỗ trợ chính trị và hỗ trợ quản

lý, sự sẵn có của các nguồn lực như: ngân sách và nhân lực, công nghệ thông tin Tác giả cũng đưa ra ba mức độ chuyển đổi CSKT dồn tích lần lượt là yếu, trung bình và mạnh Đồng thời, liệt kê những nội dung kế toán cần thực hiện ở mỗi mức độ này Từ

đó, tác giả kết luận đối với các nước đang phát triển, khi tiến hành chuyển đổi thì đầu tiên, mức độ dồn tích yếu và dồn tích trung bình là phù hợp Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu là tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, từ đó phân tích

và đưa thêm lý luận khách quan của mình để nghiên cứu về lợi ích của CSKT dồn tích KVC theo hướng vận dụng IPSAS và chỉ liệt kê những khó khăn khi vận dụng mà chưa

có nghiên cứu định lượng để kiểm định và làm rõ mức độ ảnh hưởng của những rào cản đó; đồng thời cũng chưa đề cập đến kiến nghị cụ thể để các nước đang phát triển có thể

thực hiện nhằm cải cách và vận dụng IPSAS

Tiếp đó, Maurits Brandon (2007), trong luận án tiến sĩ “Liệu kế toán dựa trên cơ

sở dồn tích có lợi ích hơn kế toán dựa trên cơ sở tiền mặt trong khu vực công?” với mục tiêu là xác định xem liệu mô hình kế toán dồn tích có ích hơn mô hình kế toán tiền mặt trong KVC hay không và Hà Lan nên triển khai theo mô hình kế toán nào, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính như phương pháp khái quát hóa, khái niệm hóa, phương pháp phân tích… nhằm làm rõ sự khác biệt giữa mô hình dựa trên CSKT

Trang 17

tiền mặt và mô hình dựa trên CSKT dồn tích, giữa khu vực tư nhân và khu vực công Tiếp đó, tác giả tìm hiểu mô hình dựa trên CSKT dồn tích được thực hiện như thế nào

ở một số quốc gia như New Zealand, Thụy Điển, Vương quốc Anh cũng như tìm hiểu những vấn đề sẽ phát sinh khi thực hiện mô hình tại các quốc gia này Kết quả cho thấy tại mỗi quốc gia, khi vận dụng mô hình kế toán dồn tích đều có những sự khác biệt và các vấn đề nảy sinh riêng Tuy nhiên, những vấn đề đó không trọng yếu, vì vậy họ vẫn tiếp tục áp dụng và phát triển mô hình kế toán dồn tích này Còn đối với Hà Lan, tác giả cho rằng vì không chắc chắn liệu những lợi ích thu được sẽ cao hơn so với chi phí bỏ ra hay không bởi các mô hình cần phải được chạy trong thời gian nhiều năm trước khi rút

ra được kết luận Vì vậy Hà Lan không ưu tiên cho mô hình nào vào thời điểm này, và chờ đợi thêm kết quả chuyển đổi cơ sở dồn tích tại các nước khác Hạn chế của nghiên cứu là không đề cập tới việc phân tích chi phí - lợi ích tại các nước có mô hình kế toán dồn tích đầy đủ (New Zealand, Thụy Điển, vương quốc Anh), từ đó không đủ cơ sở để kết luận Hà Lan nên lựa chọn mô hình theo CSKT nào Các phương pháp nghiên cứu định tính như trên cũng chưa đủ sức thuyết phục đối với bài nghiên cứu Vì vậy tác giả

đề xuất cần nghiên cứu thêm về phân tích chi phí – lợi ích cũng như cần sử dụng thêm phương pháp điều tra phỏng vấn các nhà quản lý để có được một cái nhìn tổng quát về tình huống

Juta Tikk (2009), trong bài nghiên cứu “Thay đổi kế toán khu vực công Estonia”, với mục tiêu đánh giá việc thực hiện CSKT dồn tích tại các đơn vị công Estonia, sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phân tích, so sánh và mô tả; bài viết đã đưa ra một cái nhìn tổng quan ngắn gọn về lịch sử phát triển các lý thuyết kế toán công và xem xét

sự ra đời của các chính sách kế toán dựa trên các lý thuyết này Nó giải thích các vấn đề trọng yếu và những rủi ro phải đối mặt trong quá trình thay đổi hệ thống kế toán và cung cấp các kiến nghị để khắc phục Nghiên cứu này cố gắng trả lời câu hỏi: làm thế nào để tối đa hóa lợi ích từ thông tin kế toán trong các tổ chức khu vực công? Kết quả nghiên cứu cho thấy: thứ nhất, sử dụng phương pháp kế toán dồn tích dẫn đến các dữ liệu kế toán đáp ứng nhu cầu thông tin tài chính chính xác và hợp lý cho mục đích ra quyết định Thứ hai, cải cách kế toán tài chính KVC có thể cải thiện chất lượng và số lượng của các dịch vụ cung cấp cho công dân Thứ ba, số lượng các vấn đề kế toán quan trọng được giải quyết tăng lên kể từ khi quá trình chuyển đổi sang CSKT dồn tích được thực hiện Như vậy, áp dụng CSKT dồn tích là mấu chốt để giải quyết câu hỏi nghiên cứu của tác giả Tuy nhiên, hạn chế là Estonia cần phải có thêm những quy định chặt chẽ về kế toán,

Trang 18

đồng thời chính phủ không nên nôn nóng bởi thực hiện CSKT dồn tích là một quá trình lâu dài và tốn kém, lợi ích chỉ có thể nhìn thấy sau nhiều thập kỉ

Majella Gomes, trong bài báo “Cải thiện tài chính khu vực công” đăng trên tờ

Accountants Today, tháng 2-2013, tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn các chuyên gia đầu ngành với mục tiêu phân tích những cố gắng của Malaysia trong việc thực hiện CSKT dồn tích để hội tụ với IPSAS Một lần nữa, tác giả khẳng định vai trò của kế toán dồn tích trong việc cung cấp thông tin chính xác về sử dụng nguồn lực, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý tài chính công, tạo thuận lợi cho Chính phủ đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế Nghiên cứu này cũng phân tích những hạn chế của hệ thống CSKT tiền mặt, phân tích xu hướng áp dụng CSKT dồn tích và thực hiện chuyển đổi sang IPSAS Đối với Malaysia, hiện nay, sau khi xác định mục tiêu là

áp dụng IPSAS trước ngày 01/01/2015 và thực hiện chính sách kế toán dồn tích khi phát hành các Báo cáo tài chính vào tháng 01 năm 2015, họ đã bước vào con đường chuyển đổi Một khi việc chuyển đổi thành công thì nó sẽ đem lại một bằng chứng rõ ràng về

xu hướng chuyển đổi CSKT dồn tích hiện nay trên thế giới Hạn chế là nghiên cứu mới chỉ nêu được việc chuyển đổi CSKT dồn tích là vấn đề chắc chắn sẽ thực hiện ở Malaysia nhưng chưa nêu lên lộ trình, giải pháp cụ thể để thực hiện việc chuyển đổi CSKT dồn tích đó

Tatjana Jovanovic (2015), trong bài nghiên cứu “Kế toán khu vực công tại Slovenia

và Croatia” đăng trên tạp chí HKJU – CCPA 15(4): 791–814; tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu và phỏng vấn với các chuyên gia, nhà nghiên cứu tại Slovenia

và Croatia nhằm làm rõ hai mục tiêu: thứ nhất, phân tích khái quát những ưu điểm và nhược điểm của hệ thống kế toán KVC dựa trên cơ sở dồn tích Thứ hai, so sánh hệ thống kế toán và ngân sách tại Slovenia với Croatia liên quan đến các chức năng kế toán then chốt Kết quả cho thấy kế toán theo cơ sở dồn tích trong khu vực công mang lại nhiều lợi ích và xu hướng hiện nay là chuyển đổi từ CSKT tiền mặt sang CSKT dồn tích Việc so sánh hệ thống kế toán khu vực công tại Slovenia và Croatia cũng cho thấy

sự khác biệt nhất định Cả hai nước đều áp dụng một "phiên bản điều chỉnh" của mỗi nguyên tắc, Slovenia đang áp dụng CSKT tiền mặt có điều chỉnh, Croatia áp dụng CSKT dồn tích có điều chỉnh Điều này cho phép có một cái nhìn tổng quan về tài sản và nợ phải trả nhưng không hỗ trợ kế toán chi phí hiệu quả hay báo cáo thống kê chính xác, phù hợp với khuôn khổ Hệ thống tài khoản Châu Âu (ESA) 2010 Hạn chế của nghiên cứu là mặc dù có tìm hiểu và đưa ra kết luận kế toán dồn tích có nhiều ưu điểm đồng

Trang 19

thời so sánh nguyên tắc kế toán tại Slovenia và Croatia nhưng không đề cập liệu hai quốc gia này có xu hướng chuyển đổi CSKT hiện hành sang CSKT dồn tích hay không

Ruhaya Atan (2015), trong bài nghiên cứu “Chuyển đổi kế toán dồn tích: sự sẵn

sàng của kế toán viên khu vực công”, sử dụng nghiên cứu định lượng với phương pháp điều tra khảo sát, tác giả sử dụng phương pháp lấy mẫu phân tầng với 119 nhân viên kế toán KVC gồm ba nhóm chính: kế toán, trợ lý kế toán 1 và trợ lý kế toán 2 ở các bộ khác nhau của Malaysia tham gia vào cuộc khảo sát nhằm nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi của kế toán viên trong việc sẵn sàng thay đổi từ CSKT tiền sang CSKT dồn tích tại Malaysia Kết quả nghiên cứu cho thấy thái độ kế toán viên KVC chịu ảnh hưởng bởi 11 thuộc tính đo lường mức độ sẵn sàng thay đổi như: tìm hiểu những điều mới, hỗ trợ sự thay đổi, chấp nhận sự thay đổi, làm việc trong môi trường mới, là một phần của thay đổi, thay đổi cách làm việc, làm việc chăm chỉ hơn, bán ý tưởng, tạo ý tưởng mới, giải quyết các vấn đề kế toán, cải thiện công việc hiện tại và chịu trách nhiệm Từ đó, nghiên cứu này đi đến kết luận là việc chuyển đổi CSKT dồn tích sẽ không gặp nhiều khó khăn tại Malaysia do kế toán viên của chính phủ có hành

vi tích cực đối với sự chuyển đổi Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu là nó chỉ ra rằng các yếu tố thuộc về nhân khẩu học không liên quan tới sự sẵn sàng thay đổi của kế toán viên, vì vậy tác giả đề xuất các nghiên cứu trong tương lai cần khám phá thêm những mối quan hệ mới của yếu tố nhân khẩu học do thiếu sự đồng thuận trong các kết quả

1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến sự phát triển các mô hình cải cách kế toán khu vực công theo hướng chuyển đổi CSKT dồn tích và nghiên cứu thực nghiệm các nhân tố tác động đến việc chuyển đổi ở một số quốc gia

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc chuyển đổi kế toán khu vực công sang CSKT dồn tích như: Luder (1992, 1994, 2001); Godfrey và các cộng sự (2001); Christensen (2002) và Ouda (2001, 2004 và 2005)…

Hầu hết các mô hình này, mặc dù không phải là tất cả, đều dựa trên Mô hình dự phòng

của Luder (Luder, 1992) Có thể nói đây là mô hình ban đầu, các tác giả còn lại dựa vào

mô hình này để tiếp tục nghiên cứu và phát triển

Mô hình dự phòng (Luder, 1992) được gọi là mô hình dự phòng cho cải cách kế

toán chính phủ Mô hình này gồm một tập các biến ngữ cảnh (gồm bốn nhóm nhân tố)

và một biến hành vi, được cho là có quan hệ mật thiết trong việc giải thích kết quả cải cách kế toán chính phủ Các nhóm nhân tố này bao gồm: (1) Sự kích thích đổi mới, (2)

Sự biến đổi cấu trúc xã hội của người sử dụng thông tin, (3) Cấu trúc của hệ thống chính trị - hành chính, và (4) Các rào cản thực hiện Trong đó:

Trang 20

Sự kích thích đổi mới: nhóm nhân tố kích thích sự đổi mới bao gồm các nhân tố:

Áp lực tài chính, bê bối tài chính, thị trường vốn, cơ quan ban hành chuẩn mực Theo Luder, các áp lực về tài chính như nợ công, lãi suất, toàn cầu hóa và các vụ bê bối tài chính trong khu vực công như sự gian lận và sai sót, tham nhũng trong quản lý tài chính gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi chung của công chúng, dẫn đến áp lực và khủng hoảng tài chính Điều này sẽ thúc đẩy nhu cầu sử dụng thông tin trung thực, hữu ích; từ đó tạo động lực thúc đẩy đổi mới kế toán Thị trường vốn trong KVC cũng sẽ là nguồn kích thích sự thay đổi thông tin kế toán KVC Cơ quan ban hành chuẩn mực kế toán độc lập và lớn mạnh sẽ giới thiệu những chuẩn mực, nguyên tắc kế toán mới hơn, phù hợp hơn nhằm cung cấp thông tin hữu ích, trung thực và đây cũng là tác nhân kích thích sự đổi mới kế toán khu vực công

Nhóm nhân tố sự biến đổi cấu trúc xã hội của người sử dụng thông tin bao gồm các nhân tố: Sự biến đổi trạng thái kinh tế xã hội và Văn hóa chính trị Sự biến đổi trạng thái kinh tế xã hội như thu nhập người dân, trình độ văn hóa, giáo dục, nhận thức của người dân về mức độ trung thực, hữu ích của thông tin kế toán Vì vậy, sự biến đổi trạng thái kinh tế xã hội sẽ sẽ thúc đẩy việc đổi mới kế toán KVC Văn hóa chính trị được hiểu

là các hành vi chính trị Văn hóa chính trị được xác định bởi mức độ tham gia của công dân vào quá trình ra quyết định và giám sát trong KVC Vai trò của người dân trong việc

ra quyết định và giám sát càng cao thì mong đợi của họ về sự trung thực, hữu ích của thông tin kế toán càng cao và qua đó thúc đẩy đổi mới kế toán

Nhóm cấu trúc của hệ thống chính trị - hành chính bao gồm các nhân tố: Tuyển dụng và đào tạo, văn hóa hành chính, cạnh tranh chính trị Tuyển dụng và đào tạo, đặc biệt là đào tạo về kế toán trong KVC sẽ liên quan đến việc sẵn sàng đổi mới và khả năng thực hiện việc đổi mới hệ thống kế toán của đội ngũ kế toán viên, chuyên gia đang làm việc tại KVC Văn hóa hành chính là một phần của văn hóa chính trị Nếu như văn hóa chính trị cởi mở và khuyến khích sự tham gia của mọi người vào việc đổi mới kế toán thì văn hóa hành chính cũng vậy Cạnh tranh chính trị được hiểu ở hai khía cạnh là cạnh tranh trong bầu cử và cạnh tranh giữa những đối tượng sử dụng thông tin để ra quyết định như cơ quan lập pháp, cử tri và cơ quan cung cấp thông tin Theo Luder, mức độ cạnh tranh chính trị càng cao càng tạo ra một sức ép và sự nỗ lực sẵn sàng cung cấp thông tin trên hệ thống kế toán và làm cho BCTC hữu ích hơn

Nhóm nhân tố rào cản thực hiện bao gồm các nhân tố: Đặc điểm tổ chức, hệ thống pháp lý, trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán Theo tác giả, về đặc điểm tổ chức, nếu việc phân quyền trách nhiệm cho các tổ chức thực hiện kế toán trong KVC cao sẽ

Trang 21

tiềm ẩn nguy cơ tạo ra sự không đồng nhất trong kế toán và đó chính là rào cản cho việc đổi mới Hệ thống pháp lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ linh hoạt của hệ thống kế toán KVC Các quốc gia có hệ thống pháp lý kém linh hoạt sẽ khó đổi mới hệ thống kế toán Trình độ chuyên môn của nhân viên kế toán cũng sẽ ảnh hưởng đến việc đổi mới chế độ kế toán Độ lớn của các đơn vị công được cho là các quốc gia ít dân số, có các

cơ quan chính quyền, đơn vị thuộc KVC ít về số lượng và nhỏ về qui mô thì sẽ dễ đổi mới kế toán hơn so với các quốc gia rộng lớn có nhiều cơ quan chính quyền, nhiều đơn

vị công và qui mô các đơn vị thuộc khu vực công lớn

Mô hình của Luder đã được nghiên cứu rộng rãi bởi CIGAR (nghiên cứu so sánh

kế toán chính phủ quốc tế) bởi các tác giả trong 15 năm qua Tuy nhiên có bằng chứng cho thấy hiệu quả áp dụng mô hình dự phòng ban đầu của Luder là khá yếu Christiaens (1999) lập luận rằng Lý thuyết dự phòng chỉ mới giải thích "tại sao" tiến hành cuộc cải cách mà chưa đề cập đến cách mà những cải cách này được thực hiện

Sau đó, dựa trên bằng chứng nghiên cứu thực nghiệm từ các quốc gia (ví dụ Tây Ban Nha, Nhật Bản và Italy) và so sánh giữa các quốc gia đó, Luder đã sửa đổi mô hình

dự phòng hai lần, vào năm 1994 và 2001 Phiên bản cuối cùng vào năm 2001 đã dẫn đến

sự phát triển của mô hình Cải cách Quản lý tài chính (được gọi là FMR Model) Mặc dù

có sự điều chỉnh lại, nhưng mô hình FMR vẫn không hướng đến toàn bộ quy trình cải

cách nên vẫn chỉ được xem như là một mô hình giải trình

Tiếp đó, với một nghiên cứu phát triển bổ sung, Ouda (2001) đã xây dựng Mô

hình yêu cầu cơ bản (BRM) nhằm thực hiện thành công kế toán dồn tích KVC tại các

nước phát triển Mô hình yêu cầu cơ bản (BRM) đã cố gắng đi một bước xa hơn bằng cách tập trung vào các yếu tố thực hiện (thay vì yếu tố giải trình), trong đó quy định các yếu tố cần thiết để đưa quá trình cải cách kế toán chính phủ vào trong thực tế Về cơ bản, các yếu tố cần thiết nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện cho việc chuyển đổi kế toán dồn tích ở các nước phát triển được phản ánh trong phương trình sau (Ouda, 2001):

AC (ps) = f (MC + PBS + PAS + ABC + CS + WC + CC + BAC + SAI + ITC)

Trong đó:

- AC (ps): Sự thay đổi kế toán theo hướng áp dụng cơ sở dồn tích trong KVC

- MC: Quản lý thay đổi

- PBS: Hỗ trợ chính trị, hàm ý là hỗ trợ pháp lý và điều hành

- PAS: Hỗ trợ chuyên nghiệp và học thuật trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán

- CS: Chiến lược truyền thông bao gồm sách, tạp chí, hội nghị, hội thảo

Trang 22

- WC: Sẵn sàng để thay đổi

- CC: Tư vấn và phối hợp với các cơ quan chính quyền

- BAC: Ngân sách và các chi phí cập nhật kế toán theo thông lệ quốc tế

- SAI: Thực hiện các vấn đề kế toán cụ thể

- ITC: Khả năng công nghệ thông tin

- ABC: Sự nhất quán giữa ngân sách và kế toán

Sau đó, Ouda (2004) tiếp tục mở rộng nghiên cứu mô hình BRM sang các nước đang phát triển Theo tác giả, các nước đang phát triển khi thực hiện kế toán trên cơ sở dồn tích cho khu vực công sẽ gặp nhiều khó khăn hơn vì họ đang phải đối mặt với nhiều vấn đề như gian lận và tham nhũng, sự thống trị của hệ thống chính trị phi dân chủ, thiếu nhân sự có trình độ chuyên môn hay các vấn đề về quản lý kinh tế như: tỷ lệ lạm phát cao, nợ nần và thâm hụt chi tiêu quốc gia, kiểm soát nội bộ yếu kém Vì vậy, theo tác giả, các nước đang phát triển muốn cải cách kế toán theo cơ sở dồn tích thành công cần phải có sự can thiệp và tài trợ mạnh từ các tổ chức quốc tế trên nhiều phương diện đặc biệt là phương diện tài chính Vì vậy, tác giả xây dựng mô hình các nhân tố tác động đến việc thực hiện cải cách kế toán theo CSKT dồn tích tại các nước đang phát triển như sau: (mô hình BRM):

AC (ps) = f (MC + PBS + PAS + CS + WC + CC + BAC + SAI + ABC + ITC + IFS)

Trong đó: IFS là sự tài trợ tài chính của quốc tế Các nhân tố còn lại giống như mô hình

của các nước phát triển

Mặc dù trọng tâm của mô hình BRM là các yếu tố thực hiện, nhưng nó vẫn chưa hướng đến cải cách toàn bộ quy trình và cũng chưa bao gồm tất cả các yếu tố có liên quan Vì vậy, mô hình dự phòng Luder (1992, 1994 và 2001) và mô hình BRM (Ouda,

2001, 2004) vẫn đang còn những tồn tại như sau:

 Còn chứa lỗ hổng

 Nhấn mạnh đến bối cảnh cải cách hơn là nội dung của cải cách

 Chưa có quan điểm đổi mới kế toán công một cách toàn diện

 Quan tâm giai đoạn khởi đầu hơn so với giai đoạn chuyển tiếp sang thực tế

 Vẫn được coi là mô hình giải thích chứ không phải là mô hình quy tắc

Trong một nỗ lực để khắc phục những thiếu sót nói trên, Mô hình quy tắc (PM)

đã được phát triển bởi Hassan A G Ouda (2008) Mô hình không chỉ tập trung vào bối cảnh cải cách mà còn về nội dung của cải cách Mục đích của nó là để cung cấp một bức tranh toàn cảnh về quá trình cải cách bao gồm tất cả các yếu tố có liên quan, thay vì chỉ

Trang 23

giải quyết các yếu tố ngữ cảnh và hành vi Ngoài ra, mô hình quy tắc (PM) còn tiếp cận quá trình đổi mới toàn diện từ giai đoạn khởi đầu đến kết quả cuối cùng Do đó, mô hình này đã kết luận rằng việc chuyển đổi hệ thống kế toán dồn tích trong chính quyền trung ương sẽ liên quan đến nhiều giai đoạn và mỗi giai đoạn có mỗi phương trình các nhân

B- Giai đoạn chuyển tiếp sang thực tế

AC (Ps) = f (PS + LP + BS + PAS + CS + MCC + WC + CC + BAC + ITC+ IFS) (2)

= f (AR + OB + COA + AGL + APP + SAI + CF + ABC + CGU + CHD) (3)

Trong đó:

Mô hình 2: Giai đoạn chuyển tiếp ban đầu

Mô hình 3: Giai đoạn chuyển tiếp thứ hai

AC: Thay đổi Kế toán (chuyển đổi kế toán dồn tích trong KVC)

PS Hỗ trợ chính trị

LP Cung cấp pháp lý

BS Hỗ trợ pháp lý

AR: Đăng kí tài sản

OB: Bảng cân đối

COA: Sơ đồ tài khoản

AGL: Sổ kế toán dồn tích tổng hợp

APP: Chính sách kế toán và thực hành (Chuẩn mực Kế toán)

SAI: Giải quyết các vấn đề kế toán cụ thể

CF: Khuôn mẫu lý thuyết

ABC: Sự nhất quán giữa ngân sách và kế toán

CGU: Sự hướng dẫn của đơn vị trung ương

Trang 24

CHD: Dịch vụ hỗ trợ trung ương (bao gồm cả ban cố vấn)

Các giai đoạn và các yếu tố tác động trên được coi là cần thiết để ra quyết định

và thực hiện chuyển đổi kế toán dồn tích vào trong thực tế

Nghiên cứu thực nghiệm các mô hình cải cách ở một số quốc gia

Zhang (2005), trong bài nghiên cứu “Các nhân tố môi trường ảnh hưởng tới sự phát triển kế toán tài chính Trung Quốc từ năm 1949”, dựa trên phương pháp nghiên cứu lý thuyết bao gồm lý thuyết Muller (1967); Cộng đồng kế toán Mỹ (1977); Nobes (1984); Harrison và McKinnon (1986); Gray (1988)… với mục tiêu tìm hiểu về những nguyên nhân gây ra sự khác biệt trong hệ thống kế toán ở mỗi quốc gia và nghiên cứu

thực trạng quá trình phát triển hệ thống kế toán Trung Quốc giai đoạn (1949-2005) Kết

quả nghiên cứu cho thấy sự phát triển của kế toán Trung Quốc chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các nhân tố khác nhau bao gồm: chính trị, kinh tế, văn hóa, pháp lý, giáo dục - tính chuyên nghiệp và quốc tế Tiếp đó, tác giả lựa chọn hai công ty, một công ty quốc doanh

và một công ty tư nhân để tiến hành nghiên cứu thực nghiệm nhằm làm sáng tỏ các yếu

tố môi trường tác động đến sự phát triển kế toán ở cả hai khu vực này như thế nào Kết quả cho thấy dù là khu vực công hay khu vực tư thì kế toán vẫn chịu ảnh hưởng từ sáu nhóm nhân tố môi trường nêu trên Vì vậy, mặc dù có hạn chế là nghiên cứu này được thực hiện đối với hệ thống kế toán tài chính thuộc khu vực tư, tuy nhiên nó vẫn có thể được vận dụng để đánh giá khu vực công trong mối liên hệ với điều kiện thực tiễn của môi trường trong mỗi giai đoạn nghiên cứu

Ouda Hassan (2008), trong báo cáo nghiên cứu khoa học “Rào cản của quá trình chuyển đổi kế toán dồn tích khu vực công tại các nước phát triển và đang phát triển”, tác giả đã dựa trên các nghiên cứu của Luder (1992); Godfrey et al (2001); Christensen (2001); Ouda (2003, 2005) về các nhân tố rào cản, nhằm:

- Phát hiện sự khác biệt trong rào cản chuyển đổi CSKT dồn tích giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển (ví dụ, Hà Lan và Ai Cập)

- Xem xét mức độ ảnh hưởng của những rào cản này tới quá trình chuyển đổi CSKT dồn tích tại các nước phát triển (ví dụ, Hà Lan) và nước đang phát triển (ví dụ, Ai Cập)

Tác giả đã thực hiện các cuộc phỏng vấn cấu trúc dựa trên 300 câu hỏi mở và đóng (150 cho Hà Lan và 150 đối với Ai Cập) Các cuộc phỏng vấn đã hỗ trợ tác giả trong việc hiểu rõ hơn các rào cản liên quan đến quá trình chuyển đổi kế toán dồn tích trong chính phủ trung ương tại Hà Lan và Ai Cập Kết quả, có hai loại rào cản được tác giả phân loại thành rào cản khái niệm và rào cản thực tế Tiếp đó, để thuận lợi cho việc

Trang 25

phân tích thống kê, từng rào cản sẽ được cấp một mã số nhất định và một số rào cản có thể được phân loại vào cùng một nhóm như sau:

- Thiếu chuẩn mực kế toán: LAS

- Văn hóa quản lý quan liêu: BMC

- Các vấn đề kế toán cụ thể: SPECAI

- Các rào cản truyền thông: COMBAR

- Nguyên tắc kế toán dồn tích: AAPRIN

- Sự phổ biến kế toán dồn tích: AAPOST

- Yếu tố kinh tế (lạm phát): ECOFAC

- Ảnh hưởng ngân sách truyền thống: TBI

- Thiếu động cơ lợi nhuận: LPM

Tiếp đó, sử dụng phương pháp thống kê định lượng, các nhân tố này được khảo sát thực nghiệm tại Hà Lan, đại diện các nước phát triển và Ai Cập, đại diện các nước đang phát triển Kết quả nghiên cứu như sau:

Tại Hà Lan: Dựa trên kết quả kiểm định, tác giả chia các nhân tố rào cản thành

hai nhóm

Nhóm 1: nhóm những nhân tố tác động, trong đó chia làm ba cấp độ:

- Nhóm nhân tố tác động sâu sắc: Nhóm này gồm năm yếu tố tác động được sắp xếp theo thứ tự lần lượt là: các yếu tố chính trị, các vấn đề kế toán cụ thể, rào cản truyền thông, nguyên tắc kế toán dồn tích và văn hóa quản lý quan liêu

- Nhóm nhân tố tác động rất quan trọng: nhóm này bao gồm hai yếu tố rào cản pháp lý và sự thiếu chuẩn mực kế toán

- Nhóm nhân tố tác động quan trọng: gồm ba yếu tố là sự phổ biến kế toán dồn tích, đặc điểm nhân sự và đặc điểm tổ chức

Nhóm 2: nhóm nhân tố không ảnh hưởng, bao gồm tất cả các yếu tố tác động không đáng kể đến việc chuyển đổi CSKT dồn tích của Hà Lan và theo đó các nhân tố này không cần quan tâm tới khi nghiên cứu Nhóm này gồm bốn nhân tố nguồn tài chính, yếu tố kinh tế, ảnh hưởng của ngân sách truyền thống, thiếu động cơ lợi nhuận

Trang 26

Tại Ai cập: Dựa trên kết quả kiểm định, tác giả cũng chia các nhân tố tác động

thành bốn nhóm như sau:

- Nhóm 1: Nhóm này bao gồm tất cả các yếu tố tác động đáng kể đến việc chuyển

đổi CSKT dồn tích ở Ai Cập, được sắp xếp theo thứ tự lần lượt là: thiếu chuẩn mực kế toán, văn hóa quản lý quan liêu, các rào cản pháp lý và yếu tố chính trị

- Nhóm 2: Nhóm ảnh hưởng rất quan trọng, nhóm này bao gồm năm yếu tố: rào

cản truyền thông, các vấn đề kế toán cụ thể, nguồn tài chính, đặc điểm tổ chức, nguyên tắc kế toán dồn tích

- Nhóm 3: Nhóm ảnh hưởng quan trọng bao gồm hai yếu tố là sự phổ biến kế

toán dồn tích và đặc điểm nhân sự

- Nhóm 4: Nhóm ảnh hưởng không đáng kể Nhóm này gồm ba yếu tố: yếu tố

kinh tế (lạm phát), ảnh hưởng của ngân sách truyền thống, thiếu động cơ lợi nhuận

Sau khi tiến hành phân tích thống kê, tác giả xác định được mức độ tác động cũng như mức độ tương quan giữa các nhân tố rào cản Từ đó đưa ra kết luận việc phân loại các rào cản quá trình chuyển đổi CSKT dồn tích gần như phù hợp với hoàn cảnh hiện hành và mức độ phát triển của mỗi nước

Zakiah Saleh (2008), trong bài nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát

triển kế toán công Malaysia” tác giả sử dụng kỹ thuật lấy mẫu phi xác suất, phỏng vấn

20 kế toán viên và kiểm toán viên chính phủ, các nhà hoạch định chính sách và đại diện của các cơ quan kế toán chuyên nghiệp tại Malaysia Mục tiêu đầu tiên của nghiên cứu này là để nhận thức và lấy ý kiến về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của kế toán công Malaysia Kết quả cho thấy Kho bạc, trong đó có Bộ Tổng kế toán, đóng vai trò quan trọng nhất cho sự phát triển Mức độ thấp hơn, là ảnh hưởng của các chính trị gia

và sự thay đổi công nghệ Thấp hơn nữa, mức độ ảnh hưởng không quan trọng là áp lực

và tính chuyên nghiệp quốc tế Không giống như ở các nước như Úc và New Zealand, khủng hoảng hay căng thẳng tài chính không ảnh hưởng đến sự phát triển của kế toán công Malaysia Mục tiêu thứ hai của nghiên cứu này tìm cách lấy ý kiến và nhận thức

về tác động của việc chuyển đổi CSKT tiền mặt hiện tại sang CSKT dồn tích Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng của các BCTC có thể được cải thiện nếu các tài sản và

nợ phải trả được báo cáo theo CSKT dồn tích Tuy nhiên, vấn đề chính cản trở đến việc

áp dụng kế toán dồn tích tại Malaysia là chi phí, bao gồm chi phí đào tạo và cơ sở hạ tầng Một số rào cản khác như thiếu kế toán viên có trình độ và thiếu nhu cầu đào tạo để đáp ứng việc chuyển đổi cũng được trình bày Hạn chế của nghiên cứu là chưa có đầy

đủ biến để tìm hiểu một cách toàn diện sự thay đổi, tác giả đề xuất các nghiên cứu trong

Trang 27

tương lai cần xem xét thêm đến biến như mức độ phát triển kinh tế và tình trạng của cơ quan kế toán chuyên nghiệp tại Malaysia

Hamisi K.S (2012), trong bài nghiên cứu “Các nhân tố ảnh huởng đến việc thực hiện IPSAS ở Kenya”, dựa trên mô hình nghiên cứu của Ouda, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với thủ tục lấy mẫu phân tầng, thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp, áp dụng mô hình hồi quy và thống kê mô tả, phân tích tương quan để xác định mức độ tác động của các nhân tố đến việc thực hiện IPSAS Kết quả cho thấy tất cả 11 nhân tố của mô hình đều tác động tới việc thực hiện IPSAS Từ đó, tác giả kết luận những yếu tố cơ bản kìm hãm việc thực hiện IPSAS tại Kenya bao gồm: áp dụng công nghệ ở mức độ thấp; những yếu kém trong quản lý tài chính công; vai trò của Quốc hội

và các cơ quan Chính phủ trong việc áp dụng hệ thống thông tin quản lý tài chính (IFMIS); thiếu khung pháp lý và nền chính trị yếu kém; thất bại của Quốc hội trong việc ban hành Luật quản lý tài chính mới 2004 để thừa nhận IPSAS; thiếu cán bộ có chuyên môn; thiếu điều phối và tư vấn; chiến lược truyền thông; trình độ ứng dụng CNTT; trợ giúp từ các tổ chức quốc tế và các chuyên gia nước ngoài… Từ đó, tác giả đề xuất các kiến nghị cần thiết nhằm khắc phục những yếu kém Đồng thời tác giả cũng cho rằng, đối với Kenya, hạn chế là dù hệ thống kế toán dồn tích thì toàn diện và mang lại nhiều lợi ích nhưng Kenya cũng đã quá phóng đại chúng

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

Trước đây, kế toán khu vực công Việt Nam còn là một mảng đề tài xa lạ và chưa

có nhiều khai phá, hầu hết các đề tài nghiên cứu chủ yếu tập trung vào kế toán khu vực

tư Tuy nhiên, kể từ khi Chuẩn mực kế toán công quốc tế IPSAS ra đời và được nhiều nước trên thế giới vận dụng nhằm xây dựng chuẩn mực kế toán công quốc gia, thì nghiên cứu về kế toán công nhận được sự quan tâm hơn bao giờ hết Tại Việt Nam cũng đã ghi nhận một số công trình nghiên cứu như sau:

1.2.1 Các nghiên cứu liên quan kế toán công và việc vận dụng Chuẩn mực

kế toán công quốc tế tại Việt Nam

Phạm Văn Đăng (2008), “Kế toán Nhà nước Việt Nam: Sự khác biệt với chuẩn mực quốc tế về kế toán công”, Tạp chí kế toán ngày 09.10.2008, trang 11 Trong bài viết, một lần nữa tác giả khẳng định vai trò của chuẩn mực kết toán công quốc tế, đồng thời xác định những điểm tương đồng và khác biệt giữa kế toán công Việt Nam với Chuẩn mực kế toán công quốc tế Về điểm tương đồng, tác giả cho rằng Hệ thống chuẩn mực kế toán công quốc tế được xây dựng dựa trên cơ sở hệ thống chuẩn mực kế toán trong lĩnh vực tư và được thực hiện trên CSKT dồn tích Tương tự, Việt Nam cũng đã

Trang 28

thực hiện cải cách hệ thống kế toán Doanh nghiệp và hệ thống kế toán HCSN; chế độ

kế toán HCSN về cơ bản đã thực hiện dồn tích, trừ hạch toán ghi nhận TSCĐ, nguồn kinh phí Mặt khác, Việt Nam cũng đã xây dựng được hệ thống CMKT DN dựa trên CMKT quốc tế trong lĩnh vực tư, do đó, việc tiếp cận kế toán nhà nước với CMKT công quốc tế là tương đối gần và có nhiều thuận tiện trên các phương diện như con người, nhận thức, hệ thống pháp lý, cơ chế tài chính… Về điểm khác biệt, tác giả cũng liệt kê một số điểm khác biệt về đối tượng áp dụng, CSKT, về phạm vi hợp nhất BCTC của Chính phủ… Từ đó, tác giả khẳng định Việt Nam hiện nay cần hướng tới việc hài hòa theo xu hướng toàn cầu trong lĩnh vực kế toán công Hạn chế là bài báo chưa nêu cụ thể những định hướng hay kiến nghị để xây dựng chuẩn mực kế toán công Việt Nam mà mới chỉ đưa ra một vài kiến nghị mang tính chung chung

Mai Thị Hoàng Minh (2008), “Cần thiết ban hành chuẩn mực kế toán công”, Tạp chí kế toán ngày 02.07.2008, trang 15 Trong bài viết, tác giả đã khẳng định các quốc gia phải lập Báo cáo tài chính hợp nhất cho toàn bộ lĩnh vực công theo khuôn mẫu thống nhất của Chuẩn mực kế toán công quốc tế để phản ánh tình hình tài chính, kết quả hoạt động và xác định thặng dư, thâm hụt thuần cho từng năm để có sự so sánh trên phạm vi toàn cầu theo một tiêu chí chung nhất định Từ đó, tác giả đưa ra những đặc điểm về hệ thống đơn vị công và hệ thống báo cáo của Việt Nam để minh chứng cho tính tất yếu đó

Nguyễn Chí Hiếu (2010), với luận văn “Thiết lập hệ thống tài khoản và báo cáo

tài chính trong điều kiện áp dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế vào đơn vị hành chính sự nghiệp”; sử dụng hỗn hợp các phương pháp nghiên cứu định tính như: nghiên cứu tại bàn, thảo luận với chuyên gia, phân tích, so sánh, tổng hợp… và phương pháp nghiên cứu định lượng khảo sát 40 mẫu ngẫu nhiên, tác giả thực hiện bài nghiên cứu với mục tiêu thiết lập hệ thống tài khoản và BCTC trên cơ sở vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế cho đơn vị HCSN Bài nghiên cứu đem lại một số kết quả như sau:

- Thứ nhất: giới thiệu một cách khái quát hệ thống Chuẩn mực kế toán công quốc

tế hiện nay và cập nhật những CMKT mới nhất

- Thứ hai: thông qua khảo sát thực tế, phân tích và so sánh, tác giả chỉ rõ những yếu kém nội tại của hệ thống tài khoản và BCTC hiện nay theo quyết định 19/2006/QĐ-BTC của Bộ tài chính áp dụng cho đơn vị HCSN Từ đó, củng cố hơn lý do phải áp dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế vào Việt Nam

- Thứ ba: đề xuất hệ thống tài khoản và BCTC mới áp dụng cho đơn vị HCSN cùng những hướng dẫn cơ bản để sử dụng tài khoản và BCTC mới đó

Trang 29

Hạn chế của nghiên cứu là mẫu khảo sát không nhiều, nên tính đại diện cũng như

độ tin cậy bị hạn chế, bản thân tác giả cũng khẳng định những kết quả nêu trên còn khá khiêm tốn, để hệ thống tài khoản và BCTC thực sự là kết quả của việc áp dụng CMKT công quốc tế thì cần phải có nhiều nghiên cứu chuyên sâu hơn nữa

Cùng nội dung vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế, Nguyễn Như Quỳnh (2015), với đề tài nghiên cứu “Xác định các nhân tố ảnh hưởng việc vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế Báo cáo lưu chuyển tiền tệ vào Việt Nam”, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng nhằm đưa ra một góc nhìn mới khái quát về việc xác định các nhân tố ảnh hưởng tới vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế số 2:

“Báo cáo lưu chuyển tiền tệ” tại Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba nhân tố tác động đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán là: Kinh nghiệm ban hành; Sự ảnh hưởng của cộng đồng kế toán và Sự phát triển của hệ thống thông tin Từ đó, tác giả đưa ra các kiến nghị có liên quan nhằm gia tăng tính toàn vẹn thông tin, tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình thông qua việc khuyến khích các đơn vị HCSN lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo chuẩn mực quốc tế Tuy nhiên, bài nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế như chưa khám phá đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng, thời gian và phạm vi nghiên cứu còn hạn chế…

Gần đây nhất, Cao Thị Cẩm Vân (2016), tác giả sử dụng hỗn hợp phương pháp

nghiên cứu định tính như tiếp cận hệ thống, phân tích, so sánh, lý luận khách quan và phương pháp nghiên cứu định lượng như thống kê mô tả, nghiên cứu nhân tố khám phá… với mục tiêu nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng chuẩn mực

kế toán công Việt Nam Kết quả là với phương pháp nghiên cứu định tính, tác giả đã tổng hợp được các lý luận liên quan đến những nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng CMKT công quốc gia trong điều kiện vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế Trên

cơ sở đó, cùng với phương pháp nghiên cứu định lượng, tác giả đã phát triển các lý luận này trong bối cảnh thực tiễn tại Việt Nam, xây dựng mô hình và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng bao gồm: Hệ thống pháp lý; Hệ thống chính trị; Văn hóa

và môi trường hoạt động; Kỹ thuật nghiệp vụ; Điều kiện tổ chức; Áp lực hội nhập và Sự

ra đời của Chuẩn mực kế toán công quốc tế Từ đó, nghiên cứu làm rõ những điều kiện tiền đề cần thiết để xây dựng CMKT công theo hướng vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế nhưng phù hợp với thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa của Việt Nam Thông qua kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất các kiến nghị cụ thể nhằm tác động vào cơ chế quản lý tài chính công và hệ thống kế toán công, cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách thích hợp nhằm thúc đẩy tiến trình xây dựng CMKTCVN Hạn chế của

Trang 30

nghiên cứu là chưa khai thác từng nội dung cụ thể của IPSAS có thể vận dụng vào nội dung CMKT công Việt Nam, nội dung nào có thể vận dụng tại Việt Nam mà không cần thay đổi, nội dung nào cần điều chỉnh hoặc xây dựng mới cho Việt Nam Do đó, theo tác giả, cần thiết có những nghiên cứu kế tiếp để phân tích, đánh giá nội dung của từng IPSAS và mức độ có thể vận dụng vào điều kiện thực tế để xây dựng CMKTCVN

1.2.2 Các nghiên cứu liên quan đến cơ sở kế toán dồn tích

Với mục tiêu nghiên cứu về việc vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế để hoàn thiện chế độ kế toán HCSN tại Việt Nam, sử dụng một số phương pháp nghiên cứu định tính như khảo sát qua ý kiến chuyên gia, phương pháp so sánh, diễn giải, quy nạp… Nguyễn Thị Minh Huệ (2012), trong luận văn “Vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc

tế để hoàn thiện chế độ kế toán hành chính sự nghiệp Việt Nam”, tác giả khẳng định việc vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế để hoàn thiện chế độ kế toán HCSN tại Việt Nam là con đường tất yếu, phù hợp với yêu cầu thay đổi Tuy nhiên, việc vận dụng lại vô cùng khó khăn và cần có lộ trình cụ thể trong thời gian dài Ngoài ra, tác giả cũng khẳng định để vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế thì CSKT dồn tích có điều chỉnh như hiện nay của kế toán HCSN là chưa phù hợp Do đó, trong thời gian tới, khi xây dựng chuẩn mực kế toán công cho Việt Nam, ngoài sự thay đổi của cơ chế tài chính,

sự chuyển đổi quản lý nhà nước từ quản lý theo yếu tố đầu vào sang quản lý theo kết quả đầu ra thì điều cần thiết là phải điều chỉnh CSKT đơn vị HCSN từ cơ sở dồn tích có điều chỉnh sang cơ sở dồn tích hoàn toàn Hạn chế của đề tài là chỉ mới dừng lại ở việc phân tích khó khăn và kiến nghị khi vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế cho lĩnh vực kế toán hành chính sự nghiệp, chưa đề cập tới các lĩnh vực khác trong KVC

Lê Phương Dung (2013), trong luận văn “Hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán cấp phường - xã trên cơ sở tiếp cận Chuẩn mực kế toán công quốc tế”, sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính như khảo sát ý kiến chuyên gia, tiếp cận hệ thống, so sánh, phân tích… tác giả tìm hiểu về hệ thống kế toán công của một số quốc gia trên thế giới, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Đồng thời, phân tích được thực trạng, ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân còn tồn tại của một số báo cáo kế toán của đơn

vị cấp phường - xã trên địa bàn thành phố HCM Một trong những vấn đề tồn tại đó là hiện nay, CSKT áp dụng cho đơn vị cấp phường xã đến 90% là cơ sở tiền mặt, 10% là

cơ sở tiền mặt có điều chỉnh và 50% ý kiến khảo sát cho rằng Việt Nam sẽ gặp khó khăn khi ban hành văn bản pháp luật hướng dẫn chuyển đổi sang CSKT dồn tích Từ đó, tác giả đề xuất kiến nghị sửa đổi Luật kế toán chuyển đổi từ CSKT tiền mặt sang CSKT dồn tích nhằm hoàn thiện hệ thống BCTC trên cơ sở tiếp cận CMKT công quốc tế Tuy

Trang 31

nhiên, đó mới là định hướng kiến nghị trong dài hạn, tác giả chưa đưa ra được lộ trình chuyển đổi, các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển đổi đó…

Phạm Quang Huy (2014), trong luận án “Hoàn thiện hệ thống kế toán thu chi ngân sách tại Việt Nam”, tác giả đã sử dụng hỗn hợp các phương pháp nghiên cứu như: khái quát hóa, thu thập, tổng hợp, phân tích, tư duy, so sánh, thống kê mô tả cùng phần mềm SPSS… với mục tiêu hoàn thiện hệ thống kế toán thu, chi ngân sách nhà nước tại Việt Nam Kết quả, tác giả đã trình bày một cách đầy đủ, hệ thống các vấn đề có liên quan đến kế toán thu, chi ngân sách tại Việt Nam; định hướng tiếp cận những quy định

cơ bản nhất về các vấn đề có liên quan đến thu, chi ngân sách trong Chuẩn mực kế toán công quốc tế Kế đến, luận án đã nêu ra những điểm chính trong Chuẩn mực kế toán công quốc tế với hai CSKT phổ biến là tiền mặt và dồn tích Nghiên cứu đối với Việt Nam, tác giả khẳng định việc hạch toán đối với các khoản mục trong hệ thống kế toán thu, chi ngân sách chủ yếu được thực hiện dựa trên cơ sở tiền mặt Đó là một trong những điểm khác biệt đối với Chuẩn mực kế toán công quốc tế Từ đó khẳng định, điều chỉnh và thay đổi CSKT dồn tích trong ghi nhận và trình bày thông tin kế toán thu, chi ngân sách là điều kiện đầu tiên để áp dụng chuẩn mực kế toán công dễ dàng hơn Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu là chưa đi vào từng chuẩn mực cụ thể trong bộ Chuẩn mực kế toán công quốc tế cũng như không đi vào chi tiết từng bút toán hạch toán về kế toán thu chi ngân sách

Vũ Quang Nguyên (2015), trong luận văn “Nghiên cứu các cơ sở kế toán áp dụng trong kế toán công một số quốc gia và định hướng cho cơ sở kế toán áp dụng tại Việt Nam”, tác giả sử dụng hỗn hợp các phương pháp nghiên cứu định tính như suy luận, so sánh, điều tra, thống kê mô tả… với mục tiêu tìm hiểu về CSKT áp dụng và quá trình chuyển đổi từ CSKT tiền mặt sang CSKT dồn tích ở một số quốc gia; từ đó đưa ra các kiến nghị và kiến nghị nhằm định hướng cho quá trình chuyển đổi CSKT khu vực công, mà đại diện là đơn vị HCSN tại Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy chuyển đổi CSKT dồn tích trong KVC mang lại nhiều lợi ích và là một xu hướng được thực hiện ở nhiều quốc gia Khi nghiên cứu hệ thống kế toán đơn vị HCSN tại Việt Nam, tác giả cho rằng thông tin kế toán chưa đáp ứng được nhu cầu quản lý, chưa phản ánh hiệu quả xã hội của từng đơn vị, chưa được cung cấp cho công chúng, chưa thể hiện được Bảng cân đối kế toán và chưa thể tích hợp cho toàn đơn vị công Điều này do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân CSKT áp dụng trong các đơn vị HCSN Qua đó, tác giả khẳng định việc chuyển đổi sơ cở kế toán dồn tích là cần thiết Tuy nhiên, hạn chế của đề tài là việc chuyển đổi CSKT dồn tích mới chỉ dừng lại ở việc định hướng mà

Trang 32

chưa đi sâu vào quá trình chuyển đổi như thế nào, các nhân tố nào ảnh hưởng tới quá trình chuyển đổi đó…

Nguyễn Thị Thu Hiền (2015), trong luận án nghiên cứu “Hoàn thiện báo cáo tài chính khu vực công tại Việt Nam”, tác giả đã sử dụng hỗn hợp cả hai phương pháp định tính và định lượng như tiếp cận hệ thống, tổng hợp, phân tích, so sánh, khảo sát, lấy ý kiến chuyên gia, thống kê mô tả và thống kê định lượng nhằm nghiên cứu việc hoàn thiện Báo cáo tài chính KVC, cung cấp thông tin hữu ích cho người sử dụng Kết quả nghiên cứu cho thấy KVC Việt Nam hiện nay tồn tại song song quá nhiều chế độ kế toán, cùng là đơn vị công nhưng mỗi ngành nghề, lĩnh vực đặc thù lại có chế độ kế toán riêng cũng như có số lượng BCTC, biểu mẫu, nội dung khác nhau… Chính vì vậy, BCTC khu vực công hiện nay chưa có sự thống nhất, chưa hướng đến người sử dụng là công chúng và chưa cung cấp các thông tin giải trình của đơn vị Nguyên nhân chủ yếu gây nên hạn chế này là tồn tại song song hai CSKT trong đơn vị Từ đó tác giả đi đến kết luận muốn tiến hành cải cách kế toán, hoàn thiện BCTC thì cần thiết phải chuyển đổi CSKT tiền sang CSKT dồn tích Đồng thời tác giả xác định được những nhân tố tác động đến việc chuyển đổi như: Môi trường Chính trị; Môi trường Giáo dục; Môi trường Kinh tế; Môi trường Pháp lý; Môi trường Quốc tế; Môi trường Văn hóa Hạn chế của đề tài là mới chỉ chọn đơn vị sự nghiệp để phân tích và đề xuất các kiến nghị, chưa bao quát toàn bộ KVC Mặt khác, BCTC khu vực công theo xu hướng hiện nay được tách thành hai loại BCTC cho mục đích chung và BCTC cho mục đích đặc biệt nhưng luận

án mới chỉ tập trung BCTC cho mục đích chung mà chưa đề cập đến BCTC cho mục đích đặc biệt

1.3 Nhận xét các nghiên cứu trước và xác định khe hổng nghiên cứu

1.3.1 Nhận xét các nghiên cứu trước

Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến kế toán KVC, tác giả đi tới một số nhận xét như sau:

 Đối với các công trình nghiên cứu nước ngoài:

Có rất nhiều công trình nghiên cứu về kế toán KVC cũng như đề cập đến xu hướng cải cách của nó Nói về xu hướng cải cách, hầu hết các nghiên cứu đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc chuyển đổi CSKT hiện hành tại các quốc gia sang CSKT dồn tích nhằm nâng cao chất lượng thông tin BCTC, tăng cường tính hữu ích, đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin ra quyết định và đánh giá trách nhiệm giải trình (Luder, 1992; Ouda, 2004, 2008; Chan J.L, 2005; Sarath Lakshman Athukorala, 2003; Tatjana Jovanovic, 2015; Maurits Brandon, 2007…) Đồng thời, thông qua nghiên cứu

Trang 33

thực nghiệm, một số tác giả cũng đã xây dựng được mô hình các nhân tố tác động đến việc chuyển đổi CSKT dồn tích không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở một số nước đang phát triển (Chan J.L, 2005; Hassan A G Ouda, 2008; Zakiah Saleh, 2008; Hamisi K.S, 2012…) Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu được thực hiện tại các quốc gia, nơi mà các tác giả đang sinh hoạt khoa học hay đang công tác với hệ thống pháp lý, chính trị, kinh tế và trình độ nguồn nhân lực cũng như nhiều yếu tố đặc thù khác nhau (Hà Lan, Ai Cập, Trung Quốc, Malaysia, Keynia…) nên không thể áp dụng hoàn toàn vào Việt Nam Điều này cho thấy Việt Nam vẫn đang là một khe hổng cần được nghiên cứu và việc tìm hiểu những nhân tố tác động đến việc chuyển đổi CSKT dồn tích KVC Việt Nam được xem là cần thiết

 Đối với các công trình nghiên cứu trong nước

Đánh giá các nghiên cứu trong nước, có thể thấy hầu hết nghiên cứu của các tác giả Phạm Văn Đăng (2008); Mai Thị Hoàng Minh (2008); Nguyễn Chí Hiếu (2010); Lê Phương Dung (2013); Phạm Quang Huy (2014); Nguyễn Như Quỳnh (2015)… đều tập trung vào:

- Phân tích thực trạng hệ thống kế toán công Việt Nam: thông qua đánh giá khung pháp lý, các chế độ kế toán và những quy định vận dụng cho kế toán công, các tác giả chỉ ra những hạn chế của hệ thống kế toán công Việt Nam và sự cần thiết để xây dựng chuẩn mực kế toán cho khu vực công Việt Nam

- Phân tích, so sánh sự khác biệt giữa hệ thống kế toán công Việt Nam và IPSAS: một số nghiên cứu đi vào phân tích các nội dung của IPSAS, so sánh với các quy định pháp lý vận dụng cho kế toán công Việt Nam, đặc biệt là đơn vị HCSN để làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt Trên cơ sở phân tích, các tác giả đã đề xuất phương hướng, lộ trình cho việc xây dựng CMKTCVN

- Đánh giá những cơ hội và thách thức cho việc vận dụng IPSAS tại Việt Nam:

từ phân tích thực trạng và so sánh sự khác biệt, một số nghiên cứu đã chỉ ra những cơ hội và thách thức để vận dụng IPSAS vào Việt Nam và phân tích những điều kiện cần thiết để thực hiện

Trong các nghiên cứu trên, mặc dù không đề cập trực tiếp và chuyên sâu tới việc chuyển đổi CSKT dồn tích, nhưng các tác giả đều khẳng định nguyên tắc CSKT là một trong những điểm khác biệt quan trọng giữa kế toán khu vực công Việt Nam so với Chuẩn mực kế toán công quốc tế và việc chuyển đổi CSKT dồn tích là một vấn đề cấp thiết để có thể vận dụng được chuẩn mực này Do đó, trong phần kiến nghị, hầu hết các tác giả đều đề xuất cần chuyển đổi CSKT dồn tích KVC nhằm cung cấp thông tin hữu

Trang 34

ích cho việc giải trình và ra quyết định Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc đề xuất kiến nghị

Không dừng lại đó, nhận thấy tính cấp thiết của việc chuyển đổi CSKT dồn tích trong quá trình vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế, một số tác giả như: Vũ Quang Nguyên (2015); Nguyễn Thị Thu Hiền (2015)… đã nghiên cứu trực tiếp đến vấn đề CSKT dồn tích Các nghiên cứu này đã nêu được định nghĩa, vai trò, lợi ích khi thực hiện chuyển đổi CSKT dồn tích cũng như xu hướng và kinh nghiệm thực hiện việc chuyển đổi ở một số quốc gia Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu này chỉ sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính nhằm xác định phương hướng chuyển đổi, công trình nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng nhằm khám phá và kiểm định nhân tố ảnh hưởng tới việc chuyển đổi hầu như rất ít

1.3.2 Xác định khe hổng nghiên cứu

Tóm tại, thông qua tìm hiểu các nghiên cứu trong nước và quốc tế, tác giả nhận thấy rằng việc chuyển đổi CSKT khu vực công sang cơ sở dồn tích là vấn đề tất yếu và mang lại nhiều lợi ích cho các quốc gia Tại Việt Nam, trong bối cảnh khi mà nước ta

đã cam kết thực hiện kế toán KVC trên cơ sở dồn tích (IPSASB, 2013) hay việc ban hành CMKT công dựa trên IPSASs là vấn đề đã được hoạch định và có lộ trình chiến lược rõ ràng, thì nghiên cứu về vấn đề chuyển đổi CSKT dồn tích càng trở nên cấp thiết hơn nữa Tại Việt Nam, trong thời gian gần đây cũng có một số công trình nghiên cứu

về vấn đề này Tuy nhiên, hầu hết các công trình mới chỉ dừng lại ở nghiên cứu định tính nhằm định hướng và đề ra kiến nghị cần chuyển đổi CSKT Các nghiên cứu mang tính thống kê định lượng như khảo sát, kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến việc chuyển đổi CSKT dồn tích tại Việt Nam rất ít Vì vậy tác giả xác định khe hổng và định hướng nghiên cứu của mình là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc chuyển đổi CSKT dồn tích KVC Việt Nam trong điều kiện vận dụng Chuẩn mực kế toán công quốc tế

Kết luận chương 1

Qua tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước, tác giả nhận thấy việc chuyển đổi kế toán KVC Việt Nam sang cơ sở dồn tích là việc làm tất yếu và phù hợp với xu hướng kế toán KVC trên thế giới Khi thực hiện việc chuyển đổi, những khó khăn thử thách và rào cản là điều không tránh khỏi Để quá trình chuyển đổi CSKT dồn tích KVC Việt Nam thành công, nghiên cứu về các nhân tố tác động tới việc chuyển đổi

là một vấn đề cấp thiết

Trang 35

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Tổng quan về khu vực công

2.1.1 Khái niệm khu vực công

Hiện nay có rất nhiều khái niệm về khu vực công dưới nhiều góc độ khác nhau:

Theo Broadbent & Guthrie (1992), khu vực công là một phần của hoạt động xã hội và kinh tế của một quốc gia, được sở hữu và kiểm soát bởi chính phủ Theo đó, lĩnh vực công bao gồm các tổ chức công cung cấp các tiện ích và dịch vụ công Việc cung cấp các tiện ích và dịch vụ công được đặc trưng bởi sự tham gia tích cực của chính quyền trong cả hai lĩnh vực hoạch định chính sách và kinh phí Trong bối cảnh này, khu vực công bao gồm nhiều tổ chức thành phần như: cơ quan quốc gia và cơ quan cấp tỉnh, doanh nghiệp nhà nước, chính quyền địa phương và các thành phần khác, bao gồm cả các trường đại học, trường học, bệnh viện…

Theo Josheph E Stiglitz, nhà kinh tế học đạt giải Nobel người Mỹ cho rằng một

cơ quan hay một đơn vị được xếp vào khu vực công khi có hai đặc điểm:

Thứ nhất, có quyền lực lãnh đạo: trong một chế độ dân chủ, những người chịu trách nhiệm lãnh đạo các cơ quan công lập đều được công chúng bầu ra hoặc được chỉ định (trực tiếp hay gián tiếp) Đặc điểm này hàm ý rằng hoạt động của khu vực công phải phục vụ cho đại đa số lợi ích của cộng đồng

Thứ hai, có quyền lực hoạt động: các đơn vị trong khu vực công được giao một

số quyền hạn nhất định có tính chất bắt buột, cưỡng chế mà các cơ quan tư nhân không thể có được Chẳng hạn, chính phủ có quyền buột công chúng phải nộp thuế, thực hiện nghĩa vụ quân sự…

Theo đó, có thể nêu ra một số hoạt động của khu vực công như sau:

- Hệ thống các cơ quan công quyền:

+ Hệ thống các cơ quan quyền lực của nhà nước gồm các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp

+ Hệ thống quốc phòng và các cơ quan an ninh

+ Hệ thống các đơn vị cung cấp dịch vụ công: giáo dục, y tế, thể dục thể thao… + Hệ thống các cơ quan cung cấp an sinh xã hội

- Hệ thống các đơn vị kinh tế nhà nước

+ Các doanh nghiệp nhà nước

+ Các định chế tài chính trung gian

+ Ngân hàng nhà nước

Trang 36

+ Các đơn vị được nhà nước cấp vốn hoạt động

Năm 2011, Hiệp Hội Kiểm Toán Nội Bộ (viết tắt là IIA), đã ban hành một văn bản, trong đó có hướng dẫn định nghĩa khu vực công như sau: khu vực công bao gồm Chính phủ và các cơ quan bị kiểm soát hoặc được tài trợ công khai bởi chính phủ, các doanh nghiệp và các đơn vị khác, nhằm cung cấp các chương trình công cộng, hàng hóa hoặc dịch vụ Khái niệm này thì bao quát hơn so với khái niệm khu vực công chỉ có trung tâm là chính phủ trước đó; tuy nhiên, khu vực công lại có thể chồng chéo với khu vực phi lợi nhuận hoặc khu vực kinh tế tư nhân Như vậy, mặc dù đưa ra định nghĩa, nhưng IIA vẫn còn mơ hồ trong việc xác định chính xác liệu một tổ chức nào đó có nằm trong KVC hay không Vì vậy, IIA tiếp tục đưa ra một số tiêu chí để xác định các tổ chức đang nằm giữa ranh giới khu vực tư và KVC Dưới đây là một số tiêu chí của IIA:

- Tổ chức đang xem xét có cung cấp các chương trình, hàng hóa hay dịch vụ mà

có thể xem là hàng hóa công hay là hàng hóa được chính phủ chỉ định hay không?

- Có phải phần lớn kinh phí hoạt động của tổ chức là do chính phủ cung cấp hoặc được quyết định bởi chính phủ hay không?

- Tổ chức đang xét có chịu trách nhiệm trước chính phủ và báo cáo trực tiếp cho chính phủ hay một cơ quan, một đại diện của chính phủ hay không?

- Các nhân viên của tổ chức đang xét có phải là thành viên của các tổ chức dịch

vụ công, hoạt động theo luật cung cấp dịch vụ công và nhận các lợi ích của tổ chức dịch

vụ công hay không?

- Nếu tổ chức đang xét có ban lãnh đạo độc lập, liệu chính phủ có nắm quyền kiểm soát lớn trong ban lãnh đạo này hay không?

- Nếu tổ chức đang xét có vốn cổ phần, liệu chính phủ có nắm phần lớn cổ phần hay không?

- Nhìn chung, chính phủ có kiểm soát, trực tiếp hay gián tiếp các hoạt động và chính sách của tổ chức đang xét hay không?

- Liệu có yêu cầu pháp lý nào bắt buộc tổ chức đang xét phải được kiểm toán bởi kiểm toán nhà nước hay không?

Với các tiêu chí này, IIA hi vọng có thể phân định rõ ràng hơn liệu một tổ chức

có phải thuộc KVC hay không, đồng thời giảm bớt sự tranh luận trong giới học thuật về định nghĩa khu vực này

Như vậy, từ những góc độ trên, có thể hiểu khu vực công là một khái niệm được dùng để xác định một tập hợp gồm các cơ quan quản lý nhà nước của quốc gia, các tổ chức và doanh nghiệp công, kể cả ngân hàng trung ương Đây được xem là một thành

Trang 37

phần cơ bản và không thể thiếu của nền kinh tế và cuộc sống xã hội Thông qua khu vực này, chính phủ chịu trách nhiệm chính là thực hiện việc phân phối hàng hóa và dịch vụ công cho đất nước

2.1.2 Vai trò của khu vực công

Bàn về vai trò của khu vực công, nhà kinh tế học Jay K.Rosengrad - Đại học Harvard, trong bài giảng thuộc chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright 2005-2006, tác giả cho rằng KVC có hai vai trò chính đó là: vai trò chủ đạo và vai trò tạo điều kiện

Vai trò chủ đạo bao gồm:

- Giữ vị trí chủ đạo trong nền kinh tế: các đơn vị công là những đơn vị thuộc thành phần kinh tế Nhà nước, nắm giữ những vị trí trọng yếu trong toàn bộ nền kinh tế

Vì thế, khu vực công có khả năng chi phối hoạt động của các thành phần kinh tế khác, góp phần định hướng và phát triển kinh tế theo mục tiêu, chiến luợc đã đề ra

- Tác nhân chính cho phát triển: từ nguồn tài trợ của ngân sách Nhà nước, các đơn vị công đi đầu trong việc ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại để thực hiện các mục tiêu, chiến lược kinh tế của Nhà nước, đóng góp phần lớn cho ngân sách và tích lũy tái sản xuất mở rộng, đây chính là tác nhân chính cho sự phát triển của nền kinh tế

- Đi đầu trong hoạch định và thực hiện kế hoạch phát triển: thông tin được cung cấp từ khu vực công là cơ sở cho các quyết định liên quan đến các chương trình, chính sách quốc gia, góp phần giúp các tổ chức công quyền trong việc hoạch định và thực hiện các chiến lược quốc gia

Vai trò tạo điều kiện bao gồm:

- Vai trò xúc tác trong phát triển kinh tế: các đơn vị công là những đơn vị được ngân sách tài trợ Vì thế, các đơn vị này có khả năng đầu tư vào những lĩnh vực có vị trí quan trọng nhưng đòi hỏi vốn lớn mà thời gian thu hồi vốn lại chậm hoặc những chương trình, dự án quan trọng có tính chất bảo mật của Nhà nước Đây là lực lượng nòng cốt hình thành các trung tâm kinh tế, đô thị mới… có vai trò xúc tác trong phát triển kinh

tế, có khả năng can thiệp, điều tiết, hướng dẫn giúp đỡ và liên kết, tạo điều kiện cho các chủ thể kinh tế

- Tạo điều kiện thuận lợi và bổ trợ các đề xuất phát triển kinh tế của khu vực tư nhân và phi lợi nhuận

2.2 Tổng quan về kế toán khu vực công

2.2.1 Khái niệm kế toán công

Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): “Kế toán công là công cụ và phương tiện quản

lý tài sản, các quỹ và thực hiện các giao dịch của Chính phủ”

Trang 38

Adam (2004), định nghĩa kế toán công là “Một quá trình ghi chép, truyền thông, tổng hợp, phân tích và diễn giải Báo cáo tài chính và Báo cáo thống kê của chính phủ ở

cả hai mức độ: tổng hợp và chi tiết Kế toán công liên quan đến các vấn đề về tiếp nhận,

sử dụng, giải ngân và giải trình trách nhiệm quản lý đối với các quỹ công đã được cấp”

Theo PGS.TS PhạmVăn Đăng (2005) “Kế toán công là sự ghi nhận, xử lý và cung cấp thông tin thực hiện bằng số liệu về hoạt động tài chính của ngân sách Nhà nước, nợ Nhà nước, các quỹ tài chính Nhà nước bên cạnh ngân sách và tài sản Nhà nước; bằng hệ thống các phương pháp chứng từ, tài khoản, tính giá, tổng hợp – cân đối; dựa trên những nguyên tắc, chuẩn mực và chế độ do Nhà nước quy định”

Theo Kara (2012), kế toán khu vực công có thể được mô tả như một hệ thống thu thập, ghi nhận, phân loại và tóm tắt các giao dịch phát sinh tại KVC, theo yêu cầu về trách nhiệm giải trình và minh bạch tài chính nhằm cung cấp thông tin liên quan đến các đơn vị công cho người sử dụng

Tóm lại, qua các định nghĩa trên chúng ta có thể hiểu kế toán công như là một công cụ và phương tiện quản lý tài chính của Chính phủ, thực hiện việc thu thập, ghi nhận, phân loại, kiểm soát và cung cấp thông tin về toàn bộ tình hình và sự vận động của các nguồn tài chính Nhà nước Thông qua đó, kiểm soát các hoạt động kinh tế - tài chính, các hoạt động liên quan đến ngân sách Nhà nước, các khoản nợ, các quỹ tài chính

và hoạt động kinh tế của các đơn vị sử dụng ngân sách, giúp Nhà nước có những kiến nghị hữu hiệu trong quản lý và điều hành

2.2.1 Vai trò của kế toán công

Theo tác giả Phạm Văn Đăng và cộng sự, 2005, (trang 6-8) vai trò của kế toán công bao gồm:

- Công cụ phục vụ cho quá trình quản lý NSNN: với vai trò là một công cụ quản

lý NSNN, kế toán công cung cấp thông tin về tình hình thu, chi NSNN; các khoản vay

nợ trong và ngoài nước; các khoản chi cho hoạt động của các cơ quan Đây là nguồn thông tin không thể thiếu để thực hiện việc lập dự toán ngân sách Đồng thời, kế toán công theo dõi việc chấp hành dự toán ngân sách và chịu trách nhiệm quyết toán ngân sách Nguồn thông tin cung cấp thông qua các báo cáo từ kế toán công là dữ liệu quan trọng cho việc phân tích, đánh giá tình hình hoạt động kinh tế, tài chính của kỳ thực hiện, làm cơ sở cho việc đề ra phương hướng và kiến nghị cho hoạt động trong tương lai

- Công cụ phục vụ cho các quyết định của đơn vị sử dụng ngân sách: thực hiện việc theo dõi tình hình biến động tài sản, nguồn vốn của đơn vị sử dụng ngân sách, kế

Trang 39

toán công trở thành một công cụ quan trọng giúp cho việc điều hành của nhà quản trị trong quá trình sử dụng vốn và tài sản của Nhà nước nhằm quản lý và sử dụng có hiệu quả Thông tin từ kế toán công sẽ là cơ sở cho việc lập dự toán NSNN của các năm tiếp theo

- Công cụ để kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế - tài chính của Nhà nước: báo cáo về tình hình thu, chi NSNN, tình hình vay và trả nợ cũng như việc quản lý và sử dụng tài sản của Nhà nước được phản ánh thông qua kế toán công, bên cạnh việc làm minh bạch tình hình sử dụng ngân sách, nó còn giúp kiểm soát việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của Nhà nước qua từng giai đoạn hoạt động

- Công cụ chứng minh việc chấp hành ngân sách của đơn vị sử dụng NSNN: hệ thống kế toán công cung cấp thông tin chứng minh tình hình chấp hành ngân sách, giúp cho người dân có thể giám sát được các hoạt động của Chính phủ Qua đó, công chúng cũng thấy được trách nhiệm của mình trong việc đóng góp cho NSNN

2.3 Tổng quan về Chuẩn mực kế toán công quốc tế

2.3.1 Giới thiệu chung về Chuẩn mực kế toán công quốc tế

 Định nghĩa và lịch sử hình thành

Theo Ban IPSAS (IPSASB): “Chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSAS) là một tập hợp các chuẩn mực kế toán được sử dụng cho các tổ chức thuộc khu vực công trên toàn thế giới trong việc lập và trình bày Báo cáo tài chính Chuẩn mực kế toán công quốc tế quy định các tiêu chuẩn, phương pháp ghi nhận trên Báo cáo tài chính, đáp ứng yêu cầu về tính rõ ràng và minh bạch của thông tin tài chính”

Chuẩn mực kế toán công quốc tế được ban hành bởi Ủy ban Chuẩn mực kế toán công quốc tế IPSASB Tiền thân của tổ chức này là Ủy ban khu vực công (Public Sector Committee – PSC) trực thuộc Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) Sau khi được thành lập vào năm 1996, IPSASB tập trung vào nhu cầu lập BCTC và kế toán chính phủ các quốc gia, các vùng và các chính phủ địa phương, các cơ quan chính phủ có liên quan,

và các cử tri mà họ phục vụ (IFAC, 2003, trang 19,35) Và để đáp ứng được các nhu cầu này, IPSASB đã phát hành và thúc đẩy các hướng dẫn mang tính chất tiêu chuẩn và tạo điều kiện cho việc trao đổi thông tin giữa các kế toán viên với những cá nhân làm việc trong khu vực công hoặc hướng dẫn cho chính công việc của mình

IPSAS được ban hành là một bước đi tích cực trong việc thống nhất hệ thống CMKT trong lĩnh vực công trên toàn thế giới Hiện nay có hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ đã vận dụng, chấp nhận IPSAS vì những ưu điểm của nó trong quá trình hỗ trợ thông tin tài chính tại các quốc gia này Bên cạnh đó, ở các nước khác, dù cho hệ thống

Trang 40

kinh tế và chính trị có những điểm khác biệt như thế nào đi nữa thì các nước này vẫn đang cố gắng tạo những điều kiện để có thể hòa hợp giữa các chuẩn mực kế toán quốc gia hiện hành với hệ thống IPSAS Vì vậy, IPSAS được xem là một nhân tố hình thành mang tính khách quan và tất yếu để đánh giá được quá trình thực hiện kế toán đối với các đơn vị thuộc KVC tại các quốc gia trên thế giới Và theo thông tin cập nhật từ trang ipac.org, tính đến tháng 2/2016, có 39 chuẩn mực đã được ban hành

 Mục đích và mục tiêu của Chuẩn mực kế toán công quốc tế

IPSAS được công bố với mục đích trợ giúp cho các đơn vị trong lĩnh vực công

áp dụng, thực hiện công tác kế toán và lập BCTC nhằm nâng cao chất lượng và tính minh bạch Từ đó, cung cấp thông tin tốt hơn cho người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định

Mục tiêu cụ thể của Chuẩn mực kế toán công quốc tế:

- Cung cấp thông tin có chất lượng và các đơn vị trên thế giới có thể so sánh số liệu trên báo cáo giữa các kỳ khác nhau, các tổ chức khác nhau và thậm chí giữa các nước với nhau

- Tính minh bạch: thể hiện thông qua việc các báo cáo khác nhau trong đơn vị có thể kiểm chứng được và giúp cho người sử dụng phân tích, đánh giá dữ liệu tài chính,

số liệu kế toán để có quyết định kinh tế phù hợp hơn

- Tính thống nhất: thể hiện qua việc lập, trình bày BCTC giữa các đơn vị công,

từ đó người sử dụng có thể đưa ra các kết luận phù hợp hơn mà không phải e ngại đến

sự chênh lệch về thông tin

- Trách nhiệm giải trình: giúp các đơn vị kiểm toán nhà nước dễ dàng thực hiện công việc của mình khi kiểm toán trong các đơn vị KVC

- Tính quản trị: một quy trình quản lý khoa học và độ tin cậy cao sẽ được cung cấp bởi Chuẩn mực kế toán công quốc tế

2.3.2 Cơ sở kế toán áp dụng trong Chuẩn mực kế toán công quốc tế

Chuẩn mực kế toán công quốc tế được ban hành dựa trên CSKT tiền mặt (1 chuẩn mực) và CSKT dồn tích (38 chuẩn mực) Mục đích của việc ban hành trên CSKT dồn tích là để phù hợp với chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS, thích ứng với điều kiện của các đơn vị trong lĩnh vực công và để giải quyết các vấn đề về lập BCTC trong lĩnh vực công mà không được quy định hoặc chưa được đề cập bởi IFRS Ủy ban cũng ban hành IPSAS trên cơ sở tiền mặt cho các đơn vị kế toán công và yêu cầu các đơn vị này phải trình bày những thông tin bắt buộc hay những thông tin được khuyến khích trình bày Tuy nhiên Ủy ban luôn khuyến khích các đơn vị thực hiện việc chuyển đổi từ

Ngày đăng: 05/02/2019, 10:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm