1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Văn hóa vùng miền và việc ra quyết định trong tài chính doanh nghiệp bằng chứng thực nghiệm tại các công ty cổ phần niêm yết việt nam

149 136 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 149
Dung lượng 2,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 2.1 Tổng hợp mối tương quan giữa văn hóa vùng miền và việc ra quyết định trong tài chính doanh nghiệp của các công ty cổ phần niêm yết Việt Nam theo giả thuyết n

Trang 1

LÊ THÚY NGỌC

VĂN HÓA VÙNG MIỀN VÀ VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH TRONG TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN NIÊM YẾT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2018

Trang 2

LÊ THÚY NGỌC

VĂN HÓA VÙNG MIỀN VÀ VIỆC RA QUYẾT ĐỊNH TRONG TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP: BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN NIÊM YẾT VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VŨ VIỆT QUẢNG

TP Hồ Chí Minh – Năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan rằng toàn bộ nội dung trong luận văn này đều là nguyên bản chính của bản thân và trước đây chưa từng được trình bày trong phạm vi Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh hoặc tại bất cứ cơ sở nào khác ngoài phạm vi Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Thông tin được trích dẫn trong bài nghiên cứu này đều được tác giả ghi rõ nguồn trích dẫn chính xác và đầy đủ, hoàn toàn không có hiện tượng bóp méo hay sao chép dưới bất kỳ hình thức nào

Tp Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 11 năm 2018

Tác giả

Lê Thúy Ngọc

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

TÓM TẮT

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Lý do nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu 2

1.5 Cấu trúc bài nghiên cứu 2

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT, TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 4

2.1 Văn hóa và hành vi con người 4

2.2 Văn hóa vùng miền và hành vi giao tiếp kinh doanh ở Việt Nam 4

2.2.1 Sơ lược về văn hóa Việt Nam 4

2.2.2 Văn hóa vùng miền và hành vi giao tiếp kinh doanh ở miền Bắc 6

2.2.3 Văn hóa vùng miền và hành vi giao tiếp kinh doanh ở miền Trung 10

2.2.4 Văn hóa vùng miền và hành vi giao tiếp kinh doanh ở miền Nam 14

Trang 5

2.3 Văn hóa vùng miền và việc ra quyết định trong tài chính doanh nghiệp của

CEO các công ty cổ phần niêm yết Việt Nam 18

2.3.1 Văn hóa vùng miền và quyết định nắm giữ tiền mặt của CEO các công ty cổ phần niêm yết Việt Nam 20

2.3.2 Văn hóa vùng miền và quyết định đầu tư của CEO các công ty cổ phần niêm yết Việt Nam 27

2.3.3 Văn hóa vùng miền và quyết định phân phối cổ tức của CEO các công ty cổ phần niêm yết Việt Nam 31

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43

3.1 Mô hình nghiên cứu và đo lường các biến số trong mô hình 43

3.2 Dữ liệu và mẫu nghiên cứu 48

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 50

4.1 Thống kê mô tả 50

4.2 Ma trận tương quan 51

4.3 Phân tích kết quả hồi quy ước lượng 52

4.3.1 Mô hình (1): Mối tương quan giữa văn hóa vùng miền và quyết định nắm giữ tiền mặt 53

4.3.2 Mô hình (2): Mối tương quan giữa văn hóa vùng miền và quyết định đầu tư 59

4.3.3 Mô hình (3): Mối tương quan giữa văn hóa vùng miền và quyết định phân phối cổ tức 63

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 72

5.1 Kết luận 72

5.2 Đóng góp của đề tài nghiên cứu 74

Trang 6

5.3 Hạn chế của đề tài nghiên cứu 75 5.4 Hướng nghiên cứu tiếp theo 76 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: DANH SÁCH 236 CÔNG TY CỔ PHẦN NIÊM YẾT VIỆT NAM ĐƯỢC SỬ DỤNG LÀM MẪU NGHIÊN CỨU

PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ HỒI QUY ƯỚC LƯỢNG

Phụ lục 2.1: Kết quả hồi quy ước lượng mối tương quan giữa văn hóa vùng miền

và quyết định nắm giữ tiền mặt

Phụ lục 2.2: Kết quả hồi quy ước lượng mức độ tác động của văn hóa vùng miền đến mối quan hệ giữa dòng tiền và quyết định nắm giữ tiền mặt

Phụ lục 2.3: Kết quả hồi quy ước lượng mối tương quan giữa văn hóa vùng miền

và quyết định đầu tư

Phụ lục 2.4: Kết quả hồi quy ước lượng mức độ tác động của văn hóa vùng miền đến mối quan hệ giữa dòng tiền và quyết định đầu tư

Phụ lục 2.5: Kết quả hồi quy ước lượng mối tương quan giữa văn hóa vùng miền

và quyết định phân phối cổ tức

Phụ lục 2.6: Kết quả hồi quy ước lượng mức độ tác động của văn hóa vùng miền đến mối quan hệ giữa dòng tiền và quyết định phân phối cổ tức

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Từ viết đầy đủ bằng tiếng Anh Từ viết đầy đủ bằng tiếng Việt

CEO Chief Executive Officer Giám đốc điều hành

INV_TA Investment_Total Assets Chi tiêu vốn trên tổng tài sản

LEV Leverage Đòn bẩy

MB Market-to-book Giá trị thị trường/giá trị sổ sách

NWC Net Working Capital Vốn luân chuyển ròng

Pooled OLS Pooled Ordinary Least Squares Mô hình ước lượng bình phương

nhỏ nhất gộp

R&D Research and Development Nghiên cứu và phát triển

REM Random Effects Model Mô hình các ảnh hưởng ngẫu

nhiên

REP Repurchase Mua lại cổ phiếu

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Tổng hợp mối tương quan giữa văn hóa vùng miền và việc

ra quyết định trong tài chính doanh nghiệp của các công ty

cổ phần niêm yết Việt Nam theo giả thuyết nghiên cứu

42

Bảng 4.3 Kết quả hồi quy ước lượng mối tương quan giữa văn hóa

vùng miền và quyết định nắm giữ tiền mặt

55

Bảng 4.4 Kết quả hồi quy ước lượng mức độ tác động của văn hóa

vùng miền đến mối quan hệ giữa dòng tiền và quyết định nắm giữ tiền mặt

58

Bảng 4.5 Kết quả hồi quy ước lượng mối tương quan giữa văn hóa

vùng miền và quyết định đầu tư

60

Bảng 4.6 Kết quả hồi quy ước lượng mức độ tác động của văn hóa

vùng miền đến mối quan hệ giữa dòng tiền và quyết định đầu tư

62

Bảng 4.7 Kết quả hồi quy ước lượng mối tương quan giữa văn hóa

vùng miền và quyết định phân phối cổ tức dưới hình thức chi trả cổ tức bằng mua lại cổ phiếu

64

Bảng 4.8 Kết quả hồi quy ước lượng mối tương quan giữa văn hóa

vùng miền và quyết định phân phối cổ tức dưới hình thức chi trả cổ tức bằng tiền mặt

66

Bảng 4.9 Kết quả hồi quy ước lượng mức độ tác động của văn hóa

vùng miền đến mối quan hệ giữa dòng tiền và quyết định phân phối cổ tức dưới hình thức chi trả cổ tức bằng mua lại

cổ phiếu

68

Bảng 4.10 Kết quả hồi quy ước lượng mức độ tác động của văn hóa

vùng miền đến mối quan hệ giữa dòng tiền và quyết định phân phối cổ tức dưới hình thức chi trả cổ tức bằng tiền mặt

70

Bảng 4.11 So sánh giả thuyết nghiên cứu và kết quả nghiên cứu về mối

tương quan giữa văn hóa vùng miền và việc ra quyết định trong tài chính doanh nghiệp của các công ty cổ phần niêm yết Việt Nam

71

Trang 9

TÓM TẮT

Bài nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích tìm hiểu về mối quan hệ giữa văn hóa vùng miền và việc ra quyết định trong tài chính doanh nghiệp của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, điển hình là quyết định nắm giữ tiền mặt, quyết định đầu tư và quyết định phân phối cổ tức Tác giả tiến hành hồi quy dữ liệu bảng của 236 công ty cổ phần phi tài chính niêm yết trên Sở Giao Dịch Chứng Khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao Dịch Chứng Khoán Hà Nội (HNX) trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2017 với tổng cộng 1.888 quan sát, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng văn hóa vùng miền có tác động đến quyết định nắm giữ tiền mặt của CEO các công ty cổ phần niêm yết Việt Nam, cụ thể là công ty cổ phần có CEO xuất thân từ miền Bắc sẽ có khuynh hướng nắm giữ tiền mặt ít hơn so với công ty

cổ phần có CEO xuất thân từ hai vùng miền còn lại, công ty cổ phần có CEO xuất thân

từ miền Trung sẽ có khuynh hướng nắm giữ tiền mặt nhiều hơn so với công ty cổ phần

có CEO xuất thân từ hai vùng miền còn lại và cuối cùng, công ty cổ phần có CEO xuất thân từ miền Nam sẽ có khuynh hướng nắm giữ tiền mặt nhiều hơn so với công ty cổ phần có CEO xuất thân từ miền Bắc nhưng ít hơn so với công ty cổ phần có CEO xuất thân từ miền Trung

Từ khóa: Văn hóa vùng miền, quyết định nắm giữ tiền mặt, quyết định đầu tư, quyết

định phân phối cổ tức, Việt Nam

Trang 10

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

Chương 1 sẽ giúp người đọc có được cái nhìn sơ bộ về đề tài nghiên cứu mà tác giả sẽ phân tích trong xuyên suốt bài luận văn này thông qua lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu thực hiện đề tài, mô tả sơ lược về đối tượng và phạm vi nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu được vận dụng

1.1 Lý do nghiên cứu

Không thể phủ nhận rằng đứng sau thành công của mỗi doanh nghiệp luôn mang dấu

ấn của Giám đốc điều hành (Chief Executive Officer – CEO) Có thể nói, CEO là vị thuyền trưởng có vai trò tiên quyết trong việc đưa ra các quyết định mang tính chiến lược tạo nên thành công hay thất bại cho con tàu doanh nghiệp, các quyết định quan trọng có thể kể đến trong công tác quản trị doanh nghiệp như quyết định nắm giữ tiền mặt, quyết định đầu tư và quyết định phân phối cổ tức Tuy nhiên, dưới góc nhìn khác cho thấy văn hóa vùng miền có tác động rất lớn đến các quyết định quan trọng này của CEO các công ty Cụ thể là, nếu các CEO của các doanh nghiệp xuất thân từ các địa phương vùng miền khác nhau thì các quyết định như nắm giữ tiền mặt, đầu tư và phân phối cổ tức cũng có thể sẽ khác nhau vì văn hóa vùng miền là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành tính cách và hành vi của mỗi cá nhân Việc hiểu rõ mối quan hệ này sẽ giúp chúng ta đưa ra được cái nhìn tổng quan về quyết định nắm giữ tiền mặt, quyết định đầu tư cũng như quyết định phân phối cổ tức của các công ty hoạt động tại một quốc gia có nền văn hóa phong phú và đa dạng trên tất cả các khía cạnh

như Việt Nam Vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu “Văn hóa vùng miền và việc ra quyết định trong tài chính doanh nghiệp: Bằng chứng thực nghiệm tại các công ty cổ phần niêm yết Việt Nam” nhằm mục đích tìm ra câu trả lời cho nghi vấn

liệu có thể dùng văn hóa vùng miền làm yếu tố giải thích cho sự khác nhau trong việc

ra quyết định trong tài chính doanh nghiệp của CEO các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam hay không

Trang 11

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu này nhằm tìm hiểu về mối quan hệ giữa văn hóa vùng miền và việc ra quyết định trong tài chính doanh nghiệp của các công ty cổ phần niêm yết Việt Nam, điển hình là quyết định nắm giữ tiền mặt, quyết định đầu tư và quyết định phân phối cổ tức

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Tác giả tiến hành kiểm định hồi quy sử dụng dữ liệu bảng của 236 công ty cổ phần niêm yết trên Sở Giao Dịch Chứng Khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao Dịch Chứng Khoán Hà Nội (HNX) trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2017, với tổng cộng 1.888 quan sát Tất cả dữ liệu được sử dụng trong bài nghiên cứu đều được thu thập và tập hợp từ các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên và bản cáo bạch được công khai rộng rãi trên trang dữ liệu chứng khoán tài chính www.vietstock.vn và www.cafef.vn Mẫu nghiên cứu chỉ tập trung vào các công ty phi tài chính, không bao gồm các công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính, chẳng hạn như, ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư, v.v…

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Bài nghiên cứu vận dụng phương pháp định lượng và thực hiện mô hình hồi quy dữ liệu bảng nhằm đo lường mức độ tác động của đặc điểm nguồn gốc xuất thân của CEO đến quyết định nắm giữ tiền mặt, quyết định đầu tư và quyết định phân phối cổ tức của các công ty cổ phần phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trên

cơ sở lược khảo lý thuyết cũng như các nghiên cứu liên quan, thu thập các số liệu cần thiết từ báo cáo tài chính, báo cáo thường niên và bản cáo bạch của các công ty cổ phần niêm yết làm dữ liệu đầu vào cho mô hình nghiên cứu và tiến hành hồi quy đa biến thông qua phần mềm kinh tế lượng Stata

1.5 Cấu trúc bài nghiên cứu

Trang 12

Kết cấu bài nghiên cứu bao gồm năm chương như sau: chương một sẽ trình bày sơ lược

về đề tài nghiên cứu; nội dung chương hai đề cập đến cơ sở lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm trước đây và từ đó, phát triển các giả thuyết nghiên cứu; tiếp theo, chương

ba sẽ là phần mô tả phương pháp, mô hình nghiên cứu và cách đo lường các biến số trong mô hình cùng với dữ liệu nghiên cứu và mẫu nghiên cứu; nội dung về việc kiểm định tác động của văn hóa vùng miền đến việc ra quyết định trong tài chính doanh nghiệp sẽ được trình bày trong chương bốn; và cuối cùng là chương năm bao hàm nội dung tổng kết lại những vấn đề được nêu ra trong bốn chương trước

Trang 13

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT, TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN

CỨU TRƯỚC ĐÂY VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Ở Chương 2 này, tác giả sẽ đưa ra phần tổng quan cơ sở lý thuyết về văn hóa vùng miền và các quyết định trong tài chính doanh nghiệp cũng như các kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước đây nhằm mục tiêu giúp người đọc trang bị được kiến thức mang tính lý thuyết lẫn thực tiễn về mối quan hệ giữa văn hóa vùng miền và các quyết định như quyết định nắm giữ tiền mặt, quyết định đầu tư, quyết định phân phối cổ tức, và cuối cùng, tác giả sẽ xây dựng giả thuyết nghiên cứu được kế thừa từ các kết quả nghiên cứu thực nghiệm này Nội dung Chương 2 cũng là tiền đề cho hai chương tiếp theo trình bày về phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu

2.1 Văn hóa và hành vi con người

Văn hóa là toàn bộ giá trị, tiêu chuẩn, tín ngưỡng và giả định chi phối quan điểm và hành vi của các cá nhân Cụ thể là, văn hóa làm cho quan điểm và hành vi của các cá nhân có đặc điểm tương tự và đồng thời cho phép tạo ra sự khác biệt giữa các cá nhân

Ở điểm này, khái niệm về văn hóa quốc gia trở nên quan trọng Văn hóa quốc gia có thể được định nghĩa là toàn bộ các tiêu chuẩn hành vi, tín ngưỡng truyền thống và giá trị có ảnh hưởng mang tính xác định đối với phần lớn các cá nhân sinh sống tại một quốc gia nhất định (Çetenak và cộng sự, 2017)

2.2 Văn hóa vùng miền và hành vi giao tiếp kinh doanh ở Việt Nam

2.2.1 Sơ lược về văn hóa Việt Nam

Theo Nguyen và Truong (2016), kể từ thế kỷ II trước công nguyên, Việt Nam đã chịu

sự thống trị và chi phối của các triều đại phong kiến Trung Quốc trong hơn một nghìn năm Điều này lý giải vì sao văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều bởi hệ tư tưởng

và tín ngưỡng Trung Quốc Trong nguồn gốc văn hóa Trung Quốc, triết học Khổng Tử được lan rộng tại Việt Nam dưới thời nhà Hán (từ năm 110 trước công nguyên đến năm

Trang 14

220 sau công nguyên) có thể được xem là yếu tố tác động mạnh mẽ nhất đến giá trị văn hóa Việt Nam (Kelley, 2006) Hơn nữa, trong lịch sử Việt Nam, bên cạnh sự thống trị của các triều đại Trung Quốc, sẽ thật thiếu sót khi không đề cập đến khoảng thời gian một thế kỷ Việt Nam bị thực dân Pháp xâm lược (1858 – 1954) và ba mươi năm bị đế quốc Mỹ xâm lược miền Nam Các cuộc xâm lược này đã góp phần làm pha trộn thêm nhiều đặc trưng phương Tây vào giá trị văn hóa Việt Nam Về hệ thống văn hóa của Hofstede, đặc điểm văn hóa Việt Nam được mô tả như sau:

Chủ nghĩa tập thể: Theo Hofstede, với điểm số thấp trên thang điểm 20 dành cho khía

cạnh chủ nghĩa cá nhân, Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tinh thần chủ nghĩa tập thể tương đối cao (Hofstede, 2001) Đánh giá của Hofstede phù hợp với kết quả nghiên cứu do Ralston và cộng sự (1999) tiến hành Kết quả nghiên cứu này cho thấy rằng các nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam có tinh thần chủ nghĩa tập thể cao hơn đáng kể so với các nhà quản trị Trung Quốc và Mỹ Ngoài ra, người Việt Nam cũng có xu hướng làm việc hòa thuận, có lối suy nghĩ tập thể, ưa thích hoạt động tập thể hơn và đưa ra quyết định mang lại lợi ích cho cả tập thể thay vì mục tiêu cá nhân (Nguyen và Mujtaba, 2011)

Khoảng cách quyền lực: Trong khía cạnh văn hóa này, Hofstede tin rằng nền văn hóa

Việt Nam tồn tại khoảng cách quyền lực rất lớn (Sower và Sower, 2005) Có thể chứng kiến mô hình chung của hệ thống ra quyết định tập trung tại nhiều doanh nghiệp Việt Nam và hầu hết các quyết định kinh doanh quan trọng đều do các nhà lãnh đạo cấp cao

và các nhà quản trị cấp cao đưa ra (Napier, 2006) Nhiều người lao động Việt Nam quen thuộc với việc tuân theo mệnh lệnh của cấp trên mà không hề có sự chất vấn hoặc tranh luận nào Ngoài ra, cả nhà quản trị và cấp dưới đều chấp nhận khoản chênh lệch lớn về mức lương giữa người lao động và nhà quản trị trong doanh nghiệp của họ

Thái độ né tránh rủi ro: Việt Nam nhận được số điểm trung bình về chỉ số thái độ né

tránh rủi ro (Sower và Sower, 2005) Điều này có nghĩa là đôi khi người Việt Nam kể

Trang 15

cả các nhà quản trị doanh nghiệp trong nước có thể bị đe dọa bởi các tình huống mơ

hồ, vì vậy, họ thường cố gắng né tránh các trường hợp không chắc chắn này bằng cách xây dựng một số quy tắc chính thống và kế hoạch hoạt động chi tiết nhằm đề phòng biến cố có thể xảy ra Họ có mức e ngại rủi ro nhất định, trì hoãn việc ra quyết định tạm thời khi cảm thấy không chắc chắn và có xu hướng bác bỏ các ý kiến hoặc hành vi không có tiền lệ (Duong và Swierczek, 2008) Tuy nhiên, trong cuộc sống hàng ngày, người Việt Nam khá linh hoạt và dễ dàng thích nghi với tình huống thực tế, thỉnh thoảng họ tin rằng mọi việc xảy ra đều do số phận an bài

Tính chất nam tính: Vị trí, tình trạng và giai cấp xã hội đều đóng vai trò quan trọng

trong xã hội Việt Nam Bên cạnh đó, do ảnh hưởng của Khổng giáo đến nền văn hóa quốc gia, người Việt Nam có xu hướng chú trọng đến địa vị của nam giới trong nhiều khía cạnh đời sống Mặc dù trong những thập kỷ gần đây bất bình đẳng giới đã dần được xóa bỏ trong thế hệ trẻ người Việt Nam, nhưng vẫn tồn tại sự phân biệt về vai trò

và vị trí của người phụ nữ trong xã hội (Knodel và cộng sự, 2004) Trong nhiều doanh nghiệp Việt Nam, các vị trí chủ chốt trong ban điều hành phần lớn đều do nam giới nắm giữ và khoản chênh lệch về mức lương và phúc lợi giữa hai giới vẫn được ngầm chấp nhận giữa những người lao động với nhau

Định hướng dài hạn: Trong khía cạnh văn hóa thứ năm, Việt Nam được xếp vào một

trong những xã hội có định hướng dài hạn Tuy nhiên, với điểm số dành cho Việt Nam

ở khía cạnh này là 57 được xem là thấp hơn nhiều so với các nền văn hóa khác cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi Khổng giáo bao gồm Trung Quốc là 80, Đài Loan là 93, Hàn Quốc là 100 và Nhật Bản là 88 Người Việt Nam “có xu hướng tiết kiệm và đầu

tư, tính tằn tiện, tính kiên nhẫn trong việc đạt được kết quả và mối quan tâm hơn cả đó

là đức hạnh” (Sower và Sower, 2005)

2.2.2 Văn hóa vùng miền và hành vi giao tiếp kinh doanh ở miền Bắc

Trang 16

Theo Trần Ngọc Thêm (1996), McLeod và cộng sự (2001), Ngô Đức Thịnh (2003) và Trần Quốc Vượng (2006), Bắc Bộ là nơi ghi dấu ấn lịch sử lâu đời nhất của đại dân tộc Việt Vùng đất này được xem là quê hương, là nguồn cội của con người Việt Nam, là xuất phát điểm của ba nền văn hóa cổ xưa nổi tiếng như văn hóa Đông Sơn, văn hóa Đại Việt và văn hóa Việt Nam, tiêu biểu là trung tâm Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội Đây cũng được xem là cái nôi ban đầu tiếp nhận các yếu tố văn hóa mới hình thành nên vùng văn hóa Trung Bộ và vùng văn hóa Nam Bộ

Với lịch sử nghìn năm văn hiến, Bắc Bộ chính là trung tâm đời sống văn hóa, chính trị

và xã hội của đất nước, từ đó, mọi khía cạnh trong đời sống vật chất và tinh thần của người dân nơi đây luôn mang đậm những nét truyền thống văn hóa lâu đời Nét truyền thống quý báu ấy tạo nên nét đẹp rất đặc trưng của cư dân miền Bắc nhưng lại trở thành chướng ngại vật ngăn cản con đường phát triển của chính họ

Vị trí địa lý cùng hoàn cảnh lịch sử này đã tạo cho con người Bắc Bộ một lối ứng xử hài hòa sao cho vừa tiếp nhận những ảnh hưởng giao lưu văn hóa vừa lưu giữ những truyền thống lâu đời, từ đó, hình thành nên những bản sắc văn hóa cũng như những tính cách rất đặc trưng

Tính cách thứ nhất là tính căn cơ: Bắc Bộ quanh năm có nhiệt độ tương đối cao và ẩm,

khí hậu ở đây mang tính chất lục địa chịu ảnh hưởng từ lục địa Trung Hoa chuyển qua Trong khi đó, khí hậu ở một phần khu vực Duyên hải lại mang tính chất cận nhiệt đới

ẩm chịu ảnh hưởng từ đất liền Vùng đất này có hai mùa rõ rệt, đó là mùa đông rét căm

và mùa hạ nắng nóng cùng với sự tàn phá nặng nề của thiên tai như lũ lụt, hạn hán, v.v… gây ra tình trạng mùa màng thất bát Chính vì thế, người dân miền Bắc phải căn

cơ và tiết kiệm để phòng tránh tình cảnh đói rét có thể xảy ra trong tương lai

Tính cách thứ hai là tính sĩ diện: Đây là vùng đất của những người mang đậm cốt cách

kẻ sĩ, quan trọng vẻ bề ngoài, phong cách ăn mặc và phong cách lễ nghĩa Tâm lý sĩ diện trong đời sống người miền Bắc dẫn đến tính khoa trương, trọng hình thức Người

Trang 17

dân Bắc Bộ tuy có bản tính căn cơ, tiết kiệm nhưng đôi lúc lại hoang phí vì những lý

do bất hợp lý như khoe khoang, tỏ vẻ hơn người, sĩ diện Họ xem trọng những thứ tao nhã về tri thức và tinh thần nên học thức cũng là một trong những cái “kiêu ngầm” của

kẻ sĩ

Tính cách thứ ba là tính bảo thủ: So với hai vùng văn hóa còn lại là Trung Bộ và Nam

Bộ thì vùng văn hóa Bắc Bộ gần sát với Trung Quốc hơn nên cũng chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ từ nền văn hóa của quốc gia láng giềng này, điển hình là Khổng giáo, vì thế,

tư tưởng của người miền Bắc đến nay vẫn còn nặng tinh thần của trường phái này, đó chính là trọng nam khinh nữ, trọng quân thần khinh dân đen, trọng lễ nghi hình thức, gia trưởng và bảo thủ

Tính cách thứ tư là tính cộng đồng: Tuân theo nguyên tắc truyền thống và chuẩn mực

chung, hành vi ứng xử của người Bắc Bộ cũng mang những nét đặc trưng của xã hội Việt Nam có bề dày lịch sử phong kiến lâu đời, đó là đề cao tính cộng đồng Tính cộng đồng ấy biểu hiện rõ rệt từ cộng đồng về lãnh thổ, đó là các thành viên trong làng cùng

sở hữu chung đất đai, áp dụng chế độ ruộng đất công, chẳng hạn như, vào mỗi định kỳ, ruộng công sẽ được phân chia cho từng thành viên trong làng, còn người nhận ruộng có nghĩa vụ đóng góp sức lao động và của cải, v.v… Ngoài ra, tính cộng đồng còn được thể hiện trong hoạt động tổ chức lao động sản xuất, chẳng hạn như, xây dựng các công trình thủy lợi, công trình đường bộ, hệ thống cống rãnh, lao động dưới hình thức vần công, đổi công, v.v…

Với tư cách là cội nguồn hình thành dân tộc Việt, văn hóa vùng Bắc Bộ vừa có những nét đặc trưng của văn hóa Việt Nam vừa có những nét riêng của vùng này, chính vì vậy, hành vi ứng xử của người dân nơi đây cũng không giống với người miền Trung và người miền Nam do bởi hành vi giao tiếp trong đời sống sinh hoạt và đời sống sản xuất kinh doanh phụ thuộc rất nhiều vào nền tảng văn hóa Từ đó, hành vi giao tiếp trong cuộc sống và trong kinh doanh của người Bắc Bộ cũng tồn tại nhiều điểm khác biệt so

Trang 18

với hành vi giao tiếp trong cuộc sống và trong kinh doanh của người Trung Bộ và người Nam Bộ Từ sự đúc rút của Trần Ngọc Thêm (1996), McLeod và cộng sự (2001), Ngô Đức Thịnh (2003) và Trần Quốc Vượng (2006) về tính cách người Bắc Bộ kết hợp với những kiến thức học thuật về hành vi giao tiếp, tâm lý giao tiếp cũng như

kỹ năng giao tiếp và thương lượng trong kinh doanh của Chu Văn Đức (2005), Meyer

và cộng sự (2006), Phan Thanh Lâm (2008), Thái Trí Dũng (2009) và Đoàn Thị Hồng Vân (2011), hành vi giao tiếp trong kinh doanh của người miền Bắc được mô tả như sau:

Tính căn cơ: Bề dày văn hóa lịch sử lâu đời đã vô hình chung tạo cho con người Bắc

Bộ định kiến bất di bất dịch rằng những người làm nghề phục vụ là những người hạ lưu

và thấp hèn Định kiến ấy cũng góp phần làm cho sự phát triển của ngành dịch vụ tại khu vực này bị hạn chế với văn hóa phục vụ khách hàng còn rất yếu kém

Tính sĩ diện: Người miền Bắc vốn rất xem trọng thể diện và chú trọng đến vẻ bề ngoài

Họ luôn muốn chứng tỏ bản thân mình vượt trội hơn so với những người khác Chính

vì thế, khi tham gia vào bất kỳ lĩnh vực nào, chẳng hạn như, đầu tư, kinh doanh, họ cũng luôn hướng đến việc giữ gìn hình ảnh tốt đẹp trước công chúng Mỗi khi đưa ra quyết định liên quan đến vận mệnh công ty, họ đều cân nhắc rất kỹ lưỡng để không ảnh hưởng đến hình ảnh công ty đã xây dựng

Tính bảo thủ: Việc thuyết phục người dân Bắc Bộ chấp nhận cái mới là rất khó khăn

do bởi tính cách bảo thủ của họ Nếu xét về góc độ doanh nghiệp đến từ khu vực khác thì họ cần phải tìm tòi và sáng tạo sao cho sản phẩm của mình có thể chinh phục được người dân nơi đây, có thể khiến họ thay thế sản phẩm quen thuộc bằng sản phẩm mới của mình Nhưng lại nghịch lý ở chỗ, họ rất thích những gì gọi là khác biệt Nên nếu doanh nghiệp nắm bắt được tâm lý này thì việc tiêu thụ sản phẩm mới ở thị trường miền Bắc sẽ không trở nên quá khó khăn Còn nếu xét về góc độ doanh nghiệp miền Bắc thì với tính cách cố hữu này họ sẽ cảm thấy e ngại với các dự án hay các lĩnh vực

Trang 19

mang tính mới lạ và mạo hiểm vốn luôn tồn tại sự không chắc chắn mặc dù nếu thành công họ có thể đạt được lợi nhuận rất cao

Tính cộng đồng: Đối với người miền Bắc, mối quan hệ rất quan trọng Tất cả các vấn

đề phát sinh đều được giải quyết bằng mối quan hệ quen biết giữa những người liên quan và dĩ nhiên, kinh doanh không phải là trường hợp ngoại lệ Nếu đã thiết lập được mối quan hệ tâm giao tốt đẹp và vững chắc thì công việc kinh doanh sẽ thuận lợi hơn Nói chung, khi tham gia vào hoạt động kinh doanh ở khu vực miền Bắc, một trong những điều kiện tiên quyết mà doanh nghiệp cần lưu ý đến là xây dựng mối quan hệ thân thiết với những người có liên quan đến lĩnh vực mà mình sẽ tham gia hoạt động

2.2.3 Văn hóa vùng miền và hành vi giao tiếp kinh doanh ở miền Trung

Theo Trần Ngọc Thêm (1996), McLeod và cộng sự (2001), Ngô Đức Thịnh (2003) và Trần Quốc Vượng (2006), so sánh với vùng văn hóa Bắc Bộ – địa bàn tụ cư cùng với lịch sử khai thác lâu đời của dân tộc Việt và vùng văn hóa Nam Bộ – vùng đất mới với những sắc thái văn hóa tiêu biểu và riêng biệt, thì vùng văn hóa Trung Bộ thể hiện rõ nét là một vùng đệm mang tính trung gian Vùng chịu sự chi phối của các yếu tố tự nhiên khác nhau như đồng bằng, sông ngòi, biển cả và núi non Các yếu tố này đã góp phần tạo nên các thành tố văn hóa vùng bộc lộ rõ qua các loại hình văn hóa, phong tục tập quán nói chung và đời sống sinh hoạt của cộng đồng làng xã và đồng bằng ven biển nói riêng

Điều kiện tự nhiên quanh năm khắc nghiệt và không được thuận lợi nên tính chất văn hóa vùng miền cũng vì thế mà chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ Mặc dù vùng văn hóa Trung Bộ sở hữu những nét riêng biệt so với hai vùng văn hóa còn lại, nhưng cũng thuộc về hệ thống địa lý thống nhất cùng với mối quan hệ tương quan với các vùng miền trong suốt chiều dài lịch sử đất nước nên vẫn tồn tại song song hai đặc tính, đó là vừa đặc trưng vừa tương đồng với nền văn hóa chính thể

Trang 20

Chính những đặc điểm tự nhiên ấy đã tạo nên một nền văn hóa độc đáo riêng nhưng vẫn đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam Và cũng chính hoàn cảnh ấy đã tạo nên tính cách riêng của con người Trung Bộ

Tính cách thứ nhất là tính cần cù, chịu thương, chịu khó: Có lẽ chính sự nghèo khó và

sự khắc nghiệt đã biến người miền Trung trở thành những con người cần cù, chịu thương, chịu khó Họ lấy sức mạnh ý chí để chống lại cái khắc nghiệt của thiên nhiên

Họ ý thức được cái nghèo của bản thân nên họ rất chịu khó Đằng sau những tai ương, những bạc bẽo ấy là những ngày bình yên của những con người mang theo vẻ đẹp của tinh thần hăng say lao động tạo ra của cải vật chất cống hiến cho đời

Tính cách thứ hai là tính tiết kiệm: Miền Trung không được thiên nhiên ưu ái ban tặng

cho nguồn tài nguyên phong phú hoặc khí hậu thuận lợi Những gì vùng đất này nhận được chỉ là những dãy núi cao quanh co hiểm trở và những dòng sông sóng nước cuồn cuộn cùng thời tiết khắc nghiệt, mùa đông lạnh lẽo, mùa hạ nắng nóng, rồi đến những trận thiên tai lũ lụt, hạn hán phá hoại biết bao vụ mùa Có thể thấy rằng, để sinh tồn, mỗi ngày người dân Trung Bộ phải vật lộn và chống chọi với thiên nhiên gian khổ như thế nào, và chính vì lẽ đó, đã tạo nên trong họ tính cách chịu đựng gian khó và tiết kiệm vì nếu không dành dụm, chắt chiu thì khi lũ lụt hay hạn hán kéo đến bất ngờ, họ biết xoay sở thế nào? Bởi thế, ăn chắc mặc bền là hành vi ứng xử với hoàn cảnh thiên nhiên không lấy gì gọi là dễ chịu của người dân vùng này

Tính cách thứ ba là tinh thần hiếu học: Người Trung Bộ luôn nghĩ đến tương lai, điều

họ mong muốn là thời tiết thuận lợi, mùa màng bội thu để thoát khỏi nghịch cảnh nghèo đói Nhưng thay vì mỗi ngày phải cầu xin cho mưa thuận gió hòa, họ lại thấm nhuần tư tưởng phải “đổi đời” bằng con đường học vấn, đây là con đường duy nhất để chấm dứt cái nghèo khổ đeo đẵng dai dẳng từ ngày này sang ngày khác Họ cho rằng

họ phải nỗ lực học hành thành đạt thì trong tương lai họ mới có thể tránh khỏi sự trừng phạt khắc nghiệt của thiên nhiên và thoát khỏi cảnh cơ hàn khốn khó Vì vậy, tinh thần

Trang 21

hiếu học được xem là một trong những đức tính cao quý nhất của con người miền

Trung

Tính cách thứ tư là tinh thần đoàn kết: Một trong những giá trị cốt lõi trong đời sống

người miền Trung là tình cảm gia đình và tình cảm làng xóm Chính sự đói nghèo đã tạo cho người dân Trung Bộ tinh thần đoàn kết rất cao trong công cuộc chung tay chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt Trong họ, ý thức tương thân tương ái, nhường cơm sẻ áo, yêu thương đùm bọc luôn hiện hữu Họ thấm nhuần được đạo lý rằng trước điều kiện tự nhiên như thế, nếu họ không chung sức đồng lòng thì sẽ khó tồn tại Tinh thần đoàn kết không chỉ giúp họ chia sẻ công việc với nhau, giúp đỡ nhau trong những lúc khó khăn, hoạn nạn mà còn cùng nhau chống lại sự trừng phạt của thiên nhiên mà

họ phải oằn mình gánh chịu

Vốn là vùng đất có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, người miền Trung quanh năm phải đối mặt với gió sương, từ đó hình thành nên hành vi ứng xử rất khác biệt so với người miền Bắc và người miền Nam Hành vi giao tiếp trong đời sống sinh hoạt và đời sống sản xuất kinh doanh phụ thuộc rất nhiều vào nền tảng văn hóa Và cũng chính bởi sự khác biệt về văn hóa ấy mà hành vi giao tiếp trong cuộc sống và trong kinh doanh của người Trung Bộ cũng tồn tại nhiều điểm khác biệt so với hành vi giao tiếp trong cuộc sống và trong kinh doanh của người Bắc Bộ và người Nam Bộ Từ sự đúc rút của Trần Ngọc Thêm (1996), McLeod và cộng sự (2001), Ngô Đức Thịnh (2003) và Trần Quốc Vượng (2006) về tính cách người Trung Bộ kết hợp với những kiến thức học thuật về hành vi giao tiếp, tâm lý giao tiếp cũng như kỹ năng giao tiếp và thương lượng trong kinh doanh của Chu Văn Đức (2005), Meyer và cộng sự (2006), Phan Thanh Lâm (2008), Thái Trí Dũng (2009) và Đoàn Thị Hồng Vân (2011), hành vi giao tiếp trong kinh doanh của người miền Trung được mô tả như sau:

Tính cần cù, chịu thương, chịu khó: Nói đến người miền Trung, không thể không nhắc

đến tính cách rất nổi bật, đó là chịu thương, chịu khó Mặc dù luôn phải sống trong

Trang 22

điều kiện tự nhiên bất lợi nhưng người dân nơi đây vẫn kiên nhẫn, chăm chỉ và cần cù tạo ra của cải làm giàu cho bản thân và cống hiến cho đời

Tính tiết kiệm: Lẽ đương nhiên, sẽ rất khó khăn khi tạo ra của cải từ điều kiện khắc

nghiệt như thế, do vậy, họ rất quý trọng sức lao động và của cải vật chất tạo ra cũng như đề cao tinh thần tiết kiệm Nếu như trong lao động, họ luôn cần mẫn và kiên trì thì trong sản xuất, họ luôn dựa vào kinh nghiệm lâu đời do người xưa lưu truyền lại Về mặt này, họ lại khá giống với người miền Bắc ở chỗ bảo thủ, ngại thay đổi và luôn làm theo truyền thống Họ sống theo phương châm ăn chắc mặc bền, sống đơn giản, sử dụng những thứ do bản thân tự làm ra và hiếm khi tiêu xài vào những món hàng xa xỉ Chính vì thế, doanh nghiệp từ các khu vực khác muốn giới thiệu sản phẩm mới với người dân Trung Bộ thì họ cần xây dựng chiến lược hiệu quả trong việc thuyết phục người dân trải nghiệm với sản phẩm mang tính khác biệt so với sản phẩm thân quen từ trước đến nay, còn đối với doanh nghiệp miền Trung, cũng thật khó khăn khi thuyết phục họ đầu tư vốn vào các dự án mơ hồ không chắc chắn Họ luôn lo tích cóp, phòng

bị và kỹ tính trong kinh doanh

Tinh thần hiếu học: Điểm nổi bật của những nhà đầu tư người miền Trung là thận

trọng, không “lướt sóng” và ham học hỏi Ông Tôn Thất Viên – Trưởng đại diện đại lý nhận lệnh Chứng khoán An Bình ở Đà Nẵng đưa ra nhận xét rằng: “Bản chất của người miền Trung là cẩn trọng, xem xét thấu đáo khi làm ăn nên phản ánh rõ nét qua đầu tư chứng khoán, ít có nhà đầu tư “lướt sóng” để thắng nhanh – bại nhiều mà thường rải đều các cổ phiếu ở nhiều ngành nghề chắc chắn Do vậy, họ “được” không nhiều và mất thì cũng ít” Ông còn nhận định thêm rằng: “Đặc điểm của người chơi cổ phiếu ở miền Trung là tính ham học hỏi, tìm hiểu và “săn” thông tin, phần lớn những người đầu

tư cổ phiếu đều đã trang bị kiến thức từ sách vở, trên mạng, báo chí nên rất ít người cần đến tư vấn”

Trang 23

Tinh thần đoàn kết: Người Trung Bộ luôn đề cao tinh thần chủ nghĩa tập thể và tinh

thần đoàn kết Trong suy nghĩ của người miền Trung, lợi ích tập thể luôn được đặt lên trên lợi ích cá nhân Có thể nói, tinh thần chủ nghĩa tập thể là nét văn hóa truyền thống

từ trước đến nay của người Việt Nam Nhưng ở người dân Trung Bộ đặc điểm văn hóa này được thể hiện rất rõ, đặc biệt là trong các doanh nghiệp, văn hóa phục tùng của cấp dưới đối với cấp trên luôn tồn tại Cấp dưới luôn tuân theo mệnh lệnh và chỉ đạo của cấp trên và không bao giờ đưa ra bất cứ sự phàn nàn nào Họ sống thiên về tình cảm, kính trọng người cao tuổi và người có địa vị Đối với họ tình cảm giữa người với người luôn là mối quan tâm hàng đầu, bởi thế, mọi vấn đề họ đều giải quyết dựa trên mối quan hệ tình cảm, lấy đạo hiếu, uy tín và lễ nghĩa làm gốc Trái ngược hoàn toàn với người miền Bắc, xem trọng thể diện kèm theo sự tế nhị và khéo léo, người miền Trung cũng xem trọng thể diện nhưng lại thẳng thắn và luôn bộc lộ rõ những suy nghĩ của bản thân, họ bộc trực và dứt khoát Bởi cá tính ấy nên ngành dịch vụ nơi đây cũng không giống với những khu vực khác Họ không xem thường những người làm trong lĩnh vực dịch vụ nhưng họ lại không thích sự mời mọc và chèo kéo như người Bắc Bộ và người Nam Bộ Phong cách dịch vụ nào càng đon đả và nhiệt thành, họ lại càng tránh xa

2.2.4 Văn hóa vùng miền và hành vi giao tiếp kinh doanh ở miền Nam

Theo Trần Ngọc Thêm (1996), McLeod và cộng sự (2001), Ngô Đức Thịnh (2003) và Trần Quốc Vượng (2006), so với sự phát triển liên tục theo chiều dài lịch sử của vùng văn hóa Bắc Bộ và vùng văn hóa Trung Bộ, thì vùng văn hóa Nam Bộ lại tồn tại sự đứt đoạn trong quá trình phát triển lịch sử của chính mình do bởi sự biến mất của nền văn hóa Óc Eo vào cuối thế kỷ XIII Một nền văn hóa mới với hành trang mang theo là những tinh hoa được đúc kết từ hàng nghìn năm của đại dân tộc đã góp phần tạo nên những sắc thái riêng biệt và tiêu biểu cho hệ giá trị văn hóa Nam Bộ

Một vùng đất giàu sức trẻ vừa lạ lẫm vừa thu hút từ vị thế địa chính trị đến vị thế địa văn hóa, Nam Bộ đã từng bước trở thành trung tâm giao lưu văn hóa kết hợp giữa

Trang 24

truyền thống văn hóa của vùng đất cũ và điều kiện tự nhiên, lịch sử của vùng đất mới

Vì thế, hệ giá trị văn hóa Nam Bộ vừa có nét giống lại vừa có nét khác so với nền văn hóa nguồn cội của Việt Nam tạo nên phong cách văn hóa riêng biệt và đặc trưng Khi đề cập đến sắc thái riêng của vùng đất Nam Bộ, thì không thể không nhắc đến tính cách Nam Bộ Chính bởi cấu trúc mở của vùng đất mới nên ngoài những đặc tính, cốt cách của người Việt Nam, người miền Nam lại có những tính cách khác biệt so với người miền Bắc và người miền Trung

Tính cách thứ nhất là tính vô tư và ít lo nghĩ xa: Nam Bộ vừa là vựa lúa chính của cả

nước vừa là vựa trái cây nổi tiếng với đầy đủ chủng loại hoa quả miền nhiệt đới được phân bố rộng khắp các địa phương, bởi thế, nghề gốc của người dân miền Nam là làm ruộng Thiên nhiên trù phú cùng hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, bưng biền ngập nước mênh mông được xem là nơi sinh sản lý tưởng của muôn loài như cá, tôm, chim chóc, v.v… Vùng đất này còn là nơi tập trung nguồn sản vật giàu có nuôi sống con người, chẳng hạn như, lúa mọc tự nhiên trong vùng nước ngập, thủy hải sản dưới sông rạch, thú vật trong rừng rậm, v.v… nên hầu như người Nam Bộ không bao giờ bị rơi vào hoàn cảnh thiếu đói cùng với điều kiện tự nhiên dễ chịu, không có hiện tượng

lũ lụt, hạn hán, mất mùa Chính vì vậy, người dân hoàn toàn không phải lo nghĩ xa

“phòng cơ, tích cốc” ở vùng đất “làm chơi ăn thật” này

Tính cách thứ hai là tính rộng rãi và chịu chơi: Nhờ vào sự ưu ái của thiên nhiên với

hai mùa mưa nắng cùng khí hậu dễ chịu tạo điều kiện thuận lợi cho việc làm ăn và sinh sống, họ còn nổi bật ở tính cách phóng khoáng và cởi mở Tuy cuộc sống mưu sinh có phần suôn sẻ và dễ dàng như thế nhưng người Nam Bộ vẫn giữ nếp cần cù và xem trọng tính cộng đồng Điển hình là, họ vẫn sống hòa hợp, tôn trọng tín ngưỡng cũng như phong tục tập quán riêng của các dân tộc khác như Kinh, Hoa, Chăm, Khmer, v.v… Người Nam Bộ thích kết thân bạn bè cùng nhau nhậu nhẹt say sưa xả láng, nhưng trong họ luôn có những nỗi buồn man mác, có thể thấy trong các cuộc vui của

Trang 25

họ luôn có những câu vọng cổ ngẫu hứng chất chứa nhiều nỗi niềm Đó là hai mặt tâm

lý tồn tại song song trong tâm khảm con người Nam Bộ Họ là những người dễ chấp nhận và hướng về cái mới, chỉ cần nhận thấy có đem lại lợi ích và hiệu quả là chấp nhận

Tính cách thứ ba là lòng hiếu khách: Không chỉ là vùng đất “hào sảng”, Nam Bộ còn

nổi tiếng về sự phóng khoáng và lòng hiếu khách của con người Có lẽ vì là những người con xa xứ, xa nguồn cội, ở nơi đất khách quê người này họ không có nhiều người thân thích, vì vậy, họ luôn luôn thấu hiểu và thông cảm cho nhau vì “mọi người đều cùng chung số phận” Một câu nói rất quen thuộc của người dân Nam Bộ nói về tấm lòng luôn sống cho nhau, cho bạn bè, cho những người xung quanh, đó là “bán bà con xa mua láng giềng gần” Họ rất mến khách, họ đối xử với những người khách bằng

cả tấm lòng chân phương, không tính toán thiệt hơn Người miền Nam hào hiệp, phóng khoáng, sẵn sàng mời khách tá túc tại nhà và đãi khách như người bà con xa lâu ngày mới về Khách đến thăm viếng sẽ có cảm giác như được trở về quê nhà bởi thái độ cởi

mở, chan hòa và dễ kết thân của người dân nơi đây

Tính cách thứ tư là tính xem trọng khí tiết và tấm lòng: Có lẽ do sự thừa hưởng tính

cách của thế hệ cha ông xưa kia đến vùng đất này khai thiên lập địa Người Nam Bộ đánh giá cao những con người có khí chất bản lĩnh, dám từ bỏ quê hương đến những vùng đất mới tha phương cầu thực Họ là những người xem trọng nghĩa tình, xởi lởi, trong đó chữ “nghĩa” còn quan trọng hơn cả chữ “tình”, trọng nghĩa khí, coi khinh tiền tài, danh vọng, không mang cốt cách kẻ sĩ, không đặt nặng vấn đề môn đăng hộ đối Để làm trọn đạo nghĩa, họ có thể sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của bản thân mình bởi trong họ luôn tâm niệm rằng “Nếu thấy việc nghĩa mà không ra tay làm thì không phải

là anh hùng”

Văn hóa vùng đất mới hình thành nên hành vi ứng xử của con người miền Nam mang những đặc thù rất khác biệt so với hai vùng miền còn lại của Việt Nam, trong khi đó,

Trang 26

hành vi giao tiếp trong đời sống sinh hoạt và đời sống sản xuất kinh doanh lại phụ thuộc rất nhiều vào nền tảng văn hóa Và cũng chính bởi sự khác biệt về văn hóa ấy mà hành vi giao tiếp trong cuộc sống và trong kinh doanh của người Nam Bộ luôn luôn tồn tại sự khác biệt so với hành vi giao tiếp trong cuộc sống và trong kinh doanh của người Bắc Bộ và người Trung Bộ Từ sự đúc rút của Trần Ngọc Thêm (1996), McLeod và cộng sự (2001), Ngô Đức Thịnh (2003) và Trần Quốc Vượng (2006) về tính cách người Nam Bộ kết hợp với những kiến thức học thuật về hành vi giao tiếp, tâm lý giao tiếp cũng như kỹ năng giao tiếp và thương lượng trong kinh doanh của Chu Văn Đức (2005), Meyer và cộng sự (2006), Phan Thanh Lâm (2008), Thái Trí Dũng (2009) và Đoàn Thị Hồng Vân (2011), hành vi giao tiếp trong kinh doanh của người miền Nam được mô tả như sau:

Tính vô tư và ít lo nghĩ xa: Điều này được thể hiện rất rõ ở những người doanh nhân có

nguồn gốc xuất thân từ miền Nam Đối với họ những dự án nào càng có khả năng sinh lợi cao, họ càng muốn đầu tư vào bất kể mức độ không chắc chắn của chúng bởi vốn dĩ tính cách người miền Nam là liều lĩnh và mạo hiểm Rủi ro không phải là yếu tố làm chùn bước những người doanh nhân này, tìm tòi và khám phá mới là yếu tố họ quan tâm nhiều nhất Điều này hoàn toàn trái ngược với tính cách e ngại rủi ro và ngại thay đổi của người miền Bắc và người miền Trung

Tính rộng rãi và chịu chơi: Miền Nam là vùng đất thông thoáng với những con người

cởi mở và dễ chấp nhận cái mới Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho ngành dịch vụ phát triển cũng như doanh nghiệp cũng không gặp quá nhiều khó khăn khi muốn cho ra mắt sản phẩm mới tại đây

Lòng hiếu khách: Trước khi bước vào cuộc đàm phán về thương vụ làm ăn kinh doanh,

người Nam Bộ luôn bắt đầu cuộc trò chuyện xã giao để xây dựng mối quan hệ bằng hữu bởi lẽ đối với họ tình bạn bè thân tình và sự thỏa hiệp trên tinh thần thân thiện là điều kiện tiên quyết trong kinh doanh Mối quan hệ đó có thể được thiết lập qua các

Trang 27

buổi chiêu đãi khách, vốn được xem là một trong những nét văn hóa doanh nghiệp cố hữu từ trước đến nay của người miền Nam

Tính xem trọng khí tiết và tấm lòng: Doanh nhân miền Nam rất nổi tiếng ở lĩnh vực

làm từ thiện, ngoài mục đích tạo hình ảnh đẹp trong công chúng về công ty, thì điều này còn xuất phát từ bản tính dễ thương người và giàu tình cảm vốn được thể hiện rất

rõ nét ở người dân nơi đây Bên cạnh đó, một trong những phẩm chất cao quý được người dân Nam Bộ đánh giá cao đó là lòng trung thành Lòng trung thành ở đây không chỉ là sự gắn bó lâu dài với công ty mà còn được thể hiện ở sự chấp hành nội quy công

ty và sự tôn trọng của cấp dưới dành cho cấp trên và dành cho người có thâm niên làm việc lâu năm trong công ty Người miền Nam đánh giá cao tinh thần chủ nghĩa tập thể

và tinh thần đoàn kết, quyết định của cấp trên là quyết định cuối cùng sau khi đã tham khảo ý kiến đóng góp của cấp dưới Quyết định của cấp trên thể hiện sự chung sức đồng lòng của cả tập thể công ty Sự đồng tâm hiệp lực được xem là giá trị cốt lõi mà mỗi công ty cần duy trì để tạo nên sức mạnh của cả công ty Ngoài ra, trong vấn đề kinh doanh bất kể đó là thương vụ làm ăn lớn hay nhỏ như thế nào đi nữa thì uy tín của đối tác và sự sòng phẳng đôi bên đều có lợi vẫn luôn là một trong những điều kiện tiên quyết dẫn đến quyết định hợp tác trong kinh doanh của người Nam Bộ

2.3 Văn hóa vùng miền và việc ra quyết định trong tài chính doanh nghiệp của CEO các công ty cổ phần niêm yết Việt Nam

Liên quan đến ảnh hưởng của yếu tố văn hóa đến việc ra quyết định trong tài chính doanh nghiệp, Çetenak và cộng sự (2017) cho biết rằng một số bài nghiên cứu về lý thuyết quản trị, tài chính và kế toán đều phát hiện ra tầm quan trọng của yếu tố văn hóa trong việc ra quyết định (Jaggi và Low, 2000; Kurtz, 2003; Griffin và cộng sự, 2009; Nolder và Riley, 2013; Rehbein, 2014) Các bài nghiên cứu này cho thấy rằng yếu tố văn hóa có thể diễn giải được môi trường thể chế, pháp lý và kinh tế của một quốc gia

ở cấp độ vĩ mô, mà có thể ảnh hưởng đến các quyết định doanh nghiệp (Mihet, 2013)

Trang 28

Quá trình ra quyết định phụ thuộc vào bản sắc văn hóa và lựa chọn “đúng đắn” – các quá trình ra quyết định phụ thuộc vào các giá trị và tín ngưỡng của những người tham gia vào quá trình ra quyết định (Podrug, 2011) Cách thức và nguyên nhân ra quyết định của những người đến từ các nền văn hóa khác nhau thì sẽ khác nhau (Yates và Oliveria, 2016) Về mặt này, có thể nói rằng các chính sách và quy trình của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi môi trường văn hóa của đất nước họ vì văn hóa quốc gia có tác động đến quan điểm và lựa chọn của nhà quản trị và nhà đầu tư (Chen và cộng sự, 2015)

Cần phải có sự hiểu biết về các nền văn hóa khác nhau, giá trị văn hóa khác nhau và tác động của chúng đến các loại hình tổ chức được hình thành và các hành vi biểu hiện trong đó Một môi trường văn hóa khác biệt đòi hỏi phải có hành vi quản trị khác biệt (Podrug, 2011) Văn hóa quốc gia có thể lý giải được một vài quyết định doanh nghiệp Chẳng hạn như, các quyết định tài chính khác nhau của nhà điều hành cho thấy sự khác biệt giữa các xã hội đều xuất phát từ sự khác biệt về văn hóa (Mihet, 2013) Cụ thể là, văn hóa ảnh hưởng đến nhận thức của người ra quyết định vốn có liên quan đến các quyết định về chi phí và gánh chịu rủi ro trong kinh doanh (Chang và Noorbakhsh, 2009) Griffin và cộng sự (2009) cho thấy rằng các nhà quản trị đến từ các nền tảng văn hóa khác nhau sẽ có mức độ ưu tiên khác nhau về gánh chịu rủi ro và vì vậy, các doanh nghiệp hoạt động tại các quốc gia khác nhau sẽ có mức gánh chịu rủi ro khác nhau Văn hóa ảnh hưởng đến mức gánh chịu rủi ro của doanh nghiệp thông qua tác động đến việc ra quyết định quản trị và cả thông qua tác động đến thể chế chính thức của một quốc gia (Li và cộng sự, 2013) Ngoài ra, văn hóa có thể dẫn dắt các nhà quản trị xây dựng cùng chiến lược đầu tư hoặc các nhà đầu tư thiết lập cùng mức độ ưu tiên tài chính tại cùng một quốc gia (Chang và Lin, 2015) Văn hóa hình thành nên hành vi ứng xử của con người và là yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa các thành viên trong một nhóm hoặc tạo nên sự khác biệt giữa nhóm này với nhóm khác Khía cạnh khoảng cách quyền lực có tác động đến tất cả các quyết định tài chính, ngoại trừ cấu trúc vốn Khía

Trang 29

cạnh chủ nghĩa cá nhân cũng có ảnh hưởng đến mọi quyết định tài chính, ngoại trừ chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D) Khía cạnh thái độ né tránh rủi ro có tác động đến tất cả các quyết định tài chính, ngoại trừ kế toán dồn tích có thể điều chỉnh được, đây là chỉ báo cho quyết định điều chỉnh thu nhập của doanh nghiệp và có thể được xem là đầu mối điều chỉnh thu nhập Khía cạnh tính chất nam tính chỉ ảnh hưởng đến cấu trúc vốn và mức vốn luân chuyển (Çetenak và cộng sự, 2017)

2.3.1 Văn hóa vùng miền và quyết định nắm giữ tiền mặt của CEO các công ty cổ phần niêm yết Việt Nam

 Cơ sở lý thuyết

Theo Martínez-Sola và cộng sự (2013), nắm giữ tiền mặt mang đến cho doanh nghiệp một số lợi ích Thứ nhất, đối với động cơ phòng ngừa, các doanh nghiệp vẫn duy trì được tính thanh khoản nhằm đáp ứng cho các trường hợp khẩn cấp ngoài dự kiến, vì vậy, các doanh nghiệp nắm giữ tiền mặt để bảo vệ chính mình trước tình trạng thiếu hụt tiền mặt, từ đó, góp phần làm giảm thiểu độ bất ổn của dòng tiền Đối với động cơ giao dịch, các doanh nghiệp cần có tính thanh khoản để trang trải chi phí hiện hành (Keynes, 1936) Cuối cùng là, tiền mặt có thể giúp đề phòng phát sinh chi phí đầu tư dưới mức Nguồn vốn nội bộ giúp cho các doanh nghiệp có thể thực hiện các dự án đầu

tư có sinh lợi mà không làm tăng nguồn vốn huy động từ bên ngoài có chi phí giao dịch cao Đối với các cổ đông thì sự hiện hữu của các lợi ích này làm cho việc nắm giữ tiền mặt trở nên có giá trị Tuy nhiên, việc nắm giữ tài sản có thanh khoản lại tạo ra cơ hội phí Hơn nữa, tính thanh khoản của doanh nghiệp có thể làm phát sinh vấn đề liên quan đến đại diện giữa nhà quản trị và cổ đông Dòng tiền tự do có thể dẫn đến tình trạng nhà quản trị tùy ý đưa ra quyết định mâu thuẫn với lợi ích của cổ đông (Jensen, 1986) Ngoài ra, theo Basil Al-Najjar (2013), nắm giữ tiền mặt dựa trên một số cơ sở lý thuyết như sau:

- Lý thuyết đánh đổi

Trang 30

Lý thuyết đánh đổi đưa ra tranh luận rằng các doanh nghiệp tối đa hóa giá trị công ty bằng cách xem xét chi phí biên và lợi nhuận biên của việc nắm giữ tiền mặt Theo giả định rằng nhà quản trị nhắm đến mục tiêu là tối đa hóa của cải cổ đông, việc nắm giữ tiền mặt sẽ gánh chịu “chi phí lưu trữ” Chi phí này có liên quan đến khoản chênh lệch giữa lợi nhuận từ việc nắm giữ tiền mặt và tiền lãi mà các doanh nghiệp sẽ chi trả khi huy động thêm tiền mặt (Dittmar và cộng sự, 2003) Lợi ích của việc nắm giữ tiền mặt chủ yếu dựa trên hai động cơ: động cơ tối thiểu hóa giao dịch và động cơ phòng ngừa Liên quan đến động cơ tối thiểu hóa giao dịch, có ý kiến cho rằng các doanh nghiệp lưu trữ tiền mặt khi chi phí tăng lên và cơ hội phí (liên quan đến thiếu hụt tiền mặt) cao hơn (Tobin, 1956; Miller và cộng sự, 1966; Dittmar và cộng sự, 2003) Căn cứ vào tác động của thông tin bất cân xứng về việc huy động nguồn vốn, động cơ phòng ngừa cho thấy rằng mặc dù các doanh nghiệp có thể huy động nguồn vốn từ thị trường vốn, nhưng họ có thể không sẵn lòng làm như vậy vì các vấn đề thị trường (chẳng hạn như, nếu thị trường đang định giá thấp thì chứng khoán sẽ được phát hành) Ozkan và Ozkan (2004) tranh luận thêm rằng các doanh nghiệp gia tăng lượng tiền mặt nhằm tập trung thêm nguồn lực tài chính vào các khoản đầu tư khi chi phí huy động nguồn vốn

từ bên ngoài rõ ràng là cao Opler và cộng sự (1999) khẳng định rằng lượng tiền mặt đạt mức tối ưu là lẽ thường khi chi phí biên của việc thiếu hụt tiền mặt trùng khớp với chi phí biên của việc nắm giữ tiền mặt Ferreira và Vilela (2004) đã biện luận rằng nắm giữ tiền mặt là nhằm làm giảm thiểu xác suất kiệt quệ tài chính do phát sinh tổn thất ngoài dự kiến Các doanh nghiệp lưu trữ lượng tiền mặt khi họ đang ở vị thế tốt hơn trong việc tập trung các nguồn lực này vào các kế hoạch đầu tư, mặc dù thật khó để huy động được nguồn vốn So với thị trường phát triển, thì các bất hoàn hảo thị trường trở nên bất lợi hơn trong thị trường mới nổi cũng như chi phí liên quan đến phá sản cũng đáng kể trong các thị trường này và vì vậy, lý thuyết đánh đổi có thể diễn giải cho các quyết định nắm giữ tiền mặt trong các thị trường này Chẳng hạn như, kết quả

Trang 31

nghiên cứu của Booth và cộng sự (2001) và Al-Najjar (2011) đã ủng hộ cho tranh luận này trong bối cảnh thị trường mới nổi

Có nhiều yếu tố đại diện khác nhau, đóng vai trò là các yếu tố tài chính ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt, được các nghiên cứu thực nghiệm vận dụng nhằm phản ánh lý thuyết này Chẳng hạn như, Opler và cộng sự (1999), Ozkan và Ozkan (2004), sau đó

là Al-Najjar và Belghitar (2011) đã tiến hành khảo sát thực nghiệm lý thuyết đánh đổi

từ viễn cảnh tiền mặt bằng cách sử dụng đòn bẩy, chính sách cổ tức, quy mô công ty, rủi ro, tính thanh khoản của tài sản Với cùng đặc điểm, nhưng sử dụng dữ liệu EMU, Ferreira và Vilela (2004) cũng sử dụng tính thanh khoản, đòn bẩy, tốc độ tăng trưởng

và quy mô công ty nhằm kiểm tra thực nghiệm lý thuyết này

- Lý thuyết trật tự phân hạng

Lý thuyết này cho rằng doanh nghiệp không có lượng tiền mặt nắm giữ tối ưu Căn cứ vào thông tin bất cân xứng, Myers (1984) và Myers và Majluf (1984) đưa ra ý kiến rằng các doanh nghiệp tuân theo trật tự phân hạng khi đưa ra quyết định tài trợ nhằm tối thiểu hóa các chi phí liên quan đến bất cân xứng thông tin Trật tự này bắt đầu bằng các nguồn lực nội bộ và các doanh nghiệp sẽ sử dụng các nguồn lực từ bên ngoài, sau khi các nguồn lực nội bộ đã cạn kiệt Myers (1984) có đề xuất rằng các doanh nghiệp thiên về huy động nguồn vốn từ bên ngoài bằng nợ vay nhiều hơn so với phát hành cổ phiếu vì nợ vay có chi phí thông tin thấp hơn so với chi phí phát hành cổ phiếu Tiền mặt có thể được xem là kết quả của các quyết định tài trợ và quyết định đầu tư khác nhau theo đề xuất từ mô hình phân cấp tài trợ (Dittmar và cộng sự, 2003), Ferreira và Vilela (2004) khẳng định rằng có thể sử dụng tiền mặt tài trợ cho các quyết định đầu tư

để trả nợ và tiếp theo đó là lưu trữ tiền mặt Dittmar và cộng sự (2003) cũng phát hiện

ra rằng các doanh nghiệp có dòng tiền cao là các dòng tiền dùng để phân phối cổ tức, trả nợ và do lưu trữ tiền mặt Căn cứ vào lý thuyết trước đó, chúng ta đưa ra tranh luận

Trang 32

rằng bất cân xứng thông tin cũng quan trọng và có thể bất lợi hơn tại các nước đang phát triển (Booth và cộng sự, 2001; Al-Najjar, 2011)

Các yếu tố tài chính khác nhau, đóng vai trò là yếu tố ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt, được các nghiên cứu thực nghiệm vận dụng nhằm phản ánh lý thuyết này Ferreira

và Vilela (2004) sử dụng quy mô công ty và dòng tiền để tiến hành phân tích thực nghiệm lý thuyết này Gần đây, Al-Najjar và Belghitar (2011) sử dụng đòn bẩy và khả năng sinh lợi làm các biến tài chính ảnh hưởng đến quyết định nắm giữ tiền mặt

 Văn hóa vùng miền và quyết định nắm giữ tiền mặt của CEO các công ty cổ phần niêm yết Việt Nam

Liên quan đến ảnh hưởng của yếu tố văn hóa đến quyết định nắm giữ tiền mặt, Chen và cộng sự (2015) đã tiến hành nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn hóa quốc gia và việc nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp trên toàn thế giới Nhóm tác giả này khảo sát

về mối tương quan giữa chủ nghĩa cá nhân, thái độ né tránh rủi ro và việc nắm giữ tiền mặt Họ tìm hiểu được rằng theo Hofstede (2001), chủ nghĩa cá nhân nói đến mức độ con người có xu hướng tự nhận thức và tự trọng độc lập hơn là phụ thuộc lẫn nhau Nền văn hóa thiên về chủ nghĩa cá nhân thường nhấn mạnh sự tự do cá nhân, trong khi

đó nền văn hóa không thiên về chủ nghĩa cá nhân thường nhấn mạnh sự liên kết nhóm mạnh mẽ (Griffin và cộng sự, 2009) Trong nền văn hóa thiên về chủ nghĩa cá nhân, nhận dạng của một người là chính bản thân (DeMooij và Hofstede, 2010), con người

có ý thức về “cái tôi” và nhận thấy nhu cầu tự thể hiện bản thân là quan trọng Trong nền văn hóa thiên về chủ nghĩa tập thể, con người có ý thức về “chúng ta” và nhận thấy việc tránh né sự mất thể diện là quan trọng Hơn nữa, nhận dạng của họ căn cứ vào hệ thống xã hội mà họ thuộc về Những người sống trong nền văn hóa thiên về chủ nghĩa

cá nhân thường tập trung nhiều hơn vào việc khả năng của bản thân khác biệt với những người khác như thế nào và vì thế, họ thể hiện sự tự tin thái quá và sự lệch lạc tự quy kết

Trang 33

Markus và Kitayama (1991) và Heine và cộng sự (1999) đưa ra tranh luận rằng những người sống trong nền văn hóa thiên về chủ nghĩa cá nhân thật sự có xu hướng đánh giá quá cao khả năng của bản thân và họ có xu hướng lạc quan quá mức về độ chính xác trong dự đoán của mình (Van Den Steen, 2004) Lý thuyết về tâm lý học mô tả những người mà hành động như thể họ có nhiều khả năng hơn những gì họ vốn có gọi là tự tin thái quá (Yates, 1990; Trivers, 1991; Campell và cộng sự, 2004) Ngược lại, những người đến từ nền văn hóa thiên về chủ nghĩa tập thể thường thể hiện sự tự kiểm soát cao hơn, vốn làm giảm bớt đáng kể sự thiên lệch bởi nhận thức phát sinh từ sự tự tin quá mức (Biais và cộng sự, 2005) Thiên lệch bởi sự tự tin thái quá gắn liền với nền văn hóa thiên về chủ nghĩa cá nhân tương tự với lý thuyết về tài chính hành vi

Ngoài ra, Markus và Kitayama (1991) và Kagitcibasi (1997) đưa ra ý kiến rằng xu hướng gìn giữ và đề cao lòng tự trọng trong nền văn hóa thiên về chủ nghĩa cá nhân dẫn đến sự lệch lạc tự quy kết lan rộng cũng như sự tự tin quá mức Một số bài nghiên cứu khác chỉ ra rằng nền văn hóa phương Tây có sự lệch lạc tự quy kết cao hơn so với nền văn hóa phương Đông vì nền văn hóa phương Tây có tinh thần chủ nghĩa cá nhân cao hơn, trong khi đó nền văn hóa phương Đông có tinh thần chủ nghĩa tập thể cao hơn (Fry và Ghosh, 1980; Chandler và cộng sự, 1981; Kashima và Triandis, 1986) Theo

đó, Chen và cộng sự (2015) đã thu được kết quả thực nghiệm khi tiến hành nghiên cứu

về mối quan hệ giữa chủ nghĩa cá nhân và nắm giữ tiền mặt, đó là các doanh nghiệp tại các quốc gia có nền văn hóa thiên về chủ nghĩa cá nhân sẽ nắm giữ ít tiền mặt hơn so với các doanh nghiệp tại các quốc gia có nền văn hóa thiên về chủ nghĩa tập thể Hofstede (2001) phát biểu rằng khía cạnh thái độ né tránh rủi ro đo lường phạm vi một nền văn hóa “lập trình” cho các cá thể trong xã hội cảm thấy hoặc là bất tiện hoặc là thuận tiện trong các tình huống không có khuôn khổ, được định nghĩa là mới lạ, chưa biết, bất ngờ hoặc khác thường Thuật ngữ “né tránh rủi ro” được giới thiệu bởi Cyert

và Marsh (1963), nhóm tác giả này phát biểu rằng những người thiên về nền văn hóa

Trang 34

né tránh rủi ro thường chú trọng đến những phản ứng trong ngắn hạn trước thông tin tức thì hơn là dự đoán sự không chắc chắn trong dài hạn và những người đó thường giải quyết vấn đề cấp bách hơn là triển khai chiến lược dài hạn Ngược lại, những người thiên về nền văn hóa không né tránh rủi ro thì có ngưỡng chịu đựng sự không chắc chắn ở mức cao

Hofstede (2001) đưa ra thêm bằng chứng rằng những người sống trong nền văn hóa ít thiên về né tránh rủi ro thường ít biểu hiện sự cấp bách trong các tình huống mơ hồ, bất ngờ hoặc không có khuôn khổ, trong khi đó những người sống trong nền văn hóa thiên

về né tránh rủi ro nhiều thường cảm thấy lo lắng nhiều hơn trong những tình huống này

và vì vậy, họ có xu hướng hành động kịp thời nhằm giảm thiểu mức độ nghi ngờ Đơn giản là, các nền văn hóa thiên về né tránh rủi ro nhiều thường tránh các tình huống mơ

hồ và ưa thích quy tắc ứng xử rõ ràng hơn, nhưng ngược lại, các nền văn hóa ít thiên về

né tránh rủi ro thường yêu thích các trường hợp mới lạ và sự khác biệt về giá trị (Griffin và cộng sự, 2009) Né tránh rủi ro cũng liên quan đến sự ưu tiên, chẳng hạn như, quy tắc, tính ổn định, tính đồng nhất và đặc biệt là liên quan chặt chẽ đến đặc điểm tâm lý được thảo luận nhiều trong kinh tế tài chính hành vi như chủ nghĩa bảo thủ

và e ngại rủi ro Một điểm quan trọng cần được làm rõ đó là né tránh rủi ro không giống với e ngại rủi ro như Hofstede (1980) đã chỉ ra Chỉ có gần đây, một vài bằng chứng đã được đưa ra minh họa về mối quan hệ giữa né tránh rủi ro và e ngại rủi ro (Rieger và cộng sự, 2014) Rieger và cộng sự (2014) chứng minh rằng quan điểm về rủi ro không chỉ phụ thuộc vào điều kiện kinh tế mà còn phụ thuộc vào yếu tố văn hóa, bao gồm chủ nghĩa cá nhân và né tránh rủi ro, tùy theo đặc trưng hành vi, mức e ngại rủi ro khi có lợi nhuận và mức yêu thích rủi ro khi bị thua lỗ, theo lý thuyết triển vọng Breuer và cộng sự (2014) cho thấy rằng tiền mặt được định giá ít thuận lợi hơn bởi các nhà đầu tư không thích sự mơ hồ của các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính Họ lưu ý rằng mức e ngại sự mơ hồ chỉ liên quan đến lượng tiền mặt nắm giữ của các doanh

Trang 35

nghiệp bị hạn chế tài chính, họ đề xuất các nhà quản trị không chỉ ý thức về sự ưa thích của nhà đầu tư mà còn phục vụ cho nhu cầu đó

Thái độ né tránh rủi ro gây ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt thông qua các kênh nào? Leland (1968) cho thấy rằng nhu cầu tiết kiệm để phòng ngừa, thay vì tiêu dùng,

là hàm dương của sự không chắc chắn Nghĩa là, mức tiết kiệm thêm trở nên nhiều hơn

vì thu nhập tương lai trở nên không chắc chắn hơn về giá trị kỳ vọng Hơn nữa, không chỉ chính sự không chắc chắn có thể ảnh hưởng đến mức tiết kiệm, mà ngưỡng chịu đựng sự không chắc chắn cũng có tác động đến nhu cầu tiền mặt của cá nhân Van Asselt và Vos (2006) phát biểu rằng nguyên tắc phòng ngừa được xem là “công cụ bù đắp” trong trường hợp có thể né tránh sự không chắc chắn Nói cách khác, các cá nhân

có khả năng chịu đựng kém hơn thì có thể thực hiện hành vi phòng ngừa nhiều hơn Thước đo cơ bản của thái độ né tránh rủi ro là ngưỡng chịu đựng sự không chắc chắn (sự mơ hồ) của cá nhân, mà trong các trường hợp giống nhau sẽ làm cho một vài cá nhân cảm thấy khẩn cấp hành động hơn so với những người khác Nghĩa là, các cá nhân sống trong nền văn hóa thiên về né tránh rủi ro nhiều sẽ cảm thấy lo lắng hơn về

sự không chắc chắn trong tương lai và kết quả là, hành động cẩn trọng hơn so với các

cá nhân sống trong nền văn hóa ít thiên về né tránh rủi ro, mặc dù mức độ không chắc chắn trên thực tế có thể giống nhau Chẳng hạn như, Li và Zahra (2012) phát biểu rằng các nhà quản trị không e ngại rủi ro thường cảm thấy thoải mái với sự việc không thể

dự đoán và sự mơ hồ vốn có trong các dự án đổi mới, trong khi đó các nhà quản trị e ngại rủi ro thường cảm thấy lo lắng khi xuất hiện sự không chắc chắn và vì vậy, sẽ tránh né các dự án đổi mới hoặc đòi hỏi tỷ suất chiết khấu cao hơn Li và cộng sự (2013) kỳ vọng rằng thái độ né tránh rủi ro có mối quan hệ ngược chiều với mức độ gánh chịu rủi ro của doanh nghiệp Theo nội dung thảo luận trên, Chen và cộng sự (2015) kỳ vọng rằng các cá nhân né tránh rủi ro sẽ vận dụng nguyên tắc phòng ngừa (nhu cầu tiền mặt nhiều hơn khi đưa ra quyết định tài chính) làm công cụ bù đắp khi

Trang 36

gánh chịu sự mơ hồ Bằng chứng thực nghiệm về tầm quan trọng của động cơ tiết kiệm phòng ngừa được thu thập bởi Bates và cộng sự (2009) và Duchin (2010)

Theo đó, Chen và cộng sự (2015) đã thu được kết quả thực nghiệm khi tiến hành nghiên cứu về mối quan hệ giữa thái độ né tránh rủi ro và nắm giữ tiền mặt, đó là các doanh nghiệp tại các quốc gia có nền văn hóa thiên về né tránh rủi ro nhiều sẽ nắm giữ nhiều tiền mặt hơn so với các doanh nghiệp tại các quốc gia có nền văn hóa ít thiên về

Theo đó, nhóm tác giả này đã dựa trên nhiều cơ sở lý thuyết để giải thích cho các hành

vi đầu tư thiên lệch của các doanh nghiệp như sau:

- Lý thuyết đại diện

Lý thuyết này cho rằng động cơ quản trị, chẳng hạn như, xây dựng quyền lực, xây dựng quyền lực cá nhân, chủ nghĩa ngắn hạn có thể dẫn đến tình trạng đầu tư quá mức hoặc đầu tư dưới mức (chẳng hạn như, Gale và Hellwig, 1958; Narayanan, 1985; Jensen, 1986; Shleifer và Vishny, 1989) Động cơ xuất phát từ lợi ích cá nhân của các

Trang 37

nhà quản trị có ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư thông qua cơ chế tuân thủ Thứ nhất, lý thuyết xây dựng quyền lực đưa ra tranh luận rằng các nhà quản trị có khẩu vị quá mức khi điều hành các doanh nghiệp có quy mô lớn, trái ngược với các doanh nghiệp sinh lợi đơn giản và điều này dẫn đến tình trạng đầu tư quá mức (Jensen và Meckling, 1986) Thứ hai, lý thuyết quan tâm đến sự nghiệp và danh tiếng có ngụ ý rằng các nhà quản trị có động lực để đẩy mạnh hiệu quả trong ngắn hạn ở mức chi phí của giá trị cổ đông trong dài hạn (Narayanan, 1985), dẫn đến tình trạng đầu tư quá mức hoặc đầu tư dưới mức Vì vậy, cổ đông có động lực mạnh mẽ để xây dựng hàng loạt cơ chế quản trị doanh nghiệp, chẳng hạn như, cơ chế kiểm toán, cơ chế xử phạt và cơ chế đãi ngộ nhằm ngăn cản hành vi tư lợi của nhà quản trị

- Lý thuyết bất cân xứng thông tin

Lý thuyết này cho rằng bất cân xứng thông tin giữa cổ đông và nhà quản trị có thể làm phát sinh hiện tượng đầu tư quá mức hoặc đầu tư dưới mức Chẳng hạn như, các nhà quản trị sẽ không đầu tư vào các dự án vô hình có NPV dương, dẫn đến tình trạng đầu

tư dưới mức, ngược lại, các nhà quản trị có xu hướng đầu tư lớn vào các dự án hữu hình, dẫn đến tình trạng đầu tư quá mức (chẳng hạn như, Stein, 1989; Loughran và Ritter, 1997; Lai và cộng sự, 2014) Trong các trường hợp khác, hành vi tài trợ của các doanh nghiệp có thể bị ảnh hưởng bởi bất cân xứng thông tin, mà có thể dẫn đến tình trạng đầu tư quá mức hoặc đầu tư dưới mức (Myers và Majluf, 1984; Lang và cộng sự, 1996)

- Lý thuyết quá tự tin

Lý thuyết này cho rằng các nhà quản trị quá tự tin tin rằng tất cả các dự án đầu tư của

họ đều sẽ thành công, vì thế, họ có xu hướng đầu tư lớn và rốt cuộc, dẫn đến đầu tư quá mức (chẳng hạn như, Roll, 1986; Malmendier và Tate, 2005; Brown và Sarma, 2006)

- Lý thuyết về hành vi bầy đàn

Trang 38

Lý thuyết này cho rằng các nhà quản trị sẽ đi theo số đông và đầu tư bừa bãi, làm phát sinh tình trạng đầu tư quá mức hoặc đầu tư dưới mức Theo phân loại của trường phái tài chính hành vi, có hai hình thức hành vi bầy đàn như sau: 1 Hình thức bầy đàn không hợp lý là hình thức các nhà đầu tư trở nên mù quáng trong việc ra quyết định tương tự như những nhà đầu tư khác mà bỏ qua việc xem xét đến niềm tin của bản thân mình; 2 Hình thức bầy đàn hợp lý là hình thức các nhà đầu tư bắt chước trong việc ra quyết định tương tự như những nhà đầu tư khác mà bỏ qua việc xem xét đến thông tin

do bản thân mình tiếp nhận chỉ vì một vài thông tin hoặc một số nguyên nhân nào đó (được xem là thông tin hay nguyên nhân hợp lý) nhằm mục đích né tránh hoặc giảm thiểu rủi ro phát sinh từ hành động không giống với những nhà đầu tư còn lại trên thị trường (Scharfstein và Stein, 1990)

 Văn hóa vùng miền và quyết định đầu tư của CEO các công ty cổ phần niêm yết Việt Nam

Liên quan đến ảnh hưởng của yếu tố văn hóa đến quyết định đầu tư, Shao và cộng sự (2013) cho thấy rằng các doanh nghiệp tại các quốc gia theo đuổi chủ nghĩa cá nhân thường đầu tư vào tài sản rủi ro dài hạn nhiều hơn là đầu tư vào tài sản phi rủi ro ngắn hạn Hơn nữa, tác động của chủ nghĩa cá nhân đến đầu tư dài hạn xoay quanh khoản mục R&D: các doanh nghiệp tại các quốc gia theo đuổi chủ nghĩa cá nhân đầu tư nhiều vào các dự án R&D nhưng lại ít đầu tư vào tài sản hữu hình Nhóm tác giả này còn phát hiện ra rằng các doanh nghiệp tại các nước theo đuổi chủ nghĩa cá nhân có xu hướng sử dụng lượng tiền mặt vượt trội để gia tăng đầu tư vào R&D hơn là tăng chi trả

cổ tức và các quyết định về R&D lại ít dựa vào nguồn tài trợ từ nội bộ hơn nhưng lại phản ứng nhiều hơn với cơ hội tăng trưởng Vào năm 2014, An đã cho thấy vai trò của văn hóa quốc gia ảnh hưởng đến lựa chọn mua bán trong bối cảnh mang tính định chế phi chính thức bằng cách tiến hành hồi quy dữ liệu bảng của 176.548 quan sát ở 33 quốc gia trong giai đoạn 1990 – 2012 Tác giả này đã vận dụng bốn khía cạnh văn hóa

Trang 39

của Hofstede (khoảng cách quyền lực, chủ nghĩa tập thể/chủ nghĩa cá nhân, tính chất nam tính/nữ tính và thái độ né tránh rủi ro) làm yếu tố đại diện cho văn hóa quốc gia, kết quả thực nghiệm cho thấy rằng các doanh nghiệp tại các quốc gia có khoảng cách quyền lực lớn, tinh thần chủ nghĩa tập thể cao, tính chất nam tính cao và thái độ né tránh rủi ro cao thường ít có xu hướng đầu tư vào thương vụ mua bán Cũng trong năm

2014, Rottig và cộng sự đã cung cấp thêm bằng chứng về vai trò của văn hóa trong hoạt động mua bán và sáp nhập Nhóm tác giả này đã xem xét chi tiết nhiều khái niệm nghiên cứu có liên quan nhưng khác biệt, mỗi khái niệm nghiên cứu này đều cho thấy vai trò cũng như ý nghĩa của văn hóa đối với hoạt động mua bán và sáp nhập Đến năm

2016, Zhang và cộng sự cùng tiến hành nghiên cứu về tác động của văn hóa đến hiệu quả đầu tư bằng cách sử dụng dữ liệu của các công ty niêm yết từ 18 quốc gia Nhóm tác giả này đo lường yếu tố văn hóa bằng cách vận dụng bốn khía cạnh văn hóa của Hofstede: khoảng cách quyền lực, thái độ né tránh rủi ro, chủ nghĩa cá nhân và tính chất nam tính Kết quả nghiên cứu cho thấy khía cạnh chủ nghĩa cá nhân có mối quan

hệ cùng chiều với xu hướng đầu tư của doanh nghiệp và khía cạnh thái độ né tránh rủi

ro và khía cạnh tính chất nam tính có mối quan hệ ngược chiều với xu hướng đầu tư của doanh nghiệp Còn Horvath (2016) đã đưa ra bằng chứng thực nghiệm của 7.338 công ty phi tài chính niêm yết trong giai đoạn 2001 – 2011 cho thấy văn hóa là yếu tố

cơ bản ảnh hưởng đến việc ra quyết định của nhà quản trị khi tận dụng cơ hội để đầu tư quá mức và dẫn đến hành vi tiêu hủy chi tiêu vốn Bài nghiên cứu thực nghiệm tận dụng độ nhạy cảm giữa đầu tư và dòng tiền và năm khía cạnh văn hóa của Hofstede và GLOBE làm chỉ báo cho hành vi đầu tư quá mức và văn hóa quốc gia tương ứng Kết quả nghiên cứu cho thấy khía cạnh tính chất nam tính và khía cạnh thái độ né tránh rủi

ro trong văn hóa gây ảnh hưởng nhiều đến hành vi đầu tư quá mức vào chi tiêu vốn, thậm chí là khi kiểm soát mức độ tác động của đặc điểm tài chính, chính sách tài chính doanh nghiệp và các định chế cấp quốc gia có ảnh hưởng đến cơ hội đầu tư quá mức Tiếp đó, vào năm 2017, Graham và cộng sự đã so sánh Indonesia (phần lớn người dân

Trang 40

theo đạo Hồi và theo đuổi chủ nghĩa tập thể) và Úc (chủ nghĩa cá nhân, tự cho mình là trung tâm) Nhóm tác giả này phát hiện ra rằng các nhà quản trị người Indonesia có xu hướng lựa chọn hệ thống hoạch định ngân sách vốn tinh vi hơn so với các nhà quản trị người Úc khi đưa ra quyết định đầu tư dự án Phù hợp với thuyết thích ứng, họ cho thấy rằng tính bất định của xã hội, pháp luật, chính trị và kinh tế đã gây ảnh hưởng đến việc sử dụng hệ thống hoạch định ngân sách vốn Mức độ bất định của Indonesia cao hơn so với Úc và cần được các doanh nghiệp xem xét khi đưa ra lựa chọn hệ thống hoạch định ngân sách vốn

2.3.3 Văn hóa vùng miền và quyết định phân phối cổ tức của CEO các công ty cổ phần niêm yết Việt Nam

 Cơ sở lý thuyết

Theo Easterbrook (1984), cổ tức có liên quan đến lợi ích của cổ đông và nhà quản trị cũng như được dùng làm cơ sở diễn giải cho chi phí đại diện Cổ tức tồn tại vì cổ tức

có ảnh hưởng đến chính sách của công ty và cổ tức là giải pháp làm giảm thiểu vấn đề

về đại diện, thông qua việc cắt giảm lượng tiền mặt hiện có của nhà quản trị Từ trước đến nay, có rất nhiều bài nghiên cứu xoay quanh vấn đề chính sách cổ tức của doanh nghiệp, đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế như những năm gần đây Và Smits (2012) là một trong số những tác giả đã tiến hành nghiên cứu về tác động của cuộc khủng hoảng tài chính đến chính sách cổ tức của doanh nghiệp, không chỉ xem xét đến các yếu tố ảnh hưởng mà Smits còn mô tả rất chi tiết lý thuyết Miller & Modigliani, lập luận chỉ trích lý thuyết này của một số nhà nghiên cứu cùng một vài lý thuyết giải thích cho chính sách cổ tức, chẳng hạn như, lý thuyết tín hiệu và lý thuyết hiệu ứng nhóm khách hàng Cụ thể như sau:

- Lý thuyết Miller & Modigliani

Nhiều đối tượng khác nhau, chẳng hạn như, nhà quản trị, nhà đầu tư và nhà kinh tế học, đều muốn biết rằng chính sách cổ tức có tác động như thế nào đến giá trị doanh

Ngày đăng: 05/02/2019, 10:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm