Kết quả nghiên cứu cho thấy bên cạnh 4 nhân tố đã được đề cập trong mô hình nghiên cứu của Don và Marynne 2005, tác giả đề xuất và nghiên cứu thành công sự tác động của 3 nhân tố khác đế
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-NGUYỄN THỊ ÁNH HẰNG
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VẬN DỤNG
KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG CÁC CÔNG TY
XÂY DỰNG TỈNH BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh, Năm 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-NGUYỄN THỊ ÁNH HẰNG
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VẬN DỤNG
KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG CÁC CÔNG TY
XÂY DỰNG TỈNH BÌNH DƯƠNG
Chuyên ngành : Kế toán
Mã số : 8340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS.TS.PHẠM VĂN DƯỢC
TP Hồ Chí Minh, Năm 2018
Trang 3Tác giả xin cam đoan Luận văn thạc sĩ kinh tế với đề tài “Các nhân tố ảnh
hưởng đến vận dụng kế toán trách nhiệm trong các công ty xây dựng tỉnh Bình Dương” là công trình nghiên cứu của riêng tác giả với sự hướng dẫn của PGS.TS
Phạm Văn Dược
Các số liệu và tài liệu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ các công trình nghiên cứu nào Tất cả những tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ, rõ ràng
Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung được trình bày trong Luận văn này
TP Hồ Chí Minh, Năm 2018
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Ánh Hằng
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ HÌNH VẼ
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu: 3
6 Ý nghĩa nghiên cứu 3
7 Kết cấu luận văn 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 5
1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 5
1.2 Các nghiên cứu trong nước 8
1.3 Nhận xét và khe hổng nghiên cứu 12
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 15
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 16
2.1 Tổng quan về kế toán trách nhiệm 16 2.1.1 Khái niệm kế toán trách nhiệm 16
Trang 52.1.2 Vai trò của kế toán trách nhiệm 17
2.1.3 Đối tượng sử dụng thông tin kế toán trách nhiệm 17
2.2 Phân cấp quản lý và cơ sở tổ chức kế toán trách nhiệm 18 2.2.1 Các trung tâm trách nhiệm 19
2.2.1.1 Trung tâm chi phí 19
2.2.1.2 Trung tâm doanh thu 20
2.2.1.3 Trung tâm lợi nhuận 21
2.2.1.4 Trung tâm đầu tư 21
2.2.2 Mối quan hệ giữa trung tâm trách nhiệm với cơ cấu tổ chức 22
2.3 Nội dung của kế toán trách nhiệm 23 2.3.1 Xác định các trung tâm trách nhiệm 23
2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá thành quả của các trung tâm trách nhiệm 23
2.3.2.1 Chỉ tiêu đánh giá thành quả của trung tâm chi phí 23
2.3.2.2 Chỉ tiêu đánh giá thành quả của trung tâm doanh thu 24
2.3.2.3 Chỉ tiêu đánh giá thành quả của trung tâm lợi nhuận 25
2.3.2.4 Chỉ tiêu đánh giá thành quả của trung tâm đầu tư 25
2.3.3 Báo cáo đánh giá thành quả trung tâm trách nhiệm 26
2.3.3.1 Báo cáo đánh giá thành quả trung tâm chi phí 26
2.3.3.2 Báo cáo đánh giá thành quả trung tâm doanh thu 26
2.3.3.3 Báo cáo đánh giá thành quả trung tâm lợi nhuận 27
2.3.3.4 Báo cáo đánh giá thành quả trung tâm đầu tư 27
2.4 Đặc điểm công ty xây dựng ảnh hưởng đến vận dụng kế toán trách nhiệm trong tổ chức 27 2.4.1 Đặc điểm tổ chức sản xuất 27
2.4.2 Đặc điểm của sản phẩm xây dựng 28
2.4.3 Đặc điểm của chi phí ngành xây dựng 30
Trang 62.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng kế toán trách nhiệm trong các công ty 30
2.5.1 Quy mô công ty 30
2.5.2 Nhận thức của nhà quản lý về kế toán trách nhiệm 31
2.5.3 Cơ cấu tổ chức 31
2.5.4 Sự phân quyền 32
2.5.5 Trình độ nhân viên kế toán 33
2.6 Mô hình nghiên cứu đề xuất 33 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 35
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
3.1 Thiết kế nghiên cứu 36 3.2 Nghiên cứu định tính 37 3.3 Nghiên cứu định lượng 37 3.3.1 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 38
3.3.2 Các biến trong mô hình nghiên cứu 39
3.3.2.1 Biến phụ thuộc 39
3.3.2.2 Biến độc lập 39
3.3.2.3 Hình thành thang đo các biến trong mô hình 39
3.4 Mẫu nghiên cứu 43 3.5 Các kỹ thuật phân tích 44 3.6 Thống kê mẫu nghiên cứu 45
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 48
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 49
4.1 Đánh giá thang đo 49 4.1.1 Cronbach Alpha của thang đo nhân tố Quy mô công ty (QMCT) 49
Trang 74.1.2 Cronbach Alpha của thang đo nhân tố Nhận thức của nhà quản lý về KTTN
(NHANTHUC) 50
4.1.3 Cronbach Alpha của thang đo nhân tố Cơ cấu tổ chức (CCTC) 51
4.1.4 Cronbach Alpha của thang đo nhân tố Sự phân quyền (SPQ) 51
4.1.5 Cronbach Alpha của thang đo nhân tố Trình độ nhân viên kế toán (TDKT) 52
4.1.6 Cronbach Alpha của thang đo Vận dụng KTTN trong các công ty xây dựng tỉnh Bình Dương (VDKTTN) 53
4.2 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) Vận dụng KTTN trong các công ty xây dựng tỉnh Bình Dương 54
4.2.1 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 54
4.2.2 Kết luận phân tích nhân tố khám phá mô hình đo lường 57
4.3 Phân tích tương quan 58
4.4 Kiểm định độ phù hợp của mô hình nghiên cứu 59
4.4.1 Phương pháp nhập các biến thành phần trong mô hình hồi quy bội 59
4.4.2.Đánh giá mức độ phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính bội 59
4.4.3 Kiểm định giả thuyết về ý nghĩa của các hệ số hồi quy 60
4.5 Kiểm tra các giả định mô hình hồi quy bội 61 4.5.1 Kiểm định giả định phương sai của sai số (phần dư) không đổi 62
4.5.2 Kiểm tra giả định các phần dư có phân phối chuẩn 62
4.5.3 Kiểm tra giả định không có mối tương quan giữa các biến độc lập (Hiện tượng đa cộng tuyến) 64
4.6 Mô hình hồi quy của vận dụng kế toán trách nhiệm trong các công ty xây dựng tỉnh Bình Dương 65 KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 68
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
Trang 85.2 Kiến nghị 70
5.2.1 Cơ cấu tổ chức 70
5.2.2 Trình độ nhân viên kế toán 71
5.2.3 Sự phân quyền 72
5.2.4 Nhận thức của nhà quản lý về kế toán trách nhiệm 72
5.2.5 Quy mô công ty 73
5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài 74 KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Căn cứ xây dựng mô hình nghiên cứu 38
Bảng 3.2: Thang đo nghiên cứu 40
Bảng 3.3: Kết quả thống kê đối tượng khảo sát 45
Bảng 4.1: Cronbach Alpha của thang đo nhân tố Quy mô công ty 49
Bảng 4.2: Cronbach Alpha của thang đo nhân tố Nhận thức của nhà quản lý về KTTN 50
Bảng 4.3: Cronbach Alpha của thang đo nhân tố Cơ cấu tổ chức 51
Bảng 4.4: Cronbach Alpha của thang đo nhân tố Sự phân quyền 51
Bảng 4.5: Cronbach Alpha của thang đo nhân tố Trình độ nhân viên kế toán 52
Bảng 4.6: Cronbach Alpha của thang đo Vận dụng KTTN trong các công ty xây dựng tỉnh Bình Dương 53
Bảng 4.7: Hệ số KMO và kiểm định Barlett các thành phần 55
Bảng 4.8: Bảng phương sai trích 55
Bảng 4.9: Bảng ma trận xoay 56
Bảng 4.10: Ma trận tương quan giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập 58
Bảng 4.11 Phương pháp nhập các biến vào phần mềm SPSS 59
Bảng 4.12: Đánh giá mức độ phù hợp của mô hình hồi qui tuyến tính bội 60
Bảng 4.13: Bảng kết quả các trọng số hồi quy 60
Bảng 5.1: Tóm tắt kết quả nghiên cứu về các giả thuyết nghiên cứu 69
Bảng 5.2: Mức độ tác động của các nhân tố đến vận dụng kế toán trách nhiệm trong các công ty xây dựng tỉnh Bình Dương 70
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ HÌNH VẼ
Hình 1.1 : Mô hình nghiên cứu của tác giả Don and Marynne ( 2005) 5
Hình 1.2 : Kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Văn Tùng và cộng sự (2018) 11
Hình 1.3 : Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Mai Trâm (2018) 12
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ mối quan hệ giữa trung tâm trách nhiệm và cơ cấu tổ chức 22
Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu đề xuất 34
Hình 3.1: Sơ đồ thiết kế nghiên cứu 37
Hình 3.2: Mô hình nghiên cứu 39
Sơ đồ 3.1: Kết quả thống kê đối tượng khảo sát về giới tính 46
Sơ đồ 3.2 : Kết quả thống kê đối tượng khảo sát về thời gian công tác 46
Sơ đồ 3.3: Kết quả thống kê đối tượng khảo sát về chức vụ 47
Hình 4.1: Đồ thị phân tán giữa giá trị dự đoán và phần dư từ hồi qui 62
Hình 4.2: Đồ thị P-P Plot của phần dư – đã chuẩn hóa 63
Hình 4.3: Đồ thị Histogram của phần dư – đã chuẩn hóa 64
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bản chất của kế toán trách nhiệm là mỗi bộ phận được phân cấp quản lý trong bộ máy quản lý có quyền kiểm soát, chỉ đạo và chịu trách nhiệm về những nghiệp vụ riêng biệt thuộc phạm vi phân cấp quản lý của mình Kế toán trách nhiệm được thực hiện ở DN
có cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý được phân quyền một cách rõ ràng Thêm vào đó tùy thuộc vào đặc điểm cơ cấu tổ chức, mức độ phân cấp quản lý và mục tiêu của nhà quản trị DN mà được chia ra thành các trung tâm trách nhiệm tương ứng Thông thường tổ chức doanh nghiệp được chia thành các trung tâm trách nhiệm như: Trung tâm đầu tư, trung tâm lợi nhuận, trung tâm doanh thu, trung tâm chi phí Kế toán trách nhiệm nhằm đánh giá thành quả hoạt động của các trung tâm trách nhiệm thông qua đó đánh giá trách nhiệm quản lý của các nhà quản trị thuộc các trung tâm trách nhiệm trên
Bình Dương là tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tê trọng điểm phía Nam (gồm 8 tỉnh thành: thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước, Tây Ninh, Long An và tỉnh Tiền Giang), là một trong những tỉnh
có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, phát triển công nghiệp năng động của cả nước Bình Dương cũng là nơi có tốc độ phát triển tương đối nhanh với nhiều doanh nghiệp xây dựng có tiềm lực kinh tế và là bộ phận đóng góp cao vào sản lượng GDP của tỉnh
Ngày nay, môi trường hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty xây dựng có nhiều biến động, thay đổi nhanh chóng nên cơ chế tổ chức quản lý cố định dần được thay thế bằng cơ chế tổ chức quản lý linh hoạt, mềm dẻo hơn Điều này, buộc các doanh nghiệp phải tăng cường hơn nữa tính chủ động, linh hoạt và trách nhiệm cho các đơn vị,
bộ phận cấu thành, mà kế toán trách nhiệm chính là công cụ hỗ trợ cần thiết, góp phần giúp cho nhà quản trị bộ phận có nhiều thông tin chính xác, kịp thời; khuyến khích, thúc đẩy sự tính trách nhiệm của nhà quản trị các cấp; tạo điều kiện để phát triển các nhà quản trị cao cấp cho doanh nghiệp Tuy nhiên thực tế hiện nay, các doanh nghiệp xây dựng tỉnh Bình Dương chưa hoặc rất ít quan tâm đếnviệc vận dụng kế toán trách nhiệm
Trang 13Qua những phân tích trên cho thấy ý nghĩa, vai trò của việc vận dụng kế toán trách nhiệm trong các công ty nói chung và các công ty xây dựng tỉnh Bình Dương nói riêng, đồng thời cho thấy sự mới mẻ, cũng như khó khăn và trở ngại khi vận dựng kế toán trách nhiệm Do đó tác giả đã lựa chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán trách nhiệm trong các công ty xây dựng tỉnh Bình Dương” để thực hiện nghiên cứu Kết quả nghiên cứu của đề tài này sẽ phần nào giúp các công ty có thể xây dựng, hoàn thiện kế toán trách nhiệm, nâng cao hiệu quả hoạt động của các bộ phận, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn đơn vị
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế
toán trách nhiệm trong các công ty xây dựng tỉnh Bình Dương
- Mục tiêu cụ thể: nghiên cứu này được thực hiện nhằm đáp ứng các mục tiêu cụ
3 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu chính:
+ Câu hỏi 1: Các nhân tố nào ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán trách nhiệm trong các công ty xây dựng tỉnh Bình Dương?
+ Câu hỏi 2: Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến việc vận dụng kế toán trách nhiệm trong các công ty xây dựng tỉnh Bình Dương như thế nào?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là các nhân tố
ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán trách nhiệm trong các công ty xây dựng tỉnh Bình
Dương
Trang 14- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không giannghiên cứu: Tập trung nghiên cứu tại các công ty xây dựng tỉnh Bình Dương
+ Về thời giannghiên cứu: nghiên cứu được thực hiện năm 2018
5 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn áp dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng như sau:
- Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua kỹ thuật phỏng vấn chuyên sâu Nghiên cứu được thiết kế có tính chất thăm dò tự nhiên, khám phá trực tiếp các ý tưởng
và trong phạm vi mô tả của bảng câu hỏi sơ bộ để tham khảo ý kiến và khám phá thêm về các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán trách nhiệm trong các công ty xây dựng tỉnh Bình Dương Cũng qua nghiên cứu định tính để khám phá, bổ sung và điều chỉnh các biến quan sát dung để đo lường các thang đo của khái niệm nghiên cứu Từ kết quả này, bảng câu hỏi chính thức được hình thành sao cho phù hợp về ý nghĩa các thang đo và đối tượng lấy mẫu
- Nghiên cứu định lượng được thực hiện với dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát chính thức Dữ liệu được thống kê phân tích qua phần mềm SPSS 22.0 nhằm kiểm định lại các thang đo và mô hình nghiên cứu Đánh giá giá trị và độ tin cậy bằng việc ứng dụng hệ số Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA) Đánh giá và kiểm định sự phù hợp của mô hình hồi quy
6 Ý nghĩa nghiên cứu
Nghiên cứu góp phần xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán trách nhiệm trong các công ty xây dựng tỉnh Bình Dương Bên cạnh đó cũng góp phần đo lường mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố, xác định các yếu tố nào ảnh hưởng mạnh, yếu
tố nào ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán trách nhiệm trong các công ty xây dựng tỉnh Bình Dương Qua kết quả nghiên cứu đó, đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện việc vận dụng kế toán trách nhiệm trong các công ty xây dựng tỉnh Bình Dương trong thời gian tới
Trang 157 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo và phụ lục nghiên cứu, luận văn bao gồm 5 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về các nghiên cứu trước
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
1.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Don và Marynne (2005) trình bày trong Management accounting McGraw-Hill
Companies, Inc thì các yếu tố cơ bản của kế toán trách nhiệm gồm:
+ Trách nhiệm được xác định;
+ Các biện pháp thực hiện được thiết lập;
+ Hiệu suất được đo lường;
+ Cá nhân được khen thưởng
Mô hình nghiên cứu của tác giả này được trình bày như sau:
Hình 1.1 : Mô hình nghiên cứu của tác giả Don and Marynne ( 2005)
(Nguồn: Don and Marynne, 2005)
Nghiên cứu này là tài liệu tham khảo sau này cho rất nhiều nghiên cứu khác liên quan đến xây dựng kế toán trách nhiệm trong tổ chức, một trong số đó phải kể đến nghiên cứu của Gharayba và cộng sự (2011), Hanini (2013),Tran Trung Tuan (2017),…là những nghiên cứu rất tiêu biểu sau này liên quan đến xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức, xây dựng kế toán trách nhiệm tại đơn vị
Mojgan, Safa (2012) với nghiên cứu “Examining the Role of Responsibility
Accounting in organizational Structure” American Academic & Scholarly Research
Journal Special Issue Vol 4, No 5, Sept 2012 Theo nghiên cứu này thì khi hoạt động của tổ chức ngày càng trở nên phức tạp thì nhu cầu ủy quyền, phân chia quyền hạn, trách nhiệm sẽ phát sinh phụ thuộc vào quy mô của doanh nghiệp Trong một tổ chức kinh doanh phi tập trung, giám đốc chịu trách nhiệm lập kế hoạch và kiểm soát hoạt động của công ty Hệ thống kế toán trách nhiệm được thiết kế để báo cáo và tích luỹ chi phí theo mức trách nhiệm cá nhân Các tác giả cũng trình bày có ba loại trung tâm trách nhiệm cơ
Trách nhiệm
được xác định
Các biện pháp thực hiện được thiết lập
Hiệu suất được
đo lường
Cá nhân được khen thưởng
Trang 17bản: trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu và các trung tâm đầu tư Nghiên cứu này góp phần cung cấp hệ thống cơ sở lý luận cho các nghiên cứu sau này về kế toán trách nhiệm
Eman Al Hanini (2013) với nghiên cứu “The Extent of Implementing
Responsibility Accounting Features in the Jordanian Banks” European Journal of
Business and Management www.iiste.org ISSN 2222-1905 (Paper) ISSN 2222-2839 (Online) Vol.5, No.1, 2013 Nghiên cứu này cũng được thực hiện dựa trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của Don và Marynne (2005) Kết quả nghiên cứu cho thấy bên cạnh 4 nhân tố đã được đề cập trong mô hình nghiên cứu của Don và Marynne (2005), tác giả đề xuất và nghiên cứu thành công sự tác động của 3 nhân tố khác đến tổ chức kế toán trách nhiệm tại các ngân hàng Jordan, như vậy kế toán trách nhiệm trong các ngân hàng này chịu tác động của các nhân tố gồm: Phân chia cơ cấu tổ chức, phân chia quyền hạn; Phân phối chi phí và doanh thu, Chuẩn bị dự toán ngân sách, Sử dụng ngân sách dự toán, Sử dụng báo cáo đánh giá sai lệch về hiệu suất thực tế và kế hoạch đã đề ra, hệ thống khen thưởng Tác giả cũng đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện kế toán trách nhiệm trong các ngân hàng như các ngân hàng cần phải áp dụng các hệ thống khen thưởng có liên quan đến hiệu quả và hiệu suất của nhân viên, cần phải sửa đổi thường xuyên hệ thống phân chia cơ cấu tổ chức thành trung tâm trách nhiệm để xác minh tính phù hợp của mục tiêu của các trung tâm với mục tiêu chung của ngân hàng, cần kích hoạt nguyên tắc phản hồi, phản xạ để điều tra ý kiến của nhân viên ở các cấp hành chính khác nhau theo đánh
giá của họ về hệ thống kế toán trách nhiệm và lắng nghe những đề xuất của họ
Mohammad EbrahimNawaiseh và các cộng sự (2014) với nghiên cứu “An
Empirical Assessment of Measuring the Extent of Implementing Responsibility Accounting Rudiments in Jordanian Industrial Companies listed at Amman Stock Exchange” Advances in Management & Applied Economics, vol 4, no.3, 2014, 123-
138 ISSN: 1792-7544 (print version), 1792-7552(online) Scienpress Ltd, 2014 Nghiên cứu được thực hiện nhằm giải quyết những câu hỏi như mức độ các công ty công nghiệp Jordan niêm yết trên thị trường chứng khoán thực hiện kế toán trách nhiệm như thế nào?
và những trở ngại nào làm kìm hãm việc thực hiện đầy đủ các nguyên tắc kế toán trách nhiệm ở các đơn vị này Kết quả nghiên cứu cho thấy việc vận dụng kế toán trách nhiệm
Trang 18tại các công ty công nghiệp Jordan chịu sự tác động bởi yếu tố nhân viên kế toán quản trị nhận thức được vai trò, các tính năng của kế toán trách nhiệm trong tổ chức; nhân viên kế toán quản trị nhận thức được những trở ngại trong việc ứng dụng kế toán trách nhiệm trong tổ chức Đồng thời, trong nghiên cứu này các tác giả định rằng những yếu tố cản trở vận dụng kế toán trách nhiệm liên quan đến các biến nhân khẩu học như chứng chỉ, chuyên môn, tuổi, giới tính của các nhân viên kế toán quản trị, tuy nhiên kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra không có sự khác biệt nào trong việc áp dụng các nguyên tắc kế toán quản trị liên quan đến những biến vừa nêu Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng như phân tích phương sai (ANOVA), kiểm tra độ tin cậy với hệ số Cronbach’s Alpha Mẫu được chọn theo phương pháp chọn mẫu nghiên cứu ngẫu nhiên, phi xác suất,
dữ liệu được thu thập bằng cách gửi bảng câu hỏi khảo sát đến 45 trên tổng số 80 công ty công nghiệp Jordan niêm yết trên thị trường chứng khoán, tuy nhiên kết quả thu về 43 bảng như chỉ có 37 bảng trả lợi hợp lệ Như vậy n =37 là mẫu nghiên cứu chính thức của nghiên cứu này
Tran Trung Tuan (2017) với nghiên cứu “Application Responsibility Accounting
to Sustainable Development in Vietnam Manufacturers: An Empirical Study”
Economics World, Nov.-Dec 2017, Vol 5, No 6, 573-583 Theo tác giả này thì kế toán
trách nhiệm là nội dung quan trọng nhất của kế toán quản trị, kế toán trách nhiệm cung cấp thông tin cho các quản trị viên để đưa ra quyết định kinh doanh kịp thời và chính xác
Mô hình nghiên cứu được đề xuất dựa trên mô hình của Don và Marynne (2005), Hanini (2013), từ đó tác giả đề xuất 7 yếu tố tác động đến mức độ ứng dụng kế toán trách nhiệm trong các doanh nghiệp dệt may của Việt Nam Kết quả nghiên cứu góp phần xác định và
đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến mức độ ứng dụng kế toán trách nhiệm trong các doanh nghiệp dệt may của Việt Nam, từ đó nghiên cứu đề xuất các kiến nghị liên quan để cải thiện mức độ kế toán trách nhiệm tại các doanh nghiệp Việt Nam, các công ty cần khuyến khích sử dụng các phương pháp kế toán hành chính hiện đại khác trong hoạt động kinh doanh của mình như thẻ ghi điểm cân bằng (BSC) để cải thiện hiệu suất, tăng cường phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng rộng rãi hiện nay Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến ứng dụng kế toán trách
Trang 19nhiệm trong các doanh nghiệp dệt may của Việt Nam gồm: Phân chia cơ cấu tổ chức, phân chia quyền hạn; Phân phối chi phí và doanh thu, Chuẩn bị dự toán ngân sách, Sử dụng ngân sách dự toán, Sử dụng báo cáo đánh giá sai lệch về hiệu suất thực tế và kế hoạch đã đề ra, hệ thống khen thưởng
1.2 Các nghiên cứu trong nước
Đinh Thị Ngọc Lành (2014) với nghiên cứu “Hoàn thiện hệ thống kế toán trách
nhiệm tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Kinh doanh Địa ốc Hòa Bình”.Luận văn thạc
sĩ kinh tế, trường đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh Nghiên cứu được thực hiện nhằm giải quyết những mục tiêu như: hệ thống hóa các lý luận liên quan đến kế toán trách nhiệm trong một đơn vị, tổ chức; tiếp đó khảo sát và đánh giá thực trạng kế toán trách nhiệm tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Kinh doanh Địa ốc Hòa Bình; từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm tại Công ty Cổ phần Xây dựng và Kinh doanh Địa ốc Hòa Bình Kết quả nghiên cứu cho thấy mặc dù công ty đã bước đầu xây dựng, phân cấp quản lý, phân chia trách nhiệm, quyền hạn tuy nhiên vẫn chưa rõ ràng, cụ thể; bộ máy kế toán của công ty chỉ chủ yếu phục vụ cho công tác kế toán tài chính, mà chưa phân công về thực hiện các nội dung liên quan đến kế toán quản trị; công ty không lập dự toán chi phí, báo cáo phân tích biến động chi phí, chưa sử dụng các chỉ tiêu đánh giá thành quả quản lý,… từ việc nhận định những hạn chế vừa nêu trên và xác định ngyên nhân, nghiên cứu cũng đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm tại đơn vị này
Nguyễn Thanh Bình (2014) với nghiên cứu “Xây dựng kế toán trách nhiệm tại)
Công ty TNHH MTV Xây dựng Bình Phước” Luận văn thạc sĩ kinh tế, trường đại học
kinh tế TP Hồ Chí Minh Nghiên cứu góp phần trình bày cơ sở lý luận về kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp Tiếp đó mô tả và phân tích thực trạng công tác kế toán trách nhiệm tại Công ty TNHH MTV Xây dựng Bình Phước, từ đó đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán trách nhiệm tại Công ty TNHH MTV Xây dựng Bình Phước Do phạm vi về không gian nghiên cứu của đề tài được thực hiện giới hạn tại Công ty TNHH MTV Xây dựng Bình Phước do đó tính tổng quát của đề tài không cao Một số những hạn chế của
Trang 20công tác kế toán trách nhiệm của đơn vị này có thể kể đến như: chưa có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng; doanh nghiệp có đề xuất chỉ tiêu doanh thu nhưng chưa đề cập đến chỉ tiêu lợi nhuận; phương pháp phân loại và kiểm soát chi phí không thống nhất; hội đồng thành viên (trung tâm đầu tư) chưa có sự phân tích để đánh giá để sử dụng hiệu quả vốn, cũng như xác định lợi nhuận của hoạt động đầu tư Cuối cùng, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán trách nhiệm tại đơn vị, các giải pháp được đề xuất dựa trên quan điểm xây dựng kế toán trách nhiệm phù hợp với định hướng mô hình hoạt động của công ty, điều kiện hoạt động, và đảm bảo hài hòa lợi ích của công ty với các bộ phận
Hoàng Quang Minh (2014) với nghiên cứu “Xây dựng kế toán trách nhiệm tại
tổng công ty xây dựng số 1” Luận văn thạc sĩ kinh tế, trường đại học kinh tế TP Hồ Chí
Minh Trước hết nghiên cứu này góp phần trình bày cơ sở lý luận về kế toán trách nhiệm tại doanh nghiệp; Tiếp đó đánh giá thực trạng công tác đánh giá trách nhiệm quản lý tại tổng công ty xây dựng số 1; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng kế toán trách nhiệm tại tổng công ty xây dựng số 1 Để đánh giá tình hình thực hiện kế toán trách nhiệm tại công ty này, tác giả chủ yếu tiến hành mô tả và phân tích những nội dung liên quan đến: nhận thức của nhà quản lý về kế toán trách nhiệm, hệ thống phân cấp ra quyết định, việc xác định các trung tâm trách nhiệm, việc lập báo cáo quản trị, đánh giá trách nhiệm nhà quản lý bộ phận, chỉ ra những ưu, nhược điểm trong công tác đánh giá trách nhiệm quản lý hiện nay Từ đó làm căn cứ để đề ra các biện pháp nhằm xây dựng kế toán trách nhiệm tại đơn vị này như: hoàn thiện bộ máy kế toán quản trị; xây dựng định mức xây dựng; nâng cao nhận thức nhà quản lý; ứng dụng công nghệ thông tin trong việc xây dựng kế toán trách nhiệm; hoàn thiện công tác thu thập số liệu theo yêu cầu kế toán quản trị
Hồ Thu Thảo (2018) với nghiên cứu “Hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm
tại công ty TNHH hóa nông Lúa Vàng” Luận văn thạc sĩ kinh tế, trường đại học kinh tế
TP Hồ Chí Minh Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu này là hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý tại Công Ty TNHH Hóa Nông Lúa Vàng Nghiên cứu góp phần hệ thống hóa cơ sở lý thuyết liên quan đến hệ thống kế toán trách nhiệm Tiếp đó tiến hành mô tả và phân tích thực trạng hệ thống kế toán trách
Trang 21nhiệm của đơn vị, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm tại công ty TNHH hóa nông Lúa Vàng Qua nghiên cứu cho thấy Công ty TNHH Hóa Nông lúa vàng đã bước đầu xây dựng hệ thống KTTN, tuy nhiên vẫn còn một
số hạn chế nhất định; từ đó tác giả đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm tại công ty, một số giải pháp đã được đề cập trong nghiên cứu này có thể
kể đến như tổ chức lại bộ máy quản lý và sự phân cấp quản lý, xác định các trung tâm trách nhiệm, hoàn thiện các chỉ tiêu đánh giá thành quả và hệ thống báo cáo trách nhiệm, hoàn thiện công tác kế toán tại công ty
Trần Văn Tùng và cộng sự (2018) với nghiên cứu “Nhân tố tác động đến công tác
tổ chức hệ thống kế toán trách nhiệm tại các công ty dệt may niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” Tạp chí công thương số thứ ba, 05/06/2018 Nghiên cứu được
thực hiện nhằm giải quyết những mục tiêu gồm xác định các nhân tố, và đo lường mức độ tác động của các nhân tố đó đến công tác tổ chức hệ thống kế toán trách nhiệm tại các công ty dệt may niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp trong đó phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với nghiên cứu định lượng, với kích thước mẫu của nghiên cứu là n =336, mẫu được chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, phi xác suất Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm giúp các công ty dệt may niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam có thể tổ chức thành công hệ thống kế toán trách nhiệm tại đơn vị Kết quả nghiên cứu được thể hiện theo mô hình dưới đây:
Trang 22Hình 1.2 : Kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Văn Tùng và cộng sự (2018)
(Nguồn: tác giả tổng hợp)
Nguyễn Thị Mai Trâm (2018) với nghiên cứu “Các nhân tố tác động đến công tác
kế toán trách nhiệm tại các công ty niêm yết trên Sàn Giao dịch Chứng khoán TP.HCM” Luận văn thạc sĩ kinh tế, trường đại học kinh tế TP Hồ Chí Minh Mục tiêu
nghiên cứu cụ thể của luận văn gồm: xác định các nhân tố tác động và đo lường mức độ tác động của từng nhân tố đến công tác kế toán trách nhiệm tại các công ty niêm yết trên Sàn Giao dịch Chứng khoán TP.HCM Thông qua việc hệ thống các nghiên cứu trước trong và ngoài nước có liên quan đến kế toán trách nhiệm, đồng thời nghiên cứu một số đặc điểm của công ty niêm yết, các lý thuyết nền nhằm giải thích các nhân tố tác động đến tổ chức kế toán trách nhiệm của các doanh nghiêp, tác giả bước đầu đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến công tác kế toán trách nhiệm tại các công ty Nghiên cứu này đã sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp (nghiên cứu định tính kết hợp nghiên cứu định lượng), mẫu được chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, phi xác suất, với kích thước mẫu chính thức n = 147 Kết quả nghiên cứu cho thấy công tác kế toán trách nhiệm tại các công ty niêm yết trên Sàn Giao dịch Chứng khoán TP.HCM chịu tác động của các nhân tố như: Kết quả nghiên cứu được trình bày theo mô hình dưới đây:
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, Nhận thức về kế toán trách nhiệm, Quy mô công ty, Phương pháp kỹ thuật, Trình độ nhân viên kế toán và Công nghệ thông tin Cụ thể kết quả nghiên cứu được thể hiện theo mô hình dưới đây:
Trang 23Hình 1.3 : Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Mai Trâm (2018)
(Nguồn: tác giả tổng hợp)
1.3 Nhận xét và khe hổng nghiên cứu
Qua quá trình hệ thống các nghiên cứu có liên quan đến tổ chức kế toán trách nhiệm ở các đơn vị, tác giả rút ra các nhận xét như sau:
- Với các nghiên cứu nước ngoài: hầu hết các nghiên cứu nước ngoài đều góp phần
hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về kế toán trách nhiệm trong đơn vị, tổ chức Đồng thời các nghiên cứu cũng góp phần xây dựng và kiểm định mô hình các nhân tố tác động đến vận dụng kế toán trách nhiệm và đo lường mức độ tác động của chúng, tuy nhiên do thực hiện
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản
(R2 hiệu chỉnh =
Trang 24ở các nước khác nhau trên thế giới trong một khoảng thời gian nghiên cứu nhất định nên các nghiên cứu này không mang các đặc thù liên quan đến nền kinh tế Việt Nam cũng như không phù hợp với môi trường kinh tế ở Việt Nam năm 2018 này Chính vì điều này
mà việc áp dụng rập khuôn các mô hình nghiên cứu trên thế giới vào việc xác định và đo lường các nhân tố tác động đến việc vận dụng kế toán trách nhiệm trong các công ty xây dựng tỉnh Bình Dương là không phù hợp
- Với nghiên cứu trong nước: Với các nghiên cứu về tổ chức, xây dựng kế toán trách nhiệm ở các công ty xây dựng thì theo lược khảo các nghiên cứu cho thấy hiện nay các nghiên cứu chủ yếu thực hiện theo phương pháp nghiên cứu định tính nhằm hoàn thiện hoặc nâng cao hiệu quả tổ chức kế toán trách nhiệm tại một đơn vị cụ thể - đơn vị được lựa chọn làm phạm vi nghiên cứu, mà chưa có nghiên cứu nào lựa chọn thực hiện nghiên cứu theo phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, một mặt nhằm xác định mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng kế toán trách nhiệm, mặt khác đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến vận dụng kế toán trách nhiệm Bên cạnh đó tại Việt Nam cũng
có một số nghiên cứu nhằm xác định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến vận dụng kế toán trách nhiệm nhưng lại chưa thực hiện nghiên cứu trên đối tượng là công
ty xây dựng mà chủ yếu là thực hiện đối với các công ty niêm yết, công ty sản xuất may mặc,… tuy nhiên những công ty này lại có đặc điểm, đặc thù hoạt động hoàn toàn khác với các công ty xây dựng nói chung và công ty xây dựng tỉnh Bình Dương nói riêng, nên việc áp dụng mô hình và kết quả nghiên cứu của các nghiên cứu này vào việc vận dụng
kế toán trách nhiệm trong các công ty xây dựng tỉnh Bình Dương mà không thực hiện kiểm định hay đo lường mức độ phù hợp của các nhân tố thì cũng lại không phù hợp
Từ những phân tích trên có thể nhận thấy khe hổng trong mảng nghiên cứu về kế toán trách nhiệm đó là hiện nay vẫn chưa có tác giả nào thực hiện một nghiên cứu về việc vận dụng kế toán trách nhiệm trong các công ty xây dựng tỉnh Bình Dương mà trong đó góp phần đảm bảo thực hiện các mục tiêu gồm xác định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến việc vận dụng kế toán trách nhiệm trong các công ty xây dựng tỉnh Bình Dương và thực hiện nghiên cứu bằng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp (trong đó sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với phương pháp nghiên cứu định lượng)
Trang 25Chính vì những phân tích vừa nêu tác giả lựa chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán trách nhiệm trong các công ty xây dựng tỉnh Bình Dương” để thực hiện nghiên cứu
Trang 26có liên quan đến đề tài kế toán trách nhiệm thì đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu vừa nêu
Trang 27CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Tổng quan về kế toán trách nhiệm
2.1.1 Khái niệm kế toán trách nhiệm
Kế toán trách nhiệm được đề cập đầu tiên ở Mỹ năm 1950 trong tác phẩm “Basic Organization Planning to tie in with Responsibility Accounting” của Ailman, H.B.1950
Kế toán trách nhiệm được trình bày theo nhiều quan điểm khác nhau của nhiều tác giả trên khắp thế giới Dưới đây tác giả trình bày một số quan điểm nổi bật như:
Theo nhóm tác giả A A Atkinson, R D Banker, R.s Kaplan và s M Young thì
kế toán trách nhiệm là một hệ thống kế toán thu thập, tổng hợp và báo cáo các dữ liệu kế toán có liên quan đến trách nhiệm của từng nhà quản lý riêng biệt trong một tổ chức, thông qua các báo cáo liên quan đến chi phí thu thập và các số liệu hoạt động bởi từng khu vực trách nhiệm hoặc đơn vị trong tổ chức Ngoài ra, qua các thông tin được cung cấp bởi kế toán trách nhiệm sẽ đánh giá trách nhiệm và thành quả của mỗi nhà quản lý ở khía cạnh mà họ có quyền quyết định Hệ thống kế toán này tạo ra các báo cáo được phân định rõ ràng giữa đối tượng có thể kiểm soát và đối tượng không thể kiểm soát
Theo James R Martin “Kế toán trách nhiệm là hệ thống kế toán cung cấp thông tin
về kết quả, hiệu quả hoạt động của các bộ phận, các đơn vị trong một doanh nghiệp Đó là công cụ đo lường, đánh giá hoạt động của những bộ phận liên quan đến đầu tư, lợi nhuận, doanh thu, chi phí mà mỗi bộ phận có quyền kiểm soát và chịu trách nhiệm tương ứng”
Theo D F Hawkins, V G Narayanan, J Cohen, M Jurgens thì “Kế toán trách nhiệm là một hệ thống tạo ra những thông tin tài chính và phi tài chính có liên quan, về những hoạt động thực tế và được lập kế hoạch của những trung tâm trách nhiệm trong một công ty”
Theo B Venkatrathnam và Raji Reddy - Asso thì “Kế toán trách nhiệm là hệ thống của nhà quản lý được dựa trên những nguyên tắc về ủy quyền và xác định trách nhiệm” Theo đó, kế toán trách nhiệm là một phương pháp đo lường, đánh giá biểu hiện của những khu vực khác nhau của một tổ chức
Trang 28Từ những khái niệm vừa nêu trên, có thể hiểu kế toán trách nhiệm như sau: Kế toán trách nhiệm là hệ thống thu thập, xử lý và truyền đạt thông tin có thể kiểm soát theo
phạm vi trách nhiệm của từng nhà quản trị nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức
2.1.2 Vai trò của kế toán trách nhiệm
Theo Phạm Văn Dược và cộng sự (2010) thì KTTN là một “công cụ” phân chia cấu trúc của một tổ chức thành những trung tâm trách nhiệm khác nhau để đo lường biểu hiện của chúng Nói cách khác, KTTN là được thiết lập để ghi nhận, đo lường về kết quả hoạt động của một khu vực nào đó trong tổ chức, qua đó giúp nhà quản trị kiểm soát hoạt động và chi phí của họ và đánh giá trách nhiệm quản trị ở từng cấp quản trị khác nhau Vai trò của KTTN được thể hiện ở những khía cạnh sau đây:
- Thứ nhất, KTTN giúp đánh giá mức độ đóng góp của từng bộ phận vào lợi ích của toàn bộ công ty
- Thứ hai, KTTN giúp đánh giá chất lượng và trách nhiệm quản lý của những nhà quản lý bộ phận
- Thứ ba, KTTN thúc đẩy các nhà quản lý bộ phận điều hành bộ phận của mình theo phương thức phù hợp với những mục tiêu của toàn bộ công ty
Các nhà quản lý, những người có tầm nhìn đối với mục tiêu chung của công ty, cần phải có động cơ tích cực để đạt được chúng Việc đánh giá đúng trách nhiệm của nhà quản lý sẽ khuyến khích họ đạt được những chỉ tiêu của từng bộ phận cũng như mục tiêu chung của toàn công ty Hệ thống KTTN được coi là công cụ hữu ích trong việc đánh giá
kết quả thực hiện của các nhà quản lý đối với trách nhiệm được giao
2.1.3 Đối tượng sử dụng thông tin kế toán trách nhiệm
Theo tác giả Lê Thị Minh Thùy (2013) thì mặc dù có nhiều cách nhìn nhận khác nhau về KTTN nhưng cuối cùng bản chất của KTTN là một nội dung cơ bản của KTQT,
là quá trình tập hợp và báo cáo những thông tin được dùng để kiểm tra quá trình hoạt động và đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ ở từng bộ phận, và KTTN thì tập trung vào nghiên cứu về trách nhiệm quản lý của các bộ phận Và thông tin kế toán trách nhiệm là
Trang 29một bộ phận thông tin quan trọng của thông tin kế toán quản trị, do vậy đối tượng sử dụng thông tin kế toán trách nhiệm gồm:
- Đối với nhà quản trị cấp cao: Kế toán trách nhiệm cung cấp thông tin cho việc thực hiện chức năng tổ chức và điều hành của doanh nghiệp
- Đối với nhà quản trị cấp trung : Kế toán trách nhiệm cung cấp thông tin cho việc thực hiện chức năng kiểm soát tài chính và kiểm soát quản lý Thông qua kế toán trách nhiệm, nhà quản trị có thể phân tích, đánh giá chi phí, doanh thu và lợi nhuận thực hiện của từng bộ phận
- Đối với nhà quản trị cấp thấp: Kế toán trách nhiệm khuyến khích nhà quản lý hướng đến mục tiêu chung của tổ chức, giúp chủ động trong giải quyết công việc, tiếp cận thông tin, thích ứng nhanh nhạy với mọi thay đổi của thị trường qua đó phát hiện nhân tố
mới nhằm thuận lợi cho việc đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ kế cận
2.2 Phân cấp quản lý và cơ sở tổ chức kế toán trách nhiệm
Hệ thống kế toán trách nhiệm gắn liền với sự phân cấp quản lý Nó là công cụ quản lý để khai thác tiềm năng của các thành viên, bộ phận trong doanh nghiệp và cũng đồng thời là công cụ quản lý nhằm đảm bảo mục tiêu, định hướng của doanh nghiệp
Để làm được điều này đòi hỏi cơ cấu tổ chức quản trị phải được phân công phân nhiệm cho các bộ phận với những nhà quản trị chuyên môn tương ứng và có đủ quyền hạn Nói một cách khác, sự phân cấp quản lý trong doanh nghiệp phải dựa trên việc phân chia nhiệm vụ rõ ràng và giữa nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền lực, lợi ích phải cân xứng và
cụ thể Chỉ có phân giao nhiệm vụ trong doanh nghiệp một cách rõ ràng và cụ thể mới phân biệt rõ ai làm tốt, ai làm chưa tốt nhiệm vụ được giao thì doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển Sự phân cấp trong quản lý cũng là tiền đề xác định các trung tâm trách nhiệm
Sự phân cấp quản lý sẽ mang lại cho hệ thống quản lý của doanh nghiệp những mặt tích cực sau:
- Ra quyết định tốt nhất là ở ngay cấp phát sinh vấn đề Nhà quản lý các bộ phận
và các bộ phận trong tổ chức là những chuyên gia trong lĩnh vực họ quản lý Do vậy, họ
Trang 30sẽ quản lý bộ phận của họ hiệu quả hơn
- Bằng việc trao một số quyền ra quyết định cho nhiều cấp quản lý, các nhà quản
lý cấp cao đỡ phải giải quyết rất nhiều vần đề xảy ra hàng ngày, quyết định mức độ cao hơn, do đó có thời gian tập trung lập các kế hoạch chiến lược và điều phối hoạt động
- Giao trách nhiệm và quyền được ra quyết định thường làm tăng sự hài lòng với công việc và khuyến khích người quản lý bộ phận nổ lực hết mình và có trách nhiệm cao với công việc được giao
- Sự phân cấp quản lý cung cấp một căn cứ tốt hơn để đánh giá sự thực hiện của người quản lý
2.2.1 Các trung tâm trách nhiệm
Trung tâm trách nhiệm là một bộ phận trong một tổ chức mà các nhà quản trị của
nó chịu trách nhiệm đối với thành quả hoạt động của chính bộ phận do mình phụ trách Theo nhóm tác giả Anthony A.Atkinson, Robert s Kaplan và Ella Mae Matsumura
(2012) thì kế toán thường chia các trung tâm trách nhiệm thành bốn loại sau đây:
2.2.1.1 Trung tâm chi phí
Trung tâm chi phí là trung tâm trách nhiệm mà người quản lý chỉ chịu trách nhiệm hoặc chỉ có quyền kiểm soát đối với chi phí phát sinh ở trung tâm, không có quyền hạn đối với lợi nhuận và vốn đầu tư Được xếp vào loại trung tâm chi phí là các phân xưởng sản xuất, các phòng ban chức năng không trực tiếp tham gia vào hoạt động kinh doanh
Chi phí được hiểu theo quan điểm kế toán quản trị là dòng phí tổn thực tế gắn liền với hoạt động hàng ngày khi tổ chức thực hiện, kiểm tra, ra quyết định; chi phí cũng có thể là dòng phí tổn ước tính để thực hiện dự án, những phí tổn mất đi do lựa chọn phương
án, hy sinh cơ hội kinh doanh Trung tâm chi phí là phạm vi cơ bản của hệ thống xác định chi phí, là điểm xuất phát của các hoạt động: phân loại chi phí thực tế phát sinh, lập dự toán chi phí và so sánh chi phí thực tế phát sinh với chi phí dự toán Thông qua việc đánh giá tình hình chi phí thực tế của bộ phận so với kế hoạch giúp cho các nhà quản trị xác định và kiểm tra nhằm giúp việc sử dụng chi phí đạt hiệu quả cao Trung tâm chi phí thường được chia làm 2 loại:
Trang 31Trung tâm chi phí tiêu chuẩn: Là trung tâm chi phí mà các yếu tố chi phí và các
mức hao phí về nguồn lực sử dụng sản xuất một đơn vị sản phẩm, dịch vụ đều được xây dựng trên những định mức cụ thể Trung tâm chi phí tiêu chuẩn có thể là các nhà máy sản xuất, các phân xưởng sản xuất, các tổ, đội sản xuất Tại trung tâm chi phí, nhà quản trị trung tâm chi phí có trách nhiệm kiểm soát chi phí thực tế phát sinh đảm bảo chi phí phát sinh theo đúng định mức chi phí đơn vị sản phẩm
Đối với trung tâm chi phí, nhà quản trị phải chịu trách nhiệm về tính hiệu quả và tính hiệu suất trong phạm vi hoạt động của trung tâm Tính hiệu quả được đo lường bằng mức độ trung tâm đạt được sản lượng mong muốn trong những mức độ về chất lượng và thời gian nhất định, còn tính hiệu suất được đo lường bằng mối liên hệ giữa đầu vào và đầu ra
Trung tâm chi phí dự toán: Là trung tâm chi phí mà các yếu tố được dự toán và
đánh giá căn cứ trên nhiệm vụ được giao chung nên không thể xác định được chi phí cụ thể cho từng đơn vị sản phẩm hoặc cho từng công việc cụ thể của trung tâm Nhà quản trị của trung tâm này có trách nhiệm kiểm soát chi phí thực tế phát sinh sao cho phù hợp với chi phí dự toán, đồng thời đảm bảo hoàn thành đúng nhiệm vụ được giao Các trung tâm
này bao gồm: phòng kế toán, phòng nhân sự, phòng kinh doanh, phòng marketing,
2.2.1.2 Trung tâm doanh thu
Trung tâm doanh thu là trung tâm trách nhiệm mà người quản lý chỉ có trách nhiệm với doanh thu cần tạo ra, không chịu trách nhiệm với lợi nhuận và vốn đầu tư Thành quả của các trung tâm doanh thu thường được đánh giá bằng việc so sánh doanh thu thực tế với doanh thu dự toán và phân tích các chênh lệch phát sinh Trung tâm doanh thu có quyền quyết định công việc bán hàng trong khung giá cả cho phép để tạo ra doanh thu cho DN
Trung tâm này thường được gắn với bậc quản lý cấp trung hoặc cấp cơ sở, đó là các bộ phận kinh doanh trong đơn vị như các chi nhánh tiêu thụ, khu vực tiêu thụ, cửa hàng tiêu thụ, nhóm sản phẩm,
Trung tâm này phải có chính sách bán hàng, không chỉ dựa trên tình hình thị trường mà còn dựa trên giá thành, chi phí và các mục tiêu lâu dài của công ty
Trang 322.2.1.3 Trung tâm lợi nhuận
Trung tâm lợi nhuận là trung tâm trách nhiệm mà nhà quản trị chỉ được quyền ra quyết định đối với lợi nhuận, doanh thu đạt được và chi phí phát sinh trong bộ phận đó
Do lợi nhuận bằng doanh thu trừ chi phí nên các nhà quản trị của trung tâm lợi nhuận có trách nhiệm cả về doanh thu và chi phí phát sinh ở bộ phận đó Vì vậy, nhà quản trị được quyền quyết định về những vấn đề như: định giá, chi phí quảng cáo, sản lượng sản xuất, nguồn cung cấp, cơ cấu hàng bán, Mọi sự đầu tư thêm vốn cho trung tâm đều nằm ngoài phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của nhà quản trị trung tâm lợi nhuận
Loại trung tâm trách nhiệm này thường được gắn ở bậc quản lý cấp trung, đó là giám đốc điều hành trong công ty, các đơn vị kinh doanh trong tổng công ty như các công
ty phụ thuộc, các chi nhánh
Thành quả của các trung tâm lợi nhuận thường được đánh giá bằng việc so sánh các dữ liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh thực tế với các dữ liệu trên báo cáo kết quả
kinh doanh dự toán tổng thể và dự toán linh hoạt
2.2.1.4 Trung tâm đầu tư
Đây là loại trung tâm trách nhiệm gắn với bậc quản lý cấp cao như hội đồng quản trị công ty, các công ty con độc lập Đó là sự tổng quát hóa của các trung tâm lợi nhuận trong đó khả năng sinh lời được gắn với các tài sản được sử dụng để tạo ra lợi nhuận đó Một trung tâm trách nhiệm được xem là một trung tâm đầu tư khi nhà quản trị của trung tâm đó không những quản lý chi phí và doanh thu mà còn quyết định lượng vốn sử dụng
để tiến hành quá trình đó
Bằng cách tạo mối liên hệ giữa lợi nhuận và tài sản sử dụng để tạo ra lợi nhuận đó, chúng ta có thể đánh giá lợi nhuận tạo ra có tương xứng với đồng vốn đã bỏ ra hay không Thông qua đó cũng hướng sự chú ý của nhà quản lý đến mức độ sử dụng hiệu quả vốn lưu động đặc biệt là các khoản phải thu và hàng tồn kho được sử dụng tại trung tâm
Như vậy, tóm lại để có thể xác định một bộ phận trong doanh nghiệp là trung tâm loại gì thì có thể căn cứ vào chức năng tài chính của bộ phận đó Trên thực tế, việc phân biệt rõ ràng loại trung tâm trách nhiệm cho các bộ phận, đơn vị trong một doanh nghiệp chỉ mang tính tưong đối và phụ thuộc chủ yếu vào quan điểm của nhà quản trị cấp cao
Trang 33nhất Vì vậy, để có thể phân loại các bộ phận, đơn vị trong doanh nghiệp vào loại trung tâm trách nhiệm nào cho hợp lý thì tốt nhất là nên căn cứ vào nhiệm vụ của chính bộ phận, đơn vị đó
2.2.2 Mối quan hệ giữa trung tâm trách nhiệm với cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức là sự phân chia tổ chức theo chức năng quản lý, còn trung tâm trách nhiệm lại phân chia tổ chức theo chức năng hoạt động Cụ thể như hội đồng quản trị
ở tổng công ty chịu trách nhiệm về vốn đầu tư, các hoạt động, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Tiếp theo là các công ty thành viên chịu trách nhiệm về lợi nhuận và phải báo cáo hoạt động trước hội đồng quản trị Đồng thời, các chi nhánh và bộ phận bán hàng chịu trách nhiệm trước giám đốc về doanh thu và cuối cùng các bộ phận khác còn lại sẽ chịu trách nhiệm về chi phí trước giám đốc công ty Với cơ cấu tổ chức như vậy, hệ thống
KTTN sẽ hình thành tương ứng như sau:
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ mối quan hệ giữa trung tâm trách nhiệm và cơ cấu tổ chức
(Nguồn: Nguyễn Doãn Hải Đăng, 2016)
Cơ cấu tổ chức quản lý
Trung tâm đầu tư
Trung tâm chi phí Trung tâm doanh thu Trung tâm lợi nhuận
Trang 342.3 Nội dung của kế toán trách nhiệm
2.3.1 Xác định các trung tâm trách nhiệm
Trung tâm trách nhiệm là một chức năng hay một bộ phận trong tổ chức, đặt dưới
sự lãnh đạo của nhà quản trị hoặc một cấp quản lý, chịu trách nhiệm đối với thành quả hoạt động của chính bộ phận do mình phụ trách Như đã đề cập ở phần trên thì có bốn loại trung tâm trách nhiệm cơ bản gồm: trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm
lợi nhuận, trung tâm đầu tư
2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá thành quả của các trung tâm trách nhiệm
Để đo lường, đánh giá các trung tâm trách nhiệm, có hai loại chỉ tiêu cơ bản là chỉ tiêu kết quả và chỉ tiêu hiệu quả Trong khi chỉ tiêu kết quả là mức độ các trung tâm trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ đề ra, thì chỉ tiêu hiệu quả là tỷ lệ so sánh giữa tổng đầu ra và tổng đầu vào của một trung tâm trách nhiệm Nó cho thấy kết quả thực tế đạt được so với các nguồn lực được sử dụng để tạo ra kết quả đó, tức trung bình kết quả mang lại trên mỗi đơn vị đầu vào
2.3.2.1 Chỉ tiêu đánh giá thành quả của trung tâm chi phí
Trung tâm chi phí định mức: đầu ra có thể xác định và lượng hóa được dựa trên
cơ sở đã biết phí tổn đầu vào cần thiết để tạo đầu ra
Về mặt kết quả, thành quả quản lý của trung tâm chi phí tiêu chuẩn được đánh giá thông qua mức độ hoàn thành kế hoạch sản xuất, kế hoạch thi công trên cơ sở đảm bảo đúng thời hạn, đúng tiêu chuẩn, kỹ thuật, chất lượng Chỉ tiêu đánh giá kết quả của trung tâm chi phí là số lượng sản phẩm, dịch vụ tạo ra
Về mặt hiệu quả, thành quả quản lý của trung tâm chi phí tiêu chuẩn được đo lường trên cơ sở so sánh giữa chi phí sản xuất thực tế và chi phí định mức Trên cơ sở tính toán sai biệt chi phí, phân tích ảnh hưởng của nhân tố gây sai biệt để xác định nguyên nhân tác động đến tình hình thực hiện định mức chi phí đo lường bởi mức độ sản lượng
đạt được về chất lượng và thời gian thực hiện định mức Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của
trung tâm chi phí là việc thực hiện định mức tiêu hao nguyên vật liệu, năng suất lao động
Trang 35Từ đó, đánh giá thành quả của trung tâm chi phí dựa trên kết quả đạt được và hiệu quả công việc của trung tâm này mang lại
Trung tâm chi phí không định mức được: đầu ra của trung tâm này không thể
lượng hóa bằng tiền, đồng thời mối quan hệ giữa đầu ra và đầu vào ở trung tâm này là không thể so sánh được Trung tâm chi phí này thông thường là các phòng ban như phòng nhân sự, phòng kế toán, phòng hợp đồng Các khoản chi phí thường đặt ra cố định cho mỗi phòng ban, sự thay đổi nếu có của các khoản chi phí này cũng không làm ảnh hưởng đến năng suất ở các phân xưởng sản xuất
Về mặt kết quả, thành quả của trung tâm chi phí dự toán có thể đánh giá dựa trên mức độ hoàn thành kế hoạch của trung tâm
Về mặt hiệu quả, thành quả quản lý của trung tâm chi phí dự toán được đo lường
trên cơ sở so sánh giữa chi phí thực tế phát sinh và chi phí định mức
2.3.2.2 Chỉ tiêu đánh giá thành quả của trung tâm doanh thu
Về mặt kết quả, thành quả quản lý của trung tâm doanh thu được đánh giá thông qua đối chiếu doanh thu thực tế đạt được so với doanh thu dự toán của bộ phận, xem xét tình hình thực hiện dự toán tiêu thụ, trên cơ sở đó phân tích sai biệt doanh thu do ảnh hưởng của các nhân tố có liên quan như đơn giá bán, khối lượng tiêu thụ và kết cấu sản phẩm tiêu thụ
Ngoài ra, đo lường kết quả hoạt động của trung tâm này qua chỉ tiêu doanh số bán, sản lượng bán Từ đó, đánh giá trung tâm này có hoàn thành nhiệm vụ được giao hay không
Mức chênh lệch doanh thu = Doanh thu thực tế - Doanh thu dự toán
Về mặt hiệu quả, do đầu ra của trung tâm doanh thu được lượng hóa bằng tiền, nhưng đầu vào thì không Vì nhà quản trị trung tâm doanh thu không chịu trách nhiệm về giá thành hay giá vốn sản phẩm hàng hóa Vì thế, để đánh giá được hiệu quả của trung tâm doanh thu thì phải xét đến tình hình thực hiện dự toán của trung tâm này trên cơ sở so
sánh chi phí hoạt động thực tế với chi phí dự toán đã lập
Trang 362.3.2.3 Chỉ tiêu đánh giá thành quả của trung tâm lợi nhuận
Nếu trung tâm chi phí có trách nhiệm đảm bảo chi phí phát sinh phù hợp với kế hoạch sản xuất, trung tâm lợi nhuận phải tổ chức hoạt động sao cho đạt được lợi nhuận cao nhất, nghĩa là sử dụng các nguồn lực được giao một cách hiệu quả nhất, trong đó có trách nhiệm kiểm soát chi phí phát sinh, doanh thu thực hiện được từ hai trung tâm là chi phí và doanh thu Để đánh giá kết quả thực hiện được của trung tâm lợi nhuận, kế toán quản trị đánh giá việc thực hiện chỉ tiêu lợi nhuận qua mối quan hệ với giá bán và lượng bán
- Trung tâm có đạt được mức tiêu thụ dự toán hay không?
- Trung tâm cơ cấu hàng bán có đúng như dự toán hay không?
- Trung tâm có thực hiện giá bán có đúng như dự toán hay không?
Phương pháp đánh giá vẫn là phương pháp phân tích nhân tố cụ thể là phương pháp loại trừ để đánh giá mức độ ảnh hưởng của sản lượng tiêu thụ, cơ cấu sản lượng tiêu thụ, giá bán tới lợi nhuận trong kỳ
Ngoài ra, còn có thể sử dụng các chỉ tiêu như số dư bộ phận; tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu; tỷ suất doanh thu trên chi phí; để đánh giá thành quả hoạt động của các trung
tâm lợi nhuận
2.3.2.4 Chỉ tiêu đánh giá thành quả của trung tâm đầu tư
Về bản chất có thể xem trung tâm đầu tư là một dạng mở rộng của trung tâm lợi nhuận, trong đó nhà quản trị có nhiều quyền hạn và trách nhiệm hơn, vì ngoài việc đưa ra các quyết định ngắn hạn như xác định cơ cấu sản phẩm, giá bán, chi phí sản phẩm, họ còn có quyền kiểm soát và đưa ra các quyết định về vốn đầu tư của doanh nghiệp
Về mặt hiệu quả, sử dụng các thước đo để đánh giá thành quả hoạt động của trung tâm đầu tư như: Tỷ suất hoàn vốn đầu tư (ROI); Lãi thặng dư (RI);
- Tỷ suất hoàn vốn đầu tư (ROI): Tỷ suất hoàn vốn đầu tư là tỷ số giữa lợi nhuận thuần trên vốn đầu tư đã bỏ ra, hay theo DuPont thì ROI còn được phân tích là tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu nhân với vòng quay của vốn đầu tư
- Lãi thặng dư (RI): Lãi thặng dư (hay lợi tức còn lại) là khoản thu nhập của bộ phận hay toàn doanh nghiệp, được trừ đi chi phí sử dụng vốn mong đợi đã đầu tư vào bộ
Trang 37phận đó Chỉ số này nhấn mạnh thêm khả năng sinh lời vượt trên chi phí vốn đã đầu tư vào một bộ phận hay toàn doanh nghiệp
2.3.3 Báo cáo đánh giá thành quả trung tâm trách nhiệm
Báo cáo trách nhiệm là báo cáo về kết quả và hiệu quả hoạt động cho mỗi cấp bậc của trách nhiệm theo sơ đồ tổ chức quản lý của doanh nghiệp Hệ thống báo cáo này ghi nhận việc thực hiện mục tiêu và so sánh với mục tiêu được phân công của mỗi bộ phận trong doanh nghiệp Sau đó, hệ thống sẽ tổng hợp việc thực hiện mục tiêu của các cấp dưới lên cấp cao hơn Và từ đó tổng hợp được việc thực hiện mục tiêu của toàn doanh nghiệp, so sánh với mục tiêu của toàn doanh nghiệp và tạo ra báo cáo từng bộ phận và toàn doanh nghiệp Sự khác biệt giữa thông tin thực hiện với mục tiêu dự toán sẽ giúp nhà
quản trị đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động của các cấp quản trị bộ phận
2.3.3.1 Báo cáo đánh giá thành quả trung tâm chi phí
Báo cáo trách nhiệm của trung tâm chi phí là các bảng so sánh và xác định được các mức chênh lệch chi phí có thể kiểm soát giữa dự toán linh hoạt với thực tế Các báo cáo trung tâm chi phí được trình bày chi tiết theo các cấp độ quản lý khác nhau, thực hiện theo chiều dọc từ dưới lên trên và trách nhiệm chi tiết đến từng bộ phận tùy thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của đơn vị
Dựa vào báo cáo này, cấp quản lý nhận báo cáo sẽ đánh giá được tình hình thực hiện dự toán chi phí cũng như trách nhiệm quản lý của lãnh đạo các trung tâm chi phí
2.3.3.2 Báo cáo đánh giá thành quả trung tâm doanh thu
Báo cáo trách nhiệm của trung tâm doanh thu được dùng để đánh giá trách nhiệm quản lý dựa trên báo cáo thực hiện doanh thu có thể kiểm soát được so với doanh thu dự toán, đồng thời kèm theo phân tích ảnh hưởng của các nhân tố như giá bán, sản lượng tiêu thụ, cơ cấu sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ, đến sự biến động của doanh thu Tùy theo cơ cấu tổ chức quản lý mỗi doanh nghiệp mà người chịu trách nhiệm cao nhất của trung tâm doanh thu là khác nhau có thể là (Phó tổng giám đốc, Giám đốc, Trưởng đơn vị, bộ phận )
Trang 382.3.3.3 Báo cáo đánh giá thành quả trung tâm lợi nhuận
Thành quả quản lý của các nhà quản trị ở trung tâm lợi nhuận được đánh giá thông qua báo cáo thành quả được lập cho từng trung tâm lợi nhuận riêng biệt
Báo cáo thành quả được sử dụng để đánh giá thành quả quản lý của nhà quản trị ở trung tâm lợi nhuận là báo cáo kết quả kinh doanh được trình bày dưới hình thức số dư đảm phí Bằng việc so sánh thông tin thực tế với thông tin dự toán nhà quản trị có thể biết được chênh lệch nào là có lợi, chênh lệch nào là bất lợi, chênh lệch nào do biến động của khối lượng hoạt động, chênh lệch nào do thành quả kiểm soát doanh thu và chi phí mang lại Sau đây là mẫu báo cáo thành quả trung tâm lợi nhuận :
2.3.3.4 Báo cáo đánh giá thành quả trung tâm đầu tư
Báo cáo đánh giá thành quả trung tâm đầu tư được lập tại tổng công ty, và tại các công ty thành viên để theo dõi, phân tích, đánh giá hiệu quả, chất lượng đầu tư Từ đó giúp cho Hội đồng quản trị và Ban giám đốc có những thông tin cần thiết cho việc ra quyết định Mẫu báo cáo được minh họa như sau:
2.4 Đặc điểm công ty xây dựng ảnh hưởng đến vận dụng kế toán trách nhiệm trong
tổ chức
2.4.1 Đặc điểm tổ chức sản xuất
Các doanh nghiệp xây dựng chủ yếu thực hiện các hợp đồng sau khi trúng thầu hoặc chỉ định thầu Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 15 có đưa ra định nghĩa “hợp đồng xây dựng là hợp đồng bằng văn bản về việc xây dựng một tài sản hoặc tổ hợp các tài sản
có liên quan chặt chẽ hay phụ thuộc lẫn nhau về mặt thiết kế, công nghệ, chức năng hoặc mục đích sử dụng cơ bản của chúng”
Như vậy, khi hợp đồng được ký kết, sẽ có quy định về giá trị hợp đồng, điều khoản thanh toán và chất lượng kỹ thuật của công trình Khi nhà thầu thi công để tạo ra sản phẩm, đó là quá trình sản xuất sản phẩm Nghiệp vụ bàn giao công trình, hạng mục công trình cho bên chủ đầu tư là quá trình tiêu thụ sản phẩm Dựa vào đặc điểm này thì doanh thu có thể kiểm soát được dựa vào giá trị của các công trình, hạng mục công trình Mặt khác dựa vào chất lượng kỹ thuật được chi tiết trong hồ sơ thiết kế, doanh nghiệp cũng có
Trang 39thể lên kế hoạch về chi phí một cách chính xác để làm cơ sở đánh giá tình hình thực hiện
Quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp, có rất nhiều hạng mục nhỏ, tính chất công việc trong quá trình xây dựng cũng khác nhau, nên các doanh nghiệp Việt Nam thường quản lý theo phương thức khoán là chủ yếu Phương thức khoán đã được hầu hết các doanh nghiệp xây dựng áp dụng và mang lại hiệu quả cao Khi áp dụng hình thức khoán, trách nhiệm của người lao động sẽ gắn liền với lợi ích của họ, do đó họ sẽ phát huy được tính chủ động, sáng tạo trong quá trình sản xuất xây dựng, nâng cao năng suất lao động và giảm thiểu chi phí
Hoạt động xây dựng đòi hỏi phải có sự đầu tư rất lớn về vốn để mua sắm máy móc thiết bị thi công, thực hiện việc chi tiêu mua sắm các yếu tố phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn trong hoạt động xây dựng được huy động chủ yếu từ các nguồn: vay ngân hàng, cá nhân và các tổ chức tín dụng, do các cổ đông góp vốn, huy động từ thị trường chứng khoán, Do mua sắm tài sản lớn nên nợ phải trả chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn Nợ phải trả thì cao, thu hồi vốn đầu tư khó dẫn đến nhiều khó khăn trong công tác quản lý Bên cạnh đó, để ra những quyết định dài hạn như đầu tư mua sắm tài sản cố định, mở rộng sản xuất kinh doanh, nhà quản lý cần phải có những thông tin kế toán quản trị về các phương án lựa chọn Như vậy để phát triển bền vững, các doanh nghiệp xây dựng cần phải có đủ năng lực về tài chính Khi ra các quyết định kinh doanh ở điều kiện khác nhau, cần được xem xét trên cơ sở thông tin phục vụ cho việc ra quyết định Những phân tích vừa nêu trên cho thấy đặc điểm tổ chức sản xuất của các công ty xây dựng là có ảnh hưởng đến kế toán trách nhiệm ở công ty
2.4.2 Đặc điểm của sản phẩm xây dựng
Doanh nghiệp xây dựng cũng giống như các doanh nghiệp sản xuất khác, nhưng hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng lại có những đặc điểm riêng, đó là:
Sản phẩm xây dựng mang tính đơn chiếc: Sản phẩm xây dựng rất đặc thù, nó
không giống các sản phẩm sản xuất hàng loạt Các sản phẩm xây dựng đều khác nhau, đặc biệt nó được sản xuất tại chính nơi tiêu thụ Chính vì điều đó, mỗi sản phẩm sẽ có cách thức quản lý, tổ chức thực hiện khác nhau phù hợp với đặc điểm của từng sản phẩm
Trang 40Từ đó doanh thu, chi phí mỗi sản phẩm cũng khác nhau Việc tính doanh thu, chi phí, giá
thành cũng sẽ được theo dõi theo từng công trình, hạng mục công trình
Sản phẩm xây dựng có giá trị lớn và thời gian thi công dài: Các công trình xây
dựng thường có giá trị rất lớn và thời gian thi công kéo dài tùy theo quy mô công trình Trong khoảng thời gian thi công chưa tạo ra sản phẩm nhưng lại tiêu hao những khoản chi phí về nhân công và vật liệu Mặt khác, sau khi công trình hoàn thành vẫn phát sinh những khoản chi phí về sửa chữa, bảo hành Do đó khi lên kế hoạch về chi phí, cần tính
toán các khoản chi phí để đảm bảo cho việc theo dõi chặt chẽ và sử dụng tiết kiệm
Do thời gian thi công dài nên kỳ tính giá thành cũng không xác định rõ ràng hàng tháng, mà thường xác định dựa vào thời điểm nghiệm thu giai đoạn theo từng hạng mục công trình Đồng thời, việc tính toán chính xác sản phẩm dở dang trong sản phẩm xây dựng cũng rất khó thực hiện
Địa điểm thi công xây dựng thường xuyên thay đổi: Thông thường mỗi công
trình xây dựng thường có địa điểm thi công nhất định Khi công trình này kết thúc, doanh nghiệp sẽ phải vận chuyển máy móc, nhân công, nguyên vật liệu thừa đến công trình khác Khi đó sẽ phát sinh các khoản chi phí khác nhau liên quan đến tháo dỡ, vận chuyển Với đặc điểm này, doanh nghiệp cần cân nhắc giữa các phương án như thuê ngoài đội thi công hay tổ chức đội thi công của công ty, thuê ngoài máy móc thiết bị hay mua
Quá trình thi công xây dựng thường diễn ra ngoài trời: Hầu hết các công trình
xây dựng đều diễn ra ngoài trời Do đó khi điều kiện thời tiết xấu sẽ ảnh hưởng tới chất lượng công trình cũng như tiến độ thi công Ví dụ như: thời tiết mưa rét, độ ẩm cao sẽ làm cho công tác đổ bê tông không thuận lợi, chất lượng bê tông kém Kéo theo đó làm trễ tiến độ công trình, bị phạt tiền do chậm tiến độ thi công Tùy thuộc vào điều kiện địa
lý và khí hậu của từng công trường mà công ty phải lên kế hoạch chi phí cũng như thi công một cách hợp lý để đảm bảo việc thi công đúng tiến độ và chất lượng công trình
cao
Việc sử dụng nguồn lực lãng phí, ô nhiễm môi trường: Đi kèm với sự phát triển
về kinh tế - xã hội, con người đang phải đối mặt với sự khan hiếm tài nguyên thiên nhiên