Một số nghiên cứu Johnshon và Greening, 1999; Jo và Harjoto, 2011 khám phá ra rằng việc thực hành CBTTTNXH có mối tương quan dương với cơ chế quản trị bên trong và bên ngoài của doanh ng
Trang 1-
NGUYỄN THỊ KIM DUNG
ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN TỐ QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN MỨC
ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI – BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN
SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP HỒ CHÍ MINH (HOSE)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018
Trang 2-
NGUYỄN THỊ KIM DUNG
ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN TỐ QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN MỨC
ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI – BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN
SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP HỒ CHÍ MINH (HOSE)
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Thu
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công
bố trong công trình nào khác
TP Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 09 năm 2018
Người thực hiện luận văn
Nguyễn Thị Kim Dung
Trang 4TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH ẢNH
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 3
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4
4 Tóm tắt phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp mới của nghiên cứu 6
6 Kết cấu của đề tài 6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 8
1.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến CBTTTNXH 8
1.2 Bàn luận kết quả đạt được từ việc tổng hợp các nghiên cứu trước 12
1.2.1 Mối quan hệ giữa sở hữu quản lý với CBTTTNXH 12
1.2.2 Mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước với CBTTTNXH 13
1.2.3 Mối quan hệ giữa sở hữu nước ngoài với CBTTTNXH 14
1.2.4 Mối quan hệ giữa thành viên độc lập HĐQT với CBTTTNXH 15
1.2.5 Mối quan hệ giữa vai trò kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT với CBTTTNXH 16
1.2.6 Mối quan hệ giữa ủy ban kiểm toán với CBTTTNXH 16
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 18
2.1 Các khái niệm căn bản 18
2.1.1 Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp 18
2.1.2 Công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 25
2.1.3 Nhân tố quản trị công ty 27
2.2 Các lý thuyết nền tảng liên quan 30
Trang 53.1 Thiết kế nghiên cứu 34
3.2 Giả thuyết và mô hình nghiên cứu 35
3.2.1 Giả thuyết nghiên cứu 35
3.2.2 Mô hình nghiên cứu 40
3.3 Thang đo 42
3.3.1 Biến phụ thuộc 42
3.3.2 Biến giải thích và biến kiểm soát 43
3.4 Dữ liệu nghiên cứu và cách thức thu thập dữ liệu 47
3.4.1 Xác định mẫu nghiên cứu 47
3.4.2 Nguồn dữ liệu 48
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 49
4.1 Thống kê mô tả 49
4.2 Phân tích tương quan các biến 51
4.3 Kiểm định sự khác biệt 54
4.4 Kết quả hồi quy 56
4.4.1 Mô hình 1: Tác động của sở hữu quản lý (MOWN) đến mức độ CBTTTNXH 58
4.4.2 Mô hình 2: Tác động của sở hữu nhà nước (GOVOWN) đối với CBTTTNXH 58
4.4.3 Mô hình 3: Tác động của sở hữu nước ngoài (FOROWN) đối với CBTTTNXH 58
4.4.4 Mô hình 4: Tác động của thành viên độc lập HĐQT (BIND) đối với CBTTTNXH 59
4.4.5 Mô hình 5: Tác động của thành viên kiêm nhiệm vị trí CEO với chủ tịch HĐQT (CEODU) đối với CBTTTNXH 59
4.4.6 Mô hình 6: Tác động của tổng số thành viên trong ủy ban kiểm toán (AUDCOM) đối với CBTTTNXH 59
4.4.7 Mô hình 7: Kiểm định độ tin cậy của mô hình 60
CHƯƠNG 5: BÀN LUẬN VÀ KẾT LUẬN 61
Trang 6DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7CEO : Giám đốc điều hành
BCTN : Báo cáo thường niên
HĐQT : Hội đồng quản trị
TNXH : Trách nhiệm xã hội
TNXHDN : Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp QTCT : Quản trị công ty
Trang 8Bảng 4 1: Thống kê mô tả của các biến 50
Bảng 4 2: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến 52
Bảng 4 3: Kiểm định sự khác biệt 55
Bảng 4 4: Kết quả mô hình hồi quy 56
Bảng 4 5: Bảng tổng hợp kết quả nghiên cứu so với giả thuyết 60
Trang 9Hình 2 1: Hệ thống phân cấp trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 20
Hình 2 2: Hệ thống QTCT 28
Hình 3 1: Quy trình thiết kế nghiên cứu 34
Hình 3 2: Mô hình nghiên cứu 42
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thuật ngữ “Phát triển bền vững” xuất hiện trong báo cáo Brundtland từ năm
1987 nhưng vẫn giữ nguyên tính hấp dẫn và ngày càng trở nên phổ biến đối với doanh nghiệp Trong môi trường kinh doanh ngày nay, phát triển bền vững trở thành một xu hướng tất yếu của doanh nghiệp Để phát triển bền vững, đòi hỏi doanh nghiệp không chỉ chú trọng đến sự giàu có về kinh tế mà còn phải biết quan tâm đến trách nhiệm
xã hội (TNXH) Trách nhiệm của doanh nghiệp ảnh hưởng đến tất cả các khía cạnh của doanh nghiệp cũng như phần lớn sự giàu có và “sức khỏe” của xã hội là do doanh nghiệp tạo ra (McWilliams và cộng sự, 2006) Do đó, TNXH ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự thành công của cả doanh nghiệp lẫn xã hội Chính vì vậy, việc công bố thông tin TNXH là một trong những cách được doanh nghiệp lựa chọn để lấy được lòng tin của xã hội, đặc biệt là khi hoạt động của doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến các vấn đề về xã hội và môi trường như quyền con người, ô nhiễm môi trường và các vấn đề lao động
Công bố thông tin trách nhiệm xã hội (CBTTTNXH) hay báo cáo TNXH là
đề tài được giới nghiên cứu hàn lâm quan tâm trong nhiều thập kỷ qua (Mathews, 1997) Thực tế, nhiều nghiên cứu đã khám phá ra vai trò cũng như những ảnh hưởng của việc CBTTTNXH lên các yếu tố liên quan đến doanh nghiệp Chẳng hạn: tìm hiểu các doanh nghiệp đang báo cáo những vấn đề gì: Teoh và Thong (1984) chỉ ra rằng báo cáo TNXH của doanh nghiệp thực tế bị thụt lùi so với hoạt động xã hội của doanh nghiệp, tập trung chủ đạo vào các hoạt động liên quan đến cải thiện nguồn nhân lực và sản phẩm hay dịch vụ thay vì các hoạt động liên quan đến cộng đồng và môi trường; và động cơ thúc đẩy doanh nghiệp công bố thông tin xã hội và môi trường (Patten, 1992; Adams và cộng sự, 1998) Bên cạnh đó, một số nghiên cứu khác cho thấy báo cáo TNXH có tác động cùng chiều đến nhận thức của các bên liên quan về hiệu quả hoạt động, giá trị cũng như rủi ro của doanh nghiệp (Gray và cộng sự, 1995; Godfrey và cộng sự, 2009)
Trang 11Việc thực hành CBTTTNXH bị ảnh hưởng bởi những lựa chọn, động cơ, và nguyên tắc của những người liên quan đến cấu trúc sở hữu và thành phần hội đồng quản trị (HĐQT), là các yếu tố chủ chốt trong cơ chế quản trị công ty (QTCT) (Gibbins và cộng sự, 1990; Haniffa và Cooke, 2005) Bên cạnh đó, thành viên HĐQT chịu trách nhiệm hoạch định chiến lược kinh doanh cũng như giám sát việc sử dụng tài sản của doanh nghiệp, nên có ảnh hưởng đến các quyết định liên quan đến thực hành TNXH, bao gồm CBTTTNXH Một số nghiên cứu (Johnshon và Greening, 1999; Jo và Harjoto, 2011) khám phá ra rằng việc thực hành CBTTTNXH có mối tương quan dương với cơ chế quản trị bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp, ví
dụ như tính độc lập của hội đồng quản trị, ban lãnh đạo và sở hữu tổ chức Ngoài ra, Beltratti (2005) đã đưa ra bằng chứng thực nghiệm rằng cả cơ chế QTCT và TNXHDN đều có mối tương quan dương đến giá trị thị trường của tổ chức Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện tại các nước phát triển để khám phá mối tương quan giữa nhân tố QTCT với CBTTTNXH
Trong khi đó, những vấn đề liên quan đến QTCT, chưa bao giờ hết nóng Đặc biệt là sau những cuộc khủng hoảng toàn cầu mang tính hệ thống như khủng hoảng
hệ thống ngân hàng thứ cấp ở Anh quốc vào những năm 1970, cuộc khủng hoảng của các tổ chức cho vay và tiết kiệm ở Mỹ vào những năm 1980,… Sự thất bại của các doanh nghiệp trước đây thường bắt nguồn từ những chỉ trích về cấu trúc quản trị không đầy đủ dẫn tới việc đưa ra những quyết sách không hợp lý của HĐQT của những doanh nghiệp đó Tầm quan trọng của các ủy ban này đã được công nhận trong mọi môi trường kinh doanh (Petra, 2007) Điều này dấy lên một hồi chuông cho sự quan trọng của QTCT cũng như sự cấp bách của những khuôn khổ QTCT có hiệu quả Tại Việt Nam, đã xuất hiện một số thay đổi về luật lệ QTCT Tuy vậy, về phía các doanh nghiệp vẫn chưa có nhiều chuyển biến tích cực, trừ một thiểu số
Các nghiên cứu khám phá những yếu tố ảnh hưởng đến việc CBTTTNXH, ví
dụ áp lực từ nguồn lực liên quan, cộng đồng nói chung và đại diện cơ quan công quyền, đã bùng nổ từ thập niên 1970 (Cowen, Ferreri, & Parker, 1987) Có rất ít
Trang 12nghiên cứu về tác động của QTCT đến CBTTTNXH tại các nước có nền kinh tế mới nổi (Khan và cộng sự, 2012) Đặc biệt, nghiên cứu về chủ đề CBTTTTXH ở Việt Nam còn rất hạn chế và sơ khai Do đó, đây chính là khe hổng quan trọng để tác giả tiếp tục khám phá sự ảnh hưởng của nhân tố QTCT đến vấn đề CBTTTNXH trong bối cảnh Việt Nam
Ngoài ra, Oh và cộng sự (2011) cho rằng bối cảnh thể chế ở các nước khác nhau có thể khuyến khích hoặc hạn chế thực hành TNXH Các tác giả này cũng nhận định nhiều công ty đại chúng ở một số nước châu Á (ví dụ: Nhật Bản, Trung Quốc
và Hàn Quốc), do các thành viên gia đình sáng lập và quản lý nên có thể ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định Bên cạnh đó, Uddin và Choudhury (2008) đã chỉ ra rằng những doanh nghiệp ở các nước có nền kinh tế mới nổi, đặc trưng bởi sở hữu gia đình, tham nhũng và can thiệp chính trị, thường được quản trị theo lối truyền thống Tại Việt Nam, QTCT còn nhiều vấn đề bất cập và hiện đang ghi nhận thực trạng đáng báo động Bên cạnh đó, khuôn khổ QTCT tại Việt Nam có một số đặc trưng như sở hữu tập chung, ít có sự phân chia giữa sở hữu và quyền kiểm soát, các thể chế QTCT còn thiếu (Nhâm Phong Tuân và Nguyễn Anh Tuấn, 2016) Do đó, ảnh hưởng của nhân tố QTCT đến vấn đề CBTTTNXH ở nền kinh tế mới nổi như Việt Nam vẫn là câu hỏi cần lời giải đáp
Qua khảo sát lý thuyết, tác giả thấy rằng có rất ít các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai nhân tố này Xuất phát từ tính thời
sự của việc CBTT TNXH, và tầm quan trọng của việc tiến hành nghiên cứu thực nghiệm để kiểm chứng mối quan hệ giữa nhân tố QTCT và việc CBTT TNXH, tác
giả chọn đề tài: “Ảnh hưởng của nhân tố quản trị công ty đến mức độ công bố
thông tin trách nhiệm xã hội – bằng chứng thực nghiệm tại các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HoSE)” là vấn đề
nghiên cứu của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Trang 13Nghiên cứu được thực hiện nhằm đạt mục tiêu tổng quát là cung cấp bằng chứng thực nghiệm về sự ảnh hưởng của nhân tố QTCT đến mức độ CBTTTNXH của các doanh nghiệp trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HoSE) Trong đó, quản trị công ty được đại diện bởi cấu trúc sở hữu (sở hữu quản
lý, sở hữu nhà nước và sở hữu nước ngoài) và đặc tính của quản trị doanh nghiệp (thành viên độc lập HĐQT, vai trò kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT và ủy ban kiểm toán)
Từ đó, mục tiêu cụ thể được xác định như sau:
(1) Xác định các nhân tố thuộc QTCT
(2) Tính toán, đo lường mức độ CBTTTNXH tại các công ty trong phạm vi nghiên cứu; sau đó, sử dụng kết quả vừa tính toán được để kiểm tra mối quan hệ giữa nhân tố QTCT và vấn đề CBTTTNXH
(3) Xem xét sự khác biệt về đặc điểm QTCT giữa nhóm công ty niêm yết có mức độ CBTTTNXH cao và nhóm công ty niêm yết có mức độ CBTTTNXH thấp
Câu hỏi nghiên cứu
Từ đó, mục tiêu nghiên cứu được khái quát qua câu hỏi nghiên cứu:
Có tồn tại mối quan hệ giữa nhân tố QTCT và CBTTTNXH trong các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh hay không và nếu
có tồn tại mối quan hệ giữa hai nhân tố thì QTCT ảnh hưởng như thế nào đến vấn đề CBTTTNXH?
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu mối quan hệ giữa nhân tố QTCT và mức độ CBTT TNXH của 50 doanh nghiệp được lựa chọn ngẫu nhiên trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HoSE) Qua đó, tác giả xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu cho đề tài:
Đối tượng nghiên cứu
Trang 14Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nhân tố QTCT, vấn đề CBTTTNXH và ảnh hưởng của QTCT đến vấn đề CBTTTNXH
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên
Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (Không bao gồm ngân hàng, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, công
ty quản lý quỹ)
Phạm vi thời gian:
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập trong giai đoạn 2015 – 2017
4 Tóm tắt phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu được mô tả tóm tắt như sau:
Thứ nhất, tác giả tiến hành tính toán chỉ số CBTTTNXH của các doanh nghiệp
dựa vào dữ liệu thứ cấp thu thập từ báo cáo thường niên và một bảng điểm gồm các chỉ tiêu cụ thể được phân loại thành 5 nhóm Các nhóm và chỉ tiêu trong bảng điểm được kế thừa từ những nghiên cứu trước và được hiệu chỉnh cho phù hợp với bối cảnh
ở Việt Nam Đồng thời, xác định các biến đo lường đại diện cho nhân tố QTCT và thu thập dữ liệu cho các biến này
Tiếp theo, tác giả tiến hành xây dựng mô hình hồi quy Sau đó, sử dụng phần
mềm Stata để phân tích dữ liệu thông qua các kiểm định thống kê mô tả, phân tích tương quan và kiểm định giả thuyết nghiên cứu để kiểm tra mối quan hệ giữa nhân tố QTCT và CBTTTNXH
Cuối cùng, tác giả phân tích các kết quả đạt được để trả lời câu hỏi nghiên cứu,
sau đó so sánh với kết quả từ các nghiên cứu khác
Trang 155 Đóng góp mới của nghiên cứu
Với mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài được kỳ vọng sẽ mang lại những đóng góp về mặt lý thuyết và thực tiễn như sau:
Về mặt lý thuyết
Thứ nhất, nghiên cứu đã bổ sung bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ
giữa QTCT và CBTTTNXH trong bối cảnh một nước có nền kinh tế mới nổi, đặc biệt khi nghiên cứu liên quan đến CBTTTNXH tại Việt Nam còn rất hạn chế
Thứ hai, Vấn đề CBTTTNXH được xác định bởi mối quan hệ giữa doanh
nghiệp với các bên liên quan; do đó, nghiên cứu một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của lý thuyết các bên liên quan đối với sự hiểu biết cũng như thực hành CBTTTNXH
Thứ ba, nghiên cứu bổ sung vào hệ thống cơ sở lý luận, là cơ sở cho các hướng
nghiên cứu tiếp theo có liên quan đến đề tài CBTTTTXH tại Việt Nam
Về mặt thực tiễn
Đối với doanh nghiệp: Kết quả cung cấp thêm thông tin mang hàm ý quản trị
cho các doanh nghiệp đang và có ý định CBTTTNXH Sự hiểu biết về mối quan hệ giữa nhân tố QTCT, cụ thể, ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu và thành phần hội đồng quản trị (HĐQT) đến mức độ CBTTTNXH Từ đó, giúp nhà quản trị đưa ra những quyết định chiến lược liên quan đến vấn đề CBTTTNXH của doanh nghiệp, hướng đến phát triển bền vững
Đối với nhà đầu tư: Thông qua mức độ CBTTTNXH của doanh nghiệp, nhà
đầu tư sẽ có cách nhìn nhận thận trọng hơn về những hoạt động của doanh nghiệp trước khi quyết định đầu tư
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, nghiên cứu được tác giả xây dựng thành 5 chương, cụ thể:
Trang 16Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Bàn luận và kết luận
Trang 17CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Mặc dù các bằng chứng thực nghiệm chưa hoàn toàn thống nhất về kết quả, nhưng việc lược khảo này đã từng bước làm sáng tỏ sự ảnh hưởng của quy chế quản trị doanh nghiệp đến CBTTTNXH Xét về tổng thể, đây không phải là chủ đề mới và
đã được nhiều học giả trên thế giới, đặc biệt là ở các nước phát triển, quan tâm, nghiên cứu Tuy nhiên, mối quan hệ giữa nhân tố quản trị công ty và CBTTTNXH tại các nước có nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, có thể khác biệt so với tại các nước có nền kinh tế tiến bộ Vì vậy, để trình bày ý tưởng nghiên cứu một cách khoa học và logic, tác giả hệ thống các bằng chứng thực nghiệm nổi bật theo nhóm các nhân tố Từ đó, mô hình nghiên cứu, trình bày trong chương sau, sẽ được thiết kế, kết nối dựa trên nền tảng các nghiên cứu đã lược khảo
Những nghiên cứu trước đã chứng minh rằng mức độ CBTTTNXH trong báo cáo thường niên của doanh nghiệp ở những nước phát triển tăng theo thời gian để đáp ứng yêu cầu của một số nhân tố Một số lý do có thể là để gia tăng tính hợp pháp, rủi
ro, hoạt động của các nhóm áp lực, nhà đầu tư có đạo đức, sự kiện, giải thưởng, hoạt động kinh tế, quan tâm truyền thông, nhận thức xã hội, và chính trị (Haniffa & Cooke, 2005) Qua việc lược khảo các nghiên cứu trước, tác giả nhận thấy có những nhân tố tác động đến mức độ CBTTTNXH như:Sở hữu quản lý, Sở hữu nhà nước, Sở hữu nước ngoài, Thành viên độc lập HĐQT,Vai trò kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT,Ủy ban kiểm toán
Một số lượng lớn nghiên cứu thực nghiệm đã tiến hành điều tra tác động của QTCT đến vấn đề CBTTTNXH Một số biến đại diện cho QTCT được xem xét phổ biến như cơ cấu và quy mô của HĐQT (Khan, 2010; Khan và cộng sự, 2013), giới tính của thành viên HĐQT (Said và cộng sự, 2009), cấu trúc sở hữu doanh nghiệp (Ghazali, 2007; Eng và Mak, 2003; Majeed và cộng sự, 2015) Tuy nhiên, kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ này thường mâu thuẫn và chưa thống nhất Cụ thể, một số kết quả nghiên cứu báo cáo các biến đại diện cho QTCT như sở
Trang 18hữu nước ngoài, thành viên độc lập HĐQT, vai trò kiêm nhiệm CEO và chủ tịch HĐQT, ủy ban kiểm toán có mối tương quan dương có ý nghĩa thống kê với CBTTTNXH;trong khi một số nghiên cứu khác phát hiện ra mối tương quan âm; hay thậm chí một số nghiên cứu không tìm thấy bất kỳ mối tương quan nào
Tại Việt Nam, nghiên cứu về CBTTTNXH chỉ mới đề cập đến các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện và báo cáo trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Việt Nam (Phạm Đức Hiếu); hay nghiên cứu của Hồ Thị Vân Anh tìm hiểu về mối quan hệ giữa “Trách nhiệm xã hội và hiệu quả tài chính” với bằng chứng thực nghiệm
là các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam Một số nghiên cứu khác khám phá vấn
đề CBTTTNXH trong phạm vi nhỏ hơn Chẳng hạn nghiên cứu của Nguyễn Phương Mai (2013), tìm hiểu về TNXHDN trong ngành dệt may tại Việt Nam Trong khi đó,
số lượng các nghiên cứu khám phá tác động của nhân tố QTCT đến mức độ CBTTTNXH còn rất hạn chế Trong phạm vi tìm hiểu của mình, tác giả phát hiện có nghiên cứu được thực hiện bởi Nguyễn Hữu Hòa (2017) Tuy nhiên nghiên cứu này chỉ tập trung khám phá tác động của nhân tố QTCT đến việc CBTTTNXH tại các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất niêm yết trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam chứ chưa đưa ra được kết luận cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khác như dịch vụ, thương mại, bất động sản
Từ đó, tác giả xác định những khe hổng nghiên cứu quan trọng để nhận dạng vấn đề nghiên cứu của mình:
Thứ nhất, Kết quả các nghiên cứu trước mâu thuẫn, có thể là do có sự khác
biệt về thước đo TNXH, phương pháp tiến hành, quy mô mẫu và các giai đoạn nghiên cứu Đặc biệt, nghiên cứu về chủ đề CBTTTTXH ở Việt Nam còn rất hạn chế
Thứ hai, Phần lớn các nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhân tố QTCT và
CBTTTNXH được thực hiện ở các nước phát triển và có sự giới hạn các nghiên cứu tương tự tại ở các nước có nền kinh tế mới nổi Ngoài ra, một số học giả cho rằng TNXH bị ảnh hưởng bởi bối cảnh thể chế, văn hóa cũng như quy định, luật pháp ở
Trang 19từng nước, từng khu vực nên việc thực hành CBTTTNXH có thể sẽ khác nhau khi các nghiên cứu được tiến hành ở từng vị trí địa lý khác nhau
Thứ ba, Do việc thực hiện CBTTTNXH ở các nước có nền kinh tế mới nổi
khác biệt so với ở các nước phát triển nên tiêu chuẩn báo cáo liên quan đến vấn đề TNXH ở hai nhóm nước này không thống nhất
Cụ thể việc tổng hợp sẽ được tác giả trình bày qua bảng tổng hợp sau:
Trang 20Bảng 1 1: Bảng tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTTTNXH
Khan và cộng sự (2013) _
(Tuy nhiên, khi xem xét những doanh nghiệp định hướng xuất khẩu, nhà quản lý
có xu hướng CBTTTNXH nhiều hơn.)
Trang 21Majeed và cộng sự (2015) Không tìm thấy mối tương
quan có ý nghĩa thống kê
Vai trò kiêm nhiệm
do giải thích cho kết quả.)
Khan và cộng sự (2013) Không tìm thấy mối tương
quan có ý nghĩa thống kê
Khan và cộng sự (2013) +
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
1.2.1 Mối quan hệ giữa sở hữu quản lý với CBTTTNXH
Ảnh hưởng của sở hữu quản lý đến việc công bố thông tin tự nguyện từ lâu đã
là chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu kế toán Johnson và Greening (1999) đã phát hiện ra mối tương quan dương giữa sở hữu của ban quản lý cấp cao
và hiệu quả hoạt động xã hội liên quan đến vấn đề môi trường và chất lượng sản phẩm Bên cạnh đó, Mohd Nasir và Abdullah (2004) đã nghiên cứu ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến mức độ công bố tự nguyện giữa các công ty tài chính ở Malaysia
và nhận thấy rằng sở hữu quản lý có mối tương quan dương với mức độ công bố tự
Trang 22nguyện Trong khi kết quả thực nghiệm của Donnelly và Mulcahy (2008) lại không tìm thấy mối liên hệ nào giữa công bố tự nguyện và sở hữu quản lý
Mặt khác, nhiều nghiên cứu lại chỉ ra rằng sở hữu quản lý tác động nghịch chiều đến mức độ công bố tự nguyện, đặc biệt đối với các doanh nghiệp mà quản lý chủ yếu bao gồm các thành viên trong gia đình Chau và Gray (2002) phát hiện ra mối tương quan âm giữa sở hữu gia đình và thực hành công bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp niêm yết tại Hồng Kông và Singapore Ho và Wong (2001); Eng và Mak (2003) báo cáo kết quả tương tự khi xem xét các doanh nghiệp niêm yết lần lượt ở Hồng Kông và Singapore Tuy nhiên các nghiên cứu này đánh giá mức độ công bố thông tin trên cả hai phương diện thông tin tài chính và phi tài chính, không đánh giá riêng mức độ CBTTTNXH
Trong khi đó, Ghazali (2007) thực hiện nghiên cứu tại Malaysia, chứng minh những doanh nghiệp mà nhà quản lý và giám đốc điều hành nắm giữ tỷ lệ cổ phiếu cao, có xu hướng công bố ít thông tin liên quan đến TNXH hơn trong BCTN Bên cạnh đó, theo Oh và cộng sự (2011), ở một số nước Châu Á, đặc biệt những nước mà nhà quản lý chịu ít áp lực thể chế liên quan đến các vấn đề xã hội, thì nhiều khả năng
họ sẽ theo đuổi các chiến lược ngắn hạn để tăng lợi nhuận hơn là đầu tư hoạt động cộng đồng và CBTTTNXH Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của Khan và cộng sự (2013) tại Việt Nam cũng phát hiện ra mối tương quan âm giữa sở hữu quản lý và CBTTTNXH Tuy nhiên, khi xem xét những doanh nghiệp định hướng xuất khẩu, các tác giả nhận thấy nhà quản lý có xu hướng báo cáo nhiều thông tin TNXH hơn
do áp lực từ khách hàng quốc tế
1.2.2 Mối quan hệ giữa sở hữu nhà nước với CBTTTNXH
Nhiều nghiên cứu trước đã chứng minh rằng cấu trúc sở hữu phân tán sẽ góp phần tăng thêm áp lực trong việc công bố tự nguyện (Ullmann, 1985, Chau and Gray, 2002) Kết quả nghiên cứu của Ghazali (2007) chỉ ra rằng những doanh nghiệp mà nhà nước là cổ đông lớn, sẽ công bố nhiều thông tin TNXH hơn trong BCTN Phần lớn các doanh nghiệp trong số này được cổ phần hóa theo chính sách kinh tế, chính
Trang 23trị quốc gia Do được thành lập với mục đích đặc biệt, nên các doanh nghiệp càng phải tham gia nhiều hơn vào hoạt động xã hội, cộng đồng để báo hiệu rằng doanh nghiệp đang hoạt động theo kỳ vọng của quốc gia Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Eng và Mak (2003) về ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu và các thành phần trong HĐQT đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của 158 doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Singapore
Thực hiện nghiên cứu tại Malaysian, Said và cộng sự (2009) kiểm chứng tác động của sở hữu nhà nước đến mức độ CBTTTNXH và báo cáo rằng sự can thiệp của chính phủ có thể tạo áp lực cho các doanh nghiệp công bố thông tin nhiều hơn, bởi vì chính phủ là một cơ quan được công chúng tin tưởng Tiếp sau đó, Khan và cộng sự (2013) cũng đưa ra kết quả nhất quán Nghiên cứu chỉ ra rằng khi một doanh nghiệp được nhà nước sở hữu thì vấn đề trách nhiệm xã hội có thể trở nên rất quan trọng do chịu nhiều áp lực từ cộng đồng Vì vậy, các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước có
xu hướng tham gia nhiều hơn vào các hoạt động xã hội và công bố hoạt động này để đảm bảo tính hợp pháp cho sự tồn tại của mình
1.2.3 Mối quan hệ giữa sở hữu nước ngoài với CBTTTNXH
Yêu cầu công bố thông tin của các cổ đông không giống nhau, và yêu cầu này càng khắt khe hơn khi cổ đông nước ngoài nắm giữ tỷ lệ lớn cổ phiếu của doanh nghiệp (Craswell & Taylor, 1992; Schipper, 1981) Haniffa và Cooke (2005) thực hiện nghiên cứu vấn đề CBTTTNXH của 139 doanh nghiệp phi tài chính được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Kuala Lumpur, tại Malaysia, đã đưa ra bằng chứng ủng hộ cho giả thuyết sở hữu nước ngoài có mối tương quan dương với mức độ công
bố thông tin tự nguyện Hai tác giả này phát biểu rằng các doanh nghiệp có vốn sở hữu nước ngoài lớn có xu hướng CBTTTNXH nhiều hơn, hành động này được coi là một chiến lược hợp pháp mang tính chủ động nhằm làm hài lòng những nhà đầu tư đạo đức; từ đó, thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Khan và cộng sự (2013) Đặc biệt, Khan (2010) đưa ra bằng chứng
Trang 24thực nghiệm từ các ngân hàng thương mại tư nhân của Việt Nam, báo cáo tỷ lệ sở hữu bởi cổ đông nước ngoài tác động đáng kể tới mức độ CBTTTNXH
Tuy nhiên, khi xem xét các doanh nghiệp ở Pakistan, bằng chứng thực nghiệm của Majeed và cộng sự (2015) báo cáo kết quả ngược lại, cho rằng cổ đông nước ngoài không quan tâm đến việc công bố hoạt động cộng đồng của doanh nghiệp Điều này cho thấy mặc dù mối quan hệ giữa sở hữu nước ngoài và CBTTTNXH đã được
đề cập đến trong các nghiên cứu, nhưng vẫn chưa thực sự thống nhất về kết quả
1.2.4 Mối quan hệ giữa thành viên độc lập HĐQT với CBTTTNXH
Forker (1992, trang 112-113) lập luận rằng việc đưa các thành viên không điều hành vào HĐQT sẽ cải thiện chất lượng công bố thông tin tài chính Bằng chứng thực nghiệm của Chen và Jaggi (2000) tại Hồng Kông, ủng hộ lập luận này, cho rằng tỷ lệ tổng số thành viên độc lập HĐQT trên tổng số thành viên HĐQT có tác động tích cực đến tính toàn diện của thông tin tài chính được công khai Eng và Mak (2003) kế thừa
ý tưởng của Chen và Jaggi (2000), mở rộng nghiên cứu và đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện Tuy nhiên, công trình của hai tác giả này lại đạt được kết quả đối lập, cho rằng việc gia tăng số thành viên độc lập HĐQT làm giảm mức độ công
bố thông tin tự nguyện
Trong khi đó, Khan và cộng sự (2013) đưa ra bằng chứng cho thấy các doanh nghiệp có tỷ lệ thành viên độc lập HĐQT cao công bố nhiều thông tin TNXH hơn Điều này phù hợp với kết quả được báo cáo từ những nghiên cứu trước (Barako, Hancock, & Izan, 2006; Harjoto & Jo, 2011)
Bên cạnh đó, Majeed và cộng sự (2015) cũng nghiên cứu tác động của thành viên độc lập HĐQT đến việc CBTTTTXH của các doanh nghiệp Pakistan; tuy nhiên, các tác giả không tìm thấy mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa hai nhân tố và nhận định rằng thành viên độc lập HĐQT có khả năng chú trọng thông tin tài chính hơn các báo cáo hoạt động xã hội Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu trước
đó của Ho và Wong (2001)
Trang 251.2.5 Mối quan hệ giữa vai trò kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT với
CBTTTNXH
Bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của vai trò kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT với CBTTTNXH chưa thực sự thống nhất Kết quả nghiên cứu của Haniffa và Cooke (2005) tìm ra mối tương quan dương giữa hai nhân tố này Các tác giả cho rằng những chủ tịch HĐQT kiêm nhiệm vị trí CEO mà quan tâm đến môi trường kinh doanh sẽ đưa ra quyết định CBTTTNXH với mục đích nhất định Việc CBTTTNXH được thực hiện như một chiến lược hợp pháp để xoa dịu các mối lo ngại của cộng đồng Trong khi đó, với mẫu nghiên cứu là các ngân hàng thương mại lớn
ở Mỹ trong giai đoạn 2009-2011, Jizi và cộng sự (2014) đề xuất giả thuyết vai trò kiêm nhiệm CEO tác động nghịch chiều đến mức độ CBTTTNXH Tuy nhiên, kết quả không như kỳ vọng, các tác giả tìm thấy mối tương quan dương có ý nghĩa thống
kê giữa hai nhân tố nhưng chưa đưa ra lý do giải thích cho mối tương quan này
Mặt khác, Cheng và Courtenay (2006) chứng minh rằng vai trò kiêm nhiệm giữa CEO và chủ tịch HĐQT không có mối tương quan nào với mức độ công bố thông tin tự nguyện Một nghiên cứu khác thực hiện bởi Khan và cộng sự (2013) cũng không tìm thấy mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa vai trò kiêm nhiệm với mức
độ CBTTTTXH và cho rằng trong bối cảnh Việt Nam, vai trò kiêm nhiệm CEO và chủ tịch HĐQT không có ý nghĩa nhiều trong hầu hết mọi trường hợp
1.2.6 Mối quan hệ giữa ủy ban kiểm toán với CBTTTNXH
McMullen (1996) báo cáo rằng sự hiện diện của một ủy ban kiểm toán hiệu quả góp phần gia tăng mức độ tin cậy của báo cáo tài chính, từ đó, giảm thông tin bất cân xứng giữa người quản lý với nhà đầu tư bên ngoài và các bên liên quan khác Pomeroy và Thornton (2008) tiến hành phân tích tổng hợp tác động của ủy ban kiểm toán đối với chất lượng báo cáo tài chính và báo cáo sự hiện diện của ủy ban kiểm toán tác động thuận đến chất lượng báo cáo tài chính ở các nền kinh tế mới nổi Trong khi Forker (1992) chỉ tìm thấy mối tương quan yếu giữa sự hiện diện của ủy ban kiểm toán và mức độ công bố thông tin tự nguyện, Ho và Wong (2001) đưa ra bằng chứng
Trang 26cho nhận định các doanh nghiệp có ủy ban kiểm toán có khả năng công bố tự nguyện cao hơn và đề xuất thành lập ủy ban kiểm toán để đảm bảo tính minh bạch của doanh nghiệp Mặc dù vậy, những nghiên cứu này vẫn chưa thực sự có kết luận về mối quan
hệ giữa ủy ban kiểm toán với CBTTTNXH
Xem xét những nghiên cứu gần đây cho thấy, tồn tại mối tương quan dương
có ý nghĩa thống kê giữa ủy ban kiểm toán và vấn đề CBTTTNXH Said và cộng sự (2009) nhận định ban kiểm toán có tỷ lệ các thành viên HĐQT không điều hành cao, sẽ CBTTTNXH ở mức độ cao hơn Ngoài ra, Khan và cộng sự (2013) nhận định
sự hiện diện của ủy ban kiểm toán có thể đảm bảo tính khách quan của báo cáo tài chính thông qua việc CBTTTTXH nhiều hơn Lập luận này phù hợp với nghiên cứu trước đó của Barako và cộng sự (2006) tại Kenya
Nhìn chung, cũng đã có những nghiên cứu được thực hiện nhằm khám phá mối quan hệ giữa nhân tố quản trị công ty và vấn đề CBTTTTXH Tuy nhiên, kết quả của những nghiên cứu này chưa thực sự thống nhất Điều này cho thấy bối cảnh nghiên cứu ảnh hưởng đến tác động của nhân tố quản trị công ty đến vấn đề CBTTTTXH Ngoài ra, Việt Nam chưa có một bộ quy tắc quản trị cho các công ty niêm yết Do đó, mối quan hệ giữa nhân tố quản trị công ty và CBTTTNXH tại các nước có nền kinh tế mới nổi như Việt Nam, có thể khác biệt so với tại các nước có nền kinh tế tiến bộ hơn Đây cũng chính là khe hổng để tác giả tiếp tục khám phá mối quan hệ này tại bối cảnh Việt Nam, cụ thể tại các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HoSE)
Trang 27CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1.1 Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
2.1.1.1 Nguồn gốc và sự phát triển của TNXHDN
Vấn đề TNXHDN bắt nguồn từ trước Thế chiến thứ Hai (Carroll & Shabana,
2010, p.86), xuất phát từ khuynh hướng dân chủ - xã hội, cho rằng cần thúc đẩy các cuộc “kiểm toán xã hội” đối với ứng xử của các doanh nghiệp trong việc đáp ứng các nhu cầu xã hội (Capron & Quairel-Lanoizelee, 2009) Đến giữa thế kỷ XX, quan niệm
về TNXHDN mới thực sự nổi lên ở Hoa Kỳ và được các học giả cũng như giám đốc điều hành ủng hộ (Frederick, 2006) Năm 1953, cuốn sách đầu tiên tóm lược những
ý tưởng cốt yếu về TNXH của Howard Bowen được xuất bản, với nhan đề “Trách
nhiệm xã hội của Doanh nhân” (The Social Responsibilities of the Businessman),
nhấn mạnh rằng người quản lý tài sản một cách có trách nhiệm không được làm tổn hại đến các quyền của người khác và có bổn phận phải giúp đỡ người khốn khó (Bowen trích trong Capron & Quairel-Lanoizelee, 2009) Quan niệm này đã góp phần đáng kể trong việc định hình tư tưởng về lĩnh vực nghiên cứu TNXHDN Chính vì vậy, Bowen được coi là “cha đẻ của TNXHDN” (Carroll, 1999, p.291)
Ý tưởng về TNXHDN gắn liền với một loạt các giai đoạn như sau (Frederick, 2016):
Giai đoạn 1 (từ 1950 đến thập niên 1960): Giai đoạn này đánh dấu kỷ nguyên
của TNXHDN Ý tưởng về TNXHDN trong giai đoạn này chủ yếu nhấn mạnh hoạt động từ thiện của doanh nghiệp, đề xuất rằng nhà quản lý doanh nghiệp nên hành động một cách tự nguyện và có lòng bác ái trong vai trò những người được ủy thác công và người quản gia xã hội
rộng, yêu cầu doanh nghiệp đáp ứng các nhu cầu của xã hội một cách hợp pháp Các lý thuyết về TNXHDN được mở rộng đáng kể trong giai đoạn này
và có xu hướng tập trung vào việc tìm ra ý nghĩa thực sự của TNXHDN cũng như tầm quan trọng của nó đối với kinh doanh và xã hội (Carroll & Shabana, 2010)
Trang 28 Giai đoạn 3 (từ 1980 đến thập niên 1990): TNXHDN yêu cầu các doanh
nghiệp thúc đẩy văn hóa đạo đức doanh nghiệp để hỗ trợ các bên liên quan và cộng đồng thông qua các hợp đồng xã hội
nghiệp trở thành những công dân toàn cầu Trong giai đoạn này, xã hội kỳ vọng doanh nghiệp toàn cầu chú ý và sữa chữa những ảnh hưởng xấu đã gây
ra cho cộng đồng và môi trường tự nhiên
Giai đoạn 5 (từ 2000 trở đi): Giai đoạn phát triển bền vững, bắt đầu với thiên
niên kỷ mới Giai đoạn này không chỉ giới hạn ở mức độ trách nhiệm của doanh nghiệp với các bên liên quan, mà vượt xa hơn, đề cập đến trách nhiệm của các tổ chức chính phủ, quốc tế, cộng đồng, cũng như trách nhiệm của công dân trên toàn cầu trách nhiệm toàn cầu của các tổ chức chính phủ, quốc
tế và cộng đồng và công dân từ khắp nơi trên toàn cầu
2.1.1.2 Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Khái niệm TNXHDN được mở rộng từ khái niệm “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” do Bowen đưa ra vào năm 1953 Tuy nhiên, từ đó đến nay, thuật ngữ TNXHDN được hiểu theo nhiều cách khác nhau và được phát triển theo từng giai đoạn Keith Davis (1973) phát biểu: “TNXHDN là sự quan tâm và phản ứng của doanh nghiệp với các vấn đề vượt ra ngoài việc thoả mãn những yêu cầu pháp lý, kinh tế, công nghệ”
Trong khi đó, Carroll (1999) lập luận TNXHDN ở phạm vi rộng hơn, đó là trách nhiệm đáp ứng những kỳ vọng của xã hội về phương diện kinh tế, pháp lý, đạo đức và thiện nguyện ở một mức độ nhất định Điều này được thể hiện rõ hơn trong
mô hình “Kim tự tháp của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” được tác giả mô tả như sau:
Trang 29Hình 2 1: Hệ thống phân cấp trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Nguồn: Archie B Carroll (1991, trang 42)
Về cơ bản, trách nhiệm xã hội về phương diện kinh tế của một doanh nghiệp
là tạo ra nguồn lợi có thể chấp nhận được cho nhà đầu tư Đối với doanh nghiệp, mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận có tính ưu tiên cao nhất Bởi vì, nếu mục tiêu kinh tế không thể hoàn thành thì doanh nghiệp không thể tồn tại để có thể đáp ứng các trách nhiệm khác Nói cách khác, trách nhiệm kinh tế chính là nền tảng của các trách nhiệm còn lại
Trách nhiệm thiện nguyện
Là sự gắn kết tốt với cộng
đồng, Đóng góp vào các quỹ xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống
Trang 30 Trách nhiệm pháp lý:
Một yếu tố quan trọng của việc theo đuổi lợi ích kinh tế trong một xã hội dựa trên luật pháp, là trách nhiệm pháp lý Xã hội không chấp nhận việc doanh nghiệp hoạt động chỉ vì mục đích lợi nhuận, mà đồng thời, doanh nghiệp được kỳ vọng tuân thủ các quy định, luật lệ do chính phủ liên bang, tiểu bang và địa phương ban hành
Vì vậy, trách nhiệm pháp lý như là một sự cam kết của doanh nghiệp với xã hội, tất
cả các mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp đều phải hợp pháp và phải điều chỉnh cho phù hợp nếu có sự thay đổi về pháp lý Do đó, trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm kinh tế có mối liên hệ lẫn nhau và là hai thành phần cơ bản không thể thiếu, không thể tách rời trong trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Mặc dù các trách nhiệm kinh tế và pháp lý thể hiện các chuẩn mực đạo đức về công bằng và công lý, trách nhiệm đạo đức của doanh nghiệp bao gồm các hoạt động được cộng đồng mong đợi hoặc ngăn cấm, mặc dù những điều này không được soạn thảo thành văn bản pháp lý Một doanh nghiệp có trách nhiệm đạo đức để không gây hại cho các bên liên quan và trong môi trường hoạt động của doanh nghiệp Nói cách khác, một doanh nghiệp khi có trách nhiệm pháp lý thì chỉ là đáp ứng được những chuẩn mực tối thiểu của xã hội Một khi hoạt động của doanh nghiệp đem lại những lợi ích xã hội vượt sự kỳ vọng tối thiểu đó, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp sẽ được cải thiện trong cộng động Tuy trách nhiệm đạo đức là sự tự nguyện của doanh nghiệp, nhưng đó lại là điều mà xã hội mong đợi Do đó, trách nhiệm đạo đức được xem như là trọng tâm của trách nhiệm xã hội
Trách nhiệm thiện nguyện:
Trách nhiệm thiện nguyện hay còn gọi là trách nhiệm tùy tâm bao gồm những hành động ứng xử của doanh nghiệp vượt sự mong đợi của xã hội Khác với trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm thiện nguyện là sự tự nguyện hoàn toàn của doanh nghiệp
để có thể mang lại lợi ích to lớn hơn cho xã hội cũng như mang lại cho doanh nghiệp tầm ảnh hưởng lớn hơn đối với cộng đồng và trở thành doanh nghiệp công dân Vì
Trang 31tính chất hoàn toàn tự nguyện nên doanh nghiệp nếu không đáp ứng được trách nhiệm này vẫn được xem như là đã datt95 được đủ các chuẩn mực mà xã hội mong đợi
Một khái niệm TNXHDN cũng được chấp nhận và sử dụng rộng rãi, do Nhóm Phát triển Kinh tế Tư nhân của Ngân hàng Thế giới đưa ra năm 2003, định nghĩa:
“TNXHDN là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội”
Gần đây hơn, trong cuốn sách của mình, Werther và Chandler (2010) cho rằng toàn bộ ý nghĩa của TNXHDN có thể được hiểu từ ba cụm từ: doanh nghiệp, xã hội,
và trách nhiệm Từ đó, TNXHDN bao gồm mối quan hệ giữa doanh nghiệp và cộng đồng xã hội mà chúng tương tác, bao gồm tất cả các bên liên quan và các thành phần giúp duy trì sự hoạt động liên tục của doanh nghiệp
Nhìn chung, có nhiều định nghĩa được dùng để nói đến khái niệm TNXHDN theo những cách tiếp cận khác nhau nhưng tựu trung lại, chúng đều xoáy quanh việc giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp liên quan đến việc tuân thủ pháp luật, ứng xử với các yếu tố thuộc về bản thân doanh nghiệp, thực hiện trách nhiệm với xã hội và hoạt động theo tiêu chí thân thiện với môi trường
Mỗi DOANH NGHIỆP, tổ chức, chính phủ nhìn nhận TNXH dưới những góc
độ riêng và quan điểm riêng, phụ thuộc vào điều kiện, đặc điểm và trình độ phát triển của mình Tuy nhiên, sau rất nhiều khái niệm về TNXH thì khái niệm do Ngân hàng Thế giới đưa ra năm 2003 cho thấy rõ hơn bản chất của TNXH Do đó, nghiên cứu thống nhất với khái niệm này Theo đó, “TNXH của DOANH NGHIỆP là sự cam kết của DOANH NGHIỆP nhằm đóng góp cho phát triển kinh tế bền vững thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và cho toàn XH theo cách có lợi cho cả DOANH NGHIỆP cũng như sự phát triển chung của XH”
2.1.1.3 Tranh luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Trang 32Capron và Quairel-Lanoizelee (2009) cho rằng không có bất kỳ sự đồng thuận nào về vấn đề TNXHDN, nếu có thì đó cũng chỉ là một ảo giác đồng thuận vì khái niệm TNXHDN phụ thuộc vào cách hiểu của từng chủ thể hành động khác nhau Do
đó, để hiểu được bề rộng và bề sâu của vấn đề này, Werther và Chandler (2010) cho rằng nên xem xét những quan điểm về TNXHDN trên ba phương diện đạo đức, tính hợp lý và kinh tế:
TNXH đại diện cho mối quan hệ giữa doanh nghiệp và các chuẩn mực đạo đức được kỳ vọng từ xã hội Doanh nghiệp vì lợi nhuận sẽ không tồn tại được lâu dài và phần lớn thành công của doanh nghiệp xuất phát từ những hoạt động đồng hành cùng các giá trị xã hội
Thừa nhận rằng lợi nhuận là điều kiện tiên quyết quyết định sự tồn tại của bất
kỳ doanh nghiệp nào Tuy nhiên, lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được lại đến từ xã hội mà họ tiếp cận Như vậy, nghĩa vụ của doanh nghiệp phải ở mức độ nào để đáp lại xã hội vì sự thành công liên tục trong kinh doanh? Doanh nghiệp phải có trách nhiệm đạo đức gì để đổi lấy lợi ích từ xã hội? Và cũng như mức lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được, tạo ra việc làm và khoản thuế doanh nghiệp đã đáp ứng được nghĩa
vụ đó hay chưa?
Ở mức độ cơ bản, phương diện đạo đức phản ánh sự cho và nhận đan xen giữa doanh nghiệp và xã hội Xã hội tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp tới thành công về lợi nhuận của doanh nghiệp như nguồn lao động tri thức, cơ sở hạ tầng bền vững, ổn định, an toàn về pháp lý, thị trường tiêu dùng cho sản phẩm của doanh nghiệp
Ở mức độ sâu hơn, xã hội được hình thành dựa trên văn hóa, tôn giáo, dân gian những thứ xây dựng nên một di sản niềm tin về ranh giới của chuẩn mực đạo đức, về cách đánh giá hành vi có đạo đức của một cá nhân hay tổ chức Di sản này sẽ quyết định khái niệm về công bằng xã hội, nhân quyền, trách nhiệm với môi trường…Ví
dụ, đối với nhiều người, suy nghĩ tiêu cực sẽ xuất hiện nếu một doanh nghiệp chỉ tập trung vào mục tiêu lợi nhuận Mặc dù những chuẩn mực này không phải lúc nào cũng
Trang 33được chuẩn hóa bằng luật pháp hay quy định, việc vi phạm những chuẩn mực đạo đức này sẽ dẫn tới sự vô trách nhiệm với cộng đồng, xã hội và tiềm ẩn nguy cơ làm mất tính hợp pháp của doanh nghiệp và đe dọa tới sự tồn tại lâu dài của doanh nghiệp
TNXH là một phương diện hợp lý cho doanh nghiệp tìm kiếm phương pháp tối
đa hóa hiệu suất bằng cách giảm thiểu các hạn chế về hoạt động của doanh nghiệp Trong thế giới toàn cầu hóa, các cá nhân và doanh nghiệp được trao quyền để thực hiện những sự thay đổi, TNXH đại diện cho một phương tiện có thể dự đoán và phản ánh sự quan tâm của xã hội về mối liên hệ giữa tài chính và hoạt động của doanh nghiệp
Bằng cách áp dụng phương diện hợp lý của TNXH, doanh nghiệp có thể giải thích được sự thay đổi về kỳ vọng của các bên liên quan để từ đó đưa ra những hành động phù hợp để có thể tồn tại lâu dài trong tương lai Với phương diện hợp lý, các doanh nghiệp sẽ nhận ra rằng trách nhiệm xã hội sẽ mang đến lợi ích hơn là chỉ tuân thủ theo những gì luật pháp quy định Thái độ chủ động thực hiện trách nhiệm xã hội một cách hợp lý giúp doanh nghiệp tránh được các vấn đề không mong muốn Ngược lại việc lạm dụng sẽ dẫn đến việc doanh nghiệp không còn quyền đưa ra quyết định một cách tự do và gây tổn thất về tài chính
TNXH là một phương diện kinh tế cho doanh nghiệp TNXH cho phép doanh nghiệp phản ánh nhu cầu và quan tâm của các bên liên quan Bằng cách này, một doanh nghiệp sẽ có nhiều khả năng để duy trì tính hợp pháp xã hội và tối ưu hóa tài chính trong trung và dài hạn Nói cách khác, TNXH là cách kết hợp các hoạt động của doanh nghiệp với các giá trị xã hội với kỳ vọng phát triển lâu dài
TNXH ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của hoạt động kinh doanh Mọi thứ doanh nghiệp làm đều có mối tương tác giữa doanh nghiệp và các bên liên quan Doanh nghiệp cần xây dựng hình ảnh nhất quán với các bên liên quan Cho dù đó là nhà tuyển dụng, nhà sản xuất, người mua, nhà cung cấp hay nhà đầu tư Sức hút và
Trang 34thành công của doanh nghiệp sẽ tăng lên dựa vào sức mạnh của thương hiệu và hình ảnh của doanh nghiệp Ngay cả đối với doanh nghiệp chỉ có một mục đích duy nhất
là lợi nhuận thì cũng sẽ có rủi ro không thể tiếp cận được với nguồn vốn từ các nhà đầu tư khi bị xem là vô trách nhiệm với xã hội
2.1.2 Công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
2.1.2.1 Khái niệm CBTTTNXH
Sự bùng nổ trong việc CBTTTNXH của doanh nghiệp đã được chứng kiến từ thập niên 1970 (Cowen và cộng sự, 1987) Abbott và Monsen (1979) nhận thấy áp lực của việc công bố xuất phát từ công chúng nói chung và từ cơ quan công quyền tin rằng việc công bố trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được thực hiện trong một
nỗ lực để chống lại niềm tin hiện hành rằng nhiều hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là bất hợp pháp
CBTTTNXH bắt nguồn từ TNXHDN cùng với sự thay đổi trong cách tiếp cận
từ tiếp cận theo lý thuyết cổ đông (Shareholders Theory) sang cách tiếp cận thông tin theo lý thuyết các bên liên quan (Stakeholders Theory) đã thúc đẩy doanh nghiệp cần
có trách nhiệm, thông báo những thông tin tới các bên liên quan mối quan hệ giữa hoạt động kinh doanh và môi trường xã hội Theo Gray và cộng sự (1996) “CBTT TNXH là quá trình truyền đạt những hoạt động kinh doanh của tổ chức có ảnh hưởng đến môi trường và xã hội tới các cá thể trong xã hội nói riêng và tổng thể xã hội nói chung” Doanh nghiệp có thể truyền báo tới các bên liên quan mức độ quan tâm của doanh nghiệp đến mối trường và xã hội, thông qua CBTT bằng các phương tiện như: Báo cáo thường niên, quảng cáo, bài báo cáo hoạt động TNXHDN, báo cáo phát triển cộng đồng, báo cáo môi trường, thông cáo báo chí, băng video và các trang web
Quan điểm liên quan đến lợi ích của CBTT TNXH hai luồng ý kiến trái ngược nhau giữa các nhà khoa học Quan điểm thứ nhất cho rằng, thực hành và CBTT về TNXH làm DOANH NGHIỆP phải chịu thêm gánh nặng về chi phí (Friedman, 1970) Ngược lại, với quan điểm trên, các nhà khoa học cho rằng, thực hành và CBTT TNXH
có kết nối với các lợi ích tài chính KPMG (2011) thực hiện khảo sát toàn cầu về báo cáo bền vững kết luận rằng, thực hiện và CBTT TNXH làm tăng giá trị tài chính và
Trang 35thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới Các doanh nghiệp tìm thấy cơ hội cải thiện hoạt động, bằng cách phân tích các hoạt động của họ và tiến hành các chương trình cải tiến Lợi ích tài chính có thể đạt được từ hai nguồn: Tiết kiệm trực tiếp và cải thiện danh tiếng trên thương trường
2.1.2.2 Lợi ích của việc CBTTTNXH
Trong thế giới kinh doanh, lợi nhuận tài chính và lợi tức đầu tư của cổ đông từ lâu đã là động lực chính để đánh giá sự thành công của một doanh nghiệp Trong những năm 1950 và 1960, khái niệm CBTTTNXH nổi lên như là tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá doanh nghiệp
Trọng tâm của CBTTTNXH là thể hiện sự chịu trách nhiệm về những tác động của các quyết định và hoạt động của doanh nghiệp trên tất cả các khía cạnh của xã hội, cộng đồng và môi trường CBTTTNXH không chỉ là những việc làm từ thiện, quyên góp, mà còn góp phần nâng cao sức khỏe và phúc lợi xã hội, hoạt động minh bạch và đạo đức Quan trọng hơn, CBTTTNXH nên được xem như là một phần kế hoạch trong kinh doanh, hơn là một nghĩa vụ Những lợi ích của CBTTTNXH như:
Tăng độ tín nhiệm với các khách hàng, có nhiều cơ hội cho những hướng knih doanh mới
Tăng tỷ lệ giữ chân khách hàng
Phát triển và nâng cao mối quan hệ với khách hàng, nhà cung cấp và chuỗi cung ứng
Thu hút nhân lực và trở thành nhà tuyển dụng được ưu tiên hàng đầu
Tạo lợi thế với đối thủ cạnh tranh
Tạo ra sự ảnh hưởng của doanh nghiệp đối với cộng đồng và xã hội
Cải thiện thương hiệu và hình ảnh của doanh nghiệp
Tạo ra các cơ hội đầu tư và tài trợ
Tạo ra các cơ hội quảng bá và truyền thông tích cực cho doanh nghiệp do có
sự quan tâm của phương tiện thông tin đại chúng trong các hoạt động CBTTTNXH
Trang 362.1.3 Nhân tố quản trị công ty
2.1.3.1 Khái niệm
Không có một định nghĩa duy nhất về Quản trị công ty (corporate governance)
có thể áp dụng cho mọi trường hợp và mọi thể chế Những định nghĩa khác nhau về Quản trị doanh nghiệp hiện hữu phần nhiều phụ thuộc vào các tác giả, thể chế cũng như quốc gia hay truyền thống pháp lý
Theo IFC, Quản trị công ty là “những cơ cấu và những quá trình để định hướng
và kiểm soát công ty” Vào năm 1999, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD
- Organization for Economic Cooperation and Development) đã xuất bản một tài liệu mang tên “Các Nguyên tắc Quản trị Công ty” (OECD Principles of Corporate Governance), trong đó đưa ra một định nghĩa chi tiết hơn về Quản trị công ty Đây cũng là định nghĩa được sử dụng chính thức cho nghiên cứu này Cụ thể như sau:
“Quản trị công ty là những biện pháp nội bộ để điều hành và kiểm soát công
ty […], liên quan tới các mối quan hệ giữa Ban giám đốc, Hội đồng quản trị và các
cổ đông của một công ty với các bên có quyền lợi liên quan Quản trị công ty cũng tạo ra một cơ cấu để đề ra các mục tiêu của công ty, và xác định các phương tiện để đạt được những mục tiêu đó, cũng như để giám sát kết quả hoạt động của công ty Quản trị công ty chỉ được cho là có hiệu quả khi khích lệ được Ban giám đốc và Hội đồng quản trị theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích của công ty và của các cổ đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của công ty một cách hiệu quả, từ đó khuyến khích công ty sử dụng các nguồn lực một cách tốt hơn” Nhìn chung, phần lớn các định nghĩa lấy bản thân công ty làm trung tâm (góc nhìn từ bên trong) đều có một số điểm chung và có thể được tóm lược lại như sau:
Quản trị doanh nghiệp là một hệ thống các mối quan hệ, được xác định bởi các cơ cấu và các quy trình
Những mối quan hệ này nhiều khi liên quan tới các bên có các lợi ích khác nhau, đôi khi là những lợi ích xung đột
Tất cả các bên đều liên quaun tới việc định hướng và kiểm soát doanh nghiệp
Trang 37 Tất cả những điều này đều nhằm phân chia quyền lợi và trách nhiệm một cách phù hợp – và qua đó làm gia tăng giá trị lâu dài của các cổ đông
Hệ thống QTCT cơ bản và các mối quan hệ giữa các thể chế quản trị trong công ty được mô tả trong hình 2.1
Hình 2 2: Hệ thống QTCT
Nguồn: IFC, 2004
2.1.3.2 Các nguyên tắc quản trị công ty
Đảm bảo cơ sở cho một khuôn khổ quản trị doanh nghiệp hiệu quả
Khuôn khổ quản trị công ty cần thúc đẩy tính minh bạch và hiệu quả của thị trường, phù hợp với quy định của pháp luật, và phân định rõ rang trách nhiệm giữa các cơ quan giám sát, quản lý và cưỡng chế thực thi
Quyền của cổ đông và các chức năng sở hữu cơ bản
Khuôn khổ quản trị công ty phải bảo vệ và tạo điều kiện thực hiện quyền của cổ đông
Đối xử bình đẳng đối với cổ đông
Các cổ đông (Đại hội cổ đông)
Các thành viên HĐQT
Các thành viên ban giám đốc
Bổ nhiệm và miễn nhiệm Đại diện và báo cáo
Báo cáo và trả lời
Bổ nhiệm, miễn nhiệm,
chỉ đạo và giám sát
minh bạch
Trang 38Khuôn khổ quản trị công ty cần đảm bảo sự đối xử bình đẳng đối với mọi cổ đông, trong đó có cổ đông thiểu số và cổ đông nước ngoài Mọi cổ đông phải có cơ hội khiếu nại hiệu quả khi quyền của họ bị vi phạm
Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong quản trị doanh nghiệp Khuôn khổ quản trị công ty phải công nhận quyền của các bên có quyền lợi liên quan
đã được pháp luật hay quan hệ hợp đồng quy định và phải khuyến khích sự hợp tác tích cực giữa công ty và các bên có quyền lợi liên quan trong việc tạo dựng tài sản, việc làm và ổn định tài chính cho doanh nghiệp
Công bố thông tin và tính minh bạch
Khuôn khổ quản trị công ty phải đảm bảo việc công bố thông tin kịp thời và chính xác về mọi vấn đề quan trọng liên quan đến công ty, bao gồm tình hình tài chính, tình hình hoạt động, sở hữu và quản trị công ty
Trách nhiệm của hội đồng quản trị
Khuôn khổ quản trị công ty cần đảm bảo định hướng chiến lược của công ty, giám sát có hiệu quả công tác quản lý của Hội đồng Quản trị và trách nhiệm của Hội đồng Quản trị đối với công ty và cổ đông
2.1.3.3 Đặc trưng của QTCT tại Việt Nam
Mỗi một quốc gia đều có những đặc điểm lịch sử, văn hóa và khuôn khổ pháp
lý riêng Những đặc điểm lịch sử, văn hóa và pháp lý đều có ảnh hưởng tới khuôn khổ quản trị công ty Sau đây là những nét đặc trưng của các công ty tại việt nam Vai trò của doanh nghiệp nhà nước: từ đầu những năm 1990, nhiều doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hóa và được chuyển thành công ty cổ phần trong
đó nhà nước nắm giữ đa số vốn Dẫu vậy, trong nhiều lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế quốc dân, nhà nước vẫn hoặc là nắm vai trò độc quyền, hoặc là chi phối bằng các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước như trong các lĩnh vực đóng tàu, khai thác mỏ, dầu khí, điện lực, ngân hàng, bưu chính viễn thông, giáo dục, đường sắt, truyền thông
và xuất bản
Trang 39Sở hữu tập trung: nhiều doanh nghiệp tư nhân ở việt nam khi mới thành lập vốn
là các doanh nghiệp tư nhân nhỏ do một cá nhân đơn lẻ, các thành viên trong một gia đình, hoặc một nhóm nhỏ các cổ đông nắm quyền sở hữu Cho dù nhiều công ty kiểu này đã lớn mạnh một cách đáng kể, các cổ đông kiểm soát vẫn không có gì thay đổi
Ít có sự phân chia giữa sở hữuvà quyền kiểm soát: phần lớn các cổ đông kiểm soát cũng đóng vai trò là tổng giám đốc của công ty và là thành viên trong hội đồng quản trị Một số công ty chỉ thực hiện việc phân tách giữa sở hữu và quyền kiểm soát trên giấy tờ Việc tổng giám đốc điều hành đồng thời cũng là chủ tịch hội đồng quản trị không phải là chuyện hiếm gặp tại các công ty cổ phần ở việt nam
Cơ cấu phân cấp chồng chéo: một số tập đoàn kinh tế lớn, đặc biệt là các công
ty nhà nước, được thành lập theo mô hình công ty mẹ-công ty con Trong khi cơ cấu quản lý này có thể phục vụ các mục đích chính đáng, việc sở hữu chồng chéo và thiếu minh bạch có xu hướng tạo ra những cơ cấu sở hữu mập mờ
Các thể chế quản trị công ty thiếu và yếu: một vài yếu tố trong khái niệm về hội đồng quản trị, tổng giám đốc và các thể chế giám sát tại các công ty của việt nam lần đầu tiên được đề cập đến trong luật công ty năm 1990 và luật doanh nghiệp nhà nước 1995 Tuy nhiên, những khái niệm này vẫn không được xem xét một cách nghiêm túc cho mãi tới gần đây, khi các công ty nhà nước bắt đầu soạn thảo những điều lệ chi tiết cùng với những quy định và những nguyên tắc cụ thể Dầu vậy, trong thực tế, hội đồng quản trị vẫn thường cố tình bỏ qua hoặc không thực thi đúng các
cơ chế giám sát mà điều lệ đã quy định (chẳng hạn như kiểm toán nội bộ hoặc ban kiểm soát ), và hạn chế tiếp xúc trực tiếp với các cổ đông kiểm soát
2.2 Các lý thuyết nền tảng liên quan
Lý thuyết hợp pháp và lý thuyết các bên liên quan là hai lý thuyết nền tảng được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng để giải thích cách thức doanh nghiệp phản ứng lại những áp lực xuất phát từ cộng đồng và các bên liên quan, thông qua việc thực hành báo cáo thông tin môi trường và xã hội (Azizul Islam & Deegan, 2008) Trong khi lý thuyết hợp pháp nhấn mạnh sự mong đợi của “xã hội” nói chung, lý thuyết của các bên liên quan đề cập đến vấn đề của quyền lực của các bên liên quan Do đó,
Trang 40trong nghiên cứu này, tác giả xem xét cả hai lý thuyết trên để có cái nhìn sâu hơn về các yếu tố thúc đẩy thực hành báo cáo môi trường và xã hội của doanh nghiệp
2.2.1 Lý thuyết hợp pháp (Legitimacy theory)
Vấn đề tính hợp pháp không thể tách rời vấn đề xã hội và chính quan niệm của Weber về tính hợp pháp trong chính trị đã góp phần xây dựng nền tảng lý thuyết cho mọi công trình nghiên cứu về vấn đề này (Capron & Quairel-Lanoizelee, 2009) Điểm cốt lõi của lý thuyết hợp pháp là khái niệm “hợp đồng xã hội” (Social contract), giới hạn hoạt động của doanh nghiệp trong những quy phạm do xã hội thiết lập (Gray, Owen, & Adams, 1996) Nói cách khác, doanh nghiệp sẽ nhận được sự hỗ trợ từ các bên liên quan và tiếp tục tồn tại miễn là các hoạt động của nó mang lại lợi ích, hoặc ít nhất là không gây tổn hại cho xã hội Lý thuyết hợp pháp khẳng định rằng các doanh nhiệp luôn nỗ lực không ngừng để được chấp nhận là đang hoạt động trong giới hạn và chuẩn mực của xã hội, nghĩa là họ cố gắng đảm bảo rằng hoạt động của mình được các nhóm bên ngoài đánh giá là hợp pháp
Dưới góc nhìn của lý thuyết về tổ chức, theo Suchman (1995, p.574), “Tính hợp pháp là sự tin tưởng khái quát hoặc sự giả thiết rằng các hoạt động của bất kỳ thực thể nào cũng được kỳ vọng, phù hợp và thích hợp với hệ thống các chuẩn mực, giá trị, niềm tin và các định chế mà xã hội đã kiến tạo” Việc doanh nghiệp không tuân thủ những chuẩn xã hội có thể đe dọa đến tính hợp pháp và thậm chí là sự tồn tại của chính doanh nghiệp (Oliver, 1991) Do đó, thông qua các nhà quản lý cấp cao, doanh nghiệp luôn cố gắng tìm kiếm sự phù hợp giữa các hoạt động của nó với niềm tin của cộng đồng cũng như các bên liên quan (Dowling & Pfeffer, 1975) Sethi (1979) lập luận rằng nếu tồn tại sự mất cân đối, thực tế hoặc tiềm ẩn, giữa doanh nghiệp và các giá trị xã hội, thì tính hợp pháp của doanh nghiệp sẽ bị đe dọa; từ đó, tạo thành một khe hổng hợp pháp Trong những trường hợp này, doanh nghiệp có thể thông qua một
số các chiến lược công bố cho cộng đồng những hoạt động của doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho sự tồn tại của mình (Dowling & Pfeffer, 1975; Lindblom, 1994)