1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kinh nghiệm tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại của các quốc gia trên thế giới và đề xuất cho việt nam

108 341 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhu cầu tái cấu trúc trở nên cần thiết khi hiện trạng của các ngân hàng gặp phải nhiều vấn đề trong cơ cấu, hoạt động khiến ngân hàng hoạt động không hiệu quả; thậm chí trì trệ, vốn yếu,

Trang 1

i

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

-

HÀNG THƯƠNG MẠI CỦA CÁC QUỐC GIA TRÊN THẾ

Mã số: CS – 2013 - 24

Chủ nhiệm: TS Nguyễn Phúc Cảnh

TS Nguyễn Hữu Huân

Tp Hồ Chí Minh - 12/2013

Trang 2

i

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH VẼ iv

DANH MỤC BIỂU ĐỒ v

DANH MỤC BẢNG BIỂU vi

6 Bảng 4.2 Lộ trình theo năm của đề án tái cấu trúc hệ thống NHTM 97 vii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI, HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3

1.1 Tổng quan về tái cấu trúc 3

1.1.1 Khái niệm 3

1.1.2 Nguyên nhân của tái cấu trúc: 4

1.1.3 Mục tiêu của tái cấu trúc: 5

1.1.4 Điều kiện để tái cấu trúc thành công 6

1.2 Lý luận chung về mô hình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại 7

1.2.1 Vấn đề chung 7

1.2.2 Những mô hình tái cấu trúc 9

1.2.3. Bước đi đầu tiên tốt nhất: Tái cấu trúc nợ tự nguyện 11

1.2.4 Tái cấu trúc mà không sắp xếp lại nợ 12

1.2.5 Thặng dư xã hội và Thặng dư cá nhân khi tái cấu trúc NHTM 23

1.2.6 Vấn đề tham gia trong điều kiện thông tin bất cân xứng 27

1.2.7 Các xem xét khác 33

Kết luận chương 1 35

CHƯƠNG 2: KINH NGHIỆM TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TỪ CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 36

2.1 Thụy Sỹ: Ngân hàng tốt/ Ngân hàng xấu trong trường hợp của UBS 36

2.1.1 Bối cảnh 36

2.1.2 Quá trình tái cấu trúc 36

2.2 Vương quốc Anh: Tái cấp vốn và đảm bảo tài sản cho RBS và Lloyds-HBOS 37

2.2.1 Bối cảnh 37

2.2.2 Quá trình tái cấu trúc 37

2.3 Mỹ: Kế hoạch Geithner vào tháng 5/2009 38

Trang 3

ii

2.3.1 Bối cảnh 38

2.3.2 Quá trình tái cấu trúc 38

2.4 Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng tại Nhật 41

2.4.1 Bối cảnh 41

2.4.2 Quá trình tái cấu trúc 42

2.5 Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Trung Quốc 45

2.5.1 Bối cảnh 45

2.5.2 Quá trình tái cấu trúc 45

2.6 Thái Lan 50

2.6.1 Bối cảnh 50

2.6.2 Quá trình tái cấu trúc 51

Kết luận chương 2: 54

CHƯƠNG 3: TÌNH HÌNH KINH TẾ VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 56

3.1 Tình hình kinh tế Việt Nam 56

Bảng 3.1 Số lượng doanh nghiệp cả nước tại thời điểm 01/01/2012 60

3.2 Thực trạng hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam 61

3.2.1 Quy mô nợ xấu của hệ thống các TCTD 64

3.2.2 Vấn đề thanh khoản mà hệ thống đang phải đối mặt 72

3.2.3 Tình tr ạng sở hữu chéo giữa các ngân hàng trong hệ thống 75

3.3 Tìm hiểu tái cấu trúc hệ thống tài chính theo đề án 254 của chính phủ 77

Kết luận chương 3 81

CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO THƯC HIỆN THÀNH CÔNG ĐỀ ÁN TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 254 CỦA CHÍNH PHỦ 83

4.1 Các tiêu chí khi đề xuất nhóm giải pháp tái cấu trúc NHTM 83

4.2 Giải pháp tái cấu trúc hệ thống NHTM 83

4.2.1 Các biện pháp chuẩn bị cho việc tái cấu trúc hệ thống NHTM 83

4.2.2 Tái cấu trúc tự nguyện: Mô hình tái cấu trúc từng NHTM 84

4.2.3 Tái cấu trúc bắt buộc 90

4.3 Nhóm giải pháp nâng cao khả năng phục vụ của hệ thống NHTM trong nền kinh tế 91

4.4 Nhóm giải pháp nâng cao an toàn cho hệ thống NHTM 92

4.4.1 Giải pháp nâng cao an toàn cho hệ thống NHTM 92

4.4.2 Tăng cường khả năng giám sát cho các cơ quan chức năng 93

Trang 4

iii

4.5 Nhóm giải pháp hỗ trợ 93

4.6 Đề xuất điều hành chính sách tiền tệ liên quan đến hoạt động NHTM của NHNN 94

4.7 Đề xuất điều hành hệ thống NHTM và nền kinh tế của chính phủ 94

4.8 Lộ trình thực hiện đề án tái cấu trúc NHTM 95

Kết luận chương 4: 96

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 5

iv

DANH MỤC HÌNH VẼ

2.Hình 1.2 Hàm phân phối tài sản tích lũy của NHTM trước và sau 11

4.Hình 1.4 Tái cấu trúc theo hình thức nợ chuyển thành vốn chủ sở hữu 13

6 Hình 1.6 Khoản trợ cấp tối ưu của chính phủ 16

9.Hình 1.9.Đường phục hồi nợ của NHTM khi phát hành cổ phiếu mới 19

11.Hình 1.11 Khoản chuyển giao theo Bảo hiểm tài sản giới hạn 22

12.Hình 1.12.Tài sản và nguồn vốn sau khi bán đi 1 phần tài sản 23

13.Hình 1.13.Sự phục hồi của nợ sau khi bán tài sản 24

14.Hình 3.1.Mối quan hệ sở hữu chéo giữa các NHTM hiện nay 81

Trang 6

v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

1.Biều đồ 3.1.Biểu đồ tăng trưởng GDP Việt Nam qua các năm 59

2.Biểu đồ 3.2 Tín dụng trong nước được cung cấp bởi hệ thống NHTM(%GDP) 64

3 Biểu đồ 3.3 Tổng tài sản, dư nợ của hệ thống NHTM 65

5.Biểu đồ 3.5 Thị phần tín dụng các khối NHTM đến cuối tháng 10/2011 67

8.Biểu đồ 3.8.Tỷ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu của hệ thống NHTM 2011 71

9.Biểu đồ 3.9 Vấn đề thanh khoản mà hệ thống đang phải đối mặt 76

10.Biểu đồ 3.10.Lãi suất bình quân liên ngân hàng 78

Trang 7

vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU

1.Bảng 2.1.Bảng tổng hợp các biện pháp tái cấu trúc của các quốc gia 56

2.Bảng 3.1 Số lượng doanh nghiệp cả nước tại thời điểm 01/01/2012 63

3 Bảng 3.2.Tình hình tài chính của các tập đoàn có sở hữu tại NHTM 75

4.Bảng 3.3.Tình hình tài chính của các NHTM lớn 77

5 Bảng 4.1 Lộ trình năm thứ nhất của đề án tái cấu trúc hệ thống NHTM 96

Trang 8

4 NHTW: Ngân hàng trung ương

5 DNNN: Doanh nghiệp nhà nước

Trang 9

viii

Trang 10

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu các mô hình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại tại các quốc gia tiên tiến trên thế giới và những quốc gia có tình hình kinh tế và cấu trúc của hệ thống ngân hàng thương mại tương tự Việt Nam

Đề xuất mô hình tái cấu trúc ngân hàng thương mại phù hợp cho Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các NHTM đang hoạt động ở Việt Nam, không bao gồm các NHTM 100% vốn nước ngoài, và các chi nhánh, văn phòng đại diện của các NHTM nước ngoài ở Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp về hoạt động của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam, dùng phương pháp thống kê, mô tả để phân tích các dữ liệu thu thập được từ đó đánh giá thực trạng hoạt động của các Ngân hàng thương mại

Trang 11

2

Tổng hợp các nghiên cứu trên thế giới về tái cấu trúc hệ thống Ngân hàng thương mại trước đây và đưa ra những giải pháp nhằm tái cấu trúc hệ thống Ngân hàng thương mại, từ đó xây dựng nên mô hình tái cấu trúc hệ thống hiệu quả

5 Kết cấu đề tài

Đề tài nghiên cứu bao gồm 4 chương cụ thể như sau:

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI, HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CHƯƠNG 2: KINH NGHIỆM TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TỪ CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

CHƯƠNG 3: TÌNH HÌNH KINH TẾ VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT ĐỀ ÁN TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Trang 12

3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI,

HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ TÁI CẤU TRÚC

HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Tổng quan về tái cấu trúc

1.1.1 Khái niệm

Trước hết, tái cấu trúc, theo nghĩa hẹp, được hiểu là quá trình tổ chức lại một tổ chức nhằm tạo ra “trạng thái” tốt hơn cho tổ chức đó để thực hiện những mục tiêu đề ra Một chương trình tái cấu trúc có thể diễn ra một cách toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực như cơ cấu tổ chức, nguồn nhân lực, cơ chế quản lý, điều hành; các hoạt động và các quá trình; các nguồn lực khác của tổ chức tái cấu trúc Tái cấu trúc cũng có thể được triển khai một phần tại một hay nhiều mảng trong tổ chức như tài chính, nhân sự, sản xuất… nhằm đạt mục tiêu là nâng cao “thể trạng” của bộ phận đó

Suy rộng cho một hệ thống có nhiều tổ chức, tái cấu trúc là sắp xếp, tổ chức lại cơ cấu thành phần các tổ chức trong hệ thống, hoặc thay đổi cách quản lý, cách hoạt động của các tổ chức bộ phận nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động, thực hiện những mục tiêu thống nhất của hệ thống

Theo Margery Waxman et al 1998, WB, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng là các gói giải phápvề thể chế, tài chính và pháp lý nhằm cứu vãn những ngân hàng phá sản và khôi phục hệ thống ngân hàng trở lại hoạt động bình thường

Theo Claudia Dziobek và Ceyla Pazarbasioglu 1998, IMF, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng nhằm mục đích cải thiện hiệu quả của ngân hàng, có nghĩa là phục hồi khả năng thanh toán và lợi nhuận, nâng cao năng lực của hệ thống ngân hàng để thực hiện chức năng trung gian tài chính giữa người gửi tiết kiệm và người đi vay, đồng thời khôi phục lòng tin của công chúng

Dù diễn đạt theo cách nào thì có thể thấy việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng liên quan đến việc thay đổi, sửa chữa các sai lầm trong cấu trúc hệ thống ngân hàng, đưa hệ thống vào cơ chế hoạt động hợp lý và có hiệu quả; làm tăng khả năng tiếp cận của người dân và doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với các dịch vụ của ngân

Trang 13

lý những ngân hàng đổ vỡ và giải quyết tài sản tồn đọng Đối tượng của việc tái cơ cấu có thể là cả hệ thống ngân hàng hoặc cá thể các ngân hàng ở tất cả các loại hình như ngân hàng nhà nước (NHNN), ngân hàng thương mại (NHTM), ngân hàng có vốn đầu tư trong nước, ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài…

1.1.2 Nguyên nhân của tái cấu trúc:

Một nền kinh tế chỉ có thể khỏe mạnh khi được sự hỗ trợ của một hệ thống ngân hàng khỏe mạnh Trước diễn biến của khủng hoảng tài chính toàn cầu và các khó khăn nội tại của nền kinh tế thì việc tái cấu trúc lại hệ thống ngân hàng một cách toàn diện là việc làm cần thiết Nếu hệ thống ngân hàng rơi vào khủng hoảng sẽ kéo theo nguy cơ khủng hoảng kinh tế xã hội hoặc một ngân hàng lớn bị rơi vào khủng hoảng có nguy cơ lan rộng ra toàn hệ thống Nền kinh tế của một quốc gia khó có thể phát triển ổn định và lành mạnh khi hệ thống ngân hàng tiềm ẩn nhiều bất ổn và hoạt động kém hiệu quả

Nhu cầu tái cấu trúc trở nên cần thiết khi hiện trạng của các ngân hàng gặp phải nhiều vấn đề trong cơ cấu, hoạt động khiến ngân hàng hoạt động không hiệu quả; thậm chí trì trệ, vốn yếu, thiếu hụt thanh khoản và chất lượng tài sản suy giảm đứng trước nguy

cơ tan rã, phá sản,… những vấn đề trên xuất phát từ những yếu kém nội tại của hệ thống ngân hàng Nhiều nguyên nhân là do cơ cấu sai, không hợp lý, kém hiệu quả, cụ thể: không xác định được chiến lược và kế hoạch, đội ngũ lãnh đạo làm việc không hiệu quả,

cơ cấu tài chính chưa phù hợp, chưa chuẩn mực và thiếu các hệ thống, công cụ kiểm soát rủi ro cần thiết, quản trị nguồn nhân sự yếu kém, sự phối hợp hoạt động không hiệu quả

do cơ cấu chưa hợp lý, hoặc tính yếu kém của hệ thống ngân hàng…

Ví dụ như sự phát triển nhanh chóng, dễ dãi trong việc thành lập ngân hàng cũng như việc mở rộng mạng lưới chi nhánh, các ngân hàng không có đủ lực lượng quản lý

Trang 14

5

được đào tạo bài bản về quản trị ngân hàng, điều này dễ dẫn đến các vụ lừa đảo, thất thoát tài sản; đặc biệt, tình trạng thiếu minh bạch trong báo cáo tài chính bao gồm giấu hoặc chuyển lỗ, không hạch toán đúng chi phí dự phòng tín dụng, đúng các khoản chi phí

và thu nhập… gây sức ép lên nền kinh tế, buộc chính phủ phải tìm cách tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thông qua tái cơ cấu các ngân hàng và các định chế tài chính Nếu không sàng lọc và tái cấu trúc sớm, các vụ đổ vỡ hàng loạt trong hệ thống TCTD có thể xảy ra và sẽ khó kiểm soát

Bên cạnh đó còn các yếu tố từ các chính sách điều tiết kinh tế mang tính chất vĩ

mô kém hiệu quả, khả năng dự báo yếu dẫn đến việc điều tiết không kịp thời; các quy định về chính sách sai lệch, không chặt chẽ cũng sẽ làm cho hệ thống ngân hàng hoạt động không hiệu quả Ví dụ như khi nền kinh tế tăng trưởng cao, nếu chính phủ khuyến khích các ngân hàng gia tăng tín dụng mà không có chính sách kiềm chế hợp lý thì điều này sẽ dẫn đến các ngân hàng dễ dãi trong việc cho vay dẫn đến tăng tỷ lệ nợ xấu và nợ không hiệu quả (NPL), gây ra mất thanh khoản cho ngân hàng, từ đó có thể ảnh hưởng đến toàn hệ thống

1.1.3 Mục tiêu của tái cấu trúc:

- Thứ nhất, duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng, đảm bảo khả năng thanh khoản, chi trả và hoạt động của các trung gian tài chính không bị đình trệ Đây là mục tiêu cơ bản nhất của việc tái cấu trúc nhằm bảo đảm tính ổn định trong hoạt động của hệ thống ngân hàng và của cả nền kinh tế

- Thứ hai, giải quyết các vấn đề một cách kịp thời nhằm ngăn ngừa sự lây lan hoặc các vấn đề hệ thống

- Thứ ba, khôi phục lại niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng Khi hệ thống ngân hàng được cơ cấu lại, tính thanh khoản của cả hệ thống ổn định, mức độ tín nhiệm của ngân hàng được nâng cao sẽ tạo lòng tin của các thành phần kinh tế đối với hệ thống ngân hàng

- Thứ tư, tối thiểu hóa chi phí tái cấu trúc đối với NHTW, bảo hiểm tiền gửi hay chính phủ Song song với những mục tiêu củng cố sức mạnh cho hệ thống ngân hàng thì việc tái cơ cấu cũng nhằm mục đích giảm thiểu tới mức nhỏ nhất các chi phí liên quan

Trang 15

6

đến NHTW, bảo hiểm tiền gửi hay chính phủ, để mang lại hiệu quả cao nhất cho quá trình tái cấu trúc

1.1.4 Điều kiện để tái cấu trúc thành công

Việc cơ cấu lại chỉ thực sự cần thiết khi hoạt động của các TCTD đi chệch khỏi chức năng cơ bản của chúng trong nền kinh tế hoặc có những trục trặc nảy sinh gây mất

an toàn hoặc nguy cơ đổ vỡ có tính hệ thống

Việc tái cấu trúc cần nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau và cần trả lời được câu hỏi tại sao phải tái cấu trúc, tái cấu trúc khía cạnh nào, các ngân hàng sẽ hoạt động như thế nào sau quá trình tái cấu trúc, các ngân hàng sẽ xử lý các khoản nợ xấu như thế nào… Điều quan trọng của quá trình tái cấu trúc là phải thiết lập được một bộ tiêu chí rõ ràng, đưa ra những kỷ luật của thị trường, kỷ cương của nhà nước cần được triển khai thận trọng trên nguyên tắc tự nguyện với lộ trình và bước đi cụ thể, thích hợp Phải nhìn vào từng trường hợp rõ ràng để tìm ra giải pháp

Phải có một khuôn khổ pháp lý phù hợp để cho phép chính phủ có thể can thiệp nhằm đảm bảo rằng hệ thống bảo hiểm tiền gửi có đủ vốn để xử lý khủng hoảng và có thể được

sử dụng một cách nhanh chóng và hiệu quả, bên cạnh đó là can thiệp vào các ngân hàng mất khả năng thanh toán, quá trình can thiệp của Chính phủ sẽ làm nảy sinh một số vấn

đề về pháp lý liên quan đến việc nắm giữ cổ phần của các cổ đông hiện tại vì thế cần có luật tương ứng để điều chỉnh Ví dụ khi chính phủ bơm vốn vào cho một ngân hàng và nếu muốn các cổ đông hiện tại phải rút bớt cổ phần tương ứng để Chính phủ trở thành cổ đông chính và có quyền bổ nhiệm người của mình vào các vị trí quản lý thì cần phải có một luật cho phép Chính phủ làm như vậy nếu họ không tự nguyện xin rút Hoặc đối với ngân hàng có nợ xấu lớn hoặc thiếu vốn nghiêm trọng nếu không thể tự củng cố thì NHNN sẽ đứng ra góp vốn hoặc có thể sáp nhập vào các ngân hàng khác Đồng thời phải đảm bảo việc sáp nhập này sẽ giúp các ngân hàng phát triển tốt hơn và không gây xáo trộn hệ thống

Đây là quá trình phức tạp, do đó, vai trò của NHNN phải được thể hiện mạnh mẽ, và những việc can thiệp đó phải được thực hiện nhanh chóng và kịp thời (nhân tố không

Trang 16

7

quan trọng, liên quan đến giải pháp) Chính phủ phải có được một quy trình toàn diện để theo dõi và đánh giá liên tục tình trạng nợ xấu và mất thanh khoản trong hệ thống ngân hàng, tránh tình trạng bị động Các cán bộ thanh tra giám sát cần phải được đào tạo trang

bị các kỹ năng để thực thi các luật định và các nhà quản lý, các cơ quan giám sát phải được tiếp cận với các thông tin một cách đầy đủ, chính xác kịp thời, để đảm bảo việc tái cấu trúc hiệu quả, minh bạch và điều chỉnh kịp thời

1.2 L ý luận chung về mô hình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại

1.2.1 Vấn đề chung

Khi hệ thống NHTM gặp khó khăn và có nhiều rủi ro hệ thống thì lựa chọn chính sách nào là khả thi và hiệu quả nhất để khôi phục và tái cấu trúc lại hệ thống là câu hỏi quan trọng nhất Có nhiều đề xuất được đưa ra, một số trong những đề xuất đó đã được thực thi trên thế giới Ví dụ như việc bổ sung vốn cho hệ thống thông qua vốn cổ phần hoặc chứng khoán lai (hybrid securities – như trái phiếu chuyển đổi hay cổ phần ưu đãi), mua lại tài sản của ngân hàng hoặc quốc hữu hóa hệ thống Tuy nhiên, những lựa chọn đa dạng trong tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thường hiếm khi được so sánh với nhau dựa trên những tiêu chuẩn cụ thể và khoa học

Có nhiều tranh cãi xung quanh vấn đề này, ví dụ như: Tài sản xấu của ngân hàng nên được bán trước khi hay sau khi tái cấp vốn? Nên sử dụng chứng khoán lai hay cổ phần thường trong việc tái cấu trúc tài chính cho ngân hàng? Có khả năng tái cấu trúc NHTM mà không cần phải dùng đến quá trình phá sản hoặc sử dụng tiền thuế của người dân không? Người dân bắt buộc phải tham gia vào quá trình giải cứu các NHTM không? Tuy nhiên, có 3 vấn đề mà các nhà kinh tế học hoàn toàn thống nhất:

- Theo nguyên tắc, việc tái cấu trúc có thể tiến hành thành công mà không cần phải

có sự đóng góp của những người nộp thuế

- Nếu các hợp đồng nợ không được thương lượng lại thì việc sử dụng tiền thuế là cần thiết, tuy nhiên trong nhiều phương án có thể tiến hành sẽ có những chiến lược tốn chi phí nhiều hơn những chiến lược khác

- Trong trường hợp thị trường không hiệu quả, việc tái cấu trúc phải được tiến hành trên cả phần nợ và vốn cổ phần

Trang 17

8

Mục tiêu của tái cấu trúc được giả định là giúp làm giảm khả năng thất bại của ngân hàng đồng thời tối thiểu hóa gánh nặng cho người nộp thuế Các khoản nợ của ngân hàng khi được tái thương lượng và chuyển nợ thành vốn cổ phần sẽ giúp giảm khả năng sụp đổ của NHTM Quá trình tái cấu trúc NHTM sẽ được tiến hành mà không cần có sự tham gia của nhà nước nếu các hợp đồng nợ được chuyển đổi thành vốn cổ phần dễ dàng Tuy nhiên trong thực tế việc này gặp trở ngại do ảnh hưởng về quyền lợi nên những chủ nợ không đồng ý, ngoài ra còn có các tác động của rủi ro hệ thống và các sự kiện trong quá trình tài cấu trúc

Khi các hợp đồng nợ không thể tái thương lượng để chuyển thành vốn cổ phần thì việc tái cấu trúc NHTM phải sử dụng tiền thuế của người dân để thực hiện Những chủ

nợ của NHTM sẽ nhận thấy rằng giá trị của các khoản nợ được chính phủ mua lại tăng lên so với trước đó và đòi hỏi giá trị cao hơn, nếu chính phủ từ chối mua lại thì phần giá trị của chủ nợ sẽ thâm dụng vào phần vốn của chủ sỡ hữu, khi đó những chủ sở hữu sẽ phản đối việc tái cấu trúc

Việc tiếp vốn cho NHTM còn phụ thuộc nhiều vào kế hoạch của chính phủ Mức độ tiếp vốn phản ảnh lợi ích của chủ nợ từ tái cấu trúc Hầu hết các chính phủ đều lựa chọn cách tiếp cận đơn giản là NHTM nhận vốn giải cứu đồng thời kèm theo các điều kiện khi NHTM muốn phát hành cổ phiếu mới Lượng vốn giải cứu có thể giảm xuống nếu NHTM phát hành cổ phần mới và dùng tiền đó để mua lại nợ Mặc khác, khi giải cứu chính phủ các nước yêu cầu NHTM phải minh bạch tình hình tài sản của mình để được nhận vốn

Khi tái cấu trúc hệ thống NHTM, ngoài yếu tố chi phí, những nhà kinh tế học còn xem xét tới khả năng tạo ra hiệu quả và lợi ích Ví dụ như NHTM có thể tiếp cận và thu hút thêm khách hàng mới thông qua quá trình tái cấu trúc; Ngoài ra những lợi ích và thặng dư cá nhân có thể thúc đẩy quá trình tái cấu trúc và từ đó làm giảm chi phí; Hay khi tái cấu trúc hệ thống NHTM giúp đảm bảo quyền lợi cho những nhà quản lý, từ đó thúc đẩy họ thực hiện chiến lược tốt nhất giúp NHTM có lợi nhuận; Việc tách riêng các tài sản xấu của NHTM giúp các nhà quản lý tập trung vào các chức năng quản trị cơ bản, từ đó cũng giúp tăng năng suất hiệu quả hoạt động của NHTM; Đặc biệt, khi lâm vào khủng hoảng một số tài sản của NHTM bị đánh giá thấp hơn giá trị thật bởi vì những lo ngại của

Trang 18

9

thị trường và thiếu tính thanh khoản, khi đó chính phủ mua lại các tài sản đó là lựa chọn không tồi Tuy nhiên, Chính phủ không phải là những người có chuyên môn cao về lĩnh vực này, nên chính phủ thường được khuyến khích sử dụng các chuyên gia tư nhân để quản lý tài sản của NHTM và ở các NH quốc doanh, vì thế trong dài hạn, các nhà quản lý

và chủ sở hữu phải bị những hình thức trừng phạt thích đáng để tránh những cuộc khủng hoảng tài chính trong tương lai (rủi ro đạo đức trong ngành tài chính ngân hàng)

Trong quá trình tái cấu trúc NHTM, vấn đề Thông tin bất cân xứng nảy sinh – khi mà NHTM hiểu rõ về tài sản của chính NHTM hơn những người bên ngoài Vì thế, NHTM miễn cưỡng tham gia vào quá trình tái cấu trúc và đòi hỏi việc chuyển giao nhiều hơn từ những người nộp thuế Bởi vì những NHTM tham gia vào quá trình tái cấu trúc có thể được thị trường xem như có nhiều tài sản độc và đòi hỏi nhiều vốn hỗ trợ hơn Chính nhận thức đó làm thị trường đánh giá NHTM có giá trị tài sản thấp hơn thực tế và đòi hỏi nhiều chi phí hơn cho tái cấu trúc Việc phát hành các loại chứng khoán lai tạp sẽ giúp giải quyết vấn đề này, vì điều đó cho thấy người phát hành không ở trong tình trạng xấu đến quá mức Nếu có thêm các bảo đảm kèm theo khi phát hành thì chiến lược phát hành chứng khoán lai càng có giá trị Ngoài ra, chính phủ cũng nên thu thập các thông tin tin cậy về các tài sản của NHTM thông qua việc kiểm tra các NHTM, từ đó xây dựng mô hình tái cấu trúc thích hợp

Tóm lại, giải pháp cho chính phủ khi tái cấu trúc hệ thống NHTM là phải thiết kế

nhiều phương án tái cấu trúc để xử lý nhiều vấn đề phức hợp Thứ nhất, kế hoạch giải cứu xác định khoản thặng dư từ tái cấu trúc được phân chia như thế nào giữa chủ nợ, chủ

sở hữu và người nộp thuế Thứ hai, thặng dư từ tái cấu trúc thay đổi và phụ thuộc vào kế hoạch, bởi vì Tái cấu trúc làm thay đổi hành vi của các bên tham gia Và chiến lược hiệu quả là tác động lên cả tài sản và nợ của NHTM

1.2.2 Những mô hình tái cấu trúc

Chúng ta tiến hành phân tích quá trình tái cấu trúc NHTM theo mô hình Modigliani

và Miller (1958 – Lý thuyết MM) Theo đó để làm giảm khả năng vỡ nợ của NHTM có thể tiến hành chuyển đổi một số nợ sang vốn cổ phần Kế hoạch tái cấu trúc có thể được tiến hành theo cách giúp cả chủ sở hữu lẫn chủ nợ không bị ảnh hưởng xấu về tài chính

- Giả định ban đầu:

Trang 19

10

Một ngân hàng đang quản lý tài sản A tại thời điểm 0 (t0), tài sản đó sẽ có giá trị là A1vào giai đoạn tiếp theo (t1) Giá trị A1 là ngẫu nhiên Cấu trúc vốn của NHTM tại t0 có khoản nợ với mệnh giá là D, khoản nợ này cần được chi trả lúc t1 và vốn cổ phần có giá trị sổ sách là E (hình 1.1) Nếu không có quá trình tái cấu trúc, xác suất vỡ nợ của NHTM tại t1, gọi là p, là xác suất giá trị A1 thấp hơn khoản nợ D, có nghĩa là p = F(D) (hình 1.2)

Trang 20

11

Theo mô hình MM, tổng giá trị thị trường của Nợ và Vốn cổ phần không phụ thuộc vào cấu trúc vốn của NHTM và bằng giá trị thị trường của tài sản: V(A) = V(E) + V(D) (Hình 1.3) Giả định rằng D < V(A), hàm ý rằng NHTM hiện tại không bị vỡ nợ, nhưng cũng giả định rằng có 1 xác suất vỡ nợ dương Giá trị thị trường của nợ V(D) do đó sẽ thấp hơn giá trị sổ sách của chính nó

Hình 1.3 Quy luật chia sẻ

Giả định rằng chi phí xã hội sẽ lớn khi những NHTM quan trọng trong nền kinh tế bị rủi

ro, mục tiêu của chính phủ lúc đó là làm giảm thấp rủi ro vỡ nợ, và thực tế là giúp hệ thống đạt được mức xác suất vỡ nợ mong đợi tại p* = F(A*) (với p*<p) Việc tái cấu trúc

hệ thống NHTM chính là giúp NHTM đạt được mức xác suất vỡ nợ tại p*

1.2.3 Bước đi đầu tiên tốt nhất: Tái cấu trúc nợ tự nguyện

Mục tiêu của Chính phủ là giảm xác suất vỡ nợ p trong khi đảm bảo không làm đối tượng nào bị ảnh hưởng xấu Điều đó có thể thực hiện bằng cách thay đổi trong cấu trúc nợ, loại nợ và chuyển 1 phần nợ thành vốn chủ sở hữu Chi tiết hơn, chuyển đổi nợ

cũ (D) thành 1 phần nợ mới (có mệnh giá thấp hơn nợ cũ) và 1 phần thành vốn chủ sở hữu (D’=A*), đồng thời vốn chủ sở hữu tăng thêm 1 khoản bằng chính giá trị chuyển đổi

từ nợ thành vốn chủ sở hữu: V(D) – V(D’) Đó chính là chiến lược chuyển 1 phần nợ thành vốn chủ sở hữu Giá trị của các chủ nợ cũ bây giờ sẽ là: V(D’) + (V(D) – V(D’), giá trị của nợ không thay đổi so với trước khi tái cấu trúc là V(D) Dòng tiền tương lai của NHTM là không thay đổi, nó chỉ thay đổi cấu trúc chia sẻ dòng tiền đó, nhưng tổng

Trang 21

H ình 1.4 Tái cấu trúc theo hình thức nợ chuyển thành vốn chủ sở hữu

Sau khi tái cấu trúc vốn làm cho tỷ lệ vốn cổ phần tăng lên, nợ giảm từ D xuống còn A*, NHTM không còn rủi ro vỡ nợ

1.2.4 Tái c ấu trúc mà không sắp xếp lại nợ

Mặc dù phương pháp hoán đổi Nợ thành vốn chủ sở hữu là giải pháp tốt nhất, nhưng vẫn có những khó khăn khi thực hiện trong thực tế Nguyên nhân chính do các sự kiện diễn ra quá nhanh, các NHTM không có nhiều thời gian để thương lượng gỡ bỏ các vấn đề khúc mắc giữa tất cả các bên mà đặc biệt là các chủ nợ và chủ sở hữu Khả năng xảy ra tình trạng rút tiền hàng loại yêu cầu phải tiến hành các giải pháp nhanh chóng, trong khi đó các chủ nợ với số lượng lớn và phân bố rộng đòi hòi phải có 1 quá trình thương lượng lâu dài Nếu xảy ra tình trạng kéo dài thì giải pháp tiến hành phá sản theo thứ tự và luật lệ có thể là cách hiệu quả để tiến hành thương lượng với các chủ nợ, nhưng

Trang 22

13

điều đó có thể gây ra tác động tiêu cực lên những định chế tài chính trung gian khác Và thông thường Chính phủ các nước muốn tránh giải quyết bằng con đường phá sản bởi vì những chi phí kinh tế tiềm ẩn lớn và khó lường trước

Trong tình huống không có sự giúp đỡ của chính phủ và cũng không thể tái thương lượng lại các hợp đồng nợ hiện tại, nếu NHTM có cách để tái cấu trúc giúp giảm khả năng vỡ nợ của NHTM sẽ làm giảm giá trị của vốn chủ sở hữu và làm gia tăng giá trị của nợ, điều đó chống lại quyền lợi của chủ sở hữu Quá trình tái cấu trúc như vậy sẽ không xảy ra trừ khi có Chính phủ cung cấp các gói cứu trợ hoặc chính phủ yêu cầu chủ

sở hữu tham gia bắt buộc Trong trường hợp không thể tái thương lượng lại nợ và Chính phủ không tham gia thì phải có sự tham gia của yếu tố bên ngoài Các giao dịch được thực hiện bởi các bên có bên thứ 3 bên ngoài đòi hỏi phải thực hiện tại giá trị hợp lý, có nghĩa rằng các giao dịch tài chính phải có giá trị thuần (NPV) bằng 0

Có nhiều cách tái cấu trúc giống nhau, nhưng không phải tất cả đều hợp lý và dễ dàng thực hiện Bởi vì có một số cách đem lại mức phục hồi cao hơn những phương án khác nhưng cũng có thể gây ra chi phí tái cấu trúc nhiều hơn Ví dụ, bán tài sản thì tốn kém hơn là phát hành cổ phần thường mới

1.2.4.1 Khó khăn của tái cấu trúc tự nguyện:

Khi không thể tái thương lượng nợ và không có sự trợ giúp của chính phủ, tất cả các trường hợp tái cấu trúc để giảm khả năng vỡ nợ đều bị từ chối bởi chủ sở hữu bởi vì

họ bị bất lợi Vì tái cấu trúc làm giảm khả năng vợ nợ, có nghĩa rằng giúp gia tăng giá trị của nợ và làm giảm giá trị của vốn cổ phần (Theo vấn đề nợ quá cỡ - Myers 1977) Thật vậy, bởi vì khi xác suất vỡ nợ giảm xuống, thì khả năng phục hồi của các khoản nợ xấu tăng lên, giá trị nợ tăng lên từ V(D) lên V’(D) và với việc không có bên thứ 3 tham gia, gia tăng giá trị của nợ đồng nghĩa với việc giảm giá trị của vốn chủ sở hữu ( V’(E) – V(E)

= - (V’(D) – V(D)) < 0) Khi giá trị của chủ nợ càng tăng thì giá trị của chủ sở hữu càng giảm, do đó chủ sở hữu càng không muốn tham gia tái cấu trúc

Do đó chủ sở hữu cần được trợ cấp hoặc bị bắt buộc chấp nhận các khoản trợ cấp của chính phủ để thông qua các đề án tái cấu trúc như vậy Chủ sở hữu thông qua đề án

Trang 23

14

tái cấu trúc là điều kiện cần thiết để tiến hành quá trình tái cấu trúc vì họ vẫn giữ quyền kiểm soát cho đến khi NHTM bị phá sản Khoản chuyển giao của chính phủ có giá trị tương đương khoản gia tăng giá trị của nợ, T = V’(D) – V(D) Nếu có khoản chuyển nhượng này thì giá trị của vốn cổ phần không đổi, do đó chủ sở hữu sẽ dễ dàng chấp nhận tái cấu trúc hơn

1.2.4.2 Trợ cấp của chính phủ và sự phục hồi nợ:

Tất cả các trường hợp tái cấu trúc nhằm mục tiêu đạt mức xác suất vỡ nợ p* nhất thiết phải bao gồm một khoản tiền trợ cấp từ chính phủ Độ lớn của khoản trợ cấp xác định mức độ an toàn các khoản nợ của NHTM Theo mô hình này thì việc bán tài sản được coi là cách thức gây tốn kém chi phí nhất cho người nộp thuế Bởi vì giá trị thật của tài sản A khi thực hiện việc bán tài sản sẽ chuyển phần giá trị đó đến cho người chủ nợ:

Hình 1.5 Tái cấu trúc và Phục hồi nợ

1.2.4.3 Bảo hiểm chung của chính phủ: Trợ cấp tối ưu

Đây là mô hình tái cấu trúc giúp tối thiểu hóa khoản chuyển giao từ người nộp thuế Độ lớn khoản chuyển giao có thể được thể hiện qua hàm số về giá trị của tài sản A1 (hình 1.6)

Trang 24

15

Hình 1.6 Khoản trợ cấp tối ưu của chính phủ

Đồng thời hình 1.7 thể hiện sự phục hồi tương ứng của nợ:

Hình 1.7 Tỷ lệ phục hồi:

Thực tế, mục tiêu của tái cấu trúc là giảm xác suất vỡ nợ của NHTM về p* chứ không phải cải thiện khả năng phục hồi của nợ Thực tế, khi A1 < A* thì NHTM bị vỡ nợ (hình 1.6), do đó chính phủ không nên thực hiện bất kỳ khoản trợ cấp nào trong trường hợp này Khi giá trị thật của A1 nằm ở khoảng A* và D, NHTM cần khoản chuyển giao

từ chính phủ là D – A1 để có đủ khả năng chi trả lại cho chủ nợ và tránh khỏi phá sản Khi A1 > D thì NHTM không cần trợ cấp từ chính phủ để tránh khỏi bị vỡ nợ

Trang 25

16

Chi phí liên quan đến người nộp thuế thuộc các hình thức khác nhau thùy thuộc vào cách thức thực hiện phương án tái cấu trúc đó Việc thực hiện phương án tái cấu trúc tối ưu rất khó thực hiện trong thực tế, tuy nhiên nó cho chúng ta thấy 3 điều hữu ích

- Thứ nhất: để giảm xác suất vỡ nợ cho NHTM, chính phủ không cần trợ cấp toàn

bộ cho các tài sản của NHTM, thay vào đó chính phủ nên tập trung vào ngân hàng tiệm cận với việc phá sản

- Thứ hai: không hẳn là một sự chuyển giao xấu khi mà người nộp thuế không

nhận được gì từ sự can thiệp của chính phủ vào các NHTM, một số phương án không cung cấp cho người nộp thuế bất cứ lợi ích nào, nhưng nó giúp giảm thiểu đến mức thấp nhất tổng chi phí của toàn nền kinh tế

- Thứ ba, càng nhiều trợ cấp sẽ thúc đẩy giá cổ phiếu, nhưng giá cổ phiếu tăng

không có nghĩa là chương trình giải cứu hiệu quả theo quan điểm của những người nộp thuế

1.2.4.4 Tái cơ cấu cấu trúc vốn với Cổ phần thường:

Một trong những cách đi thẳng để giảm xác suất vỡ nợ là phát hành cổ phiếu mới thu về tiền mặt (Cash) Mặc dù nợ không thay đổi nhưng nó ít rủi ro hơn vì tỷ lệ nợ/vốn

cổ phần giảm xuống Tình trạng phá sản xảy ra khi xác suất (A + Tiền mặt < D), hay xác suất (A < D – tiền mặt) hay xác suất này là hàm số F(D – tiền mặt) Số lượng tiền mặt tối thiểu phải huy động thêm để đạt p* = F(D-Cash) có nghĩa là Cash = D – A* Khi đã phát hành cổ phần mới để khôi phục là khả năng thanh toán, giúp NHTM tránh tình trạng phá sản, thì tỷ lệ phục hồi cao hơn, làm gia tăng giá trị của nợ từ V(D) lên V’(D) Những người chủ của cổ phần mới phát hành không bị mất mát hay kiếm thêm được khoản tiền nào khi đầu tư thêm vào Khi không có trợ cấp của chính phủ, khoản gia tăng giá trị của chủ nợ V(D) - V’(D) là khoản mất mát của chủ sỡ hữu cũ, do đó họ sẽ phản đối việc tái cấu trúc

Để tiến hành tái cấu trúc theo hướng này được chủ sỡ hữu chấp nhận thì giá trị cổ phần của họ phải được giữ nguyên, do đó chính phủ phải chi một khoản trợ cấp bằng tiền

Trang 26

17

là V’(D) – V(D) và NHTM phát hành thêm một lượng cổ phần mới D – A* - (V’(D) – V(D)) tại giá trị hợp lý (giá trị phản ảnh dòng tiền tương lai cho chủ sở hữu được chiết khấu về hiện tại) Với tổng khoản tiền nhận được là D – A*, xác suất vỡ nợ sẽ giảm về p* Giá trị thị trường của nợ tăng một khoản V’(D) – V(D) đúng bằng khoản tiền chính phủ chi ra, và như vậy giá trị của vốn cổ phần không thay đổi (hình 1.8)

Hình 1.8 : tái cấu trúc cấu trúc vốn

1.2.4.5 Tái cơ cấu cấu trúc vốn bằng phát hành cổ phiếu ưu đãi và nợ có khả năng chuyển đổi:

Thay vì phát hành cổ phần thường, NHTM có thể phát hành chứng khoán lai như

nợ có khả năng chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi Trong trường hợp đó ảnh hưởng và tác động lên việc phục hồi nợ là không thay đổi khi so sánh với trường hợp phát hành cổ phần thường

Khi phát hành chứng khoán lai sẽ có hai trường hợp Trường hợp một, chứng khoán lai có khả năng chuyển đổi thành cổ phần thường theo những điều kiện xác định

do người phát hành quy định (tức là cổ tức của cổ phần ưu đãi không phải thanh toán, còn

nợ có khả năng chuyển đổi thì không phải chuyển thành vốn cổ phần khi NHTM không

có khả năng thanh toán cổ tức hay trái tức) Trong trường hợp này, khoản vốn cần huy động để xác suất vỡ nợ giảm về p* tương tự như trường hợp phát hành cổ phần thường

Trang 27

18

Trong trường hợp thứ 2, phát hành nợ có khả năng chuyển đổi mà việc chuyển đổi không phải do người phát hành quyết định (có thể là chuyển đổi tự động hoặc do người giữ quyết định) và mức độ ưu tiên ngang bằng với các khoản nợ hiện tại Khi đó độ dốc của đường phục hồi sẽ giống như trường hợp phát hành cổ phiếu mới (hình 1.9) Cùng lúc đó, điểm xảy ra phá sản sau khi tái cấu trúc sẽ vẫn như cũ:

Hình 1.9.Đường phục hồi nợ của NHTM khi phát hành cổ phiếu mới

Để chủ sở hữu vốn cổ phần sẵn sàng chấp nhận tái cấu trúc, chính phủ phải bắt buộc họ với điều kiện có một khoản chuyển giao nhất định như trong trường hợp họ phát hành cổ phiếu thường Khi đó, tổng tài sản trước và sau khi tái cấu trúc vẫn ở một mức,

có nghĩa là lợi ích của chủ sở hữu vốn ban đầu, chủ nợ ban đầu, chủ các khoản mới phát hành và những người nộp thuế là 0 Bởi vì các khoản mới phát hành tại mức giá hợp lý, giá trị của người chủ sở hữu chúng là không thay đổi

1.2.4.6 Trợ cấp mua lại nợ:

Một khi cổ phần mới hay chứng khoán khác được phát hành, NHTM không cần thiết phải giữ tiền thu được trên bảng Cân đối kế toán mà họ có thể sử dụng chúng để mua lại một số nợ Chính vì vậy làm giảm số tiền mà người nộp thuế phải chuyển giao

Trang 28

19

để NHTM đạt mức xác suất phá sản về p = p* Những Trái chủ bán nợ lại cho NHTM được giả định là không “ngây thơ”, vì họ hiểu rằng giá trị của nợ sẽ tăng lên sau tái cấu trúc, vì vậy họ chỉ chấp nhận bán lại nợ tại giá trị hợp lý chính là giá phản ánh giá trị của khoản nợ họ nắm giữ sau khi tái cấu trúc Một tỷ trọng a của các khoản nợ hiện hữu được mua lại để (1 – a)D = A* Sau công bố kế hoạch mua lại nợ, giá trị của các khoản nợ ban đầu sẽ tăng từ V(D) lên V’(D), phản ảnh khả năng phá sản thấp hơn sau khi tái cấu trúc Khoản nợ được mua lại sẽ có giá trị aV’(D) trong khi khoản nợ còn lại có giá trị thị trường (1-a)V’(D)

Để giá trị của người chủ sở hữu vốn không thay đổi, chính phủ cần tài trợ cho việc mua lại Để nhận được khoản chuyển giao đó, NHTM phải phát hành cổ phần để mua lại một phần a của nợ Chính phủ có thể làm cách khác, là mua nợ trực tiếp sau khi tái cấu trúc tại giá trị thị trường và chuyển đổi chúng thành vốn cổ phần tại tỷ lệ chuyển đổi làm cho giá trị của vốn chủ sở hữu không đổi Như đã phân tích trong các kế hoạch tái cấu trúc khác, chính phủ phải chuyển giao một khoản bằng với giá trị tăng lên của nợ sau khi tái cấu trúc, V’(D) – V(D) Khi đó cho dù chủ sở hữu tiếp tục nắm giữ hay bán lại phần

nợ của mình, giá trị của họ là như nhau sau khi tái cấu trúc Những khoản nợ còn lại có tỷ trọng là (1-a) trong tổng nợ ban đầu Khoản lợi khi giá trị tăng lên của nợ thuộc lợi ích của chủ nợ (1-a) phần nợ còn lại Khi đó, khoản chuyển giao của chính phủ có thể tính toán bằng cách thay đổi tỷ lệ khoản phục hồi khoản nợ bởi 1/(1-a) (hình 1.10) Tổng khoản phục phản ảnh tác động của tái cấu trúc lên tổng các khoản nợ ban đầu

Hình 1.10 : Mua lại nợ

Trang 29

20

Chiến lược mua lại nợ rồi chuyển thành vốn cổ phần gây tốn kém ít hơn cho người nộp thuế so với chiến lược tái cơ cấu vốn thông qua việc phát hành cổ phiếu mới và giữ khoản tiền đó trên bảng cân đối kế toán Thật vậy, đường phục hồi ở hình 7 thấp hơn đường phục hồi ở hình 5 Trực giác kinh tế cho thấy dùng tiền mua lại nợ sau đó chuyển thành vốn cổ phần thì gần với phương án tốt nhất hơn, đồng thời việc thay đổi cấu trúc vốn như vậy giúp giảm khoản cứu trợ mà chính phủ phải chi ra (Bulow và Klemperer – 2009)

1.2.4.7 Bảo hiểm tài sản đơn giản:

Một cách khác để chính phủ giảm khả năng phá sản của NHTM về mức p* là đưa

ra bảo hiểm một phần hoặc toàn bộ tài sản cho NHTM bằng cách sử dụng Bảo hiểm tài

sản giản đơn Để giới hạn số tiền người nộp thuế phải gánh chịu, bảo hiểm này phải có khuôn khổ (bảo hiểm một phần).Ví dụ, chính phủ bảo đảm rằng nếu giá trị tài sản của NHTM giảm xuống thấp hơn nợ của họ (D) thì chính phủ sẽ cứu trợ một khoản tối đa là

D – A* Từ sự bảo đảm đó giúp cho NHTM có đủ khả năng chi trả các khoản nợ đầy đủ khi A1 > A* Chiến lược này có điểm khác biệt với chiến lược tối ưu là nó vẫn tiến hành chi trả ngay cả khi NHTM rơi vào tình trạng tồi tệ và bị phá sản, tức là khi A1<A* (hình 1.11)

Hình 1.11 Khoản chuyển giao theo Bảo hiểm tài sản giới hạn

Trong chiến lược này, giá trị của chủ sở hữu vốn không thay đổi, vì khoản chuyển giao của chính phủ sẽ làm gia tăng giá trị của chủ nợ của NHTM, đồng thời chi phí của chiến lược này ngang bằng với chiến lược tái cơ cấu lại nguồn vốn thông qua phát hành

Trang 30

độ rủi ro trong tương lai cua NHTM so với toàn bộ tài sản, và nếu như vậy có thể gây ra những chi phí khác cao hơn và có thể chiến lược này mất đi tính hiệu quả của nó

1.2.4.8 Chiến lược Caballero:

Nhà kinh tế học Ricardo Caballero (2009) đưa ra một phương án lựa chọn: nếu NHTM phát hành cổ phần mới ra công chúng với giá trị D – A*, chính phủ bảo đảm sẽ mua lại lượng cổ phần này với một giá xác định trước, nói cách khác chính phủ đã cung cấp một hợp đồng quyền chọn bán miễn phí cho những nhà đầu tư mới mua cổ phiếu này Giá sàn để mua lại có thể được thông báo ngay sau khi phát hành Khoản chuyển giao của chính phủ phải được thiết kế để bảo đảm vừa đủ khoản lợi ích tăng thêm của chủ nợ là V’(D) – V(D) Điều đó giúp những người giữ vốn cổ phần hiện tại sẵn lòng tham gia vào phương án tái cấu trúc này

Với việc chuyển giao trợ cấp của chính phủ theo phương án trên thì tương đương với tái cơ cấu nguồn vốn bằng cách phát hành cổ phiếu mới và giữ lượng tiền mặt trên

bảng cân đối kế toán (hình 1.8) Tuy nhiên nó lại khác ở chỗ chưa đòi hỏi bất kỳ khoản chuyển giao ngay tức khắc từ chính phủ

1.2.4.9 Chiến lược bán tài sản trên giá thị trường:

Chiến lược này thực hiện bằng cách bán một phần tài sản a cho chính phủ với giá cao hơn m% giá thị trường, có nghĩa bán cho chính phủ lượng giá trị (1+m)aV(A) để đạt được xác suất phá sản p = p* mà không làm pha loãng quyền của cổ đông Tiền thu được

sẽ được giữ lại trên bảng cân đối kế toán của NHTM Có một thực tế rằng tiền chính phủ chi cho phương án này là cao nhất so với tất cả các phương án đã kể trên

Trang 31

22

Sau khi bán phần tài sản đó cho chính phủ thì tổng giá trị của NHTM bao gồm cả tiền mặt thu được sẽ là: (1+m)aV(A) + (1-a)A, giá trị đã tăng lên, khả năng phá sản đã giảm đi (Hình 9a) Vì rủi ro phá sản giảm đi nên giá trị khoản nợ tăng lên một khoản V’(D) – V(D) Khoảng gia tăng này cao hơn so với trường hợp phát hành chứng khoán thường để đạt được cùng mức p*, vì tỷ lệ phục hồi của A1 là cao hơn trường hợp đó

Hình 1.12 Tài sản và nguồn vốn sau khi bán đi 1 phần tài sản

Hình 1.13 Sự phục hồi của nợ sau khi bán tài sản

1.2.4.10 Phương án của Sachs:

Phương án mà Sachs (2009) thực hiện bao gồm bán nhiều loại tài sản Thay vì sử dụng giá trị thị trường, Sachs sẽ bán cho chính phủ một phần tài sản theo giá trị sổ sách kèm theo điều kiện sẽ bù đắp bất kỳ khoản lỗ nào khi chính phủ bán lại những tài sản này sau đó (nằm trong những điều kiện giải cứu của chính phủ cho Sachs) Đồng thời đó, Sachs phát hành cổ phần mới để bù đắp vào các khoản thanh toán cho chính phủ những khoản lỗ khi chính phủ thanh lý tài sản đã mua từ Sachs Trong trường hợp đặc biệt hơn,

Trang 32

23

chính phủ sẽ giữ quyền bảo chứng được mua chứng khoán mới phát hành này để bảo đảm

bù đắp lại các khoản thô lỗ từ tài sản đã mua từ NHTM Những người chủ sở hữu hiện tại chịu chi phí vì bị pha loãng quyền sở hữu

Chiến lược này chứa đựng một khoản trợ cấp ngầm của chính phủ cho các chủ nợ

Vì xác suất vỡ nợ giảm xuống do đó khả năng phục hồi tăng lên và giá trị của nợ tăng lên, thêm vào đó chính phủ sẽ không nhận được gì trừ phi tất cả các khoản nợ khác đã được thanh toán Do đó, quyền lợi của các chủ nợ cũ được bảo đảm Nhưng đối với chủ

sở hữu, họ bị thiệt hại Nếu tài sản của NHTM sau đó được bán lại với giá thấp với giá trị

sổ sách, thì NHTM vẫn phải bù đắp phần thô lỗ này cho chính phủ Nhưng khi tài sản được bán với giá cao hơn giá trị sổ sách thì NHTM vẫn chỉ nhận được giá trị sổ sách, do

đó chủ sở hữu sẽ phản đối phương án này

1.2.4.11 Kết hợp nhiều phương án lại với nhau:

Khi tái cấu trúc NHTM cũng có thể kết hợp nhiều chiến lược lại với nhau như bán tài sản với tái cơ cấu lại nguồn vốn Nhưng cho dù NHTM có tham gia thực hiện một hay nhiều hoặc không thực hiện phương án tái cấu trúc thì vấn đề cốt yếu là tổng các khoản chuyển giao như thế nào

1.2.5 Thặng dư xã hội và Thặng dư cá nhân khi tái cấu trúc NHTM

Khi xem xét lợi ích của tái cấu trúc cần phải nhìn nhận trên nhiều khía cạnh Vấn

đề quan trọng đầu tiên là lợi ích cá nhân giữa chủ nợ và chủ sở hữu Có thể xem dòng tiền tương lai chính là lợi ích trực tiếp và quan trọng của cả hai đối tượng này, do đó chính phủ cần phải chú ý đến các khoản chi trả và khoản thưởng và phúc lợi của các bên Ngoài

ra còn lợi ích của xã hội và nhiều đối tượng khác

Lợi ích từ tái cấu trúc cho các cá nhân có thể thúc đẩy họ ủng hộ và đẩy mạnh quá trình tái cấu trúc đồng thời giảm khả năng vỡ nợ cho NHTM Vì có rất nhiều nhóm đối tượng khác nhau với những giá trị lợi ích khác nhau, do đó không dễ dàng để thực hiện phương án tái cấu trúc tối ưu trong thực tiễn Một phương án tái cấu trúc khả thi bao gồm nhiều yêu tố nhằm bảo đảm lợi ích của các bên là công bằng và tất cả các bên sẵn sàng

Trang 33

- Chi phí kiệt quệ tài chính:

Một khái niệm đã được thừa nhận rộng rãi rằng khi xác suất phá sản của doanh nghiệp càng cao thì càng làm giảm tổng giá trị của doanh nghiệp Một NHTM khi giá trị tài sản giảm xuống một cách nghiêm trọng thì có thể NHTM đó đang rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính tức là khi p > p* Các chi phí liên quan đến kiệt quệ tài chính như chi phí phá sản (chi phí pháp lý…) và một giá trị lớn các chi phí gián tiếp như chi phí vận hành (tốn nhiều chi phí hơn để vận hành hệ thống), chi phí mất mát do mất khách hàng Chẳng hạn như các khách hàng doanh nghiệp, cá nhân,tổ chức sẽ cố gắng né tránh giao dịch với NHTM đang bị căng thẳng tài chính và có khả năng dẫn đến phá sản Các nhà quản lý thì tập trung vào làm sao để giữ NHTM tồn tại chứ không phải tập trung vào các dự án và tìm kiếm lợi nhuận cho NHTM nữa…Do đó khi NHTM rơi vào tình trạng căng thẳng tài chính sẽ làm suy giảm giá trị của NHTM, một khi khả năng phá sản giảm

đi thì tạo ra một phần giá trị tăng thêm, người ta gọi đó là thặng dư cá nhân của tái cấu trúc Theo nghiên cứu của Andrade và Kaplan (1998) chi phí căng thẳng tài chính đối với các loại hình công ty phi tài chính chiếm từ 10% đến 23% giá trị trước tái cấu trúc của công ty đó

- Sự tham gia của chính phủ và lợi ích xã hội:

Rõ ràng việc giải cứu và tái cấu trúc một NHTM quan trọng trong nền kinh tế sẽ mang lại lợi ích cho toàn xã hội, bởi một NHTM quan trọng sụp đổ sẽ kéo theo toàn bộ

hệ thống gặp rủi ro và có thể sụp đổ theo, khi đó chi phí xã hội rất khó tính toán được Độ lớn của lợi ích xã hội (B) chính là tiêu chuẩn giúp chính phủ quyết định có tham gia vào việc giải cứu và tái cấu trúc một NHTM hay không Lợi ích xã hội này phụ thuộc vào mức độ ảnh hưởng của các NHTM khác khi NHTM này bị phá sản (đưa vào mô hình rủi

ro hệ thống thanh toán) và mức độ mong đợi việc phá sản đó như thế nào

Trang 34

25

Việc cho phép sự tham gia của chính phủ, quá trình tái cấu trúc NHTM trở thành trò chơi có lợi khi mà tổng thặng dư sẽ là S = C + B (C: thặng dư cá nhân được phân chia giữa chủ sở hữu và chủ nợ) được chia sẻ giữa 3 bên: Chủ sở hữu, chủ nợ và chính phủ

Có 3 trường hợp:

- Nếu C > V’(D) – V(D), thì chính phủ không cần can thiệp, vì sẽ có những đối tượng khác cố gắng tham gia để hưởng được phần chênh lệch giữa C và V’(D) – V(D)

- Nếu Chính phủ cần phải can thiệp, chính phủ chỉ sẵn sàng can thiệp khi khoản chuyển giao từ thuế (T) thấp hơn lợi ích xã hội đạt được, B > T Chi phí tối thiểu chính phủ phải chịu để đạt được p = p* là V’(D) – V(D) – C, có nghĩa là phần chi phí bù đắp cho khoản gia tăng trong giá trị của nợ trừ đi thặng dư cá nhân sau khi tái cấu trúc

- Nếu lợi ích xã hội B < V’(D) – V(D) – C, thì tổng lợi ích xã hội là S < V’(D) – V(D), do đó cả 2 bên là chủ sở hữu và chính phủ đều bị bất lợi trong tình huống này Trong trường hợp này chính phủ phải dùng quyền lực của mình để tiến hành tái cấu trúc lại NHTM và thương lượng với chủ nợ để hoán đổi các khoản nợ thành vốn cổ phần bắt buộc

1.2.5.2 Thặng dư nội sinh và Thiết kế tái cấu trúc:

Lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội được tạo ra bằng việc giảm khả năng phá sản của NHTM không chỉ xuất phát từ yếu tố nội sinh của quá trình tái cấu trúc mà còn bị ảnh hưởng bởi thiết kế của quá trình tái cấu trúc Trong những chiến lược để đạt được p = p* thì chiến lược nào giúp tối đa hóa S (B + C) là chiến lược tối ưu, vì nó giúp tối thiếu hóa chi phí phải chi trả của người nộp thuế

- Phân phối chất xám:

o Khoản thời gian giám sát và chú ý: để tăng năng suất của ban quản trị NHTM, NHTM nên loại bỏ các tài sản độc hại khỏi bảng cân đối kế toán của mình Việc này có thể được thực hiện bằng cách bán tài sản hoặc tách NHTM thành 2: ngân hàng tốt và ngân hàng xấu Loại bỏ tình trạng căng

Trang 35

26

thẳng tài chính và giải quyết tài sản cho những nhà quản trị trong thời gian quản lý sẽ giúp họ tập trung hơn vào các hoạt động kinh doanh của NHTM thay vì tập trung thời gian vào quản lý các tài sản xấu của NHTM, như vậy hoạt động của các nhà quản trị NHTM sẽ hiệu quả hơn Còn các vấn đề về quản lý tài sản xấu sẽ để cho các nhà luật sư, các chuyên gia về quản lý quỹ

và tài sản thực hiện tốt hơn

o Tiền thưởng cho việc quản lý một NHTM được tái cấu trúc: nhà quản trị ngân hàng có thể có thêm những phần thưởng để tối đa hóa giá trị tài sản

A1 Như vậy sẽ khuyến khích các nhà quản trị ngân hàng cố gắng tìm cách nâng cao giá trị của NHTM lên nhằm tìm kiếm tiền thường Điều này tạo ra hai tác dụng, một là giúp nhà quản trị cố gắng hơn để gia tăng tài sản cho NHTM, nhưng cũng tạo ra rủi ro khi họ tìm cách gia tăng ảo các số liệu liên quan đến tài sản của NHTM

- Lo lắng về tương lai:

o Tác động tích cực trung hạn của việc chuyển đổi: thực hiện tái cấu trúc NHTM không chỉ xem xét lợi ích hiện tại mà còn phải xem xét lợi ích trong tương lai Trong trường hợp tái cấu trúc bằng cách phát hành chứng khoán

nợ có khả năng chuyển đổi Nếu tương lai NHTM lại rơi vào tình trạng căng thẳng tài chính và có khả năng phá sản, lúc đó các chứng khoán nợ này sẽ được chuyển đổi thành vốn cổ phần và giúp NHTM tránh được tình trạng khó khăn

Trang 36

27

o Tác động dài hạn: Để tránh các rủi ro dài hạn NHTM cần phải xác định tác động dài hạn của tái cấu trúc Vấn đề rủi ro đạo đức liên quan đến vấn đề

“Too big to fail” là điều phải được xem xét

1.2.6 Vấn đề tham gia trong điều kiện thông tin bất cân xứng

Khi các đối tác tham gia không hoàn toàn biết rõ về chất lượng tài sản của các ngân hàng, trong khi các nhà quản lý ngân hàng thì nắm rất rõ điều này, các đối tác tham gia trong kế hoạch tái cấu trúc cố gắng đưa ra các thông tin tiêu cực về chất lượng tài sản Điều này làm các ngân hàng miễn cưỡng tham gia vào kế hoạch tái cấu trúc mà không có mức hỗ trợ cao Sự miễn cưỡng này thêm vào khi thông tin về vấn đề nợ quá hạn cao được đưa ra trước đó (Phần 3) Sự gia tăng mức hỗ trợ cho các ngân hàng có thể khắc phục được vấn đề trên nếu kế hoạch sử dụng tài sản đảm bảo hoặc các chứng khoán lai tạp hơn là phát hành chứng khoán vốn Vì thực hiện được việc này sẽ giúp giảm được chi phí mà những người đóng thuế phải chịu để tái cấu trúc

1.2.6.1 Tái cơ cấu vốn với thông tin bất cân xứng trong chất lượng tài sản giữa các ngân hàng

Trong vấn đề thông tin bất cân xứng, các nhà quản trị có thông tin riêng trong chất lượng tài sản cơ bản của họ J(A)1 Giá trị thị trường của khối tài sản ngân hàng được đánh giá ở mức trung bình V(A) Các thông tin mật có thể đáng tin cậy nếu chúng được công bố đại chúng, các ngân hàng chất lượng cao có thể được định giá cao hơn giá trị thị trường

- Sự tham gia tự nguyện

Chúng ta sẽ phân tích làm thế nào để thuyết phục các ngân hàng tham gia vào kế hoạch tái cấp vốn Giả định có 2 loại hình ngân hàng: một là ngân hàng có chất lượng tài sản cao và hai là ngân hàng có chất lượng tài sản thấp Chúng ta tập trung vào trường hợp ngân hàng có chất lượng tài sản cao cần tái cấp vốn Xác suất vỡ nợ của ngân hàng có

1 Giá trị các chứng khoán và các khoản nợ là rất khó để xác định Dưới chuẩn mực kế toán, các chứng khoán với giá trị thị trường không cần thiết phải được đánh giá lại theo giá trị thị trường( mà cứ dựa theo nguyên tắc tính ban đầu) Hơn nữa, kết của của tài sản là rất khó để xác định, ít nhất là ở thời điểm hiện tại

Trang 37

28

chất lượng tài sản thấp (pl) và ngân hàng có chất lượng tài sản (ph) cao đều cao hơn ngưỡng cho phép, pl>ph>p*2 Mục tiêu của chính phủ là đảm bảo làm cho các ngân hàng này có mức xác suất vỡ nợ chuyển về mức bình thường p* trong khi tối thiểu hóa những

khoản chuyển giao từ người chịu thuế cho các ngân hàng

Khi các ngân hàng tự nguyện tham gia vào kế hoạch tái cấu trúc dựa vào việc phát hành chứng khoán cho các nhà đầu tư cá nhân, các nhà quản trị của các ngân hàng trên mức trung bình sẽ nhận được một sự trợ cấp cao từ phía chính phủ Đó là lý do các ngân hàng chất lượng cao không thể đạt được giá trị thực Hơn thế nữa, khi phát hành các quyền tài chính mới (new financial claims) dựa vào các tài sản cơ sở, sự tháo chạy của các cổ đông có thể làm giảm sự gian lận trong ngân sách: bởi vì các cổ đông mới đạt được giá chứng khoán thấp hơn giá trị cơ bản (fundamental value), viêc phát hành sẽ tốn một khoản chiết khấu, gọi là phí cho các cổ đông hiện hữu Khoản chiết khấu này phải

được bồi thường bởi sự chuyển giao vốn từ phái chính phủ

Không có sự trợ cấp cao, các ngân hàng chất lượng cao có thể quyết định không tham gia vào kế hoạch, và dẫn đến các ngân hàng chất lượng thấp cũng không tham gia vào kế hoạch Nếu họ tham gia, sự đồng nhất có thể được bộc lộ và tài sản của họ có thể được định giá trị bằng với giá trị thực, thấp hơn mức J( Nó có thể làm gia tăng chi phí kiệt quệ tài chính.3 Bởi vậy, chính phủ cần chi trả một mức trợ cấp cao để thuyết phục các ngân hàng tham gia vào kế hoạch Như vậy, các ngân hàng chất lượng kém có thể được trợ cấp nhiều hơn (overresubsidized), hưởng lợi từ việc lợi dụng kẻ hở thông tin Cùng lúc đó, các ngân hàng chất lượng cao có thể gia tăng tái cấp vốn vượt mức (overrecapitalized) bởi kế hoạch bởi vì họ được đối xử như với ngân hàng chất lượng

Trang 38

29

Để thuyết phục các thành viên tham gia tự nguyện trong kế hoạch dựa vào việc phát hành chứng khoán vốn mới, trợ cấp của chính phủ từ thuế phải cao Bởi vì khoảng cách thông tin (information gap) giữa giá trị cơ bản và giá trị thị trường của chứng khoán là lớn đối với các ngân hàng có chất lượng cao Nợ có thể là một giải pháp lý tưởng, bởi vì khoảng cách là nhỏ như đặc tính các khoản phải trả của nó.4 Không may, việc phát hành

nợ là không dễ dàng, vì mục tiêu của tái cấu trúc là giảm xác suất phá sản Tuy nhiên, sự kết hợp giữa nợ và vốn có thể được dùng để giảm thiểu chi phí về thuế, và giá trị của các chứng khoán lai tạp này cũng ít nhạy cảm với các thông tin hơn vốn cổ phần Thêm vào

đó, chứng khoán lai tạp như tín phiếu chuyển đổi, nợ dưới chuẩn và cổ phiếu ưu đãi có

thể được tính đến như sự điều chỉnh vốn

- Tín phiếu chuyển đổi có thể được xem xét như là “ vốn chuyển đổi (backdoor equity)” nếu như sự chuyển đổi có tính chất bắt buộc hoặc theo quyết định của cổ đông Đó là cách phát hành chứng khoán vốn trong khi giảm được chi phí thông tin khi phát hành chứng khoán vốn Trong khoảng thời gian nhất định, khoản phải trả từ nợ sẽ được chuyển đổi sau khi có quyết định của cổ đông Đồ thị 10 minh họa khoản phải trả cuối cùng của tín phiếu chuyển đổi, với sự chuyển đổi ở cùng một thời điểm Ghi chú được đồng nhất ở phần 3, và là mệnh giá của nợ Độ dốc của đường tỷ trọng vốn trên khoản phải trả của chứng khoán bên phải đồ thị là

tương ứng với tỷ lệ chuyển đổi.(Ví dụ: số cổ phần được chuyển đổi từ tín phiếu chuyển đổi)

Hình 1.14.Tái cấu trúc bằng nợ có khả năng chuyển đổi

4 Nợ được xem như là có độ nhạy về thông tin thấp, ngược lại với vốn có độ nahy5 về thông tin cao

Trang 39

30

Không giống với việc phát hành thêm nợ, phát hành chứng khoán chuyển đổi cho phép giảm xác suất phá sản Đó là bởi vì sự gia tăng tiền mặt bởi việc phát hành chứng khoán chuyển đổi là giá trị của phần nợ chuyển sang phần vốn từ việc chuyển đổi các chứng khoán đó trong tương lai Nếu phần vốn là đủ lớn, khoản tiền gia tăng là lớn hơn

so với sử dụng nợ D, chính vì thế làm giảm xác suất phá sản Sự lựa chọn của tỷ lệ chuyển đổi cần giải quyết một cách ổn thỏa: ở một khía cạnh, sự tăng tỷ lệ chuyển đổi sẽ làm giảm chi phí phá sản, và tiền mặt sẽ tăng lên trước tiên Ở khía cạnh khác, khi tỷ lệ chuyển đổi là thấp hơn, khoản phải trả sẽ tăng lên và như vậy sẽ ít nhạy cảm với thông tin trong các khoản phải trả cuối cùng Trong lý thuyết, thị trường cổ phiếu phản ứng lại việc phát hành chứng khoán chuyển đổi một cách ấn tượng các đợt phát hành chứng khoán vốn Nếu sự chuyển đổi là tự động sau một khoảng thời gian chắc chắn nào đó hơn là để cho cổ đông quyết định, thì các chứng khoán chuyển đổi sẽ thu hút hơn (trong điều kiện các yếu tố khác không đổi)

- Cổ phiếu ưu đãi: về bản chất giống trái phiếu ở chỗ lãi suất là cố định nhưng có thể được bỏ qua, trong trường hợp này chúng có thể được tích lũy ở mức lãi suất ban đầu Cổ phiếu ưu đãi có độ nhạy về thông tin thấp hơn so với vốn cổ phần (bởi

Trang 40

31

vì khoản chi trả là cố định) nhưng sẽ nhạy cảm hơn so với chứng khoán nợ (vì nhà phát hành có thể không chi trả khi rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính) Bởi vậy, chi phí sử dụng vốn cổ phần ưu đãi có thể thấp hơn so với chi phí sử dụng vốn cổ phần thường

Chú ý rằng cổ phiếu ưu đãi và chứng khoán chuyển đổi (hoặc bất cứ chứng khoán lai tạp nào) cũng có thể được kết hợp với nhau trong những tình huống cụ thể

- Tối đa hóa tài sản đảm bảo hoặc phụ thuộc vào sự chuyển đổi của chính phủ

Chi phí của thông tin bất cân xứng có thể được giảm bớt nếu như chính phủ đề xuất việc chuyển đổi không dựa vào việc phát hành các chứng khoán mới mà phụ thuộc vào việc xác định giá trị tài sản Từ việc thông tin bất cân xứng, vấn đề tái cấu trúc được phân tích sâu hơn, tài sản đảm bảo, hoặc tối đa hóa phần được bảo hiểm hoặc chuyển đổi phụ thuộc vào sự vỡ nợ, điều này chi phối tất cả kế hoạch tái cấu trúc dựa vào việc phát hành các quyền sở hữu tài sản Nếu kế hoạch không yêu cầu bất cứ sự hoàn lại nào từ ngân hàng, mỗi ngân hàng sẽ tham gia vào kế hoạch Chính phủ nên tính toán A* sử dụng việc phân phối các khoản phải trả của các ngân hàng chất lượng thấp Bằng cách đó, nó sẽ đảm bảo cho các ngân hàng lớn trong trường hợp tái cơ cấu vốn (họ sẽ có xác suất vỡ nợ thấp hơn mức p*), nhưng nó không cần thiết chuyển đến các ngân hàng có chất lượng thấp Không giống việc tái cơ cấu vốn, họ nhận được khoản lợi từ kẻ hở thông tin (trợ cấp

để bồi thường thiệt hại của việc phát hành chứng khoán vốn)

- Chương trình bắt buộc

Chi phí cộng tác với nguồn gốc thông tin bất cân xứng là cần thiết để đảm bảo rằng các ngân hàng tự nguyện tham gia khi sự tham gia được đánh giá như là dấu hiệu xấu về chất lượng của tài sản ngân hàng Tuy nhiên, chính phủ không cần sử dụng chương trình

tự nguyện Dĩ nhiên, chính phủ có thể sử dụng chương trình đặc biệt mục tiêu là thiết lập lại các ngân hàng Bằng cách đó, chính phủ có thể làm giảm bớt vấn đề thông tin bất cân xứng Trong chương trình bắt buộc, tuy nhiên, có thể cần đến những sự thay đổi đặc biệt trong luật pháp và có thể không khả thi khi rủi ro hệ thống là sắp xảy ra

Ngày đăng: 05/02/2019, 09:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm