Hiện nay, thuế vừa là nguồn thu chính của ngân sách nhà nước, vừa gắn với tăng trưởng kinh tế, tạo ra công bằng trong phân phối, ổn định xã hội và là công cụ quan trọng của chính phủ để
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
***
Châu Trọng Nam
TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Mã ngành: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Diệp Gia Luật
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các
số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác
Học viên
Châu Trọng Nam
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Chương 1:
GIỚI THIỆU 1
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi thu thập dữ liệu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi thu thập dữ liệu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 4
1.5 Ý nghĩa thực tiễn 4
1.6 Kết cấu của luận văn 4
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THUẾ VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 6
2.1 Tổng quan về thuế 6
2.1.1 Lý luận chung về thuế 6
2.1.2 Đặc điểm của thuế 8
2.1.3 Chức năng của thuế 9
2.1.4 Phân loại thuế 11
2.1.5 Mục đích của thuế 14
2.2 Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế 14
2.2.1 Mô hình tăng trưởng của Solow (1956) 15
2.2.2 Mô hình tăng trưởng tăng trưởng nội sinh 17
Trang 52.3 Tác động của thuế với tăng trưởng kinh tế 18
2.4 Các nghiên cứu trước liên quan đến đề tài 20
2.5 Giả thuyết nghiên cứu 23
2.6 Mô hình lý thuyết đề xuất 24
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 25
3.1 Quy trình nghiên cứu 25
3.2 Phương pháp nghiên cứu 26
3.3 Dữ liệu nghiên cứu 28
3.4 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm 28
Chương 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
4.1 Mô tả dữ liệu nghiên cứu 31
4.2 Kết quả ước lượng mô hình hồi quy OLS, FEM và REM 32
4.3 Lựa chọn mô hình phù hợp 37
4.4 Kiểm tra các khuyết tật của mô hình hồi quy FEM 39
4.5 Khắc phục các khuyết tật của mô hình hồi quy FEM 40
4.6 Thảo luận 42
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 44
5.1 Kết luận 44
5.2 Đề xuất 44
5.3 Những hạn chế của luận văn và hướng nghiên cứu tiếp theo 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
H2-1: Mô hình chính sách tài khoá mở rộng 18
H2-2: Mô hình chính sách tài khoá thu hẹp 19
H2-3: Mô hình kiểm định mối quan hệ 1 chiều 24
H2-4: Mô hình xem xét tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế 24
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
B3-1: Tóm tắt mô tả biến trong mô hình hồi quy 30
B4-1: Mô tả dữ liệu nghiên cứu 32
B4-2: Kết quả ước lượng mô hình OLS 32
B4-3: Kết quả ước lượng mô hình FEM 34
B4-4: Kết quả ước lượng mô hình REM 35
B4-5: Kết quả kiểm định Hausman 37
B4-6: Kết quả kiểm định F cho mô hình FEM 38
B4-7: Kết quả kiểm định nhân tử Lagrange 38
B4-8: Kết quả kiểm định Wooldridge cho mô hình FEM 39
B4-9: Kết quả kiểm định Wald cho mô hình FEM 40
B4-10: Giá trị VIF của từng biến nghiên cứu 40
B4-11: Kết quả ước lượng mô hình FGLS 41
B5-1: Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ở các nước Đông Nam Á 45
Trang 8Chương 1 GIỚI THIỆU
1.1 Lí do chọn đề tài
Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Chúng ta đang phải đối đầu với những thách thức không nhỏ, nhưng song song đó những cơ hội được tạo ra cũng đã và đang tác động tích cực đến công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Việc Chính phủ sử dụng những công cụ, chính sách của mình để tận dụng cơ hội và giảm thiểu những thách thức đóng một vai trò rất quan trọng Một trong những công cụ trong quản lý kinh tế vĩ mô của đất nước chính là thuế, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, những chính sách thuế phù hợp với cam kết quốc tế là điều tất yếu Tuy nhiên, Chính phủ cũng nên cân nhắc việc tạo ra những chính sách thuế cần tạo được môi trường hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước, thúc đẩy sản xuất phát triển, đồng thời đảm bảo số thu cho ngân sách Nhà nước
Thuế ra đời là một sự cần thiết, khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại
và phát triển của nhà nước Cùng với sự phát triển của loài người là sự phát triển của nhà nước, đi cùng với đó là sự gia tăng quyền lực và nhiệm vụ của nhà nước Hiện nay, thuế vừa là nguồn thu chính của ngân sách nhà nước, vừa gắn với tăng trưởng kinh tế, tạo ra công bằng trong phân phối, ổn định xã hội
và là công cụ quan trọng của chính phủ để quản lý nền kinh tế Mỗi loại thuế được ban hành đều hướng tới mục đích tạo nguồn thu cho ngân sách, xuất phát
từ những nhu cầu chi tiêu của chính phủ, đáp ứng tăng trưởng kinh tế và điều chỉnh thu nhập, trong đó có sự phân hóa giàu nghèo giữa những người tham gia lao động trong ngành Nguồn thu của thuế bắt nguồn từ thu nhập quốc dân, khả năng thu thuế cũng phụ thuộc vào các yếu tố sản xuất, hiệu quả của sản xuất để
Trang 9từ đó mỗi nhà nước có những mức thuế suất khác nhau Chính vì vậy, hệ thống thuế cần được sử dụng một cách linh hoạt Khi kinh tế phát triển, nhu cầu chi tiêu của chính phủ cũng tăng và đòi hỏi nguồn thu phải tăng tương ứng để đáp ứng chi tiêu, tránh tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước
Ngoài ra thuế còn là công cụ để điều chỉnh lạm phát, ổn định giá cả trên thị trường Thuế – gián tiếp thông qua tác động đến thu nhập của người tiêu dùng và chi tiêu công – trực tiếp tác động đến mức cầu của nền kinh tế Nếu cung mà nhỏ hơn cầu sẽ dẫn đến giá cung tăng lên, lúc này cần có chính sách giảm thuế đối với nguyên vật liệu đầu vào để giảm giá thành sản xuất và giảm thuế thu nhập doanh nghiệp để kích thích đầu tư cho ngành nghề này nhiều hơn
Đi kèm theo đó cần tăng thuế đối với hàng tiêu dùng, khi này cầu sẽ giảm Nhu cầu thấp có nghĩa là tỷ lệ thất nghiệp cao, nhu cầu cao sẽ xảy ra tình trạng lạm phát cao Lạm phát tăng, thất nghiệp tăng sẽ kéo theo sự trì trệ của phát triển kinh tế Khi giá cả đầu vào tăng nhà nước sẽ cắt giảm thuế đánh vào chi phí để giảm chi phí sản xuất và kích thích tăng năng suất lao động Cũng quan trọng như các tác động đối với mặt cầu, thuế có tác động kích thích do đó trực tiếp ảnh hưởng đến mức sản lượng
Nhằm góp phần thúc đẩy hoạt động này trở thành công cụ quan trọng cho quá trình hội nhập và phát triển kinh tế quốc tế, nhà nước chú trọng đến việc hoàn thiện các chính sách kinh tế – tài chính mà trong đó, chính sách thuế luôn
là nhiệm vụ bức xúc được đặt ra ở bất cứ quốc gia nào Thuế có tác động qua lại rất nhạy cảm đến các lĩnh vực kinh tế – xã hội và mọi mặt của đời sống con người Sự hoàn thiện chính sách thuế ở từng quốc gia có thể đem lại những hiệu quả khác nhau bởi có sự liên quan đến nhiều yếu tố trong hoạch định chính sách thuế Bất kỳ một hệ thống thuế nào do nhà nước ban hành dù đầy đủ hay hoàn thiện đến mức nào cũng đều tạo một phần nguồn thu cho ngân sách và đảm bảo cho công dân nước đó thực hiện được bình đẳng và hợp lý Nhằm góp phần
Trang 10nâng cao chất lượng hoạt động của thuế, thúc đẩy công cụ này trở thành công
cụ phục vụ đắc lực cho sự quản lý nhà nước và đồng thời thu hút đầu tư trong
và ngoài nước của mỗi quốc gia, do vậy nghiên cứu chọn đề tài “Tác động của
thuế đến tăng trưởng kinh tế các quốc gia Đông Nam Á” làm đề tài nghiên
cứu khoa học
1.2 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi sau:
- Thuế có tác động đến tăng trưởng kinh tế ở khu vực Đông Nam Á như thế nào?
- Các giải pháp gì về chính sách thuế nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho khu vực Đông Nam Á?
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi thu thập dữ liệu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế ở một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á
1.3.2 Phạm vi thu thập dữ liệu
1.3.2.1 Về không gian
Một số nước thuộc khu vực không có đủ số liệu thống kê để thực hiện nghiên cứu trong khoảng thời gian từ 2001 đến 2016, do đó dữ liệu nghiên cứu bao gồm 8 quốc gia khu vực Đông Nam Á (Brunei, Cambodia, Laos, Philippines, Singapore, Thailand, Timor Leste, Vietnam)
1.3.2.2 Về thời gian
- Dữ liệu kéo dài từ năm 2001 đến năm 2016
- Nguồn số liệu của nghiên cứu được sử dụng: Dữ liệu hàng năm của các chỉ số nghiên cứu được lấy từ Key Indicators for Asia and the Pacific của ngân
Trang 11hàng phát triển Châu Á (ADB), Cơ sở dữ liệu kinh tế thế giới của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (World Bank)
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sẽ sử dụng các phương pháp: Tổng hợp, phân tích và kỹ thuật định lượng
Bên cạnh đó, nghiên cứu dùng phương pháp nghiên cứu định lượng với
kỹ thuật kinh tế lượng và sự trợ giúp của phần mềm STATA để tìm hiểu tác động của số thu thuế đến tăng trưởng kinh tế
1.5 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu sẽ kiểm chứng liệu có tồn tại tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế hay không, và nếu tồn tại thì tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế đối với các nước Đông Nam Á trong giai đoạn 2001 – 2016 là tích cực hay tiêu cực
Nghiên cứu với đề tài “Tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế các
quốc gia Đông Nam Á” sẽ là cơ sở để có thể đưa ra các giải pháp liên quan đến
các quyết định về chính sách thuế nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế, ổn định
vĩ mô và phát triển kinh tế một cách bền vững
1.6 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Giới thiệu
Trình bày tóm lược vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu của luận văn
Trang 12Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Trình bày cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước liên quan đến đề tài nghiên cứu Trình bày giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu
Trình bày quy trình nghiên cứu, giới thiệu các phương pháp nghiên cứu
Đề xuất mô hình nghiên cứu và mô tả dữ liệu nghiên cứu, nguồn dữ liệu được lấy để thực hiện nghiên cứu
Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu
Trình bày phân tích thống kê mô tả, kết quả phân tích của các mô hình kinh tế lượng
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trình bày kết luận và kiến nghị Nêu hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài
Trang 13Chương 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
VỀ THUẾ VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
2.1 Tổng quan về thuế
2.1.1 Lý luận chung về thuế
Theo lịch sử phát triển xã hội, thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước Để duy trì sự tồn tại và phát triển thì nhà nước chúng ta cần có nguồn tài chính ổn định để chi tiêu cho mọi hoạt động từ trung ương đến địa phương như: quốc phòng, an ninh, giáo dục, y tế, Để có được nguồn tài chính như vậy nhà nước dùng quyền lực để buộc dân phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho nhà nước, và thuế là hình thức cơ bản nhất để huy động tập trung nguồn tài chính
Có thể coi thuế là một khoản đóng góp có tính chất bắt buộc cho chính phủ, được thực hiện mà không đề cập đến lợi ích cụ thể nào đối với người đóng thuế Thuế khác với đa số những khoản chuyển giao tiền từ người này sang người khác, các khoản chuyển giao đó là tự nguyện thì thuế lại là khoản thu bắt buộc Thuế trên thực tế đã tồn tại từ khá lâu, từ khi các chính phủ được tổ chức
ra, từ lúc nhà nước xuất hiện và hình thành Thuế luôn là một phần trong sự tồn tại của hệ thống nhà nước, đồng thời thuế cũng giúp bộ máy nhà nước phát triển
Hiện nay, trong giới các học giả và trên các sách báo kinh tế thế giới vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế Các nhà kinh tế khi đưa ra khái niệm về thuế mới chỉ nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế
mà mình muốn tìm hiểu, chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung của phạm trù thuế Ví dụ:
Trang 14Theo các nhà kinh tế học thì thuế được quan niệm rất đơn giản: “Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của nhà nước đó là thuế khoá ” Theo quan điểm này, thuế đơn giản là sự đóng góp của công dân để duy trì quyền lực của nhà nước Mác cho rằng trong một nhà nước có giai cấp (một giai cấp giành được quyền thống trị), thuế là một khoản đóng góp bắt buộc để duy trì quyền lực của giai cấp đó Đối với những giai cấp không phải là giai cấp cai trị, họ sẽ cho rằng việc nộp thuế chỉ dùng để bảo vệ giai cấp cai trị, họ sẽ không coi thuế là nghĩa vụ của mình và
họ sẽ tìm cách tránh thuế, trốn thuế Chính những quan điểm này đã hỗ trợ cho
tư tưởng đấu tranh giai cấp
Bên cạnh đó, theo hai nhà kinh tế Mỹ Makkollhell và Bruy-M, thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc chuyển giao bằng hàng hoá, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho chính phủ, mà trong sự trao đổi đó
họ không nhận được trực tiếp hàng hoá, dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không
phải là tiền phạt mà toà án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật (Makkollhell
and Bruy-M, 1993, trích bởi Tổng cục Thuế, 2011) Quan điểm này chỉ được
nhìn nhận trên góc độ các đối tượng nộp thuế chịu thuế, không nói đến việc sử dụng tiền thu thuế để làm gì; việc đánh thuế được thể hiện như là nghĩa vụ của công dân đối với nhà nước Các quan điểm này chỉ phù hợp với giai đoạn phát triển của thuế trong thời điểm lịch sử nhất định lúc đó
Ngoài ra, thuế là sự đóng góp mang tính cưỡng chế của mỗi người cho chính phủ để trang trải các chi phí và lợi ích chung không căn cứ vào lợi ích
riêng được hưởng (Edwin RA Seligman, 1913, trích bởi Nguyễn Thanh Tuyền,
2004) Theo Nguyễn Phước Tiên (2008), thuế là một khoản đóng góp bắt buộc
của các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo đối tượng, mức độ và thời hạn được pháp luật quy định để tạo thành nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà
Trang 15nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu trong thực hiện các chức năng của nhà nước
Nhìn chung các quan điểm của các nhà kinh tế học khi đưa ra khái niệm
về thuế ở các góc độ khác nhau, đều thể hiện bản chất của thuế là:
- Thuế là khoản tiền đóng góp bắt buộc cho nhà nước Đối tượng nộp thuế, mức đóng thuế đều có quy định của nhà nước
- Không hoàn lại trực tiếp số tiền đã nộp cho người nộp thuế
- Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước
Ở nước ta, đến nay cũng chưa có một khái niệm thống nhất về thuế Nhưng theo Bộ Tài Chính thì “Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo pháp luật đối với Nhà nước; không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế
và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng” (Tổng cục Thuế,
2011)
Tại Việt Nam, số tiền thu được từ thuế đóng góp vào ngân sách nhà nước,
ủy ban nhân dân các cấp được quyền điều hành sử dụng theo Luật Ngân sách nhà nước Để thực hiện đúng bản chất là nhà nước là của dân, do dân và vì dân thì tiền thuế được sử dụng để phục vụ lợi ích chung cho toàn xã hội
2.1.2 Đặc điểm của thuế
Thứ nhất, thuế là khoản thu mang tính bắt buộc của nhà nước Tính chất này xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của nhà nước nhằm mục đích quản lý và phục
vụ lợi ích xã hội Khi luật thuế đã được nhà nước ban hành thì tính chất bắt buộc nộp thuế là tất yếu Chính sách thuế được ban hành là sự thể hiện quyền lực của nhà nước và có tính pháp lý tối cao trong việc quy định nghĩa vụ cơ bản của mọi tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng nộp thuế vào ngân sách nhà nước Tính bắt buộc nộp thuế đảm bảo sự công bằng về nghĩa vụ công dân, bảo đảm
Trang 16nguồn thu tiền thuế vào ngân sách nhà nước ổn định, đáp ứng kịp thời nhu cầu chi tiêu của nhà nước
Thứ hai, thuế là khoản thu mang tính không hoàn lại trực tiếp cho người nộp thuế dựa trên mức độ số tiền đã nộp cho nhà nước Người nộp thuế cũng không có quyền đòi hỏi nhà nước phải cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình tương ứng theo số tiền thuế đã nộp Bởi vì, tiền thuế được nhà nước sử dụng vào các nhu cầu chi tiêu của bộ máy nhà nước trong thực hiện chức năng quản lý xã hội và phục vụ lợi ích chung của quốc gia; trong đó
có lợi ích của người nộp thuế Đặc trưng này đảm bảo quyền sử dụng tiền thuế của nhà nước
Thuế có thể coi là công cụ quan trọng để huy động nguồn lực tài chính cho nhà nước, nhưng không phải vì thế nhà nước có thể quy định mức thuế cao
để tăng thu bằng mọi giá Nếu nhà nước dùng quyền lực để tập trung quá mức phần thu nhập từ GDP vào ngân sách nhà nước thì phần GDP còn lại sẽ giảm xuống Đến một thời điểm nào đó, những tổ chức, cá nhân kinh doanh nhận thấy rằng, công sức bỏ vào làm việc và kinh doanh của họ không được bù đắp thoả đáng thì họ sẽ không kinh doanh nữa hoặc tìm cách trốn thuế Có thể thấy rằng, khả năng thu thuế tối đa cho ngân sách nhà nước là khoản thu nhập mà các tổ chức, cá nhân kinh doanh sẵn sàng giành ra để trả thuế mà không làm thay đổi mọi hoạt động vốn có của họ Tuy nhiên, cho dù ở thời kỳ nào thì thuế vẫn cơ bản là bắt buộc và là phương tiện duy nhất để huy động nguồn thu nhằm tài trợ cho việc chi tiêu của chính phủ cho những hàng hóa, dịch vụ mà phần lớn chúng ta đều có nhu cầu
2.1.3 Chức năng của thuế
Chính sách thuế là một bộ phần không thể thiếu được trong hệ thống chính sách tài chính của mỗi quốc gia, là một trong những công cụ quản lý vĩ mô quan trọng trong việc thực hiện đường lối phát triển kinh tế – xã hội của đất
Trang 17nước Vai trò của chính sách thuế được thể hiện qua những chức năng cơ bản của nó:
Chức năng định hướng: Chính sách thuế góp phần định hướng cho nhà quản lý thu và nộp thuế một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời và hợp lý Do có chính sách thuế từ nhà nước ban hành mà giúp các nhà sản xuất, kinh doanh định hướng, xác định ngành nghề kinh doanh để mang lại hiệu quả phù hợp với khả năng và năng lực của mình
Chức năng điều tiết nền kinh tế: Nền kinh tế tồn tại song song những mặt tích cực và những hạn chế, vì vậy cần có sự can thiệp của nhà nước vào quá trình hoạt động của nền kinh tế Nhà nước điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ mô bằng cách đưa ra những chuẩn mực mang tính định hướng lớn trên diện rộng
và bằng công cụ đòn bẩy để hướng các hoạt động kinh tế – xã hội theo các mục tiêu nhà nước đã định tạo ra hành lang pháp lý cho các hoạt động kinh tế – xã hội thực hiện trong khuôn khổ luật pháp Nhà nước thực hiện quản lý, điều tiết nền kinh tế – xã hội bằng nhiều biện pháp như giáo dục chính trị tư tưởng, hành chính, luật pháp và kinh tế, trong đó biện pháp kinh tế làm gốc Nhà nước cũng
sử dụng nhiều công cụ để quản lý, điều tiết nền kinh tế như công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng Trong đó, thuế là một công cụ sắc bén nhất được nhà nước sử dụng điều tiết nền kinh tế Nhà nước sử dụng công cụ này thông qua việc quy định các hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế
và nộp thuế để từ đó xây dựng chính xác, hợp lý các mức thuế phải nộp có tính đến khả năng của người nộp thuế Với công cụ này, sự can thiệp của nhà nước không mang tính chất mệnh lệnh, bắt buộc các chủ thể phải kinh doanh hay không kinh doanh, mà chủ yếu tạo ra sự lựa chọn đối với các chủ thể trong việc xác định phạm vi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Dựa trên cơ sở xác định mục tiêu và đối tượng ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của nền kinh tế trong từng giai đoạn cụ thể, nhà nước điều chỉnh thuế để tạo ra những thay đổi trong
Trang 18nền kinh tế quốc dân theo hướng mong muốn bao gồm: điều chỉnh chu kỳ kinh
tế, cơ cấu ngành, khu vực và vùng lãnh thổ, lưu thông tiền tệ, giá cả, tiền lương, phân phối thu nhập,
2.1.4 Phân loại thuế
Tùy theo điều kiện, hoàn cảnh của mỗi nước mà hệ thống chính sách thuế bao gồm nhiều hay ít các loại thuế khác nhau Để định hướng và quản lý hệ thống chính sách thuế, người ta tiến hành sắp xếp các loại thuế có cùng tính chất thành những nhóm khác nhau gọi là phân loại thuế Để phân loại thuế người ta dựa vào nhiều cách thức khác nhau Từ thực tế cho chúng ta thấy các cách thức phân loại thuế rất đa dạng và tùy thuộc vào mục tiêu quản lý của mỗi quốc gia mà đưa ra các cách thức khác nhau như:
2.1.4.1 Phân loại theo phương thức đánh thuế
Thuế trực thu: Là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế Thuế trực thu có đặc điểm là đối tượng nộp thuế theo luật quy định phải là người chịu thuế và thuế được thu trực tiếp từ thu nhập của người nộp thuế Về nguyên tắc loại thuế này mang tính chất lũy tiến, vì nó tính đến khả năng của người nộp thuế, người có thu nhập cao hơn phải nộp thuế cao hơn, còn người có thu nhập thấp hơn thì nộp thuế thấp hơn Riêng ở nước ta, thuế trực thu bao gồm: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế môn bài, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp,
Thuế gián thu: Là loại thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập hay tài sản của người nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hoá, dịch
vụ Người tiêu dùng những hàng hóa, dịch vụ là người chịu loại thuế này Thuế gián thu có đặc điểm là người nộp thuế theo luật và người chịu thuế không đồng nhất với nhau Người nộp thuế là người sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ còn người chịu thuế là người tiêu dùng các hàng hóa đó Thuế gián thu ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua cơ chế giá cả thị trường
Trang 19Thuế gián thu mang tính chất lũy thoái vì nó không tính đến khả năng thu nhập của người chịu thuế, người có thu nhập cao hay thấp đều phải chịu thuế như nhau khi mua cùng một loại hàng hóa, dịch vụ Thuế gián thu ở nước ta gồm: thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu,
2.1.4.2 Phân loại theo cơ sở tính thuế
Thuế thu nhập: Bao gồm các loại thuế có cơ sở đánh thuế là thu nhập kiếm được Thu nhập kiếm được là toàn bộ số tiền và lợi ích vật chất mà mỗi tổ chức,
cá nhân nhận được trong kỳ tính thuế, kể cả các khoản chi tiêu đã bỏ ra để có được thu nhập Thu nhập kiếm được có thể từ nhiều nguồn như: lao động dưới dạng tiền lương, tiền công; hoạt động sản xuất kinh doanh, lợi tức cổ phần; các hoạt động đầu tư khác,
Thuế tiêu dùng: Là loại thuế đánh vào hàng hóa dịch vụ khi diễn ra việc mua bán Thuế tiêu dùng đánh vào phần thu nhập kiếm được hoặc sử dụng phần tiết kiệm để mua sắm hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng trong hiện tại Trong thực tế thuế tiêu dùng được thể hiện dưới nhiều dạng như doanh thu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng,
Thuế tài sản: Thuế này có thể đánh trong trường hợp chuyển giao, cho không tài sản hoặc bán tài sản Tài sản có nhiều hình thức biểu hiện như: tài sản tài chính gồm có tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, chứng khoán, thương phiếu, ; tài sản cố định hữu hình gồm nhà cửa, kiến trúc, máy móc, thiết bị, phương tiện vện chuyển, thiết bị dụng cụ quản lý; tài sản cố định vô hình gồm quyền
sử dụng đất, thương hiệu hàng hóa, Người ta nhận thấy rằng, thuế tài sản là một dạng của thuế tiêu dùng và cũng có thể hiểu dưới hình thức gián tiếp của thuế thu nhập Các loại thuế thuộc thuế tài sản như thuế nhà đất, thuế sử đụng đất nông nghiệp,
Trang 202.1.4.3 Phân loại theo phạm vi điều chỉnh
Thuế tổng hợp: Là loại thuế đánh vào tất cả các thành phần của cơ sở đánh thuế mà không có trường hợp ngoại lệ, không có miễn, giảm thuế Thuế tổng hợp đánh trên toàn bộ tài sản, các nghiệp vụ phát sinh hoặc tổng thu nhập trong một lần duy nhất
Thuế có lựa chọn: Là loại thuế chỉ đánh dựa trên cơ sở các yếu tố của một tài sản hoặc một nghiệp vụ độc lập, hoặc một loại thu nhập Ở Việt Nam có thuế thu nhập cá nhân có thể coi là một sắc thuế điển hình của loại này
2.1.4.4 Phân loại theo đặc trưng của biểu thuế
Thuế đánh theo tỷ lệ phần trăm (%): Là loại thuế đánh theo hình thức áp dụng một tỷ lệ hoặc phần trăm, hoặc lần trên các cơ sở tính thuế Đây là hình thức áp dụng phổ biến trong các loại thuế hiện nay Trong thuế tỷ lệ có phân ra làm 3 loại sau:
Thuế lũy tiến: Áp dụng tỷ lệ tăng dần theo các mức tăng của cơ sở tính thuế Trong thuế lũy tiến có thuế lũy tiến từng phần và thuế lũy tiến toàn phần Thuế lũy tiến từng phần, thuế cao hơn chỉ được áp dụng cho phần cơ sở tính thuế tăng thêm Còn thuế lũy tiến toàn phần, phần thuế suất cao hơn được áp dụng cho tất cả cơ sở tính thuế, kể cả cơ sở thấp ở mức trước đó
Thuế lũy thoái: Áp dụng tỷ lệ giảm dần theo các mức tăng của cơ sở tính thuế Cơ sở tính thuế càng tăng thì mức thuế suất càng giảm Tương tự như thuế lũy tiến thì thuế lũy thoái cũng có thuế lũy thoái toàn phần và từng phần Thông thường các nước áp dụng thuế lũy thoái để khuyến khích các đối tượng nộp thuế nhiều
Thuế tỷ lệ cố định: Là loại thuế áp dụng một thuế suất cố định trên cơ sở tính thuế mà không phụ thuộc vào quy mô của cơ sở tính thuế trước đó Thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam là một trường hợp về thuế tỷ lệ cố định
Trang 21Thuế đánh trên mức tuyệt đối: Là loại thuế được xác định bằng cách ấn định một số thu bằng tiền trên một đơn vị vật chất như trọng lượng, khối lượng, diện tích, của đối tượng chịu thuế Trong thực tế thì loại thuế này ít phổ biến
2.1.4.5 Phân loại theo thẩm quyền ban hành chính sách thuế
Thuế trung ương: Có một số nơi gọi thuế trung ương là thuế liên bang, do nhà nước hoặc chính quyền liên bang chịu trách nhiệm thu trên phạm vi cả nước theo một chính sách thuế thống nhất Các đối tượng nộp thuế cho dù kinh doanh hay cư trú ở bất kỳ nơi nào trên đất nước ấy đều phải chịu thuế theo một chính sách thuế như nhau Thuế trung ương chủ yếu đánh vào các hoạt động kinh doanh có phạm vi trên toàn quốc, có thể di chuyển trên toàn quốc để tránh việc phân khúc giữa các địa phương và dễ gây ra hiện tượng đánh thuế trùng hoặc bỏ sót thuế
Thuế địa phương: Một số nơi gọi là thuế bang, thuế này đánh vào các hoạt động kinh doanh hoặc các hành vi chỉ ảnh hưởng trong phạm vi quản lý của từng địa phương hoặc một bang Thuế địa phương thường đánh trên bất động sản, tài nguyên, theo khung thuế hoặc do chính quyền địa phương ban hành
2.1.5 Mục đích của thuế
Mục đích chủ yếu của việc đánh thuế là chuyển quyền kiểm soát và các nguồn lực kinh tế từ những đối tượng nộp thuế sang nhà nước để nhà nước sử dụng hay chuyển giao cho những người khác Việc đánh thuế không chỉ hạn chế tổng chi tiêu của các hộ gia đình và doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến
sự phân bố các nguồn lực kinh tế, ghi nhận các chi phí xã hội không được thể hiện trong giá thị trường và ảnh hưởng đến sự phân phối thu nhập, của cải
2.2 Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lượng quốc gia hoặc quy
mô sản lượng quốc gia bình quân trên đầu người qua một thời gian nhất định
Trang 22Bản chất của tăng trưởng kinh tế là sự đảm bảo gia tăng cả quy mô sản lượng
và sản lượng bình quân trên đầu người
Một cách tổng quát, ta có thể đo lường tăng trưởng kinh tế bằng các chỉ tiêu: Tổng sản phẩm quốc nội, Tổng sản phẩm quốc dân và Tổng sản phẩm tính bình quân đầu người
Hiện nay có nhiều nghiên cứu của các nhà kinh tế học về mối quan hệ giữa thuế và tăng trưởng kinh tế Một số nhà nghiên cứu kết luận rằng thuế cao ảnh hưởng không tốt đến tăng trưởng Tuy nhiên, lại có một số nhà nghiên cứu lại cho rằng không có ảnh hưởng rõ rệt của thuế đến tăng trưởng kinh tế Trong nghiên cứu “thuế và tăng trưởng” vào năm 1996, Eric M.Engen và Jonathan Skinner đã tìm ra được những bằng chứng cho rằng giảm thuế sẽ phù hợp, sẽ
có tác động dương (+) đến tăng trưởng Theo lý thuyết thì thuế có hai mô hình đang được thế giới ứng dụng để phân tích tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế là mô hình tăng trưởng của Solow năm 1956 và mô hình tăng trưởng nội sinh (endogenous growth model)
2.2.1 Mô hình tăng trưởng của Solow (1956)
Nghiên cứu của Robert Solow trong bài báo năm 1956 với tựa đề “Một đóng góp cho thuyết tăng trưởng kinh kế” Tác phẩm của ông đã đặt nền móng cho những gì được biết đến ngày hôm nay như lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh Các mô hình Solow đôi khi được gọi là những mô hình tân cổ điển của tăng trưởng kinh tế, là một trong những mô hình kinh tế vĩ mô đầu tiên và được sử dụng rộng rãi nhất dùng để dự đoán tăng trưởng kinh tế Solow cho rằng sản lượng trong nền kinh tế, thường được tính qua chỉ số GDP, được định bởi những nguồn lực của nền kinh tế đó Đó là, lực lượng và kỹ năng lao động (L), lượng vốn và năng suất sản xuất (k) Do đó, tốc độ tăng trưởng sản lượng trong nền kinh tế phụ thuộc vào sự tăng trưởng về lượng cũng như năng suất của những nguồn lực này.Trong mô hình này, đầu ra được giả định là một chức năng của
Trang 23lao động và tích luỹ vốn trong khi tỷ lệ tăng trưởng lực lượng lao động và tỷ lệ tiết kiệm được xác định hoặc bên ngoài của mô hình, hoặc ngoại sinh Solow bắt đầu với một hàm sản xuất Cobb-Douglas trong nền kinh tế khép kín:
Y = A.Kα.L1-α
Sau khi biến đổi thì ông rút ra công thức:
gy = a + wk.gk + wl.gl + wt.gt +
Trong đó: gy: mức tăng trưởng chung
gk, gl, gt: là mức tăng trưởng các yếu tố đầu vào w: tỷ trọng của từng yếu tố K, L trong mức tăng trưởng chung a: là hệ số hiệu quả chung của các yếu tố đầu vào
Mô hình này cho phép xác định tác động của thuế lên tăng trưởng ở 5 khía cạnh khác nhau:
- Thứ nhất, thuế cao sẽ làm giảm tốc độ đầu tư hay giảm luồng vốn đầu
tư, đó chính là thuế đánh trên thu nhập công ty hay thuế thu nhập cá nhân
- Thứ hai, thuế sẽ có thể làm giảm cung lao động Những nghiên cứu thực tiễn cho thấy việc làm sẽ giảm khi tăng thuế trên thu nhập của người lao động bới vì thuế tạo ra một khoản khác biệt giữa thu nhập người công nhân nhận được và khoản thù lao mà công ty trả cho người đó Kết quả có thể dẫn đến cung và cầu sẽ giảm
- Thứ ba, thuế sẽ không khuyến khích tăng năng suất trên vốn và lao động
vì có thể làm giảm sự đầu tư vào nghiên cứu và phát triển công nghệ cao
- Thứ tư, thuế cao sẽ có thể làm giảm cung lao động làm việc trong những ngành có năng suất xã hội cao
- Thứ năm, thuế có thể sẽ ảnh hưởng đến năng suất biên của vốn vì có thể làm giảm đầu tư vào những ngành kinh tế có năng suất cao nhưng phải chịu thuế nặng và thay vào đó đầu tư sẽ hướng vào những ngành kinh tế khác chịu thuế ít hơn nhưng năng suất thấp
Trang 24Theo phân tích của mô hình trên thì thuế đóng vai trò rất quan trọng trong
sự phát triển kinh tế Tuy nhiên, mô hình của Solow lại cho rằng thuế không có tác động đến tăng trưởng trong dài hạn Điều đó chính là do mô hình có một giả định không giống như thực tế, chính là không có sự tăng năng suất và năng suất không bị ảnh hưởng bởi các chính sách thuế
2.2.2 Mô hình tăng trưởng tăng trưởng nội sinh
Mô hình tăng trưởng nội sinh ra đời với các tác giả điển hình như: Romer (1986) và Lucas (1990) Trong mô hình này nhấn mạnh các yếu tố như “tác động lan tỏa” mà nhờ đó các quyết định của các doanh nghiệp về đầu tư vốn vào hay nghiên cứu phát triển, đầu tư của cá nhân về nguồn nhân lực có thể đưa đến ảnh hưởng có lợi cho nền kinh tế
Theo lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển, tiến bộ công nghệ nhấn mạnh phần
dư Solow là yếu tố quan trọng để giải thích tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, trong mô hình tăng trưởng nôi sinh các biến góp phần làm tăng trưởng kinh tế được coi là biến nội sinh và do đó có thể được xác nhận Tiến bộ công nghệ là kết quả của những lỗ lực tốn kém trong việc nghiên cứu và đóng góp vào kiến thức và phát triển Mô hình này dựa trên giả định sau (Burda & Wyplosz, 2005):
- Lao động không đống nhất
- Tiến bộ công nghệ là kết quả của những nỗ lực tốn kém và cần được khen thưởng
- Theo đuổi lợi ích cá nhân là không thúc đẩy các tập thể tốt
Lý thuyết tăng trưởng nội sinh dựa trên nền tảng về nguồn gốc tăng trưởng của các biến độc lập trong mô hình tăng trưởng được theo dõi với sự nhấn mạnh đặc biệt về kiến thức Điều này được thực hiện bằng cách phân tích các biến ngoại sinh trong lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển trở thành biến nội sinh trong
lý thuyết tăng trưởng nội sinh
Trang 25Bên cạnh đó, mô hình tăng trưởng nội sinh thì thuế sẽ có ảnh hưởng lâu dài lên tăng trưởng của nền kinh tế Trên thực tế đã có nhiều nghiên cứu tác động của thuế lên tăng trưởng kinh tế dựa theo mô hình này và tất cả đều kết luận rằng nếu giảm những ảnh hưởng biến dạng trong cơ cấu thuế thì tốc độ tăng trưởng sẽ tăng Tuy nhiên, theo mô hình này thì mức tăng trưởng kinh tế rất nhạy cảm với những giả định trong mô hình vì chưa có sự thống nhất chọn biến trong mô hình
2.3 Tác động của thuế với tăng trưởng kinh tế
Một trong những sự cân nhắc quan trọng nhất về thuế là thực sự ai là người chịu thuế và trả thuế là một vấn đề quan trọng Trong thực tế, phân tích cơ bản
về cung cầu thì cho rằng ai là người thực sự trả thuế không quan trọng, ảnh hưởng tới giá trị thặng dư của người tiêu dùng và người sản xuất đều như nhau Khi mở rộng mô hình cho thị trường hàng hoá ta có được mô hình IS:
Hình H2-1: Mô hình chính sách tài khoá mở rộng
Thị trường hàng hoá và đường IS là tập hợp các phối hợp khác nhau giữa lãi suất và sản lượng mà thị trường hàng hoá được cân bằng (Y = AD), (AD =
AS = C + I + G + X – M)
Khi chính phủ thực hiện chính sách tài khoá mở rộng nghĩa là tăng chi tiêu, cắt giảm thuế thì tổng cầu tăng, đường AD dịch chuyển lên trên, sản lượng
Trang 26cân bằng tăng ở mọi mức lãi suất so với trước, khi đó đường IS dịch chuyển sang phải Điểm cân bằng mới C có sản lượng Y1 cao hơn Y0 ban đầu, sản lượng tăng nghĩa là tổng cầu của nền kinh tế tăng
Ngược lại, khi Chính phủ thực hiện chính sách tài khoá thu hẹp (giảm chi tiêu, tăng thuế) sẽ làm cho sản lượng giảm, lãi suất giảm và tổng cầu giảm
Hình H2-2: Mô hình chính sách tài khoá thu hẹp
Thuế có tác động qua lại rất nhạy cảm đến các lĩnh vực kinh tế – xã hội
và mọi mặt đời sống con người Thuế là một trong những nguồn thu chính đối với một quốc gia, ở đây các khoản thu của thuế gồm thuế trên các cá nhân, tổ chức, các nhà đầu tư, Thuế còn có những tác động đến sự tăng trưởng kinh
tế, đôi khi tác động này vừa tích cực và vừa tiêu cực Theo Brescher (2010) đã tìm thấy những tác động ngược chiều của thuế lên sự tăng trưởng kinh tế của
12 quốc gia thuộc nhóm OECD Một trong những nguyên nhân của nó là thuế
là một trong những chi phí đối với nhà đầu tư, chính vì vậy mà nguồn thu nhập doanh nghiệp từ đầu tư bị ảnh hưởng bởi những thay đổi của chính sách thuế (Bucovetsky, 1991 and Wilson, 1991) Theo Christina and David (2007) đã khẳng định khi tăng 1% thuế sẽ làm giảm từ 2% đến 3% GDP Trong khi đó thì Uhliga and Yangawa (1999) lại nhận định khác từ kết quả nghiên cứu Sự tăng thuế áp lên nguồn thu nhập về vốn sẽ tạo hồi sinh về kinh tế của một quốc gia Đồng với quan điểm trên là Glomm and Ravikumar (1998) cho rằng thuế
Trang 27thu nhập doanh nghiệp có mối quan hệ cùng chiều hoặc tích cực với sự tăng trưởng kinh tế
Mặc dù trong những năm gần đây, các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam tăng cường vào chính sách tự do thương mại, nhưng các quốc gia này vẫn coi trọng đối với các mức thuế suất thương mại, xem đây là nguồn thu của ngân sách quốc gia (Baunsgaard & Keen, 2010) Tuy nhiên nếu sự kết hợp thuế và tự do thương mại sẽ tạo xúc tác không nhỏ sinh ra sự phát triển kinh tế vựợt bậc cho một quốc gia Bởi vì sự tự do thương mại có thể ảnh hưởng đến mức độ tăng trưởng của một quốc gia thông qua việc làm thay đổi sự cuốn hút
từ các nguồn vốn Với chính sách tự do thương mại như vậy những quốc gia
mà khan hiếm vốn sẽ tập trung vào việc khai thác các hoạt động sản xuất đối với sản phẩm thiên về lao động để tạo ra các sản phẩm của vốn
2.4 Các nghiên cứu trước liên quan đến đề tài
Falki (2009), đầu tư trực tiếp nước ngoài được xem là chất xúc tác quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển thông qua việc kích thích đầu tư trong nước, chuyển giao công nghệ, tăng việc làm và phát triển nguồn nhân lực
David và Christina Romer (2010) cho rằng hầu hết các nghiên cứu gần đây phân biệt theo loại thuế thay vì sử dụng một số biện pháp rộng rãi của các loại thuế Họ phân tích các bản ghi tường thuật của thay đổi liên bang, bao gồm bài phát biểu của tổng thống, báo cáo Quốc hội, để xác định “những cú sốc
về thuế”, luật định như nỗ lực giảm thâm hụt ngân sách thừa kế, thúc đẩy tăng trưởng dài hạn Kỹ thuật này cho phép họ giảm thiểu vấn đề thống kê của quan
hệ nhân quả ngược lại bằng cách loại bỏ từ phân tích thay đổi về thuế mà là kết quả của những thay đổi kinh tế, chẳng hạn như hành động phản chu kỳ và những người gắn liền với chi tiêu chính phủ Họ nhận thấy tác động tiêu cực lớn hơn
Trang 28nhiều các loại thuế so với các nghiên cứu trước đó gồm tất cả thay đổi về thuế với nhau Đặc biệt, họ thấy một sự gia tăng 1% thuế làm GDP thực giảm khoảng 3% sau hai năm Ảnh hưởng lớn nhất là từ những thay đổi về thuế nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế chính là kênh đầu tư Những kết quả này thể hiện thông
số kỹ thuật khác nhau, bao gồm cả kiểm soát các trạng thái của nền kinh tế, chính sách tiền tệ và hoạt động của chi tiêu chính phủ
Hans Fricke, Bernd Süssmuth (2011) nghiên cứu tập trung vào tác động của cơ cấu thuế đối với tăng trưởng kinh tế ở các nước thành viên Eu-28 cho giai đoạn 1996 – 2013 Kết quả cho thấy thiết kế tối ưu của hệ thống thuế phụ thuộc vào nhiều yếu tố và khác nhau giữa các quốc gia Tuy nhiên một số loại thuế tỏ ra ít gây hại cho tăng trưởng Thuế đánh vào các sản phẩm và hàng nhập khẩu đã cho thấy một tác động tích cực mạnh mẽ đối với tăng trưởng kinh tế Thuế bất động sản là trung lập đối với tăng trưởng kinh tế, trong khi thuế thu nhập cá nhân và đóng góp xã hội có tác động tích cực
Manoel Bittencourt (2010), nghiên cứu mối quan hệ tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế ở 4 nước Châu Mỹ Latin là Argentina, Bolivia, Brazil
và Peru giai đoạn từ năm 1980 đến 2007 Nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế là lạm phát, chi tiêu chính phủ, độ mở nền kinh tế, tỷ lệ đầu tư trên GDP thực, khối tiền M2, tỷ lệ phần trăm của tổng dân
số thành thị đến cấu trúc chỉ số phát triển xây dựng và đặc điểm chế độ chính trị Các yếu tố này đều có những tác động nhất định đến tăng trưởng kinh tế Trong đó đầu tư và độ mở nền kinh tế tác động cùng chiều với tăng trưởng kinh
tế, còn các biến khác lại tác động ngược chiều đến tăng trưởng kinh tế
Young Lee & Roger Gordon (2005) khảo sát 70 quốc gia trong giai đoạn
1980 – 1997 và tìm thấy tương quan mạnh mẽ giữa thuế thu nhập doanh nghiệp với tăng trưởng kinh tế, trong khi các loại thuế khác tương quan không rõ ràng Trong cơ sở cắt ngang hồi quy tăng trưởng, Young Lee và Roger Gordon tìm
Trang 29thấy cắt giảm 10% thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp làm tăng tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người hàng năm tăng khoảng 0,7 – 1,1% Sự kết thúc cao những ước tính này xuất phát từ việc sử dụng các biến công cụ để kiểm soát cho quan hệ nhân quả ngược lại (tăng trưởng kinh tế gây ra những thay đổi về thuế suất) Các tác giả cũng đánh giá tác động bằng cách sử dụng bảng dữ liệu, trong đó bao gồm sự thay đổi theo thời gian cũng như giữa các quốc gia, cung cấp nhiều quan sát hơn Thay vì sử dụng năm bởi sự thay đổi trong năm, các tác giả trung bình trong thời gian năm năm, để tìm ra hiệu ứng chu kỳ kinh doanh và hạch toán cho các hiệu ứng dài hạn của các biến Dữ liệu bảng sử dụng ước lượng hồi quy OLS cũng như một mô hình hiệu ứng cố định kiểm soát các yếu tố quốc gia cụ thể Một lần nữa, kết thúc cao những ước tính này xuất phát từ việc sử dụng các biến công cụ Cụ thể, họ sử dụng các mức thuế suất lân cận như là một biến số công cụ để kiểm soát hiệu quả của tăng trưởng kinh tế địa phương về mức thuế suất thuế địa phương Lee và Gordon cũng cung cấp một số bằng chứng cho thấy các loại thuế của công ty làm giảm tăng trưởng bằng cách giảm giảm hoạt động kinh doanh
Bania, Gray & Stone (2007) phân tích “đồi tăng trưởng”, biện luận cho rằng mối quan hệ giữa tăng trưởng và thuế phải được bậc hai và phụ thuộc vào chi tiêu Họ tìm thấy mối hiệu ứng tích cực tuyến tính và một hiệu ứng bậc hai tiêu cực của tăng trưởng doanh thu trên, với tác dụng tăng trưởng nhấn bằng không khi doanh thu đạt khoảng 29 phần trăm thu nhập cá nhân, mà còn cao hơn nhiều so với doanh thu ở hầu hết các quốc gia
Iulia Rosoiu (2015) nghiên cứu về tác động của các khoản thu chi của chính phủ về tăng trưởng kinh tế Mục đích của nghiên cứu này là để phân tích tác động của các khoản thu của chính phủ và chi tiêu chính phủ về tăng trưởng kinh tế ở Romania trong giai đoạn quý 1 năm 1998 - quý 1 năm2014 Phân tích cho thấy các chi tiêu của chính phủ trong sạch với những cú sốc về thuế và
Trang 30có sự biến động mạnh trong sự phát triển GDP và số thu của chính phủ Một phản ứng tích cực đầu ra tương thích với cả lý thuyết Keynes và tân cổ điển Chong-Yah Lim và Chee-Tong Lee (2002) đã xem xét nguồn phát triển trong nền kinh tế Singapore bằng cách phân chia tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tính trên đầu người thành hai thành phần Nghiên cứu thấy rằng trong giai đoạn
1974 – 1999, năng suất lao động là một nguồn tăng trưởng kinh tế quan trọng
Trên cơ sở các nghiên cứu trước, nghiên cứu này mong muốn kế thừa và nghiên cứu tác động của thuế tới tăng trưởng kinh tế ở khu vực Đông Nam Á Nghiên cứu này dựa trên nghiên cứu của Young Lee & Roger Gordon (2005) Nghiên cứu sử dụng các biến số thu thuế, lạm phát, nợ chính phủ, chi chính phủ, đầu tư FDI và tăng trưởng kinh tế Khác với nghiên cứu trước, nghiên cứu này tìm hiểu tại các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam
2.5 Giả thuyết nghiên cứu
Dựa vào cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước, để giải quyết mục tiêu nghiên cứu, nghiên cứu đưa ra giả thuyết như sau:
1 Số thu thuế có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế tại các nước Đông Nam Á
2 Khi số thu thuế càng tăng thì tăng trưởng kinh tế càng giảm
Trang 312.6 Mô hình lý thuyết đề xuất
Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu: “Tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế các quốc gia Đông Nam Á”, mô hình lý thuyết đề xuất là mô hình kiểm định sau:
Hình H2-3: Mô hình kiểm định mối quan hệ 1 chiều
Mô hình lý thuyết đề xuất để xem xét tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế mô tả như sau:
Hình H2-4: Mô hình xem xét tác động của thuế đến tăng trưởng kinh tế
Trang 32Chương 3 PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
3.1 Quy trình nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện dựa trên quy trình sau:
Bước 1: Xác định vấn đề và mục tiêu nghiên cứu
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra những cơ hội và thách thức lớn cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Để giảm thiếu thách thức và tận dụng những cơ hội đó thì nhà nước đóng một vai trò rất quan trọng để quản lý nền kinh tế vĩ mô của đất nước Từ đó thuế ra đời là một sự cần thiết và khách quan gắn liền với nhà nước Bên cạnh đó, thuế còn là công cụ để chính phủ điều chỉnh lạm phát, giá cả, của nền kinh tế Nhằm góp phần nâng cao chất
lượng hoạt động của thuế nghiên cứu đã chọn đề tài “Tác động của thuế đến
tăng trưởng kinh tế các quốc gia Đông Nam Á” làm đề tài nghiên cứu khoa
học
Bước 2: Thu thập dữ liệu, xây dựng cơ sở lý thuyết
Dựa trên vấn đề và mục tiêu nghiên cứu, tiến hành thu thập dữ liệu và xây dựng cơ sở lý thuyết liên quan Bên cạnh đó nghiên cứu tìm hiểu các nghiên cứu trước liên quan đến đề tài
Bước 3: Xác định phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý thuyết, những nghiên cứu trước và vấn đề nghiên cứu
để xác định phương pháp nghiên cứu và xây dựng mô hình nghiên cứu thực nghiệm
Bước 4: Xử lý số liệu, ước lượng mô hình, kiểm định và phân tích kết quả
Từ những số liệu đã tìm được, kiểm tra dữ liệu và đưa và phần mềm xử lý sau đó ước lượng, kiểm định mô hình và phân tích kết quả đạt được