Một số nghiên cứu mở rộng hàm tiền lương Mincer 1974 đã thay thế biến số năm đi học bằng các biến giả thể hiện bằng cấp để đo lường tác động của bằng cấp đến tiền lương của người lao độn
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ 4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 5
CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
1.1 Lý do chọn đề tài 6
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 8
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
1.4 Phương pháp nghiên cứu 9
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 9
1.6 Kết cấu của đề tài 10
CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 11
2.1 Cơ sở lý thuyết về vấn đề hiệu ứng da cừu 11
2.2 Những nghiên cứu về hiệu ứng da cừu trên thế giới 14
2.3 Những nghiên cứu về hiệu ứng da cừu ở việt nam 20
2.4 Hạn chế của các nghiên cứu trước đó 21
CHƯƠNG 3 : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Số liệu nghiên cứu 23
3.1.1 Mô tả nguồn số liệu 23
3.1.2 Thống kê mô tả số liệu 24
3.2 Phương pháp nghiên cứu 28
CHƯƠNG 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
4.1 Xác định hiệu ứng da cừu trên toàn bộ mẫu số liệu 32
4.2 Hiệu ứng da cừu giữa nhóm lao động nam và nữ 38
4.3 Hiệu ứng da cừu giữa nhóm lao động thành thị và nông thôn 42
4.4 Thảo luận về kết quả nghiên cứu 45
CHƯƠNG 5 : KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT 48
5.1 Kết luận 48
Trang 35.2 Một số đề xuất 50
5.3 Những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo
52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
PHỤ LỤC 58
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ
Bảng 3 1 : Thống kê mô tả các biến trong mô hình 24
Bảng 3 2 : Số lao động chia theo bằng cấp và số năm đi học 26
Bảng 3 3 : Trung bình của biến LnTienLuong theo bằng cấp cao nhất 26
Bảng 3 4 : Trung bình của LnTienLuong theo số năm đi học 27
Bảng 4 1 Hồi quy xác định hiệu ứng da cừu theo phương trình (7) 32
Bảng 4 2 : Hồi quy xác định hiệu ứng da cừu bằng phương trình 8, 9 và 10 34
Bảng 4 3 Xác định hiệu ứng da cừu bằng phương trình 11 36
Bảng 4 4 : Xác định hiệu ứng da cừu ở nhóm lao động nữ theo phương trình 11 39
Bảng 4 5 : Xác định hiệu ứng da cừu ở nhóm lao động nam theo phương trình 11 41
Bảng 4 6 : Xác định hiệu ứng da cừu ở nhóm lao động thành thị theo phương trình 11 42
Bảng 4 7 : Xác định hiệu ứng da cừu ở nhóm lao động nông thôn theo phương trình 11 44
Bảng 4 8 : Tóm tắt kết quả xác định hiệu ứng da cừu ở Việt Nam 45
Bảng 4 9 : So sánh hiệu ứng da cừu với một số kết quả nghiên cứu trên thế giới 46
Hình 1 :Hồi quy phân đoạn để đo lường hiệu ứng da cừu 16
Hình 2 : Số lao động theo bằng cấp 25
Trang 5
OLS : Phương pháp bình phương nhỏ nhất
VHLSS : Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam
Trang 6CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Mối tương quan dương giữa trình độ học vấn và tiền lương là một trong các quan
hệ kinh tế được quan tâm nghiên cứu rất nhiều khoa học xã hội Một trong những xu hướng chính để nghiên cứu vấn đề này là các lý thuyết về tác động của vốn con người
đến tiền lương(human capital theory) Để mô hình hóa tác động của vốn con người
đến tiền lương, Mincer (1974) đã xây dựng phương trình hồi quy thể hiện quan hệ giữa trình độ học vấn và tiền lương như sau:
nhân, ngoại ngữ, khu vực sinh sống
Hàm tiền lương Mincer(1974) không đề cập tới tác động của bằng cấp mà người lao động nhận được đến tiền lương, chỉ xét tác động của số năm đi học Thực tế cho thấy rằng, có những trường hợp có cùng số năm đi học nhưng những người nắm giữ bằng cấp khác nhau thì tiền lương cũng rất khác nhau Đây cũng chính là thể hiện
của hiệu ứng da cừu (sheepskin effect) trong vấn đề tiền lương Hungerford &
Solon(1987) xác định hiệu ứng da cừu là hiện tượng xảy ra khi tiền lương của người lao động nhận được cao bị tác động bởi bằng cấp hơn là số năm thực tế đã đi học của
họ Theo Belman & Heywood(1997), từ khóa da cừu (sheepskin) được dùng để chỉ
hiệu ứng này gắn liền với một truyền thống xuất hiện từ trước công nguyên của người châu Âu; đó là việc họ in những bằng cấp mà học viên đạt được lên những tấm giấy da được làm từ da cừu
Trang 7Việc bằng cấp tác động đến tiền lương của người lao động nhiều hơn số năm đi
học đã được giải thích bằng cách vận dụng lý thuyết về tín hiệu (signalling theory)
trong marketing vào thị trường lao động Năm 1973, Spencer - người nhận giải Nobel kinh tế năm 2001 - đã đề xuất những nghiên cứu đầu tiên ứng dụng lý thuyết tín hiệu
để giải thích cho sự tồn tại của hiệu ứng da cừu Spencer(1973) cho rằng, trên thị trường lao động, bằng cấp chính là tín hiệu mà người sử dụng lao động dùng để nhận biết năng lực của người lao động Người sử dụng lao động cho rằng chất lượng lao động và năng suất lao động của người lao động có bằng cấp sẽ cao hơn những lao động không có được bằng cấp tương ứng Họ sẵn sàng trả lương cao hơn khi họ đánh giá cao chất lượng và năng suất lao động của người lao động Trong giai đoạn đầu của tuyển dụng thì bằng cấp chính là tín hiệu giúp họ nhận ra năng lực của người mà họ sẽ nhận vào làm việc
Phương trình tiền lương ban đầu do Mincer(1974) đề xuất không tính được tác động của bằng cấp cũng như không đo lường được hiệu ứng da cừu Một số nghiên cứu mở rộng hàm tiền lương Mincer (1974) đã thay thế biến số năm đi học bằng các biến giả thể hiện bằng cấp để đo lường tác động của bằng cấp đến tiền lương của người lao động và so sánh với kết quả hàm tiền lương Mincer để tìm ra hiệu ứng này Cách tiếp cận thứ hai lại cho thấy kết quả hiệu ứng da cừu ước lượng được có xu hướng cao hơn thực tế vì đã bỏ qua quá trình tích lũy kiến thức nâng cao vốn con
người của người lao động khi số năm đi học tăng Mỗi hướng tiếp cận dựa trên số năm
đi học hay dựa trên bằng cấp đều có những cơ sở lý thuyết riêng Do vậy, việc kết hợp giữa biến số năm đi học và biến bằng cấp để đo lường hiệu ứng da cừu là một trong những hướng nghiên cứu đang được áp dụng rộng rãi trong thời gian gần đây
Với những cơ sở ban đầu như trên, đề tài áp dụng mô hình hồi quy biến tiền lương theo phương trình tiền lương Mincer nhưng có bổ sung các biến giả về bằng cấp
để xác định tác động của trình độ học vấn đến tiền lương; đồng thời đo lường hiệu ứng
da cừu trong mối liên hệ giữa trình độ học vấn và tiền lương ở Việt Nam
Trang 81.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đề tài hướng tới thực hiện mục tiêu nghiên cứu sau đây
- Xác định tác động của trình độ học vấn (thể hiện qua số năm đi học và bằng cấp) đến tiền lương của người lao động
- Xác định sự tồn tại và đo lường hiệu ứng da cừu ở Việt Nam, đồng thời so sánh hiệu ứng da cừu ở hàm tiền lương nam giới với nữ giới và so sánh hiệu ứng da cừu ở hàm tiền lương thành thị với nông thôn
- Đề xuất và gợi ý chính sách để phát huy những tác động tích cực và hạn chế những tiêu cực của hiệu ứng da cừu ở Việt Nam
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu hiệu ứng da cừu trên tiền lương của người lao động trên thị trường lao động ở Việt Nam Hiệu ứng da cừu được thể hiện ra bằng việc tiền lương của người lao động chịu ảnh hưởng của bằng cấp hơn là số năm đi học của họ Do vậy,
đề tài hướng đến phân tích sự tác động của số năm đi học đến tiền lương kết hợp với phân tích tác động của bằng cấp đến tiền lương để từ đó xác định sự tồn tại của hiệu ứng da cừu ở hàm tiền lương trên thị trường lao động ở Việt Nam Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tất cả những người lao động trong độ tuổi lao động đang tham gia làm việc và nhận lương trên lãnh thổ Việt Nam Để phân tích hiệu ứng da cừu, đề tài sử dụng bộ số liệu điều tra mức sống hộ gia đình năm 2012 (VHLSS 2012) Bộ số liệu VHLSS được điều tra theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên nên số liệu của VHLSS mang tính đại diện tốt cho tổng thể Đối tượng khảo sát số liệu của VHLSS rộng hơn
so với đối tượng mà đề tài hướng đến Do vậy, từ bộ số liệu VHLSS 2012, đề tài tiến hành lọc ra các quan sát trong độ tuổi lao động có đầy đủ các thông tin cần thiết để xử
lý số liệu Việc lọc các quan sát của đề tài có thể làm ảnh hưởng đến tính ngẫu nhiên của quá trình chọn mẫu, do vậy đề tài cũng chú trọng xử lý tính chệch do việc chọn mẫu không ngẫu nhiên mang lại
Trang 91.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài sử dụng phương pháp định lượng để tìm ra bằng chứng thực nghiệm về
sự tồn tại của hiệu ứng da cừu trong tiền lương của người lao động trên thị trường lao động Việt Nam Phương pháp định lượng được thể hiện cụ thể qua việc đề tài sử dụng
số liệu của bộ điều tra mức sống dân cư 2012 và xử lý bằng kỹ thuật hồi quy Trước khi phân tích hồi quy, đề tài thực hiện thống kê mô tả số liệu để cho thấy sự phù hợp của số liệu khi phân tích hồi quy Phương pháp hồi quy được sử dụng trong đề tài bao gồm hồi quy hồi quy phân đoạn, hồi quy bội với biến giả và biến tương tác cũng để làm rõ độ lớn của hiệu ứng da cừu Bên cạnh đó, để hiệu chỉnh tính chệnh do vấn đề chọn mẫu, đề tài sử dụng phương pháp Heckman 2 bước do Heckman(1979) đề xuất Biến phụ thuộc trong hồi quy của đề tài là logarit tiền lương thực tế của người lao động Các biến độc lập chính của đề tài gồm số năm đi học và bằng cấp của người lao động Ngoài ra các biến độc lập khác như số năm kinh nghiệm tiềm năng, giới tính, khu vực thành thị - nông thôn, tình trạng hôn nhân, thành phần dân tộc cũng được đưa vào mô hình hồi quy với vai trò các biến kiểm soát Dạng hàm hồi quy mà đề tài sử dụng là hàm tiền lương Mincer mở rộng Các kiểm định thống kê cần thiết cũng được thực hiện để đảm bảo kết quả hồi quy thu là đáng tin cậy và có thể được sử dụng trong phân tích
1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Các lý thuyết cũng như các mô hình nghiên cứu về hiệu ứng da cừu đã được đề xuất rất nhiều trên thế giới Đề tài hệ thống lại các lý thuyết và mô hình này, sau đó chọn lọc và sử dụng những mô hình phù hợp để phân tích trong tình huống thực tế của Việt Nam Đề tài không có đóng mới về mặt lý thuyết nhưng mang nhiều tính thực tiễn trong điều kiện của Việt Nam Ở Việt Nam, gần như chưa có nghiên cứu về hiệu ứng
da cừu được công bố Vì vậy, những đóng góp về mặt thực tiễn mà đề tài thực hiện được là:
Trang 10- Đề tài giới thiệu khái niệm về hiệu ứng da cừu trong tiền lương của người lao động và hệ thống lại các lý thuyết cũng như các mô hình hồi quy được sử dụng trong nghiên cứu hiệu ứng da cừu trên thế giới
- Đề tài xác định tác động của trình độ học vấn của người lao động đến tiền lương của họ, thể hiện qua tác động của số năm đi học và bằng cấp đến tiền lương
- Đề tài cung cấp bằng chứng thực nghiệm về sự tồn tại của hiệu ứng da cừu ở Việt Nam và xác định độ lớn hiệu ứng da cừu cụ thể nếu nó tồn tại
- Đề tài đề xuất một vài giải pháp gợi ý sau khi xác định sự tồn tại hiệu ứng da cừu ở Việt Nam
1.6 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Với những mục tiêu nghiên cứu như trên, phần tiếp theo của đề tài được tổ chức thành các chương như sau :
- Chương 2 xem xét cơ sở lý thuyết, tổng quan lý thuyết về nghiên cứu hiệu ứng da cừu trên thế giới và ở Việt Nam
- Chương 3 giới thiệu số liệu và phương pháp nghiên cứu được áp dụng để xác định hiệu ứng da cừu ở Việt Nam
- Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu của đề tài
Trang 11CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG
QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Mối liên hệ giữa trình độ học vấn của người lao động là một trong những mối quan tâm nghiên cứu nhiều của kinh tế học lao động Một trong những hướng nghiên cứu đó
là về hiệu ứng da cừu trong đãi ngộ tiền lương theo trình độ học vấn Chương 2 sẽ nhằm giới thiệu các mô hình hồi quy định lượng được sử dụng trong việc xác định hiệu ứng da cừu cũng như các kết quả nghiên cứu về hiệu ứng da cừu ở một số quốc gia trên thế giới
2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VẤN ĐỀ HIỆU ỨNG DA CỪU
Trong kinh tế học, khi nghiên cứu về tác động của trình độ học vấn đến tiền lương của người lao động, có hai xu hướng nghiên cứu chủ yếu Xu hướng thứ nhất là lý
thuyết về vốn con người (human capital theory) và xu hướng thứ hai là lý thuyết tín hiệu về năng suất lao động (job – market signalling theory)
Nổi bật trong các nghiên cứu theo xu hướng về vốn con người có thể kể đến những nghiên cứu của Jacob Mincer và Gary Becker Mincer (1974) đề xuất dạng hàm hồi quy tiền lương theo số năm đi học và số năm kinh nghiệm thể hiện tác động của việc
đi học đến tiền lương Số năm đi học càng nhiều đồng nghĩa với việc nguồn vốn mà người lao động bỏ ra đầu tư để tích lũy kỹ năng và kinh nghiệm càng lớn Do đó, người lao động với số năm đi học càng lớn thì họ kỳ vọng một mức tiền lương càng cao Becker (1993) chỉ ra rằng việc các khoản chi tiêu của người lao động như chi tiêu vào giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe cũng chính là những khoản đầu tư vào vốn con người Thuật ngữ vốn con người được dùng để ám chỉ đến những kiến thức, kỹ năng, sức khỏe hoặc các yếu tố vô hình khác thuộc về bản thân người lao động mà có thể làm tăng chất lượng lao động và năng suất lao động của họ Các nhà kinh tế học
Trang 12theo xu hướng nghiên cứu về vốn con người nhận định rằng tiền lương của người lao động sẽ tăng tỷ lệ thuận với số năm mà người lao động đã bỏ ra để tham gia vào các hoạt động giáo dục đào tạo Lý thuyết về vốn con người cũng đề xuất rằng việc tham gia quá trình học tập và đào tạo sẽ làm tăng vốn con người nhưng giá trị biên của vốn con người theo số năm đi học này sẽ giảm dần Giá trị biên này sẽ bằng 0 khi mà giá trị biên này không còn bù đắp được cho chi phí cơ hội cho việc đi học của người lao động Và nhận định này đã được chứng thực qua rất nhiều các nghiên cứu thực nghiệm được công bố trên thế giới
Xu hướng nghiên cứu thứ hai được khởi xướng vào những năm cuối của thập nhiên
60 và những năm đầu của thập niên 70 với sự khởi xướng của Micheal Spencer, Kenneth Arrow, George Akerlof, Joseph Stiglitz thông qua việc ứng dụng lý thuyết tín
hiệu và lý thuyết thông tin bất cân xứng (asymmetric information) trong thị trường lao
động Khi vận dụng lý thuyết tín hiệu của marketing vào thị trường lao động, các nhà kinh tế học theo xu hướng lý thuyết tín hiệu không đồng ý quan điểm của trường phái
lý thuyết về giá trị biên giảm dần theo số năm đi học Spencer (1973) cho rằng việc người đi học đạt được một bằng cấp cụ thể sau một số năm đi học cụ thể sẽ là một tín hiệu tích cực để người sử dụng lao động trả lương cao hơn cho người lao động Thông tin về bằng cấp mà người lao động và người sử dụng lao động có được là bất cân xứng Người sử dụng lao động chỉ có thông tin chung về loại bằng cấp mà người lao động được nhận, mà không có đầy đủ thông tin về kỹ năng và năng lực thực sự mà người lao động tích lũy sau khi hoàn tất bằng cấp đó Trong khi người lao động có đầy
đủ những thông tin về bằng cấp mà họ nhận được cũng như năng lực thật sự của họ gắn với bằng cấp đó Sự bất cân xứng về thông tin này là cơ sở để hình thành và tồn tại hiệu ứng da cừu Nhìn chung, các nhà kinh tế học theo xu hướng thứ hai này đều cho rằng tiền lương cao hơn ứng với bằng cấp cao hơn cho dù người lao động có cùng số năm đi học Hiện tượng này được gọi là hiệu ứng da cừu trong tiền lương Stiglitz (1975) cũng cho rằng người sử dụng lao động sẵn sàng trả lương nhiều hơn cho người hoàn tất bằng cấp với thời gian ít hơn những người lao động khác Những người có
Trang 13năng lực cao hơn thường sẽ tiêu tốn ít chi phí hơn so với người năng lực thấp để đạt được cùng mức bằng cấp Và do sự tác động của lý thuyết tín hiệu, những người lao động sẽ cố gắng đạt được bằng cấp để nhận được mức tiền lương cao hơn khi tham gia thị trường lao động Việc khảo sát tiền lương có khác nhau hay không giữa hai nhóm lao động có cùng số năm đi học nhưng một nhóm đạt được bằng cấp và một nhóm không đạt được bằng cấp là một cách để kiểm định cho các giả thuyết về tiền lương và bằng cấp theo xu hướng thứ hai Khi không có đủ thông tin về bằng cấp, nhà nghiên cứu có thể sử dụng biến số năm đi học với hàm hồi quy quy phân đoạn với các điểm chia đoạn là những năm học quan trọng để hoàn thành bằng cấp cần xét
Mỗi xu hướng nghiên cứu được đề cập trên đây đều có những ưu và nhược điểm riêng Xu hướng nghiên cứu thứ nhất nghiên cứu được tác động của việc tích lũy vốn con người thông qua việc đi học đến tiền lương nhưng lại không nghiên cứu được hiệu ứng da cừu; vì thế không giải thích được một thực tế là bằng cấp càng cao thì tiền lương càng cao dù số năm đi học bằng nhau Xu hướng nghiên cứu thứ hai có ưu thế là
đo lường được hiệu ứng da cừu nhưng lại bỏ qua tác động thực sự của việc đi học đó
là tích lũy vốn con người qua đó cải thiện năng suất lao động dẫn đến cải thiện tiền lương Do vậy, cần thiết phải kết hợp những điểm mạnh của cả hai xu hướng nghiên cứu để vừa đo lường chính xác hiệu ứng da cừu trong tiền lương của người lao động
và vừa thể hiện đúng ý nghĩa của việc đi học đến tiền lương
Do vậy, ứng với từng giai đoạn phát triển của các xu hướng lý thuyết trên, các nghiên cứu thực nghiệm về hiệu ứng da cừu cũng có thể được chia thành 3 giai đoạn
rõ rệt Giai đoạn đầu tiên ứng với những năm cuối của thập niên 60 kéo dài đến những năm cuối của thập niên 80 Trong giai đoại này, các nghiên cứu chỉ sử dụng số liệu về tiền lương và số năm đi học nhưng không sử dụng các thông tin về bằng cấp Giai đoạn thứ hai được ghi nhận là những năm đầu của thập niên 90 Các tác giả trong giai đoạn thứ hai sử dụng chủ yếu thông tin về bằng cấp và có kết hợp với thông tin về số năm đi học của người lao động Trong những nghiên cứu gần đây nhất, các tác giả sử dụng đầy đủ các thông tin của người lao động ngoài tiền lương, bằng cấp, số năm đi
Trang 14học cùng với các biến độc lập có thể tác động đến tiền lương của người lao động như
số năm kinh nghiệm, các đặc điểm nhân khẩu Và trong giai đoạn này, các nhà nghiên cứu kết hợp cả hai xu hướng lý thuyết về vốn con người và lý thuyết tín hiệu trong thị trường lao động bằng cách mở rộng hàm tiền lương Mincer Những nghiên cứu tiêu biểu về hiệu ứng da cừu trong tiền lương của người lao động sẽ được phân tích trong các phần tiếp theo
2.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ HIỆU ỨNG DA CỪU TRÊN THẾ GIỚI
Hiệu ứng da cừu đã được đưa vào nghiên cứu từ rất lâu trong các mô hình nghiên cứu về mối liên hệ giữa trình độ học vấn của người lao động với thu nhập hoặc tiền lương của họ Nhưng những nghiên cứu về hiệu ứng da cừu trong những thập kỷ qua
có thể chia thành hai hướng nghiên cứu chính Xu hướng thứ nhất là dùng mô hình phân loại trình độ học vấn, được mở đầu với các nghiên cứu của Arrow(1973), Spencer(1973), Weiss(1983) Các nghiên cứu này đề cập rằng người sử dụng lao động khi tuyển dụng lao động thường căn cứ vào bằng cấp như một tiêu chí đo lường các kỹ năng mà họ không thể quan sát trực tiếp được Một xu hướng nghiên cứu khác cũng đề
cập về hiệu ứng da cừu đó là hướng nghiên cứu tiếp cận về vốn con người (human
capital), điển hình là trong các nghiên cứu của Becker (1964), Card(1999) Các nghiên
cứu này lại thể hiện rằng người lao động sẽ thu nhận được nhiều kỹ năng hơn trong những năm cuối (của bằng cấp đang theo học) hơn là những năm đầu của quá trình học tập Chính vì thu nhận nhiều kỹ năng phục vụ cho công việc hơn, dẫn đến tiền lương
họ nhận được cao hơn Và hai xu hướng nghiên cứu nghiên cứu này đã giữ vai trò thống trị trong các nghiên cứu về hiệu ứng da cừu trong suốt bốn thập kỷ qua
Hungerford & Solon (1987) sử dụng số liệu năm 1978 của cuộc khảo sát dân số nước Mỹ do Cục Thống Kê Mỹ thực hiện để nghiên cứu hiệu ứng da cừu trong tiền lương của nhóm lao động nam da trắng trong độ tuổi từ 25 đến 64 Các tác giả sử dụng
mô hình hồi quy biến log-tiền lương theo biến số năm đi học đã hoàn thành (S) kết hợp với dạng hàm hồi quy phân đoạn (spline regression) tại các điểm mốc phân chia các
đoạn là S = 8, S = 12 và S = 16 ứng với số năm đi học là 8, 12 và 16 năm Đây là
Trang 15những mốc quan trọng trong đào tạo ở Mỹ ứng với các bằng cấp Trung học cơ sở, Trung học phổ thông và Đại học Hàm hồi quy phân đoạn tác giả sử dụng có dạng như sau
Tiếp nối nghiên cứu hiệu ứng da cừu bằng cách sử dụng hồi quy phân đoạn của Hungerford & Solon (1987), Kane & Rouse (1995) phân tích sự khác nhau về mức đãi ngộ được nhận của nhóm bằng cấp Cao đẳng – Đại học học hai năm và nhóm Cao đẳng – Đại học học trong bốn năm sử dụng bộ số liệu điều tra dân cư của nước Mỹ năm 1972 Hiệu ứng da cừu rõ rệt nhất được các tác giả tìm thấy ở nhóm lao động nữ
có bằng cấp liên thông (khoảng 12%) và ờ nhóm lao động nam có bằng cử nhân (24%)
Belman & Heywood(1997) sử dụng bộ số liệu điều tra dân số nước Mỹ năm 1991 nhưng kiểm định hiệu ứng da cừu ở lao động nam trong độ tuổi từ 24 đến 65 Tương
tự như Hungeford & Solon(1987), Belman và cộng sự cũng sử dụng hàm hồi quy phân đoạn với các điểm phân đoạn ứng với số năm đi học là 8, 12 và 16 năm
Trang 16Hình 1 :Hồi quy phân đoạn để đo lường hiệu ứng da cừu
(Nguồn : Belman & Heywood(1997) )
Kết quả phân tích của các tác giả cho thấy rằng hiệu ứng da cừu có tồn tại ở Mỹ
và mức hiệu ứng là 7% cho nhóm lao động có bằng cấp cao nhất là bằng Phổ thông trung học Trong khi đó, hiệu ứng da cừu ở nhóm bằng cấp đại học là 14%
Các nghiên cứu của Hungerford & Solon (1987) và Belman & Heywood(1991)
đo lường hiệu ứng da cừu khi không có thông tin trực tiếp về bằng cấp Các tác giả đo lường gián tiếp thông qua việc giả định rằng người lao động sẽ hoàn tất các bằng cấp trong 8, 12 và 16 năm Đó là số năm cần thiết cho một người bình thường hoàn tất các bằng cấp Phổ thông cơ sở, Phổ thông trung học và Đại học Tuy nhiên, cách đo lường này có thể bị chệch do có rất nhiều người lao động trải qua cùng số năm đi học bằng hoặc nhiều hơn thế mà không nhận được bằng cấp tương ứng
Để khắc phục các nhược điểm trên, Jaeger & Page (1996) cũng nghiên cứu hiệu ứng da cừu ở Mỹ bằng cách sử dụng số liệu của cuộc khảo sát dân số nước Mỹ trong
những năm 1991 – 1992 có thông tin đầy đủ về cả số năm đi học và bằng cấp của
người lao động Bên cạnh việc sử dụng hồi quy phân đoạn như Hungerford & Solon
Trang 17(1987), Jaefer & Page (1996) sử dụng dạng hàm hồi quy có biến giả ứng với từng năm
đi học và từng loại bằng cấp để đo lường hiệu ứng gia cừu
Dạng hàm hồi quy hồi quy phân đoạn bao gồm thông tin về bằng cấp như sau
6 6
tố bằng cấp trong hệ số này Do vậy, hiệu số jj là thể hiện của hiệu ứng da cừu trong tiền lương của người lao động
Với dạng hàm hồi quy phân đoạn, các tác giả không tìm thấy hiệu ứng da cừu với
số năm đi học bằng 8, 17 và trên 18 Bằng việc sử dụng mô hình (3) và (4), các tác giả tìm thấy hiệu ứng da cừu mạnh ở nhóm nam giới da trắng có bằng liên thông (9% với các bằng liên thông nghề và 21% ở bằng liên thông hệ nghiên cứu) Tác động của bằng cấp liên thông ở nhóm lao động da đen không có ý nghĩa thống kê Ngoài ra, hiệu ừng
da cừu ở nhóm có bằng Trung học phổ thông là 11%; trong khi hiệu ứng da cừu ở nhóm có bằng đại học là 31%
Trang 18Park(1999) cũng lặp lại các nghiên cứu về hiệu ứng da cừu nhưng sử dụng mô hình hồi quy tổng quát hơn các nghiên cứu trước đó Ông sử dụng số liệu khảo sát dân
số nước Mỹ năm 1990 Park (1999) cũng sử dụng hồi quy phân đoạn để tìm hiệu ứng
da cừu nhưng ông chỉ xét hai điểm phân đoạn là số năm đi học là 12 và 18 Bên cạnh
đó, Park đề xuất hàm hồi quy sử dụng biến tương tác giữa số năm đi học và bằng cấp cao nhất để tìm ra hiệu ứng da cừu một cách chi tiết hơn Dạng hàm Park(1999) đề xuất như sau :
cử nhân và độ lớn hiệu ứng là 13% Sử dụng mô hình (5), Park cho thấy rằng người lao động với số năm đi học là 12 năm vào có những bằng cấp như bằng nghề hoặc cao đẳng có tiền lương cao hơn khoảng 13% những lao động có 12 năm đi học và bằng cao nhất là Phổ thông trung học Tương tự, tiền lương của nhóm lao động với 16 năm đi học và có bằng cử nhân thì cao hơn so với nhóm 16 năm đi học nhưng chỉ có bằng cao đẳng và bằng nghề Chênh lệch hệ số hồi quy tiền lương giữa hai nhóm này chính là hiệu ứng da cừu Những kết luận về hiệu ứng da cừu của Park(1999) khá tương đồng với những kết luận của Jaeger & Page (1996)
Weiss(1983) giải thích rằng, các cá nhân cùng tham gia vào khóa đào tạo trong S
năm và cùng tham gia kỳ thi cuối khóa Những cá nhân có năng lực cao sẽ hoàn thành tốt kỳ thi cuối khóa và được nhận bằng cấp; trong khi những cá nhân khác, với năng lực thấp hơn sẽ không có được bằng cấp đó mặc dù có cùng số năm đi học Hoặc là để
có được bằng cấp, họ cần số năm đi học nhiều hơn những người có năng lực học tập
Trang 19tốt Do vậy, theo Weiss(1983), hiệu ứng da cừu tồn tại là điều hợp lý vì bằng cấp cũng chính là dấu hiệu thể hiện năng lực của người lao động
Antelius (2000) sử dụng bộ số liệu điều tra mức sống dân cư (Sweden Level của
Living Survey) để xác định hiệu ứng da cừu trong tiền lương ở Thụy Điển Antelius chỉ
ra các hạn chế trong các nghiên cứu trước về hiệu ứng da cừu là việc giả định người lao động đạt được bằng cấp sau khi hoàn tất đủ số năm đi học tương ứng với bằng cấp
là không thực tế, điều này có thể làm cho mức độ hiệu ứng da cừu tính toán được bị chệch Để khắc phục các nhược điểm trên, Antelius (2000) đề xuất áp dụng hàm phân
rã tiền lương theo phương pháp Oaxaca-Blinder (1973) để tính toán hiệu ứng da cừu Nghĩa là
lnW DlnW N X D X N DX N DN (6)
Trong đó W D là tiền lương theo giờ mà người lao động được nhận nếu có bằng
đại học và W N là tiền lương theo giờ mà người lao động được nhận khi họ có tham gia
học đại học nhưng không có bằng đại học Số hạng thứ hai trong vế phải của phương trình (6) chính là thể hiện của hiệu ứng da cừu Với việc áp dụng phép phân rã Oaxaca – Blinder(1973), tác giả nhận định rằng hiệu ứng da cừu tồn tại ở cả hai nhóm bằng cấp phổ thông và đại học Hiệu ứng da cừu trong tiền lương sẽ giảm khi số năm kinh nghiệm ở công việc càng tăng Bằng chứng là hiệu ứng da cừu của các biến bằng cấp trình độ phổ thông sẽ mất hẳn sau 3 đến 5 năm người lao động đảm nhận công việc
Và thời gian này đối với nhóm bằng cấp đại học là 4 đến 6 năm
Riddell (2001) nghiên cứu hiệu ứng da cừu ở Canada bằng các sử dụng bộ số liệu điều tra năm 1996 của văn phòng thống kê Canada Các kết quả của các tác giả cho thấy rằng việc sở hữu bằng cấp cụ thể sẽ mang lại mức đãi ngộ cao hơn khi so sánh các người lao động có cùng số năm đi học Điều này càng thể hiện rõ rệt hơn ở nhóm lao động nhập cư
Bauer và các cộng sự (2003) tìm hiểu hiệu ứng da cừu ở Nhật với bộ số liệu được tổng cục Thống kê của Nhật công bố từ năm 1993 đến 1997 Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng hiệu ứng da cừu ở Nhật khác nhau theo quy mô công ty Ở những công ty
Trang 20lớn, hiệu ứng da cừu xảy ra rất mờ nhạt Nguyên nhân có thể là do cách thức tuyển dụng của các công ty lớn ở Nhật là phỏng vấn tuyển dụng ngay khi sinh viên còn theo học ở các trường đại học Trong khi đó, bằng chứng về hiệu ứng da cừu ở những công
ty nhỏ mạnh mẽ hơn Hiệu ứng da cừu cũng giảm dần khi số năm kinh nghiệm và gắn
bó với công việc tăng lên Các tác giả giải thích điều này là do khi thời gian làm việc càng dài, người sử dụng lao động càng có căn cứ đánh giá chính xác năng lực của người lao động hơn là giai đoạn mới tuyển dụng ban đầu chỉ dựa vào bằng cấp
Flores-Lagunes & Light (2007) sử dụng số liệu khảo sát về lao động trẻ năm
1997 ở nước Mỹ để xác định hiệu ứng da cừu Các tác giả sử dụng biến giả về bằng cấp và biến giả số năm đi học như trong phương trình (3) và (4) Bên cạnh đó, tác giả cũng dùng hàm hồi quy với biến tương tác như mô hình (5) Bên cạnh việc tương tác biến giả về số năm đi học với biến giả về bằng cấp, tác giả còn tương tác biến số năm
đi học dưới dạng định lượng (S) với biến giả bằng cấp với các mô hình như sau :
i i
số năm đi học hay bằng cấp đều tác động đến tiền lương của người lao động Tuy nhiên, nghiên cứu cũng khẳng định hiệu ứng da cừu có tồn tại ở Mỹ vì có sự khác nhau về tiền lương giữa những người lao động có cùng số năm đi học nhưng bằng cấp khác nhau Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả còn cho thấy rằng tiền
lương giảm theo S giữa các lao động nắm giữ cùng loại bằng cấp Ngược lại, ở nhóm
các lao động ngừng học khi chưa nhận được bằng cấp thì tiền lương lại tỷ lệ thuận với
số năm đi học
2.3 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ HIỆU ỨNG DA CỪU Ở VIỆT NAM
Trang 21Trong các công trình nghiên cứu đã công bố trong nước, tác giả nhận định thực
sự chưa có bài báo nghiên cứu về hiệu ứng da cừu ở Việt Nam Những nghiên cứu áp dụng các phương pháp nghiên cứu định lượng về tiền lương ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào phân tích chênh lệch tiền lương Chênh lệch tiền lương được nghiên cứu có thể là chênh lệch tiền lương giữa thành thị và nông thôn (Nguyen, Albrecht, Vroman
& Westbrook (2007); Thu Le H và các cộng sự (2013); Binh T.N và các cộng sự (2006)), chênh lệch tiền lương giữa nam giới và nữ giới (Nguyễn et al (2005), Liu (2004)), cũng như chênh lệch giữa khu vực công và tư (Nguyễn D.H.L (2006)) Mặc
dù có một số nghiên cứu xây dựng hàm tiền lương và có phân tích tác động của bằng cấp đến tiền lương nhưng chưa nghiên cứu cụ thể về hiệu ứng da cừu Các nghiên cứu xây dựng hàm tiền lương ở Việt Nam có thể kể đến nghiên cứu của Hung T.P và các cộng sự (2007a, 2007b) Dựa trên các kết quả hồi quy hàm tiền lương mà Hung T.P và các cộng sự đưa ra, có thể xác định được tác động của bằng cấp đến tiền lương nhưng chưa thể xác định về sự tồn tại của hiệu ứng da cừu ở Việt Nam
Tran (2014) cũng sử dụng kỹ thuật Heckman 2 bước để xây dựng hàm tiền lương của Việt Nam trong giai đoạn 2002 – 2010 dựa trên số liệu VHLSS2002 và VHLSS2012 Kết quả nghiên cứu của bài báo này cũng cho thấy tác động của bằng cấp đến tiền lương, bằng cấp càng cao thì tiền lương người lao động nhận được càng nhiều Tác giả không phân tích đến hiệu ứng da cừu
2.4 HẠN CHẾ CỦA CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÓ
Tổng quan lý thuyết về các nghiên cứu hiệu ứng da cừu trong và ngoài nước cho thấy rằng việc nghiên cứu hiệu ứng da cừu dù đã phổ biến trên thế giới nhưng còn
là vần đề nghiên cứu còn khá mới ở Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu để xác định hiệu ứng da cừu trên thế giới chủ yếu dựa vào dạng mở rộng hàm tiền lương Mincer bằng các so sánh sự tác động của số năm đi học đến tiền lương khi có và không có xét đến yếu tố bằng cấp như trong các phương trình (1), (2), (3), (4), (5) và (6) Tuy nhiên, theo Heckman (1979), việc xây dựng hàm tiền lương nếu chỉ sử dụng số liệu của các quan sát có thông tin về tiền lương có thể
Trang 22dẫn đến ước lượng chệch do chọn mẫu Trong khi đó, các nghiên cứu trên thế giới chưa áp dụng phương pháp hiệu chỉnh tính chệch của Heckman(1979) Do đó, đề tài sẽ hướng đến việc xây dựng hàm tiền lương để xác định hiệu ứng da cừu bằng thủ tục Heckman 2 bước Đồng thời, so sánh kết quả xác định hiệu ứng da cừu bằng thủ tục Heckman 2 bước với kết quả tính toán được bằng phương pháp OLS thông thường Bên cạnh đó, đề tài cũng mở rộng dạng hàm tiền lương Mincer để thêm vào các biến kiểm soát như Giới tính, Khu vực thành thị - nông thôn, dân tộc Kinh – Hoa hay dân tộc thiểu số để hạn chế tác động của việc bỏ sót biến cũng như là để các phân tích có ý nghĩa hơn
Trang 23
CHƯƠNG 3 : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 SỐ LIỆU NGHIÊN CỨU
Đề tài sử dụng bộ số liệu điều tra mức sống hộ gia đình VHLSS 2012 để phân tích đánh giá hiệu ứng da cừu ở Việt Nam Bộ số liệu VHLSS được lần đầu tiên được thực hiện điều tra ở Việt Nam từ năm 1992-1993 Lần điều tra số liệu thứ 2 là vào năm
1998 Sau đó, cứ mỗi 2 năm một lần, Tổng cục Thống kê Việt Nam lại tiến hành điều tra và công bố để làm cơ sở cho rất nhiều các nghiên cứu về kinh tế - xã hội ở Việt Nam VHLSS 2012 là bộ số liệu khảo sát mức sống mới nhất được công bố cho đến thời điểm đề tài được thực hiện
3.1.1 MÔ TẢ NGUỒN SỐ LIỆU
Bộ số liệu điều tra mức sống hộ gia đình VHLSS thu thập các thông tin làm căn cứ đánh giá mức sống, đánh giá tình trạng nghèo đói và phân hoá giàu nghèo để phục vụ công tác hoạch định các chính sách, kế hoạch và các chương trình mục tiêu quốc gia nhằm không ngừng nâng cao mức sống dân cư trong cả nước, các vùng và các địa phương Phạm vi khảo sát của VHLSS bao gồm tất cả các người lao động trên tất cả các xã – phường, quận – huyện, tỉnh – thành phố trên lãnh thổ Việt Nam Cuộc khảo sát áp dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp Điều tra viên đến gặp chủ hộ và những thành viên trong hộ có liên quan để phỏng vấn và ghi thông tin vào phiếu phỏng vấn
hộ Để bảo đảm chất lượng thông tin thu thập, cuộc khảo sát không chấp nhận phương pháp khảo sát gián tiếp hoặc sao chép các thông tin từ các nguồn có sẵn khác vào phiếu phỏng vấn Ngoài ra, Các Cục Thống kê chọn ngẫu nhiên 10% số hộ đã phỏng vấn để phúc tra nhằm đánh giá chất lượng khảo sát
Trang 24Đề tài sử dụng bộ số liệu VHLSS 2012 để phân tích và kiểm định Từ số liệu của VHLSS, đề tài chọn lọc số liệu của các quan sát thuộc độ tuổi lao động, có việc làm,
có tiền lương và có đầy đủ các thông tin về số năm đi học cũng như bằng cấp của người lao động để hồi quy hàm tiền lương và tiến hành phân tích hiệu ứng da cừu
3.1.2 THỐNG KÊ MÔ TẢ SỐ LIỆU
Những thống kê mô tả các biến độc lập trong mô hình được thể hiện ở bảng 3.1
Kết quả thống kê mô tả cho thấy biến LnTienLuong có giá trị trung bình là 9,782 Tuổi
trung bình của mẫu là 35 tuổi Số năm đi học trung bình là 10,36 năm và số năm kinh nghiệm tiềm năng trung bình là 16 năm
Bảng 3 1 : Thống kê mô tả các biến trong mô hình
Tên biến Số quan
sát
Trung bình
Độ lệch chuẩn
Giá trị nhỏ nhất
Giá trị lớn nhất
Trang 25Trong mẫu số liệu đưa vào xử lý; có 60,1% số quan sát là nam và 39,9% số quan sát là nữ Bên cạnh đó, 91,9% số quan sát là người dân tộc Kinh – Hoa, còn lại 8,1% số quan sát thuộc các dân tộc thiểu số Tỷ lệ số quan sát ở thành thị là 40,1% và nông thôn là 59,9% Số năm kinh nghiệm tiềm năng trung bình của người lao động là
16 năm trong khi tuổi trung bình vào khoảng 35 tuổi Có 9,7% số quan sát của mẫu là những lao động không có bằng cấp; 19,3% số quan sát có bằng cấp cao nhất là bằng Tiểu học; 21,6 % số quan sát có bằng cấp cao nhất là bằng trung học cơ sở Tỷ lệ của nhóm có bằng cấp cao nhất là phổ thông trung học là 11,3% Con số này tương ứng với nhóm có bằng sơ cấp nghề là 6,2%; bằng Trung cấp nghề là 3,8%; Trung học chuyên nghiệp là 7,6% Số người lao động trong mẫu có bằng cấp cao nhất là Cao đẳng chiếm 5,5% và bằng đại học là 14% Nhóm còn lại có bằng cấp sau đại học chỉ chiếm 1%
Hình 2 : Số lao động theo bằng cấp
Những thông tin chi tiết về bằng cấp cùng với số năm đi học được thể hiện ở bảng 3.2 Bảng này mô tả tần số kết hợp của bằng cấp và số năm đi học của mẫu số liệu thu thập được
Sơ cấp nghề Trung cấp nghề Trung học chuyên nghiệp
Cao đẳng Đại học Sau đại học
Trang 26Bảng 3 2 : Số lao động chia theo bằng cấp và số năm đi học
Trung học
cơ sở
Trung học phổ thông
Sơ cấp nghề
Trung cấp nghề
Trung học chuyên nghiệp
Cao đẳng
Đại học
Sau đại học
Tổng cộng
Trong tổng số 7299 quan sát có trong mẫu số liệu, có 2162 quan sát có số năm
đi học nhỏ hơn hoặc bằng 8 năm, chiếm tỷ lệ 29,6%; có 1308 quan sát có số năm đi
học là 9 năm và chiếm tỷ lệ 17,92% Trong khi đó, số quan sát có số năm đi học là 16
năm (với đại đa số nhóm này có bằng đại học) chiếm tỷ lệ cũng khá lớn (13,78%) với
1006 quan sát Trong khi đó, số người có số năm đi học trên 17 năm chiếm tỷ trọng rất
nhỏ, khoảng 1,34%
Bảng 3 3 : Trung bình của biến LnTienLuong theo bằng cấp cao nhất
Bằng cấp Tất cả Nam Theo giới tính Theo khu vực
giới
Nữ giới
Thành Thị
Nông thôn Không bằng cấp 9.42 9.55 9.24 9.55 9.38
Trang 27Bảng 3 4 : Trung bình của LnTienLuong theo số năm đi học
Số năm đi học Tất cả
Nam giới Nữ giới
Thành Thị
Nông thôn
có cùng số năm đi học Tương tự, tiền lương trung bình của khu vực thành thị cũng cao hơn khu vực nông thôn với số năm đi học là như nhau
Trang 283.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dựa trên những ưu điểm và nhược điểm của xu hướng nghiên cứu về vốn con người và xu hướng sử dụng lý thuyết tín hiệu trên thị trường lao động, đề tài sử dụng hàm hồi quy tiền lương Mincer mở rộng để hồi quy xác định hiệu ứng da cừu ở Việt Nam Dạng hàm hồi quy Mincer được mở rộng bằng cách sử dụng kết hợp biến số năm đi học, biến bằng cấp cùng với các yếu tố về số năm kinh nghiệm tiềm năng và các đặc điểm nhân khẩu của người lao động đóng vai trò biến kiểm soát Dựa trên cơ
sở tổng quan các nghiên cứu trên thế giới về hiệu ứng da cừu, những dạng phương trình hồi quy mà đề tài sử dụng để xác định hiệu ứng da cừu gồm
- Dạng hàm hồi quy phân đoạn
Trang 29Ký hiệu các biến sử dụng trong như sau
TienLuong là ký hiệu của tiền lương theo giờ của người lao động
TienLuong được tính bao gồm tiền lương và tất cả các khoảng phụ cấp
theo lương mà người lao động được hưởng theo công việc chính mà họ
đảm nhận Biến lnTienLuong được tính toán bằng cách lấy logarit nepe của biến TienLuong
KinhNghiemTiemNang là biến định lượng dùng để chỉ số năm kinh
nghiệm tiềm năng của người lao động Theo Jeager & Page (1996), số năm kinh nghiệm tiềm năng tính được bằng tuổi trừ đi số năm đi học và trừ đi 6
Kinh_Hoa là biến giả về dân tộc Biến Kinh_Hoa nhận giá trị = 1 nếu là
người lao động là người dân tộc Kinh hoặc Hoa, và ngược lại, Biến
Kinh_Hoa nhận giá trị 0 nếu người lao động là người dân tộc thiểu số
S là biến định lượng cho biết số năm đi học của người lao động
Trang 30 D(S=i) là biến giả, nhận giá trị bằng 1 nếu người lao động có số năm đi học đúng bằng i với i 9,16 Riêng trường hợp D(S=8) gồm những người
lao động có số năm đi học nhỏ hơn 9 được gom thành một nhóm Tương
tự D(S=17) sẽ nhận giá trị bằng 1 nếu người lao động có số năm đi học từ
17 năm trở lên
D(S ≥ j) là biến giả, nhận giá trị bằng 1 nếu người lao động có số năm đi học lớn hơn hoặc bằng j Ví dụ D(S≥12) sẽ nhận giá trị bằng 1 nếu người
lao động có số năm đi học là từ 12 năm trở lên
D(BangCap = i) là biến giả về bằng cấp, biến giả này nhận giá trị bằng 1 nếu người lao động có bằng cấp là i Những loại bằng cấp mà i có thể nhận
bao gồm TrungHocCoSo, TrungHocPhoThong, SoCapNghe, TrungCapNghe, TrungHocChuyenNghiep,CaoDang, DaiHoc, SauDaiHoc
So với những phương trình của các nghiên cứu trước đó, phương trình mà đề tài sử
dụng có bổ sung thêm những biến kiểm soát GioiTinh, ThanhThi và Kinh_Hoa
Phương trình (7) được sử dụng dựa trên nghiên cứu của Hungerford & Solon (1987) Tuy nhiên, đề tài xét các điểm phân đoạn của số năm đi học là 9,12, 16 để phù hợp với điều kiện Việt Nam thay vì 8,12,16 như trong các nghiên cứu của Hungerford & Solon (1987) Phương trình (8) và (9) được xây dựng dựa trên nghiên cứu của Jaeger & Page (1996) Phương trình (10) được xây dựng dựa trên nghiên cứu của Lagunes & Light(2009) Phương trình (11) được xây dựng dựa trên nghiên cứu của Park(1999) Mặt khác, để khắc phục hiện tượng ước lượng bị chệch do vấn đề chọn mẫu, đề tài hiệu chỉnh tính chệch do chọn mẫu bằng thủ tục Heckman hai bước do Heckman (1979) đề xuất Việc áp dụng thủ tục Heckman để ước lượng hàm tiền lương được thực hiện tương tự như trong nghiên cứu của Tran (2014) Kết quả ước lượng bằng Heckman hai bước sẽ được thể hiện song song với kết quả ước lượng bằng OLS để có thể so sánh
Trang 31Ngoài ra, đề tài còn xác định hiệu ứng da cừu theo từng nhóm lao động nam – nữ
và thành thị - nông thôn để có thể so sánh hiệu ứng da cừu giữa các nhóm đối tƣợng này với nhau