Phụ lục 04: Dàn bài phỏng vấn kế toán, nhà quản lý ở các công ty niêm yết Phụ lục 05: Bảng câu hỏi khảo sát ý kiến của KTV Phụ lục 06: Tương quan của các biến trong mô hình Phụ lục 07: K
Trang 1NGUYỄN VĂN HƯƠNG
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC TRÌNH BÀY LẠI BÁO CÁO TÀI CHÍNH SAU KIỂM TOÁN TRONG CÁC
CÔNG TY NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh - Năm 2019
Trang 2NGUYỄN VĂN HƯƠNG
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC TRÌNH BÀY LẠI BÁO CÁO TÀI CHÍNH SAU KIỂM TOÁN TRONG CÁC
CÔNG TY NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả, tất cả các
số liệu, dữ liệu và kết quả trong luận án là trung thực, nội dung và kết quả của luận
án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Những nội dung trong luận án có sự kế thừa và tham khảo từ nguồn tài liệu khác, được tác giả trích dẫn đầy đủ và ghi nguồn cụ thể trong danh mục tài liệu tham khảo
TP Hồ Chí Minh, tháng 01 năm 2019
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Văn Hương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tác giả xin kính trọng và cảm ơn Thầy PGS.TS Nguyễn Việt, người hướng dẫn khoa học của tác giả Thầy đã hướng dẫn cho tác giả trong quá trình thực hiện luận án, những định hướng, nhận xét, góp ý của Thầy, giúp tác giả hoàn thành luận án của mình
Tác giả trân trọng cảm ơn quý Thầy/Cô ở Khoa Kế toán, trường Đại học Kinh tế TP HCM, đã có những nhận xét, góp ý cho tác giả trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận án, nhờ đó, giúp tác giả hoàn thiện luận án của mình
Tác giả xin chân thành cảm ơn những đồng nghiệp của tác giả ở Khoa Kế toán tài chính, Khoa Kinh tế - Trường Đại học Nha Trang, đã có những góp ý chân thành trong quá trình thực hiện luận án của tác giả
Tác giả tỏ lòng biết ơn đến quý Thầy/Cô Viện Đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Kinh tế TP.HCM đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong thời gian học tập và thực hiện luận án tại trường
Tác giả xin cảm ơn chân thành đến quý Lãnh đạo và Anh/chị Kế toán ở các công ty niêm yết, quý Anh/Chị ở các công ty kiểm toán độc lập, đã tạo điều kiện cho tác giả có được dữ liệu, thông tin để thực hiện luận án
Cuối cùng, tác giả bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến gia đình của tác giả Thời gian qua, gia đình đã động viên khích lệ và tạo mọi điều kiện để tác giả hoàn thành luận án này
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Văn Hương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU ix
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ HÌNH xi
DANH MỤC PHỤ LỤC xii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT xiii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 4
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 4
2.2 Câu hỏi nghiên cứu 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
3.1 Đối tượng nghiên cứu 5
3.2 Phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Dữ liệu dùng cho nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận án 7
6.1 Về mặt học thuật 7
6.2 Về mặt thực tiễn 8
7 Kết cấu của luận án 9
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRÌNH BÀY LẠI BCTC VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC TRÌNH BÀY LẠI BCTC TRONG CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TỪ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 11
Giới thiệu 11
1.1 Trình bày lại BCTC và những nguyên nhân dẫn đến trình bày lại BCTC 11
Trang 61.2 Các nghiên cứu ở nước ngoài về những nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày
lại BCTC sau kiểm toán 13
1.2.1 Những nghiên cứu về ảnh hưởng của đặc điểm HĐQT và cơ cấu sở hữu vốn công ty đến khả năng xảy ra trình bày lại BCTC 15
1.2.2 Những nghiên cứu đề cập đến ảnh hưởng của những đặc điểm liên quan đến kiểm toán BCTC ở các công ty niêm yết đến khả năng xảy ra trình bày lại BCTC 19 1.2.3 Những nghiên cứu về ảnh hưởng của đặc điểm kinh tế và những đặc điểm khác của công ty đến khả năng xảy ra việc trình bày lại BCTC 21
1.3 Các nghiên cứu trong nước về ảnh hưởng của các nhân tố đến trình bày lại BCTC 23
1.4 Phương pháp nghiên cứu được các nghiên cứu trước tiếp cận 26
1.5 Những đóng góp của các nghiên cứu trước 26
1.5.1 Những đóng góp của các nghiên cứu ở nước ngoài 26
1.5.2 Những đóng góp của các nghiên cứu ở trong nước 27
1.6 Hạn chế của các nghiên cứu trước 27
1.7 Khe hổng nghiên cứu và vấn đề nghiên cứu của luận án 28
Kết luận chương 30
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 31
Giới thiệu 31
2.1 Các khái niệm 31
2.1.1 Báo cáo tài chính 31
2.1.2 Trình bày lại báo cáo tài chính 32
2.2 Các lý thuyết nền tảng cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu 33
2.2.1 Lý thuyết đại diện 33
2.2.2 Lý thuyết cổ đông 38
2.2.3 Lý thuyết tam giác gian lận 39
2.2.4 Lý thuyết tín hiệu 41
2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến trình bày lại BCTC từ cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước 42
Trang 72.3.1 Đặc điểm của HĐQT và khả năng xảy ra trình bày lại BCTC 42
2.3.2 Đặc điểm cơ cấu vốn chủ sở hữu và khả năng xảy ra trình bày lại BCTC 45
2.3.3 Những đặc điểm liên quan đến kiểm toán BCTC ở các công ty niêm yết và khả năng trình bày lại BCTC 46
2.3.4 Đặc điểm kinh tế và các đặc điểm khác của công ty và khả năng xảy ra trình bày lại BCTC 48
2.4 Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng dùng để xem xét trong nghiên cứu này 52
2.5 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm 53
Kết luận chương 56
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 57
Giới thiệu 57
3.1 Phương pháp nghiên cứu 57
3.1.1 Tiếp cận phương pháp nghiên cứu 57
3.1.2 Thiết kế nghiên cứu 58
3.1.3 Sự phù hợp của phương pháp nghiên cứu 59
3.2 Nghiên cứu định lượng 61
3.2.1 Thiết kế nghiên cứu định lượng 62
3.2.2 Nội dung nghiên cứu định lượng 64
3.2.2.1 Trình bày lại BCTC và sự đo lường 64
3.2.2.2 Phát triển các giả thuyết nghiên cứu 66
3.2.3 Mô hình hồi quy 80
3.2.4 Các biến và thang đo 81
3.2.5 Trình tự nghiên cứu 84
3.2.6 Mẫu và sự lựa chọn mẫu 85
3.2.6.1 Lựa chọn mẫu 85
3.2.6.2 Quy mô mẫu 86
3.2.7 Dữ liệu cho nghiên cứu 87
3.2.7.1 Mô tả dữ liệu nghiên cứu 87
3.2.7.2 Dữ liệu thu thập 87
Trang 83.2.7.3 Xử lý dữ liệu và gán thang đo cho từng biến 91
3.2.8 Công cụ và phương pháp phân tích dữ liệu 95
3.2.8.1 Công cụ sử dụng 95
3.2.8.2 Phương pháp phân tích dữ liệu 95
3.3 Nghiên cứu định tính 96
3.3.1 Phương pháp và công cụ nghiên cứu 97
3.3.2 Chọn mẫu cho nghiên cứu 98
3.3.3 Thu thập và xử lý dữ liệu 100
3.3.3.1 Kỹ thuật thu thập số liệu 100
3.3.3.2 Xử lý dữ liệu 102
Kết luận chương 103
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 104
Giới thiệu 104
4.1 Trình bày lại BCTC ở Việt Nam 104
4.1.1 Vấn đề về trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam 104
4.1.2 Xu hướng trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam giai đoạn 2011 – 2015 105
4.2 Kết quả nghiên cứu định lượng 107
4.2.1 Kết quả thống kê về việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam, giai đoạn 2011 - 2015 107
4.2.1.1 Những chỉ tiêu của BCTC thường trình bày lại sau kiểm toán 107
4.2.1.2 Kết quả thống kê thực tế trình bày lại một số chỉ tiêu ở BCTC sau kiểm toán 108
4.2.1.3 Kết quả thống kê quy mô số tiền trình bày lại ở chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế trên BCKQHĐKD sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam 111
4.2.1.4 Kết quả thống kê trình bày lại BCTC sau kiểm toán theo lĩnh vực ngành nghề kinh doanh 112
4.2.1.5 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 114
Trang 94.2.2 Kết quả hồi quy binary logistic xác định các nhân tố ảnh hưởng đến trình bày
lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết 116
4.2.2.1 Kết quả kiểm tra hệ số tương quan của các biến trong mô hình 116
4.2.2.2 Kết quả tóm tắt xử lý trường hợp của quá trình hồi quy binary logistic 116
4.2.2.3 Kết quả kiểm định mức độ phù hợp của mô hình 117
4.2.2.4 Kết quả kiểm định mức độ giải thích của mô hình 118
4.2.2.5 Kết quả kiểm định mức độ dự báo của mô hình 118
4.2.2.6 Kết quả kiểm định WALD 119
4.2.2.7 Kết quả kiểm định vai trò ảnh hưởng của các nhân tố 125
4.3 Kết quả của phần nghiên cứu định tính 128
4.4 Thảo luận những nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam 130
Kết luận chương 142
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN, CÁC HÀM Ý VÀ KIẾN NGHỊ 143
Giới thiệu 143
5.1 Kết luận 143
5.1.1 Những nhân tố thuộc về đặc điểm kinh tế và những đặc điểm khác của công ty 146
5.1.2 Những nhân tố thuộc về đặc điểm HĐQT và cơ cấu sở hữu vốn của công ty 147
5.1.3 Những nhân tố thuộc về đặc điểm liên quan đến việc kiểm toán BCTC ở các công ty niêm yết 148
5.2 Những hàm ý từ kết quả nghiên cứu 151
5.3 Những đóng góp của luận án 153
5.4 Những hạn chế của luận án và hướng nghiên cứu trong tương lai 155
5.5 Những kiến nghị đối với các bên liên quan 156
5.5.1 Đối với cơ quan quản lý nhà nước 156
5.5.2 Đối với công ty kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán BCTC các công ty niêm yết 159
5.5.3 Đối với các đối tượng sử dụng BCTC 159
Trang 105.5.4 Đối với công ty niêm yết 161
5.6 Kết luận chung 163
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 165
TÀI LIỆU THAM KHẢO 167 PHỤ LỤC
Trang 11DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến trình bày lại BCTC sau kiểm toán
suy ra từ cơ sở lý thuyết dùng xem xét trong nghiên cứu này 52
Bảng 3.1: Bảng tổng hợp các giả thuyết nghiên cứu 78
Bảng 3.2: Các biến và sự đo lường các biến 82
Bảng 3.3: Bảng kê số lượng công ty niêm yết có BCTC được thu thập 86
Bảng 3.4: Bảng kê quy mô mẫu dùng cho xử lý hồi quy binary logistic 87
Bảng 3.5: Mô tả những khoản mục của BCTC được thu thập và nguồn thu thập dữ liệu dùng để phân tích thực trạng trình bày lại BCTC sau kiểm toán 88
Bảng 3.6: Mô tả dữ liệu được thu thập dùng để đo lường cho các biến và nguồn thu thập 89
Bảng 3.7: Mô tả dữ liệu và sự đo lường biến phụ thuộc 92
Bảng 3.8: Mô tả dữ liệu và sự đo lường của các biến độc lập có thang đo tỷ lệ 92
Bảng 3.9: Mô tả dữ liệu và gán thang đo của các biến độc lập có thang đo nhị phân 93
Bảng 3.10: Danh sách kế toán, nhà quản lý của các công ty niêm yết thuộc lĩnh vực ngành nghề kinh doanh dùng để phỏng vấn 99
Bảng 3.11: Quy mô mẫu dùng để khảo sát ý kiến KTV 100
Bảng 4.1: Thực tế trình bày lại từng chỉ tiêu ở BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết, giai đoạn 2011 – 2015 110
Bảng 4.2: Bảng kê quy mô số tiền trình bày lại ở chỉ tiêu lợi nhuận của các công ty niêm yết, giai đoạn 2011 -2015 111
Bảng 4.3: Thống kê trình bày lại BCTC sau kiểm toán theo ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh 112
Bảng 4.4: Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 115
Bảng 4.5: Tóm tắt xử lý trường hợp 116
Bảng 4.6: Kiểm tra tổng quát của các hệ số mô hình 117
Bảng 4.7: Tóm tắt mô hình (Model Summary) 118
Bảng 4.8: Bảng phân loại 118
Bảng 4.9: Các thông số của các biến trong mô hình hồi quy binary logistic trong bước 1 119
Trang 12Bảng 4.10: Tên các biến trong phương trình hồi quy binary logistic 120Bảng 4.11: Vai trò ảnh hưởng của các nhân tố 125Bảng 4.12: Tổng hợp kết quả khảo sát ý kiến kiểm toán viên 129Bảng 4.13: Tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng xảy ra trình bày lại
BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam từ kết quả hồi quy binary logistic 130Bảng 5.1: Tổng hợp kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu được chấp nhận 145
Trang 13DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ HÌNH
Sơ đồ 1.1: Các hướng tiếp cận nghiên cứu của các nghiên cứu trước về những nhân
tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC 14
Sơ đồ 2.1: Mô hình nghiên cứu thực nghiệm 55
Sơ đồ 3.1: Phương pháp nghiên cứu 57
Sơ đồ 3.2: Thiết kế nghiên cứu 58
Sơ đồ 3.3: Thiết kế nghiên cứu định lượng 62
Sơ đồ 3.4: Các bước thực hiện nghiên cứu định lượng 63
Sơ đồ 3.5: Trình tự thực hiện nghiên cứu định tính 96
Sơ đồ 5.1: Các nhân tố ảnh hưởng đến trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam 150
Hình 4.1: Xu hướng trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam, giai đoạn 2011 – 2015 106
Hình 4.2: Thực tế các chỉ tiêu của BCTC thường trình bày lại sau kiểm toán trong các công ty niêm yết giai đoạn 2011 – 2015 107
Trang 14Phụ lục 04: Dàn bài phỏng vấn kế toán, nhà quản lý ở các công ty niêm yết
Phụ lục 05: Bảng câu hỏi khảo sát ý kiến của KTV
Phụ lục 06: Tương quan của các biến trong mô hình
Phụ lục 07: Kết quả của quá trình hồi quy binary logistic
Phụ lục 08 : Danh sách các công ty niêm yết, nghiên cứu thực hiện phỏng vấn kế
toán, nhà quản lý
Phụ lục 09: Những thông tin thu được từ phỏng vấn kế toán, nhà quản lý của các
công ty niêm yết
Phụ lục 10: Những chủ đề và các nhóm về những nhân tố ảnh hưởng đến trình bày
lại BCTC sau kiểm toán
Phụ lục 11: Bảng tổng hợp kết quả xử lý dữ liệu của phần nghiên cứu định tính Phụ lục 12: Kết quả của phần nghiên cứu định tính về các nhân tố ảnh hưởng đến việc
trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam Phụ lục 13: Dữ liệu thu được từ khảo sát ý kiến KTV
Phụ lục 14: Danh sách KTV được khảo sát ý kiến
Trang 15DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AMEX : Sàn giao dịch chứng khoán Hoa Kỳ (American Stock
Exchange)
BCĐKT : Bảng cân đối kế toán
BCKQHĐKD : Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
BCTC : Báo cáo tài chính
BRC : Blue Ribbon Committee
CEO : Tổng giám đốc, hoặc giám đốc điều hành (Chief Executive Officer) FASB : Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (The International Accounting Standard Board)
GAAP : Các nguyên tắc và những thông lệ kế toán được chấp nhận (Generally Accepted Accounting Principles)
HĐQT : Hội đồng quản trị
HNX : Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
HOSE : Sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh
NASDAQ : Sàn Giao dịch Chứng khoán NASDAQ
NYSE : Sở giao dịch chứng khoán New York
(The New York Stock Exchange)
KTV : Kiểm toán viên
PCAOB : Ban giám sát kế toán công ty đại chúng (Public Company Accounting Oversight Board)
SFAC : Các khái niệm kế toán tài chính
(Statement of Financial Accounting Concepts)
TTCK : Thị trường chứng khoán
UBCKNN : Ủy ban chứng khoán nhà nước
Trang 16PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của nghiên cứu
TTCK Việt Nam trải qua hơn 15 năm với những bước phát triển thăng trầm của nó, các yếu tố góp phần vào việc phát triển bền vững của thị trường không thể không kể đến yếu tố về sự minh bạch thông tin trên thị trường, đặc biệt là thông tin tài chính của các công ty niêm yết cung cấp (Trần Thị Phượng, 2017) Những năm gần đây, TTCK Việt Nam nổi lên vấn đề về sự khác biệt giữa thông tin tài chính trên báo cáo tài chính (BCTC) được kiểm toán với BCTC do chính công ty niêm yết
tự lập và công bố trước đó; hay nói cách khác có việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán xảy ra trong các công ty niêm yết Việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán không chỉ xảy ra ở một số công ty, mà chiếm phần lớn các công ty niêm yết, một số công ty sau kiểm toán có số tiền lợi nhuận lệch so với số tiền lợi nhuận được công
ty công bố trước đó lên tới vài trăm tỷ đồng
Theo số liệu thống kê của Vietstock cho thấy, tỷ lệ công ty niêm yết trình bày lại (điều chỉnh lại) chỉ tiêu lợi nhuận trên BCTC sau kiểm toán từ năm 2012 đến năm 2014 lần lượt là 82%, 77% và 72%; riêng 6 tháng của năm 2015, tỷ lệ này là
52% (Minh An, 2015) Một số công ty có số tiền trình bày lại lên tới vài trăm tỷ
đồng, như Công ty cổ phần Địa Ốc Dầu Khí, sau kiểm toán lỗ của năm 2013 tăng thêm 156 tỷ đồng so với công bố trước; hoặc Tổng công ty cổ phần Xây Lắp Dầu Khí Việt Nam, sau kiểm toán lỗ ở năm 2013 giảm 487 tỷ đồng; không ít công ty niêm yết khiến cho nhà đầu tư phải bất ngờ từ chỗ kết quả kinh doanh báo lãi trước kiểm toán chuyển thành lỗ sau kiểm toán và ngược lại Việc công ty niêm yết có sự trình bày lại BCTC sau kiểm toán rõ ràng cho thấy, BCTC do công ty tự lập và công
bố trước đó không đáng tin cậy và có chất lượng tương đối thấp
Trình trạng các công ty niêm yết công bố BCTC được kiểm toán có việc trình bày lại so với trước, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng BCTC, vì thông tin trên BCTC được nhà đầu tư sử dụng để xác định giá trị công ty (Ball & Brown,1968) Một khi công ty công bố lại BCTC có thông tin khác biệt so với trước, giá cổ phiếu của công ty trên thị trường thay đổi nhanh chóng
Trang 17(Fama,1970) Nhà đầu tư sẽ phản ứng tích cực lên giá cổ phiếu của công ty, khi công ty công bố thông tin tốt và phản ứng tiêu cực lên giá cổ phiếu của công ty, khi công ty công bố thông tin xấu (Palmrose & cộng sự, 2001; Anderson & Yohn, 2002; GAO, 2007)
BCTC của các công ty niêm yết có ảnh hưởng nhiều đến cổ đông và tác động đến các giao dịch chứng khoán hàng ngày, điều gì xảy ra với nhà đầu tư, khi công ty niêm yết công bố BCTC được kiểm toán có sự thay đổi kết quả kinh doanh từ lãi chuyển thành lỗ và ngược lại; Callen và cộng sự (2002) cho rằng, những sự trình bày lại trong kế toán là tin xấu cho nhà đầu tư; hậu quả của việc các công ty niêm yết công bố lại BCTC có sự sụt giảm số tiền lợi nhuận so với BCTC được công bố trước
đó, làm cho giá cổ phiếu của công ty trên thị trường suy giảm, dẫn đến làm giảm giá trị vốn hóa của công ty trên thị trường (Anderson & Yohn, 2002; GAO, 2007)
Khi các công ty niêm yết ở Việt Nam công bố BCTC được kiểm toán có sự trình bày lại số tiền ở chỉ tiêu lợi nhuận so với trước, giá cổ phiếu của công ty trên thị trường suy giảm (Nguyễn Công Phương, 2015); sự kiện công ty cổ phần Hùng Vương ở năm 2017 minh chứng cho điều đó; cụ thể khi công ty công bố BCTC được kiểm toán có sự sụt giảm lợi nhuận gần 309 tỷ so với BCTC được công bố trước đó, giá cổ phiếu của công ty giảm sàn liên tiếp trong 4 phiên giao dịch của thị trường (ở các ngày 2, 3, 6, 7 của tháng 2 năm 2017); điều này đã gây tổn hại cho những nhà đầu tư đã mua cổ phiếu của công ty cổ phần Hùng Vương ở những ngày trước khi công ty này công bố BCTC được kiểm toán
Việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết, không những gây thiệt hại cho nhà đầu tư, mà còn gây thiệt hại cho bản thân công ty niêm yết Nếu tần suất của việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán xuất hiện ở nhiều năm,
sẽ ảnh hưởng rất lớn đến niềm tin của nhà đầu tư đối với thông tin trên BCTC của các công ty niêm yết và đến cả thị trường chứng khoán Vấn đề đặt ra, tại sao việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán lại xảy ra phổ biến trong các công ty niêm yết ở Việt Nam trong những năm qua, những nhân tố nào ảnh hưởng đến việc trình bày
Trang 18lại BCTC sau kiểm toán? vấn đề này cần được nghiên cứu và chỉ ra đối với các công ty niêm yết ở Việt Nam
Nghiên cứu về trình bày lại BCTC đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới, một số nghiên cứu tìm thấy một số nhân tố có ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC (bao gồm cả gian lận và sai sót), cụ thể như: Do ảnh hưởng bởi các đặc điểm của HĐQT công ty (Beasley, 1996; Srinivasan, 2005; Agrawal & Chadha, 2005; Chen và cộng sự, 2006; Lobo & Zhao, 2013); hoặc do ảnh hưởng bởi đặc điểm liên quan đến kiểm toán BCTC ở các công ty niêm yết (Lazer và cộng sự, 2004; Kinney
và cộng sự, 2004; Vivek & Myungsoo, 2013; Tompson & McCoy, 2008; Francis &
Yu, 2009; Lobo & Zhao, 2013 ); hoặc do ảnh hưởng của đặc điểm kinh tế và những đặc điểm khác của công ty (Kinney & McDaniel, 1989; Ahmed & Goodwin, 2007; Rezaei & Mahmoudi, 2013)
Ở Việt Nam, theo tác giả chưa có nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán Gần đây, có những nghiên cứu xem xét sự ảnh hưởng của một số nhân tố đến khả năng xảy ra việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết, như: Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hương (2016) về ảnh hưởng của áp lực lợi nhuận; hoặc nghiên cứu của Nguyễn Việt và Nguyễn Văn Hương (2017) về ảnh hưởng của các đặc điểm công ty; hoặc nghiên cứu ảnh hưởng của một số đặc tính của HĐQT đến sai sót trọng yếu trên BCTC của Trần Thị Giang Tân và Trương Thùy Dương (2016) Những bài viết khác chỉ mới dừng lại ở việc thống kê một số công ty có sự trình bày lại BCTC sau kiểm toán, hoặc chỉ ra những khoản mục trình bày lại sau kiểm toán ở một số công
ty niêm yết ở Việt Nam (Minh An, 2015; Mỹ Hà và Công Lý, 2014; Minh An, 2015; Vị Xuyên, 2015)
Việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán gây hậu quả cho người sử dụng BCTC, đặc biệt là cho nhà đầu tư trên TTCK và bản thân công ty niêm yết; tuy nhiên nghiên cứu về vấn đề này chưa nhiều ở Việt Nam; từ thực tế đó cần thiết phải
có nghiên cứu đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam
Trang 19Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng xảy ra việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam, giúp trả lời câu hỏi việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết chịu tác động bởi những nhân tố nào, qua đó giúp kế toán có những giải pháp khắc phục, hạn chế những sai sót trong việc lập và trình bày BCTC khi chưa được kiểm toán, góp phần giảm thiểu việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong tương lai
Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam có ý nghĩa rất lớn trong việc nhận diện,
dự báo những công ty có khả năng xảy ra việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán; kết quả của nghiên cứu này không chỉ giúp cho nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, mà còn giúp cho các đối tượng khác sử dụng BCTC có cơ sở đưa ra các quyết định kinh tế phù hợp, góp phần làm giảm thiệt hại do hậu quả của việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán gây ra
Từ sự phân tích trên, việc nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam, giai đoạn
2011 – 2015, là thật sự cần thiết ở Việt Nam; do đó, tác giả chọn vấn đề “Các nhân
tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam” để làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sỹ
2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam, giai đoạn 2011 –
2015
Để đạt mục tiêu trên, luận án thực hiện các mục tiêu cụ thể sau:
+ Mục tiêu thứ nhất: Xác định mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam, và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố
+ Mục tiêu thứ hai: Khám phá và phân tích các nhân tố mới có ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam
Trang 202.2 Câu hỏi nghiên cứu
Để hoàn thành luận án, luận án cần trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
(1) Những nhân tố nào được xác định có ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố như thế nào?
(2) Ngoài các nhân tố được xác định qua kiểm định, có những nhân tố mới nào được khám phá có ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu trên, cho thấy đối tượng nghiên cứu là trình bày lại BCTC sau kiểm toán và các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) của Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp gắn kết, trong đó phương pháp định lượng là chính, còn phương pháp định tính là phụ gắn kết vào phương pháp định lượng; phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng là phương pháp nghiên cứu chính trong luận án này, phương pháp này nhằm giúp tác giả đạt được mục tiêu nghiên cứu, cụ thể như: Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán từ các lý thuyết và các nghiên cứu trước, thiết kế mô hình nghiên cứu và phát triển các giả thuyết nghiên cứu về các nhân tố
Trang 21ảnh hưởng đến trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam; theo sau đó, phương pháp hồi quy binary logistic được sử dụng để kiểm định
mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu, nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng và vai trò ảnh hưởng của chúng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng trong nghiên cứu này, như
là một phần nghiên cứu phụ, gắn kết vào phương pháp định lượng, nhằm giúp tác giả khám phá thêm những nhân tố mới có ảnh hưởng đến khả năng xảy ra việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam, hoặc những nhân tố không thể kiểm chứng bằng phương pháp thực nghiệm; theo đó, phương pháp nghiên cứu tình huống và phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc được sử dụng, đối tượng được phỏng vấn là kế toán, nhà quản lý của các công ty niêm yết; đồng thời nghiên cứu thực hiện khảo sát ý kiến của các KTV thực hiện kiểm toán BCTC của các công ty niêm yết; kết quả của phần nghiên cứu định tính kết hợp với kết quả của phần nghiên cứu chính, giúp tác giả xác định những nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam
5 Dữ liệu dùng cho nghiên cứu
Việc thu thập dữ liệu dùng cho nghiên cứu là rất quan trọng, có liên quan đến kết quả nghiên cứu Dữ liệu tác giả sử dụng cho nghiên cứu phần định lượng là dữ liệu thứ cấp, bao gồm dữ liệu tài chính và dữ liệu phi tài chính Những dữ liệu này được chính các công ty niêm yết công bố ở HOSE và HNX
Dữ liệu tài chính: Thu thập từ BCTC năm chưa được kiểm toán và BCTC năm được kiểm toán
+ Tác giả thu thập dữ liệu BCTC năm chưa được kiểm toán và dữ liệu BCTC năm sau khi được kiểm toán của tất cả các công ty niêm yết ở HOSE và HNX của Việt Nam Tất cả dữ liệu này được thu thập cho giai đoạn từ năm 2011 đến 2015
Dữ liệu này được các công ty niêm yết công bố trên trang web của chính công ty, hoặc trên trang web của HOSE và HNX
Trang 22Số lượng BCTC năm chưa kiểm toán và BCTC năm được kiểm toán, được thu thập cho từng công ty và cho từng năm Kết quả nghiên cứu sẽ thu được số lượng BCTC năm chưa được kiểm toán và cùng số đó là số BCTC năm đã được kiểm toán của tất cả các công ty niêm yết ở cả HOSE và HNX, loại trừ các đơn vị kinh doanh trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng
+ Về dữ liệu giá trị thị trường của từng công ty, tác giả thu thập dữ liệu từ bảng giá đóng cửa của ngày giao dịch kết thúc năm được công bố bởi HOSE và HNX
- Đối với dữ liệu phi tài chính:
Tất cả các dữ liệu phi tài chính liên quan đến đặc điểm của hội đồng quản trị, đặc điểm khác của công ty được thu thập cho tất các công ty niêm yết ở HOSE và HNX của Việt Nam Dữ liệu thu thập cho giai đoạn 2011 đến 2015 Dữ liệu này được thu thập trên các báo cáo thường niên hàng năm của các công ty từ 2011 - 2015 Tất
cả nguồn dữ liệu này được các công ty niêm yết công bố trong báo cáo thường niên của các công ty ở mỗi năm, cũng như trên trang web của HOSE và HNX
- Cuối cùng, những dữ liệu thu thập được từ phỏng vấn kế toán, nhà quản lý ở các công ty niêm yết và dữ liệu thu được từ hỏi ý kiến của KTV, những người thực hiện kiểm toán BCTC của các công ty niêm yết
Trang 23Thứ hai, dữ liệu sử dụng cho nghiên cứu đủ lớn (2.412 BCTC), xem xét cho
cả tổng thể nghiên cứu; do vậy, kết quả nghiên cứu phản ánh đúng bản chất vấn đề nghiên cứu của tổng thể được nghiên cứu; vì vậy, kết quả này là cơ sở đáng tin cậy
để sử dụng cho các nghiên cứu sau này về trình bày lại BCTC và các nhân tố ảnh hưởng
Thứ ba, mười một (11) nhân tố được xác định thông qua kiểm định, một nhân tố (1) được xác định bằng phương pháp thống kê và ba (3) nhân tố mới được khám phá trong nghiên cứu này, tác giả đã xây dựng được mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng xảy ra trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam; đóng góp này làm cơ sở cho những nghiên cứu trong tương lai về mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC
Cuối cùng, kết quả của nghiên cứu đưa ra các hàm ý liên quan đến quản trị công ty, cơ cấu sở hữu vốn, cũng như cơ sở nhận diện những đặc điểm của công ty
có khả năng xảy ra việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam
6.2 Về mặt thực tiễn
Kết quả của nghiên cứu này cung cấp những bằng chứng về thực trạng việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán, cũng như những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng xảy ra việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam, giai đoạn 2011 – 2015, qua đó giúp cho:
- Thứ nhất: Cơ quan quản lý TTCK nhận thấy thực trạng việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam, cũng như những nhân
tố ảnh hưởng, từ đó có những giải pháp nhằm làm suy giảm khả năng xảy ra việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết
- Thứ hai: Nhà quản lý các công ty niêm yết có cơ sở nhận diện những nhân tố có ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán; nhờ vậy trả lời được câu hỏi tại sao việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán lại xảy ra ở công ty; qua đó giúp nhà quản lý công ty niêm yết có những hướng khắc phục trong quản trị công ty để làm giảm thiểu
Trang 24khả năng xảy ra việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong tương lai, chính điều này góp phần làm tăng niềm tin của người sử dụng BCTC của công ty
- Thứ ba: Những nhà đầu tư chứng khoán, ngân hàng và những người sử dụng BCTC khác, có cơ sở để nhận diện những BCTC của những công ty niêm yết có khả năng trình bày lại sau kiểm toán; qua đó giúp họ thận trọng hơn trong việc sử dụng thông tin trên BCTC chưa được kiểm toán và có những quyết định kinh tế phù hợp
- Cuối cùng, kết quả của nghiên cứu này cung cấp thêm bằng chứng làm cơ sở nhận diện những công ty có khả năng trình bày lại BCTC, giúp KTV có kế hoạch kiểm toán phù hợp
7 Kết cấu của luận án
Để đạt được mục tiêu của luận án, ngoài phần mở đầu, nội dung của luận án được trình bày ở 5 chương như sau:
- Chương 1: Tổng quan về trình bày lại BCTC và các nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC trong các công ty niêm yết từ các nghiên cứu trước
Chương này nhằm tổng quan các nghiên cứu trước về trình bày lại BCTC và những nguyên nhân dẫn đến, cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng xảy ra việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết Vì vậy, chương này trình bày những nội dung như sau: Trình bày lại BCTC và các nguyên nhân dẫn đến trình bày lại BCTC; những hướng nghiên cứu trong và ngoài nước về các nhân
tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC trong các công ty niêm yết, những phát hiện của các nghiên trước, cũng như những phân tích, đánh giá về những đóng góp
và hạn chế của các nghiên cứu trước liên quan đến vấn đề nghiên cứu, cuối cùng là khe hổng nghiên cứu và vấn đề nghiên cứu của luận án
- Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương này, trình bày những cơ sở lý thuyết làm nền tảng cho việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng xảy ra việc trình bày lại BCTC trong các công
ty niêm yết; cũng như những khái niệm trong nghiên cứu Trên cơ sở các lý thuyết
đã được tổng hợp, kết hợp với kết quả của các nghiên cứu trước được trình bày ở chương 1, chương này trình bày các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng xảy ra việc
Trang 25trình bày lại BCTC sau kiểm toán rút ra từ cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước, làm cơ cở cho nghiên cứu này; cuối cùng là mô hình nghiên cứu thực nghiệm của luận án
- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp gắn kết, trong đó nghiên cứu định lượng là phương pháp chính; vì vậy, chương này sẽ trình bày nội dung và thiết kế nghiên cứu định lượng, mô hình nghiên cứu, các biến và thang đo của các biến Mặt khác, quy mô mẫu, phương pháp thu thập dữ liệu sử dụng cho nghiên cứu định lượng và phương pháp xử lý số liệu cũng được trình bày trong chương này; cuối cùng trình bày trình tự thực hiện phần nghiên cứu định tính
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những kết quả đạt được từ nghiên cứu của luận án được trình bày ở chương này, cụ thể như: Thực trạng việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công
ty niêm yết ở Việt Nam qua các năm; những kết quả đạt được từ nghiên cứu định lượng và định tính về những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng xảy ra việc trình bày lại BCTC trong các công ty niêm yết ở Việt Nam; cũng như mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố Mặt khác, chương này còn trình bày phần thảo luận kết quả đạt được, cũng như phân tích những điểm tương đồng và khác biệt của kết quả nghiên cứu này với những phát hiện của các nghiên cứu trước về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng xảy ra việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán
- Chương 5: Kết luận, các hàm ý và kiến nghị
Chương này trình bày những kết luận rút ra từ việc thực hiện toàn bộ luận án, những mục tiêu đạt được và chưa đạt được, cũng như những đóng góp và những hạn chế của luận án; bên cạnh, chương này còn trình bày những hàm ý và những gợi
ý chính sách được đưa ra, nhằm làm giảm khả năng xảy ra việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam, cũng như những kiến nghị đối với các đối tượng sử dụng thông tin trên BCTC khi chưa được kiểm toán
Trang 26Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TRÌNH BÀY LẠI BCTC VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC TRÌNH BÀY LẠI BCTC TRONG CÁC CÔNG TY
NIÊM YẾT TỪ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Giới thiệu
Việc tìm hiểu những nghiên cứu trước liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm giúp tác giả nhận thấy những nguyên nhân dẫn đến trình bày lại BCTC, những nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC được các nghiên cứu trước phát hiện, cũng như những nhân tố chưa được các nghiên cứu trước phát hiện; qua đó giúp tác giả tìm thấy được khe hổng nghiên cứu và xác định vấn đề nghiên cứu của luận án Vì vậy, chương này tập trung trình bày những nội dung chính như sau: Trình bày lại BCTC và những nguyên nhân dẫn đến trình bày lại BCTC; các nghiên cứu trước về những nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC; cũng như những phân tích, đánh giá, những đóng góp từ việc tổng hợp các nghiên cứu trước; cuối cùng, trình bày khe hổng cho nghiên cứu và vấn đề nghiên cứu của luận án
1.1 Trình bày lại BCTC và những nguyên nhân dẫn đến trình bày lại BCTC
Theo FASB, một sự trình bày lại BCTC như là một bản sửa đổi của BCTC đã ban hành trước đó để sửa lỗi Việc các công ty niêm yết phát hành lại BCTC có sự sửa đổi so với BCTC phát hành trước đó, xảy ra phổ biến ở nhiều quốc gia và được nhiều nghiên cứu đề cập
Nguyên nhân dẫn đến trình bày lại BCTC có nhiều nguyên nhân, được một số nghiên cứu trước ở các nước chỉ ra như: Plumlee & Yohn (2010), GAO (2007) và DeZoort (2011) Plumlee & Yohn (2010) cho rằng việc trình bày lại BCTC do bốn nguyên nhân như: Lỗi hệ thống nội bộ, cố ý thao túng (gian lận), do các giao dịch phức tạp và cuối cùng là do một số đặc điểm của chuẩn mực kế toán GAO (2007)
cho rằng trình bày lại BCTC có thể do nhầm lẫn và cũng có thể do gian lận
DeZoort (2011) nêu bật một số nguyên nhân tiềm ẩn dẫn đến việc trình bày lại BCTC như: Sự phức tạp của chuẩn mực kế toán, hoặc các giao dịch; sự yếu kém trong kiểm soát và quản lý tài chính; gia tăng sự bảo thủ của kiểm toán và ủy ban kiểm toán; áp dụng mức trọng yếu rộng; thiếu minh bạch và cuối cùng là gian lận
Trang 27Tompson & McCoy (2008) cho rằng những sự trình bày lại là do lỗi kế toán
và sự thay đổi kiểm toán Cụ thể, những sự trình bày lại là do mua bán, sáp nhập, sự thay đổi phương pháp kế toán, các hoạt động bị ngừng hoạt động, hủy bỏ; do sai sót, do thay đổi trong sự trình bày và thay đổi các ước tính kế toán
Nhìn chung trình bày lại BCTC bao gồm cả lý do gian lận, nhưng hầu hết là
do nhầm lẫn của kế toán và áp dụng sai các nguyên tắc kế toán được chấp nhận Sau đây, nghiên cứu làm rõ một số nguyên nhân dẫn đến trình bày lại BCTC:
+ Lỗi trong kế toán: Khi một công ty trình bày lại BCTC đã phát hành trước
đó để sửa những lỗi kế toán; kế toán viên mắc phải sai lầm trong quá trình ghi sổ và lập BCTC khi không tuân thủ các tiêu chuẩn kế toán hoặc không hiểu chúng; nói khác đi, nhầm lẫn về kế toán có thể bắt nguồn từ sự thiếu hụt trình độ của nhân viên hoặc sự khác biệt giữa các tiêu chuẩn nghề nghiệp
+ Hệ thống kiểm soát nội bộ yếu: Khi một công ty có thể trình bày lại
BCTC phát hành trước đó, nếu KTV độc lập phát hiện ra những điểm yếu trong thủ tục, cơ chế kiểm soát BCTC; PCAOB định nghĩa yếu điểm trong kiểm soát nội bộ như là một sự thiếu hụt dẫn tới nhiều hơn một khả năng từ xa, mà một lỗi trong BCTC của công ty sẽ không bị phát hiện Kiểm soát là tập hợp các hướng dẫn mà lãnh đạo cấp cao thiết lập để ngăn ngừa tổn thất hoạt động do lỗi, sự cố công nghệ,
sự bỏ sót của nhân viên hoặc bất cẩn và trộm cắp Kiểm soát nội bộ yếu làm gia tăng khả năng trình bày lại BCTC
+ Gian lận: Là hành vi cố ý do một hay nhiều người trong Ban quản trị, Ban
Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện bằng các hành vi gian dối để thu lợi bất chính hoặc bất hợp pháp (Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh, 2017) Có hai loại gian lận; đó là lập BCTC gian lận và hành vi biển thủ tài sản; trong nghiên cứu này gian lận được đề cập chủ yếu là lập BCTC gian lận Lập BCTC gian lận là hành
vi cố ý, có chủ đích của Ban Giám đốc khi điều chỉnh BCTC nhằm làm người sử dụng hiểu sai về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh, khả năng sinh lời, các luồng tiền của đơn vị kiểm toán (Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh, 2017) Do vậy, việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam được
Trang 28xem xét trong nghiên cứu này bao gồm cả lý do lập BCTC gian lận; liệu rằng Ban giám đốc có cố tình điều chỉnh BCTC quý 4 để đánh lừa người sử dụng BCTC, dẫn đến công ty phải trình bày lại BCTC sau kiểm toán
+ Những đặc điểm của chuẩn mực kế toán: Plumlee & Yohn (2010) cho
rằng những đặc điểm của chuẩn mực kế toán có đóng góp đến trình bày lại BCTC; các đặc điểm của chuẩn mực kế toán được Plumlee & Yohn (2010) đề cập như: Sự thiếu rõ ràng trong việc áp dụng các chuẩn mực kế toán; hoặc sự gia tăng của nhiều tài liệu, vì chuẩn mực ban đầu thiếu sự rõ ràng; hoặc sử dụng các phán đoán trong việc áp dụng chuẩn mực, hoặc áp dụng sai các nguyên tắc chi tiết và phức tạp
+ Sự phức tạp của các giao dịch: Plumlee & Yohn (2010) đề cập sự trình
bày lại BCTC do đóng góp của các giao dịch phức tạp; sự phức tạp có nhiều khả năng liên quan đến vốn chủ sở hữu, các vấn đề mua/đầu tư Những trường hợp sau cũng có thể dẫn đến công ty phát sinh các giao dịch phức tạp như: Hợp nhất kinh doanh, các công cụ tài chính phái sinh, thuế thu nhập tương lai, hợp nhất báo cáo tài chính, các giao dịch nội bộ
Trình bày lại BCTC đề cập trong nghiên cứu này, là sau kiểm toán công ty niêm yết có việc trình bày lại BCTC, bất kể là việc trình bày lại này là do sự nhầm lẫn của kế toán, hay do gian lận, hay do bất kỳ những lý do khác Vì vậy, những nghiên cứu trước có liên quan đến những nhân tố ảnh hưởng đến gian lận BCTC, hoặc trình bày sai sót trọng yếu BCTC, hoặc quản lý lợi nhuận, hoặc trình bày lại BCTC đều là đối tượng được tác giả tổng hợp, nhằm giúp tác giả xác định các nhân
tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC; qua đó, có cơ sở để phát triển các giả thuyết và kiểm định sự ảnh hưởng của chúng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam
1.2 Các nghiên cứu ở nước ngoài về những nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán
Nghiên cứu về trình bày lại BCTC, hoặc gian lận BCTC được nhiều nghiên cứu thực hiện ở nhiều quốc gia khác nhau như: Mỹ, Úc, Canada, Trung quốc, Iran, Malaysia …(Beasley, 1996; Chen và cộng sự, 2006; Ahmed & Goodwin, 2007;
Trang 29GAO, 2007; Abdullah và cộng sự, 2010; Zhizhong và cộng sự, 2011; COSO, 2010;
Francis và cộng sự, 2012; Rezaei & Mahmoudi, 2013; Abdoli & Nazemi, 2013;
Srinivasan, 2013; Ahmadabadi và cộng sự, 2014;…); những nghiên cứu kể trên cố gắng tìm kiếm bằng chứng về việc trình bày lại BCTC, hoặc gian lận BCTC trong các công ty niêm yết chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố nào; có nhiều hướng tiếp cận nghiên cứu khác nhau để tìm kiếm những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng xảy ra việc trình bày lại BCTC; căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu được các nghiên cứu trước hướng đến, tác giả tổng hợp theo ba hướng tiếp cận nghiên cứu như sơ đồ 1.1
Sơ đồ 1.1: Các hướng tiếp cận nghiên cứu của các nghiên cứu trước về những nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC (Nguồn: Tác giả tổng hợp)
- Hướng tiếp cận nghiên cứu thứ nhất, là đặc điểm của HĐQT và cơ cấu sở hữu vốn công ty, hoặc chỉ đặc điểm của HĐQT công ty ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC, hoặc gian lận BCTC; hướng nghiên cứu này có các nghiên cứu như: Beasley (1996), COSO (2010), Lobo & Zhao (2013), Srinivasan (2005), Abbot và cộng sự (2004), Agrawal & Chadha (2005), Abdullah và cộng sự (2010)
Đặc điểm kinh tế và những đặc điểm khác của công ty
Trình bày lại BCTC
Trang 30- Hướng tiếp cận nghiên cứu thứ hai, là những đặc điểm có liên quan đến kiểm toán BCTC ở công ty niêm yết; hướng nghiên cứu này có một số tác giả như: Lazer và cộng sự (2004), Vivek & Myungsoo (2013), Tompson & McCoy (2008), Stanley & DeZoort (2007)
- Hướng tiếp cận nghiên cứu cuối cùng là những đặc điểm kinh tế và những đặc điểm khác của công ty niêm yết Theo hướng này có các nghiên cứu như:
Kinney & McDaniel (1989), GAO (2007), COSO (2010), Ahmed & Goodwin (2007), Rezaei & Mahmoudi (2013)
Nhìn chung ba hướng nghiên cứu kể trên có những khác biệt so với khung nghiên cứu về chất lượng kiểm toán của Defond & Zhang (2014) Trong khi khung nghiên cứu về chất lượng kiểm toán xem xét những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán, và chất lượng của kiểm toán được đo lường bởi nhiều cách khác nhau, trong đó có sử dụng trình bày lại BCTC, chính sự đo lường chất lượng kiểm toán khác nhau, nên các mô hình nghiên cứu về chất lượng kiểm toán cũng khác nhau và ít nhiều khác với mô hình nghiên cứu về trình bày lại BCTC; cụ thể, các hướng nghiên cứu về trình bày lại BCTC nêu trên, xem xét cụ thể việc trình bày lại BCTC ở các công ty niêm yết chịu ảnh hưởng bởi những nhân tố nào; ở những khía cạnh xem xét khác nhau, nên có những hướng nghiên cứu khác nhau về các nhân tố ảnh hưởng; tuy nhiên, các hướng nghiên cứu về trình bày lại BCTC cùng chung mục đích, đó là tìm kiếm câu trả lời về những nhân tố ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC ở các công ty niêm yết
Dưới đây, tác giả khảo lược những nghiên cứu đề cập đến những nhân tố ảnh
hưởng đến việc trình bày lại BCTC:
1.2.1 Những nghiên cứu về ảnh hưởng của đặc điểm HĐQT và cơ cấu sở hữu vốn công ty đến khả năng xảy ra trình bày lại BCTC
Những nghiên cứu trước ở các nước như: Mỹ, Úc, Trung quốc, Malaysia xem xét ảnh hưởng của đặc điểm HĐQT và cơ cấu sở hữu vốn của công ty đến trình bày lại BCTC, hoặc gian lận BCTC Trong đó nổi lên nghiên cứu của Beasley (1996),
Abbott và cộng sự (2001), Agrawal & Chadha (2005), Chen và cộng sự (2006),
Trang 31GAO (2007), COSO (2010), Abdullah và cộng sự (2010), Zhizhong và cộng sự
(2011), Abdoli & Nazemi (2013)…Những nghiên cứu trên tập trung vào tìm kiếm bằng chứng về ảnh hưởng của đặc điểm HĐQT công ty đến trình bày lại BCTC, hoặc gian lận BCTC Họ thiết kế nghiên cứu dựa vào những đặc điểm của HĐQT công ty, hoặc đặc điểm của HĐQT và cấu trúc vốn chủ sở hữu của công ty; những đặc điểm như: Quy mô HĐQT, sự kiêm nhiệm của chủ tịch HĐQT, sự độc lập của HĐQT, tỷ lệ sở hữu công ty của ban giám đốc, tỷ lệ sở hữu công ty của ban giám đốc và HĐQT, giám đốc điều hành thuộc về gia đình…) Cụ thể như sau:
Sự độc lập của HĐQT được xác định dựa vào tỷ lệ các thành viên bên ngoài trong HĐQT, kết quả của một số nghiên cứu tìm thấy sự độc lập của HĐQT có ảnh hưởng đến khả năng xảy ra trình bày lại BCTC (Zhizhong và cộng sự, 2011), hoặc gian lận BCTC (Beasley,1996; Chen và cộng sự, 2006); kết quả nghiên cứu của họ cho thấy, những công ty có tỷ lệ các thành viên bên ngoài trong HĐQT cao, khả năng xảy ra trình bày lại BCTC, hoặc gian lận BCTC sẽ ít hơn Trong khi các nghiên cứu khác lại chưa tìm thấy sự độc lập của HĐQT thông qua tỷ lệ thành viên bên ngoài trong HĐQT có ảnh hưởng đến khả năng xảy ra trình bày lại BCTC (Abbott và cộng sự, 2001; Agrawal & Chadha, 2005; Abdullah và cộng sự, 2010; Ahmadabadi và cộng sự, 2014)
Quy mô HĐQT thể hiện qua số thành viên của HĐQT, kết quả nghiên cứu của Beasley (1996) tìm thấy quy mô HĐQT có ảnh hưởng đến khả năng gian lận BCTC,
sự gia tăng quy mô HĐQT làm gia tăng khả năng xảy ra gian lận BCTC; kết quả của Beasley (1996) phù hợp với lập luận của Jensen (1993), đó là vi mô HĐQT nhỏ hơn cung cấp chức năng kiểm soát tốt hơn HĐQT có quy mô lớn; trong khi các nghiên cứu khác chưa phát hiện quy mô HĐQT có ảnh hưởng đến khả năng xảy ra trình bày lại BCTC (Agrawal & Chadha, 2005; GAO, 2007; Abdullah và cộng sự, 2010; COSO, 2010), hoặc sai sót trọng yếu BCTC (Abbott và cộng sự, 2001)
Đặc điểm thành viên của HĐQT, hoặc thành viên của ủy ban kiểm toán có chuyên môn tài chính, nhiều nghiên cứu tìm thấy những công ty có thành viên trong HĐQT, hoặc ủy ban kiểm toán có chuyên môn tài chính, khả năng xảy ra trình bày
Trang 32lại BCTC sẽ giảm (Abbott và cộng sự, 2004; Agrawal & Chadha, 2005; Lary, & Taylor, 2012) Vì một khi trong HĐQT có thành viên có chuyên môn về tài chính,
họ sẽ giám sát tốt hơn quá trình lập và trình bày BCTC của công ty, do vậy góp phần làm giảm khả năng xảy ra trình bày lại BCTC
Đặc điểm về số cuộc họp của HĐQT được xác định thông qua số lần họp của HĐQT trong một năm, một số nghiên cứu tìm thấy số cuộc họp của HĐQT trong năm có ảnh hưởng đến gian lận BCTC (Chen và cộng sự, 2006), hoặc sai sót trọng yếu BCTC (Abbott và cộng sự, 2001); Chen và cộng sự (2006) tìm thấy số cuộc họp của HĐQT có mối tương quan thuận với khả năng gian lận BCTC, trong khi Abbott
và cộng sự (2001) tìm thấy những công ty có số cuộc họp của HĐQT trong năm càng nhiều, khả năng xảy ra sai sót trọng yếu BCTC ít hơn
Đặc điểm về sự kiêm nhiệm của chủ tịch HĐQT, sự kiêm nhiệm của chủ tịch HĐQT được nhiều nghiên cứu xác định đó là một cá nhân đồng thời kiêm cả chủ tịch HĐQT và giám đốc, hoặc tổng giám đốc điều hành của một công ty; Efendi và cộng sự (2007) tìm thấy sự trình bày sai trọng yếu BCTC xảy ra ở những công ty,
mà ở đó CEO kiêm chủ tịch HĐQT Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu khác đều chưa tìm thấy sự kiêm nhiệm của chủ tịch HĐQT có ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC, hoặc gian lận, hoặc sai sót trọng yếu BCTC (Beasley, 1996; Abbott và cộng sự, 2001; Agrawal & Chadha, 2005; Chen và cộng sự, 2006; Abdullah và cộng
sự, 2010; Zhizhong và cộng sự, 2011)
Đặc điểm giám đốc điều hành thuộc về gia đình, nghiên cứu của Agrawal & Chadha (2005) tìm thấy những công ty có giám đốc điều hành thuộc về công ty gia đình sáng lập, có nhiều khả năng xảy ra trình bày lại BCTC hơn các công ty khác Đặc điểm về ủy ban kiểm toán độc lập, Abbott và cộng sự (2001) tìm thấy công
ty có ủy ban kiểm toán độc lập, góp phần làm giảm khả năng xảy ra sai sót trọng yếu BCTC; trong khi nghiên cứu của Agrawal & Chadha (2005) không tìm thấy sự ảnh hưởng của ủy ban kiểm toán độc lập đến khả năng xảy ra trình bày lại BCTC Tuy nhiên Abbott và cộng sự (2001) và Agrawal & Chadha (2005) có điểm phát hiện giống nhau ở chỗ những công ty có HĐQT, hoặc ủy ban kiểm toán có một giám đốc độc lập có chuyên môn về tài chính, ít có khả năng xảy ra trình bày lại BCTC
Trang 33Đặc điểm về sở hữu của cổ đông lớn bên ngoài, một số nghiên cứu tìm thấy tỷ
lệ sở hữu của cổ đông lớn bên ngoài có thể giúp ngăn chặn việc trình bày sai trọng yếu, vì vậy khả năng xảy ra trình bày lại BCTC sẽ ít hơn (Abdullah và cộng sự, 2010; Zhizhong và cộng sự, 2011); Wang & Wu (2011) tìm thấy những công ty có
sự trình bày lại BCTC là những công ty có tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư tổ chức tương đối thấp, có cổ đông nhà nước kiểm soát
Đặc điểm về tỷ lệ sở hữu vốn của ban giám đốc và hội đồng quản trị, mặc dù có nhiều nghiên cứu trước xem xét đến sự ảnh hưởng của yếu tố này đến gian lận BCTC, hoặc trình bày lại BCTC (Beasley, 1996; Agrawal & Chadha, 2005; Chen và cộng sự, 2006; Abdullah và cộng sự, 2010; Ahmadabadi và cộng sự, 2014; Aziz và cộng sự, 2017), tuy nhiên rất ít nghiên cứu tìm thấy bằng chứng tỷ lệ sở hữu công ty bởi ban giám đốc và HĐQT có ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC, hoặc gian lận BCTC Mặc dù, Aziz và cộng sự (2017) tìm thấy bằng chứng chủ sở hữu quản lý có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng xảy ra trình bày lại BCTC; tuy nhiên phát hiện của
họ là chủ sở hữu quản lý làm giảm khả năng xảy ra trình bày lại BCTC, hay nói cách khác chủ sở hữu quản lý có hiệu quả trong việc giám sát và kỷ luật các nhà quản lý để đảm bảo các khoản mục của BCTC được trình bày không bị sai
Tóm lại, có nhiều nghiên cứu tìm thấy bằng chứng một số đặc điểm của
HĐQT công ty có ảnh hưởng đến trình bày lại BCTC (gồm cả gian lận và sai sót trọng yếu BCTC) (Beasley, 1996; Chen và cộng sự; 2006; Zhizhong và cộng sự, 2011) Tuy nhiên, cũng có nhiều nghiên cứu khác chưa tìm thấy bằng chứng về những đặc điểm của HĐQT có ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC (Agrawal & Chadha, 2005; Abdullah và cộng sự, 2010; Abdoli & Nazemi, 2013; Ahmadabadi
và cộng sự, 2014; Abbott và cộng sự, 2002) Cũng có sự tương đồng của nhiều nghiên cứu trong việc phát hiện một số đặc điểm của HĐQT có ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC, những đặc điểm đó như: Tỷ lệ giám đốc bên ngoài trong
HĐQT, thành viên của HĐQT hoặc ủy ban kiểm toán có chuyên môn tài chính
Ở Việt Nam, một nền kinh tế mới nổi, đặc điểm môi trường kinh tế - xã hội có khác so với các nước có nền kinh tế phát triển Đặc biệt về quản trị doanh nghiệp ở Việt Nam còn yếu, liệu rằng những đặc điểm của HĐQT, cơ cấu sở hữu vốn của các
Trang 34công ty có ảnh hưởng đến khả năng các công ty niêm yết trình bày lại BCTC sau kiểm toán? Nghiên cứu ảnh hưởng của những đặc điểm này đến việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam, là thật sự cần thiết
1.2.2 Những nghiên cứu đề cập đến ảnh hưởng của những đặc điểm liên quan đến kiểm toán BCTC ở các công ty niêm yết đến khả năng xảy ra trình bày lại BCTC
Lý thuyết đại diện đề cập công ty như là một hợp đồng của các nhóm khác nhau, đó là giữa người quản lý và cổ đông, giữa cổ đông và chủ nợ Người đại diện luôn có xu hướng hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ sở hữu Vì vậy, cần thiết lập những cơ chế khác nhau để người đại diện bảo vệ lợi ích của các bên liên quan khác, một trong những cơ chế đó là kiểm toán BCTC (Jensen & Meckling, 1976; Chow & Rice, 1982; Watts & Zimmerman, 1986) Sự hiệu quả của cơ chế này, tùy thuộc vào chất lượng của kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán BCTC
Có nhiều nghiên cứu tập trung vào xem xét ảnh hưởng của những đặc điểm liên quan đến kiểm toán BCTC ở các công ty niêm yết như: Vivek & Myungsoo (2013), Lobo & Zhao (2013), Blankley và cộng sự (2013), Kinney và cộng sự (2004), Lazer và cộng sự (2004),….Những nghiên cứu trên xem xét ảnh hưởng của phí kiểm toán, phí các dịch vụ khác mà công ty kiểm toán cung cấp cho công ty niêm yết, BCTC của công ty niêm yết có được kiểm toán bởi công ty kiểm toán có
uy tín, cuối cùng công ty niêm yết có sự thay đổi công ty kiểm toán thực hiện BCTC
Kết quả của các nghiên cứu trước tìm thấy bằng chứng một số đặc điểm liên quan đến kiểm toán BCTC ở các công ty niêm yết có ảnh hưởng đến khả năng công ty trình bày lại BCTC như: Uy tín của công ty kiểm toán thực hiện kiểm toán BCTC, phí kiểm toán, sự nổ lực kiểm toán, các dịch vụ khác mà công ty niêm yết nhận sự cung cấp từ công ty kiểm toán, công ty niêm yết có sự thay đổi công ty kiểm toán Cụ thể ảnh hưởng của một số nhân tố được các nghiên cứu trước phát hiện như sau:
Thứ nhất, đề cập đến phí kiểm toán: Có những nghiên cứu gần đây như:
Blankley và cộng sự (2012), Lobo & Zhao (2013) cho rằng phí kiểm toán có ảnh
Trang 35hưởng đến trình bày lại BCTC Blankley và cộng sự (2012) tìm thấy phí kiểm toán
có mối tương quan nghịch đến khả năng trình bày lại BCTC; họ cho rằng phí kiểm toán thấp bất thường dẫn đến có nhiều khả năng xảy ra trình bày lại BCTC trong tương lai
Thứ hai, đề cập đến phí các dịch vụ khác mà công ty niêm yết trả cho công ty kiểm toán độc lập: Nghiên cứu của Kinney và cộng sự (2004) đề cập đến phí dịch
vụ thuế mà công ty kiểm toán được nhận khi cung cấp dịch vụ thuế cho khách hàng Kết quả nghiên cứu của Kinney và cộng sự (2004) tìm thấy bằng chứng phí dịch thuế có mối tương quan nghịch đến sự trình bày lại BCTC của các công ty
Thứ ba, công ty niêm yết có sự thay đổi công ty kiểm toán BCTC: Lazer và cộng sự (2004) cho rằng những công ty niêm yết có sự thay đổi công ty kiểm toán,
có nhiều khả năng xảy ra trình bày lại BCTC hơn những công ty không thay đổi công ty thực hiện kiểm toán BCTC Từ đó, họ thiết kế nghiên cứu để xem xét mối tương quan giữa sự thay đổi công ty kiểm toán và khả năng công ty trình bày lại
BCTC Kết quả họ tìm thấy bằng chứng sự trình bày lại BCTC ở các công ty có sự
thay đổi công ty kiểm toán cao hơn các công ty không có sự thay đổi công ty kiểm toán Điều đó cho thấy, sự thay đổi công ty kiểm toán BCTC có ảnh hưởng đến sự trình bày lại BCTC ở các công ty Lazer và cộng sự (2004) cho rằng, những kiểm toán viên mới đến thường thực hành kiểm soát chặt chẽ cho những khách hàng kiểm toán mới hơn là những khách hàng đang kiểm toán từ trước giờ
Vivek & Myungsoo (2013) cũng tìm thấy có sự tương quan thuận giữa sự trình bày lại BCTC và sự thay đổi công ty kiểm toán; nếu KTV mới đến không xác định được, hoặc nghi ngờ những sự lựa chọn các chính sách kế toán của khách hàng được sử dụng dưới thời KTV tiền nhiệm, những KTV này sẽ gặp những người chủ
sở hữu của nó (Lys & Watts, 1994; Whitman, 2002), do vậy khả năng xảy ra trình
bày lại BCTC cao hơn
Cuối cùng, đề cập đến quy mô của công ty kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán BCTC ở các công ty niêm yết: Nghiên cứu về quy mô của công ty kiểm toán
có ảnh hưởng đến khả năng xảy ra trình bày lại BCTC, Zhizhong và cộng sự (2011)
Trang 36và Francis và cộng sự (2012) cung cấp bằng chứng có mối tương quan nghịch giữa
BCTC được kiểm toán bởi nhóm Big 4 và khả năng xảy ra trình bày lại BCTC Điều đó cho thấy những công ty được nhóm Big 4 kiểm toán BCTC, khả năng xảy
ra trình bày lại BCTC ít hơn ở những công ty khác
Tóm lại, một số đặc điểm liên quan đến kiểm toán BCTC ở các công ty niêm yết có ảnh hưởng đến việc trình bày lại BCTC như: Công ty niêm yết có sự thay đổi công ty kiểm toán, BCTC của công ty niêm yết được kiểm toán bởi công ty kiểm toán độc lập có uy tín, phí kiểm toán, cũng như phí các dịch vụ khác mà công ty niêm yết trả cho công ty kiểm toán BCTC; do vậy việc xem xét ảnh hưởng của những đặc điểm này đến khả năng xảy ra việc trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam là cần thiết
1.2.3 Những nghiên cứu về ảnh hưởng của đặc điểm kinh tế và những đặc điểm khác của công ty đến khả năng xảy ra việc trình bày lại BCTC
Khi đề cập đến đặc điểm kinh tế và những đặc điểm khác của công ty, không thể không kể đến những đặc điểm sau: Quy mô công ty, kết quả kinh doanh (lãi/lỗ) qua các năm, tốc độ tăng trưởng, tỷ số nợ của công ty, chất lượng BCTC ở những năm trước, số năm niêm yết, ngành nghề kinh doanh,… Nhiều nghiên cứu trước cung cấp bằng chứng những đặc điểm sau của công ty có ảnh hưởng đến khả năng xảy ra trình bày lại BCTC như: Những công ty có quy mô nhỏ, tình hình kinh doanh thua lỗ, hoặc lợi nhuận thấp, khả năng xảy ra trình bày lại BCTC cao hơn (Kinney
& McDaniel, 1989; Ahmed & Goodwin, 2007; Rezaei & Mahmoudi, 2013) Ảnh hưởng của các đặc điểm kinh tế và những đặc điểm khác của công ty được các nghiên cứu phát hiện như sau:
- Xem xét ảnh hưởng của tình hình kinh doanh thua lỗ đến khả năng xảy ra công ty trình bày lại BCTC ở năm hiện tại, đã được Kinney & McDaniel (1989), Ahmed & Goodwin (2007), và Rezaei & Mahmoudi (2013) tìm thấy Cụ thể, nghiên cứu của Kinney & McDaniel (1989) phát hiện những công ty kinh doanh không có lợi nhuận, hoặc lợi nhuận thấp có khả năng trình bày lại BCTC cao hơn những công
ty khác Nghiên cứu của Rezaei & Mahmoudi (2013) cung cấp thêm bằng chứng về
Trang 37mối tương quan thuận giữa sự kinh doanh thua lỗ ở năm trước và sự trình bày lại BCTC ở năm hiện tại Wang & Wu (2011) cũng tìm thấy những công ty có sự trình bày lại BCTC là những công ty có khả năng sinh lời yếu
- Đề cập đến ảnh hưởng của quy mô công ty, nhiều nghiên cứu trước tìm thấy quy mô công ty có ảnh hưởng đến khả năng xảy ra trình bày lại BCTC như: Rezaei
& Mahmoudi (2013), Kinney & McDaniel (1989); Ahmed & Goodwin (2007) Trong đó, Kinney & McDaniel (1989) phát hiện, trình bày lại BCTC xảy ra ở những công ty có quy mô nhỏ; Ahmed & Goodwin (2007) cũng tìm thấy những công ty nhỏ hơn, khả năng xảy ra việc trình bày lại lợi nhuận cao hơn Đến nghiên cứu của Rezaei & Mahmoudi (2013) cũng phát hiện quy mô công ty có mối tương quan nghịch đến sự trình bày lại BCTC; kết quả này phù hợp với Kinney & McDaniel (1989) và Ahmed & Goodwin (2007)
- Đề cập đến tốc độ tăng trưởng của công ty cũng có nhiều nghiên cứu xem xét như: Loebbecke và cộng sự (1989), Bell và cộng sự (1991), Ahmed & Goodwin (2007); Richardson và cộng sự (2002) Trước hết, Richardson và cộng sự (2002) tìm thấy bằng chứng những công ty tăng trưởng cao có khuynh hướng trình bày sai lợi nhuận Mặt khác, Loebbecke và cộng sự (1989), Bell và cộng sự (1991) cho rằng nếu công ty biết mình tăng trưởng nhanh, nhà quản lý sẽ trình bày sai BCTC ở năm hiện tại, để chuyển cho những giai đoạn suy giảm, nhằm đánh lừa mọi người rằng công ty đang phát triển ổn định; qua đó cho thấy sự tăng trưởng công ty có mối tương quan thuận đến sự trình bày lại BCTC
- Xem xét ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính (tình hình nợ) công ty đến khả năng xảy ra trình bày lại BCTC, nhiều nghiên cứu phát hiện những công ty có nợ cao, khả năng xảy ra trình bày lại BCTC cao hơn các công ty khác (Wang & Wu, 2011; Abdullah và cộng sự, 2010; Ahmed & Goodwin, 2007; Kinney & McDaniel, 1989)
- Đề cập ảnh hưởng của giá trị thị trường so với giá trị sổ sách, Ahmed &
Goodwin (2007) tìm thấy sự khác nhau giữa hai nhóm công ty có trình bày lại BCTC và không trình bày lại BCTC có liên quan đến giá trị thị trường so với giá trị
sổ sách, trong khi nghiên cứu của Rezaei & Mahmoudi (2013) tìm thấy mối liên hệ giữa giá trị sổ sách so với giá trị thị trường và sự trình bày lại BCTC, trong đó nổi
Trang 38lên, công ty có tỷ số giá trị sổ sách/giá trị thị trường càng cao, sự trình bày lại BCTC càng nhiều
Tóm lại, một số đặc điểm kinh tế và những đặc điểm khác của công ty có ảnh
hưởng đến khả năng xảy ra việc trình bày lại BCTC được nhiều nghiên cứu ở các nước tìm thấy; do vậy, việc xem xét sự ảnh hưởng của các đặc điểm này đến khả năng xảy ra trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam là cần thiết
Bảng tổng hợp các nghiên cứu trước về ảnh hưởng của các nhân tố đến trình
bày lại BCTC được trình bày ở Phụ lục 1
1.3 Các nghiên cứu trong nước về ảnh hưởng của các nhân tố đến trình bày lại BCTC
Ở Việt Nam, tác giả nhận thấy có một số bài viết đề cập đến sự chênh lệch số liệu giữa trước và sau kiểm toán ở các công ty niêm yết Nhưng các bài viết này chỉ dừng lại ở chỗ thống kê một số công ty có BCTC trình bày lại sau kiểm toán, hoặc chỉ ra những khoản mục trình bày lại và có những nhận định chủ quan về những nguyên nhân dẫn đến sự trình bày lại đó (Mỹ Hà và Công Lý, 2014; Minh An, 2015;
Vị Xuyên, 2015)
Gần đây, có những nghiên cứu định lượng được thực hiện để xác định những nhân tố ảnh hưởng đến sai sót trọng yếu trên BCTC, hoặc trình bày lại BCTC sau kiểm toán; cụ thể như: Nghiên cứu của Trần Thị Giang Tân và Trương Thùy Dương (2016) tìm thấy bằng chứng một số đặc tính của HĐQT (Quy mô HĐQT, tỷ lệ thành viên không điều hành, số thành viên có quan hệ gia đình,….) có ảnh hưởng đến sai sót trọng yếu trên BCTC; hoặc, nghiên cứu của Nguyễn Công Phương và Lâm Xuân Đào (2016) tìm thấy sự kiêm nhiệm của chủ tịch HĐQT và giám đốc, số công ty con
có ảnh hưởng đến sai phạm trên BCTC của các công ty niêm yết; hoặc nghiên cứu của Nguyễn Văn Hương (2016) tìm thấy những công ty bị áp lực lợi nhuận, khả năng xảy ra trình bày lại BCTC sau kiểm toán cao hơn những công ty không bị áp lực lợi nhuận Nghiên cứu gần nhất của Nguyễn Việt và Nguyễn Văn Hương (2017) tìm thấy
Trang 39những công ty gặp khó khăn về kinh tế như: Kinh doanh thua lỗ ở năm trước, tỷ số nợ cao, bị áp lực lợi nhuận ở năm hiện tại, giá trị thị trường so với giá trị sổ sách thấp, khả năng xảy ra điều chỉnh lại chỉ tiêu lợi nhuận trên BCTC sau kiểm toán cao hơn các công ty khác
Xem xét về ảnh hưởng của những đặc tính của HĐQT đến sai sót trọng yếu trên BCTC (Trần Thị Giang Tân và Trương Thùy Dương, 2016); kết quả của họ cho thấy rằng, quy mô HĐQT có mối tương quan thuận đến sai sót trọng yết trên BCTC, trong khi tỷ lệ thành viên không điều hành trong HĐQT có mối tương quan nghịch đến sai sót trọng yết trên BCTC; họ cũng tìm thấy những công ty có thành viên HĐQT có quan hệ gia đình, khả năng xảy ra sai sót trọng yếu cao hơn, trong khi thành viên HĐQT có chuyên môn tài chính, khả năng xảy ra sai sót trọng yếu trên BCTC ít hơn, cuối cùng họ tìm thấy, nhiệm kỳ của HĐQT có ảnh hưởng đến sai sót trọng yếu trên BCTC Tuy nhiên kết quả nghiên cửu của Nguyễn Công Phương và Lâm Xuân Đào (2016) không tìm thấy sự ảnh hưởng của nhân tố sự độc lập của hội đồng quản trị đến sai phạm trên BCTC Trong khi, kết quả nghiên cứu của Nguyễn Trọng Nguyên (2015) tìm thấy, một số đặc tính của HĐQT có ảnh hưởng đến chất lượng BCTC như: Sự độc lập của HĐQT, trong HĐQT có thành viên có chuyên môn tài chính và số cuộc họp của HĐQT; tuy nhiên nghiên cứu của Nguyễn Trọng Nguyên (2015) đo lường biến phụ thuộc (chất lượng BCTC) gián tiếp, không giống như nghiên cứu của Trần Thị Giang Tân và Trương Thùy Dương (2016), hoặc Nguyễn Công Phương và Lâm Xuân Đào (2016)
Nghiên cứu của Bùi Thị Mai Hoài và Nguyễn Thị Tuyết Hoa (2015) về hành
vi điều chỉnh thu nhập làm giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp; họ tìm thấy các yếu tố như: Ưu đãi thuế, ghi nhận doanh thu chưa thực hiện, doanh thu theo tiến
độ, ghi nhận các khoản dự phòng và ghi nhận chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại có ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh thu nhập; tuy nhiên, họ không tìm thấy tỷ lệ sở hữu cổ phần của CEO có ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh thu nhập
Trang 40Xem xét ảnh hưởng của những đặc điểm kinh tế và những đặc điểm khác của công ty niêm yết đến khả năng trình bày lại BCTC có một số nghiên cứu như Nguyễn Văn Hương (2016), Nguyễn Việt và Nguyễn Văn Hương (2017); những công ty bị áp lực lợi nhuận ở năm hiện tại, khả năng xảy ra trình bày lại chỉ tiêu lợi nhuận trên BCTC sau kiểm toán cao hơn các công ty không bị áp lực lợi nhuận (Nguyễn Văn Hương, 2016), hoặc những công ty có tỷ số nợ cao, khả năng xảy ra sai sót trọng yếu trên BCTC, hoặc trình bày lại lợi nhuận trên BCTC sau kiểm toán cao hơn các công ty khác (Trần Thị Giang Tân và Trương Thùy Dương, 2016) Không giống như Trần Thị Giang Tân và Trương Thùy Dương (2016), kết quả nghiên cứu của Nguyễn Công Phương và Lâm Xuân Đào (2016) không tìm thấy sự ảnh hưởng của nhân tố đòn bẩy tài chính (tỷ số nợ) đến sai phạm trên BCTC
Nhìn chung các nghiên cứu trong nước đứng trên những khía cạnh khác nhau
để xem xét ảnh hưởng của những nhân tố đến sai sót trọng yếu trên BCTC, hoặc trình bày lại BCTC; có nghiên cứu tập trung xem xét ảnh hưởng của những đặc tính của HĐQT đến sai sót trọng yếu trên BCTC (Trần Thị Giang Tân và Trương Thùy Dương, 2016), trong khi nghiên cứu khác xem xét ảnh hưởng của những đặc điểm kinh tế và đặc điểm khác của công ty đến trình bày lại BCTC sau kiểm toán (Nguyễn Văn Hương, 2016); chưa thấy có nghiên cứu trong nước xem xét đầy đủ
sự ảnh hưởng của tất cả các nhân tố sau đến trình bày lại BCTC: Những đặc điểm của HĐQT và cơ cấu sở hữu vốn của công ty niêm yết, những đặc điểm kinh tế và những đặc điểm khác của công ty niêm yết, những đặc điểm liên quan đến kiểm toán BCTC ở các công ty niêm yết; do vậy, việc xem xét sự ảnh hưởng của các nhân tố kể trên đến khả năng xảy ra trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam là cần thiết
Hướng tiếp cận của nghiên cứu, là xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng xảy ra trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết ở Việt Nam; hay nói cách khác, nghiên cứu này tìm xác suất xảy ra trình bày lại BCTC, hoặc không trình bày lại BCTC sau kiểm toán trong các công ty niêm yết; do vậy, việc đo lường trình bày lại BCTC trong nghiên cứu này là xảy ra, hoặc không xảy ra; qua đó cho thấy, hướng tiếp cận này có khác với hướng tiếp cận nghiên cứu về chất lượng thông tin trên BCTC của các công ty niêm yết ở Việt Nam, được nhiều