1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN biện pháp sử dụng biểu đồ tư duy kết hợp phương pháp trực quan trong phân môn vẽ theo mẫu hiệu quả (gửi tỉnh)

36 222 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT SÁNG KIẾN 1.Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến. Chúng ta biết rằng Mỹ thuật là một trong những môn học đặc thù, giữ vai trò quan trọng trong giáo dục thẫm mỹ ở trường phổ thông hiện nay. Đó là môn học về cái đẹp, khơi dậy tư duy sáng tạo trong tâm hồn trong sáng, thơ ngây và đáng yêu của lứa tuổi thiếu nhi. Xuất phát từ thực tế giảng dạy môn Mỹ thuật tôi thấy phương pháp dạy học bằng biểu đồ tư duy kết hợp với đồ dùng trực quan kích thích được tính tích cực sáng tạo của học sinh, tạo được sự hứng thú cho học sinh. Đây là vấn đề mà đối với mỗi môn học cần phải có, đặc biệt là môn Mĩ thuật. Việc sử dụng biểu đồ tư duy trong dạy học giúp học sinh học tập một cách chủ động, tích cực và huy động được tất cả học sinh tham gia xây dựng bài một cách hào hứng. Cách học này còn phát triển được năng lực riêng của từng học sinh không chỉ về trí tuệ, hệ thống hóa kiến thức, khả năng hội họa, sự vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống. Từ thực tế đó, tôi mạnh dạn đi sâu vào nghiên cứu về đề tài : “Biện pháp sử dụng biểu đồ tư duy kết hợp với phương pháp trực quan hiệu quả trong phân môn vẽ theo mẫu”. 2.Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến. 2.1.Điều kiện. Giáo viên cần nghiên cứu kỹ nội dung của bài. Học sinh cần chuẩn bị bài chu đáo và có thái độ học tập tích cực. Lớp học không quá đông, khoảng 25 học sinh. Chuẩn bị dụng cụ thực hành đầy đủ. 2.2.Thời gian. Thời gian áp dụng sáng kiến năm học 2015 2016. 2.3.Đối tượng. Tôi đã tiến hành nghiên cứu 50 em học sinh nam, nữ thuộc khối lớp 6 tại trường nơi tôi công tác. 3.Nội dung sáng kiến. 3.1. Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến. Hiện nay phương pháp truyền thống “ đọc chép” thụ động không đáp ứng được lối tư duy sáng tạo, năng động và tích cực của học sinh. Phương pháp dạy học tích cực áp dụng biểu đồ tư duy kết hợp phương pháp trực quan đã đáp ứng được điều mà phương pháp tuyền thống không đáp ứng được. Biểu đồ tư duy một công cụ có tính khả thi cao vì có thể vận dụng được với bất kì điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường hiện nay. Vận dụng biểu đồ tư duy trong dạy học sẽ hình thành cho học sinh lối tư duy mạch lạc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học.

Trang 1

Phần 1 THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

Ngày tháng/năm sinh:

Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm Mĩ thuật.

Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên - Trường THCS

Điện thoại:

4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trường THCS

5 Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu có): Trường THCS

6 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:

- Giáo viên cần nghiên cứu kỹ nội dung của bài

- Học sinh cần chuẩn bị bài chu đáo và có thái độ học tập tích cực

Lớp học không quá đông, khoảng 25 học sinh

Dụng cụ thực hành đầy đủ và mẫu vật

Trang 2

XÁC NHẬN CỦA HĐ KHOA HỌC HUYỆN TRƯỞNG PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Phần 2 TÓM TẮT SÁNG KIẾN 1.Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến.

Chúng ta biết rằng Mỹ thuật là một trong những môn học đặc thù, giữ vaitrò quan trọng trong giáo dục thẫm mỹ ở trường phổ thông hiện nay Đó là mônhọc về cái đẹp, khơi dậy tư duy sáng tạo trong tâm hồn trong sáng, thơ ngây và đáng yêu của lứa tuổi thiếu nhi

Xuất phát từ thực tế giảng dạy môn

Mỹ thuật tôi thấy phương pháp dạy học bằng biểu đồ tư duy kết hợp với đồdùng trực quan kích thích được tính tích cực sáng tạo của học sinh, tạo được sựhứng thú cho học sinh Đây là vấn đề mà đối với mỗi môn học cần phải có, đặcbiệt là môn Mĩ thuật

Việc sử dụngbiểu đồ tư duy trong dạy học giúp học sinh học tập một cách chủ động, tích cực

và huy động được tất cả học sinh tham gia xây dựng bài một cách hào hứng.Cách học này còn phát triển được năng lực riêng của từng học sinh không chỉ

về trí tuệ, hệ thống hóa kiến thức, khả năng hội họa, sự vận dụng kiến thứcđược học qua sách vở vào cuộc sống

Từ thực tế đó, tôi mạnh dạn đi sâu

vào nghiên cứu về đề tài : “Biện pháp sử dụng biểu đồ tư duy kết hợp với phương pháp trực quan hiệu quả trong phân môn vẽ theo mẫu”

Trang 3

2.Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến.

2.1.Điều kiện

- Giáo viên cần nghiên cứu kỹ nội dung của bài

- Học sinh cần chuẩn bị bài chu đáo và có thái độ học tập tích cực

- Lớp học không quá đông, khoảng 25 học sinh

- Chuẩn bị dụng cụ thực hành đầy đủ

2.2.Thời gian.

- Thời gian áp dụng sáng kiến năm học 2015 - 2016

2.3.Đối tượng

- Tôi đãtiến hành nghiên cứu 50 em học sinh nam, nữ thuộc khối lớp 6 tại trường nơitôi công tác

3.Nội dung sáng kiến.

3.1 Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến.

- Hiện nay phương pháp truyền thống “ đọc - chép” thụ động không đáp

Trang 4

ứng được lối tư duy sáng tạo, năng động và tích cực của học sinh Phương phápdạy học tích cực áp dụng biểu đồ tư duy kết hợp phương pháp trực quan đã đápứng được điều mà phương pháp tuyền thống không đáp ứng được

- Biểu đồ tư duy mộtcông cụ có tính khả thi cao vì có thể vận dụng được với bất kì điều kiện cơ sởvật chất nào của các nhà trường hiện nay

- Vận dụng biểu đồ tư duy trong dạy học sẽ hình thành cho học sinh lối tưduy mạch lạc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học

3.2.Khả năng áp dụng của sáng kiến.

- Sáng kiến

được nghiên cứu và áp dụng thành công với học sinh khối 6 tại trường nơi tôi công tác và có thể áp dụng cho tất cả học sinh ở các trường trung học cơ sở nóichung

3.3.Lợi ích thiết thực của sáng kiến.

- Học sinh có hứng thú hơn với tiết học, bài vẽ của học sinh đạt hiệu quả cao hơn

4.Giá trị và kết quả đạt được của sáng kiến.

- Trước khi áp dụng sáng kiến chất lượng bài vẽ của học sinh rất

hạn chế Kết quả cho thấy chỉ 1 số ít học sinh có hứng thú với phân môn vẽ theo mẫu

- Sau khi áp dụng sáng kiến học sinh hứng thú hơn, kết quả bài vẽđược tăng lên rõ rệt

5.Đề xuất, kiến nghị để thực hiện áp dụng và mở rộng sáng kiến.

-

Trang 5

Nhà trường cần quan tâm đáp ứng về cơ sở vật chấtnhư: phòng học bộ môn và những đồ dùng trực quan, mẫu vật phục vụ chomôn học.

PHẦN 3

MÔ TẢ SÁNG KIẾN 1.Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến.

Dạy nghệ thuật nói chung và dạy mỹ thuật nói riêng, không phải là đưa ramột công thức cứng nhắc để làm, để vẽ mà điều cốt lõi quan trọng là lối tưduy, tạo điều kiện cho sự phát triển tưởng tượng, khả năng sáng tạo của họcsinh

Nhu cầu thẩm mỹ ngày càng cao cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội,cho nên việc nhìn nhận và thưởng thức cái đẹp của đại bộ phận nhân dân là vấn

đề tất yếu khách quan, không chỉ là đối với người lớn, tầng lớp trí thức mà làtất cả mọi đối tượng, mọi tầng lấp trong xã hội Mỗi lứa tuổi lại có những cáchcảm nhận, suy nghĩ và lí giải về cái đẹp khác nhau Người lớn có cách cảmnhận logic, còn trẻ em thì có cái nhìn vô tư, trong sáng, nhìn sự vật qua lăngkính màu hồng, không vướng bận những nguyên tắc, trăn trở mà tập trung tìnhcảm, sự yêu thích của mình vào mỗi bài vẽ

Đồng thời, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội Những năm qua, Đảng vàNhà nước ta luôn quan tâm đến sự phát triển của giáo dục, đặc biệt là chấtlượng của nó, cùng với sự phát triển ngày càng cao của con người về đức dục,trí dục, thể dục thì mỹ dục cũng không ngừng phát triển và dần có vai trò quantrọng trong đời sống của mỗi con người và nhất là thế hệ trẻ

Dạy - học ở trường THCS không phải nhằm đào tạo họa sĩ hay người làmnghệ thuật mà nhằm giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho các em Chủ yếu tạo điềukiện cho các em tiếp xúc, làm quen và thưởng thức cái đẹp, tập tạo ra cái đẹp,vận dụng cái đẹp vào trong cuộc sống hàng ngày Đối với môn học mỹ thuậtviệc truyền thụ kiến thức là một công việc quan trọng, qua đây học sinh hình

Trang 6

thành kĩ năng cảm thụ thẩm mĩ và kĩ năng thực hành.

Những năm gần đây, sự tích hợp của công nghệ thông tin và truyềnthông trong giảng dạy đã mở ra nhiều khả năng ứng dụng, tạo bước phát triểnmới làm thay đổi xã hội nói chung và ngành giáo dục nói riêng Trong bối cảnh

đó việc ứng dụng công nghệ thông tin và sử dụng biểu đồ tư duy vào dạy học

đã đạt được những thành công đáng kể, góp phần tích cực vào sự nghiệp đổimới giáo dục Qua thực tế giảng dạy thực sự tôi nhận thấy việc sử dụng biểu đồ

tư duy trong dạy học có rất nhiều ưu điểm nổi bật Mặt khác với mong muốntrở thành người giáo viên dạy tốt, hoàn thành tốt công việc được giao và có khảnăng truyền thụ kiến thức hiệu quả nhất cho học sinh Đặc biệt là thay đổi lối tưduy, cách làm việc khoa học, sáng tạo và mang tính tập thể của học sinh Đâycũng là lí do tôi nghiên cứu và tìm hiểu đề tài này

2 Cơ sở lý luận.

2.1 Biểu đồ tư duy là gì?

Trước tiên, chúng ta hiểu biểu đồ tư duy là một hình thức ghi chép sử dụngmàu sắc và hình ảnh để mở rộng và đào sâu ý tưởng Ở giữa biểu đồ là ý tưởngtrung tâm, từ ý tưởng này phát triển ra các nhánh tượng trưng cho các ý chính(nhánh chính) Các nhánh chính lại được phân thành những nhánh nhỏ đểnghiên cứu ở mức độ sâu hơn Những nhánh nhỏ này lại tiếp tục được phânthành những nhánh nhỏ hơn Cứ như thế tạo nên bản đồ tư duy

Tác giả Stella Cottrell đã tổng kết cách “ghi chép” có hiệu quả trên bản đồ

tư duy: 1) Dùng từ khóa và ý chính; 2) Viết cụm từ, không viết thành câu; 3).Dùng các từ viết tắt 4).Có tiêu đề 5) Đánh số các ý; 6) Liên kết ý nên dùngnét đứt, mũi tên, số, màu sắc,… 7) Ghi chép nguồn gốc thông tin để có thể tracứu lại dễ dàng 8) Sử dụng màu sắc có hiệu quả

Cũng có thể hiểu: Biểu đồ tư duy (Mindmap) là phương pháp được đưa ra

để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não Đây là cách để ghi nhớ chitiết, để tổng hợp, hay để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồphân nhánh Khác với máy tính, ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính (ghi

Trang 7

nhớ theo 1 trình tự nhất định chẳng hạn như trình tự biến cố xuất hiện của 1 câu

truyện) thì não bộ còn có khả năng tạo sự liên kết giữa các dữ kiện với nhau.

Phương pháp này khai thác cả hai khả năng này của bộ não.

Đây là một kĩ thuật để nâng cao cách ghi chép Bằng cách dùng bản đồ tưduy, tổng thể của vấn đề được chỉ ra dưới dạng một hình vẽ, trong đó các đốitượng liên hệ với nhau bằng các đường nối Với cách biểu diễn như vậy, các dữliệu được ghi nhớ và hấp thụ dễ dàng và nhanh chóng hơn

Thay vì dùng chữ viết để miêu tả một chiều, Bản đồ tư duy biểu thị toàn bộ

cấu trúc chi tiết của một đối tượng bằng hình ảnh hai chiều Nó chỉ ra dạng thức

của đối tượng, sự quan hệ tương hỗ giữa các khái niệm có liên quan và cách liên hệ giữa chúng với nhau bên trong của một vấn đề lớn.

2.2 Phương pháp Trực quan là gì?

Phương pháp Trực quan hay nói một cách khác là hình thức sử dụng đồdùng trực quan trong quá trình dạy học, có vai trò là công cụ để giáo viên vàhọc sinh tác động vào đối tượng; có chức năng khơi dậy, dẫn truyền, tăngcường khả năng hoạt động của các giác quan, góp phần tạo nên cảm giác cảmtính của đối tượng nhận thức nhằm đạt được các mục đích dạy học cụ thể Nóicách khác phương pháp trực quan là hình thức hay phương pháp dạy học đóngvai trò công cụ, được giáo viên hay học sinh làm khâu trung gian tác động tớiđối tượng dạy học

Trang 8

Phương pháp trực quan chính là phương tiện để nhận thức, chúng có chứcnăng làm cho đối tượng nhận thức và bộc lộ một cách trực quan

Phương pháp trực quan là nhóm phương pháp tổ chức dạy học sao cho họcsinh có thể sử dụng nhiều giác quan vào quá trình học tập Phương pháp này sẽgiúp học sinh hiểu sâu hơn, nhớ chính xác hơn và vận dụng kiến thức linh hoạthơn Trong nhóm phương pháp trực quan đối với dạy học môn Mỹ thuật có thểsử dụng một số phương pháp sau:

2.2.1 Phương pháp minh họa:

Phương pháp minh họa là phương pháp đưa ra những tư liệu trực quan baogồm như: tranh, ảnh, băng đĩa, máy chiếu để minh họa cho nội dung mà giáoviên cần trình bày Ví dụ muốn học sinh hiểu được giá trị tác phẩm nghệ thuật,đặc điểm của một trào lưu, trường phái nghệ thuật thì phải cho học sinh thấyđược tác phẩm dù chỉ là phiên bản Muốn thực hiện được mục tiêu bài dạy cầnphải có phương tiện trực quan để minh hoạ cho nội dung bài giảng sau khi giáoviên đó thuyết trình Phương tiện trực quan bao gồm: Tranh, ảnh, băng, đĩahình, máy chiếu… Để minh hoạ đạt được kết quả tốt, phương tiện trực quan đểminh hoạ cần đảm bảo một số yêu cầu sau:

+ Tư liệu minh họa phải sát với nội dung giáo viên truyền đạt

+ Tư liệu minh hoạ cần đưa ra đúng lúc, hợp lý, vừa đủ và gắn bó với nộidung bài giảng Minh hoạ phải chọn lọc Không nên đưa ra quá nhiều dẫn đếnhọc sinh không tập trung vào vấn đề trọng tâm của bài học Những tác phẩmđược chọn lọc phải có đặc trưng tiêu biểu làm sáng tỏ nội dung cần truyền thụ.Minh họa đẹp, phong phú, phương pháp trực quan hiện đại sẽ làm tăng thêmtính hấp dẫn của tiết học và thuyết phục học sinh

2.2.2 Phương pháp hướng dẫn học sinh làm giáo cụ trực quan.

Phương pháp hướng dẫn học sinh làm giáo cụ trực quan là phương phápgiáo viên hướng dẫn học sinh làm đồ dùng bổ trợ nội dung bài học: Ví dụ bài

Trang 9

vẽ theo mẫu - lọ hoa và quả Thì hướng dẫn học sinh tự sưu tầm nghiên cứu lọhoa và quả Vì vậy, việc chuẩn bị minh hoạ, giáo cụ trực quan không phải chỉ làphần chuẩn bị của giáo viên, học sinh có thể chủ động tham gia vào quá trìnhdạy học Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh làm giáo cụ trực quan thông quahoạt động vẽ hoặc sưu tầm tranh Với hoạt động này học sinh bước đầu nắmđược nội dung của bài học Hoạt động này được thực hiện ở nhà, trước mộttuần Học sinh đã rất hứng thú khi tham gia làm giáo cụ trực quan phục vụ chogiờ học

Đến lớp các nhóm học sinh tự trình bày quá trình từ thâm nhập, khám pháthực tế đến quá trình hình thành ý tưởng và thể hiện trong tác phẩm hoặc cảmnhận về tác phẩm đã sưu tầm Trên cơ sở đó tôi đã củng cố đưa ra vấn đề cốt lõihọc sinh cần phải ghi nhớ

Khi giao bài tập cho học sinh, giáo viên nêu rõ yêu cầu cụ thể phù hợpvới nội dung bài học, không để học sinh làm một cách tuỳ tiện sẽ không đápứng được yêu cầu của bài học

2.2.3 Tổ chức tham quan triển lãm, bảo tàng, các khu di tích văn hóa.

Là phương pháp tổ chức các buổi tham quan, ngoại khóa Các làng nghề,các bảo tàng, triển lãm, khu di tích văn hóa là nguồn trực quan phong phú và đadạng Hoạt động này sẽ giúp cho học sinh có thể hiểu sâu hơn những kiến thứcđược nghiên cứu trên lớp Đây là phương tiện trực quan sinh động nhất Bởi vìhọc sinh được trực tiếp nhìn, nghe, thưởng thức và cảm thụ thực sự trướcnhững tác phẩm nghệ thuật nguyên bản Các hoạt động này gây hứng thú chohọc sinh trong học tập, nghiên cứu và sáng tạo thẩm mỹ Hoạt động này có thểtổ chức thường xuyên, hoặc định kỳ tuỳ theo tình hình thực tế của nhà trường.Hoạt động này có thể được tổ chức dưới nhiều hình thức: nói chuyện ngoạikhóa, xem băng đĩa, tham quan hội hè truyền thống ở một số địa phương…Phương pháp trực quan là phương pháp có hiệu quả đối với việc dạy học

Trang 10

môn Mỹ thuật Để đáp ứng nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học, biến quátrình đào tạo thành quá trình tự đào tạo Có thể nói theo cách khác là tích cựchóa quá trình học tập của học sinh trong dạy và học môn Mỹ thuật cần sử dụngtrực quan để nêu và giải quyết vấn đề, đưa học sinh vào tình huống có vấn đề

để giúp học sinh tư duy, tìm ra kiến thức mới tiềm ẩn trong các tác phẩm nghệthuật

Dụng cụ sử dụng cho phương pháp trực quan có thể hiểu là bao gồm: Giấy,bút, màu, bảng, tranh, ảnh nó không chỉ bó hẹp ở hình, mẫu vẽ, tranhmẫu mà bao gồm cả âm điệu, giọng nói của người giáo viên, là cử chỉ và điệu

bộ của người giáo viên, là trình bày bảng, là vẽ minh họa của giáo viên

Đối với đánh giá bài vẽ của học sinh, giúp học sinh củng cố và khắc sâukiến thức, chúng ta cần phải đánh giá ở 2 cấp độ: đạt và chưa đạt, chỉ ra đượccái ưu cái nhược của từng bài, ở khâu này giáo viên nên khuyến khích để chohọc sinh tự đánh giá có như vậy các em mới rút kinh nghiệm vào bài vẽ củamình một cách hiệu quả

3.Thực trạng vấn đề nghiên cứu.

Người ta cho rằng, thế kỉ XXI là thế kỉ của bộ n ão Con người đứng trước

kỉ nguyên của trí tuệ, của sự sáng tạo với sức mạnh tiềm tàng của bộ não gầnnhư vô tận

Hai bán cầu đại não của con người có chức năng đặc trưng rất khác nhau.Bán cầu não trái thiên về khả năng lôgíc khoa học như từ vựng, tư duy lôgíc, xử

lí dữ liệu, thứ tự, tuyến tính, khả năng phân tích, giải quyết tuần tự Trong khi

đó, bán cầu não phải thiên về tiết tấu, tri giác, không gian, tư duy tưởng tượng,

mơ mộng, màu sắc, ý thức chỉnh thể, do vậy não phải thiên về các hoạt độngnghệ thuật, sáng tạo, tình cảm Mặt khác, khi chất xám ở vỏ não phải hoạt độngthì chất xám ở vỏ não trái ở trạng thái tĩnh và suy tưởng Cũng như vậy, khichất xám ở vỏ não trái hoạt động thì chất xám ở vỏ não phải lại thư giãn và tĩnh

Trang 11

lặng

Con người luôn yêu cái đẹp, luôn muốn làm đẹp cho cuộc sống Từ tronggia đình đến ngoài xã hội ở đâu cũng có sự sắp xếp, tô điểm của con ngườinhằm làm cho mọi vật thêm đẹp, cuộc sống thêm vui tươi

Trong nhu cầu cao về thẩm mĩ đó, mỹ thuật đóng vai trò quan trọng vớichức năng thu hút và điều tiết cái gọi là “cảm thụ thẩm mĩ” ở mỗi con người Con người tạo ra cái đẹp nhưng đôi lúc không hiểu hết nó Vậy, câu hỏi là:Tại sao con người lại không hiểu được hết nó? Phải chăng kiến thức về cái đẹpchưa thực sự đủ? Vậy thì phương pháp dạy và học này sẽ giúp ích rất nhiều choviêc bổ trợ kiến thức nhanh và hiệu quả nhằm bù lấp vào chỗ thiếu ấy

Mặt khác, xã hội ngày càng phát triển, yêu cầu con người cần phải luôn cảithiện mà nâng cao trình độ, khả năng tư duy, khả năng sáng tạo đặc biệt là

trong sự nghiệp giáo dục hay trong quá trình dạy học Vì vậy, phương pháp nàyrất cần thiết và sẽ bổ trợ tích cực cho con người, đặc biệt là trong cách tự học

và sáng tạo

3.1 Khó khăn:

Hiện nay, phương pháp dạy học trong các trường phổ thông ở nước taphần lớn làm cho não trái của học sinh phát triển hơn não phải Não phảithường ít được dùng đến, trong khi tiềm năng tư duy của não phải không thuakém, thậm chí còn vượt trội hơn so với não trái nếu tìm được quy luật làm việccủa nó

Phương pháp dạy học truyền thống, học sinh thụ động, giáo viên làm việc, học sinh lắng nghe và ghi chép đã hình thành thói quen sẵn có

Để áp dụng biểu đồ tư duy kết hợp phương pháp trực quan thì đòi hỏi học sinh phải có kiến thức tương đối vững và tương quan đồng đều

Việc chuẩn bị giáo cụ tiêu tốn nhiều thời gian của cả giáo viên và học sinh Sử dụng biểu đồ tư duy kết hợp với phương pháp trực quan hình ảnh

Trang 12

là phương pháp dạy và học mới, đòi hỏi phải có thời gian thực nghiệm thì học sinh và giáo viên mới có thể và làm quen thành thạo được.

Yêu cầu người học và người dạy phải năng động, sáng tạo và chủ độngtrong các bước thực hiện

3.2 Thuận lợi:

Biểu đồ tư duy được xem là một công cụ giúp bộ não tư duy toàn diện vàkhai thác được tiềm năng của não phải Nhờ có sự liên kết giữa các ý tưởng vớiý tưởng trung tâm nên biểu đồ tư duy cho thấy mức độ bao quát, sâu rộng củavấn đề cần nghiên cứu Biểu đồ tư duy có thể giúp người dùng xây dựng kếhoạch làm việc, học tập nhanh chóng, chính xác, rõ ràng, sáng tạo hơn, giúpngười dùng giải phóng suy nghĩ theo lối mòn từ đó dễ dàng đưa ra cách giảiquyết vấn đề, làm sáng tỏ những tình huống, tiết kiệm thời gian và nhớ lâu hơn

Cơ chế hoạt động của biểu đồ tư duy chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với cácmạng lưới liên tưởng (các nhánh) Biểu đồ tư duy là công cụ đồ họa nối cáchình ảnh có liên hệ với nhau vì vậy có thể vận dụng biểu đồ tư duy vào hỗ trợdạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống

hóa kiến thức sau mỗi chương

Dạy học bằng biểu đồ tư duy và kết hợp trực quan hình ảnh là phươngpháp dạy học tích cực, kích thích được sự chủ động, tích cực làm việc theo cánhân độc lập suy nghĩ rồi tổng kết theo nhóm Phát huy được khả năng sángtạo tư duy và tinh thần tập thể Đây là cách làm việc khoa học, năng động, sángtạo, phù hợp với nhu cầu hiện đại hóa hiện nay

Sử dụng được nguồn tư liệu một các phong phú và hiệu quả

Qua đó, giúp học sinh tiếp cận tri thức, kiến thức nhanh và hiệu quả

Học sinh khắc sâu lượng kiến thức của bài học

Dạy học bằng cách sử dụng biểu đồ tư duy và kết hợp với phương pháptrực quan hình ảnh có thể tích hợp nhiều phương pháp dạy học khác nhằm nâng

Trang 13

cao chất lượng dạy và học Mặt khác có thể khai thác công nghệ thông tin tối đa

và nguồn tư liệu phong phú để trình bày

Dạy học bằng cách sử dụng biểu đồ tư duy và kết hợp phương pháp trựcquan hình ảnh có thể áp dụng cho tất cả các môn học khác Cũng có thể sửdụng trong công tác quản lí, công tác chuyên môn

Minh hoạ đẹp, phong phú, phương pháp trực quan sinh động sẽ làm tăngthêm tính hấp dẫn của tiết học và thuyết phục học sinh, nó có tác động quantrọng đến việc cảm nhận tác phẩm, hình thành nên nhận thức thẩm mỹ của các

em, rèn luyện cho các em một trực giác nhạy bén, khả năng quan sát và pháthiện những vấn đề trong cuộc sống

4.Các giải pháp, biện pháp thực hiện.

Trong mĩ thuật, Biện pháp sử dụng biểu đồ tư duy kết hợp với phương pháp

trực quan được sử dụng tùy theo từng tiết học của từng phân môn và có sự kếthợp nhuần nhuyễn giữa máy chiếu( CNTT), đồ dùng dạy học với bảng viết.Với các hoạt động được thiết kế cho sử dụng biểu đồ tư duy kết hợpphương pháp trực quan, trực quan được coi như nội dung bài học cần tìm hiểu.Giáo viên không thuyết trình như cách dạy truyền thống, học sinh chủ động làmviệc, tiếp cận tìm hiểu nội dung, kiến thức mới với biểu đồ tư duy dưới sựhướng dẫn của giáo viên Trên cơ sở đó, dạy Mỹ thuật sẽ được tích cực hóa.Khi tự mình tìm ra kiến thức mới, học sinh sẽ hứng thú, say mê, tiếp thu bài tốthơn vì đó là sự ghi nhớ chủ động

Cách tổ chức giờ dạy Mỹ thuật là ứng dụng của phương pháp nêu và giảiquyết vấn đề, trong đó trực quan là một phần nội dung bài giảng Tuy nhiênkhông có phương pháp nào là tuyệt đối, cần được kết hợp với nhiều phươngpháp như thuyết trình, vấn đáp để đạt được mục đích đưa học sinh cùng thamgia vào hoạt động dạy - học, bộc lộ năng lực cá nhân Như vậy quá trình dạyhọc mới được tích cực hóa Giáo viên có thể nhận thức được trình độ của họcsinh ngay trong giờ học Từ đó có kế hoạch và phương pháp dạy học phù hợp

Trang 14

với đối tượng.

Một trong những phương pháp hay sử dụng nhất trong giảng dạy vẽ theomẫu đó là phương pháp trực quan, có thể nói bước đầu tiên để người giáo viêngiúp học sinh tiếp cận với mẫu vật đó là các hình ảnh trực quan, thông qua nóchúng ta tổ chức tiết học một cách hợp lý nhất để học sinh tiến hành các thaotác tư duy bao gồm: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượnghóa… hình thành nên kiến thức

Với các hoạt động thiết kế, sử dụng phương pháp minh hoạ, phương pháptổ chức tham quan và phương pháp hướng dẫn học sinh làm giáo cụ trực quanđược áp dụng trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy học sinh nắm bài tốt hơn,say mê hơn Giờ vẽ theo mẫu không còn khô khan và trừu tượng nữa

4.1.Dẫn chứng trình tự các bước tiến hành trong một tiết dạy như sau:

Ở phân môn Vẽ theo mẫu giáo viên cần vận dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp quan sát, trực quan, vấn đáp kết hợp với biểu đồ tư duy

- Phương pháp đàm thoại, gợi mở

Bên cạnh đó tôi tìm hiểu, tham khảo các phương pháp mới, sách báo,truyền thông để đưa vào bài giảng thêm phong phú

Ngoài việc thiết kế bài giảng, tôi chuẩn bị thêm đồ dùng trực quan nhưtranh ảnh, mẫu vật, đồ dùng trực quan liên quan đến bài giảng, sản phẩm bài vẽcủa học sinh từ những năm trước, giấy vẽ, bút lông, chì, tẩy, màu Một số mẫu

Trang 15

biểu đồ tư duy làm cho bài dạy đạt kết quả cao hơn.

Học sinh chuẩn bị giấy vẽ, chì, tẩy, màu

4.1.2 Tiến trình giảng dạy:

Tiến trình giảng dạy phải đầy đủ theo các bước nhất định, thời gian tronggiờ giảng phải được phân bố hợp lý Một giờ dạy Mỹ thuật 45 phút, vậy từngbước tiến hành phải theo trình tự cụ thể

Trong giờ giảng tiết vẽ theo mẫu: Trước tiên tôi kiểm tra đồ dùng học sinh

(Giấy vẽ, chì, tẩy, que đo…) tiếp theo tôi giới thiệu bài bằng một số sản phẩm

liên quan đến bài học Sang phần bài mới tôi thực hiện 4 hoạt động

Hoạt động 1: Quan sát và nhận xét.

- Tôi dùng phương pháp trực quan cho học sinh quan sát đồ dùng đã

chuẩn bị như tranh vẽ mẫu của giáo viên và bài vẽ của học sinh những nămtrước để gây hứng thú cho các em

- Giáo viên giới thiệu mẫu vật thật, yêu cầu học sinh lên tham gia bày mẫu

và cho học sinh nhận xét chọn ra cách bày mẫu đẹp, hợp lý Qua đó giúp các

em thích thú với môn học

- Yêu cầu học sinh đọc phần thông tin trong sách giáo khoa, chia nhómyêu cầu các em quan sát, nhận xét mẫu vật về ( vị trí, đặc điểm cấu tạo, khunghình, so sánh ước lượng tỉ lệ, ánh sáng và độ đậm nhạt giữa các vật mẫu) và thể

hiện những nhận xét đó trên biểu đồ tư duy Các em rất hào hứng trao đổi nhận

xét mẫu ở bài học một cách hiệu quả

Trang 16

Sau đó giáo viên gọi các nhóm trình bày biểu đồ tư duy của mình kết hợp phương pháp trực quan phân tích trên mẫu vật để học sinh hiểu rõ về đặc điểm

mẫu

Hoạt động 2: Cách vẽ.

Trước tiên tôi yêu cầu học sinh đọc phần thông tin trong sách giáo khoa.Đặt câu hỏi gợi mở liên hệ kiến thức cũ để học sinh nêu ra các bước tiến hànhmột bài vẽ theo mẫu

Sử dụng phương pháp trực quan (minh họa làm mẫu).Tôi vẽ minh họa

bảng từng bước vẽ trên bảng kết hợp với phân tích giảng giải cho các emhiểu.Trong quá trình vẽ minh họa các bước và phân tích giáo viên yêu cầu họcsinh quan sát theo dõi hoạt động của giáo viên Sau đó giáo viên yêu cầu họcsinh hoạt động chốt lại các bước vẽ tổng quát một lần nữa từ đó các em khắcsâu được kiến thức bài học

Hoạt động 3: Thực hành.

- Với nội dung kiến thức đã tìm hiểu ở những phần trên tôi yêu cầu họcsinh bỏ giấy vẽ ra quan sát mẫu và thực hành vẽ bài

Bằng phương pháp trực quan hình ảnh trước khi thực hành vẽ bài giáoviên đưa ra một vài bài vẽ mẫu của họa sĩ và học sinh những năm học trước để

Trang 17

xúc cho các em trước khi bước vào vẽ thực hành mẫu Có như vậy giờ học mớithu hút, khuyến khích học sinh hào hứng học tập, sáng tạo Tránh việc giáoviên thực hành làm, nói quá nhiều, học sinh ít được thể hiện ý tưởng hay thựchành.

Trong lúc học sinh làm thực hành, giáo viên quan sát bao quát lớp gợi ý

để học sinh thực hiện được bài vẽ của mình Tuyên dương những học sinh cóbài vẽ đẹp, tạo không khí hào hứng vui vẻ cho tiết học

Hoạt động 4: Nhận xét - đánh giá.

- Giáo viên (trọng tài) kết thúc phần thực hành, giáo viên chia lớp thành 3

đến 4 nhóm và yêu cầu nhóm trưởng cùng các thành viên trưng bày bài vẽ củanhóm mình, đại diện của nhóm lên nhận xét đánh giá bài vẽ về bố cục, hình vẽ

và đậm nhạt… giáo viên gọi nhóm khác nhận xét rồi cùng trò tìm ra những cáiđạt và chưa đạt trên bài vẽ Tổng kết nhắc nhở để học sinh rút kinh nghiệm vàonhững bài vẽ sau

- Giáo viên nhận xét lớp học, dặn học sinh chuẩn bị bài sau, chuẩn bịnhững nội dung có liên quan đến bài học sau

4.2 So sánh kết quả dạy.

Qua tiến hành giảng dạy thử nghiệm tại hai lớp 6A và6B với hai phương pháp khác nhau giữa phương pháp cũ và phương pháp mới,tôi rút ra được kết luận:

Khi dạy vẽ theo mẫu giáo viên chưa

chú ý đến quan sát nhiều để giúp học

sinh nhận biết về đối tượng trước khi vẽ,

điều đó thể hiện qua những giờ dạy vẽ

theo mẫu còn có những thiếu sót sau đây:

Tôi chuẩn bị chu đáo đồ dùngdạy học của giáo viên và học sinh.Trong lúc giảng tôi vận động kếthợp các phương pháp hài hòa giữa

cô và trò (cô hướng dẫn, trò khám

Trang 18

Hướng dẫn học sinh quan sát còn

nặng nề về kỹ thuật mà thường quên đi

tính thẩm mỹ của đối tượng do vậy chưa

gây được hứng thú cho các em

Phương pháp hướng dẫn học sinh

còn chung chung, chưa nêu lên đặc điểm

của mỗi bài đồng thời chưa chú ý đến

từng giai đoạn mà dàn trải đều đều, lặp

lại, gây sự nhàm chán cho học sinh

Hướng dẫn học sinh quan sát một

chiều, ít quan tâm đến so sánh đối chiếu

giữa đối tượng với bài vẽ của các em Do

vậy học sinh thường công nhận hơn là

thấy những điều chưa đúng ở bài vẽ của

mình vì thế mà kết quả học tập thấp.Nên

việc phát hiện ra học sinh nào có năng

khiếu là rất khó khăn cho giáo viên

phá và thực hành), kết hợp phươngpháp sử dụng biểu đồ tư duy vớitrực quan hiệu quả

Sau khi giáo viên giới thiệu,yêu cầu học sinh quan sát mẫu vậtthật kết hợp với đồ dùng trực quan

và sử dụng biểu đồ tư duy để khắcsâu kiến thức cho học sinh từ đócác em có hứng thú say mê với tiếthọc qua đó thể hiện tinh thần đoànkết giúp đỡ chia sẻ lẫn nhau

Học sinh hào hứng tham giatiết học, lớp học sôi nổi Kết quảkhông ngờ tất cả các học sinh đều

vẽ bài hiệu quả Tôi đã phát hiện rahọc sinh nào có năng khiếu vềphân môn Tiết học diễn ra nhẹ

nhàng như: "Học mà chơi, chơi mà học"

Kết quả thu được ở bảng số liệu sau :

4.3 Bài soạn minh hoạ.

Bài 20:Vẽ theo mẫu

Mẫu có 2 đồ vật

Ngày đăng: 31/01/2019, 14:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Mĩ thuật và phương pháp dạy học Mĩ thuật - Nhà xuất bản Giáo dục 2.Tự học vẽ - Nguyễn Văn Tỵ Khác
3.Phương pháp giảng dạy mỹ thuật 6,7,8,9 - Nhà xuất bản giáo dục Khác
4.Sách giáo khoa và sách giáo viên mĩ thuật 6,7,8,9 Khác
5.Mĩ thuật của người Việt - Nguyễn Quân, Phan cẩm Thượng Khác
6. Trần Đình Châu, Sử dụng Bản đồ tư duy một biện pháp hiệu quả - Tạp chí Giáo dục Khác
7. Bản đồ tư duy-công cụ hiệu quả hỗ trợ dạy học và công tác quản lý nhà trường, Báo giáo dục & thời đại - Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy Khác
8. Tony Buzan - Bản đồ Tư duy trong công việc - NXB lao động và xã hội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w