Đề tài tập trung làm rõ thêm một số vấn đề lí luận cơ bản về khủng bố quốc tế và pháp luật quốc tế về chống khủng bố. Bên cạnh đó đề tài cũng tập trung tìm hiểu thực trạng các quy định pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về chống khủng bố; kinh nghiệm thực thi các quy định của pháp luật quốc tế của một số nước và việc thực thi cam kết quốc tế của Việt Nam trong hợp tác chống khủng bố.
Trang 1MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KHỦNG BỐ QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ CHỐNG KHỦNG BỐ
1 Khái niệm khủng bố quốc tế và xu hướng phát triển của hoạt động khủng bố quốc tế
1.1 Khái niệm khủng bố quốc tế
1.2 Xu hướng phát triển của hoạt động khủng bố quốc tế
2 Lịch sử hình thành, phát triển của chế định pháp lý quốc tế về chống khủng bố
2.1 Giai đoạn trước cuộc khủng bố tại Mỹ ngày 11/9/2001
2 2 Giai đoạn từ sau cuộc khủng bố tại Mỹ ngày 11/9/2001 đến nay
3 Mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về chống khủng bố
4 Vai trò của các tổ chức quốc tế trong việc xây dựng và tổ chức thực thi pháp luật quốc tế về chống khủng bố
TIỂU KẾT
Chương II THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT QUỐC
TẾ VỀ CHỐNG KHỦNG BỐ VÀ KINH NGHIỆM THỰC THI TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI
1 Thực trạng nội dung của pháp luật quốc tế về chống khủng bố
1.1 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế về chống khủng bố
Trang 21.2 Các quy định của pháp luật quốc tế về biện pháp chống khủng bố
1.3 Các quy định về hình thức hợp tác quốc tế về đấu tranh chống khủng bố
1.4 Các quy định về nghĩa vụ của các quốc gia trong cuộc đấu tranh chống khủng bố
2 Chống khủng bố tại một số quốc gia trên thế giới
2.1 Chống khủng bố tại Trung Quốc
1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về chống khủng bố
2 Vấn đề thực thi các cam kết quốc tế của Việt Nam về chống khủng bố quốc tế
3 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu qủa thực thi các cam kết quốc tế của Việt Nam về chống khủng bố
TIỂU KẾT
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3Cuối cùng, tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả bạn bè và đặc biệt là gia đình, những người luôn kịp thời động viên và giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn để hoàn thành cuốn luận văn này
Học viên
Nguyễn Yến Ngọc
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu, tài liệu tham khảo được sử dụng để phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong khoá luận
do tôi tự tìm hiểu dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đoàn Năng Các vấn đề được phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này chưa được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác
Xác nhận của giảng viên hướng dẫn Học viên
PGS.TS Đoàn Năng Nguyễn Yến Ngọc
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài :
Hòa bình và phát triển luôn là mục tiêu quan trọng mà mỗi quốc gia hướng tới trong xu thế toàn cầu hóa như hiện nay Sau khi thế giới phải chứng kiến hai cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất và Chiến tranh thế giới thứ hai, thì xu thế hợp tác đối thoại đang dần chiếm lĩnh thay cho việc đối đầu Tuy nhiên nền an ninh chung của mỗi quốc gia ngày càng bị đe dọa bởi một hình thức hoạt động không rầm rộ như chiến tranh nhưng
tầm nguy hại lại vô cùng to lớn đó chính là “khủng bố”
Chống khủng bố quốc tế luôn là mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam đặc biệt là trong bối cảnh chủ nghĩa khủng bố ngày càng phát triển đe dọa hòa bình và an ninh quốc tế như hiện nay thì cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa khủng bố đã trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách của nhiều quốc gia, nhất là các cường quốc Đây là nguy cơ trước mắt mà chúng ta đang phải đối mặt và chúng ta phải cùng nhau ngăn chặn điều này
Sự mở rộng quy mô hoạt động khủng bố quốc tế trong những năm gần đây mà điển hình là Nhà nước tự xưng IS với những cuộc khủng bố đẫm máu mà trước đó không một ai trong chúng ta có thể hình dung được đã làm thay đổi sâu sắc nhận thức của cộng đồng quốc tế về chủ nghĩa khủng bố và cách thức chống khủng bố
Hậu quả mà khủng bố gây ra không chỉ đe dọa trực tiếp đến tính mạng về người, gây ra những thiệt hại về tài sản mà nguy hại lớn hơn là gây tâm lý lo sợ, hoang mang thường trực cho cả cộng đồng quốc tế Chúng ta không chỉ đang nói đến việc chống khủng bố mà nói đến cả nhân loại, về số phận của những con người trên thế giới và hàng
tỷ người đang chịu ảnh hưởng bởi điều này
Nhận thấy vấn đề chống khủng bố quốc tế cần phải nghiên cứu toàn diện hơn nữa về
cả lý luận và thực tiễn Luận văn hướng tới phân tích thực trạng và chỉ ra các khó khăn trong thực tiễn liên quan tới hoạt động phòng, chống khủng bố quốc tế, nghiên cứu làm
rõ hơn pháp luật của một số quốc gia và pháp luật Việt Nam về chống khủng bố quốc tế
Trang 6qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác đấu tranh chống khủng bố giữa Việt Nam với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới.
2 Tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước :
Hiện nay ở Việt Nam, việc nghiên cứu pháp luật quốc tế về chống khủng bố khá
nhiều Ở cấp độ đề tài khoa học cấp Bộ “Khủng bố và giải pháp phòng, chống khủng bố
ở nước ta hiện này” do PGS TS Hoàng Công Tư, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục I, Bộ
Công an làm Chủ nhiệm Ở cấp độ luận văn có một số đề tài của tác giả Nguyễn Long
tại Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội có tên: “Pháp luật quốc tế về chống khủng bố - một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, của tác giả Bùi Mạnh Hùng , Đại học quốc gia có tên : “ Hợp tác quốc tế về chống khủng bố và liên hệ thực tiễn Việt Nam”, của tác giả Trần Minh Thu tại Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội có tên : “Pháp luật quốc tế với vấn đề khủng bố quốc tế : Lý luận và thực tiễn”, của tác giả Vũ Ngọc Dương tại Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội có tên : “Pháp luật quốc tế về chống khủng bố và việc hoàn thiện Bộ luật Hình sự Việt Nam” Ngoài ra, còn một số sách tham khảo giới thiệu các công ước quốc tế về chống khủng bố như “Pháp luật về chống khủng bố của một số nước trên thế giới” của TS Phạm Văn Lợi – Viện khoa học pháp lý ….và các bài viết
hội thảo về vấn đề này
Trên thế giới cũng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu của các học giả về khủng bố
quốc tế như : Alex Schmid (1983), Political terrorism, Transaction Publishers, U.S, 1983; Nations And Regional Organizations in the Fight Against Terrorism, Ashgate Publishing, Cronin (2004), Attacking Terrorism: Elements of a Grands Stratery, Washington, DC: Georgettown University Press, Boaz Ganor (2005), The counter - terrorism puzzle : a guide for decision makers, New Brunswick - London: Transaction, Moghadam (2006), The Roots of Terrorism, New York: Infobase Publishes, Nesi, Giuseppe (Editor) (2006), International Cooperation in Counter-terrorism: The United Nations And Regional Organizations in the Fight Against Terrorism, Ashgate Publishers và một số bài viết khác như: Al-Qaeda's Master Plan, Inside terrorism, Sự phát triển của các mối đe dọa
Trang 7Mục đích nghiên cứu là làm rõ thêm một số vấn đề lí luận cơ bản về khủng bố
quốc tế và pháp luật quốc tế về chống khủng bố quốc tế cũng như tập trung tìm hiểu thực trạng các quy định pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về chống khủng bố;
kinh nghiệm thực thi các quy định của pháp luật quốc tế của một số nước và việc thực thi cam kết quốc tế của Việt Nam trong hợp tác chống khủng bố, qua đó góp phần nâng
cao hiệu quả hợp tác đấu tranh chống khủng bố giữa Việt Nam với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra như sau :
- Tìm hiểu khái niệm và xu hướng phát triển của hoạt động khủng bố quốc tế, lịch
sử hình thành phát triển của chế định pháp lý quốc tế về chống khủng bố
- Tìm hiểu thực trạng nội dung của pháp luật quốc tế về chống khủng bố và kinh nghiệm thực thi các quy định của pháp luật quốc tế về chống khủng bố quốc tế của một
số quốc gia trên thế giới đại diện cho các khu vực Châu Âu, Châu Á
- Tìm hiểu thực trạng pháp luật Việt Nam về chống khủng bố và vấn đề thực thi các cam kết quốc tế của Việt Nam về vấn đề này từ đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật để nâng cao hiệu quả thực thi các cam kết quốc tế tại Việt Nam về chống khủng bố
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu :
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề pháp lý xung quanh vấn đề chống khủng
bố quốc tế với nguồn chủ yếu là điều ước quốc tế, các quy định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới đại diện cho Châu Âu, châu Á và pháp luật Việt Nam về vấn đề
Trang 8này
Đề tài tập trung làm rõ thêm một số vấn đề lí luận cơ bản về khủng bố quốc tế và pháp luật quốc tế về chống khủng bố Bên cạnh đó đề tài cũng tập trung tìm hiểu thực trạng các quy định pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về chống khủng bố; kinh nghiệm thực thi các quy định của pháp luật quốc tế của một số nước và việc thực thi cam kết quốc tế của Việt Nam trong hợp tác chống khủng bố
5 Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật việt nam về chống khủng bố
và trả lời cho các câu hỏi chính sau:
- Thứ nhất, khủng bố quốc tế là gì và xu hướng phát triển của hoạt động khủng bố quốc tế ?
- Thứ hai, lịch sử hình thành, phát triển của chế định pháp lý quốc tế về chống khủng bố như thế nào ?
- Thứ ba, hệ thống pháp luật quốc tế quy định như thế nào về chống khủng bố ?
- Thứ tư, thực trạng thực thi pháp luật về chống khủng bố của Việt Nam ra sao?
6 Phương pháp nghiên cứu :
Để tài nghiên cứu được tiếp cận theo phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử - phương pháp luận của khoa học pháp lý nói chung và khoa học luật quốc tế nói riêng, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta
Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp phân tích - tổng hợp và các phương pháp nghiên cứu truyền thống và hiện đại khác…
7 Dự kiến những đóng góp mới của đề tài :
- Làm rõ thêm một số vấn đề lí luận cơ bản về khủng bố quốc tế và pháp luật quốc
tế về chống khủng bố quốc tế
- Tìm hiểu thực trạng các quy định pháp luật quốc tế về chống khủng bố và kinh nghiệm thực thi ở một số nước
Trang 9- Tìm hiểu thực trạng pháp luật Việt Nam về chống khủng bố và việc thực thi cam
kết quốc tế của Việt Nam trong hợp tác chống khủng bố
8 Kết cấu của Luận văn :
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương:
Chương I : Một số vấn đề lý luận cơ bản về khủng bố quốc tế và pháp luật quốc tế về chống khủng bố
Chương II : Các quy định pháp luật quốc tế về chống khủng bố và hoạt động nhằm thực thi tại một số quốc gia trên thế giới
Chương III: Pháp luật Việt Nam về chống khủng bố và một số giải pháp hoàn thiện
Trang 10
1.1 Khái niệm khủng bố quốc tế :
1.1.1 Định nghĩa khủng bố trong các ĐƯQT :
Có thể nói định nghĩa về khủng bố đầu tiên xuất hiện tại điều ước quốc tế đa phương là định nghĩa được nêu ra trong Công ước Giơnevơ năm 1937 về ngăn ngừa và trừng trị khủng bố quốc tế Mặc dù không phát sinh hiệu lực nhưng theo Công ước này
thì khủng bố là việc thực hiện các hành vi phá hoại, hành vi gây nguy hiểm cho nhiều người, việc vận chuyển, chuyển giao, cố ý sử dụng các giấy tờ, tài liệu giả mạo, các hành
vi ám sát nguyên thủ quốc gia và các nhà lãnh đạo của quốc gia khác…
Trong các điều ước quốc tế thuộc khuôn khổ Liên hợp quốc về đấu tranh chống khủng bố đã có 3 công ước trực tiếp nhắc đến khái niệm "khủng bố” (terrorism) ngay tại tiêu đề, đó là: Công ước New York năm 1997 về trừng trị khủng bố bằng bom (International convention for the suppression of terrorist bombings); Công ước New York năm 1999 về trừng trị việc tài trợ khủng bố (International convention for the suppression of the financing of terrorism); Công ước New York năm 2005 về ngăn chặn các hành vi khủng bố hạt nhân (International convention for the suppression of acts of nuclear terrorism )
Công ước New York năm 1999 về trừng trị hành vi tài trợ khủng bố bên cạnh việc định nghĩa hành vi tài trợ khủng bố đã gián tiếp quy định thế nào là khủng bố Theo
Công ước này thì khủng bố là: i) "Bất kì hành vi nào cấu thành một tội phạm trong phạm vi và được định nghĩa tại một trong số các điều ước về đấu tranh chống khủng bố còn lại (được quy định tại phụ lục)” hoặc ii) "Bất kì hành vi nào khác với ý định giết hại hoặc làm bị thương nghiêm trọng đến thân thể thường dân, hoặc bất kì người nào khác không tham gia vào chiến sự trong bối cảnh xung đột vũ trang, nếu mục đích của hành
Trang 11vi này về bản chất hoặc bối cảnh xảy ra là nhằm hăm doạ dân chúng hay ép buộc một chính phủ hoặc một tổ chức quốc tế phải thực hiện hoặc không thực hiện bất kì hành vi nào” Hai công ước New York 1999 và Công ước New York năm 2005 chỉ đưa ra định
nghĩa về từng hành vi khủng bố cụ thể thuộc phạm vi điều chỉnh của công ước
Các công ước khác Công ước New York năm 1979 về chống bắt cóc con tin, Công ước Montreal năm 1991 … không nhắc đến khái niệm khủng bố một cách trực tiếp ở tiêu đề mà chỉ quy định về những tội phạm mà việc thực hiện các tội phạm đó được coi như biểu hiện của khủng bố quốc tế
Không chỉ các công ước quốc tế mà các Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc về các biện pháp phòng, chống khủng bố cũng không đưa ra định nghĩa cụ thể nào về khủng bố Ngay cả Nghị quyết số 1373 ngày 28/9/2001 làm cơ sở ra đời Uỷ ban chống khủng bố thuộc Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc mặc dù kêu gọi "các quốc gia hợp tác khẩn thiết nhằm phòng và trấn áp các hành động khủng bố, thông qua sự tăng cường hợp tác và thực hiện đầy đủ các công ước quốc tế liên quan đến chủ nghĩa khủng bố” cũng không đưa ra định nghĩa cụ thể về khủng bố
Hầu hết các điều ước quốc tế khu vực như Công ước chung về chống khủng bố (ASEAN Convention on Counter Terrorism) cũng không đưa ra được định nghĩa khủng
bố Các điều ước này trong phạm vi hợp tác đấu tranh chống khủng bố lại dẫn ra những hành vi được quy định tại các công ước quốc tế đa phương của Liên hợp quốc
Như vậy, có thể thấy có rất ít điều ước quốc tế nhắc đến khái niệm “ khủng bố” một
cách trực tiếp Tuy nhiên, nhiều văn bản quốc tế khác đã thể hiện nội hàm của khủng bố như :
Các cơ quan hữu quan của Liên hợp quốc định nghĩa: "Hoạt động khủng bố là hoạt động huỷ hoại nhân quyền, quyền dân chủ và tự do cá nhân, uy hiếp sự an toàn và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia, tạo sức ép lên quốc gia, phá vỡ văn minh xã hội, là hành
vi phạm tội với việc gây hậu quả bất lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội"
Tuyên ngôn về vấn đề chủ nghĩa khủng bố của Liên hợp quốc nêu rõ: "Tất cả các
Trang 12hình thức của chủ nghĩa khủng bố, dù xảy ra ở nơi nào, ai là kẻ chủ mưu, và hành vi phạm tội ra sao, cũng không thể thanh minh, cho nên thông qua các điều của Hiệp ước Quốc tế, cần tăng thêm mức độ xử phạt"
1.1.2 Định nghĩa khủng bố theo pháp luật của một số quốc gia và pháp luật Việt Nam :
- Theo pháp luật một số quốc gia :
* Hoa Kì :
Bộ Luật Hình sự Hoa Kì quy định :
Khủng bố quốc tế- Những hoạt động liên quan đến các hành động bạo lực hoặc nguy hiểm với đời sống con người, mà vi phạm pháp luật hình sự của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ hoặc của bất kỳ bang nào thuộc Hợp chủng quốc, hoặc sẽ vi phạm Luật hình sự nếu hành động đó được thực hiện trong phạm vi nước Mỹ hoặc bất kỳ bang nào được thực hiện nhằm mục đích đe doạ hoặc cưỡng ép, khống chế một cộng đồng dân cư; hoặc nhằm gây ảnh hưởng đến chính sách của một chính phủ bằng sự cưỡng bức đe doạ; hoặc nhằm tác động đến sự điều hành của một chính phủ thông qua việc sát hại hoặc bắt cóc; và xảy ra chủ yếu bên ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ kiểm soát, hoặc ở những vùng biên giới liên quốc gia, theo những cách thức mà đã được hoàn tất, những người này có ý đồ đe doạ hoặc cưỡng
ép chính phủ, hoặc khu vực ở đó những kẻ phạm tội hoạt động hoặc tìm cách xin tị nạn"
Trong Chính phủ Hoa Kỳ, các cơ quan chịu trách nhiệm cho các chức năng khác nhau trong cuộc chiến chống khủng bố cũng liên tục sử dụng những định nghĩa khác nhau:
+ Bộ Ngoại giao Mỹ định nghĩa khủng bố: “là hành vi bạo lực có chủ ý và mục đích chính trị nhằm vào các mục tiêu không tham chiến, tiểu quốc gia hoặc tổchức bí mật tiến hành thường dùng để gây ảnh hưởng đến công chúng.” (Nguồn cụ thể ?)
+ Cục điều tra liên bang Mỹ (FBI) định nghĩa: “khủng bố là việc sử dụng vũ lực hoặc bạo lực bất hợp pháp đối với người hay tài sản để đe doạ hay ép buộc một chính phủ, một cộng đồng dân cư nhằm thực hiện các mục tiêu chính trị hoặc xã hội” (Nguồn cụ
thể ?)
Trang 13+ Bộ Quốc phòng Mỹ định nghĩa khủng bố là: “việc sử dụng hoặc đe doạ sử dụng bạo lực bất hợp pháp nhằm khắc sâu sự sợ hãi, có ý định cưỡng chế hoặc để đe dọa chính phủ hoặc xã hội trong việc theo đuổi các mục tiêu mà nói chung là chính trị, tư tưởng hay tôn giáo”
* Anh :
Theo Luật chống khủng bố 2000: khủng bố là việc sử dụng hay đe dọa sử
dụng bạo lực nhằm vào con người hay gây thiệt hại nghiêm trọng đối với tài sản
hay tính mạng hoặc gây nguy hại tới sức khỏe, an toàn của công chúng nhằm mục đích thúc đẩy mục tiêu tư tưởng, tôn giáo hoặc chính trị.
* Trung Quốc :
Trong luật Phòng chống khủng bố đã được thông qua 2015 : Khái niệm "khủng
bố" được định nghĩa là mọi ý kiến hay hành động nhằm mưu đồ chính trị và hệ tư tưởng, thông qua bạo lực, hăm dọa, gây hoang mang trong xã hội, phá hoại an ninh công cộng, xâm phạm quyền và tài sản cá nhân và đe dọa các tổ chức chính phủ và quốc tế.
Như vậy, mỗi quốc gia có những quan điểm, quy định khác nhau về khủng bố nhưng nhìn chung các quy định này đều xác định được một số dấu hiệu cơ bản nhận biết hoạt động khủng bố
Trang 14tổ chức giải phóng dân tộc, các tổ chức quốc tế; phá hoại hệ thống giao thông quốc tế… với mục đích gây sức ép đối với chính sách đối nội, đối ngoại của các quốc gia”.
Khủng bố nhà nước hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tự do thân thể của nhân viên nhà nước, nhân viên tổ chức xã hội, công dân Việt Nam hoặc công dân nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân
Dưới góc độ pháp lý, hành vi khủng bố đã được đề cập đến trong một số luật, văn bản như : BLHS 2015, Luật Phòng chống khủng bố 2013 Theo Luật Phòng chống khủng bố 2013 thì :
Khủng bố là hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể hoặc đe dọa xâm phạm tính mạng, uy hiếp tinh thần của người khác; chiếm giữ, làm hư hại, phá hủy hoặc
đe dọa phá hủy tài sản; tấn công, xâm hại, cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số của tổ chức, cá nhân nhằm chống chính quyền nhân dân, ép buộc chính quyền nhân dân, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế, gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc gây ra tình trạng hoảng loạn trong công chúng.
Tóm lại, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quốc tế về chống khủng chưa có một định nghĩa chung hoàn chỉnh, thống nhất về khủng bố mà mới chỉ ghi nhận một số hành vi khủng bố nhất định và quy định pháp luật và quan điểm của nhiều quốc gia trên thế giới về khủng bố còn có nhiều điểm khác biệt Vì vậy, cần phải xây dựng một định nghĩa chung hoàn chỉnh, chính xác về khủng bố để việc hợp tác chống khủng bố giữa các quốc gia có hiệu quả hơn
Theo quan điểm của tác giả , khủng bố là hành vi bạo lực hoặc đe dọa bạo lực do các các nhân, tổ chức, một nhà nước hoặc liên minh nhà nước thực hiện gây nguy hiểm đến đời sống con người ( tính mạng, sức khỏe, tinh thần, tài sản ) và bất ổn chính trị nhằm gây sức ép đối với chính sách đối nội, đối ngoại của các quốc gia vì những lý do tôn giáo, sắc tộc với các hình thức thường thấy như đánh bom, bắt cóc
Trang 151.1.3 Đặc điểm của khủng bố:
- Về hành vi:
Trên thực tế, hành vi khủng bố rất đa dạng, bao gồm các loại hành vi như xâm hại
tính mạng, thân thể con người, tài sản hay tổng hợp các loại hành vi đó Phần lớn các hành
vi khủng bố là các hành vi sử dụng vũ lực đe doạ sử dụng vũ lực hoặc không mang tính
vũ lực như chống phá bằng công nghệ thông tin (tin tặc); làm ô nhiễm nguồn nước, phát tán mầm bệnh Hiện nay, theo quy định của các công ước quốc tế về chống khủng bố, hành vi khủng bố bao gồm các hành vi: chống lại an toàn hàng không dân dụng; chống lại
an toàn hành trình hàng hải và những công trình cố định trên thềm lục địa; tài trợ khủng bố; xâm phạm tính mạng, sức khoẻ con người, tài sản bằng các thiết bị gây nổ; chống lại những người được hưởng bảo hộ quốc tế bao gồm viên chức ngoại giao; bắt cóc con tin; xâm phạm an toàn sức khoẻ, tính mạng, tài sản con người bằng thiết bị hạt nhân
- Về mục đích:
Thực tiễn cho thấy, các vụ khủng bố thường gây ra tâm lý hoang mang, hoảng loạn, gieo rắc sự sợ hãi, nỗi kinh hoàng bao trùm lên cộng đồng dân cư dần dần làm mất niềm tin của người dân đối với chính quyền gây ra ảnh hưởng xấu đến ổn định xã hội, đến phát triển kinh tế của quốc gia, qua đó thực hiện cho được mục đích cuối cùng mà chúng nhắm tới chính là mục tiêu chính trị Trong một số công ước quốc tế về chống khủng bố thì
mục đích chính trị cũng đã được nhắc đến, ví dụ Công ước New York 1979 về chống bắt cóc con tin quy định hành vi thuộc phạm vi điều chỉnh công ước phải là hành vi bắt giữ,
giam giữ, đe doạ sẽ giết chết, sẽ làm bị thương nhằm cưỡng ép bên thứ ba, cụ thể là quốc gia, tổ chức quốc tế liên chính phủ, pháp nhân hoặc thể nhân, nhóm người nào đó phải thực hiện hay không được thực hiện bất kì hành vi nào như một điều kiện rõ ràng hoặc điều kiện ngầm cho việc phóng thích con tin
- Về chủ thể:
Hiện nay, có một số quan điểm cho rằng chủ thể thực hiện hành vi khủng bố bao gồm
cả quốc gia nhà nước khủng bố Tuy nhiên, phần lớn các Công ước quốc tế về phòng,
Trang 16chống khủng bố xác định cá nhân hoặc tổ chức là chủ thể của tội phạm khủng bố.
Công ước quốc tế về trừng trị việc khủng bố bằng bom tại Điều 2 quy định: “1 Một người bị coi là thực hiện một tội phạm nếu người đó ném, đặt, làm nổ hoặc kích nổ một
cách bất hợp pháp và cố ý một thiết bị gây nổ hoặc gây chết người khác tại, vào hoặc chống lại một địa điểm công cộng, một trang thiết bị của Nhà nước hoặc Chính phủ, một
hệ thống giao thông công cộng hoặc một cơ sở hạ tầng… 2 Một người bị coi là thực hiện tội phạm nếu người đó có ý đồ thực hiện tội phạm quy định tại khoản 1 Điều này 3 Một người cũng bị coi là thực hiện tội phạm nếu người đó: (a) Tham gia với tư cách đồng phạm trong tội phạm quy định tại khoản 1 và khoản 2 của Điều này; hoặc (b) Tổ chức hoặc chỉ đạo những người khác thực hiện tội phạm quy định tại khoản 1 và khoản
2 của Điều này; hoặc (c) Đóng góp bằng bất kỳ cách nào khác cho việc thực hiện một
hoặc nhiều tội phạm quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 của Điều này do một nhóm người có cùng mục đích chung thực hiện; việc đóng góp này phải là cố ý và được thực
hiện để trợ giúp hoạt động phạm tội chung hoặc mục đích chung của nhóm đó, hoặc được thực hiện khi đã nhận thức được ý đồ thực hiện tội phạm của nhóm đó” Như vậy, chủ thể của tội phạm khủng bố theo quy định của Công ước quốc tế về trừng trị việc khủng bố bằng bom có thể là cá nhân hoặc tổ chức (nhóm người)
Công ước về trừng trị việc chiếm giữ bất hợp pháp tàu bay và Công ước về trừng trị những hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hàng không dân dụng, Công ước quốc tế
về chống bắt cóc con tin, Công ước về trừng trị các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hành trình hàng hải, Nghị định thư về trừng trị các hành vi bất hợp pháp chống lại
an toàn của những công trình cố định trên thềm lục địa cũng ghi nhận cá nhân là chủ thể thực hiện tội phạm
Một số Công ước quốc tế khác chỉ đề cập tới tội phạm khủng bố nhưng không nêu rõ chủ thể của tội phạm.Ví dụ: Công ước về ngăn ngừa và trừng trị các tội phạm chống lại những người được hưởng bảo hộ quốc tế, bao gồm viên chức ngoại giao không đề cập tới chủ thể thực hiện tội phạm mà tại Điều 2 chỉ quy định các hành vi bị coi là tội
Trang 17Một số Công ước quốc tế về phòng, chống khủng bố cũng xác định hành động quân sự của quốc gia không thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước Ví dụ: Công ước quốc tế về trừng trị việc khủng bố bằng bom tại phần mở đầu có nêu: “Lưu ý rằng các hoạt động quân sự của các quốc gia được điều chỉnh theo các quy tắc của luật pháp quốc tế nằm ngoài khuôn khổ của Công ước này và việc loại trừ một số hành động của nhất định ra ngoài phạm vi điều chỉnh của Công ước này không có nghĩa là bỏ qua hoặc hợp pháp hoá các hành vi bất hợp pháp, hoặc loại trừ việc truy tố theo các luật khác
Dưới giác độ pháp luật quốc tế, cần phân biệt giữa hành vi vi phạm pháp luật quốc tế của chủ thể luật quốc tế với hành vi vi phạm được xác định là tội phạm có tính chất quốc tế Tội phạm có tính chất quốc tế là tội phạm hình sự do các cá nhân thực hiện xâm phạm tới trật tự pháp lí quốc tế hoặc quốc gia và có tính nguy hiểm trên phạm vi quốc tế mà tội khủng bố nằm trong nhóm này Các hành vi xâm phạm luật quốc tế của quốc gia sẽ được giải quyết theo chế định trách nhiệm pháp lí quốc tế bao gồm hai loại
là tội ác quốc tế và các vi phạm pháp lí thông thường khác Chính vì lẽ đó mà chủ thể của tội phạm khủng bố chỉ có thể là cá nhân và các tổ chức tội phạm (các băng, nhóm phạm tội) (1)
- Về khách thể:
Khách thể của tội phạm khủng bố quốc tế là các quan hệ xã hội được
các điều ước quốc tế đa phương về ngăn ngừa và trừng trị khủng bố quốc tế
bảo vệ và bị tội phạm khủng bố quốc tế xâm hại Tội khủng bố xâm hại đến nhiều quan
hệ xã hội do vậy khách thể của tội phạm này rất đa dạng bao gồm: quyền tự do cơ bản của con người, trật tự an toàn công cộng, hoà bình và an ninh quốc tế, mối quan hệ tốt đẹp giữa các quốc gia vv Tuy xâm phạm đến nhiều quan hệ xã hội nhưng khách thể trực tiếp, thể hiện đầy đủ nhất tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi khủng bố quốc tế chính là hoà bình và an ninh quốc tế Để xâm hại quan hệ xã hội này thì hành vi khủng bố phải thông qua những đối tượng tác động nhất định, có thể là con người, tài sản Tuy nhiên, không phải việc tấn công vào con người, tài sản trong trường hợp nào
Trang 18cũng bị coi là khủng bố Các công ước quốc tế về chống khủng bố đều loại trừ các đối tượng bị tấn công là tàu bay, tàu biển được sử dụng phục vụ quân đội, hải quan, cảnh sát
ra khỏi phạm vi điều chỉnh của công ước (như theo quy định tại Điều 1 khoản 4 Công ước về các tội phạm và một số hành vi khác thực hiện trên tàu bay, Điều 3 khoản 2 Công ước về trừng trị việc chiếm giữ bất hợp pháp tàu bay… )
Một số công ước còn quy định cụ thể đối tượng chịu sự tác động của hành vi cấu thành tội khủng bố bao gồm dân thường hoặc bất kì người nào khác không tham gia chiến sự trong bối cảnh xung đột vũ trang (điểm b khoản 1 Điều 2 Công ước quốc tế về trừng trị hành vi tài trợ khủng bố), Công ước về trừng trị khủng bố bằng bom quy định đối tượng tác động của các hành vi cấu thành tội khủng bố gồm: địa điểm công cộng, hệ thống giao thông công cộng, cơ sở hạ tầng, các trang thiết bị của nhà nước hoặc chính phủ
Có thể nhận thấy, đối tượng tác động của hành vi cấu thành tội khủng bố là các mục tiêu dân sự, cộng đồng dân cư hoặc những người không trực tiếp tham gia chiến sự, những người được hưởng bảo hộ quốc tế
Trong thực tế có trường hợp sự tấn công nhằm vào mục tiêu hỗn hợp, có cả quân sự và dân sự, ví dụ toà nhà có cả cơ quan quân sự tội phạm khủng bố là tội phạm có "tính quốc tế" nên khách thể của tội phạm khủng bố không chỉ giới hạn trong phạm vi quốc gia mà trên phạm vi toàn cầu, đó là hoà bình, an ninh quốc tế, lợi ích của nhân loại, là quan hệ bình thường ổn định giữa các quốc gia hoặc là tính mạng, tài sản, sức khoẻ, tự do, danh
dự và các quyền con người cơ bản của các công dân thuộc quốc gia đó
1.1.4 Nguyên nhân khủng bố :
Hoạt động khủng bố đa dạng và xuất hiện ở nhiều vùng khác nhau, với những điều kiện địa chính trị, xã hội khác nhau do đó nguyên nhân phát sinh và bùng phát chủ nghĩa khủng bố cũng rất đa dạng, đa phần đó là sự kết hợp của nhiều nguyên nhân chứ không phải do một hay hai nguyên nhân đơn lẻ Tuy nhiên, có thể coi nguyên nhân gây ra chủ nghĩa khủng bố gồm hai nguyên nhân chính sau :
Trang 19- Về kinh tế :
Trong khi toàn cầu hóa mang lại cho các nước phát triển những lợi ích to lớn, những
cơ hội phát triển mạnh mẽ thì nó mang lại cho các nước đang phát triển đầy những thách thức và rất nhiều khó khăn Hệ quả của sự kiện này là khoảng cách giàu nghèo ngày càng mở rộng, tình trạng bất đình đẳng về kinh tế giữa các quốc gia cũng như giữa các tầng lớp xã hội trong cùng một quốc gia , mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế với tình trạng phân phối không công bằng ngày một tăng
Sự bần cùng về kinh tế, nghèo đói, thất nghiệp đã gạt một bộ phận không nhỏ dân chúng ra bên lề của tiến trình phát triển, khiến họ mong muốn phải có sự thay đổi chính quyền, thay đổi sự áp đặt, chèn ép của các nước giàu lên các nước nghèo góp phần tạo
ra khoảng trống về đạo đức, tư tưởng , để chủ nghĩa khủng bố có điều kiện xâm nhập, gieo rắc tư tưởng phản kháng, thù hận, thúc đẩy một bộ phận của xã hội gia nhập lực lượng khủng bố Không ít thành viên hoạt động trong những mạng lưới khủng bố toàn cầu
là những thanh niên trong độ tuổi 20 đến từ châu Phi, Đông Nam Á, khu vực Viễn Đông, Trung Đông…và cả từ các nước phát triển
Có thể nói, bên cạnh những tác động tích cực của toàn cầu hóa thì các hệ quả tiêu cực
mà nó gây ra như nghèo đói, thất nghiệp, sự chênh lệch giàu nghèo trong xã hội quốc gia nói chung hay cộng đồng quốc tế nói riêng, sự bùng nổ khoa học kỹ thuật, phương thức vận chuyển và thông tin xuyên biên giới , là những nguyên nhân quan trọng đưa tới sự phản kháng, đưa tới tình trạng bạo lực - môi trường thuận lợi, mầm mống tiềm tàng cho
sự phát triển của chủ nghĩa khủng bố
- Về chính trị :
Các mâu thuẫn dân tộc và xung đột sắc tộc, tôn giáo là nguyên nhân quan trọng
dẫn đến những hành động khủng bố quốc tế Có một số học giả và cả chính khách trên thế giới cho rằng tôn giáo là vườn ươm để chủ nghĩa khủng bố sinh sôi Có người còn đánh đồng Hồi giáo với chủ nghĩa khủng bố, cho rằng Hồi giáo là nguyên nhân sinh ra chủ nghĩa khủng bố, nhất là trong bối cảnh hiện nay, khi các hình thức tôn giáo đi tới
Trang 20chủ nghĩa cực đoan.
Chúng ta không thể đánh đồng chủ nghĩa khủng bố với Hồi giáo , nhưng cũng không thể phủ định một thực tế là không ít hoạt động khủng bố có nguồn gốc từ mâu thuẫn tôn giáo Trong đó, điển hình là các cuộc khủng bố của các tổ chức Al-Qaeda kích
động phong trào Jihad (Thánh chiến) trên toàn cầu nhằm lật đổ các chế độ mà Al-Qaeda
cho là thối nát và phản Hồi giáo tại các quốc gia Ả Rập và các nước Hồi giáo khác Qaeda muốn thay thế các chế độ nói trên bằng một nhà nước Hồi giáo duy nhất hoặc một đế chế được quản lý chặt chẽ bằng cái gọi là sharia (Luật Hồi giáo) hay IS với Tư tưởng chiến đấu là thiết lập một Nhà nước Hồi Giáo thống nhất toàn Trung Đông, tại đó những giá trị thiêng liêng của Hồi Giáo sẽ được khôi phục như những ngày đầu của Hồi giáo, khi Đấng tiên tri Muhammed còn tại thế …
Có thể thấy , mọi thứ tư tưởng hệ nuôi dưỡng chủ nghĩa khủng bố về mặt thế giới quan đều có thể quy về chủ nghĩa cực đoan (cực đoan dân tộc, cực đoan tôn giáo)
Chủ nghĩa dân tộc cực đoan bảo thủ có thể dẫn đến chủ nghĩa bài ngoại, hoặc chủ nghĩa ly khai Đây được coi là một trong những nguồn gốc dai dẳng nhất, mạnh mẽ nhất
và nguy hiểm nhất khiến phát sinh chủ nghĩa khủng bố Trong khi đó, chủ nghĩa tôn giáo cực đoan khiến các tín đồ tôn thờ Đấng tối cao một cách mù quáng, lợi dụng đức tin để kêu gọi “ Thánh chiến”
Bên cạnh đó, sự thiếu vắng hệ tư tưởng cách mạng cùng với toàn cầu hóa nếu
không biết khai thác thì dễ làm xóa mờ bản sắc văn hóa dân tộc, tôn giáo…đã tạo ra một khoảng trống, mà chủ nghĩa khủng bố có thể lợi dụng để xâm nhập, kích động tâm lý, tuyên truyền trong dân chúng, tạo nên những hành động phản kháng chính quyền
1.1.5 Hậu quả của khủng bố :
Hàng năm, những vụ khủng bố đã cướp đi không biết bao nhiêu sinh mạng con người, gây nên cảnh đổ máu tàn khốc, người thân li tán Những người may mắn sống sót
có thể mang theo di chứng suốt đời Khủng bố còn làm tiêu tốn biết bao nhiêu công sức, của cải của con người Tài sản, nhà cửa, các công trình kiến trúc mà bao người phải nỗ lực
Trang 21trong nhiều năm tháng mới tạo dựng lên được chỉ trong một tích tắc đã bị huỷ hoại hoàn toàn Nhiều người bị đầy vào cảnh không nhà, không cửa, tay trắng chỉ trong giây phút Kèm theo đó, nguy hiểm hơn là môi trường sống của trái đất bị đặt trong nguy cơ bị huỷ diệt bất cứ lúc nào Đây là những hậu quả tức thời trước mắt mà ai cũng có thể nhìn thấy Không chỉ có vậy, nạn khủng bố lan tràn khiến tất cả mọi người mất đi cảm giác an toàn, cảm giác yên tâm trong cuộc sống trong cuộc sống Nỗi ám ảnh về khủng bố len lỏi vào cuộc sống bình yên của mọi người và đang mài mòn, thách thức sức chịu đựng của tất cả Chưa bao giờ trong lịch sử nhân loại hình thức khủng bố lại tàn bạo đến thế Chúng hành quyết, chặt đầu nhiều người và bêu thi thể của họ tại quảng trường, nơi công cộng VD :
IS đã tung video chặt đầu con tin người Mỹ Peter Kassig và công khai hình ảnh ghi lại cảnh hành hình các phi công và sĩ quan trung thành với chính phủ tổng thống Bashar al-Assad cùng lời đe dọa với Anh và Mỹ Khả năng huỷ hoại thần kinh loài người của nó còn lớn và tai hại gấp nhiều lần khả năng làm đổ máu hay phá huỷ tài sản Bên cạnh những hậu quả có liên quan đến con người, còn tồn tại những hậu quả lâu dài cho tương lai loài người Khủng bố khiến cho mâu thuẫn, xung đột trên thế giới ngày càng trở nên gay gắt quyết liệt Khối thống nhất, nền hoà bình mà nhân loại nỗ lực xây dựng đã bị xâm hại và lung lay thực sự gây thiệt hại nghiêm trọng đến hoạt động bình thường của một Chính phủ, hệ thống giao thông công cộng, hệ thống liên lạc hay cơ sở hạ tầng, làm mất
ổn định nghiêm trọng hoặc huỷ hoại cơ cấu xã hội, kinh tế, thể chế và chính trị căn bản của một quốc gia hoặc một tổ chức quốc tế Khủng bố chưa phải là một cuộc chiến tranh công khai trên một phạm vi rộng nhưng tiến hành khủng bố là cách để nuôi dưỡng mầm mống và làm bùng phát chiến tranh trên toàn thế giới
1 2 Xu hướng phát triển của chủ nghĩa khủng bố :
Khủng bố ngày càng lan rộng Xu thế toàn cầu hóa hiện nay chính là môi trường lí tưởng
để các nhóm khủng bố xuyên quốc gia phát triển Ranh giới giữa khủng bố trong phạm vi một đất nước và khủng bố xuyên quốc gia đang ngày càng lu mờ Có thể nhận định, xu hướng phát triển của chủ nghĩa quốc tế hiện nay như sau:
Trang 221.2.1 Thay đổi mục tiêu và mục đích tấn công :
Các tổ chức khủng bố hiện nay mở rộng địa bàn tấn công ra ngoài phạm vi các nước phương Tây và có khuynh hướng tiến hành các vụ tấn công khủng bố ở các quốc gia đang phát triển Sau sự kiện 11/9, các hoạt động khủng bố quy mô lớn xảy ra trên thế giới phần lớn là nhằm vào Mỹ và các quốc gia phương Tây Tuy nhiên, hiện nay, khủng
bố đã mở rộng mục tiêu tấn công của mình ra các khu vực ngoài phạm vi các nước
phương Tây như khu vực Nam Á, Trung Đông, châu Phi, Đông Nam Á…Hàng loạt những vụ khủng bố gần đây ở các nước đang phát triển như Ai Cập , Ấn Độ … là minh chứng cụ thể nhất cho sự thay đổi địa bàn tấn công của bọn khủng bố Do Mỹ và các nước phương Tây liên tục tăng cường các biện pháp chống khủng bố trong nước, các tổ chức khủng bố quốc tế đã điều chỉnh sách lược tấn công các quốc gia đang phát triển Đặc điểm chung của những quốc gia đang phát triển này là trình độ phát triển kinh tế xã hội thấp, không đồng đều, trong đó sự mâu thuẫn tôn giáo, mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn xã hội diễn biến hết sức phức tạp Bên cạnh đó cơ chế chống khủng bố của hầu hết những quốc gia này chưa hoàn thiện, trang bị chống khủng bố lạc hậu vì thế bọn khủng
bố dễ dàng đạt được mục đích tấn công các nhân viên và trụ sở của các nước phương Tây đặt tại những nước này
Ngoài ra, nếu trước đây các phần tử khủng bố đã chĩa mũi nhọn tấn công chủ yếu vào những thành phố có ý nghĩa tượng trưng hoặc là trung tâm kinh tế chính trị có sự ảnh hưởng lớn, cơ sở chính trị, quân sự trọng yếu thì hiện nay đã chuyển sang coi các cơ
sở dân dụng tập trung đông người làm mục tiêu chính Trong đó chủ yếu bao gồm các
cơ sở hạ tầng, khu dân cư, các phương tiện giao thông công cộng và các khu giải trí, ăn uống lớn làm cho nhiều người thương vong, gây khủng hoảng trong xã hội
Về mục đích , các cuộc tấn công hiện nay ngoài mục đích chính trị còn kết hợp nhiều mục đích khác như tạo ra sự hoang mang cho người dân, khiến người dân đánh mất sự tín nhiệm với chính phủ , thông qua các phương tiện truyền thông gây chấn động dư luận, phá hoại những nỗ lực hòa bình, tuyên dương sự tồn tại các hành vi khủng bố và các phần
tử khủng bố, gây ra sự khủng hoảng, hoang mang trong xã hội, qua đó gây ảnh hưởng xấu
Trang 23đến sự ổn định của xã hội và sự phát triển kinh tế
1.2.2 Thay đổi hình thức, phương tiện, thành phần khủng bố , tốc độ, chu kì hoạt động của hành động khủng bố :
Trước đây, các phần tử khủng bố thường dùng các phương thức như ám sát, đánh bom
tự sát, …Nhưng đến nay, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ đã xuất hiện khủng bố sử dụng công nghệ cao như vũ khí sinh học, hóa học, vũ khí hạt nhân với mức
độ tàn sát lớn và để lại hậu quả lâu dài Chúng có các chuyên gia máy tính, sinh hóa và các chuyên gia vũ khí gây nổ, được đào tạo huấn luyện khủng bố chuyên nghiệp, sử dụng thành thạo các loại vũ khí kể cả loại vũ khí hiện đại nhất
Bên cạnh đó, chúng còn vận dụng tổng hợp nhiều phương thức tấn công, áp dụng phương thức tổng hợp tấn công mục tiêu, sử dụng tổng hợp nhiều loại vũ khí trang bị khác nhau như: súng bộ binh tự động, bom, lựu đạn v v Đồng thời, sử dụng nhiều thủ đoạn kết hợp như: tấn công bằng vũ khí, ném lựu đạn .tính chất và trình độ của chúng
1.2.3 Thay đổi quy mô, chiến lược , cơ cấu tổ chức, ngân quỹ hoạt động :
Giờ đây, các tổ chức khủng bố lợi dụng công nghệ, khoa học tiên tiến như internet để tạo thành một mạng lưới tổ chức mang tính toàn cầu, rộng khắp Mạng lưới này do nhiều
tổ chức nhỏ ở khắp nơi trên thế giới kết hợp thành, chúng không còn tập trung mà phân
Trang 24chia rải rác, thường phân bố rộng, quân số đông và hành động rất linh hoạt Chúng hoạt động độc lập với nhau đồng thời cũng liên hệ mật thiết với nhau Hàng loạt các vụ khủng bố được tiến hành đa phần là do các tổ chức quy mô nhỏ thực hiện, thậm chí do một số cá nhân không thuộc tổ chức nào thực hiện nhưng mức độ tinh vi lại tăng lên rất nhanh và mang đậm “dấu ấn cá nhân” Nhiều vụ khủng bố diễn ra bất ngờ khiến các quốc gia không kịp trở tay Khiến cho việc đề phòng và ngăn chặn hoạt động khủng bố
sẽ gặp nhiều khó khăn hơn
Về ngân quỹ hoat động, ngày nay nguồn thu của các tổ chức khủng bố đa dạng và mạnh hơn Trong đó có 2 nguồn thu quan trọng là đánh thuế (bền vững, ít bị ảnh hưởng
từ bên ngoài), và bán dầu Các nguồn khác là quyên góp, bắt cóc, tồng tiền, bán đồ cổ… Chúng kinh doanh, thao túng kinh tế và tự tích tiểu thành đại VD: tổ chức IS, chúng được ví như Taliban với những giếng dầu trong tay Mỗi ngày IS bán được tới 30 nghìn thùng dầu với giá rẻ hơn giá thị trường chung trên thế giới, trở thành tổ chức khủng bố giàu nhất trên thế giới Ngoài ra, các tổ chức này ít khi dùng tiền để chi cho các hoạt động chế tạo hoặc mua vũ khí mà hầu hết số tiền đó được dùng vào công tác chiêu mộ,
du lịch và mở lớp bồi dưỡng
Điều này khiến việc theo dõi hoạt động gây quỹ của các thế lực khủng bố ngày càng gặp nhiều khó khăn
1.2.4 Xu thế “địa phương hóa”
Đây là một trong những thay đổi cơ bản của sự phát triển chủ nghĩa khủng bố quốc tế
Đó là sự liên kết chặt chẽ giữa các tổ chức tội phạm như các tổ chức tôn giáo cực đoan địa phương, các thế lực dân tộc chủ nghĩa, các thế lực phân biệt chủng tộc hoặc các tổ chức tội phạm xã hội đen Từ đó phát triển thế lực của các tổ chức khủng bố địa phương đồng thời lợi dụng danh nghĩa các thế lực địa phương này để tiến hành các hoạt động khủng bố Khủng bố giờ đây không còn là các cuộc tấn công quy mô lớn được lên kế hoạch và điều phối từ bên ngoài, mà chính là những nhóm hoặc cá nhân địa phương
1.2.5 Thánh hóa hệ tư tưởng :
Chủ nghĩa khủng bố có liên hệ mật thiết với giáo lý đạo Hồi, hầu hết những phần tử
Trang 25khủng bố hiện nay đều tự xưng là những tín đồ của đạo Hồi chính thống Tất cả đều
“thánh hóa” các hành vi khủng bố của mình , nhất là khi tổ chức Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) xuất hiện IS đã hiện thực hóa được tư tưởng thống nhất đạo Hồi, từ một tổ chức Hồi giáo cực đoan dòng Sunni trở thành một nhà nước hiện hữu, sẵn sàng chém giết bất cứ ai trái ý chúng IS đã biến tướng thành một nhà nước khủng bố, vượt trên tầm 1 tổ chức Hồi giáo thánh chiến hùng mạnh như Al-Qaeda
2 Lịch sử hình thành, phát triển của chế định pháp lý quốc tế về chống khủng bố :
2.1 Giai đoạn trước cuộc khủng bố tại Mỹ ngày 11/9/2001:
Ban đầu hợp tác quốc tế về chống khủng bố hình thành ở cấp độ song phương giữa các quốc gia thông qua các tập quán, các hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự trong đó
có quy định trách nhiệm của các bên tham gia ký kết trong việc trao đổi thông tin, tương trợ tư pháp và dẫn độ tội phạm trong đó có tội phạm khủng bố
Ở cấp độ đa phương, có thể nói điều ước quốc tế đa phương đầu tiên đề cập tới khủng
bố là Công ước Giơnevơ năm 1937 về ngăn ngừa và trừng trị khủng bố quốc tế.Tuy
nhiên, do không hội đủ số lượng thư phê chuẩn nên Công ước đã không phát sinh hiệu lực Đây đánh dấu nỗ lực đầu tiên của cộng đồng quốc tế trong hợp tác chống khủng
bố, đặt cơ sở nền móng cho các nỗ lực tiếp theo của cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực này
Từ sau Công ước Giơnevơ năm 1937 cộng đồng quốc tế đã ngày càng tập trung xây
dựng các quy phạm pháp luật quốc tế về chống khủng bố và đã có nhiều công ước về chống khủng bố trong các lĩnh vực bảo an ninh hàng không quốc tế , hàng hải, ngoại giao, chống bắt cóc con tin, đảm bảo an toàn vật liệu hạt nhân, an toàn hàng hải, công trình cố định trên biển và thềm lục địa, đánh dấu chất nổ dẻo, chống khủng bố bằng bom… được thông qua Cụ thể :
Trong lĩnh vực đảm bảo an ninh hàng không quốc tế, dưới sự bảo trợ và chủ trì của Liên hợp quốc và Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế ICAO, nhiều điều ước quốc tế về
Trang 26chống khủng bố hàng không quốc tế đã được ra đời, như: Công ước Tokyo năm 1963 về các tội phạm và một số hành vi khác thực hiện trên tàu bay; Công ước Lahaye 1970 về trừng trị việc chiếm giữ bất hợp pháp tàu bay; Công ước Montreal năm 1971 về trừng trị những hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hàng không dân dụng; Nghị định thư Montreal năm 1988 về trừng trị các hành vi bạo lực bất hợp pháp tại các cảng hàng không phục vụ hàng không dân dụng quốc tế.
Trong lĩnh vực hàng hải, Liên hợp quốc và Tổ chức Hàng hải quốc tế IMO đã soạn thảo và thông qua một số công ước quốc tế như: Công ước về trừng trị các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hành trình hàng hải năm 1988; Nghị định thư Rome năm
1988 về trừng trị các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn của các công trình cố định trên thềm lục địa
Cùng với đó là các công ước về các lĩnh vực khác, cụ thể : Công ước New York 1973 về ngăn ngừa và trừng trị các tội phạm chống lại những người được bảo hộ quốc tế, bao gồm viên chức ngoại giao ; New York năm 1979 về chống bắt cóc con tin ; Công ước Viên 1979 về bảo vệ an toàn vật liệu hạt nhân ; Công ước về đánh dấu chất nổ dẻo để nhận biết năm 1991; Công ước New York năm 1997 về trừng trị khủng bố bằng bom, Công ước New York năm 1999 về trừng trị hành vi tài trợ cho khủng bố
Có thể nói, dù chưa đạt được sự thống nhất về quan điểm để cùng nhau xây dựng một điều ước quốc tế chung có tính toàn cầu về chống khủng bố quốc tế nhưng các quốc gia
đã thành công trong việc xây dựng các quy phạm quốc tế liên quan đến phòng, chống khủng bố trong những lĩnh vực riêng biệt
Bên cạnh các công ước quốc tế về chống khủng bố được thông qua trong khuôn khổ Đại hội đồng Liên hợp quốc và các tổ chức thành viên, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc với vai trò quan trọng trong việc gìn giữ hoà bình nói chung và ngăn ngừa những hành vi khủng bố đe dọa đến hòa bình quốc tế nói riêng đã cho ban hành nhiều Nghị quyết về chống khủng bố như: Nghị quyết số 1267 năm 1999 về tình hình khủng bố ở Afghanistan , Nghị quyết số 1333 (2000), Nghị quyết số 1363 (30/7/2001), Nghị quyết số 1373 về
Trang 27phong toả, tịch thu tài sản của các phần tử khủng bố và tài trợ cho khủng bố ngày 28/9/2001
Ở cấp độ khu vực, đã có một số điều ước về chống khủng bố được ký kết : Công ước
về phòng ngừa và trừng trị khủng bố năm 1971 của Tổ chức các quốc gia châu Mỹ ( ÓAS ); Công ước châu Âu về chống khủng bố năm 1977; Công ước về chống khủng bố năm
1987 của Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á; Công ước Arập về chống khủng bố năm 1998 của Liên đoàn các quốc gia Arập; Hiệp định hợp tác chống khủng bố năm 1999 của Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG); Công ước về chống khủng bố quốc tế năm 1999 của Tổ chức hội nghị Hồi giáo; Công ước về phòng ngừa và chống khủng bố năm 1999 của Liên minh châu Phi ( AU), Hiệp ước về hợp tác giữa các quốc gia thành viên của Khối thịnh vượng chung của các quốc gia độc lập trong cuộc chiến chống khủng bố, năm 1999 của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) …
2.2 Giai đoạn từ sau cuộc khủng bố tại Mỹ ngày 11/9/2001 đến nay :
Kể từ sau cuộc khủng bố tại Mỹ ngày 11/9/2001 trước sự phát triển mạnh mẽ và mở rộng không ngừng về phạm vi, lĩnh vực hoạt động của tội phạm khủng bố quốc tế, đứng trước nguy cơ hoà bình và an ninh quốc tế bị đe doạ nghiêm trọng các quốc gia và cộng đồng quốc tế đã xích lại gần nhau, hợp tác chặt chẽ hơn trong đấu tranh chống khủng bố Trên bình diện hợp tác giữa các quốc gia và cộng đồng quốc tế trong cuộc chiến chống khủng bố sau sự kiện ngày 11/9 tại Mỹ,vai trò của Liên hợp quốc trong cuộc chiến chống khủng bố cũng ngày càng rõ nét Hội đồng bảo an Liên hợp quốc ngày càng khẳng định vị trí của mình trong tiến trình chống khủng bố nói riêng và duy trì hoà bình,
an ninh quốc tế nói chung
Minh chứng cụ thể cho sự phát triển mạnh của hợp tác chống khủng bố là năm 2006 tại kỳ họp lần thứ 60, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Chiến lược toàn cầu về chống khủng bố Chiến lược toàn cầu chống khủng bố có phạm vi bao trùm các khía cạnh của hoạt động chống khủng bố, là cơ sở pháp lý quan trọng cho hợp tác đấu tranh chống khủng bố giữa các quốc gia
Trang 28Rất nhiều nghị quyết chống khủng bố tiếp tục được Hôị đồng bảo an thông qua: Nghị quyết số 1390 (2002) ; Nghị quyết số 1452 2002 Nghị quyết 1456 ( 2003), Nghị quyết
1455, Nghị quyết 1465 và 1516, Nghị quyết số 1624 2005 về các biện pháp bổ sung chống các hành vi kích động khủng bố
Cùng với các nghị quyết của Đại hội đồng và Hội đồng bảo an là các cơ chế giám sát việc thực hiện Nghị quyết và các biện pháp thực thi cụ thể trong đó có việc thành lập các Uỷ ban và thiết lập cơ chế báo cáo quốc gia
Bên cạnh đó, ngày càng có nhiều các điều ước quốc tế đa phương, song phương và các điều ước quốc tế và khu vực cùng các thoả thuận song phương về hợp tác chống khủng bố được thông qua tạo nền tảng nền tảng các chế định pháp lý vững chắc trong cuộc chiến chống khủng bố Cụ thể :
Công ước Viên năm 2005 (sửa đổi Công ước Viên năm 1980) về bảo vệ an toàn vật liệu hạt nhân - Công ước New York năm 2005 về ngăn ngừa các hành vi khủng bố bằng hạt nhân - Nghị định thư năm 2005 bổ sung Công ước về ngăn chặn các hành vi phi pháp chống lại an toàn hàng hải - Nghị định thư năm 2005 bổ sung Nghị định thư về trừng trị những hành vi bất hợp pháp chống lại những công trình trên thềm lục địa Công ước về ngăn ngừa những hành vi trái pháp luật liên quan đến hàng không dân dụng quốc
tế năm 2010
Ở cấp độ hợp tác song phương , có một số hiệp định chống khủng bố được các quốc gia ký kết như: Thoả thuận giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Iran về chống khủng bố năm 2007; Bản ghi nhớ về hợp tác chống khủng bố quốc tế giữa Bangladesh và Australia 2008,Hiệp định Hợp tác và Đối tác (PCA) giữa Indonesia và Liên minh châu Âu (EU) năm 2009, Thỏa thuận chống khủng bố Mỹ - Ấn Độ năm 2010; Thoả thuận hợp tác chống khủng bố
Mỹ - Nga năm 2011
Ở cấp độ khu vực, Công ước chung về chống khủng bố (ASEAN Convention on Counter Terrorism 2007, Công ước chống khủng bố của Tổ chức hợp tác Thượng Hải năm 2009 Kế hoạch hành động của EU về chống khủng bố /2011)
Trang 29Như vậy cùng với sự phát triển của khủng bố, quá trình hợp tác chống khủng bố giữa các quốc gia và cộng đồng quốc tế đã ngày càng đi vào thực chất và có chiều sâu hơn, các chế định pháp lý từ cấp độ song phương đến khu vực, liên khu vực và toàn cầu ngày càng bao trùm.
TIỂU KẾT :
Tóm lại , nền tảng chế định pháp lý quốc tế về chống khủng bố qua lịch sử hình thành và phát triển ngày càng được hoàn thiện Tuy nhiên, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quốc tế về chống khủng vẫn chưa có một định nghĩa chung hoàn chỉnh, thống nhất về khủng bố Việc xây dựngMột định nghĩa chung về khủng bố là vô cùng cần thiết để quá trình hợp tác chống khủng bố giữa các quốc gia ngày càng có hiệu quả
Chương II.
CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT QUỐC
TẾ VỀ CHỐNG KHỦNG BỐ VÀ HOẠT ĐỘNG NHẰM THỰC THI TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI
1 Nội dung của pháp luật quốc tế về chống khủng bố :
1.1 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế trong hoạt động chống khủng bố :
Nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế về đấu tranh chống khủng bố được hiểu
là những tư tưởng chính trị, pháp lý mang tính chỉ đạo, bao trùm có giá trị bắt buộc chung được ghi nhận ở các điều ước quốc tế và tập quán quốc tế làm cơ sở cho các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế trong tiến trình hợp tác đấu tranh chống khủng bố
Là một bộ phận của luật quốc tế nên pháp luật quốc tế về chống khủng bố trước hết phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế bên cạnh đó do còn có những đặc thù riêng nên pháp luật quốc tế về chống khủng bố cũng có những nguyên tắc đặc thù điều chỉnh Vì vậy, có thể phân chia nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế về đấu
Trang 30tranh chống khủng bố làm nhóm các nguyên tắc chung và nhóm các nguyên tắc đặc thù Trong pham vi luận văn sẽ chỉ nghiên cứu nhóm các nguyên tắc đặc thù.
1.1.1 Nhóm nguyên tắc chung :
- Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia;
- Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực;
- Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế;
- Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác;
- Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế ( Pacta sunt servanda )
- Nguyên tắc dân tộc tự quyết;
- Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác
Đây là những nguyên tắc nền tảng quan trọng nhất của toàn bộ các hệ thống các
nguyên tắc của luật quốc tế hiện đại Nó được ghi nhận trong các điều lệ của các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc, của tuyệt đại đa số các tổ chức quốc tế phổ cập và các tổ chức quốc tế khu vực, trong nhiều điều ước quốc tế đa phương và song phương và trong nhiều văn bản quốc tế quan trọng của các hội nghị và tổ chức quốc tế
và an ninh quốc tế Nội dung của nguyên tắc là các quốc gia không lợi dụng để can thiệp vào công việc nội bộ hoặc đơn phương tiến hành các hành vi thuộc quyền tài phán hoặc các chức năng thuộc thẩm quyền của cơ quan hữu quan của mình trên lãnh thổ của quốc
Trang 31gia khác khi không được sự cho phép của quốc gia đó
Nguyên tắc này đã được cụ thể hóa tại một số điều ước song phương, điều ước đa phương VD : Điều 20 và Điều 22 Công ước quốc tế về chống tài trợ khủng bố quy định
như sau: “Các quốc gia thành viên sẽ thực hiện các nghĩa vụ của mình theo quy định của Công ước này theo phương thức phù hợp với nguyên tắc bình đẳng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác”(4)
và “không một quy định nào trong Công ước này cho phép quốc gia thành viên thực hiện trên lãnh thổ quốc gia thành viên khác quyền tài phán hoặc các chức năng dành riêng cho các cơ quan có thẩm quyền của quốc gia
Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng có ngoại lệ khi cho phép các quốc gia và Hội đồng bảo an sử dụng vũ lực hợp pháp theo quy định tại các điều từ 42 đến 47 và điều 51 Hiến chương Liên Hiệp Quốc
1.1.2.2 Pháp luật chống khủng bố và các biện pháp chống khủng bố được vi phạm các quyền con người cơ bản :
Quyền con người được hiểu là: “phẩm giá năng lực, nhu cầu và lợi ích hợp pháp của con người được thể chế, bảo vệ bởi pháp luật quốc gia, pháp luật quốc tế”
Mục đích cơ bản và quan trọng nhất trong hợp tác quốc tế về chống khủng bố là
để bảo vệ các quyền con người được pháp luật quốc tế thừa nhận , đảm bảo cho nhân loại được tồn tại và phát triển trong hoà bình Chính vì vậy, bảo vệ quyền con người là nguyên tắc cơ bản trong pháp luật chống khủng bố quốc tế
Nguyên tắc này được thể hiện thông qua việc các quyền của người bị tình nghi là phạm tội được bảo đảm Trong quá trình thực thi quyền tài phán, thực hiện các thủ tục tố tụng (tạm giam, điều tra, truy nã người bị tình nghi) của mình, các quốc gia có nghĩa vụ ; đảm bảo quyền hợp pháp và được đối xử công bằng đối với người bị tình nghi phạm tội trong tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng (Điều 13 Công ước Tokyo năm 1963, Điều 8 Công ước New York năm 1979, Điều 12 Công ước Viên năm 1980, Điều 14 Công ước New York năm 1997…) thực hiện các biện pháp cần thiết để đảm bảo quyền của người bị giam giữ như hỗ trợ người đó trong việc liên lạc ngay với đại diện thích
Trang 32hợp gần nhất của quốc gia mà người đó là công dân, thông báo cho quốc gia đó hoặc cho bất kỳ quốc gia nào khác có liên quan về việc giam giữ đó, lý do, hoàn cảnh giam giữ
Theo các quy định về thủ tục tố tụng của các công ước quốc tế về chống khủng
bố, người bị tình nghi phạm tội được hưởng đầy đủ các quyền của mình trong tất cả các
giai đoạn của quá trình tố tụng và dẫn độ mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào
VD :Điều 12 Công ước về bảo vệ an toàn vật liệu hạt nhân quy định “Trong quá trình tiến hành các thủ tục tố tụng đối với một người liên quan đến bất tội phạm nào được quy định tại Điều 7, người đó sẽ được đảm bảo đối xử công bằng trong tất cả các giai đoạn của tiến trình tố tụng”
Khoản 3 Điều 6 Công ước quốc tế về chống bắt cóc con tin quy định các quyền
của người phạm tội, bao gồm: “Liên lạc ngay với đại diện thích hợp ở gần nhất của quốc gia mà người đó mang quốc tịch hoặc quốc gia có quyền liên lạc như vậy hoặc quốc gia nơi người đó thường trú nếu người này không có quốc tịch; được đại diện của quốc gia đó đến thăm; được thông báo về các quyền của mình”… và “bất kỳ người nào đang bị thực hiện các thủtục tố tụng có liên quan đến bất kỳ tội phạm nào được nêu tại Điều 1 sẽ được đảm bảo sự đối xử công bằng trong tất cả các giai đoạn tố tụng, bao gồm cả việc được hưởng tất cả các quyền và các bảo đảm được quy định trong pháp luật quốc gia nơi người đó có mặt”(Khoản 2 Điều 8)
Ngoài ra, các công ước quốc tế về chống khủng bố đều quy định việc không được
dẫn độ hoặc tương trợ pháp lý nếu một quốc gia thành viên công ước có đầy đủ cơ sở tin rằng yêu cầu dẫn độ hoặc tương trợ pháp lý nhằm mục đích phương hại đến người khác
vì lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, nguồn gốc sắc tộc hoặc chính kiến của họ
Bên cạnh đó , pháp luật quốc tế về chống khủng bố còn có các quy định bảo vệ
quyền của những nạn nhân của khủng bố Công ước quốc tế về chống bắt cóc con tin
năm 1979 nhằm mục đích bảo vệ một trong những quyền con người cơ bản nhất - quyền
tự do thân thể, đã thừa nhận rằng “ mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và quyền được an toàn về thân thể” và quốc gia nơi con tin bị bắt giữ có nghĩa vụ “thực hiện tất
cả các biện pháp mà quốc gia đó cho là thích hợp để giảm nhẹ tình trạng của con tin,
Trang 33đặc biệt là đảm bảo phóng thích con tin và trợ giúp con tin rời đi sau khi được phóng thích, khi thích hợp”
1.1.2.3 Mọi hành vi khủng bố quốc tế đều phải bị ngăn chặn và trừng trị, không được viện dẫn lý do chính trị để từ chối hợp tác chống khủng bố :
Nguyên tắc này thực chất là nguyên tắc phái sinh từ nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau Nguyên tắc được ghi nhận tại hầu hết các công ước quốc tế
về chống khủng bố Nguyên tắc này quy định các quốc gia phải có nghĩa vụ ngăn chặn khủng bố và phải trừng trị tội phạm khủng bố nghiêm khắc, các quốc gia có nghĩa vụ hỗ trợ tối đa trong việc thực hiện các thủ tục tố tụng hình sự đối với các tội phạm khủng bố Khi tội phạm khủng bố xảy ra thuộc quyền tài phán của quốc gia nào thì quốc gia đó phải đưa ra xét xử, trường hợp không xét xử thì phải dẫn độ cho quốc gia khác có liên quan để xét xử, không được viện dẫn lý do chính trị để từ chối dẫn độ hoặc xét xử tội phạm khủng bố
VD : Điều 11 Công ước quốc tế về trừng trị khủng bố bằng bom quy định: “Vì mục đích dẫn độ hoặc tương trợ pháp lý, không một tội phạm nào quy định tại Điều 2 bị coi là tội phạm chính trị hoặc tội phạm xuất phát từ các động cơ chính trị Theo đó, yêu cầu về dẫn độ hoặc tương trợ pháp lý đối với tội phạm như vậy không thể bị từ chối vì lý
do tội phạm đó liên quan đến tội phạm chính trị hoặc tội phạm xuất phát từ động cơ chính trị”;
Trong trường hợp quốc gia ký kết không dẫn độ, các điều ước quốc tế về chống khủng bố đã quy định trách nhiệm của quốc gia trong việc chuyển giao vụ việc cho cơ quan có thẩm quyền của mình để xét xử Điều 10 Công ước về bảo vệ an toàn vật liệu hạt
nhân quy định : “Nếu một người bị tuyên bố phạm tội đang có mặt trong lãnh thổ của một Quốc gia thành viên và quốc gia đó không dẫn độ người này thì bất kể vì lý do gì và không được trì hoãn quá đáng, quốc gia phải chuyển vụ án cho các cơ quan có thẩm quyền của mình để khởi tố thông qua những thủ tục tố tụng theo của luật quốc gia…”
Việc từ chối không dẫn độ hoặc tương trợ pháp lý chỉ có thể xảy ra khi một quốc gia tin rằng việc dẫn độ hoặc tương trợ pháp lý đó có thể làm phương hại đến quyền cơ
Trang 34bản của con người vì lý do chủng tộc, quốc tịch hoặc tôn giáo dưới danh nghĩa chống khủng bố
VD : Điều 12 Công ước quốc tế về trừng trị khủng bố bằng bom quy định: “Không một quy định nào trong Công ước được giải thích là áp đặt nghĩa vụ dẫn độ hoặc tương trợ pháp lý nếu quốc gia thànhviên được yêu cầu dẫn độ các tội phạm quy định tại Điều 2 hoặc yêu cầu tương trợ đối với các tội phạm đó đã được đưa ra nhằm mục đích truy tố hoặc trừng trị một người vì lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, nguồn gốc sắc tộc hoặc chính kiến của người đó hoặc việc đáp ứng yêu cầu đó có thể làm phương hại cho tình thế của người đó vì một trong các lý do trên”
1.2 Các quy định của pháp luật quốc tế về các biện pháp chống khủng bố :
Mặc dù việc quy định các biện pháp về chống khủng bố nằm rải rác trong nhiều điều ước khác nhau , giới hạn trong từng lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của công ước nhưng qua nghiên cứu các điều ước quốc tế về chống khủng bố có thể chia các biện pháp thành 2 nhóm :
1.2.1 Nhóm các biện pháp về ngăn ngừa khủng bố :
1.2.1.1 Hợp tác trao đổi thông tin :
Hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ hiện đại việc trao đổi nhanh chóng thông tin tình báo là một yếu tố cực kỳ quan trọng để có thể phản ứng kịp thời trước những nguy cơ mới này giúp ngăn ngừa khủng bố diễn ra
Hợp tác trao đổi thông tin đã được quy định trong các công ước điều chỉnh các lĩnh vực khác nhau về vấn đề chống khủng bố như: Điều 13 Công ước về trừng trị các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hành trình hàng hải; Điều 8, Điều 9 Công ước
về việc đánh dấu vật liệu nổ dẻo để nhận biết; Điều 15 Công ước quốc tế về trừng trị việc khủng bố bằng bom; Điều 7 Công ước về đấu tranh với các hành vi khủng bố hạt nhân năm 2005… VD : Điều 12 Công ước về trừng trị những hành vi bất hợp pháp
chống lại an toàn hàng không dân dụng quy định:“Phù hợp với pháp luật của mình, bất kỳ quốc gia ký kết nào, nếu có cơ sở tin rằng một trong các tội phạm nêu tại Điều
1 sẽ được thực hiện, sẽ cung cấp bất kỳ thông tin liên quan nào có được cho những
Trang 35quốc gia mà quốc gia đó tin là những quốc gia nêu tại khoản 1 Điều 5.
1.2.1.2 Hợp tác thực thi các biện pháp hành chính :
Hợp tác thực thi các biện pháp hành chính bao gồm các biện pháp như: kiểm soát biên
giới, kiểm soát xuất nhập cảnh, nơi cư trú, kiểm tra người, hành lý, sử dụng thiết bị kỹ thuật phát hiện chất nổ, chất độc hành lý, sử dụng thiết bị kỹ thuật phát hiện chất nổ, chất độc… tại những điểm nghi ngờ, dễ xảy ra các hành vi khủng bố……;
Đây là biện pháp quan trọng trong chính sách chống khủng bố nói chung và hợp tác chống khủng bố nói riêng.Thực tế trong thời gian qua cho thấy việc thực hiện tốt các biện pháp mang tính chất hành chính ở nhiều quốc gia đã giúp phát hiện và ngăn ngừa nhiều hành vi khủng bố
Biện pháp này đã được quy định trong nhiều điều ước quốc tế về chống khủng
bố như Điều 15 Công ước New York năm 1997, Điều 18 Công ước New York năm 1999… VD: Điều 4 Công ước New York năm 1979 đã quy định trực tiếp trách nhiệm
của quốc gia trong việc: “thực hiện các biện pháp hành chính và các biện pháp thích hợp khác để ngăn chặn việc thực hiện các tội phạm.”
1.2.1.3 Hợp tác hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực cho các cơ quan thực thi bảo
vệ pháp luật về chống khủng bố:
Để chống khủng bố có hiệu quả, các cơ quan thực thi pháp luật phải được trang
bị những phương tiện cần thiết, những hiểu biết chuyên sâu trong các lĩnh vực liên quan Do vậy, hợp tác hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực và các hình thức hợp tác khác sẽ giúp các quốc gia có trình độ kỹ thuật và nguồn nhân lực có chất lượng chưa cao thực thi chính sách chống khủng bố có hiệu quả hơn
Các công ước quốc tế hiện hành về chống khủng bố đã có một số quy định về
vấn đề này tuy nhiên số quy phạm đề cập trực tiếp còn rất hạn chế VD: Điều 9 Công
ước Montreal năm 1991 quy định, Hội đồng Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế:
“sẽ hợp tác với các quốc gia thành viên và các tổ chức quốc tế hữu quan tiến hành các biện pháp phù hợp… bao gồm cả việc trợ giúp kỹ thuật và các biện pháp trao đổi thông tin liên quan đến sự tiến bộ kỹ thuật trong việc đánh dấu và nhận biết vật liệu
Trang 36nổ”
1.2.1.4.Hợp tác ngăn ngừa tài trợ khủng bố:
Hợp tác ngăn ngừa tài trợ khủng bố là biện pháp đóng vai trò quan trọng trong
hoạt động chống khủng bố bởi các nhóm tổ chức khủng bố chỉ hoạt động có hiệu quả
khi có sự trợ giúp về tài chính, nơi trú ẩn, vũ khí và hậu cần Nhận thức rõ điều này các
điều ước quốc tế đã có các quy định về hợp tác nhằm ngăn ngừa tài trợ khủng bố như: Điều 4 Công ước New York năm 1973, Điều 4 Công ước New York năm 1979, Điều
13 Công ước Rome năm 1988, Điều 15 Công ước New York năm 1997… VD: Điều
18 Công ước New York 1999 quy định các thành viên có nghĩa vụ hợp tác ngăn ngừa tội phạm thông qua việc thực thi các biện pháp như: Giám sát việc cấp giấy phép cho tất cả các đại lý thực hiện nghiệp vụ chuyển tiền; phát hiện hay giám sát việc vận chuyển qua biên giới tiền mặt hay các tài liệu có thể giao dịch được
1.2.2 Nhóm các biện pháp trừng trị khủng bố :
Để trừng trị hành vi khủng bố có hiệu quả, đảm bảo mọi hành vi khủng bố đều phải đưa ra xét xử đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và đảm bảo hoạt động đấu tranh chống khủng bố có hiệu quả thì nhóm các biện pháp trừng trị khủng bố được quy định trong các ĐƯQT về khủng bố đóng vai trò vô cùng quan trọng Các công ước về chống khủng bố đều có những quy định về nhóm các biện pháp này như : Điều 11 Công ước quốc tế về chống khủng bố bằng bom, Điều 8 Công ước quốc tế về trừng trị các tội phạm chống lại những người được bảo hộ quốc tế, kể cả viên chức ngoại giao năm 1973, Điều 11 Công ước quốc tế về trừng trị hành vi tài trợ khủng bố năm 1999, Điều 11 Công ước quốc tế về trấn áp các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hành trình hàng hải
Trong nhóm biện pháp này chủ yếu là các biện pháp hợp tác tương trợ tư pháp bao gồm: bắt giữ tội phạm, điều tra, truy tố, xét xử tội phạm, dẫn độ tội phạm
Điều 10 Công ước Lahay năm 1970 quy định: “Các quốc gia ký kết sẽ dành tối
đa cho nhau sự hỗ trợ trong việc thực hiện các thủ tục hình sự đối với tội phạm” Các
công ước khác về chống khủng bố như: Điều 11 Công ước Montreal năm 1971, Điều 10
Trang 37Công ước New York năm 1973, Điều 11 Công ước New York năm 1979, Điều 13 Công ước Viên năm 1980, Điều 12 Công ước Rome năm 1988, Điều 10 Công ước New York năm 1997… đều quy định trách nhiệm của các quốc gia trong việc hỗ trợ cho nhau khi thực hiện các thủ tục tố tụng hình sự.
1.2.2.1 Bắt giữ tội phạm:
Hầu hết các công ước quốc tế về chống khủng bố đều quy định quốc gia thành viên nơi người phạm tội hoặc người bị coi là phạm tội đang có mặt phải tiến hành bắt giữ và giam giữ người đó hoặc các biện pháp khác để đảm bảo sự có mặt của người đó Việc bắt giữ, giam giữ hoặc các biện pháp khác phải tuân theo pháp luật quốc gia sở tại nhằm mục đích tiến hành các thủ tục tố tụng hình sự hoặc dẫn độ Quốc gia thành viên công ước cũng phải có nghĩa vụ tiếp nhận người phạm tội do thuyền trưởng tàu biển hay người chỉ huy tàu bay giao cho và thực hiện các biện pháp giam giữ hoặc các biện pháp khác đảm bảo sự có mặt của người đó để xét xử hoặc dẫn độ Quốc gia thực hiện bắt giữ, giam giữ người phạm tội hoặc người bị tình nghi là phạm tội phải có bước điều tra ban đầu về vụ việc và phải thông báo ngay những phát hiện của mình cho các quốc gia liên quan và nêu rõ ý định thực hiện quyền tài phán hay không Bên cạnh đó, quốc gia thực hiện bắt giữ, giam giữ người phạm tội hoặc người bị tình nghi là phạm tội cũng phải thực hiện các biện pháp cần thiết để đảm bảo quyền của người bị giam giữ như hỗ trợ người đó trong việc liên lạc ngay với đại diện thích hợp gần nhất của quốc gia mà người đó là công dân, thông báo cho quốc gia đó hoặc cho bất kỳ quốc gia nào khác có liên quan về việc giam giữ đó, lý do, hoàn cảnh giam giữ
1.2.2.2 Tiến hành điều tra, truy tố, xét xử tội phạm:
Quốc gia thành viên nơi người phạm tội có mặt nếu không dẫn độ thì phải có nghĩa vụ chuyển vụ việc này cho các cơ quan có thẩm quyền của mình để truy tố, xét xử thông qua thủ tục tố tụng theo pháp luật của quốc gia đó, dù tội phạm được thực hiện trên lãnh thổ đó hay không và không có bất cứ ngoại lệ nào.Trong quá trình tiến hành điều tra, truy tố, xét xử người phạm tội hoặc bị tình nghi phạm tội quốc phải được đảm bảo đối xử công bằng trong tất cả các giai đoạn tố tụng, bao gồm cả việc được hưởng tất
Trang 38cả các quyền và các đảm bảo được quy định trong pháp luật quốc gia nơi người đó có mặt ( Điều 13 Công ước Tokyo năm 1963, Điều 8 Công ước New York năm 1979, Điều
12 Công ước Viên năm 1980, Điều 14 Công ước New York năm 1997…) Bên cạnh đó, quốc gia nơi người phạm tội bị truy tố phải thông báo kết quả cuối cùng của quá trình tố tụng cho các quốc gia khác có liên quan và các cơ quan hữu quan (Điều 13 Công ước Montreal năm 1971, Điều 11 Công ước New York năm 1973, Điều 14 Công ước Viên năm 1980, Điều 19 Công ước New York năm 1999…)
1.2.2.3 Dẫn độ tội phạm:
Dẫn độ tội phạm là hành vi tương trợ tư pháp được quy định tại các công ước quốc tế về chống khủng bố được đặt ra trong trường hợp khi người bị tình nghi phạm tội được phát hiện tại một quốc gia mà quốc gia đó không thực thi quyền tài phán của mình mà thuộc quyền tài phán của một hoặc một số quốc gia khác nữa Theo quy định tại các công ước quốc tế về chống khủng bố, việc dẫn độ tội phạm là nghĩa vụ bắt buộc của các quốc gia Các quốc gia liên quan khi nhận được yêu cầu dẫn độ không được từ
chối chỉ vì lý do chính trị VD : Điều 11 Công ước quốc tế về chống khủng bố bằng bom quy định: “Vì mục đích dẫn độ hoặc tương trợ tư pháp, không một tội phạm nào quy định tại Điều 2 được coi là tội phạm chính trị hoặc tội phạm do động cơ chính trị Theo đó yêu cầu dẫn độ hoặc tương trợ tư pháp dựa trên tội phạm nói trên không thể bị
từ chối duy nhất vì lý do tội phạm đó liên quan đến tội phạm chính trị hoặc gắn với tội phạm chính trị hoặc tội phạm do động cơ chính trị” Điều 14 Công ước quốc tế về trừng
trị hành vi tài trợ khủng bố cũng có quy định tương trợ như trên, tuy nhiên vì tính chất đặc thù của Công ước có liên quan đến lĩnh vực tài chính nên đã bổ sung thêm quy định:
“Để thực hiện việc dẫn độ hoặc tương trợ tư pháp, không một tội phạm nào nói tại Điều
2 được coi là tội phạm tài chính Vì vậy, các quốc gia thành viên không được từ chối yêu cầu dẫn độ hoặc tương trợ tư pháp chỉ vì lý do có liên quan đến tội phạm tài chính”
(Điều 13 Công ước)
Bên cạnh các quy định về nghĩa vụ dẫn độ, nhằm bảo vệ quyền con người, một số
công ước về chống khủng bố cho phép các quốc gia có thể từ chối yêu cầu dẫn độ nếu:
Trang 39“quốc gia thành viên được yêu cầu có đủ cơ sở để tin rằng yêu cầu dẫn độ các tội phạm quy định tại Điều 2 hoặc yêu cầu tương trợ pháp lý đối với tội phạm đó đã được đưa ra nhằm mục đích truy tố hoặc trừng trị một người vì lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, nguồn gốc sắc tộc hoặc chính kiến của người đó hoặc việc đáp ứng yêu cầu đó có thể làm phương hại cho tình thế của người đó vì một trong các lý do trên” (Điều 12 Công ước New York năm 1997)
Các Điều 15 Công ước New York năm 1999; Điều 16 Công ước về đấu tranh với các hành vi khủng bố hạt nhân năm 2005; Điều 14 Công ước về ngăn chặn các hành vi bất hợp pháp liên quan đến hàng không dân dụng quốc tế 2010 cũng có các quy định tương tự về trường hợp quốc gia từ chối dẫn độ tội phạm
Ngoài ra , các công ước quốc tế về chống khủng bố đều quy định việc các quốc gia
có thể coi các công ước là cơ sở pháp lý cho việc dẫn độ tội phạm nếu giữa hai quốc gia thành viên công ước (quốc gia yêu cầu và quốc gia được yêu cầu dẫn độ) chưa ký kết hiệp
định tương trợ tư pháp nào như Các Điều 11 Công ước quốc tế về trừng trị hành vi tài trợ khủng bố năm 1999, Điều 11 Công ước quốc tế về trấn áp các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hành trình hàng hải… Điều 8 Công ước quốc tế về trừng trị các tội phạm chống lại người được hưởng bảo hộ quốc tế, bao gồm viên chức ngoại giao
1973 quy định: “Nếu một quốc gia thành viên đòi hỏi việc dẫn độ phải trên cơ sở một điều ước đang có hiệu lực nhận được yêu cầu dẫn độ của một quốc gia thành viên khác trong khi hai nước chưa ký kết một điều ước nào về dẫn độ và nếu quốc gia đó quyết định dẫn độ
1.3 Các quy định về hình thức hợp tác quốc tế về đấu tranh chống khủng bố :
Hợp tác quốc tế về chống khủng bố là quá trình các quốc gia và các chủ thể khác của pháp luật quốc tế hợp tác, trao đổi, giúp đỡ lẫn nhau, xây dựng và thực thi pháp luật quốc tế về chống khủng bố Các hình thức hợp tác quốc tế về chống khủng bố không được quy định cụ thể tại các công ước mà qua nghiên cứu các về các công ước chúng ta
có thể kể đến một số hình thức hợp tác như :
Theo lĩnh vực hợp tác, hợp tác chống khủng bố bằng bom; hợp tác chống khủng
Trang 40bố bằng hạt nhân, hợp tác chống khủng bố bằng bắt cóc con tin; hợp tác chống khủng bố trong lĩnh vực hàng không, hợp tác chống khủng bố trong lĩnh vực hàng hải, hợp tác chống khủng bố về viên chức ngoại giao Minh chứng cho các hình thức hợp tác này là các điều ước quốc tế về chống bắt cóc con tin 1979, công ước về an toàn hàng không dân dụng 2010, công ước về an toàn vật liệu hạt nhân 2005
Theo cấp độ hợp tác, hình thức hợp tác chính thức thông qua hợp tác song
phương, hơp tác khu vực, hợp tác liên khu vực và hợp tác trên quy mô toàn cầu Ở cấp
độ hợp tác song phương là việc các quốc gia thoả thuận ký kết các hiệp định, đưa ra tuyên bố chung, thoả thuận hợp tác (Ví dụ như hợp tác giữa Mỹ và Ấn Độ trong thoả thuận hợp tác chống khủng bố ngày 27/3/2010…) Bên cạnh hợp tác song phương còn
có các hình thức hợp tác khu vực, liên khu vực và hợp tác toàn cầu Đây là hình thức hợp tác giữa các quốc gia trong cùng một khu vực (Hợp tác trong ASEAN thông qua Công ước ASEAN về chống khủng bố; hợp tác trong Liên minh châu Âu trong Công ước chống khủng bố; giữa các quốc gia trong các khu vực khác nhau (Thoả thuận hợp tác phòng chống khủng bố ASEAN-Nhật Bản;ASEAN-EU ) và hợp tác trên quy mô toàn cầu (thông qua các công ước chống khủng bố trong khuôn khổ Liên hợp quốc: Công ước chống khủng bố bằng hạt nhân, Công ước chống khủng bố bằng bom…)
Hợp tác không chính thức được thực hiện thông qua trao đổi thông tin và công việc thường nhật về khủng bố và chống khủng bố Các quốc gia khi cần hợp tác với các cơ quan, đơn vị có thẩm quyền của nước ngoài có thể thông qua các tổ chức như: Interpol, Aseanpol… hoặc qua các đầu mối liên lạc được thoả thuận song phương
Trong hoàn cảnh hiện nay khi khủng bố đã lan rộng ra quy mô toàn cầu và chống khủng bố không còn là việc riêng của bất kỳ quốc gia nào mà là việc hợp tác của tất cả các quốc gia trên thế giới thì việc hợp tác giữa các quốc gia để chống khủng bố là vô cùng cần thiết Mỗi hình thức hợp tác chống khủng bố trên có những ưu điểm và hạn chế riêng Các quốc gia tùy theo đặc điểm tình hình, yêu cầu nhiệm vụ chống khủng bố, nguy
cơ và khả năng khủng bố trong từng lĩnh vực cụ thể của quốc gia mình để lựa chọn hình thức hợp tác phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong tiến trình hợp tác chống