Xuất phát từ những lý do vừa nêu, cả lý do về mặt thực tiễn lẫn lý do về mặt lý luận chúng tôi đề xuất đề tài cho luận án của mình là Tiếp cận dịch vụ CSSKSS của lao động trẻ di cư đến
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
N ƣời ƣớng dẫn khoa học: GS.TS Đặng Nguyên Anh
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Chí Dũng
Phản biện 2: PGS.TS Lê Thị Thục
Phản biện 3: PGS.TS Mai Văn Hai
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp Học viện tại Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Vào hồi: giờ ngày tháng năm 2019
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học Xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhiều khu công nghiệp (KCN) đã mọc lên ở hầu khắp các tỉnh, thành trên đất nước ta Xét về mặt tiến bố lịch sử, điều đó phản ánh sinh động về xã hội Việt Nam đang chuyển đổi từ cơ chế quản lý kinh kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Bối cảnh trên đã dẫn đến những thay đổi mạnh mẽ về luồng di cư theo chiều hướng di cư nông thôn – đô thị, điều này gây ra những tác động tích cực và tiêu cực cho bản thân người di cư và địa phương nơi đi, nơi đến Ở góc độ người
di cư, bên cạnh những tác động tích cực, người ta dễ dàng nhận thấy là lao động trẻ đến các KCN gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, nhất là việc tiếp cận dịch
vụ sức khỏe sinh sản, kết hoạch hóa gia đình (SKSS/KHHGĐ)
Tuy nhiên, trên bình diện khoa học, người ta vẫn thấy một khoảng cách hay chính xác hơn là những thiếu hụt nào đó về những gì đang diễn ra trong cuộc sống so với nguồn tri thức mang tính khái quát hóa lý luận về chúng Quả thật, trong nhiều năm qua, bức tranh tổng hợp về di cư, về chăm sóc sức khỏe (CSSK), kể cả CSSKSS đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm bồi đắp Những mảng mầu về CSKSSS của lao động trẻ, nhất là lao động trẻ tại các KCN lại khá
mờ nhạt nếu như không muốn nói là vẫn còn thiếu vắng
Xuất phát từ những lý do vừa nêu, cả lý do về mặt thực tiễn lẫn lý do về
mặt lý luận chúng tôi đề xuất đề tài cho luận án của mình là Tiếp cận dịch vụ
CSSKSS của lao động trẻ di cư đến các KCN hiện nay, với hi vọng đóng góp
thêm các luận cứ khoa học phục vụ mục tiêu nâng cao chất lượng dân số và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay
2 Mục đíc
Đem lại một sự hiểu biết toàn diện và có hệ thống về thực trạng tiếp cận dịch vụ CSSKSS của lao động trẻ di cư làm việc tại các KCN tại địa bàn 2 tỉnh Bắc Giang và Vĩnh Phúc Không chỉ dừng lại ở việc mô tả hiện tượng, luận án còn
đi sâu phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận dịch vụ CSSKSS của lao động trẻ di cư làm việc tại các KCN trên địa bàn 2 tỉnh Bắc Giang và Vĩnh Phúc
Từ đó đề xuất một số giải pháp khắc phục khó khăn, nhằm tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ CSSKSS của lao động trẻ di cư làm việc tại các KCN thuộc địa bàn khảo sát
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tiếp cận dịch vụ CSSKSS của lao động trẻ di cư làm việc tại các KCN ở
ba khía cạnh đó là: Thông tin, tư vấn về SKSS/KHHGĐ; BPTT và các bệnh LTQĐTD
Trang 4vụ CSSKSS của lao động trẻ di cư ở các KCN cũng là hiện tượng xã hội mà chúng ta có thể nhận thức được, để từ đó rút ra các bài học phục vụ cho sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước [31]
Còn với nghĩa thứ hai – tức là tổng thể các phương pháp được sử dụng thì nghiên cứu này sử dụng cả hai loại phương pháp định lượng và định tính [31]
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phân tích tài liệu thứ cấp: Bao gồm các công việc như tìm kiếm các văn
bản về những chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các nghiên cứu trong và ngoài nước để phân tích theo mục tiêu của đề tài
- Phương pháp định tính: Tác giả đã thực hiện 34 cuộc phỏng vấn sâu và
6 cuộc thảo luận nhóm mà thành phần bao gồm: Nhóm lãnh đạo quản lý, nhóm cung cấp dịch vụ, chủ nhà trọ và nhóm hưởng lợi
- Phương pháp định lượng: Khảo sát 363 lao động trẻ di cư đến làm việc
tại 4 KCN trên địa bàn 2 tỉnh Bắc Giang và Vĩnh Phúc
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Tìm hiểu các công trình khoa học có liên quan đến chủ đề nghiên cứu của luận án, kể cả trong nước cũng như ở nước ngoài đã cho thấy bức tranh về di cư
Trang 5nói chung, cũng như về CSSKSS của họ là khá đa dạng và phong phú Tuy nhiên, trong bức tranh chung đó vẫn còn đường nét và mảng mầu bị khuất lấp, hoặc được phản ánh song khá mờ nhạt, mà chủ đề nghiên cứu về tiếp cận dịch vụ CSSKSS của lao động trẻ di cư tại các KCN là một ví dụ Nhiệm vụ của luận án là tập trung
mô tả, phân tích những thuận lợi và khó khăn của lao động trẻ di cư trong tiếp cận dịch vụ CSSKSS, những rào cản, yếu tố xã hội tác động đến tiếp cận dịch vụ CSSKSS của họ Kết quả là luận án đã mang lại một sự hiểu biết mới tương đối toàn diện và có hệ thống về vấn đề tiếp cận dịch vu CSSKSS của lao động trẻ di
cư tại 4 KCN Song Khê - Nội Hoàng, KCN Đình Trám, KCN Khai Quang và KCN Kim Hoa thuộc địa bàn 2 tỉnh Bắc Giang và Vĩnh Phúc, qua đó góp phần làm giầu có hơn và mới hơn cho bức tranh về di cư và CSSKSS của những người
di cư đã được định hình từ trước
6 Ý n ĩa lý luận v ý n ĩa t ực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Ý nghĩa lý luận của luận án này được thể hiện ở chỗ tác giả đã định nghĩa
và thao tác hóa một số khái niệm có liên quan như: “tiếp cận dịch vụ”, “chăm sóc sức khỏe sinh sản”, “lao động trẻ”, “di cư”, “khu công nghiệp”, v.v Việc định nghĩa và thao tác hóa như vậy góp phần làm sáng tỏ hơn nội hàm và ngoại diên của các khái niệm này với tư cách là khái niệm để làm việc Bên cạnh đó, việc vận dụng các lý thuyết xã hội học như: lý thuyết về hành động xã hội; lý thuyết lựa chọn hợp lý; lý thuyết mạng lưới xã hội trong luận án cũng góp phần kiểm chứng tính phổ biến và mức độ phù hợp của các lý thuyết này trong điều kiện cụ thể của Việt Nam hiện nay
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Xã hội Việt Nam đang ở trong tiến trình thúc đẩy CNH, HĐH, do đó việc
di cư đang ngày càng gia tăng về số lượng và đa dạng về hình thức và trở thành một quy luật tất yếu Điều này vừa là cơ hội vừa đặt ra không ít vấn đề cho địa phương nơi đi, nơi đến và cả bản thân người di cư, trong đó có vấn đề CSSKSS
Do vậy, nghiên cứu của đề tài, luận án mang ý nghĩa thực tiễn khá rộng lớn Trước hết, kết quả nghiên cứu của luận án sẽ cung cấp các luận cứ khoa học cho các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách; sau nữa luận án có thể là một tài liệu tham khảo tốt cho các nhà khoa học, những người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy về xã hội học, cũng như những ai quan tâm đến vấn đề này
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục các công trình khoa học của tác giả đã công bố, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung luận án được cân nhắc để chia thành 4 chương: Chương 1: Dành cho việc tổng quan tình hình nghiên cứu; Chương 2: Xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài;
Trang 6Chương 3: Mô tả thực trạng tiếp cận dịch vụ CSSKSS, Chương 4: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận dịch vụ CSSKSS của lao động trẻ di cư
C ƣơn 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 C ăm óc ức khỏe sinh sản của lao động nhập cƣ
Hiện nay, tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và nước ngoài liên quan đến CSSKSS của lao động di cư, các nghiên cứu cũng đã chỉ ra những đặc điểm về biện pháp CSSK giữa người di cư và người dân tại chỗ, xem xét các yếu
tố liên quan đến kiến thức về SKSS và tìm kiếm dịch vụ của người di cư để CSSK
ở khu đô thị Trung Quốc Tuy nhiên, nghiên cứu đều khẳng định, chỉ có một tỷ lệ nhỏ phụ nữ di cư báo cáo các vấn đề về SKSS [72] Bên cạnh đó, lao động di cư còn thiếu kiến thức về CSSKSS, tỷ lệ lao động nữ nhập cư mắc một số bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản cao nhưng họ không biết được cách phòng, điều trị
và việc tiếp cận dịch vụ CSSKSS, SKTD còn nhiều khó khăn do điều kiện kinh phí, thời gian và thông tin do cơ sở cung cấp [70]
Cũng tại Trung Quốc, một số nghiên cứu khác liên quan đến SKSS/SKTD của người di cư đã đưa ra nhiều nội dung để đo lường, đánh giá bao gồm hiểu biết
về các lệnh LTQĐTD, nhiễm khuẩn đường sinh sản, BPTT Kết quả cho thấy, trong số những người đã nghe/biết bất kỳ bệnh LTQĐTD, có 79,1% người nghe/biết về bệnh lậu, 46,2% người nghe/biết về bệnh Condyloma, 86,1% người nghe/biết về bệnh giang mai, 14,5% người nghe/biết về bệnh hạ cam và 82,2% nghe/biết về bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản Đáng quan tâm hơn có đến 75% nhận định không sử dụng bất kỳ BPTT nào trong lần quan hệ tình dục đầu tiên Trong số ít người có sử dụng BPTT, có 85,5% cho rằng họ hài lòng với biện pháp hiện dùng, 46,6% lực lượng lao động di cư đã không biết về những ưu điểm/nhược điểm của phương pháp và 75,3% không có kiến thức về ngừa thai khẩn cấp Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có tới 23,4% số người được hỏi trả lời đã
có quan hệ tình dục trước hôn nhân (một tháng trước cuộc điều tra) trong đó có 14,0% sử dụng BCS [73]
Không nằm ngoài biến động chung ở khu vực cũng như trên thế giới Ở
Việt Nam, vào năm 2004 Tổng cục Thống kê đã thực hiện nghiên cứu về “Cần
đáp ứng nhu cầu CSSKSS/KHHGĐ của người di cư” cho thấy, hiểu biết về chăm sóc SKSS/KHHGĐ của người di cư chưa đầy đủ; nhận thức về các vấn đề SKSS/KHHGĐ, phá thai và bệnh LTQĐTD còn hạn chế; tỷ lệ sử dụng các BPTT thấp (65,8%), nhất là phụ nữ tuổi 15-24 và chưa lập gia đình Người di cư thường
Trang 7tìm đến các hiệu thuốc khi gặp vấn đề về SKSS, do không biết nơi cung cấp dịch
vụ này [53]
Một nghiên cứu khác cũng nhận định, rất ít nữ di cư đã phải điều trị viêm nhiễm đường sinh sản, nhưng nguy cơ mắc bệnh của họ vẫn cao vì điều kiện vệ sinh, nước sinh hoạt của khu ở trọ không đảm bảo Trong khi đó, môi trường chính sách chung hiện nay đã có nhiều cải thiện trong việc quản lý người di cư Việc cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản cũng không có sự phân biệt giữa người di
cư và người dân tại chỗ Bản thân chính quyền các địa phương thì cam kết và đáp ứng linh hoạt khi thực hiện các chính sách với tinh thần tạo điều kiện tối đa để người di cư tiếp cận dịch vụ CSSKSS [63]
Năm 2010, Tổng cục DS-KHHGĐ và Học viện Quân y phối hợp thực hiện đề tài “Khảo sát thực trạng và nhu cầu dịch vụ CSSKSS/KHHGĐ của công nhân ở một số KCN” Để triển khai đề tài, nghiên cứu đã, sử dụng kết hợp giữa phương pháp định tính, định lượng và thu thập số liệu thứ cấp Địa bàn nghiên cứu
là các tỉnh Vĩnh Phúc, Hải Phòng, Đồng Nai, Vĩnh Long Mẫu nghiên cứu định lượng là 1600 công nhân tại 4 tỉnh trên (4 tỉnh có KCN) Nghiên cứu này đã chỉ
ra, về nội dung của SKSS/KHHGĐ có 83,6% công nhân đã tưng nghe đến vấn đề
về SKSS, nội dung nghe nhiều nhất là cải thiện, chăm sóc bà mẹ và trẻ em trước trong và sau sinh (77,3%), thấp nhất là quyền được quyết định hành vi sinh sản Mức độ tiếp cận của công nhân đối với các nội dung về SKSS còn hạn chế (> 50%) Kết quả cũng cho thấy, kiến thức về các bệnh LTQĐTD của lao động di cư khá tốt, có 96,13% lao động di cư nghe/biết về HIV/AIDS, giang mai là 84,13%, lậu (82,94%) Nhưng kiến thức về bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản lại khá thấp,
có tới 90,7% số người trả lời ít biết một triệu chứng của nhiễm khuẩn đường sinh dục, 90,6% ít biết một hậu quả của bệnh nhiễm khuẩn Về BPTT, có trên 86% công nhân đã nghe nói hoặc đã sử dụng ít nhất một BPTT, trong đó đình sản có 97,1% và BCS có 86,7% [51]
Hiện nay, tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và nước ngoài liên quan đến CSSKSS của lao động di cư, các nghiên cứu cũng đã chỉ ra những đặc điểm về biện pháp CSSK giữa người di cư và người dân tại chỗ, xem xét các yếu
tố liên quan đến kiến thức về SKSS và tìm kiếm dịch vụ của người di cư để CSSK
ở khu đô thị Trung Quốc [72] Tuy nhiên, nghiên cứu đều khẳng định, chỉ có một
tỷ lệ nhỏ phụ nữ di cư báo cáo các vấn đề về SKSS, trong khi đa số đối tượng này đều thiếu hiểu biết, thiếu kiến thức liên quan đến các bệnh LTQĐTD Cả hai khía cạnh đó đều liên quan đến trình độ học vấn của người di cư và thời gian lưu trú tại nơi đến Ngoài ra, nghiên cứu cũng tìm thấy nhiều bằng chứng cho thấy việc tiếp cận dịch vụ CSSK của phụ nữ di cư bị giới hạn bởi một số rào cản về cơ chế, chính sách của trung ương và địa phương liên quan đến vấn đề nhập cư [72]
Trang 81.2 Vấn đề tiếp cận dịch vụ CSSKSS của lao độn di cƣ tại các KCN
Hiểu biết của người di cư về SKSS và các bệnh LTQĐTD
Hiện người di cư đã có kiến thức về các bệnh LTQĐTD tương tự như người dân tại chỗ Có trên 80% người di cư cũng như người dân tại chỗ đã nghe/biết đến các bệnh LTQĐTD, trong đó các bệnh được nghe biết đến nhiều nhất là Lậu, Giang mai, Viên gan B [30]
Đặc biệt nhận thức về sử dụng các BPTT và KHHGĐ của người di cư tăng lên đáng kể sau khi họ chuyển đến nơi ở mới Thực tế này cho thấy người di
cư ít có khả năng làm tăng mức sinh tại nơi ở mới Tuy vậy, số liệu điều tra lại phát hiện ra vẫn còn 15% số phụ nữ được hỏi đã từng nạo hút thai, trong đó 1/3 trong số này chưa có gia đình [33] Không những thế, tỷ lệ người nghe biết các bệnh LTQĐTD đương đối cao (82,1% đến 90,5%) Trong đó nam giới nghe nói tên các bệnh LTQĐTD cao hơn nữ giới, những người có thời gian cư trú dài tại nơi ở hiện tại có hiểu biết về các bệnh LTQĐTD cao hơn người di cư có thời gian
cư trú tại nơi ở hiện tại ngắn hơn [55]
Về lây nhiễm HIV/AIDS thì ngược lại, tỷ lệ đã từng nghe đến HIV/AIDS của người di cư và không di cư rất cao (96,8% người di cư và 97,4% người không
di cư) [30]
Sử dụng dịch vụ SKSS/KHHGĐ của lao động di cư
Về KHHGĐ, bằng phương pháp tổng quan tài liệu, trong bài tham luận về
“Di cư và sức khỏe ở Việt nam, thực trạng, xu hướng và hàm ý chính sách” (Lưu Bích Ngọc, 2016) cũng đưa ra nhận định rằng ở nhóm phụ nữ 15-49 tuổi có chồng
di và cả chồng họ có tỷ lệ sử dụng BPTT thấp hơn nhóm không di cư (37,7% so với 58,6%) Một trong những nguyên nhân tạo nên khác biệt ở đây là tỷ lệ phụ nữ
di cư chưa có chồng cao hơn phụ nữ không di cư (61,0% so với 43,2%) và tỷ lệ phụ nữ di cư muốn có thêm con cũng cao hơn (14,2% so với 10,7%) [30]
Cuộc điều tra di cư Việt Nam năm 2004: Di dân và sức khỏe do Tổng cục Thống kê, Quỹ Dân số Liên hợp Quốc công bố năm 2006 Đây là cuộc điều tra cắt ngang được tiến hành ở 11 tỉnh/thành phố và được xếp đại diện cho 5 khu vực Kết quả của cuộc điều tra đã chỉ ra rằng, tỷ lệ sử dụng các BPTT ở người di
cư sử dụng BPTT [55]
Trang 91.3 Khoảng trống trong nghiên cứu về CSSKSS của lao độn di cƣ
Các nghiên cứu liên quan đến chủ đề SKSS cho người di cư của những tác giả trước đã nhìn vấn đề ở nhiều chiều cạnh Tuy nhiên, đối tượng lựa chọn bao gồm cả nhóm lao động nhập cư và những người dân tại chỗ Do vậy, kết quả nghiên cứu đã đưa ra những nhận định, so sánh cho cả hai nhóm mà chưa làm rõ được tình hình sử dụng dịch vụ CSSKSS của nhóm đối tượng di cư
Các nghiên cứu có đề cập đến một số chiều cạnh của lĩnh vực CSSKSS/KHHGĐ, trong đó tập trung nhiều về các bệnh LTQĐTD, nạo phát thai
an toàn mà ít đề cập đến thông tin, tư vấn về dịch vụ CSSKSS/KHHGĐ, hay tiếp cận các BPTTT của bản thân họ
Nội dung về CSSKSS cho người di cư tại các KCN đã được nhiều tác giả lựa chọn làm chủ đề nghiên cứu, trong đó có đề cập đến cả nhóm lao động di cư theo mùa vụ, nhóm di cư tự do, v.v…Vì vậy, các khuyến nghị về chính sách được đưa ra còn chung chung, chưa đề xuất được mô hình can thiệp tối ưu dành riêng cho nhóm lao động di cư làm việc tại các KCN
Các nghiên cứu hiện có chỉ ra nguyên nhân, việc tiếp cận dịch vụ của công nhân trong các KCN gặp nhiều khó khăn vì thời gian làm việc của họ rất
“kín” và kéo dài Ngay cả việc tổ chức đội lưu động vào tại doanh nghiệp để cung cấp dịch vụ CSSKSS cũng không nhận được sự đồng thuận của lãnh đạo doanh nghiệp Bên cạnh đó, kiến thức về lĩnh vực CSSKSS, KHHGĐ của công nhân còn thiếu và không đầy đủ Trong khi đó, phần lớn người lao động là những người trẻ, trên dưới 30 tuổi, nhu cầu về kiến thức của họ còn rất nhiều trong khi những hành
vi thực hành về SKSS/KHHGĐ còn chưa đúng
Vai trò của các nhóm, các tổ chức xã hội trong các KCN chưa được thể hiện rõ nét, chưa bảo vệ được quyền lợi của người lao động, trong đó có quyền được chăm sóc SKSS/SKTD của người di cư
Do điều kiện sống, tình trạng cư trú nhóm lao động di cư đã bị lãng quên trong quá trình xây dựng và thực thi các chính sách về CSSKSS/KHHGĐ, điều đó ảnh hưởng đến cơ hội tiếp cận dịch vụ của bản thân họ.
C ƣơn 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 2.1 Địn n ĩa v iải thích các khái niệm làm việc
2.1.1 Khái niệm “tiếp cận”
Tiếp cận là khả năng, quyền hay cơ hội có hoặc sử dụng những thứ có thể mang lại lợi ích (Từ điển Mac Millan) Tiếp cận còn có nghĩa sự sẵn có của hệ thống dịch vụ nào đó khi người sử dụng cần đến
2.1.2 Khái niệm “sức khoẻ sinh sản”
Trang 10Năm 1994, Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển họp tại Cairô, thủ đô của Ai-Cập đã đưa ra định nghĩa về SKSS được tất cả các nước trên thế giới chấp
thuận và cam kết thực hiện: “SKSS là sự thoải mái hoàn toàn về thể chất tinh thần
và xã hội, không chỉ đơn thuần không có bệnh, tật hoặc tàn phế của hệ thống sinh sản Điều này cũng hàm ý mọi người kể cả nam và nữ đều có quyền được nhận và tiếp cận các dịch vụ về CSSKSS, các biện pháp KHHGĐ an toàn, có hiệu quả và chấp nhận được sự lựa chọn của mình, bảo đảm cho người phụ nữ trải qua các quá trình thai nghén và sinh đẻ an toàn, tạo cho các cặp vợ chồng cơ may tốt để sinh được đưa con lành mạnh” [52]
2.1.3 Khái niệm “CSSKSS”
CSSKSS là một tập hợp các phương pháp, kỹ thuật và dịch vụ nhằm giúp cho con người có tình trạng sức khỏe sinh sản khỏe mạnh thông qua việc phòng chống và giải quyết những vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản Điều này cũng bao gồm cả sức khỏe tình dục với mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống và mối quan hệ giữa con người với con người chứ không dừng lại ở chăm sóc y tế và tư vấn một cách đơn thuần cho việc sinh sản và những nhiễm trùng qua đường tình dục
2.1.4 Khái niệm “lao động trẻ”
Trước hết, hãy nói về khái niệm “lao động” Định nghĩa về khái niệm này, Từ điễn triết học do M.M.Rôdentan làm chủ biên đã trích 1 câu trong bộ tư bản của C Mác, mà theo đó, lao động trước hết “là một quá trình diễn ra giữa con người với tự nhiên, một quá trình trong đó, bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ với tự nhiên” Tiếp đó, định nghĩa này còn chỉ rõ: “Bằng cách tác động tới giới tự nhiên bên ngoài, con người thay đổi cả giới tự nhiên bên ngoài lẫn chính mình” [31] Còn khái niệm “trẻ” để chỉ đội ngũ thanh niên, ở Việt Nam đó là những công dân có tuổi đời từ 16 tuổi đến 30 tuổi [42], riêng các công nhân làm việc tại KCN phải đủ 18 tuổi Vậy, có thể hiểu lao động trẻ là người lao động có tuổi đời từ 18 đến 30 tuổi, đang làm việc để thay đổi thế giới tự nhiên lẫn chính mình, trong đó có cả những người đang làm việc tại các KCN
2.1.5 Khái niệm “di cư”
Từ điển Từ và ngữ Hán Việt của Nguyễn Lân định nghĩa về di cư như sau: di là dời đi nơi khác, cư là ở, do đó di cư là dọn nhà đi ở nơi khác (Nguyễn Lân, 2002) [34] Trong luận án này, khái niệm “lao động trẻ di cư”được hiểu là những lao động tuổi từ 18-30, đã thay đổi nơi thường trú trong một khoảng thời gian ít nhất 3 tháng hiện đang sinh sống và làm việc trên địa bàn huyện, thị khảo sát
2.1.6 Khái niệm “KCN”
Khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định [9]
Trang 11Thao tác hóa khái niệm
Sơ đồ thao tác hóa khái niệm
2.2 Các tiếp cận lý thuyết của luận án
2.2.1 Lý thuyết hành động xã hội
Weber đã chỉ ra sự khác nhau giữa hành động xã hội và khác và những hành vi, hoạt động khác của con người Nói tới hành động xã hội là nói tới việc chủ thể gắn cho hành vi của mình một ý nghĩa chủ quan nào đó Hành động, kể cả hành động thụ động và không hành động, được gọi là hành động xã hội khi ý nghĩa chủ quan của nó có tính đến hành vi của người khác trong quá khứ, hiện tại hay trong tương lai, ý nghĩa chủ quan đó định hướng hành động Không phải hành động nào cũng có tính xã hội hay đều là hành động xã hội, hành động chỉ nhằm tới các sự vật mà không tính đến hành vi của người khác thì không được gọi là hành động xã hội [28]
Trong nghiên cứu này, lý thuyết hành động xã hội được áp dụng để xác định bản thân lao động trẻ di cư, khi quyết định rời quê hương để đi tìm kiếm việc làm tại địa phương khác, hay sử dụng dịch vụ CSSKSS tại nơi ở mới là một hành động có động cơ và mục đích, quyết định di cư có thể được quyết định từ cá nhân
họ hay do tác động từ yếu tố bên ngoài, chịu sự chi phối bởi bối cảnh xã hội Và hành động có chủ đích nhưng cũng phải phù hợp với các khuôn mẫu quan hệ đã được cấu trúc hóa bên trên các nhóm, tổ chức, thiết chế xã hội
2.2.2 Lý thuyết lựa chọn hợp lý
Lý thuyết lựa chọn hợp lý, hay nói đầy đủ hơn là lý thuyết trao đổi và lựa chọn hợp lý/duy lý Lý thuyết lựa chọn hợp lý gắn liền với tên thuổi của George Homans, James Coleman James Coleman giải thích hiện tượng xã hội bằng
Trang 12thuyết lựa chọn hợp lý Tuy nhiên ông đi tìm sự hợp lý trong các quan hệ xã hội hay trong mạng lưới xã hội thông qua khái niệm vốn xã hội và vốn kinh tế Ông cho rằng trước khi tham gia vào các giai tiếp xã hội con người đã có sẵn một bộ tiêu chuẩn ứng xử do nền văn hóa để lại thông qua quá trình xã hội hóa cá nhân Ông cho rằng, hành vi được điều chỉnh bởi các chuẩn mực, các chuẩn mực hướng dẫn cho các chủ thể hành động thực hiện hành động của mình trong quan hệ hợp
lý với lợi ích của tập thể Quan điểm này của Coleman rất chính xác trong xã hội hiện nay Vốn xã hội có thể tạo ra vốn kinh tế Các nhà lý thuyết nhận định rằng, vốn xã hội chính là chiếc chìa khóa để hiểu biết các quan hệ chính trị và năng lực giao tiếp để tạo ra sự hợp tác hướng tới việc tạo ra sản phẩm xã hội cung Vốn xã hội được coi là rất quan trọng không chỉ ở cấp độ nhóm nhỏ mà còn ở cấp độ vĩ
mô Vốn xã hội không những chỉ được sử dụng trong các quan hệ phi chính thức
mà còn trong cả các quan hệ chính thức [65]
Vận dụng lý thuyết lựa chọn hợp lý trong luận án này, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu thêm các lao động trẻ có sự lựa chọn như thế nào trong việc tiếp cận ba nội dung cơ bản của vấn đề nghiên cứu Có phải sự lựa chọn của họ chỉ xuất phát
từ hoàn cảnh riêng và ý muốn chủ quan của mọi người, hay điều đó còn phản ánh tính quy luật của tiến trình CNH
2.2.3 Lý thuyết mạng lưới xã hội
Mạng lưới xã hội “là một tập hợp các mối quan hệ giữa các thực thể xã hội hay các chủ thể xã hội Các thực thể xã hội này không nhất thiết chỉ là các cá nhân mà còn là các nhóm xã hội, tổ chức, thiết chế, công ty, xí nghiệp và cả các quốc gia Các mối quan hệ giữa các chủ thể xã hội cũng có thể mang nhiều nội dung khác nhau từ sự tương trợ, trao đổi thông tin cho đến việc trao đổi hàng hóa, trao đổi dịch vụ …” [7] Vai trò quan trọng của mạng lưới xã hội đã được nhấn mạnh trên nhiều phương diện, chẳng hạn như mạng lưới di cư được coi là nhân tố quyết định toàn bộ quá trình di cư trong nước và quốc tế [24]
Ứng dụng vào luận án này, lý thuyết mạng lưới xã hội đã gợi ý cho chúng tôi rất nhiều về vai trò quan trọng của các mối quan hệ xã hội trong việc thúc đẩy quá trình di cư Bởi di cư vốn là quá trình mang nhiều bất trắc, một mạng lưới xã hội tin cậy sẽ góp phần làm giảm bớt những rủi ro Các liên kết xã hội giữa nơi xuất cư và nhập cư sẽ góp phần giảm các rào cản (kinh tế, tâm lý, văn hóa) của quá trình di cư, đồng thời làm tăng vận hội thành công tại nơi đến
2.3 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
2.3.1 Câu hỏi nghiên cứu
Thứ nhất: Việc tiếp cận dịch vụ CSSKSS của lao động trẻ di cư đến các KCN hiện nay đang diễn ra như thế nào? Những thuận lợi và khó khăn mà họ đang gặp phải là gì?
Thứ hai: Yếu tố nào ảnh đến tiếp cận dịch vụ CSSKSS của lao động trẻ di
Trang 13cư đến các KCN tại địa bàn 2 tỉnh Bắc Giang và Vĩnh Phúc?
Thứ ba: Những khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ CSSKSS của lao động trẻ di cư tại các KCN là hiện tượng xã hội mang tính phổ biến, hay nói khác
đi là mang tính quy luật trong tiến trình CNH, HĐH, hay đó chỉ là hiện tượng mang tính ngẫu nhiên và tức thời không cần khắc phục?
2.3.2 Giải thuyết nghiên cứu
Thứ nhất: Việc tiếp cận dịch vụ CSSKSS của lao động trẻ tại các KCN hiện đang gặp phải nhiều khó khăn điều đó được thể hiện không chỉ ở khâu tiếp nhận thông tin, tư vấn mà còn cả ở việc sử dụng các BPTT, phòng các bệnh LTQĐTD
Thứ hai: Những khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ CSSKSS của lao động trẻ ở các KCN hiện nay có nguồn gốc từ cả hai nhân tố khách quan và chủ quan Về khách quan, đó là điều kiện sống và làm việc ở một môi trường mới là KCN mà lao động trẻ phải có khoảng thời gian để thích nghi Còn về chủ quan, đó
là do nhận thức chưa đầy đủ của chính bản thân họ đối với vấn đề CSSKSS
Thứ ba: Những khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ CSSKSS của lao động trẻ tại các KCN trong cả nước nói chung, cũng như ở hai tỉnh Bắc Giang và Vĩnh Phúc nói riêng, là một hiện tượng phổ biến, là quy luật trong các xã hội đang chuyển để từ nền văn minh nông nghiệp sang nền văn minh công nghiệp hiện đại,
do đó chúng ta hoàn toàn có thể nhận thức được sự vận hành của chúng để tìm ra giải pháp khắc phục