ĐẠ HỌC THÁ NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM LÊ THỊ MÂY NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ VÀ ĐẶC ĐIỂM TÁI SINH CỦA CÂY HUỲNH ĐƯỜNG DYSOXYLUM LOUREIRI PIERRE LÀM CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN V
Trang 1ĐẠ HỌC THÁ NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ THỊ MÂY
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ VÀ ĐẶC ĐIỂM TÁI
SINH CỦA CÂY HUỲNH ĐƯỜNG (DYSOXYLUM LOUREIRI PIERRE) LÀM CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ
PHÁT TRIỂN LOÀI TẠI VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ - HUYỆN BA
BỂ TỈNH BẮC KẠN
-LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2014
I I
Trang 2ĐẠ HỌC THÁ NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ THỊ MÂY
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG PHÂN BỐ VÀ ĐẶC ĐIỂM TÁI
SINH CỦA CÂY HUỲNH ĐƯỜNG (DYSOXYLUM LOUREIRI PIERRE) LÀM CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ
PHÁT TRIỂN LOÀI TẠI VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ - HUYỆN BA
BỂ TỈNH BẮC KẠN
-Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60 62 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS ĐẶNG KIM VUI
THÁI NGUYÊN - 2014
I I
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu vàkết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực Chưa từng được công bố trongbất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Lê Thị Mây
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyêntheo chương trình đào tạo cao học, chuyên ngành Lâm học, khóa 20 (2012-2014)
Trong quá trình học tập cũng như hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được
sự quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu, Khoa sau đại học và các thầy, cô giáotrường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, ban giám đốc, cán bộ phòng kỹ thuậtVườn quốc gia Ba Bể Nhân dịp này tác giả xin cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó
Trước tiên, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo GS.TS ĐặngKim Vui- người hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tác giả trongsuốt quá trình thực hiện luận văn này
Tác giả xin cảm ơn Th.S La Quang Độ đã quan tâm giúp đỡ, động viên vàdành những tình cảm tốt đẹp cho tác giả trong suốt thời gian theo học cũng như thựchiện luận văn
Tác giả cũng xin cảm ơn thầy giáo, cô giáo trong khoa Lâm nghiệp, khoaSau đại học, cán bộ phòng kỹ thuật vườn quốc gia Ba Bể đã tạo điều kiện giúp đỡcho tác giả theo học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn các bạn bè và người thân trong giađình đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luậnvăn
Do thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế, bản luận văn này chắc chắn khôngtránh khỏi những thiếu sót Tác giả mong nhận được những ý kiến đóng góp quýbàu của các thầy giáo, cô giáo, các nhà khoa học cùng bạn bè để luận văn này đượchoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Lê Thị Mây
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC HÌNH vii
DANH MỤC BẢNG viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học 2
Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
1.1 Cơ sở khoa học của nghiên cứu 3
1.1.1 Khái niệm tái sinh rừng
3 1.1.2 Cơ sở của bảo tồn đa dạng sinh học
4 1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6
1.2.1 Trên thế giới 6
1.2.1.1 Những nghiên cứu về tái sinh rừng 6
1.2.1.2 Những nghiên cứu về loài cây Huỳnh đường 9
1.2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 10
1.2.2.1 Nghiên cứu về tái sinh 10
1.2.2.2 Nghiên cứu về loài Huỳnh đường 12
1.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu
15 1.3.1 Giới thiệu khái quát về VQG Ba Bể 15
1.3.2 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 18
1.3.2.1 Vị trí địa lý 18
1.3.2.2 Địa hình 19
Trang 641.3.2.3 Khí hậu 201.3.2.4 Thuỷ văn 21
Trang 71.3.2.5 Các yếu tố khí hậu khác 21
1.3.3 Điều kiện đất đai 22
1.3.4 Đặc điểm hệ động thực vật 24
1.3.5 Điều kiện dân sinh, kinh tế- xã hội 26
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Nội dung nghiên cứu 27
2.1.1 Hiện trạng phân bố loài Huỳnh đường tại khu vực nghiên cứu 27
2.1.2 Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng ảnh hưởng đến tái sinh tự nhiên của cây Huỳnh đường 27
2.1.3 Nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh dưới tán rừng của loài Huỳnh đường tại khu vực nghiên cứu 27
2.1.4 Đánh giá một số yếu tố tác động đến sự xuất hiện của loài Huỳnh đường tái sinh 27
2.1.5 Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây Huỳnh đường 27
2.2 Phương pháp nghiên cứu 28
2.2.1 Phương pháp luận 28
2.2.2 Phương pháp ngoại nghiệp 29
2.2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu cơ bản 29
2.2.2.2 Phương pháp điều tra thực tế 30
2.2.3 Phương pháp nội nghiệp 32
2.2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tầng cây cao 32
2.2.3.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm cây tái sinh 37
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
3.1 Hiện trạng phân bố loài Huỳnh đường tại khu vực nghiên cứu 40
3.2 Một số đặc điểm cấu trúc rừng ảnh hưởng đến tái sinh tự nhiên của cây Huỳnh đường 42
3.2.1 Đặc điểm cấu trúc cây tầng cao 42
3.2.2 Mật độ tầng cây cao và quan hệ sinh thái của loài Huỳnh đường với các loài khác 44
Trang 83.2.3 Đặc điểm phân bố số cây theo cấp kính(N/D1.3) của loài cây Huỳnh
đường và tổng thể OTC 1 46
3.2.4 Đặc điểm phân bố số cây theo cấp chiều cao (N/Hvn) của loài cây Huỳnh đường và tổng thể 48
3.2.5 Đặc điểm độ tàn che tầng cây cao 50
3.2.6 Đặc điểm tầng cây bụi thảm tươi 51
3.3 Một số đặc điểm tái sinh dưới tán rừng 52
3.3.1 Phân bố tái sinh Huỳnh đường trong tự nhiên 52
3.3.2 Cấu trúc tổ thành cây tái sinh 56
3.3.4 Phân bố cây tái sinh theo chiều cao, chất lượng và nguồn gốc tái sinh 57
3.4 Đánh giá một số yếu tố tác động đến sự xuất hiện của loài Huỳnh đường tái sinh 60
3.4.1 Đặc tính phân bố của loài 60
3.4.3 Ảnh hưởng của cây mẹ 61
3.4.4 Ảnh hưởng của con người 61
3.5 Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây Huỳnh đường 62
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 65
1 Kết luận 65
2 Khuyến nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Phân vùng bảo tồn Vườn quốc gia Ba Bể 17
Hình 1.2 Bản đồ sử dụng đất Vườn quốc gia Ba Bể 23
Hình 3.1: Phân bố N/D của lâm phần và Huỳnh đường ở OTC 1 46
Hình 3.2 Phân bố N/D của lâm phần và Huỳnh đường ở OTC 12 47
Hình 3.3 Phân bố N/Hvn của lâm phần và Huỳnh đường ở OTC 1 48
Hình 3.4: Phân bố N/H của lâm phần và Huỳnh đường ở OTC 12 49
Hình 3.5: Phân bố tái sinh Huỳnh đường theo cấp chiều cao 58
Hình 3.6 Chất lượng cây tái sinh ở OTC 12 59
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tổng quan địa hình VGQ Ba Bể 19
Bảng 1.2 Nhiệt độ trung bình tháng và năm 20
Bảng 1.3 Thành phần loài động vật có xương sống ở VQG Ba Bể và vùng 25
Bảng 1.4: Thống kê hệ thực vật VQG Ba Bể 25
Bảng 1.5 Dân số, thành phần dân tộc và tình trạng đói nghèo ở vùng đệm 26
Bảng 2.1: Phương pháp xác định độ tàn che 37
Bảng 3.1 Phân bố cá thể Huỳnh đường theo tuyến đi 40
Bảng 3.2 Phân bố cá thể Huỳnh đường theo OTC 41
Bảng 3.3 Cấu trúc tầng cây cao có IVI >5% trong OTC 1 43
Bảng 3.4 Cấu trúc tầng cây cao có IVI >5% trong OTC 12 44
Bảng 3.5 Quan hệ sinh thái loài Huỳnh đường với các loài khác trong cấu trúc tổ thành rừng 45
Bảng 3.6: Độ tàn che tầng cây cao ở OTC 1 và OTC 12 nơi có Huỳnh đường phân bố 50
Bảng 3.7 Độ che phủ ở OTC 1 và OTC 12 nơi có Huỳnh đường xuất hiện
51 Bảng 3.8 Tái sinh tự nhiên theo tuyến 53
Bảng 3.9 Phân bố tái sinh loài Huỳnh đường ở OTC 1 54
Bảng 3.10: Phân bố tái sinh loài Huỳnh đường ở OTC 12 55
Bảng 3.11: Tái sinh quanh gốc cây mẹ của loài Huỳnh đường 55
Bảng 3.12 Chất lượng và nguồn gốc tái sinh của Huỳnh đường ở OTC 1 58
Trang 121
Trang 131 Tính cấp thiết của đề tài
MỞ ĐẦU
Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Châu Á, với tổng diện tích tự nhiên
trên thế giới Với vị trí địa lý và đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa của Bắc báncầu, đã góp phần tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái và các loài sinh vật Nhưng hiệnnay do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho nguồn tài nguyên ĐDSH đã và đangsuy giảm Nhiều hệ sinh thái và môi trường sống bị thu hẹp diện tích và nhiều taxonbậc loài và dưới loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng trong tương lai gần.Chính vì vậy, để ngăn ngừa sự suy thoái ĐDSH này Việt Nam đã tiến hành công tácbảo tồn khá sớm nhằm gìn giữ nguồn gen của địa phương, là cơ sở quyết định cho
sự phát triển hệ sinh thái nông, lâm, ngư nghiệp đa dạng và bền vững Hiện nay cảnước có trên 30 Vườn quốc gia (VQG), 48 Khu dữ trữ thiên nhiên, 12 khu bảo tồnloài và sinh cảnh, 38 khu bảo vệ cảnh quan, với tổng diện tích 2.400.092 ha, chiếmgần 7,24% diện tích tự nhiên trên đất liền của cả nước
Bảo vệ đa dạng sinh học là một trong những nội dung cơ bản của bảo vệ môitrường và là một trong những nhiệm vụ quan trọng của mỗi quốc gia Công tác duytrì, bảo tồn và phát triển những nguồn gen quý đang được thực hiện với quy môrộng khắp trên toàn thế giới Ở Việt Nam công tác bảo vệ đa dạng sinh học là nhiệm
vụ của mỗi người, đặc biệt là những khu vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khubảo tồn trong đó có vườn quốc gia Ba Bể Vườn quốc gia Ba Bể là một trongnhững vườn quốc gia có tính đa dạng sinh học cao, hiện nay vườn có đến 620 loàithực vật thuộc 138 họ, 300 chi trong đó có những loài đặc trưng, điển hình của vùngĐông Bắc, núi đã vôi như: Đinh, Nghiến, Trai, Lát… đặc biệt hiện nay vườn còn lưugiữ một số loài đặc biệt quý hiếm gỗ thuộc nhóm I, rất quý hiếm đó chính là cây
Huỳnh đường (Dysoxylum loureiri Pierre), loài cây hiện đang cấp thiết cần phải xây
dựng giải pháp bảo tồn
Huỳnh đường (Dysoxylum loureiri Pierre) thuộc họ Xoan, là loài cây được
phân bố chủ yếu ở những nơi có rừng tự nhiên, tập trung chủ yếu ở miền Trung nước
ta Với
Trang 14nhiều công dụng cũng như giá trị cao nên cây Huỳnh đường hiện đang bị khai thác
và sử dụng với nhiều là cho số lượng loài cây giảm đi nhanh chóng, loài Huỳnhđường hiện đang được xếp hạng bảo tồn mức VU (sắp nguy cấp) theo thang đánhgiá của Sách đỏ Việt Nam năm 2007
Dựa trên những luận điểm trên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hiện
trạng phân bố và đặc điểm tái sinh của cây Huỳnh đường (Dysoxylum loureiri
Pierre) làm cơ sở đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển loài tại vườn quốc gia
Ba Bể- huyện Ba Bể- tỉnh Bắc Kạn”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mô tả và phân tích được hiện trạng phân bố và đặc điểm tái sinh của cây
Huỳnh đường (Dysoxylum loureiri Pierre) tại vườn quốc gia Ba Bể, trên cơ sở đó
đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển của cây Huỳnh đường
3 Đối tượng nghiên cứu
Cây Huỳnh đường (Dysoxylum loureiri Pierre) thuộc phân khu bảo tồn vườn
quốc gia Ba Bể- huyện Ba Bể- tỉnh Bắc Kạn
4 Ý nghĩa khoa học
Cung cấp số liệu về loài Huỳnh đường của khu vực vườn quốc gia Ba Bể Cung cấp số liệu hiện trạng loài nhằm đề xuất giải pháp phù hợp phục vụ chocông tác bảo tồn loài Huỳnh đường tại vườn quốc gia Ba Bể
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học của nghiên cứu
1.1.1 Khái niệm tái sinh rừng
Tái sinh (Regeneration) là một thuật ngữ dùng để chỉ khả năng tự tái tạo, hay
tự hồi sinh từ mức độ tế bào đến mức độ mô, cơ quan, cá thể và thậm chí cả mộtquần lạc sinh vật trong tự nhiên Cùng với thuật ngữ này, còn có nhiều thuật ngữkhác đang được sử dụng rộng rãi hiện nay Jordan, Peter và Allan (1998) sử dụngthuật ngữ “ Restoration ” để diễn tả sự hoàn trả, sự lặp lại của toàn bộ quần xã sinhvật giống như nó đã xuất hiện trong tự nhiên Schereckenbeg, Hadley và Dyer(1990) sử dụng thuật ngữ: “ Rehabilitation ” để chỉ sự phục hồi lại bằng biện phápquản lý, điều chế rừng đã bị suy thoái
Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang đặc thù của hệ sinh thái rừng
Đó là sự xuất hiện các thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàncảnh rừng như dưới tán rừng, khoảng trống trong rừng, trên đất rừng sau khi khaithác hoặc sau khi làm nương rẫy, các cây con sẽ thay thế cây già cỗi
Theo nghĩa hẹp, tái sinh rừng là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản củarừng, chủ yếu là tầng cây gỗ
Theo nghĩa rộng, tái sinh rừng là sự tái sinh nhằm đảm bảo cho sự tồn tại liêntục của một hệ sinh thái rừng.[8]
Theo Phùng Ngọc Lan (1986) [13], tái sinh được coi là một quá trình sinhhọc mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng Biểu hiện đặc trưng của tái sinh rừng
là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở nơi còn hoàn cảnh rừng.Theo ông vai trò lịch sử của thế hệ cây con là thay thế thế hệ cây gỗ già cỗi Vì vậy,tái sinh rừng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản củarừng, chủ yếu là tầng cây gỗ Ông cũng khẳng định tái sinh rừng có thể hiểu theonghĩa rộng là sự tái sinh của một hệ sinh thái rừng Bàn về vai trò của lớp cây táisinh, Trần Xuân Thiệp (1995) cho rằng nếu thành phần loài cây tái sinh giống vớithành phần cây đứng thì đó là quá trình thay thế một thế hệ cây này bằng thế hệ cây
Trang 16khác Ngược lại, nếu thành phần loài cây tái sinh khác với thành phần cây đứng thìquá trình diễn thế xảy ra.[19]
Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài cây tái sinh, điều kiện địa lí vàtiểu hoàn cảnh rừng là cơ sở tự nhiên quan trọng có tác dụng quyết định, chi phối sựhình thành lên quy luật tái sinh rừng Ở các vùng tự nhiên khác nhau, tái sinh rừngdiễn ra theo các quy luật khác nhau Tái sinh rừng tự nhiên nhiệt đới là một vấn đềcực kì phức tạp Kinh nghiệm thực tiễn chỉ cho thấy việc áp dụng máy móc, cácphương thức tái sinh kinh điển của các vùng ôn đới vào các nước nhiệt đới nóichung và Việt Nam nói riêng không thể mang lại kết quả như mong muốn Ở đâykhẳng định lại một lần nữa, tái sinh rừng không chỉ là một hiện tượng sinh học màcòn là một hiện tượng địa lý Những kiến thức về sinh thái, tái sinh rừng bao gồmmối quan hệ giữa các loài cây tái sinh với hoàn cảnh sinh thái, đặc biệt là tiểu hoàncảnh rừng, mối quan hệ sinh vật trong hệ sinh thái rừng có ý nghĩa quan trọng trongnghiên cứu quy luật tái sinh trong từng loại rừng cụ thể và là cơ sở khoa học quantrọng để để xuất các biện pháp tái sinh rừng có hiệu quả
Như vậy, tái sinh rừng là một khái niệm chỉ khả năng và quá trình hình thànhlớp cây con dưới tán rừng Đặc điểm cơ bản của quá trình này là lớp cây con đều cónguồn gốc từ hạt và chồi có sẵn, kể cả trong trường hợp tái sinh nhân tạo thì cây concũng phải mọc từ nguồn hạt do con người gieo trước đó Nó được phân biệt với cáckhái niệm khác (như trồng rừng) là sự thiết lập lớp cây con bằng việc trồng câygiống đã được chuẩn bị trong vườn ươm.Vì đặc trưng đó nên tái sinh là một quátrình sinh học mang tính đặc thù của các hệ sinh thái rừng
1.1.2 Cơ sở của bảo tồn đa dạng sinh học
Bảo tồn ĐDSH không phải lúc nào cũng cố định trong các khu bảo tồn thiênnhiên Theo sự biến động thời gian, khí hậu, sự cạnh tranh phát triển trong các quần
xã, diễn thế tự nhiên, di cư, sự tác động của con người làm cho tính đa dạng sinhhọc trong các khu bảo tồn luôn thay đổi Vì vậy, điều tra, giám sát đa dạng sinh học,điều tra đánh giá quá trình tái sinh các loài động, thực vật quý, hiếm có ý nghĩa rấtlớn trong công tác bảo tồn
Trang 17Bảo tồn đa dạng sinh học là quá trình quản lý mối tác động qua lại giữa conngười với các gen, các loài và các hệ sinh thái nhằm mang lại lợi ích lớn nhất chothế hệ hiện tại và vẫn duy trì tiềm năng của chúng để đáp ứng nhu cầu và nguyệnvọng của các thế hệ tương lai Để có thể tiến hành các hoạt động quản lý nhằm bảotồn đa dạng sinh học, điều cần thiết là phải tìm hiểu những tác động tiêu cực, cácnguy cơ mà loài hiện đang đối mặt và từ đó xây dựng các phương pháp quản lý phùhợp nhằm giảm đi các tác động tiêu cực của các nguy cơ đó và đảm bảo sự pháttriển của loài và hệ sinh thái đó trong tương lai [15] [17] [18]
Tuy nhiên, dưới áp lực ngày càng tăng của sự thay đổi khá nhanh các điềukiện môi trường, đặc biệt do sự nóng lên toàn cầu, mục tiêu của một chiến lược bảotồn nguồn gen thực vật là không chỉ bảo tồn các khác biệt di truyền hiện có mà còntạo ra các điều kiện phù hợp cho việc tăng sự thích nghi và sự tiến hóa tương lai củaloài Vì vậy, các nhà khoa học bảo tồn đã đề xuất khái niệm bảo tồn nguồn genđộng cho thực vật
Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN 1978, ViệtNam cũng công bố trong Sách đỏ (Sách đỏ Việt nam, 1986) phần II, Thực vật [1].Sách đỏ Việt Nam năm 2007 (Sách đỏ việt Nam, 2007) phần II Thực vật [2] đểhướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên phân chia racác thứ hạng sau:
+ Không đánh giá: Not Evaluated (NE)
Để bảo vệ và phát triển các loài Động thực vật quý hiếm Chính phủ đã ban
hành (Nghị định số 32 /2006/NĐ-CP) [21] Nghị định quy định các loài động, thực
vật quý, hiếm gồm hai nhóm chính:
Trang 18+ IA,B Thực vật rừng, động vật rừng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mụcđích thương mại (IA đối với thực vật rừng).
+ IIA,B Thực vật rừng, động vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đíchthương mại (IIA đối với thực vật rừng).[4]
Căn cứ vào phân cấp bảo tồn loài và ĐDSH tại Vườn quốc gia Ba Bể tỉnhBắc Kạn có rất nhiều loài động thực vật được xếp vào cấp bảo tồn CR, EN và VUcần được bảo tồn, nhằm gìn giữ nguồn gen quý giá cho thành phần đa dạng sinh học
ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung, một trong những loài thực vật cần đượcbảo tồn là loài cây bản địa đa tác dụng Huỳnh đường, đây là cơ sở khoa học giúp tôitiến hành đề tài này
1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Trên thế giới
1.2.1.1 Những nghiên cứu về tái sinh rừng
Các chuyên gia sinh thái học đã khẳng định rừng là một sinh thái hoàn chỉnhnhất Thực vật rừng có sự biến động cả về chất và lượng khi yếu tố ngoại cảnh thayđổi Rừng cây và con người liên hệ mật thiết với nhau Chính lẽ đó, cây rừng đượccon người quan sát, xem xét, nghiên cứu từ xa xưa Một trong khía cạnh con ngườinghiên cứu để phục hồi lại rừng là tái sinh rừng
Nghiên cứu tái sinh rừng tự nhiên đã trải qua hàng trăm năm, nhưng ở rừngnhiệt đới, vấn đề này được đề cập từ năm 1930 trở lại đây Đầu thế kỷ 19 khi côngnghiệp phát triển mạnh, nhu cầu gỗ đòi hòi quá lớn, con người phải tập trung khaithác rừng tự nhiên và tiến hành tái sinh nhân tạo Nhưng từ những thất bại tái sinhrừng nhân tạo ở Đức nhiều nhà khoa học ủng hộ và đồng nhất quan điểm “ Hãyquay trở lại với tái sinh tự nhiên” Khi nghiên cứu tái sinh rừng tự nhiên nhiệt đới,Van steenis.J (1956) [11] [13] [19] đã nêu hai đặc điểm tái sinh phổ biến: Tái sinhphân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và kiểu tái sinh vệt của các loài cây ưasáng Ngoài ra theo nhận xét của A Obrevin (1938) khi nghiên cứu các khu rừngnhiệt đới ở Châu Phi, còn đưa ra lý luận bức khảm hay lý luận tái sinh tuần hoàn
Theo kết quả nghiên cứu tái sinh tự nhiên của rừng mưa nhiệt đới Châu Phi,A.Obrevin (1930) nhận thấy: cây con của các loài cây ưu thế trong rừng mưa có thể
Trang 19cực hiếm hoặc vắng hẳn Ông gọi đây là hiện tượng “không bao giờ sinh con đẻ cái”của cây mẹ trong thành phần rừng cây gỗ của rừng mưa Tổ thành loài cây mẹ ởtầng trên và tổ thành loài cây tái sinh ở tầng dưới thường khác nhau rất nhiều, mặtkhác tổ thành loài cây của rừng mưa lại biến đổi từ nơi này đến nơi khác Vì vậy tổthành loài cây của rừng mưa đều không cố định trong không gian và thời gian,không có một tổ hợp của loài cây nào có thể đạt thế “cân bằng sinh thái” với hoàncảnh một cách vĩnh viễn và ổn định Ngay ở cùng một địa điểm và cùng một thờigian nhất định tổ hợp các loài cây sẽ được thay thế, không phải bằng tổ hợp cóthành phần như cũ mà bằng một tổ hợp có thành phần khác hẳn Từ những lý luậntrên, đã dẫn A.Obrevin đi đến lý luận bức khảm tái sinh (còn gọi là lý luận tuầnhoàn tái sinh) Theo lý luận này có thể coi một diện tích rừng mưa rộng lớn là mộtbức khảm mà mỗi đơn vị của bản ghép hình đó là một tổ hợp hình thành bởi nhữngloài cây ưu thế khác nhau Mặc dù, xét trên diện tích nhỏ, tổ hợp loài cây tái sinhkhông mang tính kế thừa, nhưng nếu xét trên phạm vi rộng lớn hơn thì các tổ thànhloài cây sẽ kế thừa nhau ít nhiều theo phương thức tuần hoàn Obrevin đã có công làkhái quát hóa các hiện tượng tái sinh ở rừng nhiệt đới Châu Phi để đúc kết nên lýluận bức khảm tái sinh, nhưng phần lý giải các hiện tượng đó còn hạn chế Ông coihiện tượng đó là “thuần túy ngẫu nhiên”, không thể phán đoán trước được vì cònphụ thuộc vào quá nhiều nguyên nhân phức tạp Ông không giải thích được do tácnhân nào, do cơ chế nào đã dẫn đến việc hình thành các tổ hợp loài cây tái sinh khácnhau Vì vậy lý luận của ông còn ít sức thuyết phục, chưa giúp ích được cho thựctiễn sản xuất, đề xuất các biện pháp điều khiển tái sinh theo những mục tiêu kinhdoanh đã đề ra [16]
Theo những kết quả quan sát của David và P.W Risa (1933), Bear (1946),Sun (1960), Rôlê (1969) ở rừng nhiệt đới Nam Mỹ lại khác hẳn so với nhận địnhcủa A Obrevin Ở đây tất cả những loài cây có nhiều cấp thể tích lớn thì đồng thờicũng có nhiều trong cấp thể tích nhỏ, tuy độ nhiều tương đối của các loài cây trongcấp thể tích nhỏ có khác so với các tầng cao hơn Như vậy ở đây xuất hiện hiệntượng tái sinh tại chỗ và liên tục của các loài cây và tổ thành loài cây có khả nănggiữ nguyên không đổi trong một thời gian dài Sự khác nhau này có thể giải thích
Trang 20được nếu coi rừng Nam Mỹ đã đạt tới giai đoạn tương đối ổn định, cân bằng vớihoàn cảnh Châu Phi, nơi A.Obrevin đã từng quan sát, rừng chưa đạt tới giai đoạncân bằng với hoàn cảnh, tổ thành loài chưa ổn định, rừng đang trong một quá trìnhphát triển để hướng tới một quần lạc ổn định về thành phần loài cây [15].
Về phương pháp điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấymẫu ô vuông theo hệ thống Lowdermilk (1927)[9] với diện tích ô đo đếm thông
ô phải đủ lớn mới phản ánh được trung thực tình hình tái sinh rừng Để giảm sai sốtrong khi thống kê tái sinh tự nhiên, Barnard (1950) đã đề nghị một phương pháp
“điều tra chẩn đoán” mà theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tùy theo giaiđoạn phát triển của cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác nhau H Lamprecht(1989) [25] căn cứ vào nhu cầu ánh sáng của các loài cây trong suốt quá trình sống
để phân chia cây rừng nhiệt đới thành nhóm cây ưa sang, nhóm cây bán chịu bong
và cây chịu bóng Kết cấu quần thụ lâm phần có ảnh hưởng đến tái sinh rừng I.DYurevich (1960) đã chứng minh độ tàn che tối ưu cho sự phát triển bình thường của
đa số các loài cây gỗ là 0.6-0.7
Các công trình nghiên cứu về phân bố tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới đángchú ý là công trình nghiên cứu của Richards P.W (1952), Berhanrd Rollet (1974),tổng kết các kết quả nghiên cứu về phân bố số cây tái sinh tự nhiên đã nhận xét:trong các ô có kích thước nhỏ (1x1 m, 1x1.5 m) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân
bố cụm, một số ít có phân bố Poisson, ở châu Phi trên cơ sở các số liệu thu thậpTayloer(1954), Barnard(1955) xác định số lượng cây tái sinh trong rừng nhiệt đớithiếu hụt cần thiết phải bổ sung bằng trồng rừng nhân tạo Ngược lại, các tác giảnghiên cứu về tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới châu Á như Budowski (1956), Bava(1954), Atinot (1965) lại nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ sốlượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, do vậy các biện pháp kĩ thuật lâm sinh đề ra cầnthiết để bảo vệ và phát triển cây tái sinh có sẵn dưới tán rừng
Đối với rừng nhiệt đới thì các nhân tố sinh thái như nhân tố ánh sáng (thôngqua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi là
Trang 21nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sinh rừng, cho đến nay đã có nhiềucông trình nghiên cứu, đề cập đến vấn đề này Baur G.N (1962) cho rằng, sự thiếuhụt ánh sáng ảnh hưởng đến phát triển của cây con còn đối với sự nảy mầm và pháttriển của cây mầm, ảnh hưởng này thường không rõ ràng và thảm cỏ, cây bụi có ảnhhưởng đến cây tái sinh Nhìn chung ở rừng nhiệt đới, tổ thành và mật độ cây tái sinhthường khá lớn Nhưng số lượng loài cây có giá trị kinh tế thường không nhiều vàđược chú ý hơn, còn các loài cây có giá trị kinh tế thấp thường ít được nghiên cứ,đặc biệt là đối với tái sinh ở trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy.
Trong nghiên cứu tái sinh rừng người ta nhận thấy rằng tầng cỏ và cây bụiqua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh dưỡng khoáng của tầng mặt đãảnh hưởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ Những quần thụ kín tán, đấtkhô và nghèo dinh dưỡng khoáng do đó thảm cỏ và cây bụi sinh trưởng kém nênảnh hưởng của nó đến các cây gỗ tái sinh không đáng kể Ngược lại, những lâmphần thưa, rừng đã qua khai thác thì thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ Trongđiều kiện này chúng là nhân tố gây trở ngại rất lớn cho tái sinh rừng
Như vậy, các công trình nghiên cứu được đề cập ở trên đã phần nào làm sáng
tỏ việc đặc điểm tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới Đó là cơ sở để xây dựng cácphương thức lâm sinh hợp lí
1.2.1.2 Những nghiên cứu về loài cây Huỳnh đường
Trên thế giới các nghiên cứu về loài cây Huỳnh đường chưa có nhiều vì đây
là loài cây đặc hữu của Campuchia và miền Nam Việt Nam
Báo cáo của Campuchia (Loài cây Campuchia, CTSP, FA, DANIDA,2004)[22] về loài Huỳnh đường được nghiên cứu tại Campuchia mô tả:
Tên Campuchia: Mrah-PraoPhnom
Tên khoa học: Dysoxylum loureiri Pierre Họ: Meliaceae
Tên khác: Santalum album Lour non L.; Epicharis loureiri Pierre
Phân bố và môi trường sống: Mọc phân tán trong các khu rừng đất thấp, đặcbiệt là phong phú dọc theo phía tây nam bờ biển và vùng cao nguyên liền kề của
Trang 22Campuchia Loài này là loài đặc hữu của Campuchia và miền Nam Việt Nam (DyPhon, 2000), và thường tập trung ở rừng thường xanh.
Mô tả đặc điểm: Một cây lớn có thể cao từ 20-35m, gỗ màu vàng, thơm.Hình thái: Cuống lá có thể dài tới 30-40cm Mỗi cuống là thường có từ 5 đến 11 đôi
lá chét [23]
Sử dụng: Gỗ được sử dụng trong xây dựng nhà, đóng quan tài, các công cụ,nông nghiệp và thể thao, đồ nội thất, và như gỗ trầm hương (FIPI, 1996) Dầu được
sử dụng trong y học truyền thống [23]
Trạng thái: Gỗ cây Marah-Prao (Dysoxylum loureiri Pierre) có giá trị cao và
nhu cầu sử dụng loài gỗ này đang tăng cao, loài này đang bị khai thác rất mạnh vànguy cơ tuyệt chủng nếu không thực hiện các biện pháp bảo vệ kịp thời Nó bây giờđòi hỏi phải có đầy đủ các biện pháp bảo vệ và bảo tồn can thiệp Sự phân bố củaloài này phân tán, môi trường sống của loài đã bị phá hủy bởi chuyển đổi đất lâmnghiệp và khai thác chọn gỗ bất hợp pháp Số lượng của các loài cây bây giờ rất ít,
và điều này dẫn đến khó khăn trong việc sưu tập hạt giống Năm 2002, cuộc họp thứ
hai về Chiến lược Lâm nghiệp Bảo tồn gen quy định Dysoxylum loureiri Pierre như
một loài ưu tiên cần bảo tồn ngay lập tức và can thiệp bảo vệ thích hợp Loài này đãđược ngành Lâm nghiệp Campuchia đưa vào danh sách các loài cây bảo tồn và pháttriển.[23]
1.2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
1.2.2.1 Nghiên cứu về tái sinh
Nghiên cứu về tái sinh rừng ở Việt Nam cũng chỉ mới bắt đầu từ những năm
1960 Nổi bật có công trình của Thái Văn Trừng (1963, 1978) về “Thảm thực vậtrừng Việt Nam”, Ông đã nhấn mạnh ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và điềukhiển quá trình tái sinh tự nhiên ở cả rừng nguyên sinh và thứ sinh Theo ông, cómột nhóm nhân tố sinh thái trong nhóm khí hậu đã khống chế và điều khiển quátrình tái sinh tự nhiên trong thảm thực vật rừng, đó là nhân tố ánh sáng Nếu cácđiều kiện khác của môi trường như đất rừng, nhiệt độ, độ ẩm dưới tán rừng chưathay đổi thì tổ hợp các loài cây tái sinh không có những biến đổi lớn và cũng khôngdiễn thế một cách tuần hoàn trong không gian và thời gian như A.Ôbrêvin đã nhận
Trang 23định và diễn thế theo phương thức tái sinh không có quy luật “nhân quả” giữa sinhvật và hoàn cảnh Vì lẽ trên P.W Risa đã nói rất có lý: “Lý luận tuần hoàn tái sinh
đã ứng dụng rộng rãi được đến mức độ nào, vấn đề này hiện nay phải tạm gác lạichưa giải quyết được”
Từ năm 1962 - 1969, Viện Điều tra Qui hoạch rừng đã có điều tra tình hìnhtái sinh tự nhiên cho các vùng kinh tế trọng điểm ở miền Bắc Việt Nam như: YênBái (1965), Quỳ Châu sông Hiếu Nghệ An (1962 - 1964), Quảng Bình (1969), LạngSơn (1969) Nguyễn Hữu Hiến (1970) [10] đã đưa ra phương pháp đánh giá tốthành rừng nhiệt đới, tác giả cho rằng loài cây tham gia vào loại hình thì nhiều, trêndiện tích một ha có khi có tới hàng trăm loài, cùng một lúc không thể kể hết được
Vì vậy, người ta chỉ kể đến loài nào có số lượng cá thể nhiều nhất trong các tầngquan trọng (tính theo loài cây ưu thế hoặc nhóm loài ưu thế) tác giả đã đưa ra côngthức tính tổ thành là X ≥ N/a với X là trị số bình quân cá thể của một loài, N là sốcây điều tra và a là số loài điều tra Một loài được gọi là thành phần chính của mộtloại hình phải có số lượng cá thể bằng hoặc lớn hơn X Đây là một cách đánh giáthuận tiện trong khi phân tích nghiên cứu phân bố các loài, diễn thế và sự phân bốcác quần lạc thực vật
Lâm Công Định (1987) trong nghiên cứu về tái sinh, ông cho rằng tái sinh làchìa khóa để quyết định nội dung điều chế rừng Tác giả kết luận hiệu quả của việcđiều chế đối với một khu rừng cụ thể là phải hướng tới đạt được 3 yêu cầu mấu chốtsau đây: 1- Giữ vững được vốn rừng về cả mấy mặt hiện tại trong đó: Địa bàn, diệntích, thành phần loài cây mục đích, năng suất sinh học, sản lượng, phẩm chất vậtliệu và giá trị môi sinh 2 - Đảm bảo được sản lượng khai thác hàng năm theo chu
kỳ ổn định 3 - Nâng thêm được giá trị vốn rừng chủ yếu về 3 mặt: Thành phần loàicây mục đích, năng suất sinh học và sản lượng thu hoạch Ông nhấn mạnh tất cả 3yêu cầu trên hoàn toàn tùy thuộc vào khả năng phương pháp và điều kiện đảm bảotái sinh [9]
Nghiên cứu về đặc điểm tái sinh của rừng tự nhiên tác giả Vũ Tiến Hinh(1991)[12] đã đề cập đến đặc điểm tái sinh theo thời gian của cây rừng và ý nghĩa
Trang 24của nó trong điều tra cũng như trong kinh doanh rừng Tác giả đã sử dụng phươngpháp chặt hết cây gỗ D1.3 ≥ 8cm ở hai ô tiêu chuẩn (một ô là lâm phần sau phục hồitrên đất rừng tự nhiên sau khai thác kiệt và một ô thuộc trạng thái rừng IIIA3) Kếtquả nghiên cứu tác giả cho biết: Với đối tượng rừng Sau sau phục hồi phân bố sốcây theo đường kính và theo tuổi đều là dạng phân bố giảm.
Đối với rừng tự nhiên thứ sinh hỗn giao thì phân bố số cây theo tuổi của câycao và cây tái sinh đều có dạng phân bố giảm và nhìn chung toàn lâm phần tự nhiêncây rừng tái sinh liên tục và càng ở tuổi nhỏ số cây càng tăng
1.2.2.2 Nghiên cứu về loài Huỳnh đường
Huỳnh đường là cây thuộc Họ Xoan Họ Xoan (Meliaceae) là họ thực vật có
hoa thuộc bộ Bồ hòn (Sapindales), lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida) ngành Ngọc Lan(Magnoliophyta) ngành Ngọc Lan gồm khoảng 1.200.000 loài thuộc 362 họ, tínhriêng họ Ngọc Lan gồm 12 chi, với 210 loài Còn tính riêng ở Việt Nam thì họ Xoan
có có 20 chi, 650 loài
Một số loài trong họ Xoan như sau : [5] [6]
Gội Duyên Hải: Aglaia lutoralis Miq.
Gội giống nhãn: Aglaia cuphoroides Pierre
Ngâu biên hòa: Aglaia hoaensis Pierre
Gội nếp (Gội tía): Amoora gigantea Pierre
Gội nước (Nàng gia): Aphanamixis polystachya J.N.Parker
Cá muối xo (Dọc khế): Cipadessa baccifera (Roth) Miq
Quyếch (Gội nam): Chisocheton cochinchinensis Pierre
Huỳnh đàn gân đỏ: Dysoxylum rubrocostatum Pierre
Huỳnh đàn Biên hoà: Dysoxylum hoaensis (Pierre) Pell
Huỳnh đường: Dysoxylum loureirii Pierre
Chặc khế hai tuyến: Dysoxylum binectariferum Hook.f.
Sang nước (Hải mộc): Heynia trijuga Roxb.
Xoan: Melia azedarach L.
Sấu tía: Sandoricum koetjape (Burm.f.) Merr.
Trang 25Nhãn mọi: Walsura cochinchinensis Harms.
Chi Chặc khế hay còn gọi Huỳnh đường, Huỳnh đàn - Dysoxylum được mô
tả trong Danh lục các loài thực vậy Việt Nam tập II, gồm các loài cây từ gỗ lớn tới
cây bụi và có nhiều loài có giá trị sử dụng Như Huỳnh đường (Dysoxylum loureiri Pierre), Đinh hương (Dysoxylum cauliflorum Hiern), Huỳnh đàn lá đối (Dysoxylum carolinae Mabb.) Với 15 loài phân bố rộng khắp Việt Nam tại Danh lục các loài thực vật Việt nam (2003) và Sách đỏ Việt Nam (2007) đã mô tả cây Huỳnh đường.
Tên Khoa học: Dysoxylum loureirii Pierre
Với nhiều công dụng cũng như giá trị cao nên cây Huỳnh đường hiện đang bịkhai thác và sử dụng nhiều làm cho số lượng loài ngày càng giảm đi nhanh chónglàm cho cây Huỳnh đường có nguy cơ bị tuyệt chủng theo Sách đỏ Việt Nam, câyHuỳnh đường được xếp phân hạng bảo tồn VU (A1a,c,d+2d.) cấp sắp nguy cấpnhưng đó là theo số liệu từ trước nếu tính vào thời điểm hiện tại thì cây Huỳnhđường rất có thể đang rơi vào cấp EN cấp nguy cấp hoặc có thể hơn thế nữa Huỳnhđường thường mọc trong rừng rậm thường xanh, rừng thứ sinh, trên đất bazan, đất
phiến thạch hoặc sa thạch.
Một số đặc điểm hình thái loài Huỳnh đường:
a, Đặc điểm về phân loại trong hệ thống phân loại
Sắp xếp của loài cây nghiên cứu trong hệ thống phân loại thuộc:
- Ngành thực vật: Ngành hạt kín (Magnoliophyta)
- Lớp: Ngọc lan (Magnoliopsida)
- Họ: Xoan (Meliaceae)
- Chi: Huỳnh đường (Dysoxylum).
- Loài: Huỳnh đường (Dysoxylum loureiri Pierre).
Tên địa phương: Mạy teenh hương
Tên khác: Huỳnh đàn, Xé da voi, Chặc kế
Tên nước lân cận: Mạy Khau ta Sang(Lào- Thái)
Tên đồng nghĩa: Santalum album Lour non L.; Epicharis loureiri Pierre;
- Thuộc cấp bảo tồn: VU A1c,d + 2c,d, B1 + 2b,e trong sách đỏ Việt Nam
Trang 26b, Đặc điểm hình thái cây.
Đặc điểm cây non
- Cây tái sinh có hệ rễ cọc phát triển mạnh, vỏ rễ ngoài có màu đen hệ rễ bênphát triển bình thường
- Phần thân non màu xanh, phủ một lớp lông màu hung hơi nâu, lông thườngtập trung trên chồi non và cuống lá non
- Lá kép lông chim một lần lẻ, lá kép mọc cách lá thật mới xuất hiện ở dạng
lá đơn Cuống lá hơi phình to ở đầu, có chiều dài từ 1-2cm, sau đó phát triển thành lákép
3 lá chét, số lá chét tăng dần theo tuổi và chuyển sang lá kép lông chim một lần lẻ
Đặc điểm cây trưởng thành
- Vỏ cây Huỳnh đường trưởng thành dày 0,5-1,5cm, vỏ ngoài bong vẩy nhỏ
lớp ngoài cùng có màu xám nâu hay nâu hồng Vết vỏ đẽo có màu trắng không cónhựa mủ
- Thân cây: Gốc cây thường có nhiều múi hay bạnh nhỏ Cành thường ít và to
Gỗ giác có màu trắng vàng, gỗ lõi có màu vàng nhạt khi đẽo ngửi có mùi rất thơm
- Lá Huỳnh đường rất đặc biệt mọc tập trung ở đầu cành, lá kép lông chimmột lần lẻ, mọc cách, lá chét khi còn non gân chính lõm ở mặt trên Cuống lá mặttrên phủ dày lông màu nâu vàng, lõm ở phía trên đầu cuống sát cành Lá chét mọcđối hay gần đối, mép nguyên, gân chính và gân bên nổi ở mặt dưới, mặt trên xanhthẫm, gân chính hơi nổi Lá non có màu đỏ nâu
Đặc điểm hoa quả
- Cấu tạo hoa: Chùm hoa thường mọc trên nách lá, có chiều dài 25-35cm trênphủ lông vàng; hoa hình cầu; có lông dày; cánh tràng có màu vàng, lá đài 4, rời;cánh hoa 4; nhị 8, ống có lông; bầu 3 ô Mùa ra hoa từ tháng 3-5, mùa quả chíntháng 8-9
- Cấu tạo quả: Quả nang hình cầu, trên quả có lông mịn, quả chia thành 3 mảnh,
có 3 hạt
Trang 27Đặc điểm phân bố: Loài Huỳnh đường phân bố chủ yếu ở Ninh Bình (CúcPhương), Nghệ An, Hà Tĩnh, Kon Tum, Bình Dương (Thủ Dầu Một, Chơn Thành),Tây Ninh, Đồng Nai (Biên Hòa), Bà Rịa - Vũng tàu (Núi Đinh), Tp Hồ Chí Minh(Sài Gòn) Thế giới còn có ở Campuchia.
Trang 28c, Một số công dụng: Gỗ màu vàng tươi, rất thơm, không bị mối mọt, dùng trongxây dựng, đóng đồ mộc cao cấp, khi xưa các nhà quyền quý dùng đóng quan tài, gỗ
có thể dùng làm tan sưng, làm ra mồ hôi và có tác dụng trợ tim, lợi tiểu, hạ sốt
Trong danh lục Bảng phân loại tạm thời các loại gỗ sử dụng thống nhất trong
cả nước 1997, gỗ Huỳnh đường đã được xếp vào gỗ nhóm 1 của bảng phân loại 8nhóm Gỗ nhóm 1 ở Việt nam là những loại gỗ quý Tiêu chuẩn chính của các loại
gỗ trong nhóm này là gỗ có màu sắc, vân thớ đẹp, hương vị thơm, rất khan hiếm, và
có giá trị kinh tế cao nhất Các loại gỗ trong nhóm này thường dùng làm đồ mỹnghệ, gỗ lạng, hàng mộc chạm khảm, ván sàn đặc biệt, Nhóm này ở Việt nam có
41 loài [4]
Như vậy theo các tài liệu đã công bố loài cây Huỳnh đường là cây gỗ quý,hiếm ngoài các khu phân bố đã biết như ở Campuchia, các tỉnh phía Nam Việt Nam,Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh còn có phân bố rải rác tại vùng núi đá vôi trong đó cóvườn quốc gia Ba Bể
1.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.3.1 Giới thiệu khái quát về VQG Ba Bể
Vườn quốc gia Ba Bể hiện nay thuộc quản lý của Bộ nông nghiệp và pháttriển nông thôn tỉnh Bắc Kạn VQG Ba Bể bao gồm các phân khu chức năng, phânkhu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái, phân khu dịch vụ hành chính,quản lí, khu mặt hồ và vùng đệm
Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt có diện tích 3226,3 ha chủ yếu là khu vực córừng thuộc xã Nam Mẫu, nằm ở phía Bắc của VQG Phần lớn phân khu này đượcbao bọc bởi các vách đá hiểm trở và các thung lũng sâu, nơi hoạt động và trú ẩn củanhiều loài động vật hoang dã quý hiếm như voọc mũi hếch, khỉ mặt đỏ, báo hoamai… Phân khu này có chức năng bảo vệ nghiêm ngặt Toàn bộ diện tích rừng trênnúi đất, núi đá vôi, phục hồi những diện tích rừng đã bị tác động, nghiêm cấm mọihoạt động sản xuất nông lâm nghiệp và săn bắt trái phép Bảo vệ nguồn gen, tạođiều kiện cho các loài thú bị săn đuổi ở xung quanh về nơi cư trú Không được xâydựng các khu kiến trúc lớn trong phân khu quanh hồ và duy trì cảnh quan thiên
Trang 29nhiên của hồ, tại đây có 09 trạm kiểm lâm được xây dựng nhằm thực hiên công táctuần tra, bảo vệ và giám sát tài nguyên rừng và đa dạng sinh học theo luật định.
Phân khu mặt hồ: Nằm trong khu bảo vệ nghiêm ngặt với diện tích khoảng500ha bao gồm hồ Ba Bể, các đảo An Mã, Khẩu Cúm, bà Góa Phân khu này cóchức năng bảo vệ nguồn gen của các loài động vật thủy sinh Chống ô nhiễm môitrường nước, đặc biệt là ô nhiễm dầu do các hoạt động du lịch bằng thuyền máy.Khuyến kích việc đi lại, du lịch trên hồ bằng thuyền chèo tay, thuyền độc mộc và xeđạp nước Trong phân khu này có các địa điểm, khu vực chứa đựng tiềm năng dulịch như: Động Puông, Thác Đầu Đẳng, Ao Tiên… Phân khu mặt hồ hiện nay đangđược sử dụng chủ yếu cho mục đích du lịch, tuy nhiên giá trị đa dạng sinh học của
nó cũng đang được quan tâm
Phân khu phục hồi sinh thái: Gồm các khu rừng liên tục ở phía Bắc và phíaNam, tiếp giáp với khu bảo vệ nghiêm ngặt có diện tích 3623 ha, chiếm khoảng4083,4 ha và 4083,4 ha và vùng đệm Chủ yếu là rừng nghèo, là địa bàn cư trú củamột số loài như Sơn Dương, gà Nòi Phân khu này nằm ở nơi trước đây rừng đã bịkhai thác và chặt phá tuy nhiên còn nhiều loài động vật, thực vật quý cần đượckhoanh nuôi, bảo vệ và phục hồi
Vùng đệm VQG bao gồm diện tích còn lại của xã Khang Ninh, Cao Trĩ vàQuảng Khê Vùng đệm có chức năng bảo vệ rừng còn lại, giảm phát nương làm rẫy,săn bắt chim thú, bảo vệ trực tiếp rừng đầu nguồn của những con suối chảy vào hồ
Ba Bể, ngăn chặn xói mòn và bồi lắng lòng hồ Tăng cường trồng mới, khoanh nuôiphục hồi rừng
Phân khu dịch vụ hành chính, quản lí có diện tích 300,4 ha Khu vực hànhchính có trụ sở ban quản lý, với nhiều công trình xây dựng nhằm tạo điều kiện làmviệc thuận lợi cho cả Vườn (văn phòng, kho ) và khu vực phục vụ khách du lịch(nhà nghỉ, nhà ăn, nới để xe và các phương tiện khác)
Ngoài ra còn khu dân cư, hiện nay trong VQG gồm các thôn bản kể trên định
cư trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và phục hồi sinh thái Để giảm bớt áp lực lêncông tác bảo tồn, VQG một mặt tiến hành sắp xếp ổn định các khu dân cư trongvườn, mặt khác tiến hành kế hoạch xây dựng khu tái định cư Đồn Đèn
Trang 30VQG chú trọng đẩy mạnh việc tuyên truyền và thực hiện luật, các quy chếbảo vệ rừng và hương ước bảo vệ rừng của thôn bản Cộng đồng sống ở đây lúc nàyđược tham gia và hưởng lợi từ các chính sách hỗ trợ phát triển cộng đồng của VQG
và nhà nước như chương trình 661 và du lịch sinh thái… Các quy định cho việcđánh bắt cá và quản lý nguồn thủy sinh nói chung phải có sự thỏa thuận giữa UBND
xã và ban quản lý VQG Các quy định về phát triển du lịch và các ngành thươngmại khác trong khu dân cư phải có sự đồng ý của chính quyền các xã và ban quản lýVQG Tuy nhiên có thể thấy rõ là hiện nay ở VQG có các đường mòn du lịch xuyênqua các khu dân cư và các công trình khác nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch
đã được xây dựng (tại Pắc Ngòi) Đây là những công trình góp phần khuyến khíchphát triển du lịch ở thôn bản
Hình 1.1 Phân vùng bảo tồn Vườn quốc gia Ba Bể
(Nguồn: Hiệp hội VQG và KBTTN Việt Nam [33])
Trang 311.3.2 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
1.3.2.1 Vị trí địa lý
a, Vị trí địa lý: 105028‟31‟‟ đến 105047‟20‟‟ kinh độ Đông
22016‟12‟‟ đến 220 33‟45‟‟ Vĩ độ Bắc
b, Ranh giới vùng lõi
Phía Bắc gồm: Một phần diện tích xã Cao Thượng huyện Ba Bể tỉnh BắcKạn bắt đầu từ đỉnh 800 m (Cốc Lùng) theo hướng Đông Nam và hướng Đông đếnbản Tàu, từ bản Tàu theo hướng Đông Bắc qua đỉnh 500m, 800m và 700m (HinLặp) bao gồm 21 cột mốc (từ cột mốc 100 đến cột mốc 212)
Phía Đông gồm: Một phần diện tích xã Cao Trĩ và Khang Ninh, huyện Ba
Bể tỉnh Bắc Kạn từ chân núi 700m (phía Tây Bắc) và 800m (phía Đông Bắc) theohướng Đông nam bao lấy núi Lung Nham tới Buốc Bó ở độ cao 200m từ đây tiếptục theo hướng Tây theo bở sông Năng đến bản Vải cột mốc số 14, từ cột mốc số 14theo hướng Tây Nam đến đỉnh 400 (cột mốc số 18) từ đường phân thủy đến đỉnh
600 rồi bám theo chân núi của đỉnh 789,775,945,1121 đến Cáng Lò (cột mốc số 38)bao gồm 38 cột mốc(từ cột mốc số 1 đến cột thứ 38)
Phía Nam gồm: Một phần diện tích xã Quảng Khê, Hoàng Trĩ huyện Ba Bể
từ cột mốc số 38 theo đường chân núi qua bản Vải đến bản Pía, cắt qua sông ChợLèng, cách Hua Mạ về phía Nam gần 1 km rồi theo hướng Tây theo dông núi lênđỉnh 500 bao gồm 11 cột mốc (từ cột 39 đến cột 49)
Phía Tây giáp xã Nam Cường, Xuân Lạc và huyện Chợ Đồn và xã Đà Vịhuyện Na Hang tỉnh Tuyên Quang, bao gồm 49 cột mốc (từ cột mốc 50 đến cộtmốc 99) Tổng diện tích VQG là 44.750 ha trong đó: 10.048 ha vùng lõi, 34.702
ha vùng đệm
Vị trí địa lý ngoài việc quyết định đặc điểm địa chất, địa hình, khí hậu, thủyvăn thảm thực vật và các hệ sinh thái trong khu vực thì còn có vai trò quan trọngảnh hưởng đến các hoạt động phát triển kinh tế, du lịch Cụ thể VQG Ba Bể tuy có
vị trí không thuận tiện cho việc đi lại nhưng lại nằm trong quần thể khu di tích vănhóa lịch sử Việt Bắc là lợi thế cho phát triển du lịch
Trang 32(Nguồn: Báo cáo tổng quan tài liệu 7)
1.3.2.2 Địa hình
VQG Ba Bể nằm trong vùng núi đá vôi Chợ Rã- Chợ Đồn- Chợ Điền thuộcmiền karst của khối năng Việt Bắc Khối năng này được hình thành do sự phá hủycủa khối lục địa Đông Nam Á vào cuối thể kỉ Cambri sớm tạo thành Proterozoi nhôlên mặt, chỉ có một số nơi mới bị các trầm tích che phủ lên trên Hai khối đá Ba Bể -Chợ Rã và Chợ Đồn - Chợ Điền được cấu tạo bằng đá vôi Givet nằm bên cạnh khốiPhja Bjooc nên hoạt động xâm nhập của khối này làm đá vôi ở đây biến thành đáhoa, được gọi là hoa Ba Bể tính theo tuổi tuyệt đối của đã Granit
Chỉ mới diễn ra vào kỷ Creta muộn, nghĩa là khối đá này đã trải qua chế độ
kỉ lục trong khoảng 200 triệu năm Điều đó giải thích sự già nua của địa hình karst,
sự hình thành hang động và hồ trên các vùng karst ở đây mà ảnh hưởng của tâmkiến tạo cũng không làm cho địa hình karst trẻ lại như ở nhiều nơi khác
Do địa hình cao, độ dốc lớn nên nhiều chỗ sông Năng và chợ Lèng có dạngmột lát xẻ sâu đặc biệt ở núi Lũng Nham và Bó Lù sông suối còn chảy dưới dạngmột sông ngầm với chiều dài 300-800m, tại nhiều nơi lòng sông đã đào tới các lớp
đá phiến Proterozoi nằm dưới, ở đó đá có độ rắn khác nhau nên đã tạo ra nhiềughềnh thác như Đầu Đẳng, Nà Phoong
Địa hình khu vực VQG Ba Bể và phụ cận khá phức tạp, mức độ phân cắt lớn,bao gồm một phức hệ sông suối, hồ, núi đá vôi từ dốc mạnh đến dốc đứng Mỗidạng địa hình mang một sắc thái riêng biệt Xen giữa núi đá vôi có nhiều núi caotrung bình cấu tạo bởi phiến đá granit tạo nên cảnh quan đa dạng và độc đáo
Bảng 1.1: Tổng quan địa hình VGQ Ba Bể
Kiểu địa hình Độ cao Tỷ lệ (%)
diện tích
Độ dốc Cấp dốc Độ dốc Tỷ lệ (%)
Trang 33(Nguồn: Báo cáo tổng quan tài liệu
Nhận xét về ảnh hưởng của địa chất địa hình đến hoạt động nghiên cứu vàbảo tồn
Khó khăn:
+ Địa hình phân cắt mạnh, độ dốc cao gây khó khăn cho hoạt động nghiêncứu và bảo vệ
+ Độ an toàn thấp, khó khăn cho việc cứu hộ
+ Hoạt động lũ quét thường xuyên xảy ra
1.3.2.3 Khí hậu
VQG Ba Bể mang đặc điểm khí hậu của vùng núi phía Bắc Việt Nam Trungtâm của Vườn là hồ Ba Bể với diện tích 500 ha, sự bốc hơi liên tục tạo nên vi khíhậu vùng hồ mát mẻ, giảm bớt sự khác nghiệt của các mùa (mùa hè không nóngquá, mùa đông không lạnh quá)
390C; Nhiệt độ trung bình thấp nhất là 60C
Bảng 1.2 Nhiệt độ trung bình tháng và năm
Năm0
Trang 34- Độ ẩm tương đối trung bình năm 83%
- Lượng mưa trung bình từ 18,2 mm vào tháng 1 đến 249,4mm vào tháng 7.Tổng lượng mưa hàng năm là 1.343mm
- Số ngày mưa phùn trung bình năm 33,3 ngày
- Số ngày có dông, mưa trung bình năm tại chợ Rã 41,2 ngày
1.3.2.4 Thuỷ văn
Hệ thống thuỷ văn Vườn Quốc gia bao gồm 4 con sông: Sông chính nối với
hồ Ba Bể, phía Nam và Tây Nam có sông Chợ Lèng, suối Bó Lù và Tả Han đổ nước
3 con sông này đổ nước vào hồ sau khi được điều tiết, 1 phần nước hợp lưu với sôngNăng ở phía Bắc hồ tiếp tục chảy về sông Gâm Mức nước tích lại trong hồ có thểđạt tới 80 -
Cả 4 con sông, suối nói trên đều bắt nguồn từ những đỉnh núi cao, địa hìnhdốc, thường gây ra lũ lớn Theo kết quả điều tra cơ bản của Viện Khoa học Thuỷlợi, thực hiện trong năm 2002, lưu lượng của ba con sông, suối phía Nam khoảng
Tọa độ vị trí địa lý, địa hình phân chia phức tạp, tiểu khí hậu vùng, đất đaithổ nhưỡng, hệ thống sông, hồ chằng chịt và nhiều nhân tố sinh thái khác đã tạo nêntính đa dạng sinh học cao của thảm thực vật rừng VQG Ba Bể
so với các khu vực xung quanh
+ Sương muối thường xuất hiện từ tháng 12 đến tháng 1 năm sau, nhưng
Trang 35diễn ra trong thời gian ngắn.
Trang 36+ Sương mù là hiện tượng xảy ra phổ biến ở Ba Bể, tập trung chủ yếu từtháng 9 đến tháng 9 năm sau và trong năm trung bình có tới 80,4 ngày có sương mù.
Hiện tượng mưa phùn ít xảy ra ở khu vực VQG Ba Bể, trung bình là 13,3ngày/ năm, chủ yếu từ tháng 1 đến tháng 3 Tuy số ngày mưa phùn không nhiềunhưng gây khó khăn cho việc đi lại trong rừng
1.3.3 Điều kiện đất đai
VQG Ba Bể nằm trong vùng caxtơ chợ Rã Ba Bể - Chợ Đồn, hai khối này làkhối đá vôi Givet (Kỷ Devon giữa) nằm trên phiến đá Protezol,bên cạnh hai khối đáhoa cương Tuổi tuyệt đối của khối đá vôi này đã trải qua chế độ lục địa khoảng 200triệu năm Điều này nói nên sự già nua các địa hình caxtơ ở đây khác với các nơikhác Độ cao trung bình của núi đá vôi là 800 - 900 m so với mặt nước biển
Dạng địa hình caxtơ điển hình tạo thành nhiều hệ thống hang động, núi đá vôiđẹp mà tiêu biểu là hệ thống các hang động kỳ vĩ như Động Puông, Động Tiên, Động
Nả Phòng, Động Ba Cửa, Hang Sơn Dương Diện tích trong lòng hang động lên tới
hình khu vực cũng tạo nên hồ Ba Bể, một trong những di sản thiên nhiên độc đáo vàđẹp bậc nhất nước ta Hồ Ba Bể nằm kẹp giữa hai dãy núi lớn ở Việt Bắc là cánhcung Sông Gâm và cánh cung Ngân Sơn với những đỉnh núi cao trên 1.000 m Baobọc quanh hồ là các vách núi đá vôi dựng đứng, hiểm trở với vẻ đẹp hùng vĩ và nhiềucánh rừng nguyên sinh, những dòng sông suối ngầm khi ẩn khi hiện Hồ được cắtkhúc thành ba hồ nhỏ: Pé Lầm, Pé Lù, Pé Lèng chạy theo hướng Bắc - Nam Tronglòng hồ có các đảo nhỏ gắn liền với truyền thuyết vùng hồ, là những nơi có nhiềuloài phong lan và chim muông sinh sống Hồ nằm trong hệ tự nhiên của VQG Ba Bểmột di sản thiên nhiên quý giá có diện tích 7.610 ha Đây là một hệ thống rừngnguyên sinh trên núi đá vôi với sự đa dạng lớn về tài nguyên động thực vật, là tiềmnăng lớn cho hoạt động phát triển loại hình DLST
Đặc điểm cấu tạo địa chất tạo nên địa hình khu vực đa dạng, hấp dẫn, độcđáo cho phát triển DLST dưới các loại hình tìm hiểu và tham quan các danh lamthắng cảnh, các hang động, các đảo gắn liền với truyền thuyết về Hồ Ba Bể và lịch
sử hào hùng của dân tộc Ngoài ra, với điều kiện địa hình như vậy, việc mở rộngloại hình du lịch mạo hiểm có thể là một hướng đi mới cần được lưu ý
Trang 37Hình 1.2 Bản đồ sử dụng đất vườn quốc gia Ba Bể
(Nguồn: Hiệp hội VQG và KBTTN Việt Nam [33])
Trang 381.3.4 Đặc điểm hệ động thực vật
+ Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đá vôi: Kiểu rừngnày có diện tích 6.766 ha, chiếm 67,3% tổng diện tích Vườn quốc gia, phân bốthành các mảng tương đối lớn trên địa hình núi đá vôi
+ Kiểu rừng thường xanh bị tác động trên núi đá vôi: Kiểu phụ rừng kínthường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đá vôi thứ sinh nhân tác có diện tích 3.345 ha,chiếm 33,29%, đây là kiểu rừng bị tác động bởi những hoạt động khai thác nhưng đãphục hồi thành rừng theo hướng hồi nguyên Kiểu phụ này phân bố rải rác hầu nhưkhắp VQG, nhưng tập trung nhiều ở phần phía Nam Vườn quốc gia và các khu vựcgiáp với vùng đệm và các khu dân cư Rừng phân thành 3 tầng rõ rệt
+ Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đất: Kiểu rừng nàychiếm một diện tích không đáng kể trong Vườn quốc gia khoảng 637 ha, chiếm6,34% diện tích tự nhiên và phân bố chủ yếu ở phía Bắc và Tây Bắc Vườn quốc gia.Kiểu rừng này ít nhiều đã bị tác động, nhưng căn bản còn giữ được tính nguyênsinh Điều này được thể hiện qua tổ thành thực vật và cấu trúc rừng
Đất dưới tán rừng là đất feralit vàng đỏ phát triển trên đá Phiến sét có tầng
mưa và độ ẩm tương đối dồi dào
Trang 39số 1268 loài thực vật thuộc 672 chi, 162 họ và 5 ngành, bao gồm:
Ngành Thông đất (Lycopodiophyta): 2 họ, 4 chi, 13 loài
Ngành Thân đốt (Equisetophyta): 1 họ, 1 chi, 1 loài
Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta): 19 họ, 41 chi, 99 loài
Ngành Thông (Pinophyta): 7 họ, 13 chi, 15 loài
Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta): 133 họ, 613 chi, 1140 loài Ngành nàygồm 2 lớp: Lớp hai lá mầm (Magnoliopsida) có 113 họ, 463 chi, 809 loài và Lớpmột lá mầm (Liliopsida) có 20 họ, 150 chi, 331 loài
Trang 401.3.5 Điều kiện dân sinh, kinh tế- xã hội
Dân số và phân bố dân cư
Vườn quốc gia Ba Bể nằm trong địa giới hành chính huyện Ba Bể, tỉnh BắcKạn, phía Tây giáp huyện Na Hang thuộc tỉnh Tuyên Quang, có chung vùng đệmvới khu BTTN Na Hang (xã Đà Vị, huyện Na Hang)
Xung quanh VQG hiện có 25.510 người sinh sống trong 5.248 hộ thuộc 99thôn của 9 xã, trong đó có 87 thôn của 8 xã thuộc vùng đệm với 4.561 hộ, 22.924khẩu Vùng lõi của VQG bao gồm xã Nam Mẫu, 2 thôn của xã Khang Ninh và 2thôn của xã Quảng Khê; có 2.856 người sinh sống trong 687 hộ
98% dân số xung quanh VQG là dân tộc thiểu số và sống tập trung thành cácvùng Nhóm người Dao, Tày đã định cư từ lâu đời trong khi đó người Mông đếnđịnh cư ở khu vực này vào những năm chiến tranh biên giới phía Bắc
Nhìn chung an ninh lương thực ở cả vùng đệm và vùng lõi của VQG vẫnchưa đảm bảo Thu nhập bình quân mỗi năm (tính chung cho các dân tộc khácnhau) vào khoảng 394 kg lương thực quy ra lúa/người Có đến 46% số hộ ở cả vùngđệm và vùng lõi là hộ nghèo, trong đó có nhiều hộ thiếu lương thực từ 2 đến 4 thángtrong năm
Bảng 1.5 Dân số, thành phần dân tộc và tình trạng đói nghèo ở vùng đệm
thôn
Số hộ
Số khẩu
Hộ nghèo và (%)
Dân tộc thiểu số Tên dân tộc
-Nguồn: UBND các xã xung quanh VQG, tháng 01/2012