Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hiện nay, một số hoạt động QTDND có còn những hạn chế như: chưa chấp hành nghiêm việc duy trì các tỷ lệ đảm bảo an toàn, chưa tuân thủ các quy
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ KIM CƯƠNG
HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CÁC QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN
CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
CHI NHÁNH TỈNH ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ KIM CƯƠNG
HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CÁC QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN
CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
CHI NHÁNH TỈNH ĐỒNG THÁP
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã ngành: 60.34.02.01
Người hướng dẫn khoa học: NGƯT., PGS., TS NGUYỄN THỊ LOAN
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017
Trang 3TÓM TẮT LUẬN VĂN
Bài nghiên cứu xem xét, đánh giá kết quả, hạn chế, nguyên nhân của hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN VN chi nhánh tỉnh Đồng Tháp đối với các QTDND trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp, tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê, phân tích và phương pháp khảo sát thực tế đối với công chức TTGSCN và cán bộ QTDND
Kết quả nghiên cứu cho thấy trong giai đoạn 2012-2016, hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN VN chi nhánh tỉnh Đồng Tháp ngoài những kết quả đã đạt được, kịp thời chấn chỉnh, phòng ngừa, ngăn chặn hành vi dẫn đến vi phạm pháp luật trong hoạt động QTDND, trong hoạt động thanh tra, giám sát NHNN-ĐT còn những hạn chế cần quan tâm đó là chưa thực hiện tốt việc thanh tra, giám sát QTDND theo phương pháp thanh tra, giám sát rủi ro; công tác thanh tra tại chỗ chưa thực hiện tốt các bước theo quy trình thanh tra tại chỗ; chưa sử dụng kết quả giám sát đề đề xuất nội dung thanh tra; nhân sự thanh tra thiếu về số lượng, hạn chế kỹ năng, nghiệp vụ Có 04 nhóm nguyên nhân chính tác động làm ảnh hưởng đến hoạt động thanh tra giám sát của NHNN VN chi nhánh tỉnh Đồng Tháp đối với QTDND gồm nguyên nhân từ nhân lực thanh tra, giám sát tại NHNN VN chi nhánh tỉnh Đồng Tháp và các nguyên nhân liên quan: khung pháp lý liên quan đến hoạt động TTGSCN, QTDND; hệ thống công nghệ thông tin; thái độ tuân thủ của QTDND
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra một số khuyến nghị nhằm góp phần hoàn thiện hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN VN chi nhánh tỉnh Đồng Tháp đối với các QTDND trên địa bàn, góp phần hạn chế rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động QTDND trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên: NGUYỄN THỊ KIM CƯƠNG
Sinh ngày 02 tháng 11 năm 1989 – Tại: Đồng Tháp
Tôi cam đoan đề tài luận văn: “Hoạt động thanh tra, giám sát các quỹ tín
dụng nhân dân của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Đồng Tháp” được thực hiện tại Trường Đại học Ngân hàng TP.Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: NGƯT., PGS.,TS Nguyễn Thị Loan
Đề tài này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, chưa từng được trình nộp để lấy học vị thạc sĩ tại bất cứ một trường đại học nào, kết quả nghiên cứu là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước đây hoặc các nội dung
do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn nguồn đầy đủ trong luận văn, các số liệu, nguồn trích dẫn trong luận văn được chú thích nguồn gốc rõ ràng, minh bạch
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi
TP Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 12 năm 2017 Tác giả
Nguyễn Thị Kim Cương
Trang 5
Tôi xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Loan đã tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ cho tôi trong thời gian thực hiện luận văn Mặc dù trong quá trình thực hiện luận văn có giai đoạn không được thuận lợi nhưng với sự nhiệt tình truyền đạt, hướng dẫn của Cô đã giúp tôi hoàn thành luận văn đúng thời gian theo kế hoạch
Sau cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, Ban lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chi nhánh tỉnh Đồng Tháp đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng như thực hiện luận văn
Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến góp ý của quý Thầy Cô và các anh chị
Trân trọng!
Nguyễn Thị Kim Cương
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG , SƠ ĐỒ, PHỤ LỤC MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TCTD HỢP TÁC……
1 1.1 Khái quát về Tổ chức tín dụng hợp tác 1 1.1.1 Khái niệm, nguyên tắc hoạt động của TCTD hợp tác 1
1.1.2 Hoạt động của TCTD hợp tác 3
1.2 Tổng quan về hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước đối với Tổ chức tín dụng hợp tác 4
1.2.1 Khái niệm, mục tiêu hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng của Ngân hàng Trung ương 4
1.2.1.1 Khái niệm hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng 4
1.2.1.2 Mục tiêu hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng 6
1.2.2 Nội dung hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng 7
1.2.3 Phương pháp thanh tra, giám sát ngân hàng 9
1.2.3.1 Phương pháp thanh tra, giám sát tuân thủ 9
1.2.3.2 Phương pháp thanh tra, giám sát rủi ro 10
1.3 Các nguyên tắc cơ bản đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng theo Basel và yếu tố ảnh hưởng 11
1.3.1 Các nguyên tắc đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng theo Basel 12
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng 19
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM CHI NHÁNH TỈNH ĐỒNG THÁP ĐỐI VỚI CÁC QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG THÁP
22 2.1.Giới thiệu về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Đồng Tháp và các Quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp 22
2.1.1 Cơ cấu tổ chức của thanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Đồng Tháp 22
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của thanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Đồng Tháp 25
2.1.3 Tổ chức và kết quả hoạt động kinh doanh của các quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp 28
2.2 Kinh nghiệm hoạt động thanh tra, giám sát Quỹ tín dụng nhân dân của một số chi nhánh Ngân hàng Nhà nước và bài học rút ra cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Đồng Tháp
33 2.2.1 Kinh nghiệm của một số chi nhánh Ngân hàng Nhà nước……… 33
Trang 72.3 Thực trạng hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam chi nhánh tỉnh Đồng Tháp đối với các Quỹ tín dụng nhân dân
trên địa bàn………
37 2.3.1 Thực trạng về kết quả hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Đồng Tháp đối với các Quỹ tín dụng nhân dân………
37 2.3.2 Khảo sát thực tế về hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Đồng Tháp đối với các Quỹ tín dụng nhân dân 46 2.3.2.1 Xây dựng câu hỏi khảo sát, phương pháp chọn mẫu và thu thập số liệu 46
2.3.2.2 Kết quả khảo sát đối với công chức thanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Đồng Tháp……… ………… 47
2.3.2.3 Kết qủa khảo sát đối với Quỹ tín dụng nhân dân……… 48
2.3.3 Đánh giá những hạn chế trong hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Đồng Tháp và nguyên nhân 50
2.3.3.1 Những hạn chế trong hoạt động thanh tra giám sát của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh Đồng Tháp 50
2.3.3.2 Nguyên nhân 51
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG THANH TRA GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC CHI NHÁNH TỈNH ĐỒNG THÁP ĐỐI VỚI CÁC QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG THÁP
53 3.1 Phướng hướng chủ yếu hoàn thiện hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Đồng Tháp đối với các QTDND giai đoạn 2017-2020
53 3.2 Giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh tra giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Đồng Tháp đối với các QTDND 54
3.2.1 Nhóm giải pháp đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Đồng Tháp 54
3.2.1.1 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy thanh tra, kiện toàn đội ngũ công chức thanh tra về số lượng và chất lượng 54
3.2.1.2 Thực hiện đầy đủ quy trình thanh tra, giám sát 55
3.2.1.3 Kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động thanh tra và giám sát 56
3.2.1.4 Thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro 57
3.2.1.5 Tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan khác trong hoạt động Thanh tra, giám sát QTDND 57
3.2.1.6 Tổ chức tốt việc thực hiện các kiến nghị sau thanh tra 58
3.2.1.7 Thanh tra, giám sát QTDND trong việc thực hiện phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2017-2020 59
3.2.2 Kiến nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 59
3.2.2.1 Hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động thanh tra, giám sát 59
Trang 83.2.2.2 Hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật hỗ trợ cho hoạt động thanh
tra, giám sát ngân hàng 61
3.2.3 Kiến nghị đối với Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng 61
3.2.4 Kiến nghị đối với Uỷ ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp 62
KẾT LUẬN:……… 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 65
Trang 9Viết tắt Nguyên nghĩa
NHNN VN : Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NHNN-ĐT : Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Đồng Tháp TCTD : Tổ chức tín dụng
NH HTX : Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam
TTGSNH : Thanh tra, giám sát Ngân hàng
TTGSCN : Thanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi
nhánh tỉnh Đồng Tháp QTDND : Quỹ tín dụng nhân dân
HĐQT : Hội đồng quản trị
Trang 10Trang Danh mục các bảng:
Bảng 2.2: Bảng tổng hợp các tiêu chí đánh giá hoạt động thanh tra, giám
sát của NHNN-ĐT
27
Bảng 2.4: Số lượng các QTDND trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp năm 2016 29
Bảng 2.7: Bảng tổng hợp các hoạt động TTGSCN đã thực hiện đối với
Bảng 2.12: Tổng hợp kết quả khảo sát nguyên nhân của những hạn chế
trong hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN-ĐT đối với QTDND
51
Danh mục các sơ đồ:
Danh mục biểu đồ:
Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng huy động tiền gửi, dư nợ cho vay của 32
Trang 11Biểu đồ 2.2: Mức độ đánh giá các hạn chế trong hoạt động thanh tra,
giám sát của NHNN-ĐT
48
Trang 121 Sự cần thiết nghiên cứu
Trong những năm qua, hoạt động của hệ thống các Tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn nói chung, quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) nói riêng đã góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế của tỉnh Đồng Tháp Hệ thống các TCTD trên địa bàn ngày càng gia tăng về số lượng, quy mô, hiện nay mạng lưới các TCTD trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp bao gồm 26 chi nhánh ngân hàng thương mại, 01 chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội, 17 QTDND
Là loại hình tín dụng hợp tác trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng ngân hàng chủ yếu ở nông thôn, qua 20 năm thành lập và hoạt động, các QTDND trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp đã đạt được những kết quả đáng kể, góp phần vào sự phát triển kinh tế
xã hội của tỉnh, chung sức cùng với các địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, đóng góp vào quá trình thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hiện nay, một số hoạt động QTDND có còn những hạn chế như: chưa chấp hành nghiêm việc duy trì các tỷ lệ đảm bảo an toàn, chưa tuân thủ các quy trình, quy định, tiềm ẩn rủi ro… Để các QTDND ngày càng phát triển bền vững, tuân thủ đúng hành lang pháp lý đòi hỏi bản thân từng QTDND phải thực hiện tốt công tác
tự kiểm tra, kiểm soát nội bộ mọi hoạt động theo đúng pháp luật và Điều lệ của QTDND, bên cạnh đó đòi hỏi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Đồng Tháp (NHNN-ĐT) cần phải đổi mới, hoàn thiện hơn nữa công tác thanh tra, giám sát để kịp thời phát hiện, khuyến nghị, cảnh báo và có biện pháp xử lý thích hợp đối với các QTDND
Với chức năng nhiệm vụ được giao, trong những năm qua, hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng của NHNN-ĐT đã góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của các QTDND, góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng Tuy nhiên, hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN-ĐT còn những hạn chế nhất định: thanh tra tại chỗ còn nặng về kế hoạch, chủ yếu dựa trên cơ sở thời gian mà các QTDND chưa được thanh tra, kế hoạch thanh tra hàng năm thường phải điều chỉnh, lực lượng công chức thanh tra thiếu kinh nghiệm, công tác giám sát từ xa chưa hiệu quả, chưa kịp thời phát hiện, cảnh báo những rủi ro trong hoạt động QTDND Bên cạnh đó, trong bối cảnh mới,
Trang 13phải đổi mới, hoàn thiện hoạt động thanh tra, giám sát đối với các QTDND Vì vậy,
tác giả chọn đề tài ―Hoạt động thanh tra, giám sát các Quỹ tín dụng nhân dân của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Đồng Tháp‖ để nghiên cứu, nhằm
đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh tra, giám sát đối với các QTDND trên địa bàn, góp phần hạn chế, cảnh báo kịp thời các rủi ro có thể xảy đối với QTDND
2 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm về hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng
Trên thực tế, tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu ở các bài báo nghiên cứu khoa học, tạp chí về hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng Nhìn chung, các nghiên cứu đã đưa ra được những nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động Thanh tra giám sát ngân hàng (TTGSNH) từ đó đề ra giải pháp Kế thừa những định hướng nghiên cứu trước đây, tác giải thực hiện kết hợp phương pháp nghiên cứu tổng hợp, phân tích để khái quát thực trạng, đồng thời kết hợp nghiên cứu khảo sát để đề ra giải pháp
Dưới đây tổng hợp một số nghiên cứu trước đã được thực hiện có liên quan đến đề tài mà tác giả nghiên cứu:
Dương Văn Thực, năm 2010, tên nghiên cứu ―Thanh tra trên cơ sở rủi ro
và vấn đề xây dựng một khung nghiệp vụ giám sát từ xa trong hoạt động TTGSNH‖,
sử dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp, so sánh, phạm vi nghiên cứu: hoạt động TTGSNH của NHNN VN Kết quả nghiên cứu:
Một hệ thống TTGSNH hiệu quả cần 2 yếu tố quan trọng đó là: một khuôn khổ nghiệp vụ (hay còn gọi là một khung nghiệp vụ) và một khuôn khổ pháp lý Nhưng khuôn khổ nghiệp vụ phải là yếu tố tiên quyết, trên cơ sở khuôn khổ nghiệp
vụ của từng bộ phận tham gia trong quá trình thanh tra, giám sát mà xây dựng một khuôn khổ pháp lý
Khuôn khổ nghiệp vụ trong hoạt động TTGSNH là toàn bộ các yếu tố tạo nên cấu trúc nghiệp vụ cho hệ thống thanh tra, giám sát Trước hết, một khung nghiệp vụ, sau đó, mới đến các chỉ tiêu giám sát vì chỉ tiêu là những yếu tố động sẽ biển đổi khi chính sách thay đổi; còn khuôn khổ nghiệp vụ là yếu tố ít biến động, được xem là mục tiêu để các thanh tra viên, công chức thanh tra hướng tới trong
Trang 14Đoàn Thanh Hà, năm 2012, tên nghiên cứu ―thực trạng giám sát ngân hàng
đối với các TCTD trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh‖, phương pháp nghiên cứu
phân tích, so sánh; phạm vi nghiên cứu tại NHNN chi nhánh TP Hồ Chí Minh Kết quả nghiên cứu:
Những hạn chế trong công tác TTGSNH tại NHNN chi nhánh TP.Hồ Chí Minh xuất phát từ những nhóm nguyên nhân: lực lượng cán bộ, công chức chi nhánh vừa chưa đủ về số lượng, chưa tương xứng so với quy mô, vừa chưa đồng đều về trình độ nghiệp vụ, chuyên môn; việc đào tạo và đào lại đội ngũ cán bộ thanh tra của chi nhánh chưa chú trọng vào đào tạo chuyên sâu về pháp luật và nhận biết, đánh giá rủi ro đối với những sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại; hạ tầng hỗ trợ cho hệ thống TTGSNH chưa theo kịp tốc độ phát triển công nghệ thông tin, cán bộ thanh tra chưa được tiếp cận truy cập hệ thống mạng nội bộ của đối tượng thanh tra nên khi thanh tra tại chỗ vẫn phải chấp nhận theo số liệu báo cáo của đơn vị; Hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động TTGSNH chưa đồng bộ và đầy đủ; việc khống chế chỉ tiêu xem hồ sơ tín dụng so với tổng dư nợ quá cao, thời gian thanh tra, báo cáo kết quả thanh tra ngắn, tạo áp lực rất lớn đối với thành viên đoàn thanh tra, ảnh hưởng đến chất lượng thanh tra; đối tượng thanh tra báo cáo, cung cấp thông tin tài liệu thường chậm hơn so với yêu cầu của Đoàn thanh tra, bản thân các ngân hàng chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa nghiêm túc các quy định về tiền
tệ và hoạt động ngân hàng, về chế độ thông tin báo cáo; chất lượng kiểm soát nội bộ yếu; việc điều tra, xử lý các vụ tham nhũng, phạm tội trong ngành Ngân hàng còn chậm trễ, hình phạt còn nhẹ chưa tương xứng với thiệt hại mà hành vi phạm tội gây
ra, điều này góp phần làm hạn chế chất lượng TTGSNH
Một số kiến nghị đối với NHNN Việt Nam, Cơ quan TTGSNH: Ban hành và hoàn thiện các quy chế an toàn và quy định trong hoạt động ngân hàng; thực hiện đổi mới mô hình tổ chức bộ máy và cơ chế điều hành hoạt động của TTGSNH, thống nhất từ Trung ương đến địa phương, đảm bảo tín độc lập về tổ chức và hoạt động; Hoàn thiện hạ tầng cơ sở hỗ trợ cho công tác TTGSNH; Nâng cao năng lực quản trị, giám sát rủi ro tại các TCTD; Tăng cường hợp tác phối hợp với các đơn vị, các cơ quan có liên quan trong việc trao đổi, cung cấp thông tin, hợp tác; kiện toàn
và phát triển đội ngũ thanh tra đủ về số lượng và có trình độ nghiệp vụ cao, phẩm
Trang 15thực thi nhiệm vụ; cải tiến và nâng cao hiệu quả công tác giám sát từ xa; hoàn thiện quy trình, phương pháp thanh tra, chuyển dần từ thanh tra tuân thủ sang thanh tra trên cơ sở rủi ro
Vũ Thị Minh và Nguyễn Anh Tuấn, tên nghiên cứu ―hoàn thiện hoạt động
giám sát ngân hàng tại Việt Nam”, phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh Kết
quả nghiên cứu:
NHNN VN đã xây dựng các tiêu chí đánh giá ngân hàng theo tiêu chuẩn
C MEL nhằm phân loại ngân hàng cụ thể hơn theo các phân hạng từ tốt đến xấu Tuy nhiên trong hoạt động giám sát ngân hàng vẫn còn một số hạn chế: Khung pháp
lý cho hoạt động giám sát ngân hàng chưa hoàn thiện; từ sự khập khiễng về môi trường pháp lý nên hệ thống giám sát ngân hàng còn nhiều bất cập: Quy trình giám sát từ trung ương đến các chi nhánh chưa có sự kết hợp đồng bộ giữa phương pháp thanh tra từ xa và thanh tra tại chỗ mà NHNN đang cố đạt được Một số chuẩn mực quốc tế về giám sát ngân hàng đã được vận dụng song các bộ chỉ tiêu giám sát còn chưa đồng bộ hoặc chưa phù hợp với tình hình Việt Nam nên cũng gây hạn chế khi đánh giá và phân tích; Sự công khai minh bạch tài chính và xây dựng hệ thống thông tin đa chiều có độ tin cậy còn hạn chế
Hoàng Duy Chinh, tên nghiên cứu ―Đổi mới công tác thanh tra, giám sát
ngân hàng đối với QTDND tại Vĩnh Phúc‖, năm 2014, phương pháp tổng hợp, phân
tích, so sánh Kết quả nghiên cứu:
Nội dung đổi mới công tác thanh tra, giám sát đối với QTDND: đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động của TTGSNH theo hướng nâng cao tính độc lập, thống nhất về nghiệp vụ và chỉ đạo, điều hành của NHNN VN đối với NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố; đổi mới nội dung, phương pháp, quy trình TTGSNH đối với QTDND phù hợp với sự phát triển của công nghệ thông tin, công nghệ ngân hàng
và các nguyên tác cơ bản về giám sát ngân hàng có hiệu quả của Uỷ ban giám sát Ngân hàng Basel và các chuẩn mực quốc tế về giám sát ngân hàng; nâng cao trình
độ cán bộ và đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ TTGSNH chủ yếu tập trung vào: kỹ năng quản trị rủi ro (hiểu các loại rủi ro và phương pháp quản trị rủi ro); công nghệ ngân hàng và dịch vụ tài chính mới; quản trị ngân hàng hiện đại, quản trị và kiểm soát đối với QTDND; Các kỹ năng bổ trợ như phân tích tài chính, hoạt động
Trang 16chung quyền hạn và trách nhiệm của các cán bộ thanh tra sẽ được nâng cao, vì vậy đạo đức nghề nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm các hoạt động tác nghiệp và hành vi ứng xử của các cán bộ TTGSNH công tâm, không thiên vị, đúng pháp luật; tiếp tục đẩy mạnh hợp tác và tham gia các hiệp ước, thoả thuận quốc tế
về giám sát ngân hàng và an toàn hệ thống tài chính
Phùng Kiều Oanh, tên nghiên cứu ―Hoàn thiện hoạt động thanh tra của
Ngân hàng Nhà nước Việt nam đối với Quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn Hà Nội‖, kết quả nghiên cứu:
Các giải pháp chủ yếu hoàn thiện hoạt động thanh tra gồm: xây dựng hệ thống chuẩn mực riêng về thanh tra, giám sát dựa trên các chuẩn mực của Uỷ ban Basel; Đổi mới phương thức giám sát từ xa: hoàn thiện phương pháp và nội dung giám sát, phân tích, bao gồm phần mềm giám sát, hoàn thiện phương pháp phân tích, đánh giá các tiêu chuẩn nhằm đưa ra cảnh báo chính xác về tình trạng của đối tượng giám sát; đổi mới phương thức thanh tra tại chỗ: kết hợp các hình thức vừa thanh tra định kỳ theo kế hoạch đã được duyệt vừa thanh tra đột xuất khi thấy QTDND nào có dấu hiệu vi phạm pháp luật, thiết kế mẫu báo cáo kết quả thanh tra của thành viên Đoàn thanh tra thống nhất giúp Trưởng đoàn tổng hợp được thuận tiện, tránh tình trạng mỗi người viết một kiểu sẽ gây khó khăn cho người tổng hợp, xây dựng và triển khai áp dụng phương pháp thanh tra trên cơ sở rủi ro, tăng cường theo dõi, giám sát, đôn đốc việc thực hiện kiến nghị thanh tra và xử lý nghiêm các
vi phạm; kiện toàn và tăng cường nguồn nhân lực cho TTGSNH
3 Mục tiêu của đề tài nghiên cứu:
- Mục tiêu tổng quát: Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN-ĐT đối với các QTDND trên địa bàn, góp phần hạn chế rủi
ro có thể xảy ra trong hoạt động QTDND trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
Trang 174 Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm trả lời cho 02 câu hỏi trọng tâm sau:
- Có những kết quả, hạn chế nào trong hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng tại NHNN-ĐT thời gian qua?
- Giải pháp nào để nâng cao hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN-ĐT đối với các QTDND trên địa bàn, góp phần ngăn ngừa, hạn chế rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động QTDND trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp?
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN-ĐT đối với 17 QTDND hiện đang hoạt động tại tỉnh Đồng Tháp
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Nội dung nghiên cứu: thanh tra, giám sát của NHNN-ĐT có nhiều hoạt động nghiệp vụ theo quy định, ngoài hoạt động thanh tra, giám sát các TCTD nói chung, QTDND trên địa bàn tỉnh nói riêng, thanh tra, giám sát còn thực hiện tham mưu giúp Giám đốc giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng, cấp phép, Tuy nhiên do thời gian có hạn, nên đề tài sẽ giới hạn nghiên cứu ở nội dung: hoạt động thanh tra, giám sát đối với các QTDND
+ Về không gian: hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN-ĐT đối với 17 QTDND trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
+ Về thời gian nghiên cứu thực trạng hoạt động thanh tra, giám sát QTDND của NHNN-ĐT được thực hiện cho giai đoạn 2012 - 2016; các đề xuất được thực hiện cho giai đoạn 2017 – 2020
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp định tính, cụ thể:
- Phương pháp tổng hợp hệ thống các lý thuyết về hoạt động TTGSNH của Ngân hàng Trung Ương và mô hình tổ chức hoạt động của TCTD hợp tác
- Phương pháp phân tích, thống kê, so sánh: Báo cáo có liên quan đến hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN-ĐT đối với QTDND từ năm 2012-2026
- Phương pháp khảo sát: khảo sát 02 nhóm đối tượng: các thanh tra viên, công chức thanh tra, giám sát NHNN-ĐT (12 người) và lãnh đạo, nhân viên các QTDND trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp (34 người của 17 QTDND) Thời gian khảo sát và tổng
Trang 187 Đóng góp của luận văn
Luận văn phân tích và làm rõ thực trạng hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN-ĐT đối với các QTDND trên địa bàn, đánh giá những hạn chế, nguyên nhân, đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện hơn nữa hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN-ĐT, kịp thời cảnh báo, hạn chế những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động QTDND
8 Kết cấu của luận văn
Tên đề tài: “Hoạt động thanh tra, giám sát các Quỹ tín dụng nhân dân của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Đồng Tháp”
Bố cục: Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động Thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước đối với tổ chức tín dụng hợp tác
Chương 2: Thực trạng hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Đồng Tháp đối với các Quỹ tín dụng nhân dân
Chương 3: Khuyến nghị giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Đồng Tháp đối với các Quỹ tín
dụng nhân dân trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
Trang 19CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT
CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TỔ CHỨC TÍN DỤNG HỢP TÁC
TTGSNH là tổ chức thanh tra chuyên ngành về ngân hàng, thực hiện nhiệm
vụ thanh tra, giám sát ngân hàng nhằm góp phần đảm bảo an toàn hệ thống các TCTD, bảo vệ quyền lợi người gửi tiền và phục vụ chính sách tiền tệ quốc gia Chương I của đề tài sẽ giới thiệu tổng quan về hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN và khái quát về TCTD hợp tác
1.1 KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC TÍN DỤNG HỢP TÁC
1.1.1 Khái niệm, nguyên tắc hoạt động của Tổ chức tín dụng hợp tác
TCTD hợp tác là loại hình TCTD được tổ chức theo mô hình hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng nhằm mục đích chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống TCTD hợp tác gồm Ngân hàng HTX và QTDND Trong đó, Ngân hàng HTX là một TCTD hợp tác nhằm tương trợ và tăng cường hiệu quả hoạt động của
hệ thống các QTDND, làm đầu mối của hệ thống QTDND, giữ vai trò điều hòa vốn, thanh toán, cung ứng các dịch vụ cho các QTDND Ngân hàng HTX là ngân hàng của tất cả các QTDND do các QTDND và một số pháp nhân góp vốn thành lập nhằm mục tiêu chủ yếu là liên kết hệ thống, hỗ trợ tài chính, điều hòa vốn trong hệ thống các QTDND, trao đổi thông tin, kinh nghiệm, tư vấn cho các QTDND thành viên về tổ chức, quản trị và điều hành, đào tạo hướng dẫn một số nghiệp vụ cho các
QTDND Ngân hàng HTX Việt Nam được chuyển đổi từ mô hình QTDND Trung
ương và chính thức hoạt động theo mô hình ngân hàng HTX vào ngày 04/06/2013
Theo Luật các TCTD năm 2010, QTDND được định nghĩa là một TCTD do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức HTX để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các TCTD 2010 và Luật HTX 2012 QTDND hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động, thực hiện mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên, nhằm phát huy sức mạnh của tập thể và của từng thành viên giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sẩn xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, hoạt động của QTDND phải đảm bảo bù đắp chi phí và có tích lũy để phát triển So với chuẩn mực quốc tế, thì định nghĩa và nguyên tắc hoạt động QTDND
Trang 20theo Luật các TCTD năm 2010 của Việt Nam không nằm ngoài nguyên tắc mà Liên minh HTX quốc tế (IC ) đã đưa ra (Bảng 1.1)
2
Kiểm soát thành viên
dựa trên nguyên tắc dân
chủ
HTX là những tổ chức dân chủ được kiểm soát bởi chính các thành viên, là những người tích cực tham gia xây dựng chính sách và đưa
ra quyết định
3 Đóng góp kinh tế của
thành viên
Thành viên đóng góp một cách công bằng và kiểm soát một cách dân chủ số vốn của HTX
4 Quyền tự chủ và độc lập HTX là các tổ chức dân chủ được kiểm soát
6 Phối hợp giữa các HTX
HTX phục vụ thành viên và tăng cường hợp tác một cách có hiệu quả nhất bằng cách phối hợp với các cơ quan địa phương, quốc gia, khu vực, quốc tế
7 Quan tâm đến cộng đồng
HTX hoạt động vì sự phát triển bền vững của cộng đồng thông qua các chính sách được thành viên đồng thuận
(Nguồn: T -8391 VIE, www.microfinance.vn/wp-content/uploads/2013/07/CMS-TOR.pdf)
Trang 21Cơ cấu tổ chức của TCTD hợp tác gồm: Đại hội thành viên, Hội đồng quản trị (HĐQT), ban kiểm soát (BKS), bộ máy điều hành và phải có kiểm toán nội bộ,
hệ thống kiểm soát nội bộ
Tính đến 31/12/2016, mạng lưới hoạt động của TCTD hợp tác tại Việt Nam gồm trụ sở chính của Ngân hàng HTX, 27 chi nhánh, 70 phòng giao dịch và 1.150 QTDND thành viên, ngoài ra, Ngân hàng HTX còn có Trung tâm công nghệ thông tin và Trung tâm đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ
1.1.2 Hoạt động của TCTD hợp tác
Ngân hàng HTX thực hiện các quy định về an toàn trong hoạt động ngân hàng theo quy định tại Luật các TCTD và hướng dẫn cụ thể của NHNN VN Hoạt động chủ yếu của ngân hàng HTX là điều hòa vốn và thực hiện các hoạt động ngân hàng đối với thành viên là các QTDND, bên cạnh đó còn thực hiện các hoạt động khác đối với khách hàng không phải là thành viên (Thông tư 31/2012/TT-NHNN ngày 26/11/2012 của NHNN quy định về Ngân hàng HTX)
Hoạt động của ngân hàng HTX đối với các QTDND thành viên gồm: Mở tài khoản tiền gửi cho các thành viên là QTDND, nhận tiền gửi, cho vay điều hòa vốn đối với các QTDND thành viên theo Quy chế điều hòa vốn được HĐQT ngân hàng HTX thông qua và được công khai đến tất cả các QTDND thành viên; xây dựng, phát triển và ứng dụng các sản phẩm, dịch vụ mới trong hoạt động của QTDND thành viên đáp ứng nhu cầu của các thành viên QTDND và phục vụ phát triển lợi ích cộng đồng trên địa bàn; thực hiện các hoạt động ngân hàng khác theo quy định của pháp luật đối với QTDND thành viên
Hoạt động của ngân hàng HTX đối với khách hàng không phải là QTDND thành viên gồm: Ngân hàng HTX được thực hiện một số hoạt động ngân hàng, hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật các TCTD sau khi được NHNN chấp thuận bằng văn bản; cho vay đối với khách hàng không phải là QTDND thành viên khi đã ưu tiên đáp ứng nhu cầu điều hòa vốn của QTDND thành viên Trong trường hợp cần thiết, NHNN VN có thể quy định hạn chế việc cấp tín dụng của ngân hàng HTX đối với khách hàng không phải là QTDND thành viên
Hoạt động của QTDND gồm: Vốn và nghiệp vụ huy động vốn, hoạt động cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ và các hoạt động khác Trong đó: nghiệp vụ huy động vốn và cấp tín dụng là hai hoạt động chủ yếu, quyết định kết quả hoạt động
Trang 22kinh doanh của QTDND
Vốn và nghiệp vụ huy động vốn của QTDND: vốn tự có, một trong những yếu tố để tăng trưởng là QTDND phải không ngừng phát triển thành viên, họ sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc đóng góp vốn vào QTDND, việc góp vốn và vay vốn của thành viên là cơ sở gắn bó quyền lợi và trách nhiệm của mỗi thành viên với QTDND của mình Vốn huy động, QTDND được phép huy động vốn tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức, cá nhân không phải là thành viên dưới hình thức nhận tiền gửi để cho vay nhằm tương trợ, phát triển sản xuất, nâng cao đời sống thành viên và phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật trong việc huy động và sử dụng vốn của mình Bên cạnh đó, QTDND có thể vay Ngân hàng HTX, các tổ chức tài chính, tín dụng khác hoặc vay tại NHNN thông qua tái cấp vốn
Hoạt động cấp tín dụng: QTDND được cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng là thành viên hoặc cho vay đối với các khách hàng không phải là thành viên
QTDND được cung ứng dịch vụ chuyển tiền, thực hiện các nghiệp vụ thu hộ, chi hộ cho các thành viên; được tiếp nhận vốn ủy thác cho vay của Chính phủ, tổ chức, cá nhân, mở tài khoản tại NHNN, góp vốn tham gia thành lập Ngân hàng HTX, nhận ủy thác và làm đại lý một số lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng…
Trong tổ chức và hoạt động của ngân hàng HTX và QTDND thì việc tuân thủ cơ chế tự giám sát, kiểm soát nội bộ thường xuyên trong nội bộ hệ thống của Ngân hàng HTX, QTDND là điều kiện đầu tiên để đảm bảo hoạt động an toàn, tuy nhiên nhằm đảm bảo duy trì sự phát triển ổn định, an toàn và bền vững thì cần phải
có sự giám sát từ bên ngoài Trong số các tổ chức tham gia thực hiện giám sát hoạt động của hệ thống QTDND, Thanh tra giám sát ngân hàng thuộc NHNN đóng vai trò quan trọng
1.2 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TCTD HỢP TÁC
1.2.1 Khái niệm, mục tiêu hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước
1.2.1.1 Khái niệm hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ở hầu hết các quốc gia trên thế giới mặc dù
Trang 23được tổ chức theo các mô hình khác nhau nhưng đều thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về lĩnh vực được giao (lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng), đảm bảo
an toàn hệ thống ngân hàng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, phục vụ cho việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Để thực hiện tốt những chức năng trên, NHNN phải sử dụng nhiều công cụ, từ đó đưa ra các giải pháp và kiến nghị kịp thời nhằm phục vụ cho mục tiêu quản lý Trong đó thanh tra, giám sát là một công cụ có vị trí đặc biệt quan trọng Hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN được gọi là thanh tra, giám sát ngân hàng (TTGSNH), hay nói khác đi đó là hoạt động thanh tra chuyên ngành về ngân hàng
Thuật ngữ giám sát ngân hàng (Banking supervision) được nêu trong trang www.bis.org/bcbs / y ban Basel là một hoạt động bao quát toàn bộ lĩnh vực ngân hàng như: cấp phép, giám sát từ xa, thanh tra tại chỗ, thu thập thông tin, đánh giá xếp hạng tín dụng, bảo hiểm tiền gửi, bảo vệ khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng, chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố … nhằm bảo đảm sự hoạt động an toàn
và lành mạnh của hệ thống các định chế tài chính
Hoạt động giám sát ngân hàng là tập hợp nhiều phương pháp, công cụ chứa đựng nhiều yếu tố kỹ thuật và có yếu tố thay đổi liên tục Ví dụ như: Loại thông tin cần khai thác, xử lý, sử dụng phải phù hợp với các đối tượng giám sát khác nhau với thời gian, thời điểm khác nhau; Rủi ro tiềm ẩn của đối tượng giám sát ngân hàng rất
đa dạng và biến đổi tùy theo điều kiện môi trường kinh tế vĩ mô, điều kiện thị trường ngân hàng; Các công cụ phục vụ giám sát trên cơ sở rủi ro có thể được xây dựng và phát triển liên tục; Các ngưỡng cảnh báo rủi ro khi thực hiện giám sát trên
cơ sở rủi ro sẽ thay đổi theo từng thời kỳ
Hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng theo nghĩa rộng được hiểu là các hoạt động nhằm đảm bảo sự an toàn và lành mạnh của hệ thống các TCTD, bao gồm: xây dựng các quy định pháp lý, cấp phép, giám sát từ xa, thanh tra tại chỗ, cưỡng chế thực thi các yêu cầu chỉnh sửa Theo nghĩa hẹp, hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng có thể chỉ được hiểu là hoạt động thanh tra tại chỗ và giám sát
từ xa
Thanh tra ngân hàng là hoạt động thanh tra của NHNN đối với các đối tượng thanh tra ngân hàng trong việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và ngân hàng Giám sát ngân hàng là hoạt động của NHNN trong việc thu thập, tổng hợp phân tích thông
Trang 24tin về đối tượng giám sát thông qua hệ thống thông tin, báo cáo nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời rủi ro gây mất an toàn hoạt động ngân hàng,
vi phạm quy định an toàn hoạt động ngân hàng và các quy định của pháp luật có liên quan (khoản 12 Điều 6 Luật NHNN 2010)
1.2.1.2 Mục tiêu hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng
Theo Điều 50 Luật NHNN năm 2010, hoạt động TTGSNH gồm 05 mục tiêu sau:
Một là, TTGSNH nhằm góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh
của hệ thống các TCTD và hệ thống tài chính Qua việc thực hiện chức năng thanh tra, giám sát chuyên ngành trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng nhằm phát hiện các tồn tại, sai phạm từ đó chấn chỉnh kịp thời hoạt động của các TCTD theo hành lang pháp luật, đảm bảo an toàn trong hoạt động
Hai là, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng
của TCTD Trong quá trình hoạt động, nếu có TCTD bị đổ vỡ, phá sản thì người gửi tiền bị thiệt hại vì có khả năng sẽ bị mất toàn bộ hoặc một phần số tiền gửi của mình Chỉ một sự thiệt hại nhỏ xảy ra với người gửi tiền do lỗi chủ quan của chính TCTD nhận tiền gửi cũng gây ra một tác hại lớn vô cùng đối với các TCTD khác và cả hệ thống TCTD TTGSNH phát hiện được những sai lầm, vi phạm nguyên tắc chế độ từ đó ngăn chặn, kiến nghị, xử lý theo thẩm quyền; phát hiện những điểm bất hợp lý giữa các văn bản của cấp trên so với thực tế để kiến nghị chỉnh sửa Chỉ có như vậy thì quyền, lợi ích hợp pháp của người gửi tiền mới đảm bảo, và người gửi tiền mới thực sự an toàn khi gửi tiền vào bất cứ TCTD nào mà họ muốn
Ba là, duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các
TCTD Hoạt động TCTD là hoạt động có tính chất nhạy cảm và rủi ro cao Một TCTD hoạt động yếu kém, gặp khó khăn về chi trả có thể dẫn đến làm mất lòng tin của công chúng, ảnh hưởng đến hoạt động của các TCTD xung quanh cũng như toàn hệ thống Hoạt động TTGSNH nhằm mục đích bảo đảm hoạt động của các TCTD an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững, gia tăng lợi ích cho khách hàng, góp phần duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng vào các TCTD
Bốn là, bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân
hàng Hoạt động TTGSNH phát hiện những tồn tại, hạn chế, rủi ro tiềm ẩn và vi
Trang 25phạm của TCTD Những rủi ro, yếu kém được phát hiện qua TTGSNH là cơ sở để NHNN yêu cầu TCTD có giải pháp chấn chỉnh, củng cố phù hợp trong quá trình thực hiện các quy định của pháp luật
Năm là, Góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh
vực tiền tệ và ngân hàng TTGSNH phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước
1.2.2 Nội dung hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng
Hoạt động TTGSNH gồm: Hoạt động thanh tra; Hoạt động giám sát; Hoạt động xây dựng chính sách, văn bản quy phạm pháp luật; cấp phép (theo Điều 55 và Điều 58 Luật NHNN năm 2010)
Hoạt động của TCTD nói chung, TCTD hợp tác xã nói riêng phải đối mặt với các loại rủi ro trong hoạt động Do đó, một phần quan trọng trong hoạt động TTGSNH là NHNN có quyền xây dựng và áp dụng các quy định về đảm bảo an toàn để kiểm soát các rủi ro NHNN có thể ấn định những tiêu chuẩn an toàn tối thiểu để đảm bảo TCTD hợp tác thực hiện hoạt động của mình một cách phù hợp Tính chất hoạt động của TCTD hợp tác luôn tiềm ẩn rủi ro, do đó đòi hỏi NHNN phải thường xuyên giám sát, định kỳ đánh giá việc đảm bảo các yêu cầu và đánh giá
sự phù hợp của các yêu cầu hiện tại nhằm có những điều chỉnh kịp thời hoặc đưa ra những yêu cầu mới
Hoạt động thanh tra ngân hàng bao gồm:
Một là, Thanh tra việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và ngân hàng, quy định
khác của pháp luật có liên quan, việc thực hiện các quy định trong giấy phép do NHNN cấp;
Hai là, xem xét, đánh giá mức độ rủi ro, năng lực quản trị rủi ro và tình hình
tài chính của đối tượng thanh tra ngân hàng; xem xét, đánh giá các rủi ro tiềm ẩn, chất lượng và hiệu quả hệ thống quản trị, điều hành, hệ thống kiểm toán, kiểm soát nội bộ, hệ thống kiểm trị rủi ro của TCTD, bao gồm cả việc nhận dạng rủi ro, đo lường rủi ro, giám sát rủi ro, kiểm soát và giảm thiểu, xử lý rủi ro thông qua việc xem xét các yếu tố tác động đến an toàn hoạt động, chất lượng, hiệu quả quản trị rủi
Trang 26ro, khả năng chống đỡ rủi ro của TCTD;
Ba là, kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ
hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về tiền tệ và ngân hàng;
Bốn là, kiến nghị, yêu cầu đối tượng thanh tra ngân hàng có biện pháp hạn
chế, giảm thiểu và xử lý rủi ro để đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng và phòng ngừa, ngăn chặn hành vi dẫn đến vi phạm pháp luật;
Năm là, phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền; kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật
Hình thức thanh tra ngân hàng: Thanh tra theo kế hoạch được tiến hành theo
kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; Thanh tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện đối tượng thanh tra ngân hàng có dấu hiệu vi phạm pháp luật, phát sinh rủi ro, nguy cơ đe dọa sự an toàn, lành mạnh của đối tượng thanh tra ngân hàng, theo yêu cầu của việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, phòng, chống rửa tiền, phòng, chống tài trợ khủng bố hoặc do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao
Hoạt động thanh tra tại chỗ: dựa trên những thông tin cung cấp từ bộ phận giám sát từ xa, lên kế hoạch thanh tra định kỳ hoặc đột xuất đối với các TCTD nhằm xếp hạng các TCTD, cảnh báo các TCTD có nguy cơ gặp rủi ro trong hoạt động Các cán bộ thanh tra tại chỗ sẽ tiến hành kiểm tra những vấn đề còn nghi vấn, đánh giá và đưa ra các quyết định và yêu cầu
Hoạt động giám sát ngân hàng đối với các TCTD nói chung phải bao gồm:
Một là, thu thập, tổng hợp và xử lý các tài liệu, thông tin, dữ liệu của đối
tượng giám sát ngân hàng theo yêu cầu giám sát; kết hợp giám sát an toàn toàn bộ
hệ thống các TCTD với giám sát an toàn của từng TCTD
Hai là, xem xét, theo dõi tình hình chấp hành các quy định về an toàn hoạt
động ngân hàng và các quy định khác của pháp luật có liên quan; việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra và khuyến nghị, cảnh báo về giám sát ngân hàng;
Ba là, phân tích, đánh giá thường xuyên tình hình tài chính, hoạt động, quản
trị, điều hành và mức độ rủi ro của TCTD, rủi ro mang tính hệ thống; thực hiện xếp hạng các TCTD hằng năm theo mức độ an toàn;
Trang 27Bốn là, phát hiện, cảnh báo các yếu tố tác động, xu hướng biến động tiêu
cực, rủi ro gây mất an toàn hoạt động đối với từng TCTD và hệ thống các TCTD; các rủi ro, nguy cơ dẫn đến vi phạm pháp luật về tiền tệ và ngân hàng;
Năm là, kiến nghị, đề xuất biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các rủi
ro, vi phạm pháp luật của đối tượng giám sát ngân hàng theo quy định của pháp luật
Hoạt động giám sát của NHNN đối với TCTD cần được thống nhất đối với từng hoạt động chủ yếu (C-A-M-E-L-S) của TCTD bao gồm hoạt động đảm bảo mức độ an toàn vốn (Capital), hoạt động đánh giá chất lượng tài sản ( ssets), hoạt động quả lý của TCTD (management), hoạt động thu thập (Earning), hoạt động quản lý thanh khoản (Liquidity) và hoạt động quản lý độ nhạy (Sensitivity)
Hoạt động giám sát của NHNN được thực hiện theo nguyên tắc tập trung thống nhất từ Trung ương đến địa phương, kết hợp chặt chẽ giữa giám sát việc chấp hành chính sách pháp luật về tiền tệ, ngân hàng với giám sát trên cơ sở rủi ro
Hoạt động giám sát từ xa: theo dõi hoạt động của các TCTD một cách thường xuyên liên tục thông qua việc tổng hợp số liệu, phân tích tình hình hoạt động của các TCTD dựa trên những báo cáo và số liệu tài chính do các TCTD cung cấp, từ đó xây dựng một hệ thống cảnh báo sớm cho các TCTD
1.2.3 Phương pháp thanh tra, giám sát ngân hàng
Phương pháp thanh tra, giám sát là phương pháp định hướng cho hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN đối với TCTD
Có 02 phương pháp thanh tra, giám sát TCTD, đó là: thanh tra, giám sát tuân thủ và thanh tra, giám sát rủi ro
1.2.3.1.Phương pháp thanh tra, giám sát tuân thủ
Thanh tra, giám sát trên cơ sở tuân thủ là phương pháp thanh tra, giám sát truyền thống đã được cơ quan TTGSNH các nước áp dụng từ lâu Thanh tra tuân thủ là phương pháp thanh tra chủ yếu tập trung vào việc phát hiện, đánh giá mức độ tuân thủ luật, các quy định hiện hành của đối tượng thanh tra
Phương pháp này chủ yếu nhằm đảm bảo việc chấp hành các quy định pháp luật về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và những quy định trong giấy phép hoạt động của các TCTD Thanh tra tuân thủ sử dụng một hệ quy chiếu là các quy định của pháp luật (có thể gọi thanh tra tuân thủ là thanh tra định lượng)
Trang 28Phương pháp thanh tra, giám sát tuân thủ có những đặc điểm cơ bản: thanh tra tuân thủ kiểm tra các thông tin, các sự kiện đã xảy ra trong quá khứ của đối tượng thanh tra; chỉ đánh giá trên phạm vi mà pháp luật quy định (chỉ đánh giá, kết luận có chấp hành đúng các quy định của pháp luật hay không, chấp hành ở mức
độ nào và có biện pháp xử lý tương ứng, không đánh giá tổng thể hoạt động của một TCTD); trong quá trình thanh tra, thanh tra viên chưa tính đến rủi ro có thể xảy
ra đối với đối tượng thanh tra do tác động của những biến động của tình hình thị trường, kinh tế, chính trị, xã hội ; thực hiện dựa trên phương thức phản ứng (Căn
cứ vào các quy định của pháp luật để trả lời câu hỏi có/không vi phạm)
Các bước thực hiện thanh tra, giám sát tuân thủ lần lượt là: Xác định những quy định của pháp luật mà đối tượng thanh tra bắt buộc phải thực hiện; Thực hiện đánh giá mức độ tuân thủ các quy định đó của đối tượng thanh tra; Đưa ra biện pháp
xử lý đối với các vi phạm của đối tượng thanh tra; Đưa ra các kiến nghị đối với đối tượng thanh tra và cơ quan có thẩm quyền
1.2.3.2 Phương pháp thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro
Thanh tra trên cơ sở rủi ro là khái niệm được biết bắt nguồn từ nước Mỹ và dần được xem như một thông lệ tốt trên thế giới về TTGSNH Kể từ khi xuất hiện,
sự biến đổi đa dạng về kỹ thuật thanh tra, giám sát đã được các cơ quan thanh tra, giám sát các nước xây dựng và phát triển, tuy nhiên đều hướng tới ngôn ngữ chung
về rủi ro
Theo Cơ quan Kiểm soát tiền tệ Mỹ (OCC), lý do phương pháp thanh tra trên
cơ sở rủi ro được các cơ quan giám sát ngân hàng, tài chính của Mỹ áp dụng và coi trọng đó là: nếu các thanh tra viên ngân hàng cứ đi theo phương pháp thanh tra tuân thủ thì không thể hiểu được sự phức tạp của thị trường tài chính, đồng thời việc hoạt động thanh tra được thực hiện như nhau đối với tất cả các TCTD sẽ không còn phát huy được hiệu quả trong tình hình mới Ngày nay, TCTD là những tổ chức cung cấp
đa dạng các loại hình sản phẩm, dịch vụ ngân hàng nên phải đối mặt với nhiều loại rủi ro khác nhau, những loại rủi ro này có thể độc lập hoặc liên quan với nhau
Năm 1995, OCC đã giới thiệu thanh tra trên cơ sở rủi ro nhằm đưa ra một thông điệp: ―hãy áp dụng những thứ khác nhau cho những tổ chức khác nhau‖, hướng hoạt động thanh tra tập trung vào hồ sơ rủi ro cụ thể của từng TCTD, đánh giá cách thức mà người chủ sở hữu, người điều hành giám sát rủi ro tại tổ chức của
Trang 29họ Phương pháp này yêu cầu thanh tra viên phải xem xét việc TCTD đã, đang và sắp đối mặt với những loại rủi ro nào, trong phạm vi nào thì sẽ dẫn đến rủi ro làm ảnh hưởng đến toàn bộ ngành ngân hàng
Thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro là phương pháp thanh tra, giám sát đối với các TCTD mà nội dung trọng tâm là việc đánh giá: mức độ và xu hướng rủi ro trong các hoạt động của TCTD; hệ thống quản trị rủi ro; tình hình tài chính; sự tuân thủ pháp luật của các TCTD
Những ưu điểm của phương pháp thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro so với phương pháp thanh tra, giám sát tuân thủ:
Thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro tập trung đánh giá tổng thể một TCTD trên
cơ sở đánh giá các yếu tố định lượng, định tính (như kiểm tra hồ sơ, tài liệu, các chính sách, quy trình, hệ thống và thực tiễn công tác quản lý, quản trị rủi ro của TCTD) trong
đó chủ yếu là các yếu tố định tính đối lập với phương pháp thanh tra tuân thủ đánh giá chủ yếu dựa trên các yếu tố định lượng;
Thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro đánh giá được mức độ rủi ro của từng TCTD trong khi thanh tra tuân thủ không đánh giá được, mà rủi ro là đặc trưng gắn liền với hoạt động của mọi TCTD (Ví dụ như một TCTD có thể chấp hành tốt văn bản pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng nhưng vẫn gặp rủi ro thể hiện ở chỗ văn bản pháp luật lạc hậu, không phù hợp với thực tiễn, hoặc khi hệ thống các văn bản pháp luật thay đổi quá nhanh dẫn đến TCTD không kịp thay đổi);
Thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro tập trung tốt hơn vào việc phát hiện sớm những rủi ro mới xuất hiện tại từng TCTD cũng như toàn hệ thống Hay nói khác, thanh tra, giám sát ngân hàng phải thực hiện dự báo, đánh giá mức độ rủi ro mà một TCTD sẽ phải đối mặt bằng cách lập báo cáo giám sát vĩ mô (lập các giả thiết và kiểm định các giả thiết đó thông qua việc sử dụng các mô hình toán) từ đó đưa ra những cảnh báo, biện pháp phòng ngừa rủi ro hữu hiệu cho các TCTD;
Thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro cho phép định hướng thanh tra, giám sát vào những lĩnh vực của từng TCTD và những TCTD có mức độ rủi ro cao, có tác động lớn đến an toàn của hệ thống các TCTD từ đó phân bổ nguồn lực thanh tra tốt hơn đồng thời việc thanh tra tại chỗ sẽ mất ít thời gian hơn
1.3 Các nguyên tắc đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng theo Basel và yếu tố ảnh hưởng
Trang 301.3.1 Các nguyên tắc đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng theo Basel
Hiện nay, hoạt động TTGSNH ngày càng được chú trọng ở nhiều nước trên thế giới thông qua việc áp dụng các biện pháp theo tiêu chuẩn Basel và khuôn khổ
C MELS Đây là một trong những yếu tố then chốt quyết định sự phát triển an toàn, hiệu quả và bền vững của hệ thống ngân hàng TTGSNH được thực hiện theo nguyên tắc thanh tra, giám sát toàn bộ hoạt động của TCTD và kết hợp thanh tra, giám sát việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng với thanh tra, giám sát rủi ro trong hoạt động của đối tượng TTGSNH Những nguyên tắc của Basel về TTGSNH được nhiều quốc gia vận dụng để nâng cao chất lượng hệ thống giám sát Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) cũng sử dụng các nguyên tắc cốt lõi này trong Chương trình đánh giá khu vực tài chính (FS P), nhằm đánh giá hiệu quả hệ thống và thông lệ giám sát ngân hàng của các quốc gia
Năm 1997, y ban Basel đã ban hành 25 nguyên tắc cốt lõi đối với giám sát ngân hàng hiệu quả Trên thực tế, đây là những chuẩn mực tối thiểu đối với việc quản lý và giám sát an toàn các ngân hàng và hệ thống ngân hàng Năm 2012, số lượng các Nguyên tắc cốt lõi đã tăng từ 25 nguyên tắc lên thành 29 nguyên tắc sau khi Nhóm rà soát về các Nguyên tắc cốt lõi được y ban Basel giao trách nhiệm rà soát và cập nhật các nguyên tắc cốt lõi
Theo y ban Basel, một hệ thống TTGSNH hiệu quả cần phải có khả năng xây dựng, thực hiện, theo dõi, giám sát và đưa ra các biện pháp xử lý trong trường hợp có các điều kiện quan ngại ảnh hưởng tới tính hiệu quả của việc quản lý, giám sát hệ thống ngân hàng và ảnh hưởng tới sự an toàn của hệ thống Uỷ Ban Basel đưa
ra 29 nguyên tắc cơ bản cần thiết đảm bảo cho hệ thống thanh tra, giám sát hoạt động có hiệu quả, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của phối hợp, trao đổi, chia
sẻ thông tin giữa giám sát và thanh tra, một hệ thống TTGSNH hiệu qủa cần phải bao gồm cả giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ Nội dung chính của một số các nguyên tắc liên quan trực tiếp đến thẩm quyền, trách nhiệm và chức năng giám sát được tóm tắt như sau:
+ Nguyên tắc 1- Trách nhiệm, mục tiêu và thẩm quyền: Một hệ thống giám
sát nghiệp vụ ngân hàng có hiệu quả phải quy định trách nhiệm và mục tiêu rõ ràng đối với từng cơ quan tham gia trong quá trình giám sát các ngân hàng Phải có một
Trang 31khuôn khổ pháp lý phù hợp cho hoạt động giám sát ngân hàng để trao cho từng cơ quan có trách nhiệm các thẩm quyền pháp lý cần thiết để cấp phép các ngân hàng, thực hiện giám sát liên tục, giải quyết vấn đề tuân thủ pháp luật và thực hiện các hành động chỉnh sửa kịp thời để xử lý các quan ngại về tính an toàn và lành mạnh
+ Nguyên tắc 2- Tính độc lập, trách nhiệm giải trình, nguồn lực và sự bảo vệ đối với cơ quan giám sát: Cơ quan giám sát độc lập về mặt hoạt động, có quy trình
minh bạch, rõ ràng, quản trị lành mạnh, có các quy trình ngân sách nhưng không làm mất đi tính tự chủ và nguồn lực đầy đủ và phải chịu trách nhiệm giải trình về việc thực hiện các nghĩa vụ, trách nhiệm và sử dụng nguồn lực của mình Khung pháp lý về TTSGNH bao gồm sự bảo vệ cho các giám sát viên/ cơ quan giám sát
+ Nguyên tắc 3- Hợp tác, phối hợp: Luật, quy định hoặc những cơ chế khác
tạo thành một khuôn khổ cho sự hợp tác, phối hợp với các cơ quan có liên quan trong nước và cơ quan giám sát nước ngoài Những cơ chế thu xếp này phản ánh nhu cầu bảo mật thông tin
+ Nguyên tắc 4- Các hoạt động được phép: Các hoạt động được phép của
các tổ chức được cấp phép và chịu sự giám sát dưới tên gọi ngân hàng phải được quy định rõ ràng và việc sử dụng cụm từ ―ngân hàng‖ ở tên gọi của tổ chức phải được kiểm soát gắt gao
+ Nguyên tắc 5 – Các tiêu chí cấp phép: Cơ quan có thẩm quyền cấp phép
đưa ra các tiêu chí và từ chối đơn xin cấp Giấy phép thành lập nếu hồ sơ không đáp ứng được các tiêu chuẩn đề ra Quá trình cấp phép tối thiểu phải có sự đánh giá về
cơ cấu chủ sở hữu và quản trị ngân hàng, trong đó bao gồm sự phù hợp và khả năng của các thành viên HĐQT cũng như Ban điều hành ngân hàng, chiến lược và kế hoạch hoạt động của ngân hàng, hệ thống kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro, điều kiện tài chính dự kiến, bao gồm cả vốn gốc Nếu chủ sở hữu là hoặc tổ chức mẹ là một ngân hàng nước ngoài, ngân hàng đó phải được cơ quan giám sát nước nguyên
xứ chấp thuận trước
+ Nguyên tắc 8– Phương pháp giám sát: Một hệ thống giám sát ngân hàng
hiệu quả đòi hỏi cơ quan giám sát phải xây dựng và duy trì đánh giá theo hướng nhìn về tương lai đối với tình hình rủi ro của từng ngân hàng và tập đoàn ngâ hàng, phù hợp với mức độ quan trọng trong hệ thống các tổ chức đó; nhận dạng, đánh giá
và xử lý các rủi ro bắt nguồn từ các ngân hàng và toàn bộ hệ thống ngân hàng; có
Trang 32một khuôn khổ để can thiệp sớm, để có hành động giải quyết các ngân hàng một cách có trật tự nếu các ngân hàng không thể tiếp tục tồn tại
Phương pháp giám sát CAMELS là phương pháp được xây dựng dựa trên
việc giám sát đối với từng hoạt động chủ yếu (C-A-M-E-L-S) của TCTD bao gồm hoạt động đảm bảo mức độ an toàn vốn (Capital), hoạt động đánh giá chất lượng tài sản ( ssets), hoạt động quả lý của TCTD (management), hoạt động thu thập (Earning), hoạt động quản lý thanh khoản (Liquidity) và hoạt động quản lý độ nhạy (Sensitivity)
Trên cơ sở giám sát từng hoạt động của TCTD, NHNN xây dựng các báo cáo theo từng nội dung hoạt động của TCTD Thông qua các báo cáo này, với những nhận xét, đánh giá hay xếp hạng cho từng hoạt động, từ đó NHNN đưa ra những kết luận chung cho hoạt động tổng thể của TCTD cũng như những TCTD cụ thể
+ Nguyên tắc 9 – Các kỹ thuật và công cụ giám sát: Cơ quan giám sát sử
dụng một loạt các kỹ thuật và công cụ để triển khai phương pháp giám sát và triển khai các nguồn lực giám sát một cách phù hợp, cân đối, trong đó có tính đến tình hình rủi ro và tầm quan trọng trong hệ thống các ngân hàng
+ Nguyên tắc 10 - báo cáo giám sát: cơ quan giám sát thu thập, rà soát và
phân tích các báo cáo an toàn và các báo cáo thống kê từ các ngân hàng, cả trên cơ
sở đơn lẻ và hợp nhất; thẩm định, xác minh lại các báo cáo này thông qua hoạt động thanh tra tại chỗ hoặc sử dụng các chuyên gia bên ngoài
+ Nguyên tắc 11- Thẩm quyền điều chỉnh và xử phạt của cơ quan giám sát:
Cơ quan giám sát hành động sớm để xử lý những thông lệ thực hành không an toàn, không lành mạnh hoặc những hoạt động mà có thể tạo ra rủi ro cho ngân hàng hoặc
hệ thống ngân hàng Cơ quan giám sát có quyền chủ động lựa chọn sử dụng một bộ công cụ giám sát đầy đủ để đưa ra các hành động chỉnh sửa kịp thời, trong đó bao gồm quyền rút giấy phép hoạt động ngân hàng hoặc khuyến nghị thu hồi giấy phép
Bên cạnh nhóm các nguyên tắc liên quan trực tiếp đến thẩm quyền, trách nhiệm và chức năng thanh tra, giám sát của NHNN, còn có những nguyên tắc thuộc
về các quy định và yêu cầu thận trọng đối với các TCTD: Yêu cầu về vốn an toàn
và phù hợp cho tất cả các ngân hàng, xác định rõ phần vốn chịu rủi ro và mức vốn tối thiểu đối với ngân hàng; Đánh giá các chính sách, các quy trình, thủ tục cho vay, đầu tư, kiểm soát vốn vay hiện tại và hồ sơ đầu tư của ngân hàng; Đánh giá chất
Trang 33lượng tài sản và tính thích hợp của các điều khoản chống thất thoát và phòng rủi ro; Yêu cầu các ngân hàng phải có hệ thống quản lý thông tin quản lý để xác định các đối tượng vay, tránh để ngân hàng chỉ tập trung cho một số đối tượng vay nhất định; Yêu cầu cho vay đối với các đối tượng có mối quan hệ lên quan vay vốn trong tầm kiểm soát được và giám sát chặt chẽ việc gia hạn các khoản vay này; Yêu cầu các ngân hàng có các chính sách, biện pháp phù hợp xác định, giám sát và kiểm soát rủi
ro quốc gia và rủi ro chuyển dịch trong các hoạt động cho vay và đầu tư quốc tế và việc duy trì khoản dự trữ phù hợp cho các rủi ro; Đảm bảo các ngân hàng có một hệ thống đo lường, giám sát và kiểm soát chính xác những rủi ro thị trường, biết áp đặt những biện pháp hạn chế và/hoặc phí đối với khoản vốn cụ thể khi tiếp cận với thị trường nhiều rủi ro ngay cả nếu đã được bảo lãnh; Đảm bảo các ngân hàng đã thiết lập quy trình quản lý rủi ro tổng thể (bao gồm Ban quản lý và cán bộ phù hợp) phục
vụ cho việc xác định, đo lường, giám sát và kiểm soát các rủi ro vật chất, và nắm giữ vốn để ngăn ngừa các rủi ro có thể xảy ra; Đảm bảo các ngân hàng có/hoặc buộc
có hệ thống kiểm soát nội bộ hiện tại phù hợp đối với tính chất và quy mô hoạt động Hệ thống kiểm soát này bao gồm việc phân bổ quyền hạn, trách nhiệm, phân định chức năng tham gia vào các hoạt động của ngân hàng, hoạt động quỹ, kiểm toán tài sản và thế chấp, đảm bảo tính an toàn cho các tài sản của ngân hàng, hệ thống kiểm toán nội bộ độc lập phù hợp, và các biện pháp thích hợp đảm bảo sự tuân thủ những biện pháp kiểm soát nói trên cùng các quy định, luật lệ liên quan khác; Đảm bảo các ngân hàng có chính sách, thực tiễn và cơ chế hoạt động phù hợp, bao gồm cả các quy định nghiêm ngặt về ―Hiểu rõ khách hàng của bạn", nhằm thúc đẩy các tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp, trình độ chuyên môn trong ngành tài chính và ngăn ngừa các hiện tượng phạm pháp có thể xảy ra, dù cố tình hay vô tình
Theo quy định tại Điều 51 Luật NHNN năm 2010, hoạt động thanh tra, giám sát phải được tuân thủ theo 06 nguyên tắc:
Một là, TTGSNH phải tuân theo pháp luật; bảo đảm chính xác, khách quan,
trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời; không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng TTGSNH Quá trình thanh tra tại chỗ đảm bảo không cản trở hoạt động bình thường của đối tượng thanh tra: Để quá trình thanh tra vừa phải thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình nhưng đảm bảo không cản trở hoạt động của đơn vị đòi hỏi Đoàn thanh tra phải có những tính toán
Trang 34phù hợp về nơi làm việc, thời gian làm việc và đặc biệt là về yêu cầu cung cấp tài liệu và sắp xếp thời gian để đơn vị giải trình các yêu cầu của đoàn Thực hiện quy định pháp luật về hoạt động thanh tra, theo đúng trình tự thủ tục quy định Kết luận thanh tra luôn được đảm bảo tính trung thực, khách quan
Hai là, kết hợp thanh tra, giám sát việc chấp hành chính sách, pháp luật về
tiền tệ và ngân hàng với thanh tra, giám sát rủi ro trong hoạt động của đối tượng TTGSNH Qua việc kiểm tra việc triển khai các văn bản, quy định của Pháp luật, của ngành có thường xuyên, kịp thời có thể đánh giá việc chấp hành chính sách, pháp luật của Đối tượng thanh tra, qua đó đánh giá được mức độ rủi ro trong hoạt động của đối tượng thanh tra Qua hoạt động giám sát giúp phát hiện ra các rủi ro, sai phạm cơ bản làm cơ sở đề xuất thanh tra tại chỗ nhằm tăng năng lực, hiệu quả của hoạt động thanh tra về thời gian, chất lượng
Ba là, TTGSNH được thực hiện theo nguyên tắc thanh tra, giám sát toàn bộ
hoạt động của TCTD
Bốn là, giám sát ngân hàng phải được thực hiện thường xuyên, liên tục đối
với toàn bộ hoạt động của đối tượng giám sát ngân hàng
Năm là, phối hợp chặt chẽ giữa hoạt động giám sát ngân hàng và hoạt động
thanh tra ngân hàng, giữa hoạt động giám sát và hoạt động cấp, bổ sung, thu hồi giấy phép
Sáu là, bảo đảm tập trung, thống nhất trong chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ từ
trung ương đến địa phương
Mục tiêu cuối cùng của thanh tra, giám sát đối với các TCTD là đảm bảo cho các TCTD hoạt động an toàn, hiệu quả và ổn định, như vậy để đánh giá hiệu quả của hoạt động thanh tra, giám sát đối với các TCTD, cách tốt nhất là đánh giá mức
độ an toàn trong hoạt động của các TCTD qua thanh tra, giám sát Hệ thống phân tích C MELS được áp dụng nhằm đánh giá độ an toàn, khả năng sinh lời và thanh khoản của TCTD Phân tích theo chỉ tiêu C MELS dựa trên 6 yếu tố cơ bản được
sử dụng để đánh giá hoạt động của một TCTD:
+ Mức độ an toàn vốn (Capital Adequacy): Mức độ an toàn vốn thể hiện số
vốn tự có để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của TCTD TCTD càng chấp nhận nhiều rủi ro thì càng đòi hỏi phải có nhiều vốn tự có để hỗ trợ hoạt động của TCTD
và bù đắp tổn thất tiềm năng liên quan đến mức độ rủi ro cao hơn Tỷ lệ an toàn vốn
Trang 35được tính theo tỷ lệ phần trăm của tổng vốn cấp I và vốn cấp II so với tổng tài sản
đã điều chỉnh rủi ro của TCTD C R = [(Vốn cấp I + Vốn cấp II)/(Tài sản đã điều chỉnh rủi ro)] * 100% Theo chuẩn mực Basel III, C R ≥ 9% (đối với TCTD hợp
tác theo quy định của NHNN VN, C R ≥8%) Qua tỷ lệ này người ta có thể xác định được khả năng của TCTD thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đối mặt với
các loại rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành
+ Chất lượng tài sản có (Asset Quality): Nội dung hoạt động của một TCTD
thể hiện ở phía tài sản có thể hiện trên bảng cân đối kế toán Quy mô, cơ cấu và chất lượng tài sản có quyết định sự tồn tại và phát triển của TCTD Chất lượng tài sản có
là chỉ tiêu tổng hợp nói lên chất lượng quản lý, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời và triển vọng bền vững của một TCTD Phần lớn rủi ro trong hoạt động TCTD đều tập trung ở phía tài sản, nên việc đảm bảo có đủ vốn thì vấn đề nâng cao chất lượng tài sản có là yếu tố quan trọng đảm bảo cho TCTD hoạt động an toàn Chất lượng tài sản có được đánh giá dựa trên những tiêu chí: đầy đủ các tiêu chuẩn bảo hiểm, tính đúng đắn của tín dụng, thực hành quản lý phù hợp; tính đầy đủ các khoản
dự phòng cho các thiệt hại của các khoản tín dụng Một số chỉ tiêu được sử dụng để phân tích nhằm đánh giá chất lượng tài sản có: danh mục tín dụng/ tổng tài sản; tốc
độ tăng trưởng tín dụng; tỷ trọng dư nợ theo ngành; tỷ lệ nợ xấu/ tổng dư nợ; tỷ lệ
nợ quá hạn/ tổng dư nợ
+ Quản lý (Management): Một yếu tố quyết định hiệu quả kinh doanh và sự
an toàn của TCTD là năng lực và chất lượng quản lý Nói đến chất lượng và năng lực quản lý là nói đến yểu tố con người trong bộ máy quản lý và hoạt động, thể hiện
ở các nội dung: đề ra được các chính sách kinh doanh đúng đắn và có hiệu quả, xây dựng các thủ tục quản lý, điều hành và các quy trình nghiệp vụ hợp lý, sát thực và đúng pháp luật; tạo lập được cơ cấu tổ chức hợp lý, vận hành hiệu quả; giảm thiểu rủi ro về đạo đức trong hệ thống TCTD Ngoài ra, nó còn thể hiện ở khả năng nắm bắt kịp thời những tình huống bất lợi, nhận biết sớm các nguy cơ rủi ro tiềm ẩn đe dọa sự an toàn của chính TCTD để đưa ra những biện pháp đối phó kịp thời Chất lượng quản lý còn được phản ánh ở tình hình tuân thủ đầy đủ pháp luật cũng như các quy chế hoạt động, hiệu quả kinh doanh và mức lợi nhuận thu được tăng lên, duy trì được khả năng thanh toán, sức cạnh tranh và vị thế của TCTD ngày một nâng cao, luôn phát triển bền vững trước những biến động trong và ngoài nước
Trang 36+ Lợi nhuận (Earnings): Lợi nhuận là chỉ số quan trọng nhất để đánh giá
công tác quản lý và các hoạt động chiến lược của nhà quản lý thành công hay thất bại Lợi nhuận sẽ dẫn đến hình thành thêm vốn, đây là điều hết sức cần thiết để thu hút thêm vốn và sự hỗ trợ phát triển trong tương lai từ phía các nhà đầu tư Lợi nhuận còn cần thiết để bù đắp các khoản cho vay bị tổn thất và trích dự phòng đầy
đủ Bốn nguồn thu nhập chính của TCTD là: Thu nhập từ lãi; Thu nhập từ lệ phí, hoa hồng; Thu nhập từ kinh doanh mua bán; Thu nhập khác Một số chỉ tiêu sử dụng để phân tích: RO (lợi nhuận ròng/ tổng tài sản) >1%; ROE (lợi nhuận ròng/ vốn cổ phần) từ 15 đến 20%; chỉ số chi phí hoạt động (các chi phí hoạt động)/ tổng tài sản bình quân
+ Thanh khoản (Liquidity): Khả năng thanh toán là một tiêu chuẩn cơ bản để
đánh giá chất lượng và sự an toàn trong quá trình hoạt động của TCTD Để đảm bảo khả năng thanh toán, TCTD phải duy trì được một tỷ lệ tài sản có nhất định dưới dạng tài sản có tính lỏng, đặc biệt là các tài sản có tính thanh khoản cao như tiền mặt, tiền gửi ở NHNN và các công cụ dự trữ thanh khoản khác Ngoài ra TCTD còn phải chú trọng nâng cao chất lượng tài sản có, xây dựng danh mục tài sản hợp lý, có khả năng chi trả cho khách hàng hoặc thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết Khả năng thanh toán được đánh giá dựa trên các chỉ tiêu: tỷ lệ thanh toán của tài sản = tài sản thanh khoản/ tổng tài sản (20-30%); tỷ lệ dư nợ cho vay và tiền gửi = tổng dư nợ cho vay/ tổng tiền gửi (80-100%)
+Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường (Sensitivity to Market Risk): Các tài
sản mà TCTD nắm giữ chủ yếu là tài sản chính, chúng thường rất nhạy cảm với những biến động thị trường và gây ra những rủi ro nhất định Phân tích S nhằm đo lường mức độ ảnh hưởng của thay đổi về lãi suất và/hoặc tỷ giá đến giá trị của lợi nhuận hay vốn cổ phần Phân tích S quan tâm đến khả năng của ban lãnh đạo ngân hàng trong việc xác định, giám sát, quản lý và kiểm soát rủi ro thị trường, đồng thời đưa ra dấu hiệu chỉ dẫn định hướng rõ ràng và tập trung
Tuy nhiên, đây chỉ là một kênh phân tích, để có thể thu được kết quả kỹ lưỡng và hữu ích, cần kết hợp việc phân tích theo C MELS với những đánh giá định tính khác của TCTD
Bên cạnh việc đánh giá TCTD theo chuẩn C MELS, còn một số chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động thanh tra, giám sát:
Trang 37Số lượng TCTD được thanh tra, giám sát, số lượng các TCTD được thanh tra, giám sát càng nhiều thì hoạt động của toàn hệ thống TCTD càng đươc đảm bảo
an toàn Khi TCTD có những diễn biến bất thường, NHNN có thể có những biện pháp kịp thời nhằm ngăn chặn hoặc xử lý trước khi những biến động này gây ra những tác động tiêu cực cho hoạt động của toàn hệ thống TCTD Các TCTD phải được thanh tra, giám sát thường xuyên, liên tục và đảm bảo theo các chuẩn mực về nội dung và tần suất thanh tra, giám sát
Số lượng các TCTD được cảnh báo rủi ro: khi số lượng các TCTD được cảnh báo tăng, đó cũng có thể coi là một dấu hiệu ảnh hưởng đến sự an toàn của hệ thống TCTD Số lượng các vi phạm quy chế an toàn của TCTD được phát hiện đúng, chính xác
Hệ thống các TCTD hoạt động an toàn, mức độ rủi ro trong hoạt động thấp
và có thể kiểm soát được phù hợp với việc đánh giá thông qua hoạt động thanh tra, giám sát chứng tỏ mục đích của hoạt động thanh tra, giám sát đối với các TCTD đã đạt được và hoạt động thanh tra, giám sát khi đó được coi là có hiệu quả cao Nếu NHNN thực hiện nhiều cuộc thanh tra trong năm, tần suất thanh tra đối với mỗi TCTD tăng lên, các sai phạm được phát hiện nhiều, có nhiều kiến nghị, xử lý,… nhưng TCTD vẫn gặp nhiều rủi ro trong hoạt động, hoạt động mất an toàn, bị đổ vỡ thì hoạt động thanh tra, giám sát chưa đạt hiệu quả cao
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng
Dựa trên 29 nguyên tắc để hoạt động TTGSNH hiệu quả và kế thừa các nghiên cứu thực nghiệm về hoạt động TTGSNH như đã nêu (tại mục 2 phần mở đầu), các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra được những hạn chế, nguyên nhân từ đó đề xuất giải pháp, qua đó tác giả đã tổng hợp nên các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động TTGSNH được chia theo 02 nhóm yếu tố như sau:
Các yếu tố thuộc về NHNN: một là, khung pháp lý phù hợp cho hoạt động
TTGSNH, bao gồm mô hình tổ chức và cơ chế điều hành của TTGSNH cần có sự
phù hợp, tránh chồng chéo, đảm bảo hiệu lực Hai là, khung pháp lý quy định về
hoạt động của các TCTD, bao gồm xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá toàn diện
hoạt động của TCTD theo tiêu chuẩn Camels Ba là, điều kện cơ sở hạ tầng và hệ thống công nghệ thông tin Bốn là, nguồn nhân lực thanh tra, giám sát, đây là nhân
tố quyết định đối với chất lượng hoạt động TTGSNH Chất lượng nguồn nhân lực là
Trang 38yếu tố tiên quyết cho sự thành công của công tác TTGSNH Trong điều kiện hoạt động kinh doanh của TCTD ngày một phức tạp, phát sinh nhiều loại rủi ro mới, những vi phạm ngày càng tinh vi hơn thì trình độ cán bộ thanh tra để phát hiện ra các sai phạm, các rủi ro tiềm tàng là yếu tố hết sức quan trọng Một cán bộ chuyên môn giỏi có thể phát hiện ra những rủi ro hệ thống xuất phát từ những dấu hiệu sai phạm nhỏ, giúp hệ thống TCTD tránh được những tổn thất lớn Ngược lại, một cán
bộ trình độ chuyên môn thấp hoặc có thái độ thiếu trách nhiệm, quan liêu sẽ bỏ sót những vi phạm có thể dẫn đến hậu quả khó lường, làm giảm hiệu quả của công tác TTGSNH Tiêu chuẩn đánh để giá chất lượng cán bộ thanh tra gồm có: kiến thức tổng hợp và chuyên môn, trình độ, kỹ năng phân tích đánh giá thông tin, khả năng
dự báo, kinh nghiệm thực tế, thái độ với công việc Chất lượng cán bộ còn thể hiện
ở sự đồng đều về chất lượng chuyên môn của các cán bộ thanh tra Năm là, Quy
trình, phương thức thanh tra, giám sát Việc lựa chọn phương pháp thanh tra, giám sát phù hợp với mức độ phát triển của TCTD, cũng như trình độ và khả năng của NHNN sẽ là nhân tố tích cực nhằm hoàn thiện hoạt động giám sát của NHNN đối
với TCTD Sáu là, việc phối hợp với các đơn vị, các cơ quan có liên quan trong việc trao đổi, cung cấp thông tin, hợp tác Bảy là, việc áp dụng các biện pháp xử lý thuộc
thẩm quyền
Các yếu tố khách quan: Các yếu tố thuộc về TCTD (năng lực quản trị, điều hành, giám sát rủi ro tại TCTD; ý thức chấp hành quy định của TCTD; việc phối hợp trao đổi, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan chức năng với NHNN); Việc hỗ trợ của các cơ quan chức năng có liên quan đối với TCTD nhằm góp phần đảm bảo hoạt động TCTD an toàn, hiệu quả
Trang 39KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Nội dung Chương 1 đã khái quát được cơ sở lý luận về hoạt động của TCTD hợp tác và hoạt động của Thanh tra, giám sát NHNN đối với các TCTD, khái quát được mục tiêu, nội dung hoạt động của TTGSNH; các nguyên tắc cơ bản để đánh giá hoạt động TTGSNH theo tiêu chuẩn Basel, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động TTGSNH, đây là những nội dung cơ bản mang tính lý luận, là cơ sở để phân tích, đánh giá thực trạng công tác thanh tra, giám sát các QTDND của NHNN-
ĐT giai đoạn 2012-2016, từ đó đề xuất nhằm hoàn thiện công tác thanh tra, giám sát của NHNN-ĐT trong thời gian tới
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA, GIÁM SÁT
CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM CHI NHÁNH ĐỒNG THÁP ĐỐI VỚI CÁC QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN
Thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, trong những năm qua, hoạt động Thanh tra, giám sát của NHNN-ĐT đối với các TCTD trên địa bàn nói chung, QTDND nói riêng đã đạt những kết quả nhất định, trên địa bàn chưa có QTDND phải đặt vào kiểm soát đặc biệt, cũng như vi phạm nghiêm trọng chế độ quy định Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đã đạt được, trong hoạt động thanh tra, giám sát của chi nhánh trong giai đoạn từ năm 2012-2016 cũng còn những hạn chế nhất định như công tác giám sát từ xa chưa hiệu quả, chưa xử lý nghiêm theo thẩm quyền đối với QTDND quy phạm chế độ cần phải xử phạt vi phạm hành chính, công chức thanh tra thiếu, yếu về chuyên môn nghiệp vụ, Nguyên nhân xuất phát từ nội tại trong hoạt động của NHNN-ĐT, bên cạnh đó cũng còn những nguyên nhân khách quan khác
2.1 GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM CHI NHÁNH ĐỒNG THÁP VÀ CÁC QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG THÁP
2.1.1 Cơ cấu tổ chức của thanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Đồng Tháp
TTGSNH là tổ chức thanh tra chuyên ngành về ngân hàng vừa làm chức năng Thanh tra Bộ (giải quyết khiếu nại, tố cáo), nhằm đảm bảo an toàn hệ thống các TCTD, bảo vệ quyền lợi người gửi tiền và phục vụ chính sách tiền tệ quốc gia
Hệ thống tổ chức của TTGSNH: Cơ quan TTGSNH (tương đương Tổng cục) trực thuộc NHNN VN và Thanh tra, giám sát NHNN chi nhánh Trong đó, Cơ quan
TTGSNH là đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của NHNN thực hiện nhiệm vụ TTGSNH,
tham mưu, giúp Thống đốc NHNN quản lý nhà nước đối với các TCTD, quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, phòng, chống rửa tiền, bảo hiểm tiền gửi; tiến hành thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành và giám sát ngân hàng trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của NHNN; thực hiện phòng, chống rửa tiền, phòng, chống tài trợ khủng bố theo quy định của pháp luật và phân công của Thống đốc NHNN Cơ cấu
tổ chức của Cơ quan TTGSNH gồm các Vụ, Cục, Văn phòng tại trụ sở chính và các