1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu việt nam

105 123 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ nhu cầu đó, tôi chọn đề tài: “Hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam” để làm luận văn với mong muốn đ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH

ĐOÀN SƠN THẠCH

HẠN CHẾ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ THẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN

XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH

Mã ngành: 60 34 02 01

Người hướng dẫn khoa học:

PGS., TS NGUYỄN THỊ NHUNG

TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 3

Tôi : ĐOÀN SƠN THẠCH

Sinh ngày : 25 tháng 11 năm 1982

Hiện đang công tác tại : Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam – Chi Nhánh Sài Gòn, địa chỉ: 136 – 138 Lê Thị Hồng Gấm, Quận 1, Tp.Hồ Chí Minh

Là học viên cao học khoá 17 của Trường Đại học Ngân hàng Tp.Hồ Chí Minh

Mã học viên: 020117150159

Cam đoan đề tài: Hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam

Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng Mã ngành: 60 34 02 01

Người hướng dẫn khoa học: PGS., TS NGUYỄN THỊ NHUNG

Luận văn được thực hiện tại Trường Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh

Đề tài này là công trình nghiên cứu riêng của tôi, các kết quả nghiên cứu có tính độc lập riêng, không sao chép bất kỳ tài liệu nào và chưa được công bố toàn bộ nội dung này bất kỳ ở đâu; số liệu, các nguồn trích dẫn trong luận văn được chú thích nguồn gốc rõ ràng, minh bạch

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi

Tp.HCM, tháng 10 năm 2017

Tác giả

Đoàn Sơn Thạch

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu và thuật ngữ viết tắt

Danh mục các bảng, các biểu đồ

Lời mở đầu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO TRONG KINH DOANH

DỊCH VỤ THẺ NGÂN HÀNG 1

1.1 Tổng quan về thẻ ngân hàng 1

1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển thẻ Ngân hàng 1

1.1.2 Khái niệm về thẻ thanh toán 2

1.1.3 Đặc điểm thẻ thanh toán 3

1.1.3.1 Đặc điểm cấu trúc thẻ thanh toán 3

1.1.3.2 Đặc điểm kinh tế của thẻ thanh toán 5

1.1.4 Phân loại thẻ 9

1.1.5 Thiết bị chấp nhận thẻ 10

1.1.6 Các thành phần tham gia hoạt động kinh doanh thẻ 11

1.1.7 Quy trình phát hành và thanh toán bằng thẻ 13

1.1.7.1 Quy trình phát hành 13

1.1.7.2 Quy trình thanh toán thẻ 13

1.2 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ của ngân hàng 15

1.2.1 Khái niệm về rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ 15

1.2.2 Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ của NHTM 15

1.2.2.1 Phát sinh từ ngân hàng 15

1.2.2.2 Phát sinh từ khách hàng 17

1.2.2.3 Phát sinh từ ĐVCNT 19

Trang 5

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch vụ

thẻ của NHTM 20

1.2.3.1 Các nhân tố khách quan 20

1.2.3.2 Các nhân tố chủ quan 21

1.3 Tình hình rủi ro thẻ thanh toán trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 22

1.3.1 Tình hình rủi ro thẻ thanh toán trên thị trường thẻ thế giới 22

1.3.2 Tình hình rủi ro thẻ thanh toán trên tại Việt Nam 24

1.4 Ý nghĩa của việc hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ của ngân hàng 26

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ THẺ TẠI NGÂN HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM 28 2.1 Giới thiệu chung về Eximbank và quá trình hình thành dịch vụ thẻ tại Eximbank 28

2.1.1 Sơ lược về sự hình thành và phát triển của Eximbank 28

2.1.2 Quá trình hình thành, phát triển dịch vụ phát hành và thanh toán thẻ tại Eximbank 28

2.2 Hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại Eximbank 30

2.2.1 Dịch vụ phát hành thẻ 30

2.2.1.1 Phát hành thẻ nội địa 35

2.2.1.2 Phát hành thẻ quốc tế 36

2.2.2 Dịch vụ thanh toán thẻ 37

2.2.2.1 Thanh toán tại các ĐVCNT 37

2.2.2.2 Thanh toán hóa đơn, dịch vụ và rút tiền mặt (Doanh số sử dụng thẻ) 39

2.2.2.3 Dịch vụ chuyển tiền liên ngân hàng qua thẻ 40

2.2.2.4 Dịch vụ qua máy ATM 40

Trang 6

2.3 Thực trạng về rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ của Eximbank

41

2.3.1 Quản lý rủi ro hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ 41

2.3.2 Thực trạng rủi ro thẻ tín dụng quốc tế tại Eximbank 42

2.3.2.1 Rủi ro trong hoạt động phát hành thẻ tín dụng quốc tế 42

2.3.2.2 Rủi ro trong hoạt động thanh toán thẻ thẻ tín dụng quốc tế 45

2.3.3 Thực trạng rủi ro thẻ ghi nợ nội địa V-Top tại Eximbank 48

2.3.3.1 Các rủi ro ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu 48

2.3.3.2 Các rủi ro gây hại về vật chất 49

2.3.4 Các trường hợp rủi ro thực tế xảy ra tại Eximbank 50

2.4 Đánh giá hoạt động kinh doanh thẻ và rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại Eximbank 54

2.4.1 Thành quả đạt được 54

2.4.2 Hạn chế tồn tại 56

2.4.3 Nguyên nhân gây nên rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại Eximbank 57

2.4.3.1 Nguyên nhân xuất phát từ chính ngân hàng 58

2.4.3.2 Nguyên nhân do người sử dụng 58

2.4.3.3 Nguyên nhân do ĐVCNT 59

2.4.3.4 Nguyên nhân do yếu tố công nghệ 59

2.4.3.5 Nguyên nhân do yếu tố pháp lý 60

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ THẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM 62

3.1 Định hướng phát triển hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ ngân hàng 62

3.1.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại Eximbank 62

Trang 7

3.1.1.1 Quan điểm 62

3.1.1.2 Mục tiêu 63

3.1.2 Định hướng phát triển từng giai đoạn cụ thể 63

3.2 Các giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ tại Eximbank 64

3.2.1 Các giải pháp từ phía ngân hàng 64

3.2.1.1 Nghiệp vụ phát hành thẻ 64

3.2.1.2 Nghiệp vụ thanh toán thẻ 66

3.2.1.3 Giải pháp quan lý, bảo vệ các máy ATM 69

3.2.1.4 Giải pháp đầu tư đổi mới, ứng dụng kỹ thuật công nghệ 70

3.2.1.5 Giải pháp chống tấn công an ninh phần mềm 72

3.2.1.6 Giải pháp nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ thẻ 73

3.2.1.7 Giải pháp chống gian lận từ nội bộ ngân hàng 73

3.2.1.8 Giải pháp lập quỹ dự phòng rủi ro thẻ 74

3.2.2 Các giải pháp từ phía khách hàng 74

3.2.2.1 Giải pháp bảo quản thẻ 74

3.2.2.2 Giải pháp bảo mật thông tin thẻ 75

3.2.2.3 Giải pháp an toàn khi rút tiền tại máy ATM 75

3.2.2.4 Giải pháp thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ tại ĐVCNT 76

3.2.2.5 Giải pháp thanh toán qua mạng internet 77

3.3 Một số kiến nghị 77

3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ 78

3.3.2 Kiến nghị với ngân hàng nhà nước Việt Nam 79

3.3.3 Kiến nghị với Hiệp hội Thẻ Việt Nam 81

3.3.4 Kiến nghị với Eximbank 81

Trang 8

ATM (Automatic Teller Machine) Máy rút tiền tự động

EMV (Europay MasterCard Visa) Chuẩn thẻ thông minh

PIN (Personal Identify Number) Số mật mã cá nhân

SMS (Short Message Services) Dịch vụ tín dụng ngắn

Trang 9

DANH MỤC BẢNG, BIỂU

Bảng 2.2 Số lượng thẻ nội địa Eximbank phát hành 35

Bảng 2.3 Số lượng thẻ quốc tế Eximbank phát hành 36

Bảng 2.4 Các chỉ tiêu báo cáo dịch vụ thanh toán thẻ 37

Bảng 2.5 Các chỉ tiêu báo cáo doanh số sử dụng thẻ 39

Bảng 2.7 Dư nợ - vi phạm thanh toán thẻ TDQT tại Eximbank 43

Bảng 2.8 Gian lận do thẻ TDQT bị lấy cắp thông tin tại Eximbank 44

Bảng 2.9 Gian lận thanh toán thẻ TDQT tại Eximbank 47

Biểu 2.1 Số lượng thẻ nội địa Eximbank phát hành 35

Biểu 2.2 Số lượng thẻ quốc tế Eximbank phát hành 36

Biểu 2.6 Gian lận do thẻ TDQT bị lấy cắp thông tin tại Eximbank 45

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm vừa qua, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển ổn định và bền vững Đời sống và thu nhập của người dân ngày càng được cải thiện và nâng cao Người dân đã tiếp cận và sử dụng những phương thức thanh toán mới thay cho việc

sử dụng tiền mặt truyền thống thông thường, trong số đó có việc sử dụng thẻ để thanh toán làm cho nhận thức của mọi người về thẻ đã thay đổi Với ưu thế về thời gian thanh toán, tính an toàn, hiệu quả sử dụng và phạm vi thanh toán rộng làm cho Thẻ đã trở thành công cụ thanh toán hiện đại, văn minh và phổ biến trên phạm vi toàn cầu hiện nay Tại thị trường Việt Nam, dịch vụ thẻ đã thu hút được sự quan tâm đầu tư của các ngân hàng thương mại trong nước nói chung và Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam nói riêng trong những năm gần đây

Dịch vụ thẻ ngân hàng ngày càng phát triển đã mang lại nhiều tiện ích cho cả người sử dụng, ngân hàng và cho toàn xã hội Tuy nhiên, thời gian gần đây tội phạm về thẻ cũng có chiều hướng gia tăng, các rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ ngày càng đa dạng và phức tạp, đã và đang làm suy giảm hiệu quả kinh doanh, ảnh hưởng đến

uy tín và thương hiệu của các ngân hàng trong đó có Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất Việt Nam Vì vậy, việc xây dựng một hệ thống cảnh báo hạn chế rủi ro để đảm bảo

an toàn trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ là điều mà các ngân hàng đang rất quan tâm và cần phải có

Xuất phát từ nhu cầu đó, tôi chọn đề tài: “Hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam” để làm luận văn với mong muốn đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm giảm

thiểu tổn thất, hạn chế rủi ro, góp phần nâng cao cho sự thành công trong phát triển dịch

vụ thẻ tại ngân hàng

2 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu nhằm đạt ba mục tiêu sau:

Trang 12

Thứ nhất: Làm rõ về mặt lý luận bao gồm: tổng quan về hoạt động kinh doanh

dịch vụ thẻ và rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ của ngân hàng thương mại

Thứ hai: Phân tích thực trạng của hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại Ngân hàng

Thương mại Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam giai đoạn 2014 – 2016; thành quả đạt được, những tồn tại rủi ro tiềm ẩn cần giải quyết và nguyên nhân trong rủi ro kinh doanh dịch vụ thẻ

Thứ ba: Từ thực tiễn phát sinh, đề xuất, kiến nghị để có giải pháp hạn chế rủi ro

trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ nhằm góp phần nâng cao uy tín và thương hiệu Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (EXIMBANK)

3 Câu hỏi nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu đặt ra, cần giải quyết các câu hỏi nghiên cứu sau đây: Thứ nhất, thực trạng rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại Eximbank diễn

ra như thế nào?

Thứ hai, các nguyên nhân nào ảnh hưởng đến rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch

vụ thẻ tại Eximbank?

Thứ ba, ảnh hưởng của các nguyên nhân đến rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch

vụ thẻ tại Eximbank như thế nào?

Thứ tư, giải pháp để hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại Eximbank?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Những rủi ro trong trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại EIB

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thực hiện trong giai đoạn từ năm 2014 - 2016

5 Phương pháp nghiên cứu

Học viên sử dụng phương pháp định tính thông qua việc thống kê mô tả, tiếp cận thực tế, so sánh, đối chiếu, phân tích tổng hợp Đồng thời, kết hợp những kiến thức đã học về tài chính ngân hàng cũng như nghiên cứu các văn bản pháp quy hiện hành nhằm

Trang 13

giải quyết những vấn đề đặt ra trong luận văn Bên cạnh đó, luận văn sử dụng các bảng

số liệu, biểu đồ về các vấn đề thực tiễn của Eximbank, để thấy rõ hơn về những rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ của ngân hàng thời gian qua

6 Tính mới của đề tài

Dự kiến đóng góp của đề tài:

- Hệ thống hóa lý luận về thẻ ngân hàng và rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ của ngân hàng

- Đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ tại ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam nói riêng và các ngân hàng Việt Nam nói chung

7 Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu

Hiện nay thì dịch vụ thẻ đã phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam, tuy nhiên các nghiên cứu rủi ro về hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ chưa nhiều, các ngân hàng chưa có định hướng cụ thể về hoạt động quản lý rủi ro về mảng này sao cho đạt hiệu quả cao nhất Vì vậy đề tài nghiên cứu này mong muốn đóng góp một phần làm phong phú thêm tài liệu

về thị trường thẻ ở Việt Nam nói chung, đồng thời cũng đưa ra những giải pháp nhằm hạn chế tối đa rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ để phát triển kinh doanh dịch vụ thẻ của Eximbank nói riêng và Việt Nam nói chung

- Một số công trình đề tài có liên quan:

1 Trần Hoàng Ngân (2006), “Tiện ích và an ninh trong thanh toán thẻ ngân

hàng”, Đề tài cấp bộ, Trường Đại Học Kinh Tế Tp.Hồ Chí Minh

2 Lê Hữu Nghị (2007), “Những giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh

doanh thẻ tại các ngân hàng thương mại Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Trường

Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

3 Phạm Tuấn Anh (2012), “Một số giải pháp phòng ngừa rủi ro thanh toán bằng

thẻ thanh toán trong Thương mại điện tử”, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học

Thương mại

Trang 14

4 Trương Nguyễn Phương Thảo (2014), “Quản trị rủi ro trong kinh doanh thẻ tại

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế,

Trường Đại học Đà Nẵng

5 Phùng Đức Minh (2014),“Giải pháp hạn chế rủi ro gian lận trong hoạt động

kinh doanh dịch vụ thẻ tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam”, Luận văn

Thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học Tài chính – Marketing

Nhìn chung các tác giả đều nghiên cứu về rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ ở mỗi góc độ khác nhau Tuy nhiên, những kết luận và giải pháp chưa có xác định cụ thể về hướng hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ đạt hiệu quả cao nhất, đặc biệt là trong môi trường tội phạm công nghệ cao về thanh toán điện tử, thanh toán thẻ hiện tại ngày càng tăng cao, tinh vi và phức tạp

Rất hy vọng việc nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần xây dựng một hệ thống cảnh báo rủi ro, tăng tính an toàn cho giao dịch thẻ để hạn chế tối đa về rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam nói riêng và của các ngân hàng Việt Nam nói chung

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài lời mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn gồm 80 trang thuộc vào 3 chương sau:

Chương 1 : Tổng quan lý thuyết về rủi ro trong kinh doanh dịch vụ thẻ ngân hàng

Chương 2: Thực trạng về rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại Ngân Hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ

tại Ngân Hàng Xuất Nhập Khẩu Việt Nam

Trang 17

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO TRONG KINH DOANH

DỊCH VỤ THẺ NGÂN HÀNG 1.1 Tổng quan về thẻ ngân hàng

1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển thẻ Ngân hàng

Năm 1914, một công ty điện báo hàng đầu của Mỹ là Western Union trong nỗ lực cải thiện chất lượng dịch vụ đã cấp cho những khách hàng thân thuộc những tấm thẻ bằng kim loại để thực hiện những giao dịch trên thị trường mà người ta tin rằng đó là những tấm thẻ thanh toán đầu tiên

Năm 1924 công ty General Petroleum ở California đã phát hành những tấm thẻ xăng dầu cho công nhân và những khách hàng chọn lọc của mình

Cuối năm 1930, công ty AT&T giới thiệu thẻ Bell Credit Card một công cụ thuận tiện được thiết kế để tạo dựng lòng trung thành của khách hàng được gọi là “Thẻ trung thực”

Năm 1949, Frank Mc Namara, một chủ doanh nghiệp người Mỹ đã phát minh ra thẻ thanh toán mang tên Dinner’s Club

Đến 1955, thị trường thẻ thế giới chứng kiến sự ra đời của hàng lọat thẻ mới như: Trip Charge, Golden Key, Gourmet Club…

Đến năm 1958, công ty Americant Express Corporation phát hành thẻ tín dụng American Express ở Mỹ và nước ngoài Công ty này nhanh chóng đứng đầu trong lĩnh vực thẻ ngân hàng phục vụ cho giải trí và du lịch Sau đó, chuỗi hệ thống khách sạn Hilton cũng tung ra thị truờng sản phẩm thẻ Carte Blanche dành riêng cho khách sạn của

họ Hai loại thẻ này đã thống lĩnh thị trường thẻ thế giới

Năm 1960, một ngân hàng ở Mỹ là Bank of America phát hành thẻ Bank Americard hình thức thẻ tín dụng tuần hoàn đầu tiên và cũng chính là tiền thân của thẻ VISA sau này

Vào năm 1966, 14 ngân hàng ở Mỹ đã quyết định thành lập Hiệp Hội thẻ liên ngân hàng, gọi là InterBank Card Association – ICA Tổ chức này có khả năng trao đổi thông tin về giao dịch thẻ tín dụng

Trang 18

Đến năm 1967, bốn ngân hàng ở California đã đổi tên Hiệp hội thẻ ngân hàng California (California BankCard Association) thành hiệp hội thẻ ngân hàng các bang phía Tây-Western State BankCard Association (WSBA) và kết nạp thêm các tổ chức tài chính ở phía Tây làm thành viên và thẻ của Hiệp hội được biết đến với tên gọi là MasterCharge, đây chính là tiền thân của tổ chức MasterCard sau này

Năm 1961, ngân hàng Sanwa ở Nhật đã cho ra đời thẻ JCB (Japan Credit Bureau)

và đã nhanh chóng phát triển trên thế giới vào năm 1981

Vào giữa năm 70, nền công nghiệp thẻ ngày càng phát triển, mở rộng phạm vi phát hành và thanh toán thẻ ra toàn thế giới vì vậy thương hiệu “America” không còn thích hợp nữa, do đó Bank AmeriCard đã đổi tên thành Visa international vào năm 1977 và Tổ chức Visa quốc tế ra đời từ đây

Năm 1979, MasterCharge cũng đổi tên thanh MasterCard và trở thành đối thủ cạnh tranh chủ yếu của Visa MasterCard là tổ chức thẻ quốc tế lớn thứ hai sau Visa

Ngày nay, hai loại thẻ ngân hàng Visa và MasterCard được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới và chiếm lĩnh hoàn toàn thị truờng thẻ thế giới cả về số lượng thẻ phát hành lẫn doanh số thanh toán thẻ Ngoài ra còn có các loại thẻ khác như: Dinners Club, American Express, Union Pay …

1.1.2 Khái niệm về thẻ thanh toán

Hiện nay có nhiều khái niệm về thẻ thanh toán, mỗi khái niệm đều trình bày những khía cạnh về thẻ thanh toán căn cứ trên nhiều góc độ nghiên cứu khác Sau đây là một số khái niệm về thẻ thanh toán:

Thẻ thanh toán là công cụ thanh toán do ngân hàng hoặc công ty phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng hoặc công ty phát hành thẻ với chủ thẻ

Thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt mà chủ thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ tại các đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ (ĐVCNT), các đại lý của ngân hàng hoặc máy giao dịch tự động (ATM)

Trang 19

Thẻ thanh toán là một phương tiện ghi sổ những số tiền thanh toán thông qua thiết

bị đọc thẻ phối hợp với hệ thống nối mạng vi tính để kết nối trung tâm phát hành thẻ với các điểm thanh toán, nó cho phép thực hiện cuộc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và khá an toàn cho các đối tượng tham gia thanh toán

Điều 24 Quyết định 22-QĐ/NH1 ngày 21/2/1994 quy định: Thẻ thanh toán do ngân hàng phát hành và bán cho khách hàng sử dụng để trả tiền hàng hóa dịch vụ, các khoản thanh toán khác và rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý hoặc các quầy trả tiền mặt tự động

Ngày nay, tại các nước phát triển có trên 80% các giao dịch thanh toán đều sử dụng các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt Thẻ thanh toán là một trong những phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt an toàn, văn minh, hiện đại, nhanh chóng

và đang được lưu hành rộng rãi trên toàn cầu

1.1.3 Đặc điểm thẻ thanh toán

1.1.3.1 Đặc điểm cấu trúc thẻ thanh toán

Trang 20

Hiện nay, hầu hết các loại thẻ đều có hình dạng và cấu tạo tương đối giống nhau như: đều có hình chữ nhật bốn góc tròn, đuợc làm bằng nhựa ABC hoặc PC, cấu tạo bởi

ba lớp đuợc ép thường với kỹ thuật cao và có kích thươc chuẩn là 85mm x 54mm x 0,76mm

Mặt trước của thẻ thường bao gồm các yếu tố cơ bản sau:

 Tên và logo của ngân hàng phát hành thẻ

 Biểu tượng của tổ chức thẻ quốc tế: các huy hiệu, logo và tên của tổ chức thẻ quốc tế (VISA, MasterCard, JCB…) dùng để phân biệt các loại thẻ quốc tế Ví dụ: biểu tượng của Visa là Hologam có hình con chim bồ câu đang bay trong không gian ba chiều, của MasterCard là hình ảnh quả địa cầu giao nhau với các lục địa…

 Tên chủ thẻ: đựơc in dập nổi trên mặt thẻ, là tên cá nhân (hoặc tổ chức) được ngân hàng phát hành cấp thẻ để sử dụng

 Thời gian hiệu lực của thẻ: đây là khoảng thời gian ngân hàng phát hành cho phép chủ thẻ sử dụng thẻ, thời gian này tùy thuộc vào loại thẻ và chính sách của từng ngân hàng mà có thể là một năm, ba năm, năm năm Hết thời gian sử dụng thẻ, chủ thẻ phải trả lại thẻ cho ngân hàng và có nhu cầu sử dụng tiếp thì tiến hành làm thủ tục gia hạn thẻ

 Số thẻ: in dập nổi trên thẻ, đây là số thẻ danh riêng cho chủ thẻ, số thẻ này được

in lại trên hóa đơn khi chủ thẻ thực hiện giao dịch thanh toán hàng hóa, dịch vụ Tùy theo từng loại thẻ mà có chữ số khác nhau và cách cấu trúc theo nhóm cũng khác nhau Ví dụ

số thẻ Visa thường bắt đầu bằng số 4 , MasterCard bắt đầu bằng 5, JCB bắt đầu từ số 3

 Thẻ EMV: được sử dụng đối với tất cả các loại thẻ thông minh, đây là loại thẻ được nhiều người ưu chuộng nhất vì độ an toàn rất cao

 Ngoài ra còn có thể có những yếu tố khác: các đặc điểm quy định về tính năng

an toàn của thẻ như từng tổ chức thẻ có ký hiệu riêng của minh, hình chủ thẻ, code 10… Mặt sau của thẻ gồm các yếu tố:

Trang 21

 Dãy băng từ: gồm 3 rãnh, chứa những thông tin đã được mã hóa theo chuẩn thống nhất như số tài khoản, tên chủ thẻ, thời hạn hiệu lực thẻ, mã số cá nhân của chủ thẻ (số PIN), số thẻ, loại thẻ, tên ngân hàng phát hành…Khi thực hiện giao dịch các các thiết

bị đọc thẻ, những dữ liệu này sẽ truyền về ngân hàng chấp nhận thẻ và thông qua mạng thông tín kết nối với các tổ chức thẻ quốc tế, dữ liệu này sẽ được chuyển đến ngân hàng phát hành để kiểm tra thông tin và cấp số chuẩn chi để thực hiện giao dịch

 Ô chữ ký dành cho chủ thẻ: việc ngân hàng phát hành yêu cầu chủ thẻ ký tên vào mặt sau của thẻ là để xác nhận đúng người sử dụng thẻ khi thực hiện giao dịch thanh toán hàng hóa, dịch vụ tại các điểm chấp nhận thanh toán thẻ Theo đó các đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ đối chiếu chữ ký trên hóa đơn và trên thẻ xem có phù hợp không Băng chữ ký này được làm bằng một nguyên liệu rất đặc biệt, nếu chữ ký bị tẩy xóa thì lập tức thẻ sẽ bị khóa và không thể thực hiện được giao dịch, lúc đó chủ thẻ yêu cầu ngân hàng cấp lại thẻ mới để sử dụng

1.1.3.2 Đặc điểm kinh tế của thẻ thanh toán

Có thể nói thẻ thanh toán là một trong những phương tiện mang lại nhiều lợi ích không chỉ cho cá nhân sử dụng thẻ, hệ thống NH mà còn mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế Cụ thể là:

* Đối với người sử dụng thẻ

Trước hết, thẻ là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt vừa tiện lợi, an toàn, tiết kiệm, vừa văn minh, hiện đại Sử dụng thẻ mang lại sự an toàn, tránh sự phiền

hà và nguy hiểm khi dùng tiền mặt đi công tác hay mua bán Trong trường hợp bị mất thẻ, chủ thẻ có thể báo ngay cho NHPHT để kịp thời phong tỏa tài khoản thẻ Người nhặt hay lấy cắp thẻ cũng khó có thể sử dụng được vì thẻ có hình, chữ ký và đặc biệt là mã số

cá nhân (PIN) chỉ có chủ thẻ mới biết được

Chủ thẻ sử dụng sự tiện ích và linh hoạt của thẻ trong thanh toán mà không cần phải mang theo tiền mặt, như có thể thanh toán các giao dịch dễ dàng nhờ vào mạng lưới rộng rãi các đại lý chấp nhận thẻ trong và ngoài nước như khách sạn, nhà hàng, siêu thị, cửa hàng bán lẻ, dịch vụ taxi, công ty du lịch, đặt vé máy bay, đặt phòng khách sạn mua hàng qua internet …

Trang 22

Chủ thẻ có thể rút tiền mặt tại các tổ chức tài chính hay các NH trên thế giới hoặc tại các máy rút tiền tự động ATM phục vụ 24 tiếng trong một ngày và 7 ngày trong một tuần

mà không phụ thuộc vào thời gian làm việc của ngân hàng với loại tiền phù hợp của nước sở tại Như vậy với việc sử dụng thẻ sẽ giảm được nhiều chi phí cũng như tiết kiệm thời gian hơn hẳn so với việc phải mang tiền mặt

Đặc biệt với thẻ tín dụng, chủ thẻ sẽ được cấp trước một khoản tiền để sử dụng mà không phải trả lãi cho ngân hàng trong thời gian ưu đãi nhất định tùy theo chính sách của từng ngân hàng Theo đó, chủ thẻ có thể mua được những hàng hóa mình muốn ngay cả khi không có tiền mà không phải làm thủ tục vay vốn như các hình thức khác Ngoài ra, đối với thẻ ghi nợ số tiền trong tài khoản của chủ thẻ sẽ được hưởng lãi suất không kỳ hạn giống như một hình thức gửi tiết kiệm cho số tiền không sử dụng đến, khi nào cần thì chủ thẻ có thể dễ dàng rút ra để sử dụng Như vậy sử dụng thẻ, tiền trong tài khoản sẽ được sinh lời trong khi sử dụng tiền mặt thì không sinh lời

Hàng tháng, ngân hàng đều gửi bản sao kê liệt kê những giao dịch đã được thực hiện trong tháng với đầy đủ những nội dung như: giá trị giao dịch, thời gian giao dịch, địa điểm giao dịch…mà bình thường sử dụng bằng tiền mặt chúng ta không thể nào nhớ hết được Do đó sử dụng thẻ giúp chúng ta có thể kiểm soát được việc chi tiêu để từ đó lên kế hoạch và cân đối lại ngân sách sao cho hợp lý và phù hợp với nhu cầu Riêng đối với công ty, việc sử dụng thẻ giúp giảm các khoản tạm ứng công tác phí, kiểm soát hiệu quả chi tiêu của nhân viên và được cấp ngay nguồn vốn ngắn hạn mà không cần thủ tục vay vốn

* Đối với ngân hàng phát hành thẻ

Góp phần đa dạng hóa hình thức kinh doanh của NH, giữ chân khách hàng cũ, thu hút thêm khách hàng mới và cũng cố thêm mối quan hệ thân thiện giữa NH và khách hàng

NH sẽ thu hút được nhiều vốn nhàn rỗi trong dân cư với chi phí thấp khi KH gửi tiền vào tài khoản thẻ Như chúng ta biết đối với tiền gửi trong tài khoản thẻ thanh toán, ngân hàng chỉ phải trả lãi cho khách hàng với lãi suất không kỳ hạn, thấp hơn so với lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm

Thông qua sản phẩm thẻ thanh toán, NH cấp cho khách hàng nhiều loại hình dịch vụ phụ trội như thanh toán các loại hình sinh hoạt phí, thực hiện chuyển tiền thanh toán

Trang 23

thông qua thẻ, sử dụng thẻ như một tài khoản thanh toán cá nhân lưu động trong và ngoài nước Qua đó, NHPHT có thể đa dạng hóa sản phẩm cung cấp cho KH và thu lợi nhuận nhiều hơn

So với các tiện ích thanh toán không dùng tiền mặt khác (séc, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thư tín dụng, ngân phiếu thanh toán, ), thẻ ngân hàng có ưu điểm vượt trội

là có khả năng phổ cập đông đảo tầng lớp dân cư một lượng khách hàng tiềm năng rất lớn trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay

* Đối với ngân hàng thanh toán thẻ

Tăng hiệu quả nghiệp vụ thanh toán, mở rộng đối tượng thanh toán, thu được phí chiết khấu đại lý từ các ĐVCNT, tăng doanh số thanh toán và tăng lợi nhuận Ngoài ra, nhờ làm trung gian thanh toán thẻ, NH sẽ giữ được những khách hàng là những nhà buôn bán lẻ

Tham gia vào hoạt động thanh toán thẻ, các NH có thể mở rộng nguồn khách hàng là các điểm bán lẻ, các điểm cung cấp hàng hoá dịch vụ

Thông qua các ĐVCNT, ngân hàng thanh toán thẻ có thể tạo cho mình một mạng lưới rộng khắp Những điểm này, tùy theo mô hình, vị trí, có thể trở thành mạng lưới phát triển các sản phẩm của NH đến tay người sử dụng hiệu quả nhất, …

Thông qua việc làm trung gian thanh toán, các ngân hàng thanh toán thẻ cũng đã huy động được một nguồn vốn từ tài khoản của các nhà bán sỉ và bán lẻ có chấp nhận thanh toán thẻ và có thể sử dụng nguồn vốn này, vì khi thu được tiền bán hàng hóa, dịch

vụ các đơn vị này có thể không rút ra sử dụng ngay mà vẫn giữ trên tài khoản tại ngân hàng thanh toán một thời gian hoặc đến cuối kỳ mới sử dụng

* Đối với đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT)

Thứ nhất, làm gia tăng doanh số bán hàng cho các ĐVCNT Việc chấp nhận thanh toán thẻ khiến người tiêu dùng có thể mua sắm HH có giá trị cao, giúp đại lý tăng hạn mức cung cấp HH cao hơn Từ đó, đại lý bán được nhiều hàng, làm gia tăng doanh thu cũng như lợi nhuận Hơn nữa, thanh toán giữa đại lý và chủ thẻ được tiến hành nhanh hơn, giảm tình trạng chậm trả của KH

Thứ hai, cải thiện công tác quản lý tài chính Việc thanh toán bằng thẻ giúp làm giảm các chi phí cho các ĐVCNT như chi phí kiểm đếm tiền mặt, bảo quản tiền mặt, chi phí đóng gói, vận chuyển tiền gửi đến ngân hàng… Bên cạnh đó, việc thanh toán

Trang 24

bằng thẻ còn giúp các cửa hàng tránh rủi ro thu tiền giả, tình trạng gian lận, mất cắp tiền trong thanh toán, giảm thời gian cho việc quản lý, thu tiền mặt Số tiền thanh toán được đảm bảo đi ngay vào tài khoản của ĐVCNT mở tại ngân hàng thanh toán

Thứ ba, ĐVCNT gia tăng thêm lượng khách hàng cũng như giúp khách hàng gắn bó hơn so với đơn vị chỉ chấp nhận thanh toán bằng tiền mặt Ngày nay, xu hướng sử dụng thẻ trong thanh toán ngày càng trở nên phổ biến Bên cạnh lượng khách hàng trong nước thì lượng khách nước ngoài đến Việt Nam không ngừng gia tăng và tất nhiên việc khách hàng yêu cầu được thanh toán bằng thẻ cũng tăng lên Do đó, nếu các cửa hàng không có thanh toán bằng thẻ thì có thể khách hàng sẽ tìm đến những cửa hàng khác

có thanh toán bằng thẻ Như vậy, các cửa hàng đã mất đi một lượng khách hàng vào tay các đối thủ khác

Thứ tư, ĐVCNT được hỗ trợ và được hưởng một số chính sách ưu đãi từ NH Khi chấp nhận thanh toán thẻ cho các ngân hàng, các đơn vị sẽ đựơc trang bị những thiết bị đọc thẻ hiện đại, đội ngũ nhân viên được huấn luyện nghiệp vụ thanh toán thẻ hoàn toàn miễn phí, được hưởng nhiều chính sách ưu đãi từ phía ngân hàng và đặc biệt là có cơ hội đựơc tiếp cận với những dịch vụ khác của ngân hàng Đối với những đại lý đã gắn

bó nhiều năm và có quan hệ tốt với ngân hàng thì có thể đựơc xem xét cho vay trong một hạn mức nào đó mà không cần thế chấp tài sản

* Đối với nền kinh tế và xã hội

Việc sử dụng thẻ trong thanh toán đem lại lợi ích rất nhiều mặt cho các chủ thể tham gia mà còn đối với cả việc điều hành vĩ mô nền kinh tế Cụ thể là:

Việc thanh toán bằng thẻ được tập trung qua hệ thống ngân hàng rất an toàn, chính xác và tiết kiệm nhiều thời gian, qua đó giúp cho người dân tiếp cận gần với ngân hàng hơn, tạo lập được niềm tin của người dân vào hoạt động của hệ thống ngân hàng Nhà nước thông qua hệ thống ngân hàng sẽ kiểm soát được các giao dịch thanh toán của dân

cư cả nền kinh tế, đây là tiền đề cho việc tính toán lượng cung ứng tiền tệ và điều hành chính sách tiền tệ ngày càng hiệu quả hơn

Việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại trong việc phát hành và thanh toán thẻ, đã góp phần đưa hệ thống ngân hàng Việt Nam nói riêng và nền kinh tế nói chung hội nhập với nền kinh tế thế giới Từ đó Nhà nước có thể kiểm soát lượng tiền ra nước ngoài, quản lý được hoạt động ngoại hối, tránh tình trạng tiêu

Trang 25

cực, rửa tiền…

Khi thanh toán bằng thẻ thì khối lượng giao dịch sẽ tăng lên, người dân sẽ có nhu cầu chi tiêu thường xuyên hơn vì họ có thể tiêu dùng ngay khi chưa có tiền mà vẫn kiểm soát được chi tiêu của mình do đó đã kích thích cầu tiêu dùng Khi cầu tăng thì cung tăng dẫn đến thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển

1.1.4 Phân loại thẻ

Hiện nay trên thị trường thế giới cũng như Việt Nam, có rất nhiều loại thẻ khác nhau với những đặc điểm cũng như công dụng rất đa dạng và phong phú, có thể phân loại thẻ theo một số tiêu chí sau:

* Theo công nghệ sản xuất:

 Thẻ băng từ (Magnetic Stripe): là loại thẻ sản xuất dựa trên kỹ thuật từ tính với một băng từ chứa ba rãnh thông tin ở mặt sau của thẻ, theo đó các dữ liệu, thông tin liên quan đến khách hàng sẽ được lưu vào trong dải băng từ này Những thông tin này không được mã hóa tự động nên người ta có thể đọc được thông tin này một cách dễ dàng thông qua một thiết bị đọc thẻ khác ngoài những POS do ngân hàng cài đặt Hơn nữa, khu vực chứa thông tin của thẻ rất hẹp nên không thể áp dụng được các kỹ thuật mã hóa đảm bảo

an toàn Do đó, ngày nay các ngân hàng trên thế giới đang chuyển dần sang phát hành thẻ EMV thay cho thẻ từ

 Thẻ thông minh (EMV) hay còn gọi là Smartcard: đây là loại thẻ hiện đại nhất trên thế giới hiện nay, được áp dụng kỹ thuật bằng thao tác gắn vào thẻ một bộ nhớ điện

tử có khả năng lưu trữ vào xử lý thông tin liên quan đến khách hàng, có cấu trúc giống như một máy vi tính hoàn hảo Thẻ thông minh có nhiều nhóm với dung lượng nhớ của

“Chip” điện tử khác nhau Thẻ Chip có ưu điểm hơn so với thẻ từ là hạn chế được việc sử dụng thẻ giả mạo và gian lận Tuy nhiên,chi phí đầu tư phát triển hệ thống thẻ thông minh cao hơn rất nhiều so với thẻ từ

* Theo phạm vi sử dụng

Trang 26

 Thẻ nội địa: là loại thẻ chỉ sử dụng trong phạm vi một quốc gia nơi thẻ được phát hành, đồng tiền giao dịch trên thẻ là đồng bản tệ của quốc gia đó Thẻ nội địa chịu sự giới hạn về phạm vị địa lý, nên muốn mở rộng thị trường thẻ nội địa cần phải phát triển đại lý chấp nhận thanh toán cũng như tính năng của thẻ

 Thẻ quốc tế: là loại thẻ sử dụng trên phạm vi toàn cầu Thẻ quốc tế không bị giới hạn về phạm vi địa lý, thị phần lớn và rất tiện lợi cho khách hàng thường xuyên đi nước ngoài Tuy nhiên, khách hàng khi sử dụng thẻ quốc tế thường phải chịu chi phí cao hơn

so với thẻ nội địa, đặc biệt là phí chuyển đổi ngoại tệ giữa các quốc gia Thẻ quốc tế cũng đòi hỏi vấn đề kiểm soát và những thủ tục thanh toán chặt chẽ hơn so với thẻ nội địa

* Theo tính chất thanh toán thẻ

 Thẻ ghi nợ (Debit Card): là loại thẻ có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoản tiền gởi của chủ thẻ Theo đó, khách hàng muốn sử dụng thẻ thì phải mở tài khoản tại ngân hàng phát hành thẻ và người sử dụng thẻ chỉ được thanh toán trong phạm vi số dư tài khoản của mình Chủ thẻ khi sử dụng thẻ để thanh toán hàng hóa, dịch vụ tại các điểm chấp nhận thanh toán thẻ thì giá trị của những giao dịch sẽ được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ đồng thời ghi có vào tài khoản của đại lý chấp nhận thanh toán thẻ

 Thẻ tín dụng (Credit Card): là loại thẻ mà chủ thẻ có thể có thể sử dụng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hay rút tiền mặt tại các đơn vị chấp nhận thanh toán từ nguồn tiền vay của ngân hàng phát hành thẻ Ngân hàng phát hành thẻ sẽ căn cứ vào nhu cầu và khả năng trả nợ của chủ thẻ để cấp cho họ một hạn mức tín dụng, chủ thẻ chỉ được sử dụng thẻ để thanh toán trong hạn mức này và sẽ không bị tính lãi nếu hoàn trả số tiền đã

sử dụng cho ngân hàng đúng thời hạn mức này và sẽ không bị tính lãi nếu hoàn trả số tiền đã sử dụng cho ngân đúng thời hạn quy định, nếu không hoàn trả đúng hạn thì phải chịu một mức lãi suất trên số nợ theo quy định của ngân hàng phát triển

1.1.5 Thiết bị chấp nhận thẻ

Trang 27

Thiết bị cà thẻ (EDC – Electronic Draft Capture hay POS – Point of Sale): là thiết bị được lắp đặt tại các cửa hàng, siêu thị, nhà hàng, khách sạn … sử dụng để thực hiện các giao dịch thanh toán bằng thẻ thay vì tiền mặt

Máy rút tiền tự động (ATM – Automatic Teller Machine): là thiết bị dùng để rút tiền mặt bằng thẻ

1.1.6 Các thành phần tham gia hoạt động kinh doanh thẻ

Tổ chức thẻ quốc tế: tham gia thị trường với tư cách là người tổ chức thị trường

Những tổ chức này đứng ra liên kết với các thành viên, đặt ra các quy định bắt buộc các thành viên phải áp dụng và tuân theo thống nhất thành một hệ thống một hệ thống toàn cầu đối với thị trường thẻ quốc tế Theo đó, các tổ chức này sẽ cấp giấy phép hoạt động phát hành và thanh toán các sản phẩm thẻ mang thương hiệu của tổ chức họ, bất cứ ngân hàng nào hiện nay hoạt động trong lĩnh vực thẻ thanh toán quốc tế đều phải gia nhập vào một tổ chức thẻ quốc tế

Một số biểu tượng của tổ chức thẻ quốc tế

Ngân hàng phát hành thẻ (Issuer): tham gia thị trường với tư cách là người tạo ra

hàng hóa là sản phẩm thẻ trên thị trường Để có thể hoạt động trên thị trường, đòi hỏi ngân hàng phát hành thẻ phải được Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện hoạt động phát hành thẻ ra thị trường Đối với các ngân hàng phát hành thẻ quốc tế ngoài việc được phép của Ngân hàng phát hành thẻ có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ của Tổ chức thẻ quốc tế Ngân hàng phát hành thẻ có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ xin cấp thẻ của khách hàng, xử lý và phát hành thẻ, mở và quản lý tài khoản thẻ của chủ thẻ, đồng thời chịu trách nhiệm về việc thanh toán thẻ đó

Trang 28

Ngân hàng thanh toán thẻ (Acquirer): tham gia thị trường với vai trung gian, hoạt

động như là đại lý của ngân hàng phát hành thẻ, đồng thời cũng là thành viên chính thức hoặc thành viên liên kết của tổ chức thẻ quốc tế (đối với thẻ quốc tế) Ngân hàng thanh toán thẻ có nhiệm vụ thực hiện các dịch thanh toán thẻ theo hợp đồng dưới sự ủy quyền của ngân hàng phát hành thẻ Ngân hàng thanh toán thẻ là ngân hàng trực tiếp ký hợp đồng với các cơ sở chấp nhận thẻ để tiếp nhận và xử lý các giao dịch về thẻ tại các đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ, cung cấp các dịch hỗ trợ cho đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ

và sẽ được hưởng khoản phí hoa hổng từ ngân hàng phát hành thẻ và đơn vị chấp nhận thẻ

Chủ thẻ (Cardholder): tham gia thị trường với tư cách là người mua hàng hóa trên

thị trường Chủ thẻ là người có tên trên thẻ do ngân hàng phát hành thẻ cấp và được quyền sử dụng tất cả những tiện ích mà thẻ mang lại như: thanh toán tiền hàng hóa, dịch

vụ tại các đơn vị chấp nhận thanh toán, rút tiền mặt, kiểm tra số dư … đồng thời chủ thẻ

có trách nhiệm thanh toán các khoản nợ (đối với thẻ tín dụng) và trả các khoản phí cho ngân hàng (phí thường niên, phí rút tiền mặt…) khi sử dụng những tiện ích của dịch vụ thanh toán qua thẻ mà ngân hàng đã cung cấp

Đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ (Merchant): là những đơn vị bán hàng hóa, dịch

vụ có ký hợp đồng với ngân hàng thanh toán thẻ để chấp nhận thanh toán thẻ để chấp nhận thanh toán hàng hóa, dịch vụ bằng thẻ như: cửa hàng, khách sạn, nhà hàng… Đơn

vị chấp nhận thanh toán thẻ tham gia thị trường thẻ nhằm tăng lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ khác do đã đa dạng hóa hình thức thanh toán tại đơn vị mình cũng như đáp ứng nhu cầu của khách hàng muốn sử dụng thẻ Các đơn vị này sẽ được ngân hàng thanh toán trang bị những máy móc thiết bị cần thiết để tiếp nhận thẻ thanh toán thay cho tiền mặt và phải trả cho ngân hàng thanh toán một khoản chi phí dịch vụ khi sử dụng tiện ích này

Các chủ thể tham gia trong thị trường thẻ có mối quan hệ hết sức chặt chẽ với nhau, tất cả đều hoạt động dưới sự kiểm soát, quản lý của các tổ chức thẻ quốc tế và cơ quan quản lý của mỗi quốc gia nhằm giúp cho hoạt động trên thị trường thẻ diễn ra lành mạnh, góp phần tạo điều kiện cho việc lưu thông hàng hóa tiền tệ được thực hiện một cách nhanh chóng, hiệu quả

Trang 29

Trung tâm thẻ: là Phòng quản lý thẻ trung ương, đại diện của các NH trong quan

hệ đối ngoại trực tiếp về phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ với các tổ chức thẻ quốc tế

và các ngân hàng khác Chịu trách nhiệm điều hành hoạt động phát hành, cấp phép, tra soát thanh toán thẻ và quản lý rủi ro Đồng thời là trung tâm điều hành và thanh toán thẻ giữa các chi nhánh trong hệ thống của ngân hàng

1.1.7 Quy trình phát hành và thanh toán bằng thẻ

1.1.7.1 Quy trình phát hành

- Bước 1: Khách hàng đến ngân hàng phát hành để đăng ký phát hành thẻ

- Bước 2: Nhph tiếp nhận hồ sơ từ khách hàng

- Bước 3: Nhph kiểm tra, thẩm định tính hợp lệ của hồ sơ

- Bước 4: Nhph xử lý dữ liệu đưa vào hệ thống

- Bước 5: Nhph tiến hành in dập thẻ và mã pin Tất cả các thông tin về chủ thẻ được

in, mã hóa trên thẻ

- Bước 6: Nhph giao thẻ, mã pin và kích hoạt thẻ cho khách hàng sử dụng

1.1.7.2 Quy trình thanh toán thẻ

* Quy trình chấp nhận và rút tiền tại máy ATM

Khách hàng NHPH tiếp nhận hồ sơ Kiểm tra, thẩm định hồ sơ

Trang 30

- Bước 1: Chủ thẻ đưa thẻ vào và nhập số pin

- Bước 2: Máy ATM kiểm tra gửi dữ liệu về trụ sở chính NHPH

- Bước 3: Nếu hợp lệ, NHPH thông báo về máy ATM

- Bước 4: Máy ATM yêu cầu chọn loại hình giao dịch

- Bước 5: Sau khi chủ thẻ chọn loại hình giao dịch, máy ATM sẽ đưa ra lựa chọn tiếp theo phù hợp với từng loại hình giao dịch Nếu là giao dịch rút tiền, máy ATM yêu cầu nhập số tiền rút

- Bước 6: Máy ATM báo về hệ thống ngân hàng lõi để trừ tiền trong tài khoản khách hàng

- Bước 7: Sau khi trừ tiền, hệ thống gửi lệnh trả tiền đến máy ATM

- Bước 8: Máy ATM đếm tiền và chi tiền trả cho khách hàng

* Quy trình chấp nhận và thanh toán thẻ tại ĐVCNT

NHPHT

(Issuer)

NHTTT (Acquirer)

ÑVCNT (Merchant)

Trang 31

- Bước 1: Ngân hàng phát hành thẻ cho chủ thẻ

- Bước 2: Chủ thẻ sử dụng thẻ để mua hàng hoá, dịch vụ tại Đơn vị chấp nhận thẻ

- Bước 3: Đơn vị chấp nhận thẻ cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho chủ thẻ sau khi hoàn tất thanh toán

- Bước 4: Đơn vị chấp nhận thẻ xuất trình hoá đơn cà thẻ cho Ngân hàng thanh toán

- Bước 5: Ngân hàng thanh toán báo có cho Đơn vị chấp nhận thẻ sau khi trừ khoản phí dịch vụ

- Bước 6: Ngân hàng thanh toán chuyển giao dịch đòi tiền ngân hàng phát hành thẻ

- Bước 7: Tổ chức thẻ với vai trò trung gian sẽ ghi nợ ngân hàng phát hành và ghi có cho ngân hàng thanh toán

- Bước 8: Ngân hàng phát hành thẻ ghi nợ chủ thẻ

- Bước 9: Chủ thẻ thanh toán cho Ngân hàng phát hành thẻ khi đến hạn

1.2 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ của ngân hàng

1.2.1 Khái niệm về rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ

Rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ của ngân hàng là các tổn thất về vật chất hoặc phi vật chất phát sinh trong quá trình kinh doanh dịch vụ thẻ của ngân hàng, bao gồm hoạt động phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ Đối tượng chịu rủi ro là ngân hàng, chủ thẻ và đơn vị chấp nhận thẻ

1.2.2 Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ của NHTM

1.2.2.1 Phát sinh từ ngân hàng

* Rủi ro do giả mạo

Giả mạo là hành vi lừa đảo có thẻ xảy ra trong quá trình kinh doanh thẻ, từ khâu phát hành cho đến khâu thanh toán như đơn phát hành thẻ với thông tin giả, thẻ giả, ĐVCNT giả, giao dịch thanh toán giả, Giả mạo gây tổn thất cho ngân hàng kinh doanh thẻ và các thành phần tham gia vào quá trình hoạt động thẻ ngân hàng Giả mạo có thể phát sinh bất kỳ lúc nào không phân biệt thời gian, địa điểm, cả trong hoạt động phát hành lẫn thanh toán thẻ và gây tổn thất cho ngân hàng

Trang 32

* Rủi ro do tín dụng

Rủi ro tín dụng thường xảy ra ở các loại thẻ tín dụng, xuất hiện khi chủ thẻ không thực hiện thanh toán hoặc không đủ khả năng thanh toán Bản chất của thẻ tín dụng là chi tiêu trước trả tiền sau, ngân hàng sẽ tạm cung ứng tiền cho chủ thẻ sử dụng sau đó đến kỳ sẽ thu lại sau Điều đó có nghĩa là khi ngân hàng chấp nhận đồng ý phát hành thẻ tín dụng cho khách hàng là đã cam kết cho chủ thẻ vay tiền, nếu như chủ thẻ không thanh toán hoặc không đủ khả năng thanh toán dẫn đến ngân hàng bị mất vốn Nguyên nhân gây ra rủi ro do khâu thẩm định không cẩn thận, không xác thực các thông tin về chủ thẻ, không sử dụng các biện pháp đảm bảo cần thiết hoặc chủ thẻ cố tình gian lận

* Rủi ro kỹ thuật

Rủi ro kỹ thuật là loại rủi ro liên quan đến hệ thống quản lý thẻ, như các sự cố về dữ liệu: xử lý, bảo mật, kết nối, an ninh … Các hoạt động liên quan đến thẻ đều diễn ra liên tục 24 giờ/7 ngày cho nên bất kỳ sự cố kỹ thuật nào cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện giao dịch, đến tính chính xác trong công tác thanh toán cũng như quyền lợi của khách hàng Đây là loại rủi ro rất cần được quan tâm vì khi sự cố xảy ra tác hại rất lớn, không chỉ ảnh hưởng đến một khách hàng, một ngân hàng mà còn tác động đến cả hoạt động của hệ thống thẻ, tổ chức thẻ thế giới và các chủ thể tham gia hoạt động thẻ Nguyên nhân gây ra rủi ro kỹ thuật có thể do sự cố bất khả kháng, những cũng có thể

do nguyên nhân chủ quan là hệ thống không được đầu tư đúng mức, công tác cập nhật, bảo quản không được quan tâm một cách nghiêm túc để kẻ gian xâm nhập vào hệ thống đánh cắp dữ liệu, thông tin, …

* Rủi ro vể đạo đức của cán bộ ngân hàng

Rủi ro đạo đức là các loại rủi ro liên quan đến những hành vi gian lận của cán bộ ngân hàng trong lĩnh vực thẻ ngân hàng Cán bộ thẻ lợi dụng vị trí công tác của mình, sự hiểu biết về quy trình tác nghiệp phát hiện ra những kẻ hở lỗ hổng … từ đó thực hiện các hành vi gian lận và giả mạo gây tổn thất cho ngân hàng

Nguyên nhân gây ra rủi ro này là do cán bộ thoái hóa, biến chất, công tác soạn quy trình nghiệp vụ và kiểm tra kiểm soát nội bộ không thực hiện đúng chuẩn mực

Trang 33

Nguyên nhân gây nên rủi ro này là do người dân chưa quen với việc sử dụng thẻ, chưa có ý thức cảnh giác với bọn gian lận, chưa tự bảo vệ thông tin thẻ Ngoài ra còn có thể do thói quen tin người nên bị kẻ gian lợi dụng Khi chủ thẻ gặp rủi ro sẽ liên quan trực tiếp đến ngân hàng

* Bẫy thẻ

Bọn tội phạm lắp vào khe đọc thẻ của máy ATM một miếng nhựa có khả năng giữ thẻ và ngăn máy nhả thẻ ra Khi chủ thẻ giao dịch, tưởng rằng máy nuốt thẻ bỏ đi, bọn tội phạm sẽ nhanh vào lấy thẻ

* Trộm dữ liệu bằng camera

Bọn tội phạm thường lắp đặt camera một nơi kín đáo tại máy ATM, thường thì được đặt trong một khay để tờ rơi giả nằm cạnh bàn phím, một vị trí có thể ghi lại toàn bộ các thao tác của chủ thẻ, lưu giữ số liệu và mã pin Với công nghệ không giây, toàn bộ dữ liệu sẽ truyền đến cho bọn tội phạm Dữ liệu lấy được sẽ làm ra thẻ giả kết hợp với mã pin lấy được từ camera, bọn tội phạm sẽ rút tiền của nạn nhân

* Tội phạm tại các quầy thanh toán

Tại các quầy thanh toán của ĐVCNT bọn tội phạm lắp đặt thiết bị ăn cắp dữ liệu, thường những hành vi này là do chính các nhân viên tại ĐVCNT thực hiện Sau khi lấy cắp được dữ liệu, những nhân viên này thực hiện các giao dịch bất hợp pháp để rút tiền hoặc bán dữ liệu cho bọn tội phạm chuyên nghiệp

* Trộm dữ liệu khi thanh toán qua mạng internet

Tình trạng trộm dữ liệu thông tin thẻ khi khi chủ thẻ thanh toán qua mạng internet ngày càng có xu hướng gia tăng, tinh vi và phức tạp Các thủ đoạn thường gặp là bị

Trang 34

hacker, tạo wedsite giả, tạo đường dẫn từ một wedsite uy tín mua bán trên mạng đến wedsite của bọn tội phạm, …

* Tấn công cơ học

Mục tiêu thường là những máy ATM đặt nơi vắng người Bọn tội phạm phá két sắt bằng hàn xì, chất cháy nổ … Bọn tội phạm loại này thường rất manh động và liều lĩnh

* Đầu đọc thẻ giả (skimmer)

Skimmer là loại thiết bị di động siêu nhỏ gọn được gắn vào máy ATM và đọc tất

cả các thông tin chứa trong dải từ trên tấm thẻ nhựa (mã PIN, số thẻ và tên chủ thẻ, v.v.)

Tại các khe đọc thẻ ATM, tội phạm lắp đặt thêm các đầu đọc thẻ Khi người dùng đưa thẻ ATM vào khe này thì thông tin của chủ thẻ đã được quét bởi thiết bị đọc thẻ của tội phạm mạng trước khi đi vào đầu đọc của cây ATM Đồng thời, tội phạm cũng lắp máy quay trộm bàn phím để ghi nhận mã số PIN Với thông tin thẻ và mã số PIN của thẻ, tội phạm chỉ cần dùng thẻ trắng để tạo thành thẻ ATM giả, sau đó dùng thẻ giả rút tiền từ tài khoản của người dùng hoặc mua bán hàng qua mạng internet

* Bàn phím nhập pin giả hoặc thiết bị giả khác

Chiếc bàn phím giả này được thiết kế tương tự với bàn phím của máy ATM, được lắp đè lên, phủ lên trên bàn phím ATM và thật đến mức gần như người sử dụng máy ATM không thể nhận ra được Khi người sử dụng thực hiện giao dịch thì thiết bị sẽ lấy cắp và lưu trữ số pin, đồng thời kết hợp với việc đã có thông tin về thẻ trước đó, kẻ gian

sẽ tạo ra thẻ giả để rút tiền của chủ thẻ

* Bẫy tiền

Cách đơn gian nhất là dán một miếng băng dính thật chắc vào mặt sau của cửa nhả tiền để chặn những tờ tiền máy thu lại do chủ thẻ chưa nhận Một cách tinh vi hơn nữa là gắn một thiệt bị cơ học có thể chuyển số tiền máy đưa ra một chiếc hộp được ngụy trang rất khéo léo Mặc dù bị mất tiền nhưng chủ thẻ nghĩ rằng máy ATM có thể đang trục trặc

và chán nản bỏ đi Sau khi chủ thẻ đi, kẻ gian đến tháo bỏ bẫy hoặc của nhả tiền giả rồi ung dung nhận tiền

Một cách thức khác là tên tội phạm sử dụng một chiếc thẻ thật để rút tiền hợp pháp Khi máy đưa tiền ra, tên tội phạm sẽ không rút cả xấp tiền, thay vào đó chúng chừa một khoảng thời gian nhất định để ATM thu lại số tiền bị “bỏ quên” và ghi vào hệ thống là

Trang 35

chủ thẻ không nhận tiền Ngay lập tức chúng lật cửa nhả tiền ra và giật nhanh số tiền đang bí máy thu lại vào đúng thời điểm Tên tội phạm không bị trừ tiền trên tài khoản nhưng vẫn lấy được tiền bởi giao dịch đã bị đảo ngược

* Đặt ATM giả

Kẻ gian lắp đặt máy ATM có vẻ bề ngoài giống với các máy ATM của các ngân hàng Bên trong máy không có khoang trả tiền mà chủ yếu các thiết bị để lấy cắp thông thẻ Khi chủ thẻ tiến hành giao dịch, máy sẽ báo lỗi, lúc này toàn bộ thông tin dữ liệu về thẻ đã được lấy cắp mà chủ thẻ không nghi ngờ gì vì nghĩ là máy bị lỗi Kết hợp với các thiết bị ghi hình nhỏ bí mật lắp nơi kín đạo để lấy cắp mã pin của thẻ, từ đó kẻ gian (bọn tội phạm) sẽ làm thẻ giả để lấy cắp tiền

1.2.2.3 Phát sinh từ ĐVCNT

* ĐVCNT giả mạo: ĐVCNT cố tình đăng ký các thông tin không chính xác với ngân hàng thanh toán Ngân hàng thanh toán sẽ chịu tổn thất khi không thu được những khoản đã tạm ứng cho những ĐVCNT này trong trường hợp ĐVCNT thông đồng với chủ thẻ hoặc cố tình tạo ra hóa đơn hoặc giao dịch để chiếm dụng vốn của ngân hàng

* ĐVCNT thông đồng với tội phạm: đánh cắp dữ liệu thẻ sử dụng vào mục đích bất hợp pháp hoặc thông đồng với chủ thẻ chấp nhận thanh toán thẻ giả

* Nhân viên ĐVCNT in nhiều hóa đơn thanh toán của một thẻ nhưng chỉ giao một

bộ cho chủ thẻ để ký thanh toán giao dịch, sau đó sẽ giả mạo chủ thẻ hoàn tất giao dịch

và nộp các hóa đơn thanh toán còn lại để đòi tiền, chiếm đoạt tiền của ngân hàng

* Nhân viên ĐVCNT sửa đổi thông tin trên các hóa đơn thẻ như ghi tăng giá trị giao dịch mà không được sự đồng ý của chủ thẻ để lấy tiền tạm ứng của ngân hàng

Trang 36

* ĐVCNT thẻ cung cấp hàng hóa dịch vụ theo yêu cầu của chủ thẻ thông qua thư, điện thoại, fax và thanh toán trên cơ sở các thông tin được cấp: loại thẻ, số thẻ, ngày hiệu lực, tên chủ thẻ … ĐVCNT và ngân hàng thanh toán có thể bị tổn thất nếu như chủ thẻ thực không phải là khách hàng đặt mua hàng của ĐVCNT và giao dịch đó bị từ chối thanh toán từ ngân hàng phát hành

* ĐVCNT sao chép, lấy cắp thông tin và tạo băng từ giả (skimming): trên các thiết

bị đọc thẻ tại ĐVCNT có thể bị cài thêm thiết bị để thu thập các thông tin trên bằng từ của thẻ thật thanh toán tại các ĐVCNT hoặc nhân viên ĐVCNT có thể cấu kết với các tổ chức tội phạm đọc dữ liệu thẻ thật bằng các thiết bị chuyên dùng riêng

* ĐVCNT gian lận, tỷ lệ rủi ro cao: hàng hóa, dịch vụ có giá trị lớn, có tính chất dễ chuyển sang tiền mặt Thực hiện giao dịch không đúng loại giao dịch đã đăng ký, đặc biệt là hiện tượng rút tiền mặt từ thẻ tín dụng là một dịch vụ được các tiệm vàng, nhà hàng thực hiện khá phổ biến Theo đó, chủ thẻ cà thẻ qua máy POS, người thụ hưởng là nhà hàng hoặc công ty sẽ nhận và đưa số tiền đó cho chủ thẻ dùng Hoạt động này được cho tiềm ẩn rủi ro rất cao đi ngược lại với chức năng của máy POS vì giao dịch thông qua máy POS là phải có một giao dịch thanh toán hàng hóa thực sự Còn trường hợp người thụ hưởng là nhà hàng hoặc công ty nào đó hỗ trợ cà thẻ thanh toán, sau khi nhận được số tiền đó lại cho chủ thẻ dùng là không đúng mục đích

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ của NHTM

1.2.3.1 Các nhân tố khách quan

* Môi trường pháp lý

Môi trường pháp lý không chỉ tác động đến sự phát triển của thị trường thẻ mà còn tác động ảnh hưởng đến rủi ro trong hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ Bởi vì, một giao dịch thẻ được thực hiện đôi khi có liên quan đến các chủ thể nước ngoài, do vậy các vấn

đề xảy ra không những bị điều chỉnh bởi luật pháp trong nước mà còn bị điều chỉnh bởi luật pháp nước ngoài, thông lệ quốc tế Nếu các chủ thể tham gia trong hoạt động dịch

vụ thẻ không nắm bắt được hết nội dung, quy phạm pháp luật sẽ dễ dẫn đến rủi ro Nguyên nhân của rủi ro về pháp lý là do có sự khác biệt cơ bản về luật pháp giữa các quốc gia, luật quốc tế và các thông lệ quốc tế

Trang 37

* Tình hình kinh tế thay đổi

Sự thay đổi của kinh tế luôn có tác động trực tiếp đến tất cả các lĩnh vực phụ thuộc, trong đó có lĩnh vực kinh doanh thẻ Cụ thể, khi tình hình kinh tế thay đổi dẫn đến những thay đổi về thu nhập, chính sách thuế … làm tác động đến nhu cầu chi tiêu, khả năng hoàn trả dư nợ của chủ thẻ Tác động đến khả năng đầu tư công nghệ, trang thiết bị, nhân lực … cho ngành thẻ phát triển

* Sự phát triển của khoa học công nghệ

Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt ra đời trên cơ sở áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ hiện đại trong lĩnh vực ngân hàng Khoa học càng phát triển, tính bảo mật của sản phẩm thẻ càng được nâng cao, thẻ càng khó làm giả hơn Tuy nhiên, khoa học công nghệ phát triển cũng kéo theo sự xuất hiện của nhiều phương tiện, máy móc, thủ đoạn skimming thẻ hiện đại hơn, tinh vi hơn Cuộc chiến giữa quá trình nghiên cứu phát triển sản phẩm thẻ mới với quá trình nghiên cứu thủ đoạn ăn cắp làm thẻ giả của các tổ chức tội phạm thẻ là cuộc chiến vô cùng khắc nghiệt, không ngưng nghỉ các tác động rất lớn đến rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ ngân hàng

1.2.3.2 Các nhân tố chủ quan

* Công tác thẩm định khách hàng

Thẩm định khách hàng trong kinh doanh thẻ là việc ngân hàng phân tích đánh giá năng lực pháp lý, năng lực tài chính của khách hàng để quyết định đồng ý hay từ chối phát hành thẻ hay làm ĐVCNT của ngân hàng Chất lượng công tác thẩm định cao tức là ngân hàng đã lựa chọn được cho mình những khách hàng tốt, từ chối những khách hàng

Trang 38

có ý định lừa đảo, hạn chế được rủi ro chủ thẻ không thanh toán nợ cho khách hàng, ĐVCNT lừa đảo chiếm dụng vốn của ngân hàng

* Nhân lực đội ngũ cán bộ làm công tác thẻ

Con người là trung tâm của mọi hoạt động, là yếu tố quyết định đến sự thành công hay thất bại trong tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế Đội ngũ cán bộ thẻ là những người trực tiếp hàng ngày tiếp xúc với hoạt động kinh doanh thẻ, với những hành vi lừa đảo trong lĩnh vực thẻ Kinh nghiệm, ý thức cảnh giác, tuân thủ chặt chẽ các quy định của ngân hàng trong hoạt động kinh doanh thẻ của đội ngũ cán bộ thẻ sẽ góp phần phát hiện, ngăn chặn, hạn chế những rủi ro, những tổn thất cho ngân hàng trong quá trình kinh doanh Mặt khác là những người trực tiếp làm thẻ, hiểu biết về thẻ nên những giả mạo thẻ do cán bộ thẻ gây ra lại là những giả mạo tinh vi nhất, khó phát hện nhất và cũng gây tổn thất lớn cho ngân hàng Chính vì vậy, đạo đức, kinh nghiệm, trình độ của đội ngũ cán bộ thẻ có tác động rất lớn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh, đến rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ của ngân hàng

1.3 Tình hình rủi ro thẻ thanh toán trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.3.1 Tình hình rủi ro thẻ thanh toán trên thị trường thẻ thế giới

Trên thế giới, hoạt động kinh doanh thẻ không ngừng phát triển, thẻ đã trở thành công cụ thanh toán ngày càng phổ biến Tuy nhiên, tình hình sử dụng thẻ giả mạo, gian lận, trộm thông tin thẻ cũng gia tăng theo, gây tổn thất to lớn cho các ngân hàng, các tổ chức thẻ và chủ thẻ Doanh số thẻ thanh toán bị lợi dụng gian lận trên thế giới đã rơi vào tình trạng báo động

Như tại thị trường Châu Âu thì năm 2016, gian lận thẻ tại 19 nước Châu Âu thiết lập

“kỷ lục” mới trong đó nước Anh là quốc gia chịu thiệt hại nặng nhất với 618 triệu Bảng, tăng 9% so với năm 2015, vượt mức kỷ lục gian lận thẻ được ghi nhận trong năm 2008 sau khi thẻ chip & PIN đưa vào hoạt động Gian lận thương mại điện tử hoặc gian lận số hiện chiếm 50% tổng thiệt hại do gian lận thẻ gây ra tại Anh, tương đương với 309 triệu Bảng Đây là một con số đáng sợ và cho thấy đó là “vùng đất hứa” của những tay tội phạm Hoạt động giao dịch thương mại điện tử là mục tiêu của bọn tội phạm bởi lĩnh vực

này đang thực sự tăng trưởng nóng

Trang 39

Chi tiêu thực trong thương mại điện tử ở Anh là 41 tỷ Bảng vào năm 2008, khi gian lận thẻ của Anh đạt đỉnh Con số này đã lên đến 210 tỷ Bảng vào năm 2015 và 248 tỷ Bảng vào năm 2016, theo số liệu của Cơ quan Chống gian lận Tài chính Vương quốc Anh (Financial Fraud Action UK)

Năm 2015, gian lận thẻ tại Anh tăng cao nhất ở Châu Âu, nhưng trong năm 2016, có

2 quốc gia phải đối mặt với tình trạng gia tăng “ấn tượng” hơn là Ba Lan (tăng 10%) và Thụy Điển (tăng 18%) Ngoài ra, Tốc độ gia tăng ở Anh trong giai đoạn 2015 - 2016 chỉ bằng một nửa so với giai đoạn 2014 - 2015 Pháp có điểm cơ bản cao nhất ở mức 8,9 (tỉ

lệ thiệt hại do gian lận trong bán hàng) trong số 19 nước Châu Âu, so với 7 điểm của Anh Tuy nhiên, chi tiêu bằng thẻ của Pháp chỉ bằng 50% so với Anh, vì vậy mức độ thiệt hại của Anh cao hơn nhiều Ngoài ra, Anh và Pháp chiếm 73% tổng thiệt hại trong

số 19 quốc gia trong năm 2016, theo sau là Đức, Tây Ban Nha, Nga, Italia và Thụy Điển

Tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương thì hằng năm thiệt hại về gian lận thẻ lên đến hàng trăm triệu đô la Mỹ, như vào tháng 6 năm 2016 những tên trộm đã sử dụng khoảng 1.600 tấm thẻ giả để rút tiền từ 1.400 máy ATM trên khắp Nhật Bản Ngân hàng chịu thiệt hại là Standard Bank của Nam Phi, ngân hàng này không có chi nhánh tại Nhật Bản Đáng ngại hơn là ngày càng có nhiều tổ chức thừa nhận tần suất tấn công đang tăng lên Các đợt tấn công máy ATM quy mô lớn đã diễn ra ở Đài Loan, Malaysia và Thái Lan Vào tháng 7, Government Savings Bank có trụ sở ở Bangkok đã đóng gần 50% trong 7.000 máy rút tiền trên toàn quốc sau khi tin tặc “đột nhập” 20 máy và lấy đi 350.000 đô la

Quá trình điều tra vụ cướp ở Nhật Bản cho thấy những máy ATM mà bọn tội phạm chọn là của Seven Bank (định chế tài chính duy nhất cho phép máy rút tiền 24/24) vì có thể rút tiền bằng thẻ tín dụng phát hành ở nước ngoài – vốn là những thẻ chỉ có dải từ thay vì chip vi mạch tích hợp có tính bảo mật cao hơn Thời điểm diễn ra vụ tấn công cũng đã cho thấy những lỗ hổng trong phần mềm phân tích lừa đảo tại cả Seven Bank lẫn ngân hàng ở Nam Phi

Tại khu vực Mỹ Latinh thì theo bản nghiên cứu của Frost & Sullivan (Một công ty tư vấn tăng trưởng toàn cầu cho các đối tác và khách hàng để hỗ trợ sự phát triển của các chiến lược phát triển sáng tạo), Mỹ Latinh là một trong những thị trường ATM phát triển mạnh nhất thế giới, một phần chủ yếu là sự bùng nổ của thị trường thẻ tại Brazil Tất

Trang 40

nhiên, mặt trái của xu hướng này là gian lận qua thẻ ATM cũng đã gia tăng gần 15% trong 5 năm qua Để đối phó với tình trạng trên, các quốc gia trong khu vực cũng đang tăng cường áp dụng các biện pháp chống gian lận, đặc biệt là việc sử dụng các loại thẻ chíp (EMV) Brazil vẫn là nước đi đầu trong “cuộc thiên di”, kết quả là tỷ lệ gian lận thẻ tại đây đã giảm tới hơn 80% Tuy nhiên, những thị trường nhỏ hơn, như Chile và Peru vẫn còn đang cách xa ở phía sau

Tại khu vực Bắc Mỹ là thị trường ATM lớn nhất trên thế giới, Canada là nước đứng đầu thế giới về số lượng giao dịch cá nhân, trong khi Mỹ là nơi được lắp đặt nhiều máy ATM nhất Việc tăng cương sử dụng máy ATM, riêng Mỹ đã có hơn 14 tỷ tiền mặt được rút tại các hệ thống máy ATM, đã biến khu vực này trở thành một địa bàn hấp dẫn của bọn tội phạm toàn cầu

Những cuộc tấn công mang tính chất “vật lý” đối với máy ATM là hình thức phổ biến trong khu vực Bọn tội phạm thường sử dụng hình thức “nhổ” máy ATM khỏi vị trí

cố định, thường là bằng cách chằng dây xích vào máy ATM rồi dùng một chiếc xe tải giật đồ Sau khi “nhổ” xong, chúng sẽ sử dụng máy móc và chất nổ để cạy mở két sắt Ở

Mỹ, gian lận liên quan đến thẻ ATM đang tăng lên nhanh chống Tháng 8/2005, Gartner (Một công ty tư vấn và nghiên cứu kỹ thuật thông tin, có trụ sở tại Mỹ) ước tính trong năm 2004, khoảng 3 triệu khách hàng Mỹ đã bị ảnh hưởng bởi những trò gian lận thẻ ATM, mức thiệt hại hàng năm khoảng 2,75 tỷ USD, trung bình 900 USD/vụ

1.3.2 Tình hình rủi ro thẻ thanh toán trên tại Việt Nam

Dịch vụ thẻ ngân hàng ngày càng phát triển với tốc độ tăng trưởng nhanh cả về số lượng và giá trị giao dịch, đi kèm với đó sẽ phát sinh những rủi ro trong hoạt động kinh doanh thẻ Trong những năm gần đây, các đối tượng tội phạm có xu hướng nhằm vào thị trường mới phát triển, trong đó có Việt Nam để thực hiện các hành vi gian lận với các thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp

Từ năm 2013 đến 2015, Quản lý rủi ro Hội thẻ đã tiếp nhận thông tin và thông báo cho các NHTV về 2.125 thẻ đen, 2.828 thẻ nghi ngờ bị skimming liên quan đến hơn 47

vụ ATM skimming, 5.363 chủ thẻ đen (nợ quá hạn trên 90 ngày), 19 ĐVCNT đen; Riêng năm 2015, Tiểu ban đã thông báo 21 sự kiện ATM skimming, giảm 7 vụ, tương đương 75% so với tổng số vụ skimming năm 2014; 348 thẻ nghi ngờ lộ dữ liệu, tương

Ngày đăng: 30/01/2019, 13:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w