6 Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu đặt ra và trả lời câu hỏi nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp sau Thứ nhất, phương pháp thống kê mô tả Descriptive Statistics được sử dụng
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
PHẠM THỊ THẢO NGUYÊN
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP LÃI CẬN BIÊN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ Chuyên ngành: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
Mã ngành: 60.34.02.01
Đề tài:
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP LÃI CẬN BIÊN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này chưa từng được trình nộp để lấy học vị thạc sĩ tại bất cứ một trường đại học nào Luận văn này là công trình nghiên cứu riêng của tác giả, kết quả nghiên cứu là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố trước đây hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn nguồn đầy đủ trong luận văn
TP.HCM, ngày tháng năm
Phạm Thị Thảo Nguyên
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Tiến Sĩ- Thầy Lê Hoàng Vinh vì Thầy
đã quan tâm, giúp đỡ và tâm huyết trong suốt quá trình nghiên cứu để tôi có thể hoàn thành luận văn
Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu sẽ không tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được sự đóng góp và phản hồi từ phía Thầy Cô
Trân trọng cảm ơn
TP.HCM, ngày tháng năm
Phạm Thị Thảo Nguyên
Trang 5iii
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
CHƯƠNG 1 2
GIỚI THIỆU 2
1.1 Đặt vấn đề 2
1.2 Tính cấp thiết của đề tài 2
1.3 Mục tiêu của đề tài 4
1.3.1 Mục tiêu tổng quát 4
1.3.2 Mục tiêu cụ thể 4
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
1.5.1 Đối tượng nghiên cứu 5
1.5.2 Phạm vi nghiên cứu 5
1.6 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu 5
1.6.1 Dữ liệu nghiên cứu 5
1.6.2 Phương pháp nghiên cứu 5
1.7 Đóng góp của đề tài 6
1.8 Kết cấu luận văn 6
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 8
2.1 Cơ sở lý thuyết về thu nhập lãi cận biên và các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên của NHTM 8
2.1.1 Bản chất và ý nghĩa của thu nhập lãi cận biên 8
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên của NHTM 9
2.2 Bằng chứng thực nghiệm 9
2.2.1 Các nghiên cứu ngoài nước 9
2.2.2 Các nghiên cứu trong nước 14
2.2.3 Thảo luận các nghiên cứu trước có liên quan 16
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Chọn mẫu nghiên cứu và thu thập dữ liệu 23
3.1.1 Mẫu nghiên cứu 23
i
Trang 6iv
3.1.2 Thu thập dữ liệu 23
3.2 Giả thuyết nghiên cứu 23
3.2.1 Mô hình nghiên cứu 23
3.2.2 Giải thích các biến 25
3.2.3 Giả thuyết nghiên cứu 27
3.2.3.1 Quy mô vốn chủ sở hữu-CAP 27
3.2.3.2 Quy mô cho vay-LAR 28
3.2.3.3 Tỷ lệ cho vay trên vốn huy động-LDR 28
3.2.3.4 Tỷ trọng chi phí quản lý -CTI 29
3.2.3.5 Tỷ lệ lãi suất-IR 29
3.2.3.6 Quy mô ngân hàng-SIZE 29
3.2.3.7 Rủi ro tín dụng-CR 30
3.2.3.8 Tăng trưởng GDP 30
3.3 Phương pháp nghiên cứu 33
3.4 Quy trình nghiên cứu 34
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
4.1 Thống kê mô tả 36
4.1.1 Thu nhập lãi cận biên-NIM 37
4.1.2 Quy mô vốn chủ sở hữu-CAP 38
4.1.3 Quy mô cho vay LAR 39
4.1.4 Tỷ lệ cho vay trên vốn huy động-LDR 40
4.1.5 Tỷ trọng chi phí quản lý -CTI 41
4.1.6 Tỷ lệ lãi suất-IR 42
4.1.7 Quy mô ngân hàng-SIZE 43
4.1.8 Rủi ro tín dụng CR 44
4.2 Phân tích mối tương quan giữa các biến 45
4.3 Phân tích hồi quy 46
4.3.1 Kết quả hồi quy 46
4.3.2 Lựa chọn mô hình 48
4.4 Kiểm định khuyết tật 49
ii
Trang 7v
4.5 Kết quả hồi quy theo GLS 50
4.6 Kiểm định giả thuyết và thảo luận theo kết quả hồi quy GLS 51
4.6.1 Giả thuyết H1 về quy mô vốn chủ sở hữu-CAP 51
4.6.2 Giả thuyết H2 về quy mô cho vay-LAR 52
4.6.3 Giả thuyết H3 về tỷ lệ cho vay trên vốn huy động-LDR 53
4.6.4 Giả thuyết H4 về tỷ trọng chi phí quản lý CTI 53
4.6.5 Giả thuyết H5 về tỷ lệ lãi suất IR 54
4.6.6 Giả thuyết H6 về quy mô ngân hàng-SIZE 54
4.6.7 Giả thuyết H7 về rủi ro tín dụng-CR 54
4.6.8 Giả thuyết H8 về tốc độ tăng trưởng kinh tế-GDP 54
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý 56
5.1 Kết luận 56
5.2 Khuyến nghị 57
5.2.1 Quy mô vốn chủ sở hữu CAP 57
5.2.2 Quy mô cho vay LAR 58
5.2.3 Tỷ lệ cho vay trên nguồn vốn huy động LDR 58
5.2.4 Nâng cao hiệu quả quản lý CTI của các ngân hàng 58
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
PHỤ LỤC 1: DANH SÁCH CÁC NHTM TRONG MẪU NGHIÊN CỨU 65
PHỤ LỤC 2: DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 66
PHỤ LỤC 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 68
PHỤ LỤC 3.1: BẢNG THỐNG KÊ MÔ TẢ CÁC BIẾN 68
PHỤ LỤC 3.2: BẢNG KẾT QUẢ TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC BIẾN 68
PHỤ LỤC 3.3: BẢNG KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH HIỆN TƯỢNG ĐA CỘNG TUYẾN 69
PHỤ LỤC 3.4: BẢNG KẾT QUẢ PHÂN TÍCH HỒI QUY 70
PHỤ LỤC 3.5: BẢNG KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH HAUSMAN TEST 74
PHỤ LỤC 3.6: BẢNG KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH HIỆN TƯỢNG TỰ TƯƠNG QUAN 75
PHỤ LỤC 3.7: BẢNG KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH HIỆN TƯỢNG PHƯƠNG SAI CỦA SAI SỐ THAY ĐỔI 75
iii
Trang 8vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NHTM Ngân Hàng Thương Mại
SIZE Quy mô ngân hàng
TCTD Tổ chức tín dụng
iv
Trang 92
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề
Ngày nay, việc hội nhập vào nền kinh tế quốc tế đang là xu hướng tất yếu đối với nhiều quốc gia nhằm duy trì vị thế kinh tế và tìm môi trường để vươn lên phát triển Cùng với việc Việt Nam đã tham gia ký kết nhiều hiệp định thương mại quốc tế như Hiệp định TPP, cộng đồng kinh tế ASEAN, WTO… đã mang lại rất nhiều cơ hội cũng như thách thức cho hệ thống NHTM Việt Nam Bên cạnh những cơ hội thì cũng phát sinh nhiều thách thức cho các NHTM Việt Nam bởi vì các NHTM Việt Nam phải đối mặt với việc cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn không những với các ngân hàng trong nước mà với cả các ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam Vì vậy việc loại bỏ các ngân hàng yếu kém để thay thế bởi các ngân hàng hoạt động có hiệu quả hơn là hiện tượng tất yếu sẽ xảy ra Ngân hàng hoạt động hiệu quả, có thu nhập ổn định và không ngừng gia tăng chính là điều kiện tiên quyết để tồn tại (Nguyễn Văn Tiến, 2013) Như vậy, thu nhập đã trở thành tiêu chí quan trọng để đánh giá sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng
Thu nhập của một ngân hàng có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự tồn tại
và phát triển của ngân hàng, bên cạnh đó cũng là nền tảng để thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế đất nước thông qua việc các ngân hàng đã cung cấp các quỹ cho các nhà đầu tư cũng như cung cấp nguồn tài chính trong nước, là tổ chức trung gian với vai trò luân chuyển vốn từ chủ thể thừa vốn sang chủ thể thiếu vốn, phát huy tối đa hiệu quả lưu thông của tiền tệ
Theo Nguyễn Thị Loan (2017), thu nhập từ lãi của các ngân hàng chiếm
tỷ trọng khoảng 70% đến 90% trong tổng thu nhập hoạt động của ngân hàng trong giai đoạn 2004-2017 Con số này khá cao chứng tỏ hoạt động cho vay đang là hoạt động chủ chốt để mang lại thu nhập cho ngân hàng
1.2 Tính cấp thiết của đề tài
Trang 10Hoạt động huy động vốn và cho vay là hai hoạt động truyền thống và là hoạt động chủ yếu của các ngân hàng, trong đó hoạt động cho vay đang chiếm
tỷ trọng khá cao trên tổng nguồn vốn huy động, tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) của hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2017 là 87%, tăng 1,53%
so với so với năm 2016 (Nguyễn Minh Đức, 2017) Vì vậy thu nhập sinh ra từ chênh lệch lãi suất huy động và lãi suất cho vay chính là nguồn thu nhập chủ
yếu của các ngân hàng (Nguyễn Văn Thuận, 2017) Độ chênh lệch này được đo
bằng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM-Net Interest Margin), đây cũng là thang
đo tính hiệu quả sinh lời của ngân hàng (Rose, 1999) Hamadi & Awdeh (2012)
đã cho rằng thu nhập lãi cận biên là yếu tố rất có ý nghĩa trong việc đo lường xu hướng về lãi suất và thu nhập từ lãi giữa các ngân hàng Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên còn phản ánh cả về quy mô và tỷ lệ giữa tài sản và nợ của ngân hàng, bên cạnh đó còn bao gồm cả chi phí khi thực hiện chức năng trung gian của mình, nên thu nhập lãi cận biên luôn là một trong những tiêu chí để phản ánh mức độ hoạt động hiệu quả của một NHTM (Ugur & Erkus, 2010)
Như vậy câu hỏi đặt ra là các nhân tố nào ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên của các NHTM tại Việt Nam và mức độ ảnh hưởng đó như thế nào? Trả lời được câu hỏi đó sẽ giúp các NHTM đưa ra các chính sách phù hợp, tăng cường hiệu quả hoạt động kinh doanh, gia tăng chỉ số thu nhập lãi cận biên, đẩy mạnh hoạt động luân chuyển vốn một cách hiệu quả hơn, từ đó làm bàn đạp để kích thích sự phát triển của nền kinh tế
Trang 114
Đã có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng Tuy nhiên mỗi nghiên cứu lại có hướng nghiên cứu khác nhau Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước đây cùng với nhu cầu trong việc tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên và mức tác động của các yếu tố đó, từ đó đưa ra một số gợi ý nhằm
gia tăng thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng nên tác giả lựa chọn đề tài
“Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” để nghiên cứu Ở đề tài này, tác giả sẽ tập
trung nghiên cứu lý thuyết và các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng niêm yết ở Việt Nam Từ đó đưa ra các giải pháp nhằm gia tăng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các NHTM
1.3 Mục tiêu của đề tài
1.3.1 Mục tiêu tổng quát
Đề tài tiến hành phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên của các NHTM niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2010-2016, từ đó đưa ra các góp ý nhằm mục tiêu gia tăng thu nhập lãi cận biên của các NHTM
1.3.2 Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu tổng quát, nội dung nghiên cứu của đề tài sẽ làm rõ được các mục tiêu cụ thể như sau:
Thứ nhất: Xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên
của các NHTM niêm yết tại Việt Nam
Thứ hai: Đo lường mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến thu
nhập lãi cận biên của NHTM
Thứ ba: Đưa ra một số góp ý nhằm làm tăng mức thu nhập lãi cận biên
của NHTM
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, cần phải trả lời được các câu hỏi sau:
- Nhân tố nào ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên của các NHTM tại Việt Nam
Trang 121.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thu nhập lãi cận biên và các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên của các NHTM niêm yết tại Việt Nam
1.5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu 9 NHTM niêm yết trên sàn HOSE và
sàn HNX tại Việt Nam
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi
cận biên trong khoảng thời gian 9 năm tính từ năm 2010 đến năm 2016
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thu
nhập lãi cận biên của 9 NHTM niêm yết trên sàn HOSE và sàn HNX tại Việt Nam giai đoạn 2010-2016, vì trong giai đoạn này hệ thống NHTM Việt Nam đã trải qua cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, đang từng bước ổn định lại và
chuẩn bị cho việc hội nhập kinh tế quốc tế (Nguyễn Minh Đức, 2017), đồng thời
các ngân hàng nghiên cứu đều có quy mô hoạt động rộng lớn, nguồn vốn lớn, hiệu quả hoạt động cao và là những ngân hàng có thương hiệu tại thời điểm xem xét nghiên cứu do đó kết quả nghiên cứu sẽ có ý nghĩa hơn trong việc đưa
ra các chính sách nhằm tăng thu nhập lãi cận biên, đảm bảo được nguồn thu
nhập từ lãi của các NHTM Việt Nam
1.6 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
1.6.1 Dữ liệu nghiên cứu
Số liệu được sử dụng trong bài nghiên cứu là số liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo của NHNN, các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên, bản cáo bạch của các ngân hàng nghiên cứu trong thời gian từ năm 2010 đến năm 2016 Bên cạnh đó một số số liệu vĩ mô được thu thập từ Tổng cục thống kê và IMF
để phục vụ cho việc nghiên cứu
1.6.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 136
Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu đặt ra và trả lời câu hỏi nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp sau
Thứ nhất, phương pháp thống kê mô tả (Descriptive Statistics) được sử
dụng để nghiên cứu thực trạng về quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô cho vay, tỷ
lệ cho vay trên vốn huy động, tỷ trọng chi phí quản lý, tỷ lệ lãi suất, quy mô ngân hàng, rủi ro tín dụng, tốc độ tăng trưởng GDP và thu nhập lãi cận biên của NHTM thông qua việc kết hợp các quan sát của mẫu nghiên cứu
Thứ hai, phân tích tự tương quan (Correlation Analysis) được sử dụng
để xác định mức độ tương quan cùng chiều hay ngược chiều, tương quan mạnh hay yếu giữa biến phụ thuộc với từng biến độc lập và giữa các biến độc lập với nhau
Thứ ba, phân tích hồi quy dữ liệu bảng (Panel Regression) để xác định
mức độ tác động của các yếu tố đến thu nhập lãi cận biên của NHTM thông qua việc sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính thông thường Pooled Regression -OLS, mô hình tác động cố định Fixed-effects - FEM và mô hình tác động ngẫu nhiên Random-effects – REM Để kết luận về mức tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc, đề tài sử dụng phương pháp kiểm định F hoặc kiểm định
t và sử dụng kiểm định Hausman để lựa chọn mô hình phù hợp
Các phương pháp trên được thực hiện thông qua sự hỗ trợ của phần mềm Stata
1.7 Đóng góp của đề tài
Đề tài góp phần kiểm định, khẳng định các lý thuyết và đối sánh với các nghiên cứu thực nghiệm trước về ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên của NHTM Đề tài là nghiên cứu thực nghiệm cho trường hợp các NHTM niêm yết trên sàn HOSE và HNX trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2016, vì vậy kết quả nghiên cứu là tài liệu hữu ích cho các nhà quản trị của NHTM đưa ra định hướng, chính sách phù hợp trong việc cải thiện và gia tăng thu nhập lãi cận biên
1.8 Kết cấu luận văn
Kết cấu của luận văn gồm 5 chương
Trang 147
- Chương 1-Chương này trình bày nội dung tổng quan về vấn đề nghiên
cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và đóng góp của đề tài Từ đó có cái nhìn tổng quát về bài nghiên cứu
- Chương 2-Chương này tập trung trình bày về cơ sở lý thuyết và những
nghiên cứu thực nghiệm đã được thực hiện trước đó về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên của NHTM
- Chương 3- Trên cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm được nêu
ra ở trong chương 2, thì trong chương 3 này nêu lên phương pháp nghiên cứu, tập trung xây dựng mô hình nghiên cứu, thu thập và mô tả dữ liệu, nêu lên các giả thuyết trong mô hình
- Chương 4- Trên cơ sở đưa ra mô hình nhiên cứu và phương pháp
nghiên cứu ở chương 3, chương 4 sẽ trình bày kết quả của việc phân tích dữ liệu, kết quả phân tích ma trận tương quan của các biến giải thích, kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến, hiện tượng tự tương quan, kiểm định phương sai của sai số không đổi Từ đó chương này sẽ phân tích hồi quy tuyến tính, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu để tìm ra biến độc lập nào có ý nghĩa trong mô hình nghiên cứu và có mức độ tác động như thế nào đến biến phụ thuộc
- Chương 5- Từ kết quả được trình bày và phân tích trong chương 4, tác
giả sẽ đưa ra kết luận chính trong chương 5 cũng như nêu ra những gợi ý, đóng góp cũng như mặt còn hạn chế của bài nghiên cứu
Trang 158
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG
THỰC NGHIỆM 2.1 Cơ sở lý thuyết về thu nhập lãi cận biên và các nhân tố ảnh
hưởng đến thu nhập lãi cận biên của NHTM
2.1.1 Bản chất và ý nghĩa của thu nhập lãi cận biên
Thu nhập lãi cận biên hay còn gọi là tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) được đo bằng chênh lệch giữa thu thu nhập từ lãi cho vay và chi phí từ lãi tiền gửi trên tổng tài sản (Rose, 1999) Nó thể hiện hiệu quả trong việc điều hành của cấp quản trị trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu (nguồn thu chủ yếu từ các khoản cho vay, đầu tư và thu từ phí dịch vụ….) so với mức tăng của chi phí (chủ yếu là chi phí trả lãi cho tiền gửi, những khoản vay trên thị trường tiền tệ, tiền lương nhân viên và phúc lợi…)
Thu nhập lãi - chi phí lãi
Thu nhập lãi cận biên =
Tài sản sinh lời bình quân
Nguồn: Peter S.Rose, Quản trị ngân hàng thương mại, 1999
Theo Rose (1999) thì thu nhập lãi cận biên được tính theo kỳ hạn 1 năm,
6 tháng hoặc quý, được đo bằng đơn vị phần trăm Thu nhập từ lãi là tổng thu nhập từ các khoản cho vay, đầu tư tài chính Còn chi phí lãi chủ yếu là chi phí phát sinh từ các khoản huy động vốn Hiệu số của thu nhập từ lãi và chi phí trả lãi là thu nhập lãi thuần
Theo quy định số 06/2008/QĐ-NHNN quy định về việc xếp loại NHTM
cổ phần thì tài sản có sinh lời bình quân là tổng khoản mục tài sản “có” có khả năng sinh lời của tổ chức tín dụng bao gồm các khoản mục sau đây trên bảng cân đối kế toán hợp nhất đã được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán độc lập của NHTM cổ phần: Tiền, vàng gửi tại các tổ chức tín dụng khác và cho vay các tổ chức tín dụng khác, chứng khoáng kinh doanh, cho vay khách hàng, chứng khoán đầu tư, góp vốn, đầu tư dài hạn, bất động sản đầu tư Những tài sản nào
là tài sản có sinh lời trong kỳ sẽ được các NHTM quy ước tại bảng thuyết minh
báo cáo tài chính (Jeff Madura, 2011) Như vậy, thu nhập lãi cận biên là tỷ số
Trang 169
rất cần thiết để chúng ta tìm hiểu cách đo lường và các yếu tố ảnh hưởng bởi hai quyết định bên trong và bên ngoài như thế nào (Golin, 2001)
Ý nghĩa của chỉ số thu nhập lãi cận biên
Thu nhập lãi cận biên là một trong những thước đo quan trọng để đo lường hiệu quả tài chính, khả năng sinh lời của một ngân hàng Chỉ số này cho
ta thấy năng lực của ngân hàng trong việc đảm bảo sự tăng trưởng của các nguồn thu so với mức tăng của chi phí Thông qua chỉ tiêu này, ngân hàng sẽ kiểm soát được tài sản nào có khả năng sinh lời tốt nhất, từ đó phân bổ tài sản vào các tài sản sinh lời đó, mang lại thu nhập từ lãi vay trong kỳ tốt nhất do hoạt động huy động vốn và cho vay hiệu quả Vì vậy thu nhập lãi cận biên là tỷ
số rất quan trọng để tìm hiểu những thay đổi và xu hướng trong biên độ lãi suất
và so sánh thu nhập giữa các ngân hàng
2.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên của NHTM
Nghiên cứu của Ho và Saunders (1981) được thực hiện trước đây đã tạo nên tiền đề và cơ sở cho rất nhiều cuộc nghiên cứu sau này về thu nhập lãi cận biên Kết quả nghiên cứu của Ho và Saunders (1981) đã chỉ ra rằng thu nhập lãi cận biên phụ thuộc vào bốn yếu tố đó là: quy mô trung bình của giao dịch, mức ngại rủi ro, cấu trúc thị trường và chênh lệch giữa lãi suất cho vay-huy động Kế thừa mô hình nghiên cứu của Ho và Saunders (1981), nghiên cứu của Ugus & Erkus (2010), Hamadi & Awdeh (2012), Gounder & Sharma (2012), nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên của tác giả Nguyễn Thị
Mỹ Linh và Nguyễn Thị Ngọc Hương (2015), thì tác giả đưa ra các nhân tố để phân tích và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó đến thu nhập lãi cận biên như sau: Quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô cho vay, tỷ lệ cho vay trên vốn huy động, tỷ trọng chi phí quản lý, tỷ lệ lãi suất, quy mô ngân hàng, rủi ro tín dụng và tốc độ tăng trưởng GDP
2.2 Bằng chứng thực nghiệm
2.2.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Hamadi và Awded (2012) đã có bài phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến
thu nhập lãi cận biên của ngân hàng thương mại ở Lebanon giai đoạn
1996-2009 Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích hồi quy dữ liệu bảng và sử
Trang 1710
dụng mô hình FEM để giải thích kết quả Kết quả của nghiên cứu cho thấy thu nhập lãi cận biên khác nhau giữa các ngân hàng ngoài nước và trong nước Các yếu tố quy mô ngân hàng, khả năng thanh khoản và tỷ trọng chi phí quản lý của ngân hàng, tăng trưởng GDP, rủi ro tín dụng có mối quan hệ ngược chiều đến thu nhập lãi cận biên Mặt khác, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các nhân
tố như tốc độ tăng trưởng tiền gửi, quy mô hoạt động cho vay, lạm phát, lãi suất chiết khấu của ngân hàng trung ương, lãi suất liên ngân hàng có mối quan hệ cùng chiều với thu nhập lãi cận biên, riêng yếu tố quy mô vốn chủ sở hữu không có ý nghĩa thống kê trong mô hình Bên cạnh đó kết quả cũng cho thấy biên độ lãi suất giữa các ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài là khác nhau
Garza-Garcia (2010) có bài nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thu
nhập lãi cận biên của 14 nước đã và đang phát triển trong giai đoạn từ năm
2001 đến năm 2008 Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng với phương pháp ước lượng GMM (Generalized Method of Moments) và kết quả đã chỉ ra rằng rủi ro tín dụng, quy mô vốn chủ sở hữu, chi phí hoạt động, thanh toán lãi suất ngầm có mối quan hệ cùng chiều với thu nhập lãi cận biên, các yếu tố tỷ trọng chi phí quản lý, tỷ lệ lãi suất, tăng trường GDP có mối quan
hệ ngược chiều với thu nhập lãi cận biên Riêng các yếu tố chi phí cơ hội của dự trữ, tỷ lệ lạm phát, thuế suất, quy mô ngân hàng không có ý nghĩa thống kê trong mô hình
Gounder và Sharma (2012) nghiên cứu các yếu tố quyết định đến tỷ lệ
thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng ở Fiji, một đảo nhỏ ở quốc gia đang phát triển ở Nam Thái Bình Dương giai đoạn 2000-2010 Nghiên cứu chủ yếu dựa trên mô hình nghiên cứu của Ho và Saunders (1981) Tác giả đã sử dụng phân tích hồi quy dữ liệu bảng để kiểm định tính không đồng nhất và các giả định với ba phương pháp OLS, mô hình tác động cố định FEM và mô hình tác động ngẫu nhiên REM, sử dụng kiểm định Hausman để lựa chọn giữa mô hình FEM và REM Kết quả nghiên cứu cho thấy NIM có mối quan cùng chiều với lãi suất, chi phí hoạt động, sức mạnh thị trường và rủi ro tín dụng và có mối quan hệ ngược chiều với chất lượng quản lý và rủi ro thanh khoản, nguồn vốn
Trang 1811
của ngân hàng và chi phí cơ hội của dự trữ bắt buộc không có ý nghĩa thống kê trong mô hình nghiên cứu
Kasman & cộng sự (2010) đã nghiên cứu tác động của cải cách tài chính
lên thu nhập lãi cận biên của NHTM của các nước thành viên EU giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2006 Tác giả đã sử dụng dữ liệu bảng không cân đối với phương pháp bình phương bé nhất tổng quát GLS và dùng mô hình FEM để giải thích kết quả Kết quả đã chỉ ra rằng quy mô ngân hàng, quy mô hoạt động cho vay, tăng trường GDP và tỷ trọng chi phí quản lý có mối quan hệ ngược chiều và có ý nghĩa thống kê đến thu nhập lãi cận biên Các yếu tố chi phí hoạt động, rủi ro tín dụng, rủi ro mặc định, an toàn vốn, thanh toán lãi suất ngầm, quy mô tiền gửi có mối quan hệ cùng chiều và có ý nghĩa thống kê với thu nhập lãi cận biên
Urgur & Erkus (2010) đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ
thu nhập lãi cận biên của 22 ngân hàng thương mại ở Thổ Nhĩ Kỳ từ năm 1988 đến năm 2007 Mô hình sử dụng các biến độc lập gồm biến quy mô ngân hàng,
độ e ngại rủi ro, chất lượng tín dụng, rủi ro thanh khoản, thị phần ngân hàng, chi phí hoạt động, chi phí nhân viên, chất lượng quản lý, biến động lãi suất, tỷ lệ thâm hụt ngân sách so với GDP, tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát và biến phụ thuộc là thu nhập lãi cận biên Mô hình sử dụng phương pháp phân tích hồi quy bảng với mô hình FEM và mô hình REM, sử dụng kiểm định Hausman để lựa chọn mô hình FEM hay REM là phù hợp Kết quả nghiên cứu cho thấy thị phần của các ngân hàng và chất lượng quản lý có mối quan hệ ngược chiều với thu nhập lãi cận biên, còn chi phí hoạt động, mức ngại rủi ro, quy mô vốn chủ
sở hữu, tỷ lệ lãi suất và quy mô của ngân hàng có mối quan hệ cùng chiều với thu nhập lãi cận biên và tỷ lệ thanh khoản, chất lượng tín dụng, tăng trưởng GDP và chi phí nhân viên không có ý nghĩa thống kê Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có một yếu tố nữa cũng ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên của ngân hàng ở Thổ Nhĩ Kỳ là quốc tịch các ngân hàng: ngân hàng nước ngoài có thu nhập lãi cận biên cao hơn ngân hàng trong nước
Fungacova và Poghosyan (2009) nghiên cứu về thu nhập lãi cận biên ở
Nga giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2007 đã nhấn mạnh đặc biệt về cơ cấu sở
Trang 1912
hữu ngân hàng Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích hồi quy bảng với
mô hình FEM và REM và sử dụng kiểm định Hausman để xác định tính phù hợp của mô hình Kết quả cho thấy những tác động của các yếu tố như cấu trúc thị trường, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản là khác nhau giữa ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài Đồng thời, ảnh hưởng của chi phí hoạt động và mức ngại rủi ro là giống nhau giữa các nhóm sở hữu Kết quả cũng cho thấy quy mô ngân hàng, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản có mối quan hệ ngược chiều với thu nhập lãi cận biên Các yếu tố quy mô vốn chủ sở hữu, chi phí nhân viên có mối quan hệ cùng chiều với thu nhập lãi cận biên
Zhou &.Wong (2008) nghiên cứu về thu nhập lãi cận biên của các
NHTM ở Trung Quốc Đại Lục giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2003 đã chỉ ra rằng các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên của NHTM ở Trung Quốc gồm cấu trúc thị trường, chi phí hoạt động, mức ngại rủi ro, quy mô ngân hàng, chi phí cơ hội và hiệu quả của sự quản lý Nghiên cứu của hai tác giả đã ứng dụng mô hình của Ho và Saunder (1981) để nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích hồi quy bảng với việc dùng mô hình FEM để xác định các yếu tố ảnh hưởng Kết quả cho thấy đa số các biến độc lập có ý nghĩa thống
kê ở mức 10%, chi phí hoạt động trung bình, thanh toán lãi suất ngầm, chi phí
cơ hội dự trữ có mối quan hệ cùng chiều với thu nhập lãi cận biên và các biến mức độ ngại rủi ro, quy mô ngân hàng, quy mô hoạt động cho vay, quy mô vốn chủ sở hữu và chất lượng quản lý có mối quan hệ ngược chiều với thu nhập lãi cận biên
Maudos & Guevara (2004) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập
lãi cận biên của ngân hàng ở các nước Đức, Pháp, Anh, Ý và Tây Ban Nha trong giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2000 Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng của 1.826 ngân hàng Kết quả nghiên cứu cho thấy chi phí hoạt động trung bình, mức độ e ngại rủi ro, rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng, thanh toán lãi suất ngầm, chi phí cơ hội của dự trữ bắt buộc, quy mô vốn chủ sở hữu và quy mô hoạt động cho vay có mối quan hệ cùng chiều với thu nhập lãi cận biên, còn yếu tố chất lượng quản lý và quy mô của ngân hàng có mối quan hệ ngược chiều với thu nhập lãi cận biên của ngân hàng
Trang 2013
Maudos & Solis (2009) đã phân tích thu nhập lãi cận biên trong hệ thống
43 ngân hàng ở Mexico trong giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2005 Nghiên cứu
sử dụng mô hình FEM để phân tích Kết quả đã chỉ ra rằng chi phí hoạt động và sức mạnh thị trường có sự tác động lớn nhất đến thu nhập lãi cận biên của ngân hàng Yếu tố quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô hoạt động cho vay, chi phí hoạt động, biến động của lãi suất thị trường, thanh toán lãi suất ngầm có mối quan hệ cùng chiều với thu nhập lãi cận biên, còn các yếu tố chất lượng quản lý và thu nhập ngoài lãi có mối quan hệ ngược chiều với thu nhập lãi cận biên của ngân hàng
Doliente (2005) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến NIM cả các ngân
hàng trong các nước Đông Nam Á gồm Thái Lan, Malaysia, Indonesia và Philippines trong giai đoạn từ năm 1994 đến năm 2001 Tác giả sử dụng kế thừa
mô hình của Ho & Sauders (1981) để nghiên cứu và sử dụng mô hình hồi quy bảng, dùng mô hình FEM được sử dụng để phân tích Kết quả đã chỉ ra rằng hiệu quả quản lý chi phí, thanh toán lãi suất ngầm, quy mô vốn chủ sở hữu và quy mô ngân hàng có mối quan hệ cùng chiều với thu nhập lãi cận biên, còn các yếu tố rủi ro thanh khoản, tỷ trọng chi phí quản lý có mối quan hệ ngược chiều với thu nhập lãi cận biên Các biến kinh tế vĩ mô như lạm phát và tổng sản phẩm quốc nội có ảnh hưởng không đáng kể đến thu nhập lãi cận biên của các NHTM
Hawtrey & Liang (2008) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thu
nhập lãi cận biên của ngân hàng ở một số nước tổ chức hợp tác phát triển kinh
tế OECD trong giai đoạn từ năm 1987 đến năm 2001 đã sử dụng dữ liệu bảng gồm mô hình hồi quy kết hợp PRM, mô hình FEM và REM với phương pháp bình phương bé nhất tổng quát GLS Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng quy mô vốn chủ sở hữu, chi phí hoạt động, độ e ngại rủi ro, biến động lãi suất, rủi ro tín dụng, các khoản thanh toán lãi suất ngầm có mối quan hệ cùng chiều với thu nhập lãi cận biên của ngân hàng và các yếu tố quy mô khoản vay và chất lượng quản lý có mối quan hệ ngược chiều với thu nhập lãi cận biên của ngân hàng
Tarus & cộng sự (2012) nghiên cứu các tác động của các yếu tố đến thu
nhập lãi cận biên của các NHTM ở Keyna trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm
Trang 2114
2009 Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp hồi quy OLS và FEM để phân tích Kết quả nghiên cứu cho thấy chi phí hoạt động, rủi ro tín dụng và lạm phát có mối quan hệ cùng chiều với thu nhập lãi cận biên, còn yếu tố tăng trưởng kinh
tế và tập trung thị trường có mối quan hệ ngược chiều với thu nhập lãi cận biên
2.2.2 Các nghiên cứu trong nước
Trên thế giới có nhiều nghiên cứu nghiên cứu về thu nhập lãi cận biên và các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên, trong nước cũng đã có một số nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên như bài “Nghiên cứu thu nhập lãi cận biên của 27 ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam giai đoạn 2008-2013” của Nguyễn Thị Mỹ Linh và Nguyễn Thị Ngọc Hương (2015) bằng cách sử dụng dữ liệu bảng Tác giả đã dùng mô hình FEM để giải thích Nghiên cứu đã dùng kết hợp giữa yếu tố vĩ mô và yếu tố vi mô để đánh giá đến sự tác động đến thu nhập lãi cận biên của các NHTM Kết quả phân tích của bài viết cho thấy ở Việt Nam, các biến có tác động cùng chiều với thu nhập lãi cận biên của ngân hàng theo tác động giảm dần gồm: rủi ro tín dụng, tỷ lệ lãi suất, quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô hoạt động cho vay, quy mô ngân hàng, đồng thời tăng trưởng GDP và tỷ trọng chi phí quản lý CTI của các ngân hàng thương mại cổ phần có tác động ngược chiều đối với thu nhập lãi cận biên
Nghiên cứu của Phạm Hoàng Ân và Nguyễn Thị Ngọc Hương (2013) được nghiên cứu nhằm phân tích các yếu tố quyết định đến thu nhập lãi cận biên của các NHTM ở Việt Nam với sự nhấn mạnh đặc biệt về loại hình sở hữu của ngân hàng Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp của 30 NHTM với 150 quan sát trong giai đoạn 2008 – 2012, áp dụng phân tích hồi quy dữ liệu bảng với phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (Feasible General Least Square – FGLS) để ước lượng các hệ số hồi quy Kết quả thực nghiệm cho thấy
có sự tác động của loại hình sở hữu đến thu nhập lãi cận biên của ngân hàng, cụ thể nghiên cứu đã chỉ ra rằng thu nhập lãi cận biên của NHTM nhà nước thấp hơn NHTM cổ phần Đồng thời, quy mô hoạt động cho vay, chi phí hoạt động, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu có mối quan hệ cùng chiều và có ý nghĩa thống kê với thu nhập lãi cận biên của ngân hàng
Trang 2215
Nghiên cứu của Nguyễn Kim Thu, Đỗ Thị Thanh Huyền năm (2014) với
đề tài“Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi thuần của các ngân hàng thương mại Việt Nam” đã sử dụng phương pháp định lượng để nghiên
cứu Tác giả đã sử dụng mô hình FEM để giải thích kết quả và kết quả nghiên cứu cho thấy mức ngại rủi ro của ngân hàng, rủi ro tín dụng và chi phí lãi suất
có mối quan hệ cùng chiều và có ý nghĩa thống kê với tỷ lệ thu nhập lãi thuần Trong khi đó, chất lượng quản lý có mối quan hệ ngược chiều và có ý nghĩa thống kê với tỷ lệ thu nhập lãi thuần Biến tương tác giữa rủi ro tín dụng và rủi
ro lãi suất không có quan hệ với tỷ lệ thu nhập lãi thuần Kết quả cũng cho thấy không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê trong tỷ lệ thu nhập lãi thuần giữa các NHTM nhà nước và các NHTM cổ phần ở Việt Nam
Nghiên cứu của Đặng Thị Bích Ngọc năm 2016 “Ảnh hưởng của các nhân tố nội sinh đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2005-2014” đã sử dụng mô hình tác động cố định-FEM để phân tích kết Kết quả cho thấy các nhân tố mức ngại rủi ro, chi phí trả lãi, quy
mô hoạt động cho vay có mối quan hệ cùng chiều với tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, trong khi đó chất lượng quản lý có mối quan hệ ngược chiều với tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các NHTM Việt Nam Nhân tố rủi ro tín dụng và sở hữu nước ngoài không có ý nghĩa thống kê trong mô hình
Nghiên cứu của Trần Xuân Thọ năm 2016 với đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận biên của các ngân hàng thương mại Việt Nam” Bài nghiên cứu sử dụng phân tích hồi quy dữ liệu bảng với mô hình FEM, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố thuộc đặc điểm ngân hàng như chi phí hoạt động, chất lượng quản lý, biến thuộc nền kinh tế vĩ mô là biến tỷ lệ lạm phát có mối quan hệ cùng chiều với thu nhập lãi cận biên, biến tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ ngược chiều với thu nhập lãi cận biên
Nghiên cứu của Hoàng Vũ Chính (2017) về “Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” đã sử dụng
dữ liệu của 27 NHTM cổ phần đang hoạt động tại Việt Nam giai đoạn
2006-2016 để nghiên cứu Nghiên cứu chủ yếu dựa vào mô hình nghiên cứu của Bektas (2014), Were và Wambua (2014), tác giả đã sử dụng phương pháp ước
Trang 2316
lượng GMM để phân tích Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng chỉ có mức độ tập
trung ngành và dư nợ cho vay có tác động ngược chiều với thu nhập lãi cận biên
của các NHTM, các biến còn lại là rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro
vốn, chỉ số Lerner, hiệu quả chi phí, hiệu quả quản lý, chính sách dự trữ của
NHNN, quy mô ngân hàng, dư nợ cho vay, tăng trưởng kinh tế, lạm phát, lãi
suất có tác động cùng chiều với thu nhập lãi cận biên
Nghiên cứu của Đặng Trần Ánh Mai “Các nhân tố ảnh hưởng đến thu
nhập lãi cận biên của 24 NHTMCP giai đoạn 2008-2015” đã sử dụng phương
pháp hồi quy bảng để nghiên cứu Nghiên cứu đã chủ yếu dựa vào mô hình
nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Linh và Nguyễn Thị Ngọc Hương (2015) Kết
quả đã chỉ ra rằng các biến rủi ro tín dụng, tỷ lệ lãi suất, quy mô vốn chủ sở
hữu, quy mô cho vay và quy mô ngân hàng đều có mối quan hệ cùng chiều với
thu nhập lãi cận biên với mức ý nghĩa 1% Biến tỷ lệ cho vay trên tổng vốn huy
động có mối quan hệ cùng chiều với thu nhập lãi cận biên nhưng lại không có ý
nghĩa thống kê trong mô hình nghiên cứu của tác giả, biến tỷ trọng chi phí quản
lý có mối quan hệ ngược chiều với thu nhập lãi cận biên
2.2.3 Thảo luận các nghiên cứu trước có liên quan
Trên cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố ảnh
hưởng đến thu nhập lãi cận biên của NHTM đã khẳng định được có nhiều yếu
tố ảnh hưởng đến thu nhập lãi cận biên của NHTM Sau đây là ảnh hưởng của
các yếu tố đến thu nhập lãi cận biên của NHTM trong các nghiên cứu thực
nghiệm trước đây
Bảng 2.1 Tổng hợp một số nghiên cứu trước của các tác giả
trong và ngoài nước
Không có ý nghĩa Garza-Garcia (2010)
Trang 24Hawtrey & Liang (2008) Maudos & Guevara (2004)
3 Tốc độ tăng trưởng tiền
Hamadi và Awded (2012) Tarus & cộng sự (2012)
Không có ý nghĩa Garza-Garcia (2010)
5 Rủi ro tín dụng
Fungacova & Poghosyan (2009)
Không có ý nghĩa Urgur & Erkus (2010)
+
Garza-Garcia (2010) Gounder và Sharma (2012) Kasman & cộng sự (2010)
Hawtrey & Liang (2008)
Tarus & cộng sự (2012)
Maudos & Guevara (2004)
6 Quy mô vốn chủ sở hữu
+
Garza-Garcia (2010)
Doliente (2005) Hawtrey & Liang (2008) Maudos & Solis (2009) Urgur & Erkus (2010) Maudos & Guevara (2004)
Fungacova & Poghosyan (2009)
Không có ý nghĩa Hamadi và Awded (2012)
- Zhou &.Wong (2008)
Garza-Garcia (2010) Gounder và Sharma (2012) Kasman & cộng sự (2010) Zhou & Wong (2008) Urgur & Erkus (2010)
Maudos & Solis (2009)
Doliente (2005)
Hawtrey & Liang (2008)
Tarus & cộng sự (2012)
Trang 2518
Maudos & Guevara (2004)
8 Thanh toán lãi suất
ngầm
+
Garza-Garcia (2010) Zhou & Wong (2008) Kasman & cộng sự (2010)
Maudos & Solis (2009)
Maudos & Solis (2009) Hawtrey & Liang (2008)
Urgur & Erkus (2010)
Maudos & Guevara (2004)
Garza-Garcia (2010) Tarus & cộng sự (2012) Kasman & cộng sự (2010) Hamadi và Awded (2012)
Không có ý nghĩa Urgur & Erkus (2010)
11 Chi phí cơ hội của dự
trữ
Không có ý nghĩa Garza-Garcia (2010)
Gounder và Sharma (2012)
+ Zhou & Wong (2008)
Maudos & Guevara (2004)
12 Thuế suất Không có ý nghĩa Garza-Garcia (2010)
13 Rủi ro thanh khoản
14 Nguồn vốn của ngân
16 Chi phí nhân viên Không có ý nghĩa Urgur & Erkus (2010)
+ Fungacova & Poghosyan (2009)
17 Tỷ lệ dư nợ trên vốn huy
động
-
Hawtrey & Liang (2008) Zhou &.Wong (2008) Kasman & cộng sự (2010)
+
Maudos & Guevara (2004)
Maudos & Solis (2009)
Trang 2619
- Zhou &.Wong (2008)
Hawtrey & Liang (2008)
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
Từ các kết quả trên đã cho thấy kết quả rằng:
Thứ nhất, về quy mô vốn chủ sở hữu: Có nhiều nghiên cứu thực nghiệm
trước đây đã tìm ra được mối hệ cùng chiều giữa quy mô vốn chủ sở hữu và thu
nhập lãi cận biên đó là nghiên cứu của Doliente (2005), Fungacova &
Poghosyan (2011), Garza-Garcia (2010), Hawtrey & Liang (2008), Maudos & Guevara (2004), Maudos & Solis (2009), Saunders & Schumacher (2000), Ugur
& Erkus (2010) vì khi quy mô vốn chủ sở hữu tăng thì chi phí trả lãi sẽ ít hơn so với việc sử dụng vốn vay, do đó làm cho thu nhập lãi cận biên của ngân hàng sẽ tăng lên
Tuy nhiên nghiên cứu của Zhou & Wong (2008) đã chỉ ra rằng quy mô vốn chủ sở hữu có mối quan hệ ngược chiều với thu nhập lãi cận biên Nghiên cứu này đưa ra quan điểm rằng những ngân hàng có quy mô vốn ít thường phải
đi vay nhiều hơn các ngân hàng có quy vốn nhiều để đáp ứng nhu cầu hoạt động Do vậy nên chi phí lãi phải trả sẽ cao hơn nên thu nhập lãi cận biên sẽ giảm
Thứ hai, về quy mô cho vay: Trước đây có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng
quy mô cho vay có mối quan hệ cùng chiều với thu nhập lãi cận biên của ngân hàng như nghiên cứu của Hamadi & Awdeh (2012), Maudos & Guevara (2004), Maudos & Solis (2009) Điều này được lý giải như sau: khi ngân hàng có quy
mô cho vay càng nhiều thì thu nhập lãi cận biên của ngân hàng sẽ càng tăng
Tuy nghiên nghiên cứu Hawtrey & Liang (2008), Kasman & cộng sự (2010) và
Zhou & Wong (2008) đã đưa ra kết quả rằng quy mô cho vay có mối quan hệ ngược chiều với thu nhập lãi cận biên của ngân hàng Điều này được lý giải rằng khi ngân hàng có quy mô lớn sẽ cho vay với lãi suất thấp hơn các ngân hàng có quy mô nhỏ vì vậy thu nhập lãi cận biên của ngân hàng đó sẽ thấp hơn
Thứ ba, về tỷ lệ dư nợ vay trên vốn huy động: Phần lớn các nghiên cứu
thực nghiệm trước đây đề cho rằng tỷ lệ cho vay trên vốn huy động có mối quan
hệ cùng chiều với thu nhập lãi cận biên (Hamadi & Awdeh, 2012, Ahmad & cộng sự, 2001) Điều này được giải thích như sau khi tỷ lệ cho vay trên vốn huy
Trang 2720
động tăng lên thì chứng tỏ ngân hàng đã tận dụng tối đa nguồn tiền huy động vốn để cho vay, từ đó thu nhập sẽ tăng lên nhờ phần tăng lên của hoạt động cho vay đó Nhưng khi tỷ lệ cho vay trên vốn huy động tăng đến mức tương đối cao thì ngân hàng đang có nguy cơ gặp rủi ro về thanh khoản, vì mức tăng của dư
nợ cao hơn mức tăng của nguồn vốn huy động, lúc này các nhà quản trị sẽ thận trọng hơn trong việc mở rộng cho vay và đầu tư, lúc này lợi nhuận sẽ không tăng mà có thể còn giảm nếu đạt đến ngưỡng tối đa làm tăng thu nhập lãi cận
biên của NHTM
Thứ tư, về tỷ trọng chi phí quản lý: Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra
rằng tỷ trọng chi phí quản lý và thu nhập lãi cận biên có mối quan hệ ngược chiều với nhau như kết quả nghiên cứu của Hamadi và Awded (2012), Garza-Garcia (2010), Gounder và Sharma (2012), Urgur & Erkus (2010), Maudos & Solis (2009), Hawtrey & Liang (2008) Điều này được giải thích rằng khi hiệu quả quản lý càng cao thì nhà quản lý càng nâng cao trách nhiệm quản lý của mình làm cho chi phí thấp, tập trung vào đầu tư các tài sản có thu nhập cao hơn (Maudos & Guevara, 2004) Như vậy hiệu quả quản lý càng cao thì tỷ số CTI càng nhỏ, chi phí không cần thiết được giảm thiểu và tỷ lệ NIM càng cao (Ugur
& Erkus, 2010)
Thứ năm, về tỷ lệ lãi suất: Khi lãi suất thực tăng thì lãi suất huy động sẽ
tăng, dẫn đến ngân hàng phải tăng lãi suất cho vay để bù đắp phần lãi suất huy động tăng lên phải trả cho khách hàng Phần lớn các nghiên cứu trước đây đều đưa ra kết quả rằng tỷ lệ lãi suất có mối quan hệ cùng chiều với thu nhập lãi cận biên của NHTM, bao gồm các nghiên cứu của Hamadi & Awdeh (2012), Hawtrey & Liang (2008), Maudos & Guevara (2004), Maudos & Solis (2009), Saunders & Schumacher ( 2000), Ugur & Erkus (2010) Tuy nhiên nghiên cứu của Garza-Garcia (2010) lại đưa ra kết quả cho rằng tỷ lệ lãi suất có mối quan
hệ ngược chiều với thu nhập lãi cận biên của NHTM
Thứ sáu, về quy mô ngân hàng: Nghiên cứu của Doliente (2005) và Ugur
& Erkus (2010) đã tìm ra mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô ngân hàng với thu nhập lãi cận biên của NHTM Điều này được giải thích rằng các ngân hàng
có quy mô lớn thường có tỷ lệ nợ cao hơn, hay đòn bẩy tài chính lơn hơn các
Trang 2821
ngân hàng nhỏ do mức độ chấp nhận và quản trị rủi ro tốt hơn Từ đó có thể thấy với quy mô lớn, các ngân hàng có tiềm lực mạnh hơn vả về tài chính và về nhân lực nên có khả năng đa dạng hóa lĩnh vực kinh doanh, đa dạng trong việc cung cấp các sản phẩm trong lĩnh vực ngân hàng vì vậy thu nhập lãi cận biên sẽ cao hơn so với các ngân hàng có quy mô nhỏ
Trong khi đó nghiên cứu của Fungacova & Poghosyan (2011) và Hamadi & Awdeh (2012), Maudos & Guevara (2004), Zhou & Wong (2008) đã cho ra kết quả rằng quy mô ngân hàng và thu nhập lãi cận biên có mối quan hệ ngược chiều với nhau, khi quy mô ngân hàng tăng lên thì ngân hàng cấp tín
dụng nhiều hơn sẽ được hưởng lợi từ quy mô và tỷ suất lợi nhuận thấp hơn
Thứ bảy, về rủi ro tín dụng: Nghiên cứu của Garza-Garcia (2010),
Dolient (2005), Gounder & Sharma (2012), Kasman & cộng sự (2010), Maudos
& Guevara (2004), Maudos & Solis (2009), Tarus & cộng sự (2012) đã chỉ ra rằng rủi ro tín dụng và thu nhập lãi cận biên của NHTM có mối quan hệ cùng chiều với nhau Điều này được giải thích rằng các ngân hàng cho vay nhiều thì
có thể có rủi ro cao và họ phải trích lập nhiều dự phòng, điều này buộc họ phải tính toán lợi nhuận cao hơn để bù đắp các khoản rủi ro dự kiến, tức là có mối quan hệ cùng chiều (Garza-Garcia, 2010)
Thứ tám, về tăng trưởng GDP: Nghiên cứu của Garza-Garcia (2010),
Hamadi & Awdeh (2012), Kasman & cộng sự (2010), Tarus & cộng sự (2012)
đã chỉ ra kết quả rằng tăng trưởng GDP và thu nhập lãi cận biên của NHTM có mối quan hệ tương ngược chiều với nhau Điều này được giải thích như sau khi
có sự tăng trưởng kinh tế xảy ra thì sẽ làm tăng giá trị ròng của người đi vay, do
đó làm giảm mức thu nhập lãi cận biên Trong nền kinh tế tăng trưởng thì nguồn tiền tạo ra từ các thành phần kinh tế sẽ tăng lên, nguồn vốn huy động trong nền kinh tế sẽ tăng lên, cung vốn huy động tăng nên ngân hàng bỏ ra chi phí thấp hơn để huy động, đồng thời lãi suất cho vay giảm dẫn đến thu nhập từ lãi sẽ giảm kéo theo thu nhập lãi cận biên sẽ giảm theo và ngược lại Tuy nhiên bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của Ugur & Erkus (2010) cho rằng tăng trưởng GDP không có mối quan hệ với thu nhập lãi cận biên của NHTM do biến GDP không có ý nghĩa thống kê trong mô hình nghiên cứu của Ugur & Erkus
Trang 2922
Như vậy, các nghiên cứu được thực hiện trước đây nêu trên đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm có ý nghĩa trong việc kiểm định cơ sở lý thuyết Bên cạnh đó cũng đã gợi ý hướng thiết kế mô hình nghiên cứu của đề tài với biến phụ thuộc là thu nhập lãi cận biên của NHTM và các biến độc lập bao gồm 8 biến: Quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô cho vay, tỷ lệ cho vay trên vốn huy động, tỷ trọng chi phí quản lý, tỷ lệ lãi suất, quy mô ngân hàng, rủi ro tín dụng, tăng trưởng GDP
Trang 3023
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Chọn mẫu nghiên cứu và thu thập dữ liệu
3.1.1 Mẫu nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 8 yếu tố bao gồm: quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô cho vay, tỷ lệ cho vay trên vốn huy động, tỷ trọng chi phí quản lý,
tỷ lệ lãi suất, quy mô ngân hàng, rủi ro tín dụng, tăng trưởng GDP của 9 NHTM tại Việt Nam niêm yết trên sàn HOSE và sàn HNX giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2016 thỏa mãn điều kiện sau:
(i) Cổ phiếu của ngân hàng vẫn còn niêm yết trên thị trường tính đến thời điểm kết thúc năm tài chính 2016
(ii) Năm tài chính được tính từ ngày 01/01 cho đến ngày 31/12
(iii) Có đầy đủ báo cáo tài chính từ năm 2010 đến năm 2016
(iv) Các báo cáo tài chính được kiểm toán và có ý kiến chấp nhận hợp lý
và trung thực theo nguyên tắc trọng yếu
3.1.2 Thu thập dữ liệu
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp được lấy từ các báo cáo tài chính của các NHTM theo như phần đã đề cập tại mục 3.1.1 được chọn làm mẫu nghiên cứu: báo cáo thường niên, bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, bảng lưu chuyển tiền tệ trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm
2016 để tính các biến độc lập và biến phụ thuộc Kết quả sau khi lấy dữ liệu của
9 NHTM niêm yết giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2016 đề tài có tổng cộng tổng cộng 567 (9*9*7) quan sát
3.2 Giả thuyết nghiên cứu
3.2.1 Mô hình nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu của Ho & Saunders (1981) được xem là nghiên cứu đầu tiên về các yếu tố ảnh hưởng đến NIM của NHTM Kết quả thực nghiiệm của nghiên cứu chỉ ra rằng thu nhập cận biên phụ thuộc vào bốn yếu tố: mức ngại rủi ro, cấu trúc thị trường, quy mô trung bình của giao dịch và chênh lệch lãi suất cho vay-huy động Ho & Saunders (1981) cho rằng các ngân hàng vẫn
có lãi ngay cả khi ngân hàng hoạt động ở thị trường có sự cạnh tranh cao Mô hình nghiên cứu của Ho & Saunders (1981) được thể hiện như sau:
Trang 31R là hệ số e ngại rủi ro của ngân hàng
Q là quy mô giao dịch của ngân hàng
σ2i là biến động lãi suất
Mô hình của Ho và Saunders (1981) đã tạo tiền đề rất lớn cho các nghiên cứu sau này phát triển thêm Bên cạnh đó, dựa trên các mô hình nghiên cứu của
Ugur & Erkus (2010), Fungacova & Poghosyan (2011), Nguyễn Thị Ngọc
Hương (2005), Nguyễn Thị Mỹ Linh (2015), tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy 9 biến bao gồm 1 biến phụ thuộc là biến thu nhập lãi cận biên và 8 biến độc lập gồm các biến: quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô cho vay, tỷ lệ cho vay trên vốn huy động, tỷ trọng chi phí quản lý, tỷ lệ lãi suất, quy mô ngân hàng, rủi ro
tín dụng và tốc độ tăng trưởng GDP để nghiên cứu phục vụ cho đề tài của mình
Mô hình biểu thị mối tương quan giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập có dạng sau:
Hình 3.1: Mô hình nghiên cứu
Nguồn: Thiết kế của tác giả
NIM
CAP
CTI
IR SIZE
CR
LDR LAR
GDP
Trang 3225
Trong đó:
- CAP: quy mô vốn chủ sở hữu
- LAR: quy mô cho vay LAR
- LDR: tỷ lệ cho vay trên vốn huy động
- CTI: tỷ trọng chi phí quản lý
- IR: tỷ lệ lãi suất
- SIZE: quy mô ngân hàng
- CR: rủi ro tín dụng
- GDP: tăng trưởng GDP
3.2.2 Giải thích các biến
Thứ nhất, quy mô vốn chủ sở hữu (CAP) là biến phụ thuộc, được đo
lường bằng tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của ngân hàng Dữ liệu giá trị vốn chủ sở hữu và tổng tài sản của ngân hàng được thu thập từ bảng cân đối kế toán của ngân hàng Quy mô vốn chủ sở hữu được tính theo công thức:
Vốn chủ sở hữu
CAP =
Tổng tài sản
Thứ hai, quy mô cho vay (LAR) là biến độc lập, được đo lường bằng
tổng dư nợ cho vay trên tổng tài sản, được tính dựa vào bảng cân đối kế toán của ngân hàng, theo công thức:
Dư nợ cho vay
LAR =
Tổng tài sản
Thứ ba, tỷ lệ cho vay trên vốn huy động (LDR) là biến độc lập được đo
lường bằng tỷ số nợ trên nguồn vốn huy động, tính dựa vào bảng cân đối kế toán của ngân hàng theo công thức:
Dư nợ cho vay
LDR =
Tổng vốn huy động
Trang 3326
Thứ tư, tỷ trọng chi phí quản lý (CTI) là biến độc lập được đo lường
bằng tỷ lệ giữa chi phí hoạt động trên thu nhập hoạt động Dữ liệu được thu thập từ bảng kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng và được tính theo công thức:
Chi phí hoạt động
CTI =
Thu nhập hoạt động
Thứ năm, tỷ lệ lãi suất huy động (IR) là biến độc lập được đo lường bởi
tổng chi phí lãi trên tổng nguồn vốn huy động và được thể hiện bằng công thức:
Tổng chi phí lãi trong kỳ
IR =
Tổng nguồn vốn huy động bình quân
Thứ sáu, quy mô ngân hàng (SIZE) là biến độc lập được tính bằng
logarit của tổng tài sản Dữ liệu tổng tài sản được lấy từ bảng cân đối kế toán của ngân hàng
Thứ bảy, rủi ro tín dụng (CR) là biến độc lập được đo lường bằng tỷ số
giữa dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ cho vay Dữ liệu dự phòng rủi ro
và dư nợ cho vay được lấy từ bảng cân đối kế toán Rủi ro tín dụng được tính theo công thức sau:
Dự phòng rủi ro tín dụng
CR =
Tổng dư nợ cho vay
Thứ tám, tăng trưởng GDP (GDP) là biến độc lập được thu thập từ báo
cáo của tổng cục thống kê và được tính theo công thức:
Tăng trưởng GDP = 100% * (GDPt –GDPt-1)/GDPt-1
Trong đó t là năm nghiên cứu
Thứ chín, thu nhập lãi cận biên (NIM) là biến phụ thuộc và được đo
lường bằng tỷ số giữa hiệu số giữa thu nhập từ lãi và chi phí lãi trên tài sản sinh lời bình quân Dữ liệu thu nhập từ lãi và chi phí từ lãi được thu thập từ bảng kết quả hoạt động kinh doanh và tài sản sinh lời bình quân được thu thập từ bảng cân đối kế toán Thu nhập lãi cận biên được tính theo công thức :
Trang 3427
Thu nhập lãi - chi phí lãi
Thu nhập lãi cận biên =
Tài sản sinh lời bình quân
3.2.3 Giả thuyết nghiên cứu
Như đã đề cập ở phần trên, đề tài nghiên cứu tác động của tám nhân tố (quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô cho vay, tỷ lệ cho vay trên vốn huy động, tỷ trọng chi phí quản lý, tỷ lệ lãi suất, quy mô ngân hàng, rủi ro tín dụng và tốc độ tăng trưởng GDP) đến thu nhâp thu nhập lãi cận biên của 9 NHTM niêm yết trên sàn HOSE và HNX Căn cứ vào cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm đã được thực hiện trong và ngoài nước, đề tài đưa ra giả thuyết nghiên cứu về ảnh hưởng của 8 biến độc lập lên biến phụ thuộc như sau :
3.2.3.1 Quy mô vốn chủ sở hữu-CAP
Nguồn vốn của chủ sở hữu là số vốn mà ngân hàng không phải cam kết thanh toán Nguồn vốn của chủ sở hữu là khoản vốn ổn định và luôn được bổ sung trong quá trình phát triển của ngân hàng do nguồn vốn được hình thành từ nhiều nguồn là: vốn góp của chủ sở hữu, lợi nhuận được giữ lại, chênh lệch đánh giá lại tài sản, quỹ dự phòng tài chính
Quy mô vốn chủ sở hữu được đo bằng tỷ lệ của vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản Đây là chỉ số được đánh giá là một trong các chỉ số đánh giá mức độ lành mạnh tài chính của NHTM (Ugur & Erkus, 2010)
Một số kết quả nghiên cứu như nghiên cứu của Garza-Garcia (2010), Doliente (2005), Hawtrey & Liang (2008), Maudos & Solis (2009), Urgur & Erkus (2010), Maudos & Guevara (2004), Fungacova & Poghosyan (2009), nghiên cứu của Nguyễn Kim Thu và Đỗ Thị Thanh Huyền (2014), Nguyễn Thị
Mỹ Linh và Nguyễn Thị Ngọc Hương (2015) đã chỉ ra rằng giữa quy mô vốn chủ sở hữu và NIM của NHTM có mối quan hệ cùng chiều với nhau, khi quy
mô vốn chủ sở hữu của ngân hàng lớn nghĩa là ngân hàng đó ngại rủi ro (Shane
& Sharpe, 1985) nên sẽ hạn chế việc đi vay vốn, vì vậy chi phí trả lãi sẽ giảm nên làm cho thu nhập lãi cận biên tăng Vì vậy tác giả kỳ vọng quy mô cho vay
có mối quan hệ cùng chiều với NIM, giả thuyết nghiên cứu thứ nhất như sau:
Trang 3528
H1: Quy mô vốn chủ sỡ hữu có mối quan hệ cùng chiều với thu
nhập lãi cận biên của NHTM
3.2.3.2 Quy mô cho vay-LAR
Quy mô cho vay là tỷ lệ giữa dư nợ cho vay trên tổng tài sản của ngân hàng Quy mô cho vay càng tăng nghĩa là mức tăng của dư nợ tăng cao hơn so với mức tăng của tổng tài sản
Theo kết quả nghiên cứu của Hamadi & Awded (2012) tại Lebanon, Maudos & Fermandez de Guevara (2004), Maudos & Solis (2009) tại châu Âu
đã chỉ ra rằng giữa quy mô cho vay và NIM có mối quan hệ cùng chiều với nhau, khi quy mô cho vay tăng thì thu nhập lãi cận biên sẽ tăng và ngược lại, khi quy mô cho vay giảm thì thu nhập lãi cận biên của NHTM sẽ giảm Điều này được giải thích như sau khi quy mô cho vay tăng có nghĩa là ngân hàng đang mở rộng hoạt động, tăng cường công tác tín dụng, thu nhập từ lãi cho vay
sẽ tăng vì vậy thu nhập lãi cận biên của NHTM sẽ tăng Từ kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm trước đây, tác giả kỳ vọng quy mô cho vay có mối quan hệ cùng chiều với NIM, giả thuyết nghiên cứu thứ hai như sau:
H2: Quy mô cho vay có mối quan hệ cùng chiều với thu nhập lãi
cận biên của NHTM
3.2.3.3 Tỷ lệ cho vay trên vốn huy động-LDR
Tỷ lệ cho vay trên vốn huy động được do lường bằng tỷ lệ của dư nợ cho vay trên tiền gửi của khách hàng (Hamadi & Awdeh, 2012) Khi tỷ lệ này tăng
có nghĩa là ngân hàng đang sử dụng tối đa nguồn vốn huy động được để cho vay, tránh lãng phí nguồn tiền không sinh lời mà còn phải tốn chi phí trả lãi cho nguồn vốn huy động nguồn tiền đó Theo kết quả nghiên cứu của Hamadi & Awdeh, Ahmad & cộng sự, Maudos & Guevara (2004), Maudos & Solis (2009) thì tỷ lệ cho vay trên vốn huy động có mối quan hệ cùng chiều với NIM của NHTM Căn cứ vào kết quả của các nghiên cứu trước đây, tác giả kỳ vọng tỷ lệ cho vay trên vốn huy động có mối quan hệ cùng chiều với NIM của NHTM, và giả thuyết thứ 3 được thể hiện như sau:
H3: Tỷ lệ cho vay trên vốn huy động có mối quan hệ cùng chiều đến thu
nhập lãi cận biên của NHTM
Trang 3629
3.2.3.4 Tỷ trọng chi phí quản lý -CTI
Tỷ trọng chi phí quản lý được đo lường bằng tỷ số giữa chi phí hoạt động trên tổng thu nhập hoạt động (Klluci, 2010) và được ký hiệu bằng CTI, tỷ
lệ này càng thấp chứng tỏ hiệu quả quản lý của doanh nghiệp càng cao Hiệu quả quản lý phản ánh hiệu quả điều hành hoạt động của ngân hàng để đạt được mức chi phí thấp nhất có thể Như vậy hiệu quả quản lý càng cao thì CTI càng thấp dẫn đến NIM của NHTM càng cao vì hiệu quả quản lý cao thì khả năng giảm chi phí sẽ tăng, các nhà quản lý sẽ tập trung vào đầu tư vào các tài sản có khả năng sinh lời cao, tránh lãng phí nguồn tài nguyên (Maudos & Guevara, 2004)
Nhiều kết quả nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng tỷ trọng chi phí quản
lý và thu nhập lãi cận biên của NHTM có mối quan hệ ngược chiều với nhau như nghiên cứu của Hamadi và Awded (2012), Garza-Garcia (2010), Gounder
và Sharma (2012), Kasman & cộng sự (2010), Urgur & Erkus (2010), Zhou & Wong (2008), Maudos & Solis (2009), Doliente (2005), Hawtrey & Liang (2008), Maudos & Guevara (2004) Như vậy giả thuyết thứ tư được kỳ vọng như sau:
H4: Tỷ trọng chi phí quản lý có mối quan hệ ngược chiều đến thu nhập
lãi cận biên của NHTM
3.2.3.5 Tỷ lệ lãi suất-IR
Khi lãi suất tiền gửi tăng sẽ làm cho các ngân hàng có động thái tăng lãi suất cho vay để bù đắp phần lãi suất phải trả cho khách hàng để huy động vốn Khi lãi suất cho vay tăng thì thu nhập từ lãi sẽ tăng dẫn đến thu nhập lãi cận biên của NHTM sẽ tăng Đa số các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng tỷ lệ lãi suất có mối quan hệ cùng chiều với NIM của NHTM như kết quả nghiên cứu của Hamadi và Awded (2012), Gounder và Sharma (2012), Maudos & Solis (2009), Hawtrey & Liang (2008), Urgur & Erkus (2010), Maudos & Guevara (2004) Như vậy giả thuyết thứ năm được tác giả kỳ vọng như sau:
H5: Tỷ lệ lãi suất có mối quan hệ cùng chiều với thu nhập lãi cận biên
của NHTM
3.2.3.6 Quy mô ngân hàng-SIZE
Trang 37Theo nghiên cứu của Ugur & Erkus (2010) nghiên cứu trong phạm vi nước Thổ Nhĩ Kỳ thì quy mô ngân hàng có mối quan hệ tương cùng chiều với
tỷ lệ thu nhập lãi cận biên Điều này được giải thích như sau: khi một ngân hàng
có quy mô lớn thì việc huy động vốn sẽ dễ dàng hơn với mức lãi suất thấp, chi phí đầu vào thấp, điều này làm cho lợi nhuận từ thu và chi từ lãi tiền gửi sẽ tăng Kết quả này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Doliente (2005) Như vậy tác giả kỳ vọng quy mô ngân hàng có mối quan hệ cùng chiều với NIM và giả thuyết thứ sáu được thể hiện như sau:
H6: Quy mô ngân hàng có mối quan hệ cùng chiều với thu nhập lãi cận
kỳ vọng rằng rủi ro tín dụng và NIM có mối quan hệ cùng chiều với nhau Giả thuyết thứ bảy được thể hiện như sau:
H7: Rủi ro tín dụng có mối quan hệ cùng chiều với thu nhập lãi
cận biên của NHTM
3.2.3.8 Tăng trưởng GDP
Khi kinh tế tăng trưởng sẽ dẫn đến thị trường có điều kiện tốt hơn để tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các doanh Thu nhập của
Trang 3831
doanh nghiệp sẽ được cải thiện, nhu cầu về vốn của nền kinh tế sẽ giảm làm giảm khả năng thực hiện nghĩa vụ tài chính với các ngân hàng, đồng thời nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế tăng, lãi suất cho vay sẽ giảm để thu hút nhu cầu vay vốn từ doanh nghiệp Từ đó thu nhập lãi cận biên của NHTM sẽ có xu hướng giảm (Maria & Agoraki, 2010) Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tăng trưởng GDP và thu nhập lãi cận biên của NHTM có mối quan hệ ngược chiều với nhau như nghiên cứu của Garza-Garcia (2010), Tarus & cộng sự (2012), Kasman & cộng sự (2010), Hamadi và Awded (2012) Như vậy giả thuyết thứ tám của nghiên cứu được kỳ vọng như sau:
H8: Tốc độ tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ ngược chiều với thu nhập
lãi cận biên của NHTM
Bảng 3.1 Bảng thống kê giả thuyết nghiên cứu của các biến
trong mô hình
STT CÁC BIẾN KỲ VỌNG CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
1 SIZE + Ugur & Erkus (2010) Doliente (2005)
Garza-Garcia (2010) Doliente (2005) Maudos & Guevara (2004)
Maudos & Solis (2009) Hawtrey & Liang (2008) Urgur & Erkus (2010) Fungacova & Poghosyan (2009)
Nguyễn Kim Thu và Đỗ Thị Thanh Huyền (2014) Nguyễn Thị Mỹ Linh và Nguyễn Thị Ngọc Hương (2015)
Maudos & Guevara (2004)
Trang 3932
Maudos & Solis (2009)
Garza-Garcia (2010) Gounder và Sharma (2012)
Kasman & cộng sự (2010)
Hawtrey & Liang (2008) Tarus & cộng sự (2012) Maudos & Guevara (2004)
5
Hamadi và Awded (2012)
Garza-Garcia (2010) Gounder và Sharma (2012)
Kasman & cộng sự (2010)
Urgur & Erkus (2010) Zhou & Wong (2008) Maudos & Solis (2009) Doliente (2005)
Hawtrey & Liang (2008) Maudos & Guevara (2004)
7
Hamadi và Awded (2012)
Gounder và Sharma (2012)
Maudos & Solis (2009) Hawtrey & Liang (2008) Urgur & Erkus (2010) Maudos & Guevara (2004)
8
Garza-Garcia (2010) Tarus & cộng sự (2012) Kasman & cộng sự (2010)
Hamadi và Awded (2012)
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp
Trang 4033
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp dữ liệu bảng để thống kê và
phân tích sự tác động của 8 biến độc lập lên biến phụ thuộc là NIM
Thứ nhất, phương pháp thống kê mô tả (Descriptive Statistics) được sử
dụng để nghiên cứu thực trạng về quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô cho vay, tỷ
lệ cho vay trên vốn huy động, tỷ trọng chi phí quản lý, tỷ lệ lãi suất, quy mô ngân hàng, rủi ro tín dụng, tốc độ tăng trưởng GDP và thu nhập lãi cận biên của NHTM thông qua việc kết hợp các quan sát của mẫu nghiên cứu Bên cạnh đó, phương pháp thống kê mô tả còn cung cấp một số thông tin tổng quát về các
biến trong mô hình nghiên cứu gồm các thông tin về: giá trị trung bình (Mean),
giá trị nhỏ nhất (Mininum), giá trị lớn nhất (Maxinum), độ lệch chuẩn (Standard deviation), số quan sát (Observations)
Thứ hai, phân tích tự tương quan (Correlation Analysis) được sử dụng
để xác định mức độ tương quan cùng chiều hay ngược chiều, tương quan mạnh hay yếu giữa biến phụ thuộc với từng biến độc lập và giữa các biến độc lập với nhau Bên cạnh đó phương pháp phân tích tự tương quan còn giúp xác định việc
có xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến hay không Nếu hệ số tương quan của một cặp biến độc lập cao hơn 0.8 thì mô hình có thể gặp lỗi đa cộng tuyến nghiêm trọng (Gujarati & Porter, 2009) Theo Gujarati (2011) thì có 3 cách để xử lý hiện tượng đa cộng tuyến đó là bỏ biến có mức độ tương quan cao với biến số khác, sử dụng phương pháp phân tích thành phần chính hoặc không tác động gì Trong đó, phương pháp phân tích thành phần chính đặc biệt hiệu quả khi xử lý
mô hình có nhiều biến độc lập
Thứ ba, phân tích hổi quy dữ liệu bảng (Panel Regression) để xác định
mức độ tác động của các yếu tố đến thu nhập lãi cận biên của NHTM thông qua việc sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính thông thường Pooled Regression -OLS, mô hình tác động cố định Fixed-effects - FEM và mô hình tác động ngẫu nhiên Random-effects – REM Để kết luận về mức tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc, đề tài sử dụng phương pháp kiểm định F hoặc kiểm định
t với mức ý nghĩa 1%, 5% và 10% để xác định ý nghĩa thống kê của các biến độc lập và sử dụng kiểm định Hausman để lựa chọn mô hình phù hợp, dựa vào