1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích các rủi ro trong quy trình cắt, may tại nhà máy may 3của công ty cổ phần dệt may huế

75 288 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 767,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rủi ro có thể là mộtquá trình kiểm soát của quyết định chiến lược, có thể là một nguyên nhân của sựkhông chắc chắn trong doanh nghiệp hoặc đơn giản là rủi ro có thể được tích hợp vàotron

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

- -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Phân tích các rủi ro trong quy trình cắt, may tại nhà máy may 3của công ty Cổ phần Dệt May Huế

ThS.Nguyễn Ánh Dương Lê Thị Mỹ Hằng

Lớp: K48C – QTKD MSSV: 14K4021047

Huế, 01/2018

Đại học kinh tế Huế

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp này, ngoài nỗ lực của bản thân, tôi đãnhận được rất nhiều sự giúp đỡ và ủng hộ của các thầy cô, bạn bè và các anh chị cán

bộ tại Công ty cổ phần Dệt May Huế!

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới cán bộ giảng viên Trường Đại họcKinh tế, Đại học Huế đã nhiệt tình giúp đỡ, đóng góp ý kiến cho tôi trong quá trìnhhoàn thành đề tài này Thực sự, đó là những ý kiến đóng góp hết sức quý báu Đặc biệttôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Thạc sĩ Nguyễn Ánh Dương –người đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này

Tiếp theo, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi của tất

cả cán bộ, công nhân viên và người lao động của Công ty cổ phần Dệt May Huế (HueGarment Textile Joint Stock Company- HUEGATEX) Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơnchân thành và sâu sắc tới Nhà máy May 3 của Công ty đã tạo điều kiện thuận lợi nhất

để tôi hoàn thành kỳ thực tập và hoành thành khóa luận này

Bên cạnh đó, tôi cũng xin cảm ơn bạn bè, người thân- những người luôn đứngđằng sau tôi để cổ vũ, động viên, và tạo điều kiện để cho tôi có thể hoàn thành nghiêncứu này một cách tốt nhất có thể

Cuối cùng, mặc dù đã cố gắng nỗ lực hết mình của bản thân trong việc thựchiện nhưng khóa luận này không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Kính mong

sự góp ý và giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo để khóa luận được hoàn thiện hơn!

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ vi

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung 2

2.1 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

3.2 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

4.1 Phương pháp thu thập thông tin 3

4.1.1 Nghiên cứu tài liệu thứ cấp 3

4.1.2 Nghiên cứu tài liệu sơ cấp 3

4.2 Phương pháp xử lí và phân tích số liệu 3

5 Bố cục của khóa luận 4

PHầN II: NộI DUNG VÀ KếT QUả NGHIÊN CứU 5

CHƯƠNG 1: Cơ sở khoa học về rủi ro và quản trị rủi ro 5

1.1 Các khái niệm cơ bản về rủi ro và phân loại rủi ro 5

1.1.1 Các khái niệm cơ bản về rủi ro 5

1.1.2 Phân loại rủi ro 6

Đại học kinh tế Huế

Trang 4

1.1.2.1 Dựa vào tính chất của kết quả 6

1.1.2.2 Dựa vào khả năng chia sẻ 7

1.1.2.3 Dựa vào nguồn phát sinh rủi ro 7

1.2 Chi phí rủi ro 9

1.3 Quản trị rủi ro 10

1.3.1 Khái niệm quản trị rủi ro 10

1.3.2 Vai trò của quản trị rủi ro 11

1.4 Các loại rủi ro trong sản xuất 11

1.4.1 Rủi ro tài sản 11

1.4.2 Rủi ro nguồn nhân lực 13

1.4.3 Rủi ro thiệt hại kinh doanh 15

1.5 Quy trình đánh giá rủi ro trong doanh nghiệp 16

1.5.1 Nhận dạng, phân tích và đánh giá rủi ro 16

1.5.1.1 Nhận dạng rủi ro 16

1.5.1.2 Phân tích rủi ro 19

1.5.1.2 Đo lường rủi ro 25

1.5.2 Phương pháp kiểm soát rủi ro 28

1.5.3 Phương pháp tài trợ rủi ro 30

1.6 Tình hình thực tiễn về rủi ro và quản trị rủi ro 32

1.7 Các nguyên cứu đi trước liên quan đến đề tài 33

1.7.1 Nghiên cứu rủi ro trong quá trình sản xuất và xuất khẩu cà phê của Việt Nam – thực trạng và giải pháp của tác giả Lữ Bá Văn năm 2007 33

Đại học kinh tế Huế

Trang 5

1.7.2 Nghiên cứu quản trị rủi ro trong hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại

Việt Nam của Thạc sĩ Trần Mạnh Tiến năm 2015 35

CHƯƠNG 2: Các rủi ro trong quy trình cắt, may tại nhà máy may 3 của công ty Cổ phần Dệt may Huế 36

2.1 Khái quát về công ty Cổ phần Dệt may Huế 36

2.1.1 Giới thiệu công ty Cổ phần Dệt may Huế 36

2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển 36

2.1.3 Tầm nhìn chiến lược 38

2.1.4 Lĩnh vực kinh doanh của công ty 38

2.1.5 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lí 39

2.1.6.Tình hình lao động của công ty Cổ phần Dệt may Huế trong giai đoạn 2014 -2016 42

2.1.7 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Cổ phần Dệt may Huế trong giai đoạn 2014 – 2016 44

2.2 Giới thiệu quy trình cắt, may tại nhà máy may 3 của công ty Cổ phần Dệt may Huế 47 2.2.1 Quy trình cắt 47

2.2.2 Quá trình may 49

2.3 Nhận dạng và đánh giá các rủi ro có thể xảy ra trong quy trình cắt may của công ty Cổ phần Dệt may Huế 50

2.3.1 Nhận dạng rủi ro 51

2.3.1.1 Các rủi ro xảy ra trong quy trình cắt 51

2.3.1.2 Các rủi ro xảy ra trong quy trình may 53

2.3.1.3 Một số rủi ro khác 55

2.3.2 Đo lường mức độ rủi ro 56

Đại học kinh tế Huế

Trang 6

CHƯƠNG 3: Một số giải pháp quản trị rủi ro trong quy trình cắt, may tại nhà

máy may 3 của công ty Cổ phần Dệt May Huế 59

3.1 Định hướng phát triển của công ty Cổ phần Dệt May Huế 59

3.2 Đề xuất một số giải pháp để hạn chế, giảm thiểu rủi ro trong quy trình cắt, may tại nhà máy may 3 của công ty Cổ phần Dệt may Huế 60

PHẦN III: KếT LUậN VÀ KIếN NGHị 65

1 Kết luận 65

2 Hạn chế của đề tài 65

3 Kiến nghị đối với công ty 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Đại học kinh tế Huế

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ

Hình 1 Lưu đồ sản xuất kinh doanh 17

Hình 2 Phương pháp PEST 20

Hình 3 Mô hình SWOT 24

Hình 4 Thang bảng đánh giá Quản trị rủi ro thông minh của Deloitte 33

Sơ đồ 1 Sơ đồ tổ chức công ty Cổ phần Dệt May Huế 39

Sơ đồ 2 Quy trình cắt tại nhà máy 3 của công ty Cổ phần Dệt May Huế 47

Sơ đồ 3 Quy trình may tại nhà máy 3 của công ty Cổ phần Dệt May Huế 49

Đại học kinh tế Huế

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1 Tình hình lao động tại công ty Cổ phần Dệt May Huế giai đoạn 2014 – 2016 43Bảng 2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công cy Cổ phần Dệt May Huếgiai đoạn 2014 - 2016 45Bảng 3 So sánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh qua các năm của công ty Cổphần Dệt May Huế 46Bảng 4 Ma trận rủi ro 56Bảng 5 Chỉ tiêu đánh giá hậu quả của rủi ro và tần suất xảy ra rủi ro .57

Đại học kinh tế Huế

Trang 9

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Rủi ro xất hiện ở mọi nơi trong cuộc sống, luôn đe dọa cuộc sống của conngười Do vậy, con người luôn quan tâm và tìm cách đối phó với rủi ro Lịch sử pháttriển của xã hội gắn liên với quá trình đấu tranh, ngăn chặn rủi ro Con người đã tìm rarất nhiều cách để ngăn ngừa, xử lý rủi ro Nhưng trong quá trình phát triển của xã hộiluôn xuất hiện nhiều rủi ro mới ngày càng đa dạng và phức tạp hơn

Trong hoạt động kinh doanh, rủi ro luôn đồng hành với lợi nhuận Mọi quyếtđịnh trong kinh doanh đều được đưa ra trong điều kiện có rủi ro Rủi ro có thể là mộtquá trình kiểm soát của quyết định chiến lược, có thể là một nguyên nhân của sựkhông chắc chắn trong doanh nghiệp hoặc đơn giản là rủi ro có thể được tích hợp vàotrong các hoạt động của doanh nghiệp.Rủi ro trong hoạt động của doanh nghiệp xảy ramột cách ngẫu nhiên và khó kiểm soát Vì vậy, để đạt được thành công thì doanhnghiệp cần phải có một quy trình quản trị rủi ro hiệu quả

Tuy nhiên, vấn đề cần quan tâm ở đây là doanh nghiệp có nhận thức được tầmquan trọng của quản trị rủi ro? Nhà quản trị có nhận dạng và đánh giá được các rủi ro

mà doanh nghiệp đang gặp phải và có thể phải đối mặt trong tương lai hay không? Cóđưa ra được các biện pháp để phòng ngừa, hạn chế, giảm thiểu rủi ro? Đây là mộttrong các yếu tố quan trọng quyết định sự sống còn của doanh nghiệp

Và cũng không ngoại lệ, công ty Cổ phần Dệt may Huế (HUEGATEX), đượcthành lập từ năm 1988 đến nay, được đánh giá là một một trong những doanh nghiệp

có quy mô hoạt động lớn trong địa bàn tỉnh Thừa – Thiên Huế Chuyên sản xuất kinhdoanh, xuất nhập khẩu các sản phẩm sợi, vải dệt kim, hàng may mặc, đặc biệt là nhàmáy may của công ty với diện tích hơn 30.000 m2 gồm 50 chuyền may được trang bịcác máy móc, thiết bị hiên đại được nhập khẩu từ Nhật Bản, Đài Loan.Mọi hoạt độngsản xuất trong nhà máy điều có thể tiềm ẩn những nguy cơ gây ra rủi ro Nhận thức rõ

tầm quan trọng của vấn đề này, tôi quyết định chọn đề tài “Phân tích các rủi ro trong

quy trình cắt, may tại nhà máy may 3 của công ty Cổ phần Dệt May Huế” làm đề tài

khóa luận tốt nghiệp của mình

Đại học kinh tế Huế

Trang 10

2 Mục tiêu nghiên cứu 2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung

Phân tích các rủi ro trong quy trình cắt, may tại nhà máy may 3 của công ty Cổphần Dệt May Huế, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế, giảm thiểu các rủi ro

2.1 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

- Hệthống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quản trị rủi ro trong quytrình cắt, may

- Nhận dạng và đánh giá các rủi ro xảy ra trong quy trình cắt, may tại nhà máymay 3 của công ty Cổ phần Dệt May Huế

- Đưa ra một số giải pháp để hạn chế, giảm thiểu các rủi ro có thể xảy ra trongquy trình cắt, may tại nhà máy may 3 của công ty Cổ phần Dệt May Huế

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu

Những rủi ro trong quy trình cắt, may tại nhà máy may 3 của công ty Cổ phầnDệt May Huế

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Vì hạn chế về nguồn lực và trong quy trình may các rủi ro

trong quá trình cắt, may thường xảy ra các rủi ro có mức độ nghiêm trọng cao nên đềtài này chỉ tập trung nghiên cứu về các rủi ro trong quy trình cắt, may tại nhà máy may

3 của công ty Cổ phần Dệt May Huế

- Phạm vi thời gian:vì công ty chỉ mới thực hiện công tác quản trị rủi ro vào năm

2017 nên trong đề tài này, số liệu được thu thập trong năm 2017

- Phạm vi nội dung: tập trung vào công tác nhận dạng, phân tích và đánh giá các

rủi ro có thể xảy ra trong quá trình cắt, may tại nhà máy may 3 của công ty Cổ phầnDệt May Huế nhằm đưa ra các giải pháp để khắc phục, phòng ngừa các rủi ro đó

Đại học kinh tế Huế

Trang 11

4 Phương pháp nghiên cứu 4.1 Phương pháp thu thập thông tin 4.1.1 Nghiên cứu tài liệu thứ cấp

- Thu thập dữ diệu liên quan từ các phòng ban của công ty Cổ phần Dệt May Huế

- Thu thập, nghiên cứu các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu trên sách,báo, tạp chí, internet,

- Tham khảo các khóa luận, luận văn của các anh chị khóa trước

4.1.2 Nghiên cứu tài liệu sơ cấp

Dùng phương pháp quan sát và phỏng vấn chuyên gia để thu thập thông tin từcông nhân viên tại nhà máy may 3 của công ty Cồ phần Dệt May Huế

4.2 Phương pháp xử lí và phân tích số liệu

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Đây là phương pháp thu thập thông tin qua

sách báo, tài liệu, internet nhằm lựa chọn những khái niệm và ý tưởng cơ bản làm cơ

sở lý luận cho đề tài Những thông tin được quan tâm trong phương pháp này là cơ sở

lý thuyết liên quan đến vấn đề rủi ro trong quá trình sản xuất được đăng tải qua tài liệunghiên cứu và các khóa luận đã được bảo vệ trước đây

- Phương pháp thanh tra hiện trường: quan sát và nhận xét thực tế về tổng thể bố

trí mặt bằng, các hoạt động sản xuất diễn ra trong nhà máy để có thể nắm được quytrình sản xuất của nhà máy Từ đó, công tác nhận dạng rủi ro sẽ dễ dàng và chính xáchơn

- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia:là phương pháp sử dụng trí tuệ, khai thác ý

kiến đánh giá của các chuyên gia có trình độ cao trong lĩnh vực rủi ro để xem xét, nhậnđịnh một vấn đề, một rủi ro từ đó tìm ra giải pháp tối ưu cho vấn đề, rủi ro đó Chuyêngia ở đây có thể là nhân viên quản lí, các anh chị tổ trưởng, và cũng có thể là các anhchị công nhân giàu kinh nghiệm Sau khi nhận dạng được một số dạng rủi ro, tôi sẽ sửdụng phương pháp này để nhờ các chuyên gia đánh giá mức độ nghiêm trọng và tầnsuất xuất hiện các rủi ro đó

Đại học kinh tế Huế

Trang 12

- Phương pháp phân tích: sau khi nhận dạng được các rủi ro và lấy được ý kiến

của các chuyên gia Tôi bắt đầu phân tích và tìm nguyên nhân dẫn đến từng dạng rủi

ro, tần suất xuất hiện như thế nào? Mức độ nghiệm trọng có cao hay không? Từ đóđưa ra giải pháp cho từng dạng rủi ro

5 Bố cục của khóa luận

Bố cục của khóa luận gồm có 3 phần:

Phần I: Đặt vấn đề Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu

Chương 1: Cơ sở khoa học về rủi ro và quản trị rủi ro

Chương 2: Các rủi ro trong quy trình cắt, may tại nhà máy may 3 của công ty Cổ phầnDệt May Huế

Chương 3: Một số giải pháp quản trị rủi ro trong quy trình cắt, may tại nhà máy may 3của công ty Cổ phần Dệt May Huế

Phần III: Kết luận và kiến nghị

Đại học kinh tế Huế

Trang 13

PHầN II: NộI DUNG VÀ KếT QUả NGHIÊN CứU CHƯƠNG 1: CƠ Sở KHOA HọC Về RủI RO VÀ QUảN TRị RủI RO 1.1 Các khái niệm cơ bản về rủi ro và phân loại rủi ro

1.1.1 Các khái niệm cơ bản về rủi ro

Rủi ro là một khái niệm quen thuộc đến mức ai cũng có thể hiểu ngay mà khôngcần biết đến định nghĩa của nó Cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa thống nhất về rủi

ro, những trường phái khác nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa khácnhau Những định nghĩa này rất đa dạng, phong phú nhưng có thể chia theo 2 trườngphái sau đây: trường phái truyền thống và trường phái hiện đại

Rủi ro theo quan điểm truyền thống

“Rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy đến”, theo Từ điển Tiếng việt do

Trung tâm từ điển học Hà Nội xuất bản năm 1995

“Rủi ro là sự không may”, theo GS Nguyễn Lân, Từ điển Từ và Ngữ Tiếng việt,

1998, tr.1540

“Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm hoặc bị nguy hại, tổn thất”, theo Từ điển Oxford

– English for Advanced Learner

Trong lĩnh vực kinh doanh tác giả Hồ Diệu định nghĩa “rủi ro là sự tổn thất về tài

sản hay giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến”

Như vậy, theo quan điểm này, khái niệm rủi ro thường được hiểu là những thiệthại, mất mát, nguy hiểm, hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điềukhông chắc chắn có thể xảy ra cho con người

Rủi ro theo quan điểm hiện đại

Theo quan điểm này rủi ro không đơn thuần là những điều gây bất lợi cho chủthể mà nó còn bao hàm các kết quả ngoài dự tính của con người – có thể gây thiệt hạinhưng cũng có thể mang lại lợi ích cho chủ thể Quan điểm hiện đại về rủi ro đangđược thừa nhận rộng rãi trong các hoạt động thực tế cũng như các hoạt động nghiêncứu

Đại học kinh tế Huế

Trang 14

“Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả”, theo tác giả William & Michael

Smith trong tập Risk Management and Insurrance, 1995

“Rủi ro là những biến cố không thể đoán trước được”, theo tác giả Doherty trong

tập Coporate Risk Management

“Rủi ro là những bất trắc có thể đo lường được”, theo học giả người Mỹ, Frank

Knighttrong tập Risk and Management, 1998

“Rủi ro là một tình trạng , trong đó biến cố xảy ra trong tương lai có thể xác định

được”, theo Marilu Hurt MrCarty thuộc viện Khoa học Kỹ thuật Georgia.

Điểm chung của các định nghĩa rủi ro theo quan điểm hiện đại thể hiện trênbakhía cạnh:

- Thứ nhất, đều nhấn mạnh tính ngẫu nhiên, tính không chắc chắn về những kết

quả mang lại

- Thứ hai, các định nghĩa này không chỉ giới hạn rủi ro là gắn liền với bất lợi mà

chỉ xem rủi ro là một điều không thể đoán trước – có thể tốt hoặc có thể xấu

- Thứ ba, là quan điểm hiện đại đã gắn rủi ro với hai thuật ngữ “biến cố” và “xác

suất”, điều này có nghĩa là rủi ro cũng có thể đo lường được, đánh giá ở một mức

độ nào đó thông qua các phép toán và mô hình trong khoa học xác suất – thống kê

Tất cả những điểm này đã tạo sự khác biệt với các định nghĩa rủi ro theo quan điểmtruyền thống

1.1.2 Phân loại rủi ro

1.1.2.1 Dựa vào tính chất của kết quả

- Rủi ro thuần túy: tồn tại khi có một nguy cơ tổn thất nhưng không có cơ hội

kiếm lời, hay nói cách khác là rủi ro trên đó không có khả năng có lợi cho chủ thể

- Rủi ro suy đoán (rủi ro suy đoán, rủi ro đầu cơ): tồn tại khi có một cơ hội kiếm

lời cũng như một nguy cơ tổn thất, hay nói cách khác là rủi ro vừa có khả năng có lợi,vừa có khả năng tổn thất Khác với rủi ro thuần túy, rủi ro suy đoán có thể tác độngđến kết quả ở một trong ba trạng thái là gia tăng lợi ích, thiệt hại tổn thất hoặc không

Đại học kinh tế Huế

Trang 15

bị ảnh hưởng gì Đây là loại rủi ro gắn liền với khả năng thành bại trong hoạt động đầu

tư, kinh doanh, đầu cơ

1.1.2.2 Dựa vào khả năng chia sẻ

- Rủi ro có khả năng phân tán: là rủi ro có thể giảm bớt tổn thất thông qua những

thỏa hiệp đóng góp (như tài sản, tiền bạc) và chia sẻ rủi ro

- Rủi ro không có khả năng phân tán: là những rủi ro mà những thỏa hiệp, đóng

góp về tiền bạc hay tài sản không có tác dụng gì đến việc giảm bớt tổn thất cho nhữngngười tham gia vào quỹ đóng góp chung

- Rủi ro riêng biệt: là dạng rủi ro chỉ tác động đến một hoặc một vài chủ thể chứ

không tác động đến toàn bộ các chủ thể cho dù cùng hoạt động trong một môi trườngnhư nhau Nguyên nhân của loại rủi ro này xuất phát từ điều kiện chủ quan và kháchquan của từng chủ thể riêng biệt

- Rủi ro thị trường: là những rủi ro phát sinh từ những nguyên nhân khách quan,

ngoài tầm kiểm soát của chủ thể Khi rủi ro thị trường xuất hiện thì nó sẽ tác động đếntoàn bộ, không loại trừ đối tượng nào Tác động của rủi ro thị trường thường rất lớn,khó lường, ảnh hưởng đến cả nền kinh tế

1.1.2.3 Dựa vào nguồn phát sinh rủi ro

- Rủi ro do môi trường tự nhiên: đây là nhóm rủi ro do các hiện tượng thiên nhiên

gây ra Những rủi ro này thường dẫn đến những thiệt hại về người và của, làm chodoanh nghiệp bị tổn thất nặng nề

- Rủi ro do môi trường văn hóa: rủi ro do môi trường văn hóa là những rủi ro do

sự thiếu hiểu biết về phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lối sống, nghệ thuật, đạo đức, của dân tộc khác, từ đó dẫn đến cách hành xử không phù hợp, gây ra thiệt hại, mất mát

về thị phần, khách hàng, mất cơ hội kinh doanh Các rủi ro văn hóa đến từ hàng loạtnhững điều không nhất quán, thiếu hòa hợp giữa các mối quan hệ giữa các hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp với các yếu tố khác như: các giá trị, chuẩn mựcvăn hóa, đạo đức, các thói quen, Và trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới, toàn

Đại học kinh tế Huế

Trang 16

cầu hóa đang diễn ra khá nhanh chóng, nếu không nghiên cứu về văn hóa của dân tộckhác, nguy cơ gặp rủi ro ngay trên chính quê hương mình là khá cao.

- Rủi ro môi trường xã hội: sự thay đổi các chuẩn mực giá trị, hành vi con người,

cấu trúc xã hội, các định chế, Là một nguồn rủi ro quan trọng Loại rủi ro này có thểgây ra những hậu quả nặng nề nếu như doanh nghiệp không biết và không có sự chuẩn

bị từ trước.

- Rủi ro do môi trường chính trị: môi trường chính trị có ảnh hưởng rất lớn đến

môi trường kinh doanh Môi trường chính trị ổn định sẽ giảm thiểu rất nhiều rủi ro chodoanh nghiệp Khi một chính thể mới ra đời có thể sẽ làm đảo lộn hoạt động của nhiềudoanh nghiệp, tổ chức Trong kinh doanh quốc tế, ảnh hưởng của môi trường chính trịngày càng lớn Chỉ có những ai biết nghiên cứu kỹ, nắm vững và có chiến lược, sáchlược thích hợp với môi trường chính trị không chỉ ở nước mình mà còn ở nước đếnkinh doanh thì mới có thể gặt hái được thành công rực rỡ

- Rủi ro do môi trường luật pháp: có rất nhiều rủi ro phát sinh từ hê thống luật

pháp Luật pháp đề ra các chuẩn mực mà mọi người phải thực hiện và các biện pháptrừng phạt những ai vi phạm Luật pháp đảm bảo sự công bằng cho các doanh nghiệp,chống lại sự cạnh tranh không lành mạnh Nhưng xã hội phát triển, tiến hóa, nếu cácchuẩn mực luật pháp không phù hợp với bước tiến của xã hội thì sẽ gây ra rủi ro.Ngược lại, nếu luật pháp thay đổi quá nhiều, quá thường xuyên, không ổn định, cũnggây ra những khó khăn rất lớn Khi luật pháp thay đổi, các tổ chức, cá nhân không nắmvững thay đổi, không theo kịp những chuẩn mực mới chắc chắn sẽ gặp rủi ro

- Rủi ro do môi trường kinh tế: trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hóa nền kinh

tế thế giới, mặc dù mỗi nước có môi trường kinh tế vận động theo môi trường chínhtrị, nhưng ảnh hưởng của môi trường kinh tế chung của thế giới đến từng nước là rấtlớn Mọi hiện tượng diễn ra trong môi trường kinh tế đều ảnh hưởng trực tiếp đến hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp gây ra những rủi ro bất ổn

- Rủi ro do môi trường công nghệ - kỹ thuật, thông tin: kỹ thuật hiện đại và công

nghệ sản xuất mới làm xuất hiện một số ngành nghề mới, đòi hỏi người lao động phải

Đại học kinh tế Huế

Trang 17

được trang bị những kiến thức và kỹ năng mới Thêm vào đó nghề cũ mất đi phải cóđào tạo lại, bồi dưỡng, nâng cao trình độ và giải quyết những người dôi ra Khoa học

kỹ thuật hiện đại đã làm cho môi trường thông tin ngày càng phát triển và thông tin trởthành một nguồn lực mang tính chất sống còn đối với tổ chức

- Rủi ro do hoạt động của doanh nghiệp: rủi ro do hoạt động của doanh nghiệp

có thể xuất pháp dưới nhiều dạng như sản phẩm bị thu hồi, đình công, bãi công,

1.2 Chi phí rủi ro

- Chi phí của rủi ro: là toàn bộ thiệt hại, mất mát về người và của trong việc

phòng ngừa và hạn chế rủi ro, bồi thường tổn thất quy bằng tiền, theo Ngô QuangHưng và Cộng sự (1998)

- Chi phí tổn thất ước tính: khoản chi phí này chỉ thực sự phát sinh trong trường

hợp rủi ro đã xảy ra, tuy nhiên người ta thường ước tính trước nhằm cân nhắc hiệu quảtrong các quyết định rủi ro Chi phí tổn thất được hiểu là toàn bộ những khoản màdoanh nghiệp phải bỏ ra để khắc phục hậu quả mà rủi ro gây ra Chi phí tổn thất đượcxem là tảng băng vì nó được mọi người liên tưởng, đề cập đầu tiên khi nhắc đến chiphí rủi ro

- Chi phí ngăn ngừa tổn thất: là toàn bộ các chi phí liên quan đến việc tập huấn,

tuyên truyền, trang thiết bị kỹ thuật, những giải pháp đồng bộ trong quản trị rủi ro, nhằm ngăn chặn, phòng ngừa, tránh xảy ra những rủi ro và tổn thất

- Chi phí bồi thường tổn thất: là toàn bộ chi phí chi trả do cam kết của nhà quản

trị và thuộc trách nhiệm pháp lí của mình với người thứ ba khi gặp rủi ro mà tổn thấtxảy ra

- Chi phí chia sẻ rủi ro, tổn thất: là toàn bộ chi phí phải bỏ ra (mua bảo hiểm) để

đánh đổi lấy sự an toàn hơn Nếu gặp rủi ro mà tổn thất xảy ra thì được công ty bảohiểm bồi hoàn thiệt hại Đây là khoản chi phí khi tham gia bảo hiểm

- Chi phí cho hoạt động quản lí rủi ro cho doanh nghiệp bao gồm: chi phí nhân

công quản lí, chi phí đào tạo nghiệp vụ, chi phí xử lí sơ bộ nhằm làm cho rủi ro khôngnghiêm trọng hơn, không trở thành nguyên nhân của rủi ro tiếp theo

Đại học kinh tế Huế

Trang 18

1.3 Quản trị rủi ro 1.3.1 Khái niệm quản trị rủi ro

Trong kinh doanh mọi quyết định quản trị đều đặt trong điều kiện có tồn tại rủi

ro, và do vậy, mỗi quyết định quản trị nói chung đều có liên quan hoặc đều được tínhđến việc quản trị rủi ro Ranh giới giữa quản trị rủi ro và quản trị nói chung vì vậy khóđược phân biệt rõ ràng Chúng ta có thể tiếp cận khái niệm quản trị rủi ro dưới bốn gócđộ

Thứ nhất, xem quản trị rủi ro là một phần trong hoạt động quản trị nói chung.

Lúc này, quản trị rủi ro là một quá trình quản trị (hoạch định, tổ chức, kiểm tra và cảitiến) các nguồn lực và các hoạt động nhằm làm giảm đến mức thấp nhất các hậu quảcủa những thiệt hại gây ra cho DN với chi phí chấp nhận đuợc

Thứ hai, xem quản trị rủi ro như là quá trình ra quyết định Trong trường hợp

này, quản trị rủi ro được định nghĩa là “Quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học,

toàn diện, liên tục và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro, đồng thời tìm cách biến rủi ro thành những cơ hội thành công” (Đoàn Thị Hồng Vân,2009).

Thứ ba, nghiên cứu quản trị rủi ro trong mối quan hệ lợi ích, chi phí Lúc này

quản trị rủi ro được xem là những hoạt động nhằm từng bước làm giảm đến mức thấpnhất những chi phí về rủi ro – dưới tất cả các hình thức – và làm cực đại những lợi íchcủa rủi ro (Nguyễn Quang Thu, 1998)

Cuối cùng, có thể tiếp cận khái niệm quản trị rủi ro dưới gốc độ phạm vi xử lý rủi

ro “Quản trị rủi ro là quá trình xử lý các rủi ro thuần túy một cách có hệ thống, khoa

học và toàn diện thông qua các hoạt động nhận diện và đánh giá rủi ro, xây dựng và thực thi các kế hoạch phòng ngừa, ngăn chặn rủi ro xảy ra, thực hiện việc kiểm soát, giảm thiểu những tổn thất gây ra cho DN mỗi khi xảy ra rủi ro cũng như dự phòng về tài chính để bù đắp các tổn thất đó” (Nguyễn Thị Quy, 2006).

Đại học kinh tế Huế

Trang 19

1.3.2 Vai trò của quản trị rủi ro

- Quản trị rủi ro là hoạt động giúp nâng cao khả năng ngăn ngừa và phòng tránhrủi ro, thông qua đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

- Hạn chế, giảm thiểu những tác động bất lợi, những hậu quả phát sinh do rủi rogây ra, duy trì hoạt động ổn định cho doanh nghiệp và cho cả nền kinh tế

- Khoanh vùng tổn thất khi xảy ra rủi ro và ngăn chặn những hậu quả gián tiếpcủa rủi ro

Để phát huy vai trò của công tác quản trị rủi ro trong doanh nghiệp, nhà quản trịrủi ro phải thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

- Xây dựng các quy trình, tiêu chuẩn để phát hiện, nhận dạng các rủi ro tiềm ẩn,đặc thù của doanh nghiệp Xây dựng phương pháp đánh giá, đo lường mức độ rủi ro,xếp loại các rủi ro theo thứ tự ưu tiên để quản trị

- Đề xuất các biện pháp quản trị rủi ro cụ thể tương ứng với các dạng rủi ro Xâydựng và tổ chức thực hiện chương trình kiểm soát, ngăn chặn rủi ro, cảnh báo sớmnhững nguy cơ xảy ra rủi ro để hạn chế những tổn thất đáng tiếc

- Tư vấn cho ban giám đốc doanh nghiệp trong việc xây dựng và thực hiệnchương trình tài trợ rủi ro trong kinh doanh

1.4 Các loại rủi ro trong sản xuất 1.4.1 Rủi ro tài sản

Rủi ro tài sản là nguy cơ các loại tài sản của doanh nghiệp bị hư hỏng, bị hủyhoại một phần hay hoàn toàn làm giảm giá trị của tài sản dẫn đến tình trạng loại bỏ,không sử dụng được Rủi ro tài sản là một trong những dạng điển hình của rủi ro thuầntúy

Nhận dạng và đánh giá rủi ro tài sản:

Các giá trị chịu rủi ro (VAR): để bắt đầu hoạt động quản trị rủi ro tài sản, doanh

nghiệp phải xác định những giá trị nào có khả năng gánh chịu rủi ro Trong rủi ro tàisản, giá trị rủi ro có thể là tài sản hữu hình mà cũng có thể là tài sản vô hình

Đại học kinh tế Huế

Trang 20

Nguồn rủi ro tài sản

- Nguyên nhân từ môi trường vật chất bao gồm ảnh hưởng của thiên nhiên như:

lũ lụt, bão, các vụ nổ phá hủy hoặc làm hư hỏng tài sản

- Nguyên nhân từ môi trường xã hội, như sự lệch lạc trong hành vi cá nhân nhưtrộm cắp, tham nhũng, lừa đảo, biển thủ và sự bất cẩn, hoặc các hành vi lỗi lầm tronghành vi nhóm như: bãi công, đình công,

- Nguyên nhân từ môi trường kinh tế như: nợ xấu, tỷ giá hối đoái, lãi suất bất ổn

Đo lường thiệt hại tổn thất về tài sản: tổn thất về tài sản là những chi phí mà

doanh nghiệp bỏ ra để duy trì trạng thái sản xuất kinh doanh bình thường Có thể phânloại tổn thất tài sản thành tổn thất trực tiếp và tổn thất gián tiếp

- Chi phí tổn thất trực tiếp là những chi phí phát sinh do hậu quả trực tiếp của nómang lại

- Chi phí tổn thất gián tiếp là những chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để khắcphục nhưng không do hậu quả trực tiếp từ rủi ro mang lại

Kiểm soát – ngăn ngừa và hạn chế rủi ro tài sản: nhằm kiểm soát và giảm thiểu

những tổn thất do rủi ro tài sản gây ra, doanh nghiệp cần thực hiện một số biện phápsau:

- Ban hành các nội quy, quy trình để làm tài liệu chuẩn hóa, giúp những ngườilàm việc có đầy đủ thông tin và phương pháp làm việc thống nhất, tránh xảy ra nhữngtrường hợp rủi ro

- Huấn luyện cho nhân viên các kỹ năng làm việc cần thiết và nâng cao nhận thứccủa họ để hạn chế tối đa những sai sót, bất cập trong quá trình làm việc

- Đề cao tinh thần trách nhiệm của tất cả mọi thành viên trong doanh nghiệp

Đại học kinh tế Huế

Trang 21

trong bảo vệ tài sản.

- Ban hành quy định về trách nhiệm của từng cấp quản trị và nhân viên Khi xảy

ra rủi ro thì ai chịu ai chịu trách nhiệm? Người chịu trách nhiệm chính thì phải xử línhư thế nào?,

- Thiết lập và duy trì thường xuyên hệ thống kiểm tra giám sát và hệ thống báocáo về các hiện tượng có thể dẫn đến rủi ro tài sản

- Thiết lập hệ thống phòng chống cháy nổ và hệ thống thông tin kịp thời khi có

sự cố xảy ra như các thông tin trực tuyến, số điện thoại nóng,

Tài trợ rủi ro tài sản: với rủi ro tài sản, doanh nghiệp có thể tiến hành việc tài trợ

rủi ro bằng kỹ thuật lưu giữ tổn thất và chuyển giao rủi ro

Lưu giữ tổn thất thường được sử dụng đối với các tài sản có giá trị nhỏ hoặc cácdạng rủi ro có mức độ thiệt hại thấp

Chuyển giao rủi ro được áp dụng phổ biến đối với những tài sản có giá trị lớn vàcác dạng rủi ro có mức độ thiệt hại lớn Trong một vài trường hợp cần thiết, đối vớinhững tài sản quan trọng, doanh nghiệp nên kết hợp giữa việc tài trợ rủi ro và kiểmsoát rủi ro một cách đồng thời

1.4.2 Rủi ro nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực của tổ chức bao gồm: toàn bộ số cán bộ, công nhân, nhân viên,nhà quản trị, lao động toàn thời gian và bán thời gian, lao động theo mùa và lao độngquanh năm

Trong quản trị rủi ro, nguồn nhân lực đóng hai vai trò chính

- Thứ nhất, con người là nguồn rủi ro

- Thứ hai, con người tự biết xử lí rủi ro

Nhận dạng và đánh giá rủi ro nguồn nhân lực: rủi ro nguồn nhân lực là những

nguy cơ gây biến động về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực của một doanhnghiệp trong một khoảng thời gian nào đó

Đại học kinh tế Huế

Trang 22

Các giá trị chịu rủi ro (VAR) nguồn nhân lực bao gồm:

- Các rủi ro liên quan đến một nhân sự duy nhất trong doanh nghiệp

- Các rủi ro liên quan đến một nhóm người, một tổ hay một bộ phận cùng làmviệc trong doanh nghiệp

Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro

- Rủi ro nguồn nhân lực do các trường hợp tử vong

- Rủi ro nguồn nhân lực do các trường hợp đến tuổi nghỉ hưu

- Rủi ro nguồn nhân lực do tai nạn bệnh tật

- Rủi ro nguồn nhân lực do tình trạng bỏ việc, thôi việc, dịch chuyển nguồn nhânlực từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác

Các tổn thất do rủi ro nguồn nhân lực gây ra gồm hai dạng:

Thứ nhất là các tổn thất về giá trị do cán bộ công nhân viên đó mang lại chodoanh nghiệp

Thứ hai là các chi phí bổ sung phát sinh trong khi và sau khi rủi ro xảy ra như chiphí động viên vật chất và tinh thần cho người lao động, chi phí mai táng và phụ cấpđời sống người phụ thuộc đối với các trường hợp rủi ro tử vong,

Các phương pháp quản trị rủi ro nguồn nhân lực

- Kiểm soát rủi ro nguồn nhân lực

Có kế hoạch, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực và xây dựng một quy trình,chính sách tuyển dụng nhân lực phù hợp

Huấn luyện, bồi dưỡng, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ của mỗi cán bộ, nhânviên trong doanh nghiệp Để giảm thiểu được rủi ro nguồn nhân lực doanh nghiệp phảiđào tạo nhân lực theo hướng “giỏi một nghề, biết nhiều nghề”

Xây dựng một chính sách lương bổng và đãi ngộ nhân viên thích hợp Đây là mộtcông việc quan trọng có ý nghĩa quan trọng quyết định đến mức độ gắn kết lâu dài củanhân viên đối với doanh nghiệp

Ban hành các quy định về an toàn lao động, bố trí các bộ y tế

Đại học kinh tế Huế

Trang 23

Các hoạt động tài trợ rủi ro nguồn nhân lực sẽ bao gồm việc tài trợ rủi ro bằng

cách trang trải chi phí để mua các sản phẩm bảo hiểm bắt buộc theo quy định của phápluật hiện hành hoặc các sản phẩm bảo hiểm tự nguyện Ngoài ra, doanh nghiệp còn cóthể lựa chọn hình thức tài trợ rủi ro phi bảo hiểm bằng cách sử dụng các nguồn quỹ,các chương trình phúc lợi xã hội khác để tài trợ, bù đắp cho các rủi ro phát sinh tronglĩnh vực nhân sự

1.4.3 Rủi ro thiệt hại kinh doanh

Rủi ro thiệt hại kinh doanh còn gọi là rủi ro gián đoạn hoạt động kinh doanh làrủi ro gây ra những tổn thất cho doanh nghiệp trong trạng thái doanh thu suy giảmhoặc chi phí tăng cao do việc ngừng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong mộtkhoảng thời gian nhất định nào đó

Tùy vào đặc trưng riêng của từng doanh nghiệp mà rủi ro thiệt hại kinh doanh cóthể phát sinh ở các công đoạn khác nhau, có thể do công tác chuẩn bị nguyên liệu,công tác quản lí sản xuất, công tác quản trị thiết bị,

Rủi ro thiệt hại kinh doanh có thể bắt nguồn từ công tác quản trị, tổ chức sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp nhưng cũng có thể khởi phát từ các đối tác của doanhnghiệp như nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ, đơn vị đảm nhận vận tải,

Nguyên nhân xảy ra rủi ro thiệt hại kinh doanh thường có mối liên hệ với các dạng rủi

ro khác Có nghĩa là bất kì một dạng rủi ro nào xảy ra cũng có thể dẫn đến gián đoạntrong sản xuất và gây ra các tổn thất Các nguyên nhân phổ biến có thể xét đến như:

- Tổn thất về tài sản, thiêu hụt nguyên vật liệu, hàng hóa dự trữ dẫn đến tìnhtrạng không thể cung ứng đủ đầu vào cho quá trình sản xuất hoặc không đáp ứng hếtnhu cầu của khách hàng

- Những biến đổi khách quan từ phía thị trường nguyên liệu dẫn đến việc khanhiếm các nguồn cung gây ra gián đoạn sản xuất

- Những biến đổi trong nguồn nhân lực của doanh nghiệp gây ra tình trạng thiếuhụt hoặc không có nhân công cho sản xuất như đình công, nghỉ việc,

Bản chất kinh tế của những tổn thất, thiệt hại do gián đoạn hoạt động sản xuất

Đại học kinh tế Huế

Trang 24

- Lập bảng câu hỏi: dựa vào bảng câu hỏi để nhận dạng rủi ro

 Gặp phải các loại rủi ro nào?

 Xác định mức độ tổn thất (bao nhiêu)?

 Tần suất xuất hiện rủi ro trong một thời gian nhất định?

 Biện pháp phòng ngừa, tài trợ rủi ro?

 Kết quả đạt được?

 Rủi ro chưa xuất hiện nhưng có thể xuất hiện không? Lí do?

Từ đó đề ra phương pháp quản trị rủi ro

- Phân tích báo cáo tài chính

Bằng cách phân tích bảng tổng kết tài sản, các báo cáo hoạt động kinh doanh vàcác tài liệu bổ trợ, Criddle cho rằng nhà quản trị rủi ro có thể xác định mọi nguy cơ rủi

ro của tổ chức về tài sản, trách nhiệm pháp lí và nguồn nhân lực Bằng cách kết hợpbáo cáo này với các dự báo tài chính với dự toán ngân sáchta cũng có thể phát hiện các

Đại học kinh tế Huế

Trang 25

rủi ro trong tương lai Lý do là vì hoạt động cuối cùng rồi cũng gắn liền với tiền haytài sản.

Theo phương pháp này, từng khoản sẽ được nghiên cứu kĩ để phát hiện các rủi rotiềm năng có thể phát sinh Kết quả nghiên cứu được báo cáo cho từng tài khoản.Criddle cho rằng phương pháp này đáng tin cậy, khách quan, dựa trên số liệu sẵn có,

có thể trình bày ngắn gọn, rõ ràng và có thể dùng được cho nhà quản trị rủi ro và cácnhà tư vấn chuyên nghiệp Cũng nên lưu ý là phương pháp này không lọai trừ việcnhận dạng rủi ro suy đoán, dù Criddle không trực tiếp gợi ra Cuối cùng, ngoài việcgiúp nhận dạng rủi ro, phương pháp này cũng hữu ích cho việc đo lường và định racách quản lí tốt nhất cho các nguy cơ rủi ro

- Phương pháp lưu đồ

Đây là một phương pháp quan trọng để nhận diện rủi ro Để thực hiện phươngpháp này, trước tiên ta xây dựng một hay một dãy các lưu đồ trình bày tất cả các hoạtđộng của tổ chức, bắt đầu từ khâu nguyên liệu, nguồn năng lượng,và tất cả các đầu vàokhác từ người cung cấp, và kết thúc với thành phầm trong tay người tiêu dùng

Một quy trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể được mô tả ngắn gọn theolưu đồ hình 1.1 dưới đây

Hình 1 Lưu đồ sản xuất kinh doanh

(Nguồn: Nguyễn Ánh Dương, Bài giảng quản trị rủi ro, 2013)

- Phương pháp thanh tra hiện trường: là một việc phải làm đối với nhà quản trị

rủi ro Bằng cách quan sát các bộ phận của tổ chức và các hoạt động tiếp sau đó của

nó, nhà quản trị có thể học được rất nhiều về những rủi ro mà tổ chức có thể gặpphải

Trang 26

- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia

Phỏng vấn chuyên gia là phương pháp sử dụng trí tuệ, khai thác ý kiến đánh giácủa các chuyên gia có trình độ cao trong lĩnh vực rủi ro để xem xét, nhận định một vấn

đề, một rủi ro từ đó tìm ra giải pháp tối ưu cho vấn đề, rủi ro đó

Việc lấy được các đánh giá hay số liệu của các chuyên gia là vấn đề rất quantrọng để có thể xác định được rủi ro và mức độ rủi ro, bởi vì các thông tin này có thểxác định được những mặt nào là nguy hiểm những mặt nào là rủi ro trong quản lý Bởivậy việc phỏng vấn hay nói cách khác là khai thác thông tin từ các chuyên gia là cơ sở

để xác định các rủi ro từ thông tin sau đó chuyển nó thành các dự toán rủi ro và tìmcách giải quyết Chúng ta bắt buộc phải phụ thuộc vào các đánh giá của chuyên gia bởi

vì mỗi dự án là duy nhất, chúng ta không thể lấy các thông tin cho việc đánh giá rủi rochính xác từ dữ liệu của các dự án trước đó

Tuy nhiên, việc lấy được các thông tin từ các chuyên gia giỏi không phải là việc

dễ dàng, nó có thể bị sai lệch thông tin từ các chuyên gia khác nhau và dẫn đến việcđánh giá sai lệch các rủi ro Ngoài ra, các đánh giá này thường là các phán đoán vàchúng ta khó mà biết được đâu là phán đoán đúng cho nên việc xác định là vô cùngquan trọng Chính vì vậy, người quản lý dự án hay người phân tích rủi ro mang tínhquyết định khi lựa chọn ý kiến của các chuyên gia và chọn ra phán đoán chính xácnhất

Phỏng vấn, khai thác thông tin là phương pháp cực kỳ hữu dụng trong việc xácđịnh, tìm ra các rủi ro nhưng ngoài ra nó còn có thể sử dụng trong các quá trình khác.Khi phỏng vấn các chuyên gia, ngoàiviệc lấy thông tin từ các câu hỏi về vấn đề rủi ro,chúng ta có thể xen vào các câu hỏi liên quan khác

Khi phỏng vấn, khai thác thông tin từ các chuyên gia, chúng ta cần có 2 điều kiện tiênquyết

Đầu tiên, người phỏng vấn phải tìm hiểu, lên sẵn các câu hỏi liên quan bằng cách

nghiên cứu các chủ đề và tư duy logic qua các chương trình phỏng vấn

Đại học kinh tế Huế

Trang 27

Thứ hai, người được phỏng vấn phải là người có chuyên môn, giỏi trong các lĩnh

vực liên quan và sẵn sàng trình bày các phán đoán mang tính chuyên môn cho các nhàphân tích và quản lý

Sau cùng là thời gian hai người được phỏng vấn phải đáp ứng đủ cuộc phỏng

vấn Kết quả của cuộc phỏng vấn có thể định tính, định lượng hoặc có thể là cả 2

Qua phỏng vấn các chuyên gia, chúng ta hoàn toàn có thể phát triển một danhsách các rủi ro có thể xảy ra Ngoài ra còn có thể đưa vào hệ thống phân tích rủi ro để

có thể tính toán xác suất xuất hiện của các rủi ro này từ đó đưa vào công cụ tính toánrủi ro

Việc sử dụng kết quả phỏng vấn chuyên gia cũng đa dạng như việc các chuyêngia đã cung cấp thông tin cho chúng ta Một số thông tin trong cuộc phỏng vấn chuyêngia sẽ được sử dụng trong bảng kế hoạch rủi ro, bao gồm cả khả năng và phạm vi tácđộng của rủi ro Ngoài ra một số thông tin khác có thể phục vụ cho việc xác định cácrủi ro cơ bản của dự án Qua đó xây dựng các cấu trúc phân tích rủi ro

Tuy nhiên, hiếm khi có khi nào mà rủi ro này được giải quyết triệt để, cần thảo

luận và đưa ra cách giải quyết chính xác mới có thể ngăn chặn được rủi ro (Trần Thị

Thanh Tâm và cộng sự, Tìm hiểu phương pháp Expert interviews & Risk practice methodology, 2016).

1.5.1.2 Phân tích rủi ro

Quá trình phân tích rủi ro là một quá trình quan trọng sau khi đã có sự nhận dạngrủi ro, nhằm tìm ra nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn dến rủi ro và từ đó đề racác biện pháp phòng ngừa.Đối với các nguồn rủi ro khách nhau, ta cần áp dụng cácphương pháp phân tích khác nhau: phân tích PEST, phân tích SWOT

- Phân tích PEST

Một doanh nghiệp khi muốn tiến hành phân tích chiến lược nhằm nắm được điểmmạnh về vị thế của doanh nghiệp và hiểu được những nhân tố quan trọng bên ngoài cóthể ảnh hưởng tới vị thế đó có thể sử dụng rất nhiều phương pháp phân tích Đặc biệt,khi muốn có cái nhìn toàn cảnh về địa bàn kinh doanh mà mình đang hoạt động, các

Đại học kinh tế Huế

Trang 28

doanh nghiệp thường lựa chọn phương pháp phân tích PEST theo 4 yếu tố: Chính trị(P), Kinh tế (E), Văn hóa xã hội (S), và Môi trường công nghệ (T).

Hình 2 Phương pháp PEST

(Nguồn: Internet)

Trong khi mô hình 5 áp lực của Michael Porter đi sâu vào việc phân tích các yếu

tố trong môi trường ngành kinh doanh thì phương pháp phân tích PEST lại nghiên cứucác tác động của các yếu tố trong môi trường vĩ mô Các yếu tố đó bao gồm:

 Political Factors (Các yếu tố Chính trị- Luật pháp)

 Economics Factors (Các yếu tố Kinh tế)

 Social Factors (Các yếu tố Văn hóa- Xã hội)

 Technological Factors (Các yếu tố Công nghệ)

Đây là bốn yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành kinh tế Các yếu tố này

là các yếu tố bên ngoài của của doanh nghiệp và ngành phải chịu các tác động mà nóđem lại như một yếu tố khách quan Các doanh nghiệp dựa trên các tác động đó sẽ đưa

ra những chính sách, hoạt động kinh doanh phù hợp với mình nhất

Các yếu tố Thể chế - Luật pháp (Political Factors)

Đây là yếu tố có tầm ảnh hưởng tới tất cả các ngành kinh doanh trên một khu vựclãnh thổ, các yếu tố thể chế, luật pháp có thể ảnh hưởng đến khả năng tồn tại và phát

Trang 29

triển của bất cứ ngành nào Khi kinh doanh trên một đơn vị hành chính, các doanhnghiệp sẽ phải bắt buộc tuân theo các yếu tố thể chế luật pháp tại khu vực đó.

Yếu tố này thường phân tích các khía cạnh sau:

 Sự bình ổn: Phương pháp này sẽ phân tích sự bình ổn trong các yếu tố xung

đột chính trị, ngoại giao của thể chế luật pháp Thể chế nào có sự bình ổn cao

sẽ có thể tạo điều kiện tốt cho việc hoạt động kinh doanh Ngược lại, các thểchế không ổn định, xảy ra xung đột sẽ tác động xấu tới hoạt động kinh doanhtrên lãnh thổ của nó

 Chính sách thuế: Chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu, các thuế tiêu thụ,

thuế thu nhập sẽ ảnh hưởng tới doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp

 Các đạo luật liên quan: Luật đầu tư, luật doanh nghiệp,luật lao động, luật

chống độc quyền, chống bán phá giá

 Chính sách: Các chính sách của Nhà nước sẽ có ảnh hưởng tới doanh nghiệp.

Chúng có thể tạo ra lợi nhuận hoặc thách thức với doanh nghiệp Có thể kểđến các chính sách thương mại, chính sách phát triển ngành, phát triển kinh

tế, thuế, các chính sách điều tiết cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng

Các yếu tố Kinh tế(Economics Factors)

Các doanh nghiệp cần chú ý đến các yếu tố kinh tế cả trong ngắn hạn, dài hạn và

sự can thiệp của chính phủ tới nền kinh tế

Thông thường các doanh nghiệp sẽ dựa trên các phân tích về các yếu tố kinh tếsau để quyết định đầu tư vào các ngành, các khu vực

 Tình trạng của nền kinh tế: Bất cứ nền kinh tế nào cũng có chu kỳ, trong mỗi

giai đoạn nhất định của chu kỳ nền kinh tế, doanh nghiệp sẽ có những quyếtđịnh phù hợp cho riêng mình

 Các yếu tố tác động đến nền kinh tế Ví dụ: Lãi suất, lạm phát,

 Các chính sách kinh tế của Chính phủ Ví dụ: Luật tiền lương cơ bản, các

chiến lược phát triển kinh tế của Chính phủ, các chính sách ưu đãi cho cácngành: Giảm thuế, trợ cấp

Đại học kinh tế Huế

Trang 30

 Triển vọng kinh tế trong tương lai

Các yếu tố Văn hóa Xã hội (Social Factors)

Mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đều có những giá trị văn hóa và các yếu tố xã hộiđặc trưng, và những yếu tố này là đặc điểm của người tiêu dùng tại các khu vực đó

Những giá trị văn hóa là những giá trị làm lên một xã hội, có thể vun đắp cho xãhội đó tồn tại và phát triển Chính vì thế các yếu tố văn hóa thông thường được bảo vệhết sức quy mô và chặt chẽ, đặc biệt là văn hóa tinh thần Rõ ràng, chúng ta không thểbán xúc xích lợn tại các nước Hồi Giáo được Tuy vậy chúng ta cũng không thể phủnhận sự giao thoa văn hóa của các nền văn hóa tại nhiều quốc gia Sự giao thoa này sẽthay đổi tâm lý tiêu dùng, lối sống, và tạo ra triển vọng phát triển với các ngành

Ngay tại Việt Nam, chúng ta có thể nhận ra ngay sự giao thoa của các nền vănhóa thông qua trào lưu văn hóa Hàn Quốc đang lan rộng gần đây Ra đường, chúng ta

có thể dễ dàng nhìn thấy những cô gái ép tóc kiểu Hàn, trang điểm kiểu Hàn, ăn mặckiểu Hàn…Tất cả đều xuất phát từ làn sóng âm nhạc và phim ảnh Hàn Quốc (làn sónghallyu)

Bên cạnh văn hóa , các đặc điểm về xã hội cũng khiến các doanh nghiệp quantâm khi nghiên cứu thị trường, những yếu tố xã hội sẽ chia cộng đồng thành các nhómkhách hàng, mỗi nhóm có những đặc điểm, tâm lý, thu nhập, khác nhau, bao gồm:

 Tuổi thọ trung bình, tình trạng sức khỏe, chế độ dinh dưỡng, ăn uống

 Thu nhập trung bình, phân phối thu nhập

 Lối sống, học thức,các quan điểm về thẩm mỹ, tâm lý sống

Ở Đức trong giai đoạn hiện nay, có rất nhiều người có thu nhập cao, điều kiệnsống tốt, có khả năng trình độ và làm tại những vị trí ổn định trong xã hội Tuy nhiên,

họ thích sống độc thân, không muốn phải có trách nhiệm về gia đình, công việc sinh

Đại học kinh tế Huế

Trang 31

con đẻ cái Những yếu tố này đã khiến các doanh nghiệp của Đức nảy sinh các dịch

vụ, các câu lạc bộ, các hàng hóa dành riêng cho người độc thân

Yếu tố Công nghệ (Technological Factors)

Cả thế giới vẫn đang trong cuộc cách mạng của công nghệ, hàng loạt các côngnghệ mới được ra đời và được tích hợp vào các sản phẩm, dịch vụ Nếu như cách đây

30 năm, máy vi tính chỉ là một công cụ dùng để tính toán thì ngày nay nó đã có đủchức năng thay thế một con người làm việc hoàn toàn độc lập Trước đây, chúng ta sửdụng các máy ảnh chụp bằng phim thì hiện nay không còn nhiều hãng sản xuất phimcho máy ảnh Đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ truyền thônghiện đại đã giúp nối liền các khoảng cách về địa lý, phương tiện truyền tải

Yếu tố này có thể được phân tích dựa trên các yếu tố sau:

Đầu tư của Chính phủ, doanh nghiệp vào công tác nghiên cứu và phát triển

(R&D) Việc kết hợp giữa các doanh nghiệp và Chính phủ nhằm nghiên cứuđưa ra các công nghệ mới, vật liệu mới sẽ có tác dụng tích cực đến nềnkinh tế

Tốc độ, chu kỳ của công nghệ, tỷ lệ công nghệ lạc hậu: nếu trước đây các

hãng sản xuất phải mất rất nhiều thời gian để tăng tốc độ bộ vi xử lý lên gấpđôi thì hiện nay tốc độ này chỉ mất khoảng 2-4 năm Một bộ máy tính haychiếc điện thoại thông minh mới tinh chỉ sau nửa năm đã trở nên lạc hậu vớicông nghệ và các phần mềm ứng dụng

Ảnh hưởng của công nghệ thông tin, Internet đến hoạt động kinh doanh,

giảm chi phí liên lạc và tăng tỷ lệ làm việc từ xa

Ý nghĩa phương pháp phân tích PEST

PEST là công cụ phân tích hữu ích giúp doanh nghiệp nắm được “bức tranh lớn”

về môi trường mà doanh nghiệp đang hoạt động, từ đó nhận định những cơ hội và mối

đe dọa tiềm ẩn trong nó Việc phân tích PEST giúp doanh nghiệp thấu hiểu môi trườngkinh doanh Từ đó, doanh nghiệp có thể vạch ra kế hoạch rõ ràng và phù hợp đối vớitừng khu vực cụ thể, tận dụng tối đa những cơ hội đến với mình và giảm thiểu các mối

đe dọa và dễ dàng đối mặt với các thách thức

Đại học kinh tế Huế

Trang 32

- Phương pháp SWOT

Mô hình phân tích SWOT là một công cụ hữu dụng được sử dụng nhằm hiểu rõ

Điểm mạnh (Strengths), Điểm yếu (Weaknesses), Cơ hội (Opportunities) và Nguy cơ

(Threats) trong một dự án hoặc tổ chức kinh doanh Thông qua phân tích SWOT,doanh nghiệp sẽ nhìn rõ mục tiêu của mình cũng như các yếu tố trong và ngoài tổ chức

có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tới mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra Trongquá trình xây dựng kế hoạch chiến lược, phân tích SWOT đóng vai trò là một công cụcăn bản nhất, hiệu quả cao giúp bạn có cái nhìn tổng thể không chỉ về chính doanhnghiệp mà còn những yếu tố luôn ảnh hưởng và quyết định tới sự thành công củadoanh nghiệp

Trước tiên, SWOT có cấu trúc như sau:

S Strengths

W Weaknesses

O Oppoturnities

T Threats

Hình 3 Mô hình SWOT

(Nguồn: Internet)

SWOT được trình bày dưới dạng một ma trận gồm 2 hàng 2 cột và chia làm 4phần Mỗi phần tương ứng với những Điểm mạnh (Strengths), Điểm yếu(Weaknesses), Cơ hội (Opportunities), và Nguy cơ (Threats) Từ hình mô hình trên tacó:

- Điểm mạnh là những tác nhân bên trong doanh nghiệp mang tính tích cực hoặc

có lợi giúp bạn đạt được mục tiêu

Đại học kinh tế Huế

Trang 33

- Điểm yếu là những tác nhân bên trong doanh nghiệp mang tính tiêu cực hoặc

gây khó khăn trong việc đạt được mục tiêu của bạn

- Cơ hội là những tác nhân bên ngoài doanh nghiệp (thị trường kinh doanh, xã

hội, chính phủ…) mang tính tích cực hoặc có lợi giúp lợi đạt được mục tiêu

- Nguy cơ là những tác nhân bên ngoài doanh nghiệp (thị trường kinh doanh, xã

hội, chính phủ…) mang tính tiêu cực hoặc gây khó khăn trong việc đạt được mục tiêucủa bạn

Có thể thấy, mục đích của phân tích SWOT là nhằm xác định thế mạnh mà bạnđang nắm giữ cũng như những điểm hạn chế cần phải khắc phục Nói cách khác,SWOT chỉ ra cho bạn đâu là nơi để bạn tấn công và đâu là nơi bạn cần phòng thủ.Cuối cùng, kết quả SWOT cần phải được áp dụng một cách hợp lý trong việc đề ramột Kế hoạch hành động thông minh và hiệu quả

1.5.1.2 Đo lường rủi ro

Là quá trình xác định tổn thất từ nguy cơ cho đến mức độ của nó Đo lường rủi rocần quan tâm đến các yếu tố như: tần suất xuất hiện rủi ro, mức độ nghiêm trọng củarủi ro

- Mục tiêu và nội dung của công tác đánh giá rủi ro:

Sau khi nhận dạng được các rủi ro có thể xảy ra,doanh nghiệp cần tiến hành đánhgiá mức độ tác động của rủi ro đối với hoạt động kinh doanh, để từ đó, có thể đưa ranhững quyết định quản trị rủi ro hiệu quả

Đánh giá rủi ro là phân tích, xem xét, đo lường về các định tính và định lượngcủa các dạng rủi ro gây nên mà còn đi sâu phân tích nguyên nhân phát sinh rủi ro Yêucầu quan trọng trong hoạt động đánh giá yêu cầu rủi ro, nhà quản trị phải lượng hóa

được hai yếu tố cơ bản của rủi ro, đó là: tần xuất xảy ra và mức độ nghiêm trọng của

từng dạng rủi ro trong doanh nghiệp

Kết thúc quá trình đánh giá rủi ro, nhà quản trị phải đưa ra được danh mục rủi ro

có thể xảy ra và sắp xếp theo mức độ quan trọng đối với hoạt động kinh doanh nghiệp

Đại học kinh tế Huế

Trang 34

Đây là cơ sở quan trọng cho việc ra quyết định nên ưu tiên quản trị dạng rủi ro nàotrước và nên phân bổ nguồn lực bao nhiêu để quản trị từng dạng rủi ro một cách hiệuquả.

Công cụ và kỹ thuật lượng tính về rủi ro có thể sử dụng:

- Sử dụng lý thuyết xác suất:

Xuất phát từ các đặc điểm của rủi ro như tính chất ngẫu nhiên, tính khách quan,tính không chắc chắn, nên dưới góc độ tiếp cận từ khoa học xác suất thống kê toán,rủi ro được quan niệm là một biến cố ngẫu nhiên đó

Trong kinh doanh, các hiện tượng rủi ro thường có mối liên hệ tác động qua lạilẫn nhau Vì vậy, khi tính toán xác suất xảy ra rủi ro cần chú ý đến các trường hợp sau:

 Xác suất đồng thời: là xác suất để hai biến cố đều xảy ra một cách đồng thời.

Trong trường hợp này, khi doanh nghiệp gặp phải rủi ro A thì chắc chắn sẽ gặprủi ro B

 Xác suất thay thế: là xác suất để xảy ra ít nhất một trong hai biến cố Trong

trường hợp này, nếu doanh nghiệp đang đối mặt với hai điều kiện rủi ro A và Bthì doanh nghiệp sẽ gặp phải ít nhất một trong hai rủi ro này

- Sử dụng các đại lượng thống kê

Khi quan niệm rủi ro là một biến cố ngẫu nhiên thì khả năng xuất hiện và mức độnghiêm trọng của rủi ro được đặc trưng bởi các đại lượng thống kê như giá trị trungbình, phương sai, độ lệch chuẩn, hệ số biến thiên,

Giá trị trung bình

Giá trị trung bình là một đại lượng thống kê đặc trưng cho độ lớn của kết quả kỳvọng Thông thường, trong kinh doanh, người ta thường xác định giá trị trung bình củacác chỉ tiêu kết quả và mong muốn giá trị trung bình càng lớn càng tốt (ví dụ như năngsuất lao động trung bình của các nhóm công nhân, doanh thu trung bình của các mặthàng, lợi nhuận trung bình của các phương án kinh doanh, )

Đại học kinh tế Huế

Trang 35

Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp người ta dùng đại lượng này để tính toáncác tác động trong rủi ro thuần túy như giá trị tổn thất trung bình, giá trị các khoảnphải thu khó đòi bình quân hàng năm, và lúc đó, doanh nghiệp có xu hướng mongmuốn giá trị trung bình càng nhỏ càng tốt.

Phương sai và độ lệch chuẩn Phương sai (còn gọi là độ lệch bình phương) là một đại lượng trung bình của

bình phương các khoản chênh lệch giữa các giá trị quan sát so với các giá trị trungbình của đại lượng đó

Độ lệch chuẩn (ký hiệu là δ) là căn bậc hai cảu độ lệch bình phương Độ lệchchuẩn là chỉ tiêu phản ánh chính xác nhất mức độ phân tán của phân phối xác suất Độlệch chuẩn càng nhỏ, phân phối xác xuất càng thu hẹp và do đó, điều kiện kinh doanhcàng ít rủi ro Ngược lại, nếu độ lệch chuẩn càng lớn thì phân phối xác suất càng rờirạc và do đó, điều kiện kinh doanh càng rủi ro

Hệ số biến thiên

Hệ số biến thiên là chỉ tiêu phản ánh mức chuẩn rủi ro trên một đơn vị lợi nhuậnhoặc tổn thất Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy độ lệch chuẩn đem chia cho giá trịtrung bình của đại lượng quan sát Hệ số biến thiên càng thấp thì điều kiện kinh doanhcàng ítrủi ro

- Phân tích và dự báo xu hướng

Thực chất của phương pháp này là dựa vào số liệu thống kê về các hiện tượng rủi

ro đã xảy ra trong quá khứ, liệt kê thành một dãy số thời gian (hoặc theo sản lượng)sau đó, dùng phương trình toán học (thông thường và đơn giản nhất là đường thẳng) để

dự báo một chỉ tiêu nào đó của rủi ro trong tương lai

Khi biểu hiện dãy số thống kê liên hệ trục tọa độ để theo dõi mức độ biến thiêntheo thời gian ta sẽ được đồ thị đường thực tế Mục đích của việc phân tích và dự báo

là phải xác định một xu hướng sao cho tổng sai lệch giữa đường thực tế và đường xuhướng là bé nhất

Đại học kinh tế Huế

Trang 36

Khi dự báo xu hướng bằng phương trình đường thẳng, phương trình tổng quát sẽlà:

y = ax + b

Phương trình đường thẳng là phương trình cơ bản nhất trong phương pháp phântích dự báo xu hướng, ngoài ra còn rất nhiều dạng phương trình khác

- Sử dụng thang điểm đánh giá

Ngoài các phương pháp định lượng được áp dụng trong quản trị rủi ro như đãđược trình bày trên đây, người ta còn sử dụng thang điểm đánh giá mức độ rủi ro như

là một căn cứ để so sánh mức độ tác động của các dạng rủi ro trong doanh nghiệp.Việc đánh giá rủi ro bằng thang điểm thể hiện mức độ quan tâm của chủ thể đối vớitừng dạng rủi ro một cách tổng thể, không có sự đánh giá tách biệt các thành phần củarủi ro như mức độ nghiêm trọng và tần suất xuất hiện

Thông thường, người ta đánh giá thang điểm từ thấp đến cao Với những rủi rođiểm đánh giá cao thì nguy cơ rủi ro càng lớn Hạn chế của phương pháp này là việcđánh giá rủi ro bằng thang điểm luôn mang tính chủ quan, tùy thuộc rất lớn vào kinhnghiệm tác nghiệp và quan điểm của nhà quản trị Vì vậy, để sử dụng thang điểm cómức độ ý nghĩa cao người ta thường kết hợp phương pháp này với phương phápchuyên gia hoặc sử dụng dịch vụ từ các tổ chức tư vấn chuyên nghiệp, có uy tín và amhiểu tình hình kinh doanh của doanh nghiệp

1.5.2 Phương pháp kiểm soát rủi ro

Kiểm soát rủi ro là việc sử dụng tổng hợp các chiến lược, các chương trình hànhđộng, các kỹ thuật, nhằm ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu những tác động không

mong đợi của rủi ro đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (Nguyễn Ánh

Dương, Bài giảng quản trị rủi ro, 2013).

Có 2 kỹ thuật phổ biến được sử dụng trong kiểm soát rủi ro, đó là:

- Né tránh rủi ro

Đại học kinh tế Huế

Trang 37

Như đúng tên gọi của nó, né tránh rủi ro là kỹ thuật quản trị rủi ro mà trong đócác nhà quản trị tìm cách phát hiện các hoạt động có khả năng phát sinh rủi ro để tránhcho doanh nghiệp không tham gia vào, nhờ vậy doanh nghiệp không phải đối mặt với

rủi ro (Nguyễn Ánh Dương, Bài giảng quản trị rủi ro, 2013).

Khi sử dụng kỹ thuật né tránh rủi ro có nghĩa là doanh nghiệp sẽ không tham giahoặc ngừng tiến hành những hoạt động có nguy cơ rủi ro cao để loại trừ những tổnthất, thiệt hại có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Đây là biện pháp khá đơn giản, triệt để và chi phí thấp, tuy nhiên có một số hạnchế:

 Rủi ro và lợi ích tồn tại song song, vì vậy, nếu né tránh rủi ro cũng đồngnghĩa là có thể đánh mất đi lợi ích thu được từ tài sản và hoạt động đó

 Rủi ro và bất định cùng tồn tại trong mọi hoạt động của con người Vì vậy,nếu né tránh rủi ro này chúng ta có thể gặp rủi ro khác

 Rủi ro là một yếu tố ngẫu nhiên, ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp, vìvậy, chúng ta không thể né tránh hết tất cả các rủi ro, nói cách khác sẽ cónhững rủi ro doanh nghiệp không biết trước để né tránh

- Kiểm soát tổn thất: là những kỹ thuật làm giảm đến mức tối đa các tác động

của rủi ro đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp(Nguyễn Ánh Dương, Bài giảng

quản trị rủi ro, 2013) Kiểm soát tổn thất được thực hiện ở hai cấp độ, đó là ngăn ngừa

rổn thất và suy giảm tổn thất

Ngăn ngừa tổn thất: đây là biện pháp tác động vào nguyên nhân gây ra rủi ro

nhằm làm giảm tần suất xảy ra tổn thất ở mức độ thấp nhất có thể

Suy giảm tổn thất: đây là các biện pháp, các nỗ lực của doanh nghiệp nhằm

làm giảm mức độ nghiêm trọng của tổn thất một khi đã xảy ra rủi ro Có haihình thức suy giảm tổn thất được sử dụng đó là phân tán rủi ro và đa dạng

hóa rủi ro.

Đại học kinh tế Huế

Ngày đăng: 29/01/2019, 22:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm