1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về xử lý tài sản của doanh nghiệp phá sản của lào và việt nam dưới góc độ so sánh

89 162 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 621,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

uận văn tập trung nghiên cứu những quy định của Luật phá sản Lào năm 1994 và Luật Phá sản Việt Nam năm 2014 về chủ thể tham gia XLTS; xác định tài sản của doanh nghiệp bị TBPS; XLTS và thứ tự phân chia tài sản; thủ tục xử lý các loại tài sản của doanh nghiệp bị TBPS dưới góc độ so sánh, để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai đạo Luật phá sản này.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

CHANHSAMONE SOUNNALATH

PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP PHÁ SẢN CỦA LÀO VÀ VIỆT NAM

DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành : Luật Kinh tế

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN VIẾT TÝ

HÀ NỘI - NĂM 2016

Trang 2

Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo Trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa sau Đại học và Khoa Luật Kinh tế đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu chương trình thạc sĩ luật học tại trường.

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình đến người hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn Viết Tý, người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động viên, quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày…tháng…năm 2016

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Chanhsamone SOUNNALATH

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng cá nhân tôi Mọi tài liệu, số liệu trong luận văn là khách quan, trung thực Những kết quả, những đánh giá trong luận văn chưa được ai công bố ở bất kỳ một công trình nghiên cứu khoa học nào.

Trang 4

CHDCND : Cộng hòa dân chủ nhân dânCHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Trang 5

1.2 Khái quát về xử lý tài sản của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản 151.2.1 Xử lý tài sản của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản 151.2.2 Vai trò của hoạt động xử lý tài sản của doanh nghiệp bị tuyên bố phá

2.3 So sánh quy định về xử lý tài sản và thứ tự phân chia tài sản của

2.4 So sánh thủ tục xử lý các loại tài sản của doanh nghiệp phá sản 49

Trang 6

2.4.2 Thu hồi và quản lý tài sản 51

3.1 Một số bất cập, hạn chế về xử lý tài sản của doanh nghiệp phá sản

3.1.1 Một số hạn chế, bất cập trong quy định về chủ thể tham gia xử lý tài

3.1.2 Một số hạn chế, bất cập trong quy định về xác định tài sản của doanh

3.1.3 Một số hạn chế, bất cập trong quy định về nghĩa vụ tài sản và thứ tự

3.1.4 Một số hạn chế, bất cập trong quy định về thủ tục xử lý tài sản của

3.2 Một số bài học kinh nghiệm của Việt Nam trong hoàn thiện các quy định về xử lý tài sản của doanh nghiệp phá sản rút ra từ việc so sánh 673.2.1 Kinh nghiệm về xây dựng địa vị pháp lý của các chủ thể trong xử lý

3.2.2 Kinh nghiệm về cách xác định tài sản của doanh nghiệp phá sản 693.2.3 Kinh nghiệm về xử lý tài sản và thứ tự phân chia tài sản của doanh

Trang 7

xử lý tài sản của doanh nghiệp phá sản 723.3.2 Các giải pháp về hoàn thiện về xác định tài sản của doanh nghiệp phá

3.3.3 Các giải pháp về hoàn thiện các quy định về nghĩa vụ tài sản và thứ

tự phân chia tài sản của doanh nghiệp phá sản 763.3.4 Các giải pháp về hoàn thiện các quy định về thủ tục xử lý tài sản của

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phá sản là hiện tượng hình thành, tồn tại tất yếu trong nền kinh tế thị trường Đây là một hiện tượng kinh tế phát sinh khi các doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ kéo dài và rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản

tế phù hợp về xây dựng và hoàn thiện pháp luật phá sản Việc ban hành Luật Phá sản năm 2014, trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh hội nhập quốc tế đã chứng

tỏ vai trò của pháp luật phá sản đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đang thực hiện

Nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (CHDCND Lào) là quốc gia còn có

hệ thống pháp luật chưa phát triển, lịch sử lập hiến, lập pháp còn non trẻ do thiếu kinh nghiệm trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật Luật phá sản năm

1994 là luật phá sản đầu tiên của nước CHDCND Lào và cũng là duy nhất cho đến nay được ban hành Sau hơn 20 năm thực hiện, đã bộc lộ rất nhiều hạn chế

so với sự phát triển của nền kinh tế thị trường Lào hiện nay Một trong những bất cập, hạn chế lớn đó chính là các quy định về xử lý tài sản (XLTS) của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản (TBPS) trong Luật Phá sản năm 1994 còn đơn giản, chưa thể hiện đúng bản chất của hoạt động XLTS và quan trọng nhất là chưa đáp ứng được đòi hỏi của nền kinh tế - xã hội hiện nay ở Lào

Kinh nghiệm lập pháp, lập hiến là một hạn chế dẫn đến Luật Phá sản năm

1994 chưa được sửa đổi bổ sung Với tư cách là một quốc gia có điểm tương đồng về hệ thống chính trị, quan điểm xây dựng và hoàn thiện pháp luật, điều kiện kinh tế - xã hội - văn hóa, những quy định của hiện hành của Việt Nam về XLTS của doanh nghiệp bị TBPS sẽ là kinh nghiệm không hề nhỏ cho việc xây

Trang 9

dựng và hoàn thiện quy định pháp luật về XLTS của doanh nghiệp bị TBPS ở nước CHDCND Lào trong thời gian tới

Để có thể đúc rút ra kinh nghiệm xây dựng và hoàn thiện quy định pháp luật về XLTS của doanh nghiệp bị TBPS cho nước CHDCND Lào thì việc so sánh các quy định pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam về XLTS của doanh

nghiệp bị TBPS là hết sức cần thiết Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Pháp luật về xử lý tài sản của doanh nghiệp phá sản của Lào và Việt Nam dưới góc

độ so sánh” đề làm Luận văn thạc sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề XLTS của doanh nghiệp bị TBPS là một vấn đề được các học giả của Lào và Việt Nam quan tâm nghiên cứu lâu nay, góc độ nghiên cứu cũng rất rộng, từ góc độ kinh tế, pháp lý đến chính trị, xã hội Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, việc nghiên cứu các quy định pháp luật về XLTS của doanh nghiệp bị TBPS ở Lào và Việt Nam có sự khác nhau rất lớn

ở Lào, việc nghiên cứu các quy định pháp luật về XLTS còn rất hạn chế,

số lượng các công trình nghiên cứu chưa nhiều Tuy nhiên, có thể kể ra một số

công trình nghiên cứu sau đây “Những bất cập trong việc thi hành các quy định

của Luật phá sản năm 1994” đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước của Viện khoa học

và xã hội Lào, Viêng Chăn, năm 2000; Viện nghiên cứu lập pháp - Bộ Tư pháp,

“Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng thủ tục phá sản”, Viêng Chăn 2014 Điểm

thành công của các công trình nghiên cứu này là đã rà soát, tìm ra những bất cập hạn chế trong các quy định pháp luật của Lào về thủ tục phá sản, cũng như định hướng được một số kinh nghiệm quốc tế trong xây dựng và hoàn thiện thủ tục phá sản, trong đó có nội dung về XLTS của doanh nghiệp bị TBPS Tuy nhiên, đến nay lại chưa có một công trình nghiên cứu nào tập trung trung nghiên cứu chuyên sâu về XLTS của doanh nghiệp bị TBPS theo pháp luật phá sản của Lào

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về XLTS của doanh nghiệp bị TBPS dưới góc độ pháp lý được thực hiện từ rất sớm, ngay từ những ngày đầu Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 được thực hiện Có thể kể đến một số công trình nghiên

cứu nổi bật sau: “Quản lý và xử lý tài sản phá sản theo quy định của pháp luật

Trang 10

phá sản Việt Nam”, Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Vũ Thị Hồng Vân, Hà

Nội, năm 2004; “Xử lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ

đến hạn theo Luật Phá sản năm 2004”, Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả

Nguyễn Kim Chi, Hà Nội, 2005; “Xử lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng

thanh toán nợ đến hạn theo Luật phá sản năm 2014”, Luận văn thạc sĩ luật học

của tác giả Hà Thị Khánh Huyền, Hà Nội, 2015

Dưới góc độ so sánh luật, có một số công trình sau đây có đề cập đến việc

so sánh pháp luật về XLTS của doanh nghiệp bị TBPS: “Luật phá sản của Việt

Nam và pháp luật phá sản của Cộng hòa Pháp những nét tương đồng và khác biệt, Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả An Phương Huệ, Hà Nội, 2004; “Luật phá sản doanh nghiệp Việt Nam dưới góc độ Luật so sánh và phương hướng hoàn thiện”, Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Trương Hồng Hải, Hà Nội, 2004

Như vậy, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào so sánh các quy định của pháp luật phá sản Lào với pháp luật phá sản của Việt Nam Chính

vì lẽ đó, đề tài: “Pháp luật về xử lý tài sản của doanh nghiệp phá sản của Lào và Việt Nam dưới góc độ so sánh” thực sự có tính cấp thiết trong việc nghiên cứu

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn

* Đối tượng nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là những quy định về XLTS của doanh nghiệp bị TBPS theo Luật Phá sản Lào năm 1994 và Luật Phá sản Việt Nam năm 2014 dưới góc độ nghiên cứu luật học so sánh

* Phạm vi nghiên cứu luận văn

Về phương diện lý luận, luận văn tập trung nghiên cứu khái niệm, đặc điểm, các loại tài sản của doanh nghiệp bị TBPS; khái niệm, đặc điểm XLTS của doanh nghiệp bị TBPS; vai trò của XLTS của doanh nghiệp bị TBPS

Về phương diện luật thực định, luận văn tập trung nghiên cứu những quy định của Luật phá sản Lào năm 1994 và Luật Phá sản Việt Nam năm 2014 về chủ thể tham gia XLTS; xác định tài sản của doanh nghiệp bị TBPS; XLTS và thứ tự phân chia tài sản; thủ tục xử lý các loại tài sản của doanh nghiệp bị TBPS dưới góc độ so sánh, để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai đạo Luật phá sản này

Trang 11

4 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

Đề tài được thực hiện với mục đích nghiên cứu: nghiên cứu, hệ thống hóa những quan điểm lý luận về XLTS của doanh nghiệp bị TBPS; nghiên cứu làm sáng tỏ các quy định về thủ tục phá sản của Luật Phá sản Lào năm 1994 dưới góc độ so sánh với Luật phá sản Việt Nam năm 2014 Đúc rút kinh nghiệm và tìm kiếm một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật phá sản Lào về XLTS của doanh nghiệp bị TBPS

5 Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn

Để thực hiện mục tiêu của đề tài, luận văn triển khai trả lời những câu hỏi

cơ bản sau:

(1) Những điểm tương đồng và khác biệt về chủ thể tham gia XLTS của doanh nghiệp bị TBPS giữa Luật phá sản Lào năm 1994 và Luật phá sản Việt Nam năm 2014?

(2) Những điểm tương đồng và khác biệt về xác định các loại tài sản của doanh nghiệp bị TBPS giữa Luật phá sản Lào năm 1994 và Luật phá sản Việt Nam năm 2014?

(3) Những điểm tương đồng và khác biệt về xử lý tài sản của doanh nghiệp và thứ tự phân chia tài sản giữa Luật phá sản Lào năm 1994 và Luật phá sản Việt Nam năm 2014?

(4) Những điểm tương đồng và khác biệt về thủ tục xử lý các loại tài sản của doanh nghiệp bị TBPS giữa Luật phá sản Lào năm 1994 và Luật phá sản Việt Nam năm 2014?

(5) Những kinh nghiệm của Việt Nam, những bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luật Lào về XLTS của doanh nghiệp bị TBPS?

6 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin

và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật bao gồm phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các văn kiện đại hội Đảng, quan điểm của Đảng và Nhà nước của cả CHXHCN Việt Nam và CHDCND Lào đối với nền kinh tế nói chung và hoạt động của doanh nghiệp nói riêng

Trang 12

Các phương pháp cụ thể được vận dụng khi viết luận văn là phương pháp phân tích, tổng hợp, chứng minh, hệ thống hoá pháp luật và phương pháp luật học so sánh Luận văn tiến hành tổng hợp và phân tích các quy định trong các văn bản pháp luật của Lào dưới góc độ so sánh với pháp luật Việt Nam về XLTS của doanh nghiệp bị TBPS

để đánh giá thực trạng, những khó khăn, vướng mắc trong việc giải quyết các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản Trên cơ sở đó, luận văn sẽ đưa ra những kiến nghị

về việc hoàn thiện các quy định pháp luật về XLTS của doanh nghiệp bị TBPS ở Lào trong giai đoạn hiện nay Sự vận dụng một cách nhuần nhuyễn các phương pháp nghiên cứu cụ thể nêu trên sẽ góp phần đưa đến thành công của luận văn

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật về XLTS của doanh nghiệp

bị TBPS của Lào và Việt Nam, luận văn sẽ làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật của Lào về XLTS của doanh nghiệp bị TBPS Cụ thể, luận văn có những đóng góp mới sau đây:

Một là, các kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là nguồn tài liệu để tiếp tục

giảng dạy, nghiên cứu về pháp luật phá sản nói chung và pháp luật về XLTS của doanh nghiệp bị TBPS nói riêng ở Lào và ở Việt Nam

Hai là, các kết quả nghiên cứu của luận văn, đặc biệt là các giải pháp nhằm

hoàn thiện các quy định của pháp luật Lào về XLTS của doanh nghiệp bị TBPS sẽ

có giá trị tham khảo để các nhà làm luật của Lào xem xét, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành về XLTS của doanh nghiệp bị TBPS

8 Bố cục (các chương) của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung

của Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về xử lý tài sản của doanh nghiệp phá sản.

Chương 2 So sánh các quy định về xử lý tài sản của doanh nghiệp phá sản theo pháp luật phá sản hiện hành của Lào và Việt Nam

Chương 3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý tài sản của doanh nghiệp phá sản ở nước CHDCND Lào từ kinh nghiệm của Việt Nam

Trang 13

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XỬ LÝ TÀI SẢN CỦA

DOANH NGHIỆP PHÁ SẢN 1.1 Khái quát về tài sản của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản

1.1.1 Khái niệm về tài sản của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản

Xác định tài sản của doanh nghiệp bị TBPS là một vấn đề quan trọng của việc xử lý tài sản của doanh nghiệp bị TBPS Bởi lẽ, xác định có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của chủ nợ, cũng như là tiền đề quan trọng cho Tòa án tìm ra phương hướng xử lý tài sản, giải quyết phá sản một cách

có hiệu quả nhất, bảo đảm quyền lợi, ích hợp pháp của các bên trong quan hệ phá sản Tuy nhiên, cho đến nay pháp luật phá sản các quốc gia trên thế giới không đưa ra định nghĩa cụ thể về tài sản của doanh nghiệp bị TBPS, mà chỉ liệt

kê các tài sản của doanh nghiệp bị TBPS Cụ thể:

- Theo pháp luật phá sản năm 1978 của Hoa Kỳ thì tài sản phá sản bao gồm: (i) Tất cả số tài sản của con nợ (bao gồm quyền và nghĩa vụ tài sản); (ii) Tài sản phá sản cũng bao gồm những tài sản mà con nợ có được trong vòng 180 ngày sau khi vụ án bắt đầu bằng việc thừa kế hoặc những lợi ích từ chính sách bảo hiểm và bất kỳ một lợi ích nào đối với tài sản có được sau khi vụ án bắt đầu

Tài sản phá sản cũng bao gồm những tài sản mà Tín thác viên thu hồi được theo thẩm quyền do luật định trong các trường hợp: (i) Quyền xiết nợ (đại diện cho chủ nợ): Tín thác viên có quyền xiết nợ đối với các con nợ của doanh nghiệp

mà không cần có sự đồng ý của con nợ (khoản 544a); (ii) Các tài sản có được từ những giao dịch ưu tiên trả nợ bị vô hiệu: Tín thác viên có quyền thu hồi bất kỳ một sự chuyển nhượng, thanh toán bằng bất kỳ tài sản nào của con nợ trước ngày phá sản nhằm để bảo toàn tài sản của doanh nghiệp và đảm bảo sự phân chia công bằng khối tài sản này (trừ những giao dịch mà pháp luật thừa theo khoản 574); (iii) Các tài sản có được do Tín thác viên đã thực hiện việc xiết nợ người khác đối với tài sản của doanh nghiệp mà người tín thác này đang quản lý1

1Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia - Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật (2004), Bước

đầu tìm pháp luật thương mại Mỹ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 19 - 20.

Trang 14

- Luật Phá sản hiện hành của Nhật Bản những tài sản có được sau khi TBPS thì không được tính vào khối tài sản của doanh nghiệp mà được xếp vào loại tài sản

mở rộng với lý do là: Nếu đưa vào loại tài sản phát sinh này sẽ tạo ra những sự phức tạp cũng như khó khăn trong tính toán và đồng thời cũng tạo ra tính không công bằng trong việc xác định quyền và trách nhiệm của các bên có liên quan đến khối tài sản đó Luật Phá sản của Nhật Bản còn quy định: Tài sản nào ở ngoài phạm vi lãnh thổ Nhật Bản không được coi là một bộ phận của khối tài sản phá sản do khả năng giám sát, đánh giá, thu hồi là khó có thể tiến hành được

Trong pháp luật pháp sản của Nhật Bản, khối tài sản phá sản bao gồm tài sản của con nợ tại thời điểm tuyên bố phá sản là đối tượng của thủ tục tư pháp Những tài sản mà người được ủy thác thu hồi được thông qua quyền phủ nhận cũng thuộc về khối tài sản phá sản Quyền của chủ sở hữu cũng là một loại tài sản thuộc khối tài sản phá sản Tài sản này không nhất thiết phải nhìn thấy được

và không nhất thiết phải được thể hiện trên sổ sách hoặc tài sản của con nợ Tài sản cầm cố cũng là một tài sản trong khối tài sản phá sản2

- Luật Phá sản năm 2002 của Liên bang Nga đã đưa ra cách xác định tài sản phá sản bao gồm: (i) Tất cả tài sản của người mắc nợ thể hiện trong bảng cân đối kế toán hoặc các tài liệu kế toán thay thế là cơ sở để xác định tài sản phá sản; (ii) Trong tài sản phá sản còn bao gồm các đối tượng thuộc lĩnh vực công cộng nằm trong bảng cân đối của người mắc nợ, trừ quỹ nhà ở, các trường mẫu giáo và các công trình sản xuất hạ tầng quan trọng đối với đời sống khu vực, cần được đưa vào bảng cân đối của các cơ quan tự quản địa phương hoặc cơ quan quyền lực nhà nước hữu quan, nếu pháp luật của Liên bang quy định khác,… (iii) Tài sản phá sản không bao gồm tài sản là vật bảo đảm Tài sản phá sản bao gồm tài sản không thuộc quyền sở hữu của người mắc nợ, trong đó, có tài sản do người mắc nợ thuê; tài sản mà người mắc nợ có trách nhiệm bảo quản; tài sản riêng của công nhân viên doanh nghiệp mắc nợ, trừ tài sản mà theo quy định của pháp luật hoặc điều lệ của doanh nghiệp

2 Massashi Nakanishi (2001), Những vấn đề cần trao đổi tại Hội thảo về Luật Phá sản theo dự án của JICA,

Hội thảo quốc tế về Luật Phá sản doanh nghiệp, Hà Nội, tr 10.

Trang 15

có thể được thu hồi để thực hiện các nghĩa vụ của người mắc nợ quy định tại Điều

26 Luật Phá sản năm 2002 của Liên bang Nga3

- Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1986 của Trung Quốc chỉ áp dụng đối với phá sản doanh nghiệp nhà nước, quy định, tài sản phá sản là những tài sản sau đây: (i) Tài sản mà doanh nghiệp phá sản điều hành quản lý tại thời điểm TBPS; (ii) Tài sản mà doanh nghiệp phá sản có được trong thời gian kể từ khi TBPS cho đến ngày hoàn tất phá sản; (iii) Các quyền tài sản khác mà doanh nghiệp phá sản phải thực hiện; (iv) Tài sản thuộc vật bảo đảm thì không phải là tài sản phá sản; phần giá trị của vật bảo đảm vượt quá giá ngạch của khoản nợ

mà nó đảm bảo thì thuộc tài sản phá sản (Điều 28) Như vậy, cách quy định đối với trường hợp này trong pháp luật phá sản Trung Quốc cho thấy sự tương đồng với pháp luật phá sản của Liên bang Nga4

- Luật Phá sản năm 2014 của Việt Nam tại Điều 64 đã liệt kê về tài sản của DN, HTX mất khả năng thanh toán như sau:

+ Tài sản của DN, HTX mất khả năng thanh toán bao gồm: (i) Tài sản và quyền tài sản mà DN, HTX có tại thời điểm Tòa án nhân dân quyết định mở thủ tục phá sản; (ii) Tài sản và quyền tài sản có được sau ngày Tòa án nhân dân

ra quyết định mở thủ tục phá sản; (iii) Giá trị của tài sản bảo đảm vượt quá khoản nợ có bảo đảm mà DN, HTX phải thanh toán cho chủ nợ có bao đảm; (iv) Giá trị quyền sử dụng đất của DN, HTX được xác định theo quy định của pháp luật về đất đai; (v) Tài sản thu hồi từ hành vi cất giấu, tẩu tán tài sản của

DN, HTX; (vi) Tài sản và quyền tài sản có được do thu hồi từ giao dịch vô hiệu; (vii) Các tài sản khác theo quy định của pháp luật (khoản 1 Điều 64 Luật Phá sản năm 2014)5

+ Tài sản của doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh mất khả năng thanh toán bao gồm: (i) Tài sản quy định tại khoản 1 Điều này; (ii) Tài sản của chủ

3 Phan Thị Thu Hà (2010), Tìm hiểu pháp luật phá sản trên thế giới, Chuyên đề Khoa học xét xử, Hà Nội, tr

32

4 Trần Duy Tuấn (2013), Chế định tài sản phá sản trong pháp luật một số quốc gia trên thế giới và những

gợi mở cho Việt Nam, đăng trên: luat.aspx?ItemID=111

http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-5 Hà Thị Khánh Huyền (201http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-5), Xử lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn theo

Luật Phá sản năm 2014, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, tr 10

Trang 16

doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh không trực tiếp dụng vào hoạt động kinh doanh; trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh có tài sản thuộc sở hữu chung thì phần tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh đó được chia thao quy định của pháp luật dân sự và quy định của pháp luật có liên quan

+ Trường hợp hợp tác xã bị TBPS thì việc xử lý tài sản không chia được thực hiện theo quy định của pháp luật về hợp tác xã

Như vậy, Luật Phá năm 2014 của Việt Nam cũng không có quy định về định nghĩa thế nào là tài sản phá sản mà chỉ quy định theo hướng liệt kê các loại tài sản của DN, HTX mất khả năng thanh toán nợ đến hạn Tài sản phá sản theo pháp luật phá sản Việt Nam không bị giới hạn không gian, loại, nguồn và các danh mục loại trừ mà chỉ giới hạn về thời gian, tức là khối tài sản tính đến thời điểm mở thủ tục phá sản và những tài sản phát sinh trong quá trình giải quyết phá sản

- Luật phá sản năm 1994 của nước CHDCND Lào tại Điều 41 quy định về danh sách tài sản của doanh nghiệp bị TBPS bao gồm: (i) Tài sản của doanh nghiệp như: Đất đai, nhà ở, nhà kho, nhà máy, phương tiện, thiết bị phục vụ cho sản xuất; (ii) Tất cả các khoản doanh thu của doanh nghiệp Như vậy, tài sản của doanh nghiệp bị TBPS theo Luật Phá sản năm 1994 của nước CHDCND Lào cũng được xác định theo hướng liệt kê Có thể thấy rõ, sự liệt kê này, không bị giới hạn về cả không gian, không bị giới hạn về mặt thời gian nhưng lại bị giới hạn về các loại tài sản và đặc biệt là quyền tài sản không được đưa vào danh sách các loại tài sản của doanh nghiệp bị TBPS6

Qua việc tìm hiểu các quy định pháp luật của các quốc gia về xác định tài sản doanh nghiệp bị TBPS, có thể khái quát nên định nghĩa về về tài sản doanh nghiệp bị TBPS như sau:

Tài sản của doanh nghiệp bị TBPS hay tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là tài sản và quyền tài sản của doanh nghiệp tại thời điểm mở

6 Viện Khoa học và Xã hội Lào (2000), Những bất cập trong việc thi hành các quy định của Luật phá sản

năm 1994, Đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước, Viêng Chăn, tr 10.

Trang 17

thủ tục phá sản, cũng như trong suốt thời gian giải quyết phá sản Việc xác định tài sản của doanh nghiệp bị TBPS có thể bị giới hạn về mặt thời gian, không gian, loại tài sản.

Từ định nghĩa này, có thể khái quát lên những đặc điểm của tài sản doanh nghiệp bị TBPS như sau:

Thứ nhất, việc xác định khối tài sản của doanh nghiệp bị TBPS căn cứ

vào thời điểm trong thủ tục giải quyết phá sản

Hiện tại trên thế giới có hai xu hướng là: (i) Khối tài sản phá sản chỉ được thừa nhận đến thời điểm mở thủ tục giải quyết phá sản (pháp luật phá sản của Nhật Bản, của nước CHDCND Lào theo khuynh hướng này); (ii) Khối tài sản phá sản không chỉ tính đến thời điểm mở thủ tục phá sản mà còn bao gồm cả những tài sản phát sinh trong quá trình phá sản (pháp luật phá sản của Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Trung Quốc và Việt Nam theo khuynh hướng này)

Thứ hai, việc xác định khối tài sản phá sản có tính đến phạm vi không

gian mà những tài sản của doanh nghiệp đang hiện hữu

Trong pháp luật phá sản của một số quốc gia chỉ coi tài sản thuộc khối tài sản phá sản phải là những tài sản hiện hữu nằm trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó (Luật Phá sản Nhật Bản, nước CHDCND Lào theo quan điểm này); Còn lại, đa số các quốc gia, hoặc không giới hạn hoặc không có quy định rõ về nguyên tắc đối với trường hợp này (Luật Phá sản của Hoa Kỳ, Liên Bang Nga, Trung Quốc và Việt Nam theo quan điểm này)

Thứ ba, việc xác định khối tài sản phá sản căn cứ vào loại hình tài sản hay

nguồn tài sản Trong pháp luật phá sản của một số quốc gia trên thế giới thực

hiện việc phân loại dựa trên sự quan tâm đến đặc điểm của nguồn hình thành tài sản Điển hình là cách xác định tài sản phá sản theo Luật Phá sản của Hoa Kỳ: Tài sản phá sản là tài sản hiện có của bản thân doanh nghiệp phản ánh trong sổ sách kế toàn tại thời điểm mở thủ tục, những tài sản thu hồi từ việc xiết nợ,… Bên cạnh đó, các quy định về nguồn hình thành hoặc việc thu hồi tài sản của doanh nghiệp còn bao gồm cả những quy định về đặc điểm loại hình tài sản (tài sản là bất động sản hay động sản như Luật Phá sản của Việt Nam và nước

Trang 18

CHDCND Lào; tài sản hữu hình hay tài sản vô hình,…) Ngoài ra, thuộc tính sở hữu của tài sản trong cấu trúc tài sản của doanh nghiệp cũng là một trong những cách xác định tài sản phá sản được Luật Phá sản của Liên bang Nga quy định

Thứ tư, việc xác định khối tài sản phá sản trong pháp luật phá sản của các

quốc gia trên thế giới phần lớn đều có cách xác định rõ về nhóm các loại tài sản

loại trừ không thuộc khối tài sản phá sản Cơ sở cho việc xác định nhóm tài sản

loại trừ cũng có sự khác nhau nhất định, bao gồm các dạng loại trừ tài sản không thuộc khối tài sản phá sản như sau: (i) Thời điểm phát sinh tài sản như pháp luật phá sản của Nhật Bản; (ii) Phạm vi không gian tài sản tồn tại như pháp luật phá sản của Nhật Bản; (iii) Tính chất sở hữu của tài sản như pháp luật phá sản của Liên bang Nga, Trung Quốc; (iv) Giá trị tài sản và mục đích, công dụng của tài sản như pháp luật phá sản của Hoa Kỳ Trong khi đó, pháp luật phá sản của nước CHDCND Lào và Việt Nam lại không xác định nhóm tài sản loại trừ không thuộc khối tài sản phá sản7

1.1.2 Các loại tài sản của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản

Có nhiều quan điểm về cách xác định các loại tài sản của doanh nghiệp bị TBPS nhưng có tựu chung lại thì tài sản của doanh nghiệp bị TBPS bao gồm: Tài sản có và tài sản nợ

- Tài sản có Tài sản có là những tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền

quản lý, sử dụng của doanh nghiệp Tài sản có thể được phân loại thành tài sản hữu hình và tài sản vô hình; động sản và bất động sản Các cách phân loại tài sản này dựa trên các căn cứ sau đây:

(i) Căn cứ vào việc có hay không có đặc tính vật lý thì tài sản được chia thành tài sản hữu hình và tài sản vô hình;

(ii) Căn cứ vào đặc điểm tính di dời hay không di dời được của tài sản hữu hình và các quyền được thiết lập trên đó hay không được thiết lập trên đó, tài sản được chia thành động sản và bất động sản

7 Hà Thị Khánh Huyền (2015), Xử lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn theo Luật Phá sản năm 2014, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, tr 11

Trang 19

+ Bất động sản là các tài sản không di dời được Bất động sản có đặc

điểm là gắn cố định với một không gian, vị trí nhất định, không di dời được, bao gồm: Đất đai, nhà cửa, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình dựng đó; các tài sản khác gắn liền với đất đai; các tài sản do pháp luật quy định Các bất động sản là nhà cửa, vật kiến trúc như trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào, tháp nước, sân bãi, các công trình trang trí cho nhà cửa, đường xá, cầu cống, đường sắt, đường băng sân bay, cầu tầu, cầu cảng8

Cách xác định tài sản là bất động sản hợp pháp là căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu đất, hoặc một trong các giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyết định cấp nhà, cấp đất, quyết định giao đất, cho thuê đất, thanh lý, hóa giá, tặng cho của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, giấy tờ thừa kế nhà ở được pháp luật công nhận, bản án, quyết định của Tòa

án hoặc cơ quan có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật về sở hữu nhà ở

+ Động sản là những tài sản không phải là bất động sản (máy móc, thiết

bị, phương tiện vận tải, dây chuyền công nghệ,…) Động sản là máy móc, thiết bị

là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị dùng trong hoạt động inh doanh của doanh nghiệp như máy móc chuyên dùng, thiết bị công tác, dây truyền công nghệ hoặc những máy móc đơn lẻ khác… Thiết bị, dụng cụ quản lý là những thiết bị, dụng

cụ dùng trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như máy

vi tính phục vụ quản lý, thiết bị điện tử, thiết bị, dụng cụ đo lường, kiểm tra chất lượng v.v

Cách xác định nhận diện diện tài sản là động sản phải căn cứ vào hồ sơ, tài liệu, chứng từ, hóa đơn mua bán, nhập khẩu,…của tài sản Trường hợp hồ sơ, tài liệu về tài sản thiết bị thất lạc hoặc bị tiêu hủy do nguyên nhân bất khả kháng thì dựa trên khai báo, cam kết, xác nhận của khách hàng hoặc dựa trên danh mục tài sản trong bảng cân đối kế toán gần nhất của doanh nghiệp để xác minh

8 Hà Thị Khánh Huyền (2015), Xử lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn theo Luật Phá sản năm 2014, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, tr 11

Trang 20

+ Tài sản hữu hình Tài sản hữu hình là những tài sản có hình thái vật

chất do chủ tài sản nắm giữ để phục vụ các mục đích của mình; nó bao gồm tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn

(i) Tài sản ngắn hạn Tài sản vô hình là tài sản được dự tính để bán hoặc

để sử dụng trong khuôn khổ của chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp; được nắm giữa chủ yếu cho mục đích thương mại hoặc cho mục đích ngắn hạn; là tiền hoặc tài sản có giá trị tương đương với tiền mà việc sử dụng không gặp một hạn chế nào

(ii) Tài sản dài hạn Tài sản dài hạn là các tài sản khác ngoài tài sản ngắn hạn,

bao gồm: Tài sản cố định, tài sản đầu tư tài chính dài hạn và tài sản dài hạn khác

+ Tài sản vô hình Tài sản vô hình là tài sản không có hình thái vật chất

nhưng xác định được giá trị do chủ tài sản nắm giữa để phục vụ cho mục đích của mình; nó có thể gồm: Kỹ năng quản lý, bí quyết marketting, danh tiếng, uy tín, thương hiệu, biểu tượng doanh nghiệp và việc sở hữu các quyền và công cụ hợp pháp (quyền sử dụng đất, quyền sáng chế, bản quyền, quyền kinh doanh hay các hợp đồng)

Các quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể được chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ Quyền tài sản là tài sản vô hình Quyền tài sản là một khái niệm pháp lý bao hàm tất cả quyền, lợi ích và lợi tức liên quan đến quyền sở hữu, nghĩa là người chủ sở hữu được hưởng một hay những quyền lợi khi làm chủ tài sản đó Quyền sở hữu tài sản là một nhóm những quyền năng mà mỗi quyền năng có thể tách rời với quyền sở hữu và chuyển giao trong giao dịch dân sự, bao gồm: Quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt, Quyền tài sản gắn với lợi ích thu được từ quyền tài sản được gọi là tài sản thực

- Tài sản nợ Tài sản nợ là các loại nợ của doanh nghiệp, căn cứ vào sự an

toàn đối với các khoản nợ của doanh nghiệp bị TBPS, có thể phân loại nợ thành:

Nợ có đảm bảo, nợ có đảm bảo một phần, nợ không có đảm bảo

+ Nợ có đảm bảo Nợ có đảm bảo là các khoản nợ được đảm bảo bằng tài

sản của doanh nghiệp hoặc của người thứ ba Căn cứ vào thời hạn thanh toán trước thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản có thì nợ có đảm

Trang 21

bảo được phân loại thành nợ đến hạn và nợ chưa đến hạn Đây là những tài sản được đảm bảo dưới hình thức cầm cố, thế chấp, bảo lãnh hoặc các biện pháp khác theo quy định của pháp luật

+ Nợ có đảm bảo một phần Nợ có đảm bảo một phần là các khoản nợ

được đảm bảo bằng tài sản của doanh nghiệp hoặc người thứ ba mà giá trị tài sản đảm bảo ít hơn khoản nợ đó Việc xác định rõ tài sản đảm bảo nợ hay tài sản đảm bảo nợ một phần là một vấn đề còn rất nhiều khó khăn, bởi lẽ, sự biến động của giá trị tài sản đảm bảo luôn luôn luôn thay đổi theo chiều hướng giảm giá trị

+ Nợ không có đảm bảo Nợ không có đảm bảo là các khoản nợ không

được đảm bảo bằng tài sản của doanh nghiệp hoặc của người thứ ba Các khoản

nợ không có đảm bảo sẽ được thanh toán theo tình tự và thủ tục được quy định trong pháp luật phá sản

Ý nghĩa của việc phân loại tài sản nợ của doanh nghiệp thành nợ có đảm bảo, nợ có đảm bảo một phần và nợ không có đảm bảo nằm ở chỗ, nó sẽ giúp Tòa án xác định được một cách rõ ràng dấu hiệu phá sản của doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp có số nợ không đảm bảo lớn hơn các loại nợ còn lại và đã mất khả năng thanh toán nợ không có đảm bảo khi đến hạn thì doanh nghiệp đó lâm vào trình trạng mất khả năng thanh toán hay phá sản Ngoài ra, việc phân loại này còn giúp Tòa án xác định được quyền và nghĩa vụ của chủ nợ, xác định cách thức xử lý các khoản nợ nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của chủ nợ và doanh nghiệp mắc nợ9

Tuy nhiên, nếu căn cứ vào vào thời điểm phát sinh nghĩa vụ thanh toán, có thể chia tài sản nợ của doanh nghiệp bị TBPS thành: Nợ đến hạn thanh toán và

nợ chưa đến hạn thanh toán

+ Nợ đến hạn thanh toán Nợ đến hạn thanh toán là khoản nợ theo đó

doanh nghiệp mắc nợ phải có nghĩa vụ thanh toán ngay cho chủ nợ khi có yêu cầu từ phía chủ nợ

9 Hà Thị Khánh Huyền (2015), Xử lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn theo Luật Phá sản năm 2014, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, tr 14

Trang 22

+ Nợ chưa đến hạn thanh toán Nợ chưa đến hạn thanh toán là khoản nợ

mà theo đó doanh nghiệp chưa phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán Kể từ ngày ra quyết định mở thủ tục phá sản, các khoản nợ được tiếp tục tĩnh lãi theo thỏa thuận nhưng được tạm dừng việc trả lãi Đối với khoản nợ mới phát sinh sau khi

mở thủ tục phá sản đến thời điểm tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản thì tiền lãi của khoản nợ đó được xác định theo thỏa thuận nhưng không trái với quy định của pháp luật Kể từ ngày ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản thì khoản nợ này không được tiếp tục tính lãi

Việc phân loại tài sản nợ của doanh nghiệp bị TBPS thành nợ đến hạn thanh toán và nợ chưa đến hạn thanh toán giúp cho Tòa án có thể xác định một cách chính xác doanh nghiệp đã lâm vào tình trạng phá sản hay chưa Bởi lẽ, doanh nghiệp chỉ lâm vào tình trạng phá sản khi mất khả năng thanh toán khoản

nợ đến hạn, các khoản nợ này là các khoản nợ không có đảm bảo hoặc có đảm bảo một phần Tuy nhiên, nếu chủ nợ yêu cầu thanh toán mà nhưng doanh nghiệp không có khả năng thanh toán, không được doanh nghiệp thanh toán thì mới được coi là lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn hay lâm vào tình trạng phá sản

Như vậy, tùy thuộc vào quan điểm của các quốc gia mà việc xác định và phân loại tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản cũng có sự khác nhau nhất định Tuy nhiên, việc xác định và phân loại tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có ý nghĩa rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc mở hay không mở thủ tục phá sản, mở hay không mở thủ tục xử lý tài sản của doanh nghiệp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ và doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản

1.2 Khái quát về xử lý tài sản của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản

1.2.1 Xử lý tài sản của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản

Xử lý tài sản của doanh nghiệp bị TBPS bao gồm các hoạt động khác

nhau được tiến hành theo những trình tự, thủ tục nhất định Có thể định nghĩa về

xử lý tài sản của doanh nghiệp bị TBPS như sau:

Trang 23

Xử lý tài sản của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản là những hoạt động được tiến hành theo một trình tự, thủ tục nhất định Đó là thủ tục đòi nợ và thanh toán nợ tập thể, được tiến hành dựa trên tài sản còn lại của doanh nghiệp

bị tuyên bố phá sản sau khi có quyết định cho phép thanh lý và trả nợ của của Tòa án có thẩm quyền

Thủ tục xử lý tài sản của doanh nghiệp bị TBPS có những đặc điểm:

Thứ nhất, việc đòi nợ và thanh toán nợ mang tính tập thể và thông qua cơ

quan nhà nước có thẩm quyền

Bản chất của thủ tục xử lý tài sản của doanh nghiệp bị TBPS là thủ tục

đòi nợ và thanh toán nợ tập thể Nếu như trong thủ tục đòi nợ thông thường, các chủ thể có thể thực hiện quyền đòi nợ của mình một cách độc lập, riêng rẽ thì việc đòi nợ và thanh toán nợ trong thủ tục phá sản được tiến hành một cách tập thể Tính tập thể của thủ tục xử lý tài sản của doanh nghiệp bị TBPS thể hiện ở những nội dung sau:

- Tất cả các chủ nợ đều có quyền tham gia vào quá trình đòi nợ và thanh toán nợ trong thời hạn mà pháp luật quy định

- Kể từ thời điểm Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp mắc nợ không được thanh toán bất kỳ khoản nợ riêng nào cho bất kỳ chủ nợ nào Các chủ nợ cũng không thể đòi thanh toán riêng khoản nợ của mình mà phải thông qua thủ tục gửi giấy đòi nợ

- Trong quá trình giải quyết phá sản, các chủ nợ không thể tự xé lẻ để đòi

nợ riêng mà phải cùng với đại diện người lao động tập hợp lại thành một chủ thể pháp lý duy nhất, gọi là HNCN

- Thủ tực xử lý tài sản của doanh nghiệp bị TBPS không được áp dụng riêng rẽ đối với chủ nợ mà được áp dụng đối với tập thể chủ nợ, toàn bộ tài sản của con nợ được đưa vào một quỹ chung dùng để trả nợ cho các chủ nợ theo một thứ tự ưu tiên nhất định được pháp luật quy định

Lý giải cho việc, thủ tục xử lý tài sản của doanh nghiệp bị TBPS là một thủ tục thanh toán nợ tập thể, bởi lẽ cơ quan có thẩm quyền mở thủ tục phá sản

là Tòa án có thẩm quyền chứ không phải chủ nợ và khi thanh toán không phải tất

Trang 24

cả các chủ nợ đều được thanh toán đầy đủ Do đó, thủ tục xử lý tài sản trong thủ tục phá sản phải được tiến hành tập thể để bảo đảm quyền lợi một cách công bằng nhất cho các chủ nợ Các chủ nợ dẽ được thanh toán theo một thứ tự trên cơ

sở tính chất các khoản nợ, đảm bảo vị trí của các chủ nợ trong quá trình tố tụng phá sản Hơn nữa, việc từng chủ nợ đi đòi nợ sẽ dẫn tới hiện tượng ai nhanh chân thì có lợi hơn và người đến sau sẽ không được bảo đảm về quyền lợi Vì vậy, cần phải có một thủ tục mang tính tập thể để bảo vệ quyền lợi cho các chủ nợ

Việc đòi nợ và thanh toán các khoản nợ được tiến hành thông qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đó là Tòa án các cấp sẽ có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật Chủ nợ có quyền đòi nợ, tuy nhiên việc đòi nợ này phải thông qua Tòa án thể hiện ở thủ tục gửi giấy đòi nợ Việc thanh toán nợ của doanh nghiệp cũng không diễn ra trực tiếp mà phải thông qua các cơ quan đại diện Chủ nợ nhận được số nợ của mình từ các cơ quan đại diện này chứ không nhận trực tiếp từ doanh nghiệp mắc nợ Chính điều này tạo nên sự khác biệt của thủ tục đòi và thanh toán nợ trong thủ tục phá sản, so với thủ tục đòi nợ và thanh toán nợ thông thường

Thứ hai, thanh toán các khoản nợ được tiến hành trên cơ sở số tài sản còn

lại của doanh nghiệp

Việc thanh toán các khoản nợ được tiến hành trên cơ sở tài sản còn lại của doanh nghiệp Điều này không có nghĩa là nợ bao nhiêu thì phải trả bấy nhiêu như trong dân sự mà nghĩa vụ của doanh nghiệp mắc nợ sẽ chấm dứt sau khi dùng toàn bộ tài sản của mình để trả nợ, mặc dù có thể chưa thanh toán đầy đủ cho các chủ nợ Đối với pháp nhân, khi hoàn thành nghĩa vụ này cũng đồng thời chấm dứt sự tồn tại của pháp nhân đó nên việc xóa nợ đối với doanh nghiệp bị TBPS là đương nhiên Tuy nhiên, đối với loại hình doanh nghiệp tư nhân và công

ty hợp danh thì do chế độ chịu trách nhiệm này là trách nhiệm vô hạn, nên nghĩa

vụ trả nợ của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh vẫn còn tồn tại, trừ trường hợp các chủ nợ và con nợ có thỏa thuận khác

Tính chất đặc biệt của thủ tục xử lý tài sản của doanh nghiệp bị TBPS còn thể hiện ở chỗ, không có con nợ nào được quyền thanh toán riêng rẽ mà không

Trang 25

có sự cho phép của Thẩm phán có thẩm quyền Kể từ khi có quyết định mở thủ tục phá sản, mọi giao dịch liên quan đến tài sản của doanh nghiệp phải được đặt dưới sự quản lý và giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý, thanh lý tài sản và Thẩm phán Tài sản của doanh nghiệp được kiểm kê và quản lý theo một thủ tục nhất định, đảm bảo bảo toàn tài sản và gia tăng tài sản một cách hợp pháp để bảo

vệ quyền lợi của chủ nợ và con nợ Các khoản nợ của doanh nghiệp được phân chia theo một thứ tự và tỷ lệ nhất định Việc thanh toán các khoản nợ được thực hiện lần lượt theo thứ tự mà pháp luật quy định

Thứ ba, thanh toán các khoản nợ được tiến hành sau khi có quyết định

của Tòa án có thẩm quyền

Trong thủ tục thanh toán nợ thông thương, thời điểm thanh toán nợ có thể diễn ra bất kỳ lúc nào, theo phương thức, địa điểm do hai bên lựa chọn, Tòa

án gần như không can thiệp vào quá trình giải quyết đó của các bên Như đã biết, Tòa án là cơ quan có thẩm quyền ra quyết định việc phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, thanh lý tài sản hoặc TBPS nhưng Tòa án không trực tiếp thanh toán nợ của doanh nghiệp mà thông qua các cơ quan quản lý, thanh lý tài sản được thành lập để tiến hành thanh toán nợ Tuy nhiên, việc thanh toán các khoản nợ chỉ được tiến hành sau khi có quyết định của Tòa án, chỉ khi Tòa án cho phép, doanh nghiệp mắc nợ mới được tiến hành thanh toán cho chủ nợ Quy định việc thanh toán các khoản nợ chỉ được tiến hành khi có quyết định của Tòa án nhằm đảm bảo sự phân chia công bằng tài sản của doanh nghiệp bị TBPS cho tất cả các chủ nợ, cũng như tạo điều kiện cho doanh nghiệp mắc nợ phục hồi hoạt động kinh doanh khi còn có khả năng phục hồi hoạt động kinh doanh

Như vậy, xử lý tài sản của doanh nghiệp bị TBPS là một thủ tục pháp lý đặc biệt, nó cũng bao gồm thủ tục đòi nợ và thanh toán nợ nhưng nó khác với thủ tục đòi nợ và thanh toán nợ thông thường vì những đặc điểm đặc biệt của nó trong suốt quá trình đòi nợ và thanh toán nợ

Trang 26

1.2.2 Vai trò của hoạt động xử lý tài sản của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản

Qua việc tìm hiểu định nghĩa và những đặc điểm của thủ tục xử lý tài sản doanh nghiệp bị TBPS ở trên có thể thấy đây là một vấn đề có tính kinh tế- xã hội phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của nhiều bên chủ thể Tuy nhiên, nếu thủ tục này được tiến hành đúng theo các quy định của pháp luật thì nó lại có vai trò rất lớn Điều đó thể hiện ở những nội dung sau đây:

Thứ nhất, vai trò đối với chủ nợ Dưới góc độ quyền lợi của chủ nợ thì xử

lý tài sản của doanh nghiệp bị TBPS là một cách thức bảo vệ quyền lợi tốt nhất cho họ, cung cấp cho các chủ nợ một phương thức để thực hiện việc đòi nợ Khi một doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn, chủ nợ là những người đầu tiên có nguy cơ bị mất trắng những khoản tín dụng mà trước đây họ đã cung cấp cho con nợ Tính ưu việc của cơ chế đòi nợ thông qua thủ tục phá sản là ở chỗ, việc đòi nợ được bảo đảm bằng việc Tòa án có thể tuyên bố chấm dứt sự tồn tại của con nợ và thông qua đó mà bán toàn bộ tài sản để trả nợ cho các chủ nợ Mặc dù, thủ tục phá sản còn phải thực hiện một số mục tiêu quan trọng nữa, trong đó có mục tiêu là giúp doanh nghiệp phục hồi hoạt động kinh doanh (tức là bảo đảm lợi ích cho con nợ) nhưng về cơ bản, thủ tục phá sản với tư cách là một thủ tục tư pháp mà trước hết và chủ yếu là để bảo vệ lợi ích của các chủ nợ Trong quá trình giải quyết, pháp luật phá sản đưa ra các cơ chế cho phép các chủ

nợ có khả năng bảo vệ tối đa lợi ihcs của mình như: Kiểm tra, giám sát các hoạt động, hành vi của con nợ, tham gia giải quyết những vấn đề liên quan trực tiếp tới quyền lợi của mình, khiếu nại các quyết định của Tòa án,… tất cả nhằm mục đích bảo vệ tối đa khả năng thu hồi nợ của chủ nợ

Bên cạnh đó, thủ tục xử lý tài sản của doanh nghiệp bị TBPS còn là công

cụ đảm bảo sự công bằng trong thanh toán nợ giữa các chủ nợ Tất cả các chủ nợ đều có quyền tham gia vào quá trình đòi nợ và thanh toán nợ, doanh nghiệp mắc

nợ không được thanh toán bất kỳ khoản nợ riêng cho bất kỳ chủ nợ nào Toàn bộ tài sản của con nợ được đưa vào một quỹ chung dùng để trả nợ cho các con nợ,

Trang 27

các chủ nợ sẽ được thanh toán theo một thứ tự trên cơ sở tính toán các khoản nợ, đảm bảo vị trí của các chủ nợ trong quá trình giải quyết phá sản

Thứ hai, đối với con nợ (DN, HTX mất khả năng thanh toán nợ đến hạn)

Khi mới hình thành, pháp luật phá sản không đặt ra vấn đề bảo vệ quyền lợi của con nợ Tuy nhiên, nếu không bảo vệ lợi ích của con nợ thì con nợ có thể gọi là một tội phạm và người gây ra sự phá sản là người phạm tội Nếu như vậy, con nợ

sẽ không được bảo vệ mà còn bị trừng phạt dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau, trong đó có cả tử hình Tuy nhiên, do sự phát triển của kinh doanh, quan niệm về kinh doanh đã theo hướng “mở” hơn, nên cách “ứng xử” của Nhà nước

và pháp luật đối với con nợ cũng đã thay đổi theo hướng tích cực hơn, có thể bảo

vệ quyền lợi của con nợ Hoạt động kinh doanh là một hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro, do sự biến đổi khó lường của thị trường mà người kinh doanh không thể lường trước, nhiều khi để doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản cũng nằm ngoài mong muốn của người đứng đầu doanh nghiệp, nên tình trạng làm ăn thua lỗ, không trả được nợ khi đến hạn đều có thể xảy ra bất cứ lúc nào

và nằm ngoài mong muốn của người đứng đầu doanh nghiệp Mặt khác, một doanh nghiệp bị TBPS có thể kéo theo nhiều hệ quả xấu cho nền kinh tế- xã hội, trong đó có quyền lợi của chủ nợ và người lao động không được bảo đảm

Chính vì vậy, với dần dần trong sự phát triển của pháp luật phá sản, thì vấn đề đầu tiên mà Nhà nước và pháp luật quan tâm giải quyết không phải là việc tuyên bố một doanh nghiệp bị phá sản ngay lập tức và tiến hành phân chia tài sản của doanh nghiệp đó cho các chủ nợ để bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ,

mà là phải tìm mọi cách giúp đỡ để doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng khó khăn này, tức là vừa bảo vệ tốt hơn quyền lợi của chủ nợ và trao cho doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản “một cơ hội” để phục hồi hoạt động kinh doanh và tiếp tục trả nợ đầy đủ cho chủ nợ Chính điều này là cơ sở để pháp luật đa số các quốc gia trên thế giới đều quy định nhiều hình thức phục hồi hoạt động của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản để cho doanh nghiệp đó có cơ hội lựa chọn, áp dụng

Trang 28

Như vậy, pháp luật phá sản hiện đại, bên cạnh việc bảo vệ quyền lợi của chủ nợ còn hướng tới bảo vệ quyền lợi cho con nợ như: Giảm bớt gánh nặng tài chính (bằng việc ấn định thời điểm ngừng trả nợ, tạo điều kiện cho con nợ thương lượng với chủ nợ để xóa nợ, giảm nợ, mua nợ,…); hạn chế những hành

vi pháp lý chống lại con nợ từ phía chủ nợ; buộc các chủ nợ vào một khuôn khổ chung trong quá trình đòi nợ, tránh được những áp lực về mặt thể xác cũng như tinh thần cho các con nợ (chủ nợ có thể thuê người đi đòi nợ, đánh đập, chửi bới hoặc dọa nạt con nợ, người nhà của con nợ) Con nợ được tạo cơ chế, điều kiện

để khôi phục lại tình hình tài chính và sản xuất kinh doanh của mình Khi con nợ

có những dấu hiệu không thể khắc phục được tình trạng khó khăn đó, pháp luật phá sản còn đưa ra cơ chế giúp cho việc thanh lý tài sản của con nợ được nhanh nhất và giải phóng con nợ khỏi trách nhiệm thanh toán đối với các chủ nợ Pháp luật phá sản bảo vệ lợi ích của con nợ, đem lại cho các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản một cơ hội để phục hồi hoặc rút khỏi thương trường một cách

có trật tự

Thứ ba, đối với người lao động: Phá sản không chỉ gây ra hậu quả xấu

cho chủ nợ, con nợ mà còn cho cả người lao động Điều này trước hết thể hiện ở chỗ, chính vì phá sản mà người lao động mất việc làm, có thể dẫn đến cảnh thất nghiệp nếu không tìm được việc làm mới Do vậy, muốn bảo vệ người lao động, trước hết phải làm sao để doanh nghiệp không bị phá sản Cơ chế phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được pháp luật quy định chính là để thực hiện một trong những mục tiêu làm cho người lao động tránh khỏi cảnh thất nghiệp Bởi lẽ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là nhằm

cố gắng đưa doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng phá sản và thông qua đó tránh được khả năng người lao động mất việc làm Ngoài ra, khi người lao động làm việc mà không được trả đủ lương trong một thời gian dài thì Nhà nước cũng cần phải tạo ra một phương thức nào đó để họ thực có thể đòi được một số tiền lương

mà doanh nghiệp đã nợ Để thực hiện được điều này, pháp luật phá sản quy định cho họ một số quyền như quyền được nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, quyền được tham gia quá trình giải quyết vụ việc phá sản, quyền được ưu tiên

Trang 29

thanh toán nợ lương và các khoản tiền hợp pháp khác mà họ được hưởng trước các khoản nợ khác của doanh nghiệp,… Như vậy pháp luật phá sản thông qua thủ tục phá sản nói chung, thủ tục xử lý tài sản của doanh nghiệp đã tạo ra một phương thức để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, nhóm đối tượng được coi là yếu thế, cần sự quan tâm trong một doanh nghiệp đang đứng trước nguy cơ phá sản hoặc bị TBPS

Thứ tư, đối với nền kinh tế- xã hội: Pháp luật phá sản thông qua thủ tục

xử lý tài sản của doanh nghiệp bị TBPS đã góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội Bởi lẽ, trong thực tế thường diễn ra một tình trạng là chủ nợ thì quá nhiều,

số nợ thì lớn nhưng tài sản của doanh nghiệp (con nợ) thì quá ít để giải quyết nợ

Do đó, dẫn đến một tình trạng là các chủ nợ tranh giành tài sản của con nợ Nếu

để tình trạng con nợ “mạnh ai nấy làm”, “xiết nợ” theo cách thức có lợi nhất cho mình, tự do tước đoạt tài sản của con nợ một cách vô tổ chức, không công bằng thì trật tự, an toàn xã hội tất yếu sẽ bị ảnh hưởng xấu Chính vì vậy, thông qua pháp luật phá sản Nhà nước đã quy định các biện pháp để việc đòi nợ của các chủ nợ đối với con nợ diễn ra một cách có tổ chức, công bằng nhằm tránh những ảnh hưởng xấu của hoạt động này lên trật tự, an toàn xã hội Thủ tục phá sản nói chung và thủ tục xử lý tài sản của doanh nghiệp bị TBPS nói riêng chính là một công cụ pháp lý có khả năng giúp Nhà nước đưa ra nhiều cơ chế thực hiện được việc thanh toán nợ một cách có tổ chức, bảo đảm công bằng giữa các chủ nợ Căn cứ vào pháp luật phá sản, Tòa án sẽ thay mặt Nhà nước đứng ra giải quyết một cách công bằng, khách quan mối xung đột về lợi ích giữ các chủ nợ và con

nợ, điều đó sẽ góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Như vậy, thông qua Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về xử lý tài

sản của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản, tác giả luận văn đã thu thập, phân

tích và đưa đến những kết luận sau đây:

Thứ nhất, để xử lý tài sản của doanh nghiệp bị TBPS một cách có hiệu

quả thì một trong những yếu tố cần thiết là phải xác định tài sản của doanh nghiệp bị TBPS, các loại tài sản của doanh nghiệp bị TBPS Đối với vấn đề này,

Trang 30

pháp luật phá sản của các quốc gia quy định rất khác nhau, trong đó pháp luật phá sản của nước CHDCND Lào cũng quy định khác so với quy định tương ứng của pháp luật phá sản của Việt Nam

Thứ hai, xử lý tài sản của doanh nghiệp bị TBPS bản chất là một thủ tục

nằm trong các thủ tục phá sản, do đó nó được tiến hành dựa trên những quy định của pháp luật và có thể khẳng định thủ tục xử lý tài sản của doanh nghiệp bị TBPS là một thủ tục đặc biệt, bởi lẽ nó có vai trò rất quan trọng không chỉ đối với chủ nợ, doanh nghiệp mắc nợ, người lào động mà còn có vai trò rất lớn đến

sự phát triển của nền kinh tế- xã hội của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới

Trang 31

Theo quy định của Luật Phá sản của Lào năm 1994 và Luật Phá sản Việt Nam năm 2014 thì các chủ thể tham gia xử lý tài sản doanh nghiệp bị TBPS bao gồm: Tòa án, các thiết chế quản lý tài sản, chủ nợ và doanh nghiệp bị TBPS

2.1.1 So sánh các quy định về Tòa án

* Về điểm giống nhau:

Thứ nhất, cả Luật Phá sản Lào năm 1994 và Luật Phá sản Việt Nam năm

2014 đều xác định Tòa án cơ quan có vai trò quyết định, có thẩm quyền tiến hành thủ TTPS đối đối với DN, HTX bị mất khả năng thanh toán;

Thứ hai, cả Luật Phá sản Lào năm 1994 và Luật Phá sản Việt Năm năm

2014 đều xác định Thẩm phán là người trực tiếp thực hiện việc giải quyết yêu cầu phá sản, cũng như mở thủ tục XLTS của doanh nghiệp bị TBPS

* Về điểm khác nhau:

Thứ nhất, khác nhau về thẩm quyền của Tòa án

Luật Phá sản Lào năm 1994 đã có những quy định về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết phá sản nói chung và thủ tục XLTS của doanh nghiệp bị TBPS, cụ thể: (i) Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết phá sản và XLTS của doanh nghiệp bị TBPS đối với các doanh nghiệp

có đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh đó (khoản 1 Điều 7); (ii) tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết phá sản và XLTS của doanh nghiệp bị TBPS đối với các doanh nghiệp có đăng kí kinh doanh trên địa bàn khu vực

Trang 32

quyền giải quyết phá sản, cũng như XLTS của DN,HTX bị mất khả năng thanh toán đối với doanh nghiệp đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký doanh nghiệp; HTX đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký HTX tại tỉnh đó và thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 8 Luật phá sản năm 2014; (ii) Tòa án nhân dân cấp huyện

có thẩm quyền giải quyết phá sản và XLTS đối với DN, HTX có trụ sở chính tại huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh đó mà không thuộc các trường hợp quy định ở trên10

Như vậy, mặc dù cả Luật Phá sản Lào và Luật Phá sản Việt Nam đều xác định thẩm quyền của Tòa án nhân dân giải quyết phá sản và XLTS của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản ở cả hai cấp xét xử nhưng rõ ràng là có sự khác biệt lớn giữa pháp luật phá sản của hai nước, đó là:

- Cơ cấu, tổ chức Tòa án nhân dân ở Lào không có Tòa án nhân dân cấp huyện mà chỉ có Tòa án nhân dân khu vực Do vậy, Tòa án nhân dân khu vực có thể giải quyết phá sản và XLTS của doanh nghiệp bị TBPS của nhiều huyện trong một tỉnh Trong khi đó, Luật phá sản của Việt Nam quy định nếu trong trường hợp này sẽ thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh

- Luật Phá sản Việt Nam có quy định về trường hợp vụ việc phá sản thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh lấy lên

để giải quyết do tính chất phức tạp của vụ việc Trong khi đó, Luật Phá sản Lào không quy định về trường hợp này Ngoài ra, Luật Phá sản của Lào cũng không quy định rõ về việc xác định thẩm quyền giải quyết phá sản trong trường hợp vụ việc phá sản có tài sản ở nước ngoài hoặc người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài như Luật Phá sản Việt Nam năm 2014

Thứ hai, khác nhau trong các quy định về Thẩm phán - người trực tiếp

thực hiện việc giải quyết yêu cầu phá sản

Thẩm phán mới là người trực tiếp tiến hành các thủ tục để giải quyết vụ việc phá sản Quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán trong XLTS của doanh

10 Hà Thị Khánh Huyền (2015), Xử lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn theo

Luật Phá sản năm 2014, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, tr 23

Trang 33

nghiệp bị TBPS được Luật Phá sản Lào năm 1994 và Luật Phá sản Việt Nam năm 2014 quy định

Tuy nhiên, Luật Phá sản Lào năm 1994 không quy định một cách rõ ràng

cụ thể về quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán trong XLTS của doanh nghiệp

bị TBPS, mà chỉ quy định về quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán trong giải

quyết vụ việc phá sản trong Điều 8, trong đó có “Trách nhiệm, quyền hạn trong

thủ tục xử lý tài sản của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản” (khoản 5) Còn

Luật Phá sản năm 2014 của Việt Nam quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán, bao gồm: (i) những nhiệm vụ quyền hạn liên quan đến quản lý tài sản của doanh nghiệp; (ii) quyền hạn của Thẩm phán còn được thể hiện thông qua các quyền liên quan đến Hội nghị chủ nợ; (iii) Thẩm phán còn có nhiệm vụ quan trong là TBPS đối với DN, HTX mất khả năng thanh toán Ngoài ra, Thẩm phán còn có nhiệm vụ, quyền hạn được thể hiện thông qua nhóm quyền liên quan đến việc áp dụng các biện pháp hành chính- tư pháp

Như vậy, điểm khác nhau về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong thủ tục XLTS của doanh nghiệp bị TBPS của Luật Phá sản Lào năm 1994 và Luật Phá sản Việt Nam năm 2014 là: Luật Phá sản Việt Nam năm 2014 quy định

cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong thủ tục XLTS của DN, HTX mất khả năng thanh toán; cũng như mối quan hệ của Thẩm phán với các chủ thể khác trong quá trình thực hiện việc XLTS Điều này lại không được Luật Phá sản Lào năm 1994 quy định cụ thể

2.1.2 So sánh quy định về các thiết chế quản lý, thanh lý tài sản

Các thiết chế quản lý tài sản là một trong những chủ thể có vai trò quan trọng trong việc quản lý tài sản trong thủ tục XLTS của doanh nghiệp bị TBPS Đối với vấn đề này, Luật Phá sản Lào năm 1994 và Luật Phá sản Việt Nam năm

2014 có những điểm giống và khác nhau như sau:

* Về điểm giống nhau

Thứ nhất, Luật Phá sản hiện hành của cả Lào và Việt Nam đều có quy

định về thiết chế quản lý tài sản Luật Phá sản Lào năm 1994 gọi đó là Ban thanh

Trang 34

lý tài sản (Điều 38), Luật Phá sản Việt Nam năm 2014 gọi đó là Quản tài viên và doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản

Thứ hai, ngoài ra, Luật Phá sản hiện hành của 2 nước Lào và Việt Nam

đều quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các thiết chế này trong quản lý và thanh lý tài sản

* Về điểm khác nhau

Có thể thấy một số điểm khác nhau trong Luật Phá sản hiện hành của Lào

và Việt Nam về các thiết chế quản lý tài sản như sau:

Thứ nhất, về tên gọi của các thiết chế quản lý, thanh lý tài sản

Theo Luật Phá sản Lào năm 1994 thì có hai thiết chế quản lý, thanh lý tài sản là Ủy ban giám sát tài sản (Điều 15) và Ban thanh lý tài sản (Điều 38) đều do Tòa án nhân dân có thẩm quyền liên quan đến vụ việc phá sản, dựa trên cơ sở tập hợp các đại diện có liên quan đến vụ việc phá sản Trong khi đó, Luật Phá sản Việt Nam năm 2014 quy định có hai chủ thể có quyền quản lý tài sản đó là Quản tài viên và doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản

Theo khoản 7 và khoản 8 Điều 4 Luật Phá sản Việt Nam năm 2014, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản là cá nhân, doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản được thành lập theo điều kiện của pháp luật, còn

Ủy ban giám sát tài sản và Ban thanh lý tài sản theo Luật Phá sản Lào năm 1994 được Tòa án thành lập (xem Điều 15, Điều 38)

Thứ hai, về nhiệm vụ, quyền hạn của các thiết chế quản lý tài sản có sự

khác biệt tương đối trong Luật phá sản hiện hành của Lào và Việt Nam Cụ thể:

(i) Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban giám sát tài sản và Ban thanh lý tài sản theo Luật Phá sản Lào năm 1994, được quy định như sau:

+ Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban giám sát tài sản được quy định tại Điều 18, cụ thể như sau: Lập danh sách về số lượng tài sản của doanh nghiệp mắc nợ; kiểm tra, giám sát tài sản của doanh nghiệp mắc nợ, trong trường hợp cần thiết có quyền kiến nghị với Tòa án để quyết định sử dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ tài sản của doanh nghiệp mắc nợ; lập danh sách chủ

Trang 35

nợ và số nợ phải trả cho các chủ nợ; Ủy ban giám sát tài sản phải chịu trách nhiệm trước Tòa án, các bên liên quan trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình

+ Nhiệm vụ, quyền hạn của Ban thanh lý tài sản được quy định tại Điều

38, cụ thể: Kiểm tra các tài sản và nợ phải trả của doanh nghiệp; Chấp nhận việc chuyển giao tài sản và các tài liệu khác có liên quan từ Ủy ban giám sát tài sản;

Vô hiệu hóa các hợp đồng bất hợp pháp được ký kết bởi doanh nghiệp; Thu thập các tài sản của doanh nghiệp; Bán đấu giá tài sản của doanh nghiệp; Phân chia tài sản cho các chủ nợ; Phân chia tài sản còn lại sau khi thanh toán cho chủ nợ cho chủ sở hữu của doanh nghiệp hoặc cổ đông của doanh nghiệp

(ii) Nhiệm vụ, quyền hạn của Quản tài viên và doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản theo Luật Phá sản Việt Nam năm 2014, được quy định:

+ Quản lý tài sản, giám sát hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản của DN, HTX mất khả năng thanh toán gồm: Xác minh, thu thập, quản lý tài liệu, chứng

cứ liên quan đến hoạt động của DN, HTX; lập bảng kê khai tài sản, danh sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ; bảo quản tài sản; ngăn chặn việc bán, chuyển giao tài sản mà không được phép của Thẩm phán; ngăn chặn việc tẩu tán tài sản; tối đa hóa giá trị tài sản của DN, HTX khi bán, thanh lý tài sản; giám sát hoạt động kinh doanh của DN, HTX theo quy định của pháp luật; đề xuất với Thẩm phán về việc bán tài sản của DN, HTX để bảo đảm chi phí phá sản; bán tài sản theo quyết định của Thẩm phán để bảo đảm chi phí phá sản; tổ chức việc định giá, thanh lý tài sản theo quy định của Luật này; báo cao cơ quan thi hành án dân

sự, thông báo đến người tham gia TTPS có liên quan về việc giao cho cá nhân, tổ chức thực hiện thanh lý tài sản; gửi các khoản tiền thu được vào tài khoản do Tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền mở tại ngân hàng11

+ Quản tài viên; doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có quyền đại diện cho

DN, HTX trong trường hợp DN, HTX không có người đại diện theo pháp luật

11 Hà Thị Khánh Huyền (2015), Xử lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn theo

Luật Phá sản năm 2014, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, tr 28.

Trang 36

+ Báo cáo về tình trạng tài sản, công nợ và hoạt động của DN, HTX, tham gia xây dựng kế hoạch phục hồi hoạt động kinh doanh của DN, HTX mất khả năng thanh toán

+ Đề nghị Thẩm phán tiến hành các công việc sau: Thu thập tài liệu, chúng cứ; tuyên bố giao dịch vô hiệu và quyết định thu hồi tài sản của DN, HTX

bị bán hoặc chuyên giao bất hợp pháp; áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; áp dụng biện pháp xử phạt hành chính; chuyển hồ sơ sang cơ quan có thẩm quyền

xử lý về hình sự theo quy định của pháp luật

+ Quản tài viên; doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản phải báo cáo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo yêu cầu của Thẩm phán, cơ quan thi hành án dân sự; chịu trách nhiệm trước Thẩm phán, cơ quan thi hành án dân

sự và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình

Như vậy, trong sự so sánh về các thiết chế quản lý, thanh lý tài sản giữa Luật Phá sản hiện hành của hai nước thì có thể thấy một số điểm khác nhau sau:

(ii) Quản Tài viên; doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có quyền xác minh, thu thập, quản lý tài liệu, chứng cứ liên quan đến hoạt động của DN, HTX; bảo quản tài sản, ngăn chặn việc bán, chuyển giao tài sản mà không được phép của Thẩm phán; tối đa hóa giá trị tài sản của DN, HTX hay quyền đại diện cho

DN, HTX nếu DN, HTX không có người đại diện Những quyền hạn, trách nhiệm này lại không được Luật Phá sản Lào năm 1994 quy định cho Ủy ban giám sát tài sản cũng như Ban thanh lý tài sản

Sở dĩ có sự khác nhau về quyền hạn, trách nhiệm của các thiết chế quản

lý, thanh lý tài sản giữa Luật Phá sản Lào năm 1994 và Luật Phá sản Việt Nam năm 2014 là do các thiết chế này có tên gọi khác nhau: Luật Phá sản Lào năm

1994 gọi là Ban thanh lý tài sản, tức là chỉ có nhiệm vụ thanh lý tài sản; trong khi đó Luật Phá sản Việt Nam năm 2014 gọi là Quản tài viên; doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thì các thiết chế này ngoài nhiệm vụ thanh lý tài sản còn

có nhiệm vụ quản lý tài sản của DN, HTX mất khả năng thanh toán

(ii) Các thiết chế quản lý, thanh lý tài sản của Việt Nam là Quản tài Viên; doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản còn có mối quan hệ mật thiết với Tòa án,

Trang 37

Thẩm phán và cơ quan thi hành án dân sự, đó là: Quyền đề xuất với Thẩm phán

về việc bán tài sản và các vấn đề khác có liên quan; quyền bán tài sản theo quyết định của Thẩm phán; trách nhiệm báo cáo với cơ quan thi hành án dân sự; trách nhiệm gửi tiền thu được vào tài khoản của Tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền mở tại ngân hàng;… Đây là những vấn đề chưa được Luật Phá sản Lào năm 1994 quy định đối với Ủy ban giám sát tài sản và Ban thanh lý tài sản

Ngoài ra, Luật Phá sản Việt Nam năm 2014 còn đề cao nghĩa vụ của Quản tài viên; doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, khi quy định các thiết chế này phải chịu trách nhiệm trước Thẩm phán, cơ quan thi hành án dân sự và pháp luật

về việc thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình Đây là một vấn đề rất quan trọng để bảo đảm hiệu quả thực hiện hoạt động quản lý, thanh lý tài sản của các thiết chế này, tuy nhiên Luật Phá sản Lào năm 1994 lại chưa quy định vấn đề này cho Ban thanh lý tài sản mà chỉ quy định cho Ủy ban giám sát tài sản

2.1.3 So sánh các quy định về chủ nợ

Chủ nợ được hiểu là cá nhân, cơ quan, tổ chức, người có quyền lợi gắn liền với vụ việc phá sản Chính vì vậy, chủ nợ có quyền yêu cầu DN, HTX thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ, do vậy họ có quyền tham gia vào quá trình XLTS của DN, HTX Chủ nợ bao gồm chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ có bảo đảm Chủ nợ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình thông qua Hội nghị chủ nợ

Về quyền và nghĩa vụ của chủ nợ trong quá trình XLTS được Luật Phá sản Lào năm 1994 và Luật Phá sản Việt Nam năm 2014 quy định như sau:

(i) Theo quy đinh của Luật Phá sản Việt Nam năm 2014:

+ Quyền và nghĩa vụ của chủ nợ trong TTPS đó chính là quyền yêu cầu

DN, HTX thực hiện thanh toán khoản nợ Với tư cách là người có quyền nộp đơn yêu cầu mở TTPS thì chủ nợ sẽ có những quyền và nghĩa vụ sau trong quá trình XLTS: Đề nghị Thẩm phán, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ mà tự mình không thể thực hiện được hoặc trưng cầu giám định, định giá, thẩm định giá tài sản; đề nghị Thẩm

Trang 38

phán quyết định kiểm toán DN, HTX mất khả năng thanh toán; đề nghị Thẩm phán triệu tập người làm chứng (khoản 4 Điều 18); Tham gia Hội nghị chủ nợ (khoản 9 Điều 18); Đề nghị thay đổi Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh

lý tài sản (khoản 10 Điều 18); Đề nghị Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản bổ sung chủ nợ, người mắc nợ vào danh sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ (khoản 11 Điều 18); Đề xuất với Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản về việc thu hồi các khoản tiền, tài sản của người mắc nợ (khoản 12 Điều 18); Tham gia vào việc quản lý, thanh lý tài sản theo yêu cầu của Thẩm phán, cơ quan thi hành án dân sự, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản (khoản 14 Điều 18), Các nghĩa vụ bao gồm: Thực hiện yêu cầu của Thẩm phán, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản và cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật về phá sản (khoản 1 Điều 18); Cung cấp tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc giải quyết phá sản (khoản 2 Điều 18); Phải có mặt theo yêu cầu của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, giấy triệu tập của Tòa án nhân dân và chấp hành các quyết định của Tòa án nhân dân trong quá trình giải quyết phá sản (khoản 13 Điều 18);12…

+ Các chủ nợ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình thông qua Hội nghị chủ nợ Hội nghị chủ nợ được thành lập với điều kiện hợp lệ là có số chủ nợ tham gia đại diện cho ít nhất 51% tổng số nợ không có bảo đảm Với tư cách là đại diện cho các chủ nợ, Hội nghị chủ nợ có quyền đưa ra nghị quyết trong đó có một trong các kết luận sau: Đề nghị đình chỉnh giải quyết yêu cầu mở TTPS trong trường hợp kể từ ngày Tòa án ra quyết định mở TTPS đến trước ngày ra quyết định TBPS, nếu DN, HTX không mất khả năng thanh toán; đề nghị TBPS (Điều 83) Các chủ nợ có quyền thành lập Ban đại diện chủ nợ theo quy định của Điều 82 Ban đại diện chủ nợ thay mặt cho các chủ nợ thực hiện giám sát việc thực hiện nghị quyết của Hội nghị chủ nợ; đề xuất với Quản tài viên; doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản về việc thực hiện nghị quyết của Hội nghị chủ

nợ Trong trường hợp Quản tài viên; doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản

12 Hà Thị Khánh Huyền (2015), Xử lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn theo

Luật Phá sản năm 2014, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, tr 31-32.

Trang 39

không thực hiện nghị quyết của Hội nghị chủ nợ thì Ban đại điện chủ nợ có quyền thông báo bằng văn bản với Thẩm phán phụ trách giải quyết phá sản

(ii) Luật Phá sản Lào năm 1994 quy định về quyền và nghĩa vụ chủ nợ:+ Quyền và nghĩa vụ của chủ nợ: Luật Phá sản Lào năm 1994 của Lào không có quy định riêng về quyền và nghĩa vụ của chủ nợ mà quyền và nghĩa vụ của chủ nợ nói chung, quyền và nghĩa vụ của chủ nợ trong quá trình XLTS của doanh nghiệp bị TBPS được quy định trong rất nhiều điều luật Về quyền và nghĩa vụ của chủ nợ, tại Điều 6 Luật này quy định như sau: Chủ nợ có quyền nộp đơn chứa tên, địa chỉ của doanh nghiệp để Tòa án có thẩm quyền xem xét

mở TTPS; chủ nợ có quyền yêu cầu doanh nghiệp thanh toán nợ (khoản 1, 2 Điều 6); chủ nợ có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án về phá sản trong 15 ngày, kể từ ngày nhận quyết định đó (Điều 37); Đại diện chủ nợ có quyền tham gia vào Ban thanh lý tài sản (khoản 4 Điều 38); Các chủ nợ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình thông qua Hội nghị chủ nợ (khoản 3 Điều 6)

+ Hội nghị chủ nợ được thành lập với các thành phần bao gồm: Chủ nợ có tên trong danh sách hoặc đại diện chủ nợ; đại diện của doanh nghiệp mắc nợ; đại điện của công đoàn tỉnh, thành phố; đại diện người lao động của doanh nghiệp mắc nợ (Điều 19) Theo Điều 20 thì Hội nghị chủ nợ được thành lập dựa trên ý kiến của Ủy ban giám sát tài sản hoặc trên đề xuất của chủ nợ đại diện cho 1/4 của tổng số nợ Hội nghị chủ nợ ngoài việc có quyền xem xét các kế hoạch phục hồi doanh nghiệp và tổ chức các hoạt động kinh doanh như tại khoản 1 Điều 21

thì Hội nghị chủ nợ có quyền: “Nghiên cứu và trình các đề xuất đối với Tòa án

liên quan đến việc phân chia tài sản của doanh nghiệp trong trường hợp kế hoạch phục hồi doanh nghiệp không được chấp nhận” (khoản 2 Điều 21)

- Dựa trên những quy định của Luật Phá sản Lào năm 1994 và Luật Phá sản Việt Nam năm 2014 về chủ nợ, có thể thấy một số điểm giống nhau và khác nhau như sau:

+ Về điểm giống nhau:

Trang 40

Thứ nhất, cả Luật Phá sản Lào năm 1994 và Luật Phá sản Việt Nam năm

2014 đều quy định về quyền đòi nợ là quyền làm phát sinh các quyền trong quá trình XLTS

Thứ hai, cả Luật Phá sản Lào năm 1994 và Luật Phá sản Việt Nam năm

2014 đều quy định chủ nợ thực hiện quyền của mình trong quá trình XLTS thông qua Hội nghị chủ nợ

+ Về điểm khác nhau:

Thứ nhất, Luật Phá sản Việt Nam quy định cụ thể và rõ ràng hơn về

quyền và nghĩa vụ của chủ nợ, trong đó có một quyền trong quá trình XLTS Trong khi đó, Luật Phá sản Lào năm 1994 lại không quy định cụ thể và rõ ràng

về quyền, đặc biệt là nghĩa vụ của chủ nợ trong TTPS, cũng như trong XLTS của doanh nghiệp bị TBPS

Thứ hai, về Hội nghị chủ nợ Những người có quyền tham gia Hội nghị

chủ nợ theo Luật Phá sản Việt Nam chỉ là những chủ nợ có tên trong danh sách chủ nợ hoặc người được ủy quyền của chủ nợ; đại diện cho người lao động, đại diện công đoạn được người lao động ủy quyền (Điều 77) Trong khi đó, những người có quyền tham gia Hội nghị chủ nợ theo Luật Phá sản Lào bao gồm: chủ

nợ có tên trong danh sách, chủ nợ không được phép ủy quyền; doanh nghiệp mắc nợ; đại diện công đoàn tỉnh thành phố

Về quyền và nghĩa vụ của Hội nghị chủ nợ Luật Phá sản Việt Nam năm

2014 liệt kê các quyền và nghĩa vụ của Hội nghị chủ nợ trong quá trình XLTS của DN, HTX mất khả năng thanh toán Trong khi đó, Luật Phá sản Lào năm

1994 lại chỉ quy định Hội nghị chủ nợ chỉ có quyền nghiên cứu và trình các đề xuất đối với Tòa án liên quan đến việc phân chia tài sản doanh nghiệp mắc nợ khi kế hoạch phục hồi doanh nghiệp không được chấp thuận

Thứ ba, về Ban đại diện chủ nợ Đây là vấn đề được đề cập trong Điều 82

Luật Phá sản Việt Nam năm 2014, Ban đại diện chủ nợ chính là tổ chức trực tiếp thay mặt cho các chủ nợ trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ nợ trong vụ việc phá sản, cũng như trong quá trình XLTS của DN, HTX mất khả

Ngày đăng: 29/01/2019, 12:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hà Thị Thanh Bình (2003), Tài sản phá sản và phân chia tài sản của con nợ bị phá sản, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 5/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài sản phá sản và phân chia tài sản của con nợ bị phá sản
Tác giả: Hà Thị Thanh Bình
Năm: 2003
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (2004), Thực trạng phá sản doanh nghiệp và giải pháp hoàn thiện pháp luật về phá sản ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng phá sản doanh nghiệp và giải pháp hoàn thiện pháp luật về phá sản ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương
Năm: 2004
3. Nguyễn Kim Chi (2004), Xử lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn theo Luật phá sản năm 2004, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn theo Luật phá sản năm 2004
Tác giả: Nguyễn Kim Chi
Năm: 2004
4. Phan Thị Thu Hà (2010), Tìm hiểu pháp luật phá sản trên thế giới, Chuyên đề Khoa học xét xử, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu pháp luật phá sản trên thế giới
Tác giả: Phan Thị Thu Hà
Năm: 2010
5. Trương Hồng Hải (2004), Luật phá sản doanh nghiệp Việt Nam dưới góc độ Luật so sánh và phương hướng hoàn thiện, Luận án tiến sĩ luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật phá sản doanh nghiệp Việt Nam dưới góc độ Luật so sánh và phương hướng hoàn thiện
Tác giả: Trương Hồng Hải
Năm: 2004
6. Lê Thị Ngọc Hoa (2004), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về xử lý tài sản của doanh nghiệp phá sản, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về xử lý tài sản của doanh nghiệp phá sản
Tác giả: Lê Thị Ngọc Hoa
Năm: 2004
7. An Phương Huệ (2004), Luật phá sản của Việt Nam và pháp luật phá sản của Cộng hòa Pháp những nét tương đồng và khác biệt, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật phá sản của Việt Nam và pháp luật phá sản của Cộng hòa Pháp những nét tương đồng và khác biệt
Tác giả: An Phương Huệ
Năm: 2004
8. Hà Thị Khánh Huyền (2015), Xử lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn theo Luật Phá sản năm 2014, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử lý tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn theo Luật Phá sản năm 2014
Tác giả: Hà Thị Khánh Huyền
Năm: 2015
9. Massashi Nakanishi (2001), Những vấn đề cần trao đổi tại Hội thảo về Luật Phá sản theo dự án của JICA, Hội thảo quốc tế về Luật Phá sản doanh nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cần trao đổi tại Hội thảo về Luật Phá sản theo dự án của JICA
Tác giả: Massashi Nakanishi
Năm: 2001
10. Tatssuo Tezuka (2001), Tổng thuật chung về Luật Phá sản Nhật Bản, Hội thảo quốc tế về Luật phá sản doanh nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng thuật chung về Luật Phá sản Nhật Bản
Tác giả: Tatssuo Tezuka
Năm: 2001
11.Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia - Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật (2004), Bước đầu tìm pháp luật thương mại Mỹ, Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm pháp luật thương mại Mỹ
Tác giả: Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia - Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2004
12.Vũ Thị Hồng Vân (2004), Quản lý và xử lý tài sản phá sản theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và xử lý tài sản phá sản theo quy định của pháp luật Việt Nam
Tác giả: Vũ Thị Hồng Vân
Năm: 2004
13. Viện Khoa học và Xã hội Lào (2000), Những bất cập trong việc thi hành các quy định của Luật phá sản năm 1994, Đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước, Viêng Chăn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bất cập trong việc thi hành các quy định của Luật phá sản năm 1994
Tác giả: Viện Khoa học và Xã hội Lào
Năm: 2000
14. Viện Nghiên cứu lập pháp - Bộ Tư pháp Lào (2014), Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng thủ tục phá sản”, đề tài khoa học cấp Bộ, Viêng Chăn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng thủ tục phá sản”
Tác giả: Viện Nghiên cứu lập pháp - Bộ Tư pháp Lào
Năm: 2014
15. Vụ pháp luật dân sự - kinh tế, Bộ Tư pháp, Chuyền đề: “Thực trạng pháp luật về phá sản và việc hoàn thiện môi trường pháp luật kinh doanh tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyền đề: “Thực trạng pháp luật về phá sản và việc hoàn thiện môi trường pháp luật kinh doanh tại Việt Nam
16. Trần Duy Tuấn (2013), Chế định tài sản phá sản trong pháp luật một số quốc gia trên thế giới và những gợi mở cho Việt Nam, đăng trên:http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=111 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định tài sản phá sản trong pháp luật một số quốc gia trên thế giới và những gợi mở cho Việt Nam
Tác giả: Trần Duy Tuấn
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w