1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu, cấu trúc sở hữu lên hiệu quả hoạt động của các công ty phát điện tại Việt Nam

186 115 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 186
Dung lượng 2,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này phân tích tác động của biến đổi khí hậu và cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động các công ty phát điện ở Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu báo cáo tài chính của 32 công ty phát điện ở Việt Nam, các dữ liệu về lượng mưa và nhiệt độ hàng năm từ Tổng cục thống kê Việt Nam và Ngân hàng Thế giới trong giai đoạn 2006 – 2016, và thực hiện phương pháp phỏng vấn chuyên gia. Kết quả nghiên cứu thu được từ mô hình hồi quy tuyến tính phù hợp với thực tế hơn so với mô hình phi tuyến. Các kết quả trong mô hình tuyến tính cho thấy biến đổi khí hậu có tác động đến hiệu quả hoạt động, giá trị thị trường và chi phí giá vốn của công ty phát điện. Tùy theo thước đo biến đổi khí hậu, mối quan hệ có thể cùng chiều hoặc ngược chiều. Kết quả thực nghiệm cũng cho thấy tỷ lệ sở hữu nhà nước cao làm giảm hiệu quả hoạt động và tăng chi phí cho các công ty phát điện. Kết quả tương tự khi phân tích tác động của sở hữu nhà nước thông qua biến chi phí đại diện. Dựa trên kết quả nghiên cứu, Luận án đã gợi ý những kiến nghị đối với các cấp quản lý của các công ty phát điện, các đơn vị đối tác, các nhà đầu tư vào các công ty phát điện và các cơ quan quản lý nhà nước, đặt trong bối cảnh Việt Nam đang hình thành và phát triển thị trường điện và dưới sự tác động của biến đổi khí hậu.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

PHẠM QUỐC BẢO

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, CẤU TRÚC SỞ HỮU LÊN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY PHÁT ĐIỆN TẠI VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

TP.HỒ CHÍ MINH – Năm 2019

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ ix

TÓM TẮT 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 2

1.1 Bối cảnh và lý do nghiên cứu 2

1.1.1 Diễn biến của biến đổi khí hậu 2

1.1.2 Việt Nam – điển hình của nền kinh tế chuyển đổi 3

1.1.3 Các nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến công ty phát điện 4

1.1.4 Các vấn đề đặc thù khác ở Việt Nam 5

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 6

1.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 7

1.4 Phương pháp nghiên cứu 8

1.5 Ý nghĩa nghiên cứu 9

1.6 Các đóng góp mới của nghiên cứu 10

1.7 Kết cấu nghiên cứu 11

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 13

2.1 Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 13

2.2 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hiệu quả kinh doanh các công ty phát điện 16

2.2.1 Khái niệm biến đổi khí hậu 16

2.2.2 Biến đổi khí hậu như một loại rủi ro trong kinh doanh 17

2.2.3 Biến đổi khí hậu tác động đến cung cầu thị trường điện 19

2.2.3.1 Tác động của biến đổi khí hậu lên nhu cầu về điện 20

2.2.3.2 Tác động của biến đổi khí hậu lên nguồn cung về điện và truyền dẫn điện 23

2.2.4 Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến suất sinh lợi cổ phiếu 26

2.3 Ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu nhà nước đến hiệu quả kinh doanh 27

2.3.1 Sở hữu nhà nước và hiệu quả kinh doanh 27

Trang 3

2.3.2 Vai trò của sở hữu nhà nước trong ứng phó với biến đổi khí hậu 28

2.4 Các yếu tố khác ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh công ty 30

2.4.1 Cấu trúc vốn 30

2.4.2 Tỷ lệ thanh toán hiện hành 30

2.4.3 Quy mô công ty 31

2.5 Tóm lược một số nghiên cứu gần đây 31

2.5.1 Nhóm các nghiên cứu về biến đổi khí hậu 31

2.5.2 Nhóm các nghiên cứu cấu trúc sở hữu 34

2.5.3 Các nghiên cứu trong nước 38

2.6 Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh công ty phát điện 39

2.7 Giả thuyết mô hình nghiên cứu định lượng 40

2.8 Biến đổi khí hậu và kết quả kinh doanh 42

2.8.1 Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi 42

2.8.2 Ảnh hưởng của BĐKH đến giá trị thị trường công ty phát điện 44

2.8.3 Ảnh hưởng của BĐKH đến chi phí công ty phát điện 47

2.9 Tỷ lệ sở hữu nhà nước tại các công ty phát điện 48

2.10 Vai trò điều tiết của cấu trúc sở hữu trong kiểm soát biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh 51

2.11 Mối quan hệ của các biến kiểm soát với hiệu quả kinh doanh công ty phát điện 53

2.11.1 Chi phí đại diện của sở hữu nhà nước 54

2.11.2 Đòn bẩy tài chính (LEV) 55

2.11.3 Tỷ lệ thanh toán hiện hành (LIQ) 56

2.11.4 Quy mô công ty (SIZE) 56

2.12 Kết luận chương 2 57

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 58

3.1 Quy trình nghiên cứu 58

3.2 Nghiên cứu định lượng 58

3.2.1 Dữ liệu và đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu định lượng 58

3.2.2 Các phương pháp ước lượng phương trình 64

3.3 Nghiên cứu định tính 68

3.4 Kết luận chương 3 72

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 73

4.1 Thống kê mô tả 73

Trang 4

4.2 Kết quả ước lượng 75

4.2.1 Kết quả ước lượng đơn phương trình 76

4.2.1.1 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hiệu quả kinh doanh 76

4.2.1.2 Ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả kinh doanh 76

4.2.1.3 Vai trò của cấu trúc sở hữu trong kiểm soát biến đổi khí hậu và hiệu quả kinh doanh 78 4.2.1.4 Tác động của biến kiểm soát chi phí đại diện 78

4.2.1.5 Tác động của các biến kiểm soát khác trong mô hình 79

4.2.2 Kết quả ước lượng hệ phương trình 83

4.2.2.1 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hiệu quả kinh doanh 84

4.2.2.2 Ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả kinh doanh 85

4.2.2.3 Vai trò của sở hữu nhà nước trong ứng phó biến đổi khí hậu 85

4.2.2.4 Tác động của biến kiểm soát chi phí đại diện 86

4.2.2.5 Ảnh hưởng của các biến kiểm soát khác 90

4.2.3 Kết quả các mô hình phân tích ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến giá trị thị trường và chi phí công ty phát điện 91

4.2.3.1 Ảnh hưởng của BĐKH đến giá trị thị trường công ty phát điện 91

4.2.3.2 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến chi phí của công ty phát điện 97

4.2.4 Kết quả nghiên cứu định tính từ phỏng vấn chuyên gia 100

4.2.4.1 Kết quả tổng quan 100

4.2.4.2 Mối quan hệ giữa biến đổi khí hậu và hiệu quả kinh doanh 102

4.2.4.3 Tỷ lệ sở hữu nhà nước và vai trò điều tiết của sở hữu nhà nước 105

4.2.4.4 Vấn đề giảm sở hữu nhà nước và chi phí đại diện 108

4.2.4.5 Biện pháp áp dụng mức trần chi phí đại diện 112

4.2.4.6 Các vấn đề về kết quả mô hình thực nghiệm 113

4.3 Kết luận chương 4 114

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ 117

5.1 Các kết quả nghiên cứu chính 117

5.2 Ý nghĩa và đóng góp của đề tài 119

5.2.1 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu 120

5.2.2 Ý nghĩa lý thuyết của nghiên cứu 120

5.3 Hàm ý chính sách 121

5.3.1 Đối với các cấp quản lý của các công ty phát điện 123

5.3.2 Đối với các nhà đầu tư vào các công ty phát điện 125

Trang 5

5.3.3 Đối với cơ quan quản lý nhà nước 126

5.4 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo 129

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ 131

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 132

Phụ lục 1 Giới thiệu về lộ trình phát triển thị trường điện Việt Nam 141

Phụ lục 2 Danh sách 32 công ty phát điện 143

Phụ lục 3 Danh sách chuyên gia tham gia phỏng vấn 144

Phụ lục 4 Các kết quả chi tiết ước lượng bằng FEM 145

Phụ lục 5 Các kết quả chi tiết ước lượng bằng GMM – biến phụ thuộc là ROA và ROE 153

Phụ lục 6 Các kết quả ước lượng bằng – biến phụ thuộc là TQ, TQ70, TQ80 và COR 169

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

CAPM Capital Asset Pricing Model Mô hình định giá vốn tài sản

CCKP Climate Change Knowledge Portal Chuyên trang đặc biệt về kiến thức

biến đổi khí hậu

GENCO Power Generation Corporation Tổng công ty phát điện

phương trình

HOSE/HSX Ho Chi Minh Stock Exchange Sở giao dịch chứng khoán Thành

phố Hồ Chí Minh

UPCOM Unlisted Public Company Market Sàn chứng khoán Upcom

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Tổng hợp ảnh hưởng của BĐKH đến KQKD công ty phát điện 47

Bảng 2.2: Kỳ vọng mối quan hệ giữa giá vốn hàng bán và BĐKH 48

Bảng 2.3: Mối quan hệ của các biến kiểm soát với hiệu quả kinh doanh 57

Bảng 3.01: Chỉ tiêu đo lường các biến từ dữ liệu báo cáo tài chính 60

Bảng 3.12: Tương quan cặp giữa các chuỗi dữ liệu 63

Bảng 3.23: Các câu hỏi chính phỏng vấn chuyên gia 71

Bảng 4.1: Thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu 74

Bảng 4.2: Tương quan cặp các biến trong mô hình 75

Bảng14.3: Kết quả ước lượng mô hình (2) với phương pháp FE 80

Bảng24.4: Kết quả ước lượng mô hình (3) với phương pháp FE 81

Bảng34.5: Kết quả ước lượng mô hình (4) với phương pháp FE 82

Bảng44.6: Kết quả ước lượng mô hình (5) với phương pháp FE 83

Bảng54.7: Kết quả ước lượng mô hình (2) với phương pháp GMM 87

Bảng64.8: Kết quả ước lượng mô hình (3) với phương pháp GMM 88

Bảng74.9: Kết quả ước lượng mô hình (4) với phương pháp GMM 89

Bảng84.10: Kết quả ước lượng mô hình (5) với phương pháp GMM 90

Bảng94.11: Tổng hợp kết quả mối quan hệ của biến kiểm soát 91

Bảng104.12: Tổng hợp ảnh hưởng của BĐKH đến ROA, ROE và Tobin Q 93

Bảng114.13: Tác động của BĐKH đến giá trị thị trường công ty phát điện 94

Bảng124.14: Tác động của BĐKH đến giá trị thị trường công ty phát điện (tt) 95

Bảng134.15: Ảnh hưởng của biến tương tác đến giá trị thị trường công ty 96

Bảng144.16: Ảnh hưởng của biến tương tác đến giá trị thị trường công ty 97

Bảng154.17: Tác động của BĐKH đến giá vốn công ty phát điện 98

Bảng164.18: Tổng hợp ý kiến đồng ý của các chuyên gia 101

Bảng174.19: Tổng hợp các kết luận chính trong mô hình định lượng 115

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 3.1: Tóm lược quy trình nghiên cứu định lượng 59 Hình 3.2: Thay đổi nhiệt độ trung bình hàng năm giai đoạn 2006-2016 62 Hình 3.3: Thay đổi lượng mưa hàng năm giai đoạn 2006-2016 63

Trang 9

TÓM TẮT

Nghiên cứu này phân tích tác động của biến đổi khí hậu và cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động các công ty phát điện ở Việt Nam Nghiên cứu sử dụng dữ liệu báo cáo tài chính của 32 công ty phát điện ở Việt Nam, các dữ liệu về lượng mưa và nhiệt độ hàng năm từ Tổng cục thống kê Việt Nam và Ngân hàng Thế giới trong giai đoạn 2006 – 2016, và thực hiện phương pháp phỏng vấn chuyên gia Kết quả nghiên cứu thu được từ mô hình hồi quy tuyến tính phù hợp với thực tế hơn so với

mô hình phi tuyến Các kết quả trong mô hình tuyến tính cho thấy biến đổi khí hậu

có tác động đến hiệu quả hoạt động, giá trị thị trường và chi phí giá vốn của công ty phát điện Tùy theo thước đo biến đổi khí hậu, mối quan hệ có thể cùng chiều hoặc ngược chiều Kết quả thực nghiệm cũng cho thấy tỷ lệ sở hữu nhà nước cao làm giảm hiệu quả hoạt động và tăng chi phí cho các công ty phát điện Kết quả tương

tự khi phân tích tác động của sở hữu nhà nước thông qua biến chi phí đại diện Dựa trên kết quả nghiên cứu, Luận án đã gợi ý những kiến nghị đối với các cấp quản lý của các công ty phát điện, các đơn vị đối tác, các nhà đầu tư vào các công ty phát điện và các cơ quan quản lý nhà nước, đặt trong bối cảnh Việt Nam đang hình thành

và phát triển thị trường điện và dưới sự tác động của biến đổi khí hậu

Từ khóa: Biến đổi khí hậu, công ty phát điện, thị trường điện, tỷ lệ sở hữu nhà nước, chi phí đại diện,

Trang 10

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Bối cảnh và lý do nghiên cứu

1.1.1 Diễn biến của biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức lớn nhất đối với toàn nhân loại trong thế kỷ 21 và các thế kỷ tiếp theo, làm thay đổi toàn diện, sâu sắc quá trình phát triển của các quốc gia, trong đó có Việt Nam Biến đổi khí hậu đang có những tác động mạnh mẽ đến nhiều mặt của nền kinh tế Theo Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam do Bộ Tài nguyên và môi trường thực hiện năm 2016 cho thấy diễn biến thời tiết ở Việt Nam đã và đang chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, tính từ năm 1958, trung bình 10 năm nhiệt độ tăng thêm 0,10C, trung bình giai đoạn 1958 – 2014 nhiệt độ đã tăng thêm 0,60C Nhiệt độ trung bình trong 20 năm gần đây tăng 0,380C so với thời kỳ 1981 – 1990 trước đó, cùng với hiện tượng hạn hán trong mùa khô xảy ra thường xuyên hơn, và số lượng bão mạnh có xu hướng tăng Với diễn biến như vậy, kịch bản dự đoán rằng vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ sẽ tăng từ 1,9 đến 2,40C ở phía Bắc, và 1,7 đến 1,90C ở phía Nam trong điều kiện khả quan, và tăng lần lượt từ 3,3 đến 4,00C và 3,0 đến 3,50C ở phía Bắc và phía Nam trong điều kiện khí hậu bất lợi hơn, với nhiệt độ cực trị có xu hướng tăng rõ rệt

Còn theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Quản lý Trung ương phối hợp với Viện Nghiên cứu phát triển Thế giới và Đại học Copenhagen (2012) cho biết, nếu kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng với tốc độ 5,4%/năm trong giai đoạn 2007 –

2050 thì tốc độ tăng trưởng bị tác động bởi biến đổi khí hậu có thể ở mức 5,32% đến 5,39% – như vậy tốc độ tăng trưởng của Việt Nam có thể chịu tác động tiêu cực

từ biến đổi khí hậu

Không chỉ ở cấp độ quốc gia, biến đổi khí hậu cũng là nỗi lo của từng ngành công nghiệp, đặc biệt là các ngành chịu ảnh hưởng lớn từ yếu tố thiên nhiên mà trong đó, ngành điện là một ví dụ điển hình Chiến lược quốc gia về BĐKH của Việt Nam (2011) cũng nhấn mạnh, BĐKH có thể làm tài nguyên nước thêm nguy

Trang 11

cơ suy giảm nghiêm trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất thủy điện Mideksa & Kallbekken (2010) cho rằng với sự gia tăng nhiệt độ trung bình ở hầu hết các khu vực trên thế giới và sự thay đổi lượng mưa, các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt cùng với mực nước biển dâng,… những sự kiện này dự kiến tác động lên cả phía cung và phía cầu năng lượng Một nghiên cứu khác của Wang và các tác giả (2014) cho thấy lượng mưa giữ vai trò quan trọng đối với thủy điện ở Trung Quốc Vì vậy, biến đổi khí hậu sẽ có tác động mạnh đến thủy điện nước này Theo tính toán của Bing Wang và các tác giả (2014) với kịch bản biến đổi khí hậu đến giai đoạn 2020 –

2030, thủy điện tại 9 tỉnh miền nam Trung Quốc có thể tổn thất lên đến 31,107 tỷ kWh vào năm 2020 và 57,637 tỷ kWh vào năm 2030 Như vậy, có thể thấy rằng BĐKH có ảnh hưởng đến sản lượng điện tại các nhà máy điện nói chung, và do đó

có thể ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của công ty phát điện

1.1.2 Việt Nam – điển hình của nền kinh tế chuyển đổi

Thực hiện chuyển đổi từ kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường từ cuối những năm 1980 và mở cửa hội nhập quốc tế từ những năm 1990, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều thay đổi Theo WB “chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường đã giúp Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới thành nước có thu nhập trung bình thấp”, Việt Nam hiện là một trong những quốc gia năng động nhất Đông Á Thái Bình Dương; cũng theo WB, trong giai đoạn 1993 – 2012, Việt Nam đã đạt được những bước tiến bộ đáng kể trong cung cấp dịch vụ thiết yếu cho người dân, đặc biệt đến thời điểm cập nhật tháng 4/2018, có đến trên 99% người dân Việt Nam đã có điện thắp sáng, trong khi cách đây 20 năm tỷ lệ này chỉ ở mức 14%

Từ năm 2009, ngành điện Việt Nam đã bắt đầu thay đổi từ phát điện độc quyền sang phát điện cạnh tranh, đánh dấu sự đổi mới trong cấu trúc thị trường ngành điện (phụ lục 1 giới thiệu về lộ trình phát triển thị trường điện tại Việt Nam) Thị trường phát điện cạnh tranh đã tạo điều kiện cho các công ty tư nhân gia nhập ngành Đây cũng là xu hướng chung của nhiều quốc gia trên thế giới

Trang 12

Dựa trên những chuyển biến về kinh tế và quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước nói chung và lĩnh vực phát điện nói riêng, cùng với quá trình hình thành thị trường phát điện cạnh tranh tại Việt Nam trong thập niên vừa qua, Việt Nam là lựa chọn phù hợp để trở thành điển hình nghiên cứu về các nền kinh tế chuyển đổi

1.1.3 Các nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đến công ty phát điện

Cùng với biến đổi khí hậu, trong hai thập kỷ gần đây, có một xu hướng đáng quan tâm khác trong ngành điện tại nhiều quốc gia trên thế giới là sự dịch chuyển từ

hệ thống phát điện độc quyền sang phát điện cạnh tranh Hầu hết các nghiên cứu trước đây về BĐKH được thực hiện ở các quốc gia có thị trường phát điện có sự tham gia của nhiều công ty tư nhân như các quốc gia Châu Âu hay Mỹ với các nghiên cứu điển hình như của Hamilton (1995); Klassen & McLaughlin (1996); Khanna và các tác giả (1998); Cho & Patten (2007); Artiach và các tác giả (2010); Eleftheriadis và các tác giả (2012) Trong khi đó tại các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Đông Nam Á, các công ty năng lượng có sở hữu chi phối của nhà nước chiếm đến 2/3 sản lượng của ngành (Rajavuori, 2016) lại chưa có nhiều nghiên cứu tranh luận Việt Nam cũng là trường hợp điển hình, tỷ lệ

sở hữu nhà nước tại 32 công ty phát điện đang niêm yết trên thị trường chứng khoán

ở mức trung bình 45% - 52% Các tác động của BĐKH xảy ra trên phạm vi toàn cầu, nhưng ứng phó với BĐKH có thể tùy theo nhận thức và hành động của mỗi quốc gia và mỗi doanh nghiệp Hơn nữa, mặc dù sở hữu nhà nước trong ngành năng lượng vẫn còn ở mức cao, nhưng xu hướng tư nhân hóa vẫn đang diễn ra, điển hình như quá trình cổ phần hóa diễn ra ở Việt Nam trong giai đoạn 2007-2016 Bên cạnh

cổ phần hóa công ty phát điện, thị trường phát điện cạnh tranh cũng đã hình thành ở nhiều nước như Trung Quốc, Brazil; trong giai đoạn từ 2006-2014, Việt Nam cũng thực hiện vận hành thị trường phát điện cạnh tranh Do vậy, việc thiếu vắng các nghiên cứu về ảnh hưởng của BĐKH đến HQKD các công ty phát điện ở các nền kinh tế mới nổi là khoảng trống nghiên cứu cần được bổ sung

Trang 13

Với vai trò điều tiết của sở hữu nhà nước trong ứng phó với BĐKH, Clò và các tác giả (2017) là các nhà khoa học tiên phong chỉ ra bằng chứng khoa học cho vấn đề này Tuy nhiên, nghiên cứu này thực hiện với mẫu nghiên cứu các công ty ở các quốc gia Châu Âu và dựa trên dữ liệu phát thải khí nhà kính của các công ty phát điện Tại các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, chưa có các nghiên cứu thảo luận chuyên sâu chủ đề này.Khi mở cửa lĩnh vực kinh doanh phát điện cho tư nhân tham gia, và thúc đẩy phát triển công nghiệp thì nhà nước tại các quốc gia, trong đó có Việt Nam, có thực hiện vai trò điều tiết giúp kiểm soát BĐKH nói chung và giúp các công ty có vốn chi phối của nhà nước giảm tác động bất lợi của BĐKH như các nền kinh tế phát triển hay không? do đó, đặt ra mục tiêu nghiên cứu cho đề tài này

Các bằng chứng về tác động của sở hữu nhà nước trong điều kiện BĐKH gia tăng sẽ rất hữu ích để xây dựng chính sách về BĐKH, cũng như thiết lập mục tiêu kinh doanh của công ty phát điện

1.1.4 Các vấn đề đặc thù khác ở Việt Nam

Theo tìm hiểu của tác giả cho đến nay, các nghiên cứu lượng hóa ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hiệu quả kinh doanh của các công ty nói chung và các công ty phát điện nói riêng ở Việt Nam còn khá hạn chế Vì vậy, nghiên cứu mức

độ của sự ảnh hưởng này là một đề tài đáng quan tâm và cần được mở rộng đầu tư

kỹ lưỡng hơn Đây có thể là mối quan tâm chung cho cả nhà khoa học và các nhà quản lý doanh nghiệp, và cả người làm chính sách đứng ở góc độ quản lý nhà nước

Mặc dù thị trường phát điện cạnh tranh đã được hình thành, nhưng vấn đề sở hữu nhà nước đã tồn tại từ nhiều năm và có thể đã đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty phát điện Với những điểm mạnh của mình, vốn nhà nước có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh đáng kể so với với các công ty phát điện tư nhân được hình thành từ khi có thị trường phát điện cạnh tranh Tuy nhiên, căn cứ trên nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước, thành phần sở hữu nhà nước đôi khi lại là tác nhân kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp Vậy thì đối với một ngành mà yêu cầu vốn đầu vào là rất lớn, thời gian hoàn vốn dài thì sự can

Trang 14

thiệp của thành phần sở hữu nhà nước sẽ là động lực thúc đẩy kết quả kinh doanh của các công ty phát điện hay lại là trở ngại? Đây là vấn đề luận thu hút sự quan tâm của người dân, nhà quản trị doanh nghiệp và nhà hoạch định chính sách Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu định lượng chuyên sâu cho vấn đề này Do đó, khoảng trống nghiên cứu này cần phải có sự bổ sung phù hợp

Áp lực cạnh tranh lớn hơn có thể thúc đẩy các nhà quản trị công ty phát điện thay đổi chiến lược quản trị để nâng cao hiệu quả hoạt động và giữ thị phần Việc cải thiện hiệu quả hoạt động của các công ty phát điện trong môi trường phát điện cạnh tranh là một vấn đề thu hút sự quan tâm không chỉ với các nhà quản trị mà còn với cả những nhà hoạch định chính sách Tuy đã bắt đầu đổi mới và mở rộng kêu gọi đầu tư từ bên ngoài, sở hữu nhà nước vẫn còn rất phổ biến tại các công ty phát điện ở Việt Nam Liệu sự sở hữu này của nhà nước có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các công ty phát điện hay không là một câu hỏi nghiên cứu thú vị và chưa được giải đáp thấu đáo

Xuất phát từ những lý do nêu trên, bài nghiên cứu này sẽ phân tích và cung cấp những bằng chứng khoa học lượng hóa mức độ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, cấu trúc sở hữu cùng một số yếu tố khác như cấu trúc vốn, mức chi tiêu vốn,… đến hiệu quả hoạt động công ty phát điện Nghiên cứu cũng phân tích vai trò của sở hữu nhà nước trong các công ty phát điện có giúp các công ty này giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu hay không Nghiên cứu cũng tìm kiếm các gợi ý chính sách vĩ

mô và các giải pháp giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty phát điện Nghiên cứu thực hiện dựa trên dữ liệu các công ty phát điện đã niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam và khảo sát các ý kiến các nhà khoa học, nhà quản lý các công ty phát điện có quy mô lớn ở Việt Nam

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của Luận án là tìm các bằng chứng khoa học về các yếu

tố tác động đến hiệu quả kinh doanh các công ty phát điện trong thị trường phát điện canh tranh ở quốc gia chuyển đổi nền kinh tế từ bao cấp sang thị trường cạnh tranh Trong các yếu tố tác động, nghiên cứu phân tích chuyên sâu các mối quan hệ:

Trang 15

(1) Kiểm định ảnh hưởng BĐKH đến HQKD; (2) Kiểm định ảnh hưởng của SHNN đến HQKD; (3) Kiểm định vai trò điều tiết của sở hữu nhà nước khi thực hiện ứng phó với BĐKH tại các công ty phát điện ảnh hưởng đến HQKD; (4) Kiểm định đề xuất một số hàm ý chính sách đối với các cấp quản lý của các công ty phát điện, các đơn vị đối tác, các nhà đầu tư vào các công ty phát điện và các cơ quan quản lý nhà nước của ngành điện Việt Nam, đặt trong bối cảnh Việt Nam đang hình thành và phát triển thị trường điện và dưới sự tác động của BĐKH

Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu chính, luận án cần trả lời các câu hỏi sau:

i BĐKH tác động như thế nào đến HQKD công ty phát điện? Mối quan hệ giữa hai yếu tố này cùng chiều hay ngược chiều?

ii Đối với ngành mà yêu cầu vốn đầu vào là rất lớn, thời gian hoàn vốn dài thì

sự can thiệp của thành phần sở hữu nhà nước sẽ là động lực thúc đẩy kết quả kinh doanh của các công ty phát điện hay lại là trở ngại? Theo đó, việc thực hiện Lộ trình tái cơ cấu ngành điện hoặc thực hiện cổ phần hóa các đơn vị có phần vốn Nhà nước hoạt động trong ngành điện có thực sự là giải pháp hợp lý?

iii Khi mở cửa lĩnh vực kinh doanh phát điện cho tư nhân tham gia và thúc đẩy phát triển công nghiệp, các quốc gia như Việt Nam có thực hiện vai trò điều tiết giúp kiểm soát BĐKH nói chung và giúp các công ty có vốn chi phối của nhà nước giảm tác động bất lợi của BĐKH như các nền kinh tế phát triển hay không?

iv Có các đề xuất cụ thể gì đối với các cấp quản lý của các công ty phát điện, các đơn vị đối tác, các nhà đầu tư vào các công ty phát điện và các cơ quan quản lý nhà nước ngành điện Việt Nam, đặt trong bối cảnh Việt Nam đang hình thành và phát triển thị trường điện và dưới sự tác động của BĐKH?

1.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Từ mục tiêu nghiên cứu, tác giả lựa chọn các công ty phát điện ở Việt Nam

để thực hiện chọn mẫu nghiên cứu Các dữ liệu đo lường HQKD được xác định dựa

Trang 16

trên dữ liệu báo cáo tài chính Do vậy, mẫu nghiên cứu bao gồm các công ty phát điện đang niêm yết trên các sở giao dịch chứng khoán của Việt Nam

Đối với phương pháp khảo sát chuyên gia, tác giả tham vấn ý kiến các chuyên gia hàng đầu trong ngành năng lượng ở Việt Nam

Từ câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu được quan tâm bao gồm hiệu quả kinh doanh các công ty phát điện và các yếu tố tác động lên hiệu quả kinh doanh các công ty này

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích dựa trên mô hình định lượng và phương pháp phỏng vấn sâu các chuyên gia

Trên cơ sở lý thuyết và thừa kế các công trình nghiên cứu trước đây, nghiên cứu đề xuất mô hình phân tích định lượng tác động của cấu trúc sở hữu và BĐKH

và các yếu tố khác đến HQKD các công ty phát điện ở Việt Nam dưới dạng hàm số

đa biến Trong đó, biến phụ thuộc là các biến đại diện cho biến HQKD bao gồm ROA, ROE, giá vốn hàng bán/doanh thu và Tobin’Q Các biến độc lập bao gồm BĐKH, tỷ lệ sở hữu vốn của nhà nước, tỷ lệ đòn bẩy, tỷ lệ thanh toán hiện hành, chi tiêu vốn, quy mô công ty Dữ liệu mô hình định lượng thu thập dưới dạng dữ liệu bảng Dạng dữ liệu này có nhiều ưu điểm khi giải quyết vấn đề bỏ sót các biến không quan sát được và khắc phục hạn chế mẫu nhỏ nếu phân tích riêng lẻ theo từng công ty

Với dữ liệu bảng, nghiên cứu áp dụng phương pháp ước lượng đơn phương trình theo mô hình tác động cố định - FEM (Fixed effects model) và phương pháp ước lượng hệ phương trình theo mô hình GMM hệ thống Phương pháp FEM cho kết quả đúng nhưng vẫn chưa giải quyết vấn đề tự tương quan và nội sinh giữa các biến trong mô hình thực nghiệm Hạn chế này sẽ được giải quyết khi sử dụng phương pháp GMM hệ thống Các kết quả ước lượng từ hai mô hình có thể bổ sung

và củng cố các mối quan hệ được tìm thấy trong mô hình định lượng

Trang 17

Ngoải ra, để làm sáng tỏ các vấn đề phát sinh từ kết quả nghiên cứu, phương pháp phỏng vấn chuyên gia cũng được sử dụng Nghiên cứu thực hiện phỏng vấn các chuyên gia bao gồm các nhà khoa học công tác tại các trường đại học, viện nghiên cứu, đơn vị tư vấn thiết kế hệ thống điện, các nhà quản trị của các công ty phát điện lớn ở Việt Nam và các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Công thương

1.5 Ý nghĩa nghiên cứu

Nghiên cứu đã tìm thấy các bằng chứng khoa học chứng minh các yếu tố ảnh hưởng đến HQKD của các công ty phát điện tại Việt Nam, một quốc gia đang phát triển và có nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Song song đó, tác giả đã tiến hành trao đổi, thảo luận chuyên sâu với các chuyên gia, các nhà quản lý trong ngành điện về yếu tố BĐKH và vai trò điều tiết của sở hữu nhà nước trong hoạt động kinh doanh của công ty phát điện Theo đó, kết quả nghiên cứu vừa có mức độ đóng góp về lý thuyết hàn lâm và vừa có ý nghĩa thực tiễn, đặc biệt đối với Việt Nam

Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu đã tìm ra được bằng chứng xác thực về các yếu tố tác động đến HQKD của công ty phát điện, qua đó giúp cho các nhà quản trị công ty, nhà đầu tư

và cơ quan quản lý ra các quyết định kinh doanh, quyết định đầu tư và ban hành quyết định về chính sách một cách hợp lý

Đặc biệt, với xu hướng diễn biến theo chiều hướng ngày càng cực đoan của khí hậu toàn cầu, những bằng chứng định lượng cụ thể và các ý kiến chuyên sâu của các chuyên gia có thể giúp cho các công ty lượng hóa tác động của thay đổi lượng mưa trung bình và nhiệt độ trung bình đến tỷ suất sinh lợi trên tài sản và giá trị thị trường của công ty, những chỉ tiêu này giữ vai trò then chốt khi thực hiện các quyết định mở rộng kinh doanh, đầu tư thay đổi công nghệ vận hành nhà máy, tài trợ vốn, hoặc đầu tư vào cổ phiếu của các công ty phát điện

Ý nghĩa lý thuyết của nghiên cứu

Trang 18

Nghiên cứu được thực hiện dựa trên nền tảng lý thuyết đã được các nhà khoa học công bố trên các tạp chí chuyên ngành có uy tín Các mô hình và số liệu ước lượng mô hình đều được thu thập từ các nguồn dữ liệu minh bạch, đáng tin cậy Các chuyên gia được mời tham gia khảo sát là những nhà khoa học, nhà quản trị, lãnh đạo doanh nghiệp am tường lĩnh vực sản xuất kinh doanh, vận hành của công ty phát điện và phần lớn trong số các chuyên gia đều đã có tham gia trong việc xây dựng, dự thảo các chính sách, quy định áp dụng cho hoạt động của ngành điện trên phạm vi toàn quốc

Nghiên cứu thực hiện hỗn hợp giữa phương pháp định lượng và định tính để củng cố các bằng chứng tìm được Do đó, về mặt lý thuyết, nghiên cứu có giá trị khoa học và tính hàn lâm cao Các kết quả nghiên cứu bổ sung vào khoảng trống nghiên cứu về các yếu tố BĐKH tác động đến HQKD công ty phát điện và vai trò điều tiết của sở hữu nhà nước tại các công ty phát điện

1.6 Các đóng góp mới của nghiên cứu

Nghiên cứu này cung cấp các bằng chứng thực nghiệm mới nhất về tác động của BĐKH và vai trò điều tiết của sở hữu nhà nước đến HQKD các công ty phát điện ở nền kinh tế chuyển đổi BĐKH được đại diện bởi chỉ tiêu chênh lệch lượng mưa và nhiệt độ trung bình năm so với trung bình của 50 năm trước đó, HQKD được đo lường qua các chỉ tiêu ROA, ROE, chi phí giá vốn trên doanh thu và chỉ số Tobin’Q

Ngoài sử dụng mô hình thực nghiệm thuần túy trên dữ liệu bảng, nghiên cứu còn sử dụng phương pháp phỏng vấn chuyên gia để làm sáng tỏ các câu hỏi nghiên cứu

i BĐKH tác động có tác động đến HQKD công ty phát điện Tùy theo thang đo HQKD và biến đại diện cho BĐKH, mối quan hệ này có thể cùng chiều hoặc ngược chiều;

ii Đối với ngành mà yêu cầu vốn đầu vào là rất lớn, thời gian hoàn vốn dài thì sự can thiệp của thành phần sở hữu nhà nước sẽ làm giảm hiệu quả

Trang 19

kinh doanh của công ty phát điện Và việc thực hiện cổ phần hóa trong khâu phát điện có thể làm giảm các vấn đề chi phí đại diện và tạo cạnh tranh bình đẳng giữa các công ty phát điện Tuy nhiên nếu cố gắng thực hiện hoặc giảm tỷ lệ sở hữu hoặc cắt giảm chi phí đại diện một cách đơn lẻ có thể biện pháp này không làm tăng HQKD;

iii Khi mở cửa lĩnh vực kinh doanh phát điện cho tư nhân tham gia, và thúc đẩy phát triển công nghiệp, Việt Nam có thực hiện vai trò điều tiết giúp kiểm soát BĐKH nhằm giảm tác động bất lợi của BĐKH Trái ngược với nghiên cứu trước, các bằng chứng ở Việt Nam cho thấy các công ty có tỷ

lệ sở hữu nhà nước cao đi cùng với việc thực hiện các biện pháp ứng phó BĐKH có thể có HQKD cao hơn, do có cơ hội tiếp cận vốn ưu đãi hơn các công ty tư nhân thuần túy

iv Đề xuất một số hàm ý chính sách đối với các cấp quản lý của các công ty phát điện, các đơn vị đối tác, các nhà đầu tư vào các công ty phát điện và các cơ quan quản lý nhà nước ngành điện Việt Nam, đặt trong bối cảnh Việt Nam đang hình thành và phát triển thị trường điện và dưới sự tác động của BĐKH

1.7 Kết cấu nghiên cứu

Các nội dung chính của nghiên cứu được trình bày trong 05 chương:

 Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu, phần này giới thiệu lý do thực hiện nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, những điểm mới của nghiên cứu và kết cấu của luận án

 Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu, phần này nêu các cơ sở lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm liên quan đến câu hỏi nghiên cứu

 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, chương này trình bày phương pháp ước lượng mô hình thực nghiệm và các vấn đề liên quan đến thu thập ý kiến chuyên gia

Trang 20

 Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu, chương này trình bày các kết quả thu thập dữ liệu và kết quả thu được từ ước lượng mô hình thực nghiệm, kết quả phỏng vấn các chuyên gia

 Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị, chương này tổng kết các kết quả chính của nghiên cứu và nêu các kiến nghị để xây dựng chính sách và các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty phát điện

Trang 21

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Trong lĩnh vực kinh doanh, với cách hiểu thông thường hiệu quả kinh doanh (HQKD) có thể được định nghĩa là tỷ số giữa kết quả đầu ra thu được từ kinh doanh

và yếu tố đầu vào để vận hành hoạt động kinh doanh Khi nâng cao HQKD hàm ý tăng tỷ lệ kết quả đầu ra và yếu tố đầu vào Yếu tố đầu vào thông thường là tiền (chi phí), nguồn lực con người hoặc thời gian Kết quả đầu ra thường là tiền (doanh thu, lợi nhuận, tiền mặt), khách hàng mới, lòng trung thành của khách hàng, thị trường mới, đổi mới chất lượng, đổi mới sản phẩm,… Ở khía cạnh này HQKD là một trong các thước đo quan trọng của kết quả kinh doanh

Trong nghiên cứu hàn lâm, HQKD đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm

từ sớm Ở góc độ doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu thảo luận nhiều đến vấn đề làm thế nào để doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả hay các biểu hiện kinh doanh có hiệu quả Adam Smith (1776) cho rằng HQKD là kết quả đạt được trong hoạt động kinh

tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa Marshall (1920) cho rằng hiệu quả hoạt động kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí Theo Samuelson và Nordhaus “hiệu quả nghĩa là sử dụng một cách hiệu quả nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu mong muốn của con người” (Samuelson và Nordhaus, 2011) Daft (2008) hàm ý HQKD là quá trình sử dụng các nguồn lực đầu vào có tính chất khan hiếm để đạt lợi nhuận hoặc giúp tiết kiệm chi phí hơn so với các đối thủ cạnh tranh

Trong nước, nhiều nghiên cứu cũng có chung quan điểm về HQKD khi cho rằng HQKD được phản ánh thông qua tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra

để đạt được kết quả đó HQKD đi liền với các mục tiêu của doanh nghiệp đã đặt ra Hiệu quả của một quá trình nào đó theo nghĩa chung nhất là quan hệ tỷ lệ giữa kết quả với những điều kiện, nhân tố chi phí vật chất sử dụng để đạt được kết quả theo mục đích của quá trình đó (Ngô Đình Giao, 1984) Theo tác giả Nguyễn Văn Tạo (2004), ngoài chỉ tiêu kết quả đầu ra so với yếu tố đầu vào, HQKD còn được hiểu là

Trang 22

mức độ hoàn thành mục tiêu đã đặt ra, và nếu không đạt được mục tiêu thì không thể có hiệu quả và để hoàn thành mục tiêu ta cần phải sử dụng nguồn lực như thế nào (Nguyễn Văn Tạo, 2004) Hoặc, hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp nhằm đạt được kết quả của mục tiêu hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh (Bùi Thanh Phong, 2010) Như vậy, mặc dù có nhiều phát biểu khác nhau nhưng các phát biểu này đều có cùng điểm chung khi cho rằng HQKD là sự so sánh giữa yếu tố đầu ra so với yếu tố đầu vào, HQKD phản ánh mức độ và khả năng sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh

Tóm lại, mặc dù có nhiều cách khác nhau để phản ảnh khái niệm hiệu quả kinh doanh của công ty nhưng hầu hết các nghiên cứu trong và ngoài nước đều hàm

ý hiệu quả kinh doanh là việc nhà quản trị sử dụng các nguồn lực giới hạn để đạt hiệu quả mong muốn cao nhất trong kinh doanh HQKD thường gắn liền với các mục tiêu kinh tế cụ thể

Để đo lường HQKD, các nhà nghiên cứu đã đề xuất nhiều chỉ tiêu khác nhau, nhưng phổ biến và được sự đồng thuận thường có các chỉ tiêu như tỷ suất sinh lợi trên doanh thu (ROS), tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA), tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) Các chỉ tiêu này được sử dụng trong nhiều nghiên cứu gần đây; theo đó, ngoài cách gọi hiệu quả kinh doanh, trong nghiên cứu thực nghiệm một số tác giả gọi trực tiếp hiệu quả kinh doanh bằng các chỉ tiêu hiệu quả tài chính (ROA, ROS hay ROE) Do vậy hiệu quả tài chính trong trường hợp này chính là hiệu quả kinh doanh của công ty Các tác giả như Freedman và Jaggi (2005), Brammer và Pavelin (2006), Gallego-Alvarez (2010) và Bewli và Li (2000) đã sử dụng chỉ tiêu ROA để phân tích mối quan hệ giữa yếu tố môi trường với hiệu quả kinh doanh các công ty; Liu và Anbumzhi (2009) và Zhang và các tác giả (2008) sử dụng chỉ tiêu ROE để phân tích hiệu quả kinh doanh các công ty trong lĩnh vực công nghiệp ở Trung Quốc Galani và các tác giả (2011), Richardson và Welker (2001) cũng sử dụng ROE là chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh doanh Trong khi Prado-Lorengo (2001) sử dụng đồng thời ROA và ROE để đo lường hiệu quả kinh

Trang 23

doanh của các công ty Clarkson và các tác giả (2008), Nakao và các tác giả (2007)

sử dụng cả hai chỉ số ROA và Tobin’Q để đại diện khi phân tích hiệu quả kinh doanh các công ty thuộc lĩnh vực công nghiệp gây ô nhiễm ở Mỹ và Nhật Bản

Ngoài ROA và ROE, một số nghiên cứu sử dụng lợi suất cổ tức - DY (Ming

và Gee, 2008; Ongore, 2011), lợi nhuận trên doanh thu - ROS (Le và Buck, 2011), hoặc lợi nhuận trên vốn đầu tư - ROI (Shah, Butt và Saeed, 2011) để đo lường hiệu quả kinh doanh của công ty

Khi tính chỉ tiêu ROA và ROE, tùy theo quan điểm của nhà nghiên cứu có thể sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế hoặc trước thuế Một số nghiên cứu sử dụng lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) để tính hai hệ số trên, điển hình như Hu và Izumida (2008), Le và Buck (2011), Wang và Xiao (2011) Một số nghiên cứu khác

sử dụng lợi nhuận thuần cộng với lãi vay (trước hoặc sau thuế) điển hình như Shah, Butt và Saeed (2011), Thomsen và Pedersen (2000), hoặc đơn giản chỉ là lợi nhuận thuần như LI và các tác giả (2009), Tian và Estrin (2008) Ngoài ý nghĩa tài chính khác nhau, lý do sử dụng các cách tính khác nhau có thể do hạn chế về cơ sở dữ liệu

Tại Việt Nam, trong các văn kiện của Đảng cũng xem chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi trên vốn là tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của các công ty (Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, 1996) Chỉ tiêu ROA và ROE cũng được nhiều tác giả sử dụng để đo lường hiệu quả kinh doanh các công ty lĩnh vực công nghiệp và bất động sản như Quan Minh Nhựt và Lý Thị Phương Thảo (2014), Mai Văn Nam, Nguyễn Quốc Nghi (2011), Võ Xuân Vinh (2014) Đoàn Vinh Thăng (2016) cho rằng ROA là một trong những thước đo được sử dụng rộng rãi để đánh giá thành quả tài chính, trong khi ROE là một trong những tỉ số quan trọng mà nhà đầu tư xem xét hiệu quả hoạt động của công ty

Như vậy thước đo HQKD được sử dụng phổ biến hiện nay là chỉ tiêu ROA

và ROE Luận án cũng sử dụng các chỉ tiêu này như thước đo chính để đo lường HQKD các công ty phát điện ở Việt Nam Bên cạnh đó, các chỉ tiêu để đo lường kết

Trang 24

quả kinh doanh khác cũng được dùng để phân tích như giá trị thị trường của công ty (chỉ tiêu Tobin’Q) và chi phí kinh doanh (giá vốn hàng hàng bán trên doanh thu, COR) Việc sử dụng đồng thời nhiều chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh sẽ giúp Luận án có thêm cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp với nhà quản lý và doanh nghiệp

2.2 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hiệu quả kinh doanh các công ty phát điện

2.2.1 Khái niệm biến đổi khí hậu

Theo điều 1, Công ước khung về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc (1992): “BĐKH là những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người” Biến đổi khí hậu có thể được thể hiện qua các hiện tượng thời tiết như: hạn hán, lũ lụt, mưa bão, nước biển dâng, v.v

Tại Việt Nam, chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu cho rằng “biến đổi khí hậu là sự biến đổi của trạng thái khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong khoảng thời gian dài, thường là vài thập

kỷ hoặc dài hơn Biến đổi khí hậu có thể do quá trình bên trong hoặc do tác động bên ngoài hoặc do tác động của con người làm thay đổi thành phần khí quyển hay trong khai thác sử dụng đất” (Bộ Tài Nguyên Môi Trường 2008, trang 6) Nghiên cứu này đã sử dụng biến đổi nhiệt độ so với trung bình 50 năm trước đó để đánh giá BĐKH tại Việt Nam BĐKH được quan sát qua thay đổi của nhiệt độ, lượng mưa, mực nước biển, bão, số đợt không khí lạnh, số ngày mưa phùn Một nghiên cứu khác của Viện khoa học khí tượng thủy văn và môi trường do Nguyễn Văn Thắng

và các tác giả khác (2010) thực hiện cũng định nghĩa BĐKH với nội dung tương tự Nghiên cứu này cũng sử dụng mốc những năm 1960 để đánh giá BĐKH ở Việt Nam (tương đương trung bình 50 năm) Biến đổi về nhiệt độ và lượng mưa được

Trang 25

quan tâm nhiều trong nghiên cứu này Nguyễn Đức Huỳnh và Lê Thị Phượng (2016) cũng cho rằng yếu nhiệt độ là mối quan tâm chính liên quan đến BĐKH Theo tác giả, yếu tố này tác động đến các vấn đề khác như khan hiếm nguồn nước,

lũ lụt hay các hiện tượng thời tiết cực đoan,… và các sự kiện này sẽ ảnh hưởng tới các hoạt động công nghiệp ở Việt Nam

Ngoài chỉ tiêu về nhiệt độ và lượng mưa trung bình, một số nghiên cứu ở các nước còn sử dụng chỉ tiêu đo lường khí thải nhà kính (Greenhouse Gases (GHGs)), đặc biệt với mức phát thải khí Carbon Dioxide (CO2) được xem như nguyên nhân chính làm gia tăng nhiệt độ toàn cầu Như vậy, thay vì sử dụng mức thay đổi nhiệt

độ trung bình so với giai đoạn 50 năm trước đó, các nghiên cứu có thể sử dụng khí thải CO2 để đánh giá biến đổi khí hậu Tuy nhiên, với mục tiêu nghiên cứu BĐKH ảnh hưởng đến HQKD của các công ty phát điện ở Việt Nam, nên việc lựa chọn chỉ tiêu biến đổi nhiệt độ trung bình và lượng mưa trung bình phù hợp với đặc thù của ngành điện và có thể đảm bảo việc thu thập đầy đủ các dữ liệu để phân tích định lượng thích hợp Cả nhiệt độ và lượng mưa trung bình hàng năm vừa ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng điện và ảnh hưởng đến lưu lượng nước tại các hồ thủy điện-yếu tố đầu vào quan trọng để phát diện

2.2.2 Biến đổi khí hậu như một loại rủi ro trong kinh doanh

Đầu tiên, nếu xem quản trị tài chính công ty phát điện như quản trị một danh mục đầu tư, mô hình CAPM do Markowitz (1959) xây dựng chỉ ra mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi của khoản đầu tư Trong mô hình này, rủi ro bao hàm rủi ro hệ thống và rủi ro phi hệ thống Rủi ro hệ thống tác động đến tất cả các công

ty trong ngành nên biến đổi khí hậu có thể xem như một loại rủi ro hệ thống mà các công ty ngành điện phải đối diện Schwartz (2007) cho rằng BĐKH có thể xảy ra bất ngờ và có thể làm sụp đổ cả thị trường kinh doanh của các công ty đa quốc gia nếu các công ty không có chính sách ứng phó kịp thời Hardisty (2010) cũng nhận định yếu tố bất ngờ của rủi ro có thể tạo ra các hiệu ứng thảm họa đối với công ty mặc dù xác suất xảy ra rủi ro thấp Esty và Simmons (2011) chỉ ra tất cả các doanh

Trang 26

nghiệp phải đối mặt với “rủi ro sinh thái” (eco-risk) và những rủi ro này có thể làm sụp đổ các công ty nếu rủi ro không được quản trị đúng mức Theo Esty và Simmons (2011) rủi ro sinh thái có thể kết tinh ở bất kỳ phần nào trong chuỗi giá trị của công ty và do đó cần có sự phân tích liên tục các kịch bản, xác suất và các hiệu ứng tiềm tàng Các tác giả cũng gợi ý quản trị rủi ro môi trường có thể giúp cắt giảm chi phí, tăng doanh thu, xây dựng giá trị vô hình và thu hút nhân viên

Biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các công ty

cả trực tiếp như làm gia tăng chi phí kiểm soát khí thải nhà kính và gián tiếp như hoạt động di cư hay thay đổi kênh vận chuyển hàng hóa dịch vụ của khách hàng hay nhà cung cấp Một số công ty sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro hơn so với các công

ty khác tùy thuộc vào đặc điểm sản phẩm kinh doanh và chiến lược mà các công ty này sử dụng để ứng phó với biến đổi khí hậu (Porter và Reinhardt, 2007; Schwartz, 2007) Biến đổi khí hậu và chính sách giảm khí thải nhà kính tạo ra rủi ro hệ thống trên nền kinh tế toàn cầu, do ảnh hưởng đến năng lượng và thực phẩm, giá cả, thu nhập quốc dân và chi phí y tế Mặt khác, nó gây nguy hiểm trực tiếp và gián tiếp ở ngành và mức độ cụ thể của công ty (Hoffman, 2006; Wellington và Sauer, 2006; ACCA, 2009; Ceres, 2010) Hầu hết các rủi ro đã được chỉ ra và thậm chí còn được ước tính một phần của lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm Các công ty bảo hiểm ngày càng lo ngại về rủi ro khí hậu và cách chúng ảnh hưởng đến cả tài sản vật chất của các công ty, chi phí pháp lý tiềm năng và thậm chí cả chi phí kiện cáo liên quan đến doanh nghiệp, nợ môi trường (ACCA, 2009)

Một số ngành thuộc lĩnh vực công nghiệp như sản xuất năng lượng, nhôm, xi măng, bột giấy, được tiếp xúc nhiều hơn các rủi ro liên quan đến quy định về khí thải CO2 hiện tại hoặc có hiệu lực trong tương lai (Busch và Hoffman, 2007; ABI, 2005) Kết quả là, các công ty thuộc lĩnh vực này sẽ có nhiều khả năng gia tăng chi phí hoạt động (Busch và Hoffman, 2007) Những chi phí này sẽ chắc chắn ảnh hưởng đến lợi nhuận của các công ty và tạo ra rủi ro cạnh tranh đáng kể, không chỉ cho các ngành công nghiệp sản xuất năng lượng mà còn cho phần lớn các lĩnh vực sản xuất công nghiệp liên quan đến sản xuất năng lượng Các đơn vị sản xuất lại

Trang 27

thường có xu hướng tìm cách đưa chi phí gia tăng sang cho khách hàng của mình (các công ty sản xuất năng lượng) cho các nhà cung cấp năng lượng để vượt qua các chi phí gia tăng quy định cho người tiêu dùng của họ (Lash và Wellington, 2007; Wellington và Sauer, 2005)

Trên tổng thể, BĐKH được dự báo là giảm đến 20% sản lượng bình quân đầu người và các nước đang phát triển có thể có mức tác động lớn hơn (Houghton, 2009; Taleb, 2007) cảnh báo rằng có những sự kiện thảm khốc được gọi là “các sự kiện thiên nga đen” có tác động và khả năng khó dự đoán Các sự kiện thiên nga đen thường là những ngoại lệ so với lịch sử, có những tác động cực đoan và dường như dễ giải thích được sau sự kiện này mặc dù khó có thể tiên đoán chính xác khi nào sự kiện xảy ra Theo Taleb (2007) rủi ro BĐKH có thể phù hợp với định nghĩa của một sự kiện thiên nga đen Vì vậy, các nhà quản trị công ty nên xem xét giải quyết vấn đề BĐKH như một sự kiện thiên nga đen

2.2.3 Biến đổi khí hậu tác động đến cung cầu thị trường điện

IPCC (2007b) cho biết lĩnh vực năng lượng là một trong những lĩnh vực nhạy cảm nhất đối với biến đổi khí hậu, trong các lĩnh vực sản xuất công nghiệp Đạo luật nghiên cứu sự thay đổi toàn cầu của Mỹ năm 1990 cũng chỉ ra năng lượng

là một trong các khu vực có mức độ nhạy cảm lớn đối với BĐKH ở Mỹ Hai tác động mạnh nhất đối với thị trường năng lượng là giảm nhu cầu sưởi ấm và tăng nhu cầu làm mát (Smith, 1997; Tol 2002a, 2002b) Điều tương tự cũng có thể xảy ra ở bất kỳ quốc gia nào khác và Việt Nam cũng không phải là trường hợp ngoại lệ Chiến lược quốc gia về BĐKH của Việt Nam (2011) cũng nhấn mạnh, BĐKH có thể làm tài nguyên nước thêm nguy cơ suy giảm nghiêm trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất thủy điện Mideksa và Kallbekken (2010) cho rằng với sự gia tăng nhiệt độ trung bình ở hầu hết các khu vực trên thế giới và sự thay đổi lượng mưa, các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt cùng với mực nước biển dâng,… Những sự kiện này dự kiến tác động lên cả cung và cầu năng lượng Tác giả nhấn mạnh đến thách thức mà ngành điện phải đối mặt Ngoài việc tác động đến cung cầu năng lượng,

Trang 28

BĐKH còn đặt ra thách thức đối với ngành điện, đặc biệt nhiệt điện chạy bằng than khi các quốc gia thực hiện chính sách cắt giảm khí thải nhà kính Thủy điện cũng chịu áp lực tương tự khi có nhiều nghiên cứu chỉ ra các hồ thủy điện phát thải khí nhà kính đáng kể Theo nghiên cứu của Cơ quan năng lượng quốc tế (2008), vào năm 2050, 46% năng lượng toàn cầu phải được cung cấp từ nguồn năng lượng tái tạo, 1/3 các nhà máy điện chạy bằng than có tiêu chuẩn khí thải không phù hợp phải đóng cửa Điều này hàm ý rằng ngoài chịu tác động trực tiếp của BĐKH ngành điện còn chịu áp lực từ thay đổi chính sách ứng phó với BĐKH của các cơ quan quản lý Trong các nội dung tiếp theo, Luận án trình bày cụ thể tác động của BĐKH đến sản xuất điện

2.2.3.1 Tác động của biến đổi khí hậu lên nhu cầu về điện

Hộ gia đình và doanh nghiệp sử dụng điện cho nhiều mục đích bao gồm sưởi

ấm và điều hòa không khí, ánh sáng, nấu ăn và vận hành thiết bị Mặc dù một số nhu cầu sử dụng điện như nấu ăn hầu như không liên quan gì đến BĐKH Tuy nhiên, một số nhu cầu như sưởi ấm hay điều hòa không khí có thể liên quan trực tiếp đến BĐKH Trong các nghiên cứu tác động của BĐKH lên nhu cầu tiêu thụ điện, nhu cầu sưởi ấm và làm mát được quan tâm hàng đầu Các nhà nghiên cứu thường sử dụng chênh lệch biến động nhiệt độ so với nhiệt độ trung bình là từ 18 đến 22oC (Benestad, 2008), làm nhiệt độ cơ sở để xác định nhu cầu cần làm mát hay sưởi ấm Nếu chênh lệch ở phía trên giá trị trung bình (gọi là ngày nắng) được xem cần làm mát và ở phía dưới giá trị trung bình (gọi là ngày lạnh) được xem có nhu cầu sưởi ấm Kết quả nghiên cứu của Benestad (2008) cho thấy ở hầu hết các quốc gia, số lượng ngày nắng chắc chắn sẽ tăng trong khi số ngày lạnh không chắc tăng lên trong tương lai Kết quả này cho thấy nhu cầu điện dùng cho làm mát tăng lên trong khi nhu cầu dùng cho sưởi ấm giảm xuống Từ nhiều năm qua, nhiều quốc gia sử dụng điện năng cung cấp cho cả sưởi ấm và làm mát Theo Bertoldi và Atanasiu (2007), khoảng 27% tiêu thụ điện của dân cư Châu Âu được sử dụng để làm mát và sưởi ấm nhà ở Ở hầu hết các nước việc sử dụng điện để sưởi ấm là khiêm tốn, trong khi sử dụng cho nhu cầu làm mát chi phối nhiều hơn Ở Châu Âu

Trang 29

chỉ có Na Uy là ngoại lệ khi có hơn 80% tòa nhà thương mại sử dụng điện để sưởi

ấm Nghiên cứu cũng cho thấy tầm quan trọng của hai nhu cầu làm mát và sưởi ấm tùy thuộc vào khu vực địa lý và phụ thuộc vào số ngày nóng và lạnh

Considine (1999) khi nghiên cứu tại Mỹ, tác giả nhận thấy nhu cầu về điện

và khí tự nhiên nhạy cảm trong mức ý nghĩa thống kê với thay đổi thời tiết, trong khi xăng và nhu cầu nhiên liệu máy bay không thay đổi với số ngày sưởi ấm và hay làm mát Sau đó nghiên cứu của Considine (2000) về thay đổi thời tiết ngắn hạn ảnh hưởng như thế nào đến biến động nhu cầu năng lượng hằng tháng giữa các đối tượng sử dụng điện Kết quả cho thấy nhu cầu sử dụng điện nhạy cảm cả trong ngày nóng và ngày lạnh Tác giả tìm thấy co giãn của cầu trong những ngày nóng lớn hơn

so với những ngày lạnh Kết quả này ngoại lệ đối với trường hợp sử dụng điện từ khí gas Kết quả này hàm ý ngày nắng có tiêu thụ điện lớn hơn và phát thải khí nhà kính nhiều hơn so với ngày lạnh Các kết quả nghiên cứu vừa nêu chỉ phân tích tác động của hiện tượng thời tiết trong quá khứ đến thay đổi nhu cầu điện năng, chưa cho thấy độ co giãn và các tác động tiềm tàng của BĐKH

De Cian và các tác giả (2007) nghiên cứu thực nghiệm với dữ liệu 31 quốc gia giai đoạn 1978-2000 để phân tích nhu cầu sử dụng năng lượng bao gồm than đá, khí, dầu và điện thay đổi như thế nào khi nhiệt độ thay đổi Kết quả cho thấy với nhiệt độ cao sẽ có mức tiêu thụ năng lượng cao hơn trong suốt mùa hè và mức tiêu thụ thấp hơn khi mua đông ở các quốc gia lạnh hơn Đối với các quốc gia có nhiệt

độ cao hơn, độ co giãn của nhu cầu điện đối với nhiệt độ mùa hè khoảng 1,17 trong khi tại các vùng lạnh thấp hơn khoảng 0,21 Nghĩa là, nhiệt độ tăng 1% vào mùa hè

sẽ làm tăng nhu cầu điện tăng 1,17% và giảm nhu cầu 0,21% ở tại các quốc gia vùng lạnh hơn Tương tự, độ co dãn nhu cầu điện năng đối với nhiệt độ mùa đông là 0,10 ở các quốc gia có nhiệt độ cao và 0,07 ở các quốc gia có thời tiết lạnh hơn

Eskeland và Mideksa (2009) phân tích nhu cầu điện ở 31 quốc gia Châu âu giai đoạn 1995-2005 để ước tính các thay đổi nhu cầu năng lượng sưởi ấm và làm mát theo kịch bản phát thải khí nhà kính dựa trên giả định kết hợp sự phát triển kinh

Trang 30

tế và công nghệ trong tương lai Kết quả cho thấy nhiệt độ thay đổi 10C sẽ thay đổi nhu cầu khoảng 2 kWh/năm/người trong trường hợp ngày nắng (nhu cầu làm mát), khoảng 8 kWh/năm/người trong trường hợp ngày lạnh (nhu cầu sưởi ấm)

Scott và Huang (2007) tìm thấy tại Mỹ với sự gia tăng nhiệt độ 10C, tiêu thụ năng lượng dự kiến sẽ thay đổi trong khoảng 5% IPCC (2007a-c) cũng chỉ ra tác động có thể có đối với nhu cầu tiêu thụ điện tại Úc và New Zealand Ví dụ, tại New Zealand nếu nhiệt độ mùa đông tăng 10C, nhu cầu điện sẽ giảm 3% Mặc dù có một

số thay đổi đáng kể tại các khu vực và mùa vụ, báo cáo kết luận rằng tổng nhu cầu hàng năm ở cả hai nước có thể ít nhạy cảm với BĐKH

Mansur và các tác giả (2008) cho rằng khi mùa hè nóng hơn và mùa đông lạnh hơn, cả gia đình và doanh nghiệp tiêu thụ nhiều năng lượng hơn dưới dạng điện, ga và dầu Các tác giả này cho rằng về tổng thể BĐKH có thể sẽ làm tăng tiêu thụ điện làm mát nhưng giảm việc sử dụng các nhiên liệu khác để sưởi ấm Kết quả

là chi tiêu cho năng lượng tại Mỹ có thể tăng lên Mansur và các tác giả (2008) cũng nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ và lượng mưa trong việc lựa chọn nhiên liệu đối với hộ gia đình và các công ty tại Mỹ dựa trên mô hình dữ liệu bảng Kết quả nghiên cứu tìm thấy BĐKH ảnh hưởng đến việc lựa chọn nhiên liệu cho cả công ty thương mại và hộ gia đình Ví dụ, nghiên cứu tìm thấy các doanh nghiệp và hộ gia đình ở những nơi ấm hơn có xu hướng chọn điện, trong khi các công ty ở những nơi

ẩm ướt hơn thường chọn dầu Tuy nhiên, nghiên cứu chưa làm rõ tại sao điện được chọn trong thời gian, địa điểm ấm hơn và dầu được lựa chọn trong thời gian, địa điểm lạnh hơn ngoại trừ khu vực hoặc thời gian cụ thể có liên quan đến mức giá

Trần Quang Minh (2013) cho biết tại Hàn Quốc, số ngày sóng nhiệt (hơn

330C) trong những năm gần đây là trên 10 ngày/năm, số ngày sóng nhiệt đã tăng gấp đôi so với mức trung bình nhiều năm trước đó Số ngày nóng làm phát sinh nhu cầu điện tăng cao Số liệu thống kê cho thấy mùa hè năm 2010 nhu cầu tiêu thụ điện

đã tăng 11,8% tương đương 70,7 triệu kWh so với mức trung bình hàng năm

Trang 31

Như vậy, tác động của biến đổi khí hậu đối với nhu cầu sưởi ấm và làm mát đều được chỉ ra đi cùng các bằng chứng thống kê Hầu hết các kết quả nghiên cứu đều giải thích nhu cầu về điện thay đổi theo nhu cầu làm mát hay sưởi ấm của hộ gia đình và các công ty Điều này hàm ý BĐKH có tác động lên nhu cầu về điện và như vậy nếu các yếu tố khác không đổi, nhu cầu làm mát tăng lên sẽ làm tăng doanh thu của công ty phát điện, trong khi nhu cầu sưởi ấm giảm xuống có thể làm giảm doanh thu của công ty phát điện Mặc dù Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá tác động của BĐKH đến nhu cầu tiêu thụ điện, nhưng gần đây Ngô Đức Thành

và Phan Văn Tân (2012) khi nghiên cứu xu thế biến đổi của khí tượng trên lãnh thổ Việt Nam thời kỳ 1961-2007 cho thấy nhiệt độ tăng rõ rệt trên toàn Việt Nam Kết quả nghiên cứu tìm thấy nhiệt độ cực tiểu tăng nhanh hơn nhiệt độ cực đại ngày Nhiệt độ tăng cao hơn ở khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Lượng mưa giảm xuống ở khu vực phía Bắc vĩ tuyến 17 và lượng mưa nhiều hơn ở khu vực phía Nam

2.2.3.2 Tác động của biến đổi khí hậu lên nguồn cung về điện và truyền dẫn điện

Việc sản xuất và phân phối điện năng phụ thuộc vào các yếu tố khí hậu như nhiệt độ, lượng mưa, tốc độ gió, hướng gió, các sự kiện thời tiết khắc nghiệt,.v.v Thay đổi bất kỳ các biến này sẽ làm thay đổi nguồn điện cung cấp bao gồm cả nhiệt điện, thủy điện và các nguồn điện khác Điều này diễn ra do cơ chế truyền dẫn của BĐKH đến các nguồn cung cấp điện năng bao gồm nhiệt điện, phong điện, thủy điện, điện từ năng lượng mặt trời, năng lượng sinh học và cả truyền tải điện Trong phần này, Luận án tập trung vào ảnh hưởng của BĐKH đến nguồn cung thủy điện

và truyền tải điện năng Trong trường hợp truyền tải bị gián đoạn đo BĐKH, hoạt động của công ty phát điện cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng do giảm khối lượng tiêu thụ và tăng chi phí bảo dưỡng tài sản, thiết bị liên quan đến truyền dẫn điện

Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến nguồn cung thủy điện

Cơ chế chính thông qua đó BĐKH có thể ảnh hưởng đến sản xuất thủy điện hình thành từ sự thay đổi dòng chảy của sông, sự bay hơi và an toàn hồ đập Có

Trang 32

khác biệt giữa các khu vực khi BĐKH làm tăng hay giảm lượng mưa và làm thay đổi dòng chảy các con sông Lượng mưa tăng và lưu lượng dòng chảy lớn hơn làm tăng tiềm năng phát điện của các dự án thủy điện Tuy nhiên, nếu lưu lượng dòng chảy vượt quá công suất của các hồ thủy điện sẽ tạo ra các hiệu ứng xấu đối với thủy điện Barnett và các tác giả (2004) cho thấy sản xuất thủy điện trên sông Colorado – Mỹ có thể giảm đến 40% vào giữa thế kỷ 21 Tương tự, với các nhánh sông trong khu vực này, Van Rheenen và các tác giả (2003) thấy rằng thủy điện có thể giảm từ 8% đến 11% ở Hồ Shasta và từ 10 đến 12% đối với Thung lũng Trung tâm Demers và Roy (2006) phân tích tác động của khí hậu lên sản xuất thủy điện trên địa bàn tỉnh Quebec - Canada và kết luận nguồn cung tăng lên trong mùa đông

và giảm xuống trong mùa hè do ảnh hưởng của BĐKH Beldring và các tác giả (2006) quan sát dữ liệu lịch sử và dự báo tương lai thủy văn khu vực Bắc Âu cho biết trên tổng thể dòng chảy của các con sông tăng lên giúp tăng nguồn cung năng lượng từ thủy điện Tuy nhiên, khí hậu mùa đông không ổn định dự kiến sẽ dẫn đến dòng chảy thay đổi thường xuyên và nhanh chóng có thể thách thức công suất hồ đập

Dựa trên kịch bản BĐKH làm tăng gấp đôi nồng độ CO2 trong khí quyển vào năm 2050 so với thời kỳ tiền công nghiệp, Bye (2008) phân tích ảnh hưởng của BĐKH lên nguồn thủy điện và năng lượng gió ở Bắc Âu Theo kịch bản khí hậu này, tác giả cho rằng dòng chảy sông và tốc độ gió sẽ tăng lần lượt ở mức là 11% và 1% trong giai đoạn 2001-2040 Điều này sẽ làm tăng cung cấp năng lượng lên 1,8%

so với năm 2001 và giảm 22% giá bán buôn điện Ngoài các tác động do thay đổi dòng chảy sông và bốc hơi, BĐKH ảnh hưởng đến sản xuất thủy điện thông qua tần suất dòng chảy sông thất thường và mức độ an toàn hồ đập Theo tác giả, hầu hết các đập hiện nay ở Bắc Âu được xây dựng mà không tính đến tác động có thể có của BĐKH và có thể có hồ chứa thấp hơn khả năng để xử lý các sự cố cực kỳ thường xuyên liên quan đến dòng chảy của sông và tuyết tan Trong trường hợp thay đổi khí hậu xảy ra đột ngột, vấn đề an toàn đập trở nên tương đối quan trọng

Trang 33

Tuy nhiên, nếu những thay đổi xảy ra chậm theo thời gian thì vấn đề ít quan trọng hơn

Tại Việt Nam, Nguyễn Minh Bảo (2012) cho biết các nhà máy thủy điện cũng bị ảnh hưởng đáng kể do tác động của BĐKH Tác giả khảo sát tác động của thay đổi dòng chảy đến các nhà máy thủy điện Tuyên Quang, Hua Na và Trị An, ba nhà máy này tương ứng với ba miền Bắc, Trung và Nam Kết quả phân tích cho thấy, so với năm 2009 đến năm 2030 sản lượng điện trung bình hàng năm của thủy điện Trị An giảm 1,13% trong khi thủy điện Tuyên Quang và Hủa Na tăng lên lần lượt là 0,56% và 0,21%

Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến truyền tải điện

Sự kiện thời tiết cực đoan có thể ảnh hưởng đến việc phân phối điện thông qua sự gián đoạn của cơ sở hạ tầng Tuy nhiên, sự phá vỡ cơ sở hạ tầng có thể được giảm nhẹ với các biện pháp thích ứng thông minh nhưng có thể rất tốn kém Có rất

ít nghiên cứu về vấn đề này Theo tác giả Nguyễn Minh Bảo (2012), về cơ bản, khi nhiệt độ môi trường tăng cao sẽ tác động trực tiếp đến hệ thống truyền tải điện Trong quá trình truyền dẫn điện năng, một phần năng lượng điện sẽ chuyển thành nhiệt năng tổn thất ra môi trường Tổn thất lớn hơn khi nhiệt độ bên ngoài tăng cao Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu thụ điện tăng lên cũng làm tăng dòng phụ tải và làm tăng tổn thất điện năng Do vậy, vào mùa hè tổn thất do truyền tải điện thường nhiều hơn Theo tác giả, nếu BĐKH làm tăng nhiệt độ thêm 10C, tổn thất từ đường dây truyền tải tăng 1% Nhiệt độ tăng cao do BĐKH còn tác động đến các máy biến áp, kết quả tính toán cho thấy tổn thất của máy cũng tương đương với tổn thất từ đường dây truyền tải với mỗi 0C tăng thêm

Một nghiên cứu của Eskeland và các tác giả (2008) cho rằng có thể có tổn thất điện năng trong truyền tải do nhiệt độ cao hơn và điện trở sinh ra trên đường dây dẫn điện Tuy nhiên, nghiên cứu không cung cấp ước lượng định lượng về hiệu ứng này Peters và các tác giả (2006) nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH đối với truyền tải điện ở Mỹ, các tác giả ước tính chi phí trung bình hàng năm của việc gián

Trang 34

đoạn cung cấp điện do bão gây ra cho khu vực công cộng và người dùng xác định trong giai đoạn 1994-2004 lần lượt là 270 triệu USD và 2,5 tỷ USD mỗi năm Tuy nhiên, nghiên cứu không chắc chắn BĐKH xảy ra làm gián đoạn truyền tải điện bao lâu Tác giả đã đưa ra một kịch bản khi BĐKH tạo ra các cơn bão có thể làm tăng gấp đôi thời gian gián đoạn truyền tải điện và ước tính đơn giản về chi phí gia tăng cho kịch bản này vào khoảng 3,3 tỷ USD Nelson và các tác giả (2001) đã nghiên cứu nguy cơ sụt lún do băng vĩnh cửu tan chảy (một hệ quả có thể xảy ra của BĐKH), và tìm thấy phần lớn cơ sở hạ tầng hiện có được dựng lên ở khu vực Bắc bán cầu nằm trong những khu vực có tiềm năng nguy hiểm cao và có thể bị ảnh hưởng bởi sự sụt lún do tan băng trong điều kiện ấm lên toàn cầu

2.2.4 Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến suất sinh lợi cổ phiếu

Các nghiên cứu về tài chính gần đây cho thấy có mối liên hệ mật thiết giữa yếu tố khí hậu và suất sinh lợi của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Mối liên kết này xuất phát từ sở thích về môi trường xanh của nhà đầu tư (Portney, 2008) Các nhà nghiên cứu cho rằng yếu tố môi trường xanh có tác động đến giá cổ phiếu của công ty vì những lý do sau: (1) Công ty có thể thu hút người tiêu dùng mới về

sự khác biệt của sản phẩm có yếu tố thân thiện với môi trường (Arora và Gangopadhyay, 1995); (2) Việc áp dụng các công nghệ hay kỹ thuật thân thiện với môi trường giúp công ty tránh các rủi ro pháp lý, các mức phạt liên quan đến các tiêu chuẩn thân thiện với môi trường, giảm sự kiểm soát của cơ quan quản lý Điều này giúp cho cổ đông yên tâm hơn với dự án đầu tư của công ty (Maxwell và Decker, 2006); (3) Đón đầu xu hướng trong tương lai, các công ty đầu tư vào công nghệ sạch dự kiến có thể tăng sức cạnh tranh với các đối thủ sử dụng các công nghệ lạc hậu phát nhiều khí thải độc hại Cổ đông có thể kỳ vọng các nhà quản lý sẽ thắt chặt các quy định về môi trường trong tương lai nên các công ty có công nghệ sạch,

ít gây hại cho môi trường sẽ có ưu thế hơn (Segerson và Miceli, 1998; Maxwell và các tác giả, 2000); (4) Với công nghệ thân thiện với môi trường các công ty có thể thu hút nhân sự chất lượng và nâng cao lòng trung thành của nhân viên đối với công

ty Điều này giúp công ty có đội ngũ nhân lực tốt so với đối thủ cạnh tranh

Trang 35

(Tietenberg, 1998); (5) Giảm chi phí Các công ty áp dụng kỹ thuật mới có thể nâng cao hiệu sử dụng yếu tố đầu vào, từ đó tăng hiệu quả kinh doanh (Lyon và Maxwell, 2008)

Ngược lại, các nhà nghiên cứu tìm thấy các công ty có hoạt động sản xuất ảnh hưởng đến môi trường thường rơi vào tình trạng giảm lợi nhuận Hạn chế về công nghệ thân thiện có thể ảnh hưởng trực tiếp đến công ty vì có thể phát sinh các chi phí liên quan đến tuân thủ hay khắc phục hậu quả do chính sách về môi trường thay đổi Từ đó, lợi nhuận của các công ty suy giảm (Beatty và Shimshack, 2010) Kết quả kinh doanh của công ty sẽ phản ánh trực tiếp vào giá cổ phiếu

2.3 Ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu nhà nước đến hiệu quả kinh doanh

2.3.1 Sở hữu nhà nước và hiệu quả kinh doanh

Về lý thuyết, vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế là không thể thiếu theo như các nhà kinh tế học trường phái Keynes Theo trường phái này, nhà nước

có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và sự ổn định của khu vực tư nhân thông qua kiểm soát lãi suất, thuế và các dự án công Trong thực tế, kết quả hoạt động của công ty có quan hệ mật thiết với cấu trúc sở hữu vì nó là một khía cạnh không thể tách rời của công tác quản trị công ty (Corporate Governance) Berle và Means (1932) xuất bản tác phẩm “Doanh nghiệp hiện đại và Tài sản Tư nhân” Trong nghiên cứu này, hai tác giả lần đầu tiên nghiên cứu về mối liên hệ giữa cấu trúc sở hữu và kết quả hoạt động của doanh nghiệp Các kết quả của Berle và Means được

mở rộng và cụ thể hóa bởi Jensen và Meckling (1976) trong nghiên cứu về mô hình hóa tác động của sự phân tán của quyền sở hữu và kiểm soát doanh nghiệp Jensen

và Meckling (1976) đặt nền móng cho nghiên cứu về chủ đề này khi cho rằng cấu trúc sở hữu có tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Nghiên cứu này cho rằng nếu một doanh nghiệp có các cổ đông lớn sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động

và giá trị doanh nghiệp Tuy nhiên, có nhiều nghiên cứu bác bỏ quan điểm này (Porta, Lopezde-Silanes và Shleifer 1999), dựa trên lý thuyết chi phí đại diện (agency theory) cho rằng một khi doanh nghiệp sở hữu bởi các cổ đông lớn sẽ có

Trang 36

hiện tượng các cổ đông lớn thu lợi riêng cho họ làm cho doanh nghiệp có hiệu quả hoạt động kém hơn Đây là mâu thuẫn lợi ích mà các công ty có cổ đông lớn chi phối cấu trúc vốn phải đối mặt Những công ty có dòng tiền tự do phải đối mặt với mâu thuẫn giữa cổ đông và nhà điều hành Với vai trò cổ đông lớn và điều hành công ty, nhà điều hành có xu hướng đầu tư vào những dự án làm tăng quy mô công

ty (hoặc theo quyết định chủ quan của họ) nhưng không tăng phúc lợi của cổ đông Vấn đề của cổ đông là làm cách nào để thúc đẩy nhà điều hành phân chia nguồn vốn vượt trội đó hơn là đầu tư nó dưới chi phí sử dụng vốn Cấu trúc vốn là phương tiện hiệu quả để giải quyết vấn đề dòng tiền tự do trong trường hợp này vì những vấn đề

về vốn gốc và lãi thuộc về hợp đồng phải được thực hiện Trái chủ có thể làm cho công ty phá sản nếu nhà điều hành không duy trì tái chi trả cho nợ vay Như vậy, dòng tiền tự do càng lớn thì cấu trúc vốn càng là phương tiện hiệu quả để lựa chọn Tuy nhiên, các chủ nợ và cổ đông, phần lớn là do quyền lợi khác nhau trong dòng tiền thu nhập của doanh nghiệp, không phải luôn luôn nhất trí với nhau trong đường lối hoạt động của doanh nghiệp

2.3.2 Vai trò của sở hữu nhà nước trong ứng phó với biến đổi khí hậu

Các DNNN cũng đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực phát điện Mayer và Rajavuori (2016) cho biết phần lớn tài sản các công ty năng lượng trên thế giới thuộc sở hữu DNNN Quyền sở hữu nhà nước trong ngành điện đang phổ biến ở các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Đông Nam Á, các quốc gia này chiếm hai phần ba sản lượng của ngành, mức này cao hơn nhiều so với các quốc gia Liên Minh Châu Âu (45%) và Mỹ (20%) Các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước có vai trò quan trọng trong việc thực thi hiệu quả chính sách BĐKH, bởi

vì các doanh nghiệp nhà nước kiểm soát phần lớn cổ phần tại các đơn vị kinh doanh phát thải khí nhà kính cao như các công ty khai thác, tinh chế và phân phối dầu khí

và than, cũng như các công ty sản xuất điện sử dụng nhiên liệu hóa thạch Chính phủ cũng có thể ảnh hưởng đến công ty thuộc sở hữu nhà nước thông qua quyền cổ đông hay người góp vốn Chính phủ có thể thực hiện các quyền biểu quyết của cổ đông và soạn thảo những chính sách để các công ty thuộc sở hữu nhà nước thực

Trang 37

hiện để thúc đẩy giảm nhẹ các tác động của BĐKH Liu và Kokko (2010) cho biết tại các quốc gia Liên Minh Châu Âu, các công ty thuộc sở hữu nhà nước đang cam kết thực hiện các hành động giảm thiểu BĐKH, trong khi tại các quốc gia mới nổi thì còn nhiều hạn chế Burke và các tác giả (2016) cho rằng các công ty thuộc sở hữu nhà nước có đóng góp quan trọng trong hành động hạn chế BĐKH Theo tác giả, mặc dù còn nhiều trở ngại về mặt pháp lý, các quốc gia có thể, và nên ngày càng sử dụng quyền của chủ sở hữu công ty để thúc đẩy hành động hướng tới giảm nhẹ BĐKH Theo John Mitchell và các tác giả (2015), Chính phủ có thể thúc đẩy kinh tế thông qua vai trò chủ đạo của các công ty nhà nước trong nền kinh tế, qua

đó khuyến khích các công ty này sử dụng các công nghệ sạch để phát đi tín hiệu ủng hộ các thành phần kinh tế sử dụng các công nghệ phát thải khí nhà kính thấp Chính phủ cũng có thể thông qua các công ty có sở hữu của nhà nước để tác động đến nguồn cung năng lượng, khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực năng lượng tái tạo

Trong những thập kỷ qua, các nhà hoạch định chính sách đã thực hiện một loạt các giải pháp Gần đây, Clò và các tác giả (2017) cho rằng các công cụ như thuế carbon hay thị trường mua bán khí thải được sử dụng để giải quyết vấn đề về môi trường như BĐKH trên phạm vi toàn cầu Các công cụ này tạo ra chi phí để đánh đổi hiệu quả giảm phát thải khí nhà kính Chính phủ có thể kiểm soát trực tiếp một số DNNN để có thể giải quyết tốt các vấn đề môi trường bằng cách định hình các trách nhiệm với môi trường của doanh nghiệp Đây chính là cơ sở để các nghiên cứu đánh giá vấn đề xử lý môi trường tại các DNNN có ảnh hưởng đến HQKD hay không Thật vậy, Clò và các tác giả (2017) lập luận rằng, trong trường hợp không

có quy định ràng buộc về môi trường, để tối đa hóa các mục tiêu kinh doanh hành vi của nhà quản trị doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân có thể tương đồng

về vấn đề liên quan đến môi trường Ngược lại, khi có các quy định ràng buộc, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân sẽ có hành vi tối đa hóa chi phí biên khác nhau Điều này ảnh hưởng đến hành vi giải quyết các vấn đề trách nhiệm cộng đồng liên quan đến môi trường và hiệu quả kinh doanh của công ty Kết quả

Trang 38

nghiên cứu thực nghiệm các doanh nghiệp ngành điện của Clò và các tác giả (2017) tại các quốc gia Châu Âu, giai đoạn 1990-2012, cho thấy các DNNN ngành điện có

tỷ suất sinh lợi thấp hơn so với mức trung bình khi đảm đương các nhiệm vụ giảm phát thải khí nhà kính Các DNNN chấp nhận một mức sinh lợi thấp để cân bằng nhu cầu của xã hội là bảo vệ môi trường Trong một số trường hợp, DNNN cũng có thể đối diện với tình trạng căng thẳng tài chính khi chấp nhận mức sinh lợi thấp

2.4 Các yếu tố khác ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh công ty

2.4.2 Tỷ lệ thanh toán hiện hành

Mối quan hệ giữa tỷ lệ thanh toán hiện hành với hiệu quả kinh doanh được phản ánh thông qua giả thuyết đánh đổi Khi khả năng thanh toán hiện hành ở mức cao, hàm ý công ty đang có tài sản bằng tiền mặt nhiều hơn Thông thường các tài sản bằng tiền mặt có suất sinh lợi thấp hơn Vì vậy các công ty có tỷ lệ thanh toán hiện hành cao có thể có hiệu quả kinh doanh thấp

Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây cũng tìm thấy bằng chứng mối quan

hệ nghịch biến giữa hai đại lượng này Các nghiên cứu điển hình như của Saleem và

Trang 39

Rehman (2011); Raheman và Nasr (2007); Mousavi và Jari (2012); Vural, Sokmen

và Setenak (2012); Dash và Hanuman (2009), Wang (2002)

2.4.3 Quy mô công ty

Quy mô công ty có thể được đo bằng tổng tài sản Quy mô công ty có thể có mối quan hệ cùng chiều với hiệu quả kinh doanh của công ty Một mặt, các công ty

có quy mô lớn hơn có thể có lợi thế trong tăng trưởng doanh thu nên có thể có tỷ suất sinh lợi cao hơn Mặt khác, với quy mô lớn hơn, rủi ro trong kinh doanh cũng lớn hơn nên các cổ đông cũng mong muốn mức sinh lời cao hơn Vì vậy, các nhà quản trị công ty phải nỗ lực để đạt hiệu quả kinh doanh cao, có như vậy mới giữ được cổ đông và nhà đầu tư

2.5 Tóm lược một số nghiên cứu gần đây

Trong phân tích thực nghiệm, nhiều nghiên cứu sử dụng các chỉ tiêu liên quan đến thước đo tỷ suất sinh lợi để đại diện cho HQKD, nhưng cũng có tác giả gọi các chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi là hiệu quả tài chính vì các các chỉ tiêu này đo lường thành quả vốn đầu tư Mặc dù cách gọi khác nhau nhưng dựa trên khái niệm về hiệu quả kinh doanh, cách gọi hiệu quả tài chính chỉ là tên gọi khác khi đo lường hiệu quả kinh doanh Ngoài ra cũng có tác giả gọi tỷ suất sinh lợi là hiệu quả hoạt động Tương tự như hiệu quả tài chính, đây cũng là trường hợp đo lường hiệu quả kinh doanh

2.5.1 Nhóm các nghiên cứu về biến đổi khí hậu

Một số nghiên cứu ban đầu về tác động của sự kiện liên quan đến ô nhiễm môi trường và giá cổ phần các công ty, kết quả cho thấy trong hầu hết các trường hợp các công bố thông tin liên quan đến việc công ty gây ra ô nhiễm môi trường giá

cổ phiếu công ty giảm Điều này hàm ý các vấn đề xấu liên quan đến môi trường làm giảm hiệu quả kinh doanh của công ty Hamilton (1995) khi phân tích các công

ty trong danh sách theo dõi chỉ số ô nhiễm môi trường ở Mỹ như các trường hợp phát thải các khí độc hại cho biết: Khi thông tin mới về ô nhiễm môi trường được

Trang 40

thông báo, báo chí sẽ đưa tin bình luận nhiều hơn về hành vi gây hại môi trường của công ty, điều này thu hút các cổ đông quan tâm tìm hiểu kỹ hơn về cổ phiếu công

ty Kết quả thống kê cho thấy tỷ suất sinh lợi của các công ty này sau khi công bố thông tin giảm Giá trị tuyệt đối của suy giảm giá trị cổ phiếu có thể lên đến 4,1 triệu USD đối với nhóm các công ty trong danh mục theo dõi về ô nhiễm khi công

bố thông tin lần đầu tiên Tương tự, Klassen và McLaughlin (1996), Khanna và các tác giả (1998) cũng tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa các sự kiện xấu liên quan đến môi trường và tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu Konar và Cohen (1996) kiểm chứng mối quan hệ giữa yếu tố môi trường và hiệu quả tài chính của các công ty trong chỉ số S&P500 Kết quả cho thấy thông tin xấu liên quan đến môi trường làm giảm giá trị tài sản vô hình của các công ty Các tác giả kết luận rằng phát thải các hóa chất độc hại có một ảnh hưởng đáng kể đến giá trị tài sản vô hình của các công

ty đại chúng Giảm 10% lượng phát thải các hóa chất độc hại dẫn đến giá trị thị trường tăng lên 34 triệu USD Mức độ của những ảnh hưởng này khác nhau trong các ngành công nghiệp, với tổn thất lớn hơn đến các ngành công nghiệp gây ô nhiễm truyền thống

Cũng với dữ liệu S&P500, Hart và Ahuja (1996) nghiên cứu mối quan hệ giữa giảm phát thải và hiệu quả tài chính (ROA, ROE và ROS) Kết quả tìm thấy giảm phát thải khí gây hại tăng hiệu quả tài chính và tiết kiệm tiền cho công ty Tuy nhiên, các công ty trong lĩnh vực công nghiệp có hiệu quả thấp hơn so với một số lĩnh vực khác Các kết quả khi xem xét riêng từng ngành nghề có thể khác nhau với các mức ý nghĩa thống kê

Delmas và Nairn-Birch (2010) đã kiểm tra tác động của phát thải khí nhà kính (GHG) đối với kết quả hoạt động tài chính bền vững của 1.100 công ty ở Mỹ Nghiên cứu tìm kiếm bằng chứng dựa trên phân tích lượng phát thải khí nhà kính trực tiếp của các công ty và lượng phát thải dựa trên cả chuỗi cung ứng Thật thú vị, những phát hiện của các tác giả này chỉ ra rằng việc tăng lượng khí thải carbon sẽ

có tác động cùng chiều đến ROA (do các công ty tối đa hóa lợi nhuận thường có lượng phát thải lớn) nhưng lại có tác động ngược chiều đến giá trị thị trường của

Ngày đăng: 28/01/2019, 16:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w