ĐẶT VẤN ĐỀ Thiếu máu là sự mất quân bình sinh lý giữa mất máu và bù đắp máu của cơ thể. Thiếu máu thường không phải là một bệnh mà là triệu chứng của một bệnh hoặc một rối loạn nào đó. Thiếu máu có thể gây ra do nhiều nguyên nhân khác nhau: do nhiễm ký sinh trùng (giun sán sốt rét), do mất máu, do bệnh lý về huyết sắc tố (Hb), hay do thiếu dinh dưỡng. Về ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng thì thiếu máu do thiếu dinh dưỡng, đặc biệt là thiếu sắt, thiếu acid folic thiếu vitamin B12 là phổ biến hơn cả [1], [2]. Phụ nữ trong độ tuổi sinh sản và trẻ em nằm trong nhóm có nguy cơ dễ mắc bệnh. Nguyên nhân chủ yếu là do ăn thiếu các thực phẩm giàu chất sắt, đặc biệt là sản phẩm có nguồn gốc từ động vật. Thiếu máu do thiếu sắt thường là các chảy máu mãn tính bệnh nhân không biết, bỏ qua không chú ý. Thiếu máu thiếu sắt gặp khoảng 90% các trường hợp thiếu máu. Nữ gặp nhiều hơn nam. Tình hình thiếu máu ở các nước đang phát triển chiếm tỷ lệ cao khoảng 36%, so với các nước phát triển chỉ chiếm 8%. Tỷ lệ thiếu máu cao nhất gặp ở Nam Phi, Nam Á, Mỹ La Tinh. Thiếu máu gặp 50% ở phụ nữ có thai, rồi đến 43% ở trẻ em, còn nam giới trưởng thành thấp hơn cả, chiếm 18%. Một trong những nguyên nhân gây thiếu máu hay gặp ở Việt Nam là nhiễm giun móc và vấn đề dinh dưỡng. Thừa glucid, thiếu protid, đặc biệt là Protid động vật là thành phần cung cấp nhiều chất dinh dưỡng và vi chất; hiện tượng đẻ dày, đẻ nhiều con phổ biến ở nông thôn; các phong tục tập quán lạc hậu về thực hành dinh dưỡng còn tồn tại một số vùng, .... Tất cả những điều đó làm cho tình trạng thiếu máu ngày càng trở nên phổ biến ở nước ta. Hậu quả của thiếu máu, đặc biệt là thiếu máu nặng ảnh hưởng nặng nề đến sức khoẻ, giảm khả năng lao động và học tập giảm khả năng đề kháng bệnh tật [5], [6]. Một trong những đối tượng dễ mắc thiếu máu rất đáng chú ý là phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ mang thai. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ lệ thiếu máu phụ nữ nói chung là 33%, ở phụ nữ mang thai là 50%. Ở các nước đang phát triển tỷ lệ này là 56%, các nước phát triển là 15% Ở Việt Nam, theo điều tra của Viện Dinh Dưỡng năm 1995, có 40,2% phụ nữ không mang thai và 52,7% phụ nữ mang thai bị thiếu máu. Điều đáng quan tâm là thiếu máu ở phụ nữ ở độ tuổi mang thai là một hiện tượng phổ biến nhưng do thiếu hụt về nguồn lực và các bằng chứng về nguyên nhân thiếu máu ở đối tượng trên nên việc thực hiện các can thiệp sức khỏe vẫn còn nhiều hạn chế. Xuất phát từ ý nghĩa và mục đích trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Tìm hiểu kiến thức về thiếu máu ở phụ nữ mang thai và cách phòng tránh ở phường Thủy Phương, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế’ với mục tiêu sau - Khảo sát kiến thức về thiếu máu ở phụ nữ mang thai - Tìm hiểu cách phòng tránh thiếu máu khi mang thai
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HUẾ
KHOA ĐIỀU DƯỠNG
HUẾ, 2017
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Thiếu máu là sự mất quân bình sinh lý giữa mất máu và bù đắp máucủa cơ thể Thiếu máu thường không phải là một bệnh mà là triệu chứng củamột bệnh hoặc một rối loạn nào đó Thiếu máu có thể gây ra do nhiều nguyênnhân khác nhau: do nhiễm ký sinh trùng (giun sán sốt rét), do mất máu, dobệnh lý về huyết sắc tố (Hb), hay do thiếu dinh dưỡng Về ý nghĩa sức khoẻcộng đồng thì thiếu máu do thiếu dinh dưỡng, đặc biệt là thiếu sắt, thiếu acidfolic thiếu vitamin B12 là phổ biến hơn cả [1], [2]
Phụ nữ trong độ tuổi sinh sản và trẻ em nằm trong nhóm có nguy cơ dễmắc bệnh Nguyên nhân chủ yếu là do ăn thiếu các thực phẩm giàu chất sắt,đặc biệt là sản phẩm có nguồn gốc từ động vật Thiếu máu do thiếu sắtthường là các chảy máu mãn tính bệnh nhân không biết, bỏ qua không chú ý.Thiếu máu thiếu sắt gặp khoảng 90% các trường hợp thiếu máu Nữ gặpnhiều hơn nam
Tình hình thiếu máu ở các nước đang phát triển chiếm tỷ lệ caokhoảng 36%, so với các nước phát triển chỉ chiếm 8% Tỷ lệ thiếu máu caonhất gặp ở Nam Phi, Nam Á, Mỹ La Tinh Thiếu máu gặp 50% ở phụ nữ cóthai, rồi đến 43% ở trẻ em, còn nam giới trưởng thành thấp hơn cả, chiếm18% Một trong những nguyên nhân gây thiếu máu hay gặp ở Việt Nam lànhiễm giun móc và vấn đề dinh dưỡng Thừa glucid, thiếu protid, đặc biệt làProtid động vật là thành phần cung cấp nhiều chất dinh dưỡng và vi chất;hiện tượng đẻ dày, đẻ nhiều con phổ biến ở nông thôn; các phong tục tậpquán lạc hậu về thực hành dinh dưỡng còn tồn tại một số vùng, Tất cảnhững điều đó làm cho tình trạng thiếu máu ngày càng trở nên phổ biến ởnước ta Hậu quả của thiếu máu, đặc biệt là thiếu máu nặng ảnh hưởng nặng
nề đến sức khoẻ, giảm khả năng lao động và học tập giảm khả năng đề khángbệnh tật [5], [6]
Trang 3Một trong những đối tượng dễ mắc thiếu máu rất đáng chú ý là phụ nữ,đặc biệt là phụ nữ mang thai Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới(WHO), tỷ lệ thiếu máu phụ nữ nói chung là 33%, ở phụ nữ mang thai là50% Ở các nước đang phát triển tỷ lệ này là 56%, các nước phát triển là 15%
Ở Việt Nam, theo điều tra của Viện Dinh Dưỡng năm 1995, có 40,2% phụ nữkhông mang thai và 52,7% phụ nữ mang thai bị thiếu máu
Điều đáng quan tâm là thiếu máu ở phụ nữ ở độ tuổi mang thai là mộthiện tượng phổ biến nhưng do thiếu hụt về nguồn lực và các bằng chứng vềnguyên nhân thiếu máu ở đối tượng trên nên việc thực hiện các can thiệp sứckhỏe vẫn còn nhiều hạn chế Xuất phát từ ý nghĩa và mục đích trên, chúng tôi
tiến hành đề tài: “Tìm hiểu kiến thức về thiếu máu ở phụ nữ mang thai và
cách phòng tránh ở phường Thủy Phương, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế’ với mục tiêu sau
- Khảo sát kiến thức về thiếu máu ở phụ nữ mang thai
- Tìm hiểu cách phòng tránh thiếu máu khi mang thai
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 ĐỊNH NGHĨA THIẾU MÁU
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) [14], thiếu máu là
khi giảm rõ rệt khối lượng hồng cầu (HC) và giảm tương ứng khả năng vậnchuyển oxy của máu Bình thường khối lượng máu được duy trì ở mức độ gầnnhư hằng định, do đó thiếu máu là tình trạng giảm số lượng HC hay giảmHemoglobin (Hb) ngoại biên
Cũng theo WHO, người ta phân mức độ thiếu máu chủ yếu dựa vànồng độ Hb máu
Hàm lượng Hb bình thường thay đổi theo tuổi, giới, tình trạng sinh lý,
độ cao so với mặt biển và ít khác nhau theo chủng tộc nên WHO đã đề nghịcoi là thiếu máu do thiếu sắt khi hàm lượng Hb ở dưới các ngưỡng sau đây:
1.2 PHÂN LOẠI THIẾU MÁU [2]
1.2.1 Phân loại theo nguyên nhân thiếu máu
* Thiếu máu do giảm sinh
- Thiếu máu do yếu tố cấu tạo máu: Thiếu máu thiếu sắt, thiếu máuthiếu acid folic, vitamin B12, thiếu máu thiếu protein
- Thiếu máu do giảm sản và bất sản tủy: Suy tủy xương mắc phải vàbẩm sinh (bệnh Fanconi), giảm sinh nguyên HC đớn thuần, thân nhiễm tủy,bệnh leucemie và các di căn khác vào tủy, một số nguyên nhân khác: Suythận mạn, thiểu năng tuyến giáp, bệnh collagen, nhiễm khuẩn mạn
* Thiếu máu do tan máu
- Tan máu do nguyên nhân tại HC, di truyền: Bệnh về Hb: Thalasemi,
- thalasemi, bệnh HbE, HbS, HbC, HbD Bệnh ở màng HC: HC nhỏ hìnhcầu, HC hình thoi Bệnh về men HC: thiếu G6PD, thiếu Glutathion reductasepyruvatkinase
Trang 5- Tan máu do nguyên nhân ngoài HC, mắc phải: Tan máu miễn dịch:Bất đồng nhóm máu mẹ - con Rh, ABO, tự miễn Nhiễm khuẩn, nhiễm độc,cường lách, hội chứng huyết tán tăng urê máu
* Thiếu máu do chảy máu
Chảy máu cấp: Chấn thương, dãn tĩnh mạch thực quản, rối loạn quátrình cầm máu
Chảy máu mạn: giun móc, loét dạ dày - tá tràng, trĩ, sa trực tràng
1.2.2 Phân loại theo huyết học
- Thiếu máu nhược sắc, HC nhỏ: Sắt huyết thanh giảm, sắt huyết thanhtăng
- Thiếu máu đẳng sắc, HC bình thường
-Thiếu máu ưu sắc HC to
1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THIẾU MÁU
Có nhiều nguyên nhân có thể gây ra thiếu máu trong đó đứng vềphương diện sức khỏe cộng đồng 3 loại sau đây quan trọng hơn cả
- Thiếu máu dinh dưỡng
- Thiếu máu liên quan với nhiễm trùng và ký sinh trùng kinh niên
- Thiếu máu liên quan tới các tật di truyền của các phân tử Hemoglobin
Ba loại này không tách biệt mà nhiều khi lồng vào nhau, ví dụ một sốnhiễm ký sinh trùng như giun móc chẳng hạn làm tăng nhu cầu các yếu tố tạomáu và thúc đẩy phát sinh thiếu máu dinh dưỡng Hơn nữa, trong một quầnthể có tỷ lệ thiếu máu dinh dưỡng cao, đồng thời cũng có thể có nhiều người
bị thiếu máu do bệnh của Hemoglobin [2],[3]
1.3.1.Thiếu máu sinh lý trong thời kỳ mang thai
Trong trạng thái không có thai, nước chiếm 72% trọng lượng cơ thể,trong số này 5% trong mạch máu, 70% ở trong nội bào và 25% ở dịch gianbào Khi có thai dịch nội bào không thay đổi song dịch nội mạch và dịch kẽđều tăng Thể tích huyết tương bắt đầu tăng lên khi bắt đầu mang thai, tăng rõ
Trang 6từ tuần lễ thứ 2, đạt tới mức cao nhất xung quanh tuần lễ thứ 32, duy trì chotới gần đủ tháng mới có trình trạng giảm nhẹ Khi bắt đầu có thai thể tíchhuyết tương từ 2.150ml sẽ tăng dần lên 3.350ml vào đầu tháng thứ 9 tức làtăng 1.400ml Trong khi đó thể tích huyết cầu chỉ tăng 300ml, như vậy thểtích huyết tương tăng nhiều hơn thể tích huyết cầu, điều đó giải thích huyếttương tăng nhiều hơn thể tích huyết cầu, đây là hiện tượng máu bị pha loãng,giảm độ quánh, tỉ lệ Hb giảm độ 2-3g/dl
1.3.2 Thiếu máu do thiếu sắt
Người ta tính rằng sự hiện diện của sắt trong cơ thể với 1 lượng rất nhỏ4gr ở nam và 2,5gr ở nữ, mỗi ngày lượng sắt mất đi rất ít khoảng0,8-1mg/ngày cộng với lượng sắt mất đi do kinh nguyệt nếu không được bùtrừ hoặc bù đắp không đủ dần dần sẽ dẫn đến sự thiếu hụt sắt.[5], [6]
Trong khi có thai nhu cầu về sắt tăng rõ rệt: 200ml để tăng khối lượnghuyết cầu, 75mg sắt cho 1kg trọng lượng thai, 75mg sắt cho sự phát triển củabánh nhau, 200mg sắt cho mất máu khi đẻ, 300mg sắt cho cơ thể mẹ, tổngcộng mất đi 700mg sắt cho thai nghén và sinh đẻ, tương đương 4,0mgsắt/ngày, vào cuối kỳ thai nghén đến 6,3mg/ngày
Sắt có nguồn gốc từ thực phẩm, có 2 loại sắt hem và non- hem Sắthem được tìm thấy ở thức ăn nguồn gốc thực vật đặc biệt trong hạt ngũ cốc,rau củ và cây họ đậu Lợi ích sinh học của nó thấp hơn và được hấp thu bởi
sự có mặt của yếu tố nâng cao vitamin C và kìm hãm là tanin
1.3.3 Thiếu máu do Axít Folic và Vitamin B12
Hai chất có đặc tính chống nguyên HC khổng lồ và axit folic vàVitamin B12 tác động lên Thymin ở giai đoạn sau để biến nó thành thymidin,thành phần chủ yếu của Axit Desoxyribonucleic Các axit này rất cần thiếtcho sự phân chia các nhân Như vậy, sự thiếu axit folic và Vitamin B12 sẽ cóảnh hưởng nhanh chóng lên tất cả các tổ chức đang có sự phân chia tế bàotích cực, đặc biệt ở tuỷ xương [5],[6]
Trang 7Cơ thể người không tự tổng hợp được folat, vì vậy đòi hỏi folat từ chế
độ ăn Folat hiện diện trong tất cả các loai thức ăn nhưng có nhiều trong gan,rau lá xanh đậm, khoai lang, khoai tây, lòng đỏ trứng, chuối, mãng cầu Nhiềuloại thực phẩm chính quan trọng ở các nước chậm phát triển thì nghèo folatnhư: gạo, kê, bắp
Folat đòi hỏi gấp đôi trong thai kỳ, đặc biệt quý 3 và thời kỳ hậu sảnnhu cầu bình thường là 30-50ug/ngày
1.3.4 Thiếu máu và giun móc
Nhiễm giun móc là một trong những nguyên nhân cơ bản của thiếumáu ở các nước chậm phát triển Khoảng 25% dân số Thế giới có nhiễm giunmóc Tỷ lệ bệnh phân bố tập trung ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, nơi
có môi trường bị ô nhiễm phân và chủ yếu mắc phải do tiếp xúc với đất bị ônhiễm hoặc có ăn rau sống có trứng giun Giun móc là loại giun hút máu, có
hai loại giun móc, cả hai loại này đều có ở Việt Nam Necator americanus tiêu thụ khoảng 0,2 ml máu/ngày, trong khi đó loại Ancylostoma americanus
tiêu thụ gấp 10 lần Số lượng giun móc có thể từ vài con đến vài ngàn con
1.3.5 Giun đũa và thiếu máu
Giun đũa cũng là loại ký sinh trùng hay gặp, chúng ký sinh ở ruột nonvới số lượng lớn, ăn chất dinh dưỡng gây nên tình trạng suy kiệt cơ thể, sốlượng lớn còn gây tắc ruột, vào ruột thừa gây viêm ruột thừa cấp Độc tố giunđũa gây tình trạng kích thích, chán ăn, viêm ruột điều đó cũng sẽ dẫn đếnthiếu máu
Trang 8tượng có tỷ lệ mắc bệnh cao như người mẹ có thai, trẻ em, học sinh và laođộng một số ngành nghề.
Các tác dụng của sắt là: khó chịu ở thượng vị, buồn, nôn, táo bón, ỉalỏng nên dùng viên sắt sau khi ăn thì dễ chịu hơn khi đói Cần chú ý có thể
do tác dụng phụ này mà các đối tượng ngừng thuốc, phần lớn phụ nữ có thaiđều bị thiếu máu, vì vậy nên tổ chức uống đại trà cho đối tượng này
1.4.2 Cải thiện chế độ ăn
Trước hết, chế độ ăn cần cung cấp đủ năng lượng và các thực phẩmgiàu sắt (thức ăn động vật, đậu đỗ) Đồng thời cần tăng cường khả năng hấpthu sắt nhờ tăng vitamin C từ rau quả (ô dinh dưỡng, vườn rau gia đình) Tỷ
lệ hấp thu của sắt không ở dạng Hem tăng lên thuận chiều với lượng vitamin
C trong khẩu phần Nên khuyến khích các cách chế biến như nảy mầm, lênmen (giá đỗ, dưa chua) vì các quá trình này làm tăng lượng vitamin C và làmgiảm lượng tannin và acid phytic trong thực phẩm.[1], [5], [6]
1.4.3 Giám sát các bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm virus và ký sinh trùng
Chưa nói đến cải thiện chế độ ăn, chỉ riêng việc định kỳ tẩy giun, giảmbớt lần mắc các bệnh nhiễm khuẩn đã cải thiện rõ rết đến tình trạng dinhdưỡng của sắt Đồng thời chú ý chế độ ăn hợp lý trong và sau khi mắc cácbệnh nhiễm khuẩn
1.4.4 Tăng cường sắt cho một số thức ăn
Đây là một hướng kỹ thuật khó khăn nhưng đang thăm dò ở nhiềunước Vấn đề đặt ra là đảm bảo hoạt tính sinh học của sắt mà không gây ramùi vị khó chịu cho thực phẩm Các loại thực phẩm được thử nghiệm tăngcường là gạo, muối, nước mắm, bột cá, chè
Ở nước ta, với sự hợp tác của ngành Dinh dưỡng, Huyết học, Nhi, côngtác chẩn đoán thiếu máu dinh dưỡng ở cộng đồng đã được xác định Với sự
hỗ trợ của UNICEF, Bộ Y tế đã cho triển khai một dự án phòng chống thiếumáu ở phụ nữ có thai một số tỉnh thông qua giáo dục dinh dưỡng và uốngviên sắt và acid folic vào 3 tháng cuối của thời kỳ có thai [6]
Trang 91.5 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VẤN ĐỀ THIẾU MÁU
Thiếu máu sẽ dẫn đến hậu quả sau:
1.5.1 Ảnh hưởng đến khả năng lao động
Thiếu máu do bất kỳ nguyên nhân nào cũng gây ra tình trạng thiếu Oxy
ở các mô, đặc biệt ở một số cơ quan như tim, não Thiếu máu ảnh hưởng tớicác hoạt động cần tiêu hao năng lượng Nghiên cứu nhiều nơi cho thấy năngsuất lao động của người thiếu máu thấp hơn những người bình thường Người
ta còn nhận thấy tình trạng thiếu sắt (chưa bộc lộ thiếu máu) cũng làm giảmkhả năng lao động.[3], [4]
1.5.2 Ảnh hưởng tới thai sản
Từ lâu người ta đã biết thiếu máu tăng nguy cơ đẻ non, đẻ con nhẹ cân
dễ bị chảy máu sau đẻ, tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong của mẹ và con Người
mẹ có dinh dưỡng tốt trong quá trình mang thai và tăng được khoảng 10 kg
và dinh dưỡng hằng ngày trong suốt thời kỳ mang thai có hàm lượng sắt ítnhất 28mg thì đứa trẻ khi sinh ra có cân nặng khoảng 3kg và không bị thiếumáu dinh dưỡng
1.5.3 Ý nghĩa sức khỏe cộng đồng
Thiếu máu hay gặp ở các nước đang phát triển (36%) so với các nướcphát triển (8%) Tỷ lệ máu cao nhất ở Nam Phi, Nam Á rồi đến Mỹ La Tinh, còncác vùng khác thấp hơn Thiếu máu hay gặp nhất ở phụ nữ có thai (51%) đến trẻ
em (43%), học sinh (37%), còn ở nam giới trưởng thành thấp hơn cả (18%)
Người ta ước tính trên toàn thế giới có khoảng 1.300 triệu người thiếumáu do thiếu sắt Cần chú ý thêm rằng cần thiếu máu chỉ là giai đoạn cuốicùng của một quá trình thiếu sắt tương đối dài và nhiều ảnh hưởng bất lợi vớisức khỏe và thể lực và số người bị thiếu sắt nhưng chưa bộc lộ thiếu máu caohơn nhiều so với số người bị thiếu máu thật sự [5], [6]
Trang 10Chương 2
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu tìm hiểu 52 phụ nữ trong độ tuổi 18 - 49 tuổi tại phườngThủy Phương, Thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
+ Tiêu chuẩn chọn đối tượng
- Mỗi hộ chọn 1 bà mẹ ≥ 18 tuổi
- Đồng ý tham gia
- Hộ được phỏng vấn phải cư trú tại địa phương ≥ 1 năm
+ Tiêu chuẩn loại trừ
Đối tượng được phỏng vấn
- Đang cư trú < 1 năm
- Không có khả năng giao tiếp
- Bệnh tâm thần
- Không đồng ý tham gia
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu từ ngày 20/03/2017 đến 31/03/2017
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu
Tổ 4, Phường Thủy Phương là 1 trong 4 phường thuộc thị xã Hương Thủy
- Tổng diện tích: 1.771 ha
- Dân số: 15.459 người (Theo niên giám thống kê Thị xã năm 2016)
- Vị trí địa lý: Nằm phía Tây thị xã Hương Thủy, ở vị trí trung tâm Thànhphố Huế và phường Phú Bài
+ Phía Đông giáp với phường Thủy Châu+ Phía Tây giáp với phường Thủy Dương, xã Thủy Bằng+ Phía Nam giáp với xã Phú Sơn
+ Phía Bắc giáp với xã Thủy Thanh
Trang 11Đa số người dân chủ yếu là nghề nông, công nhân trình độ học vấntương đối thấp.
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Phương pháp điều tra mô tả, cắt ngang
2.2.2 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên đơn
- Lập danh sách tất cả những người 18 tuổi hiện đang sinh sốngphường Thủy Phương, TX Hương Thủy, Thành Phố Huế
- Trên đầu đường phía phải phường Thủy Phương, chúng tôi ngẫu nhiênchọn 1 hộ bỏ 2 hộ đến cuối đường sẽ có đủ số hộ là 52 hộ dân theo yêu cầunghiên cứu
- Phương pháp: phỏng vấn trực tiếp người dân theo bộ câu hỏi
2.2.3 Phương tiện nghiên cứu
Phỏng vấn tại hộ gia đình: Dùng bộ câu hỏi ( phiếu điều tra) đã thiết kếtrước để thu thập các thông tin
2.2.4 Biến số nghiên cứu
- Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
+ Tuổi: gồm 3 nhóm: 18-25 tuổi; 26-35 tuổi và 36-49 tuổi
+ Nghề nghiệp: Nông dân, công nhân, CBCNV, buôn bán+nội trợ+ Trình độ văn hóa: Tiểu học, THCS, THPT, CĐ-ĐH
+ Điều kiện kinh tế; Khá, trung bình, nghèo
- Nội dung 9 câu hỏi trong phiếu điều tra
2.2.4 Các bước nghiên cứu
+ Tìm tài liệu, xây dựng phiếu điều tra: Từ 20-03-2017 đến 21-03-2017
+ Tiến hành điều tra, phỏng vấn: Từ 22-03-2017 đến 25-03-2017+ Xử lý số liệu, viết bài thu hoạch Từ 26-03-2017 đến 31-03-2017
2.3 XỬ LÝ SỐ LIỆU
Xử lý số liệu bằng phương pháp y học thông thường
Trang 12Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Qua nghiên cứu 52 phụ nữ tìm hiểu kiến thức về thiếu máu ở phụ nữmang thai và cách phòng tránh ở phường Thủy Phương, thị xã Hương Thủy,tỉnh Thừa Thiên Huế chúng tôi có kết quả như sau:
3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA MẪU NGHIÊN CỨU
3.1.1 Phân bố mẫu nghiên cứu theo tuổi
00 05 10 15 20 25 30 35 40 45
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ phụ nữ theo tuổi
Nhóm phụ nữ 36-49 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (40,4%)
3.1.2 Phân bố mẫu nghiên cứu theo học vấn
06%
39%
56%
Tiểu học THCS
≥ THPT
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ phụ nữ theo học vấn
Trình độ học vấn là ≥ THPT chiếm tỷ lệ cao nhất 56%
Trang 133.1.3 Phân bố mẫu nghiên cứu theo nghề nghiệp
Bảng 3.1 Phân bố theo nghề nghiệp
Biểu đồ 3.3 Điều kiện kinh tế
Nhận xét:
Đa số các đối tượng nghiên cứu có kinh tế trung bình (63,5%), khá
chiếm 25,0%; chỉ có 11,5% phụ nữ nghèo
Trang 143.2 KIẾN THỨC VỀ THIẾU MÁU KHI PHỤ NỮ MANG THAI
3.2.1 Hiểu biết về dấu hiệu bệnh thiếu máu ở phụ nữ mang thai
Bảng 3.2 Tỷ lệ biết về dấu hiệu thiếu máu ở phụ nữ mang thai
3.2.2 Hiểu biết nguyên nhân phụ nữ mang thai bị thiếu máu
Bảng 3.3 Tỷ lệ hiểu biết nguyên nhân gây nên thiếu máu ở phụ nữ mang
thai
Nhận xét: Ăn uống không đủ chất chiếm 76,9%, bị mất máu khi đẻ là
73,1%, chữa đẻ nhiều là 61,5% Có 9,6% phụ nữ không biết
3.2.3 Hiểu biết các đối tượng hay bị thiếu máu
Bảng 3.4 Tỷ lệ hiểu biết về các đối tượng hay bị thiếu máu