1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thâm hụt thương mại giữa việt nam và trung quốc thực trạng và giải pháp

105 181 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thương mại song phương, thâm hụt cán cân thương mại đối với một trong hai quốc gia là điều không tránh khỏi. Nếu cán cân thương mại song phương của nước này thặng dư thì nước kia sẽ thâm hụt và ngược lại do vậy đạt được sự cân bằng cán cân thương mại là điều rất khó. Nhưng thâm hụt thương mại trong bao lâu và ở mức độ thế nào thì được coi là không nguy hại cho nền kinh tế luôn là mối quan tâm của chính phủ các nước.

Trang 1

-o0o -LUẬN VĂN THẠC SĨ

THÂM HỤT THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Chuyên ngành: Kinh tế Quốc tế

NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG

Hà Nội - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn do tự bản thân thực hiện và không sao chép cáccông trình nghiên cứu của người khác để làm sản phẩm của riêng mình Các thôngtin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn

Hà Nội, tháng 5 năm 2017

Người cam đoan

Nguyễn Thị Huyền Trang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn Thạc sĩ này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thànhtới giáo viên hướng dẫn: TS Đinh Thị Thanh Bình Cảm ơn cô đã luôn ủng hộ vàtận tình giúp đỡ, góp ý chi tiết cho tôi để tôi có thể hoàn thành tốt bài nghiên cứucủa mình

Bên cạnh đó, tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Kinh tếQuốc tế, cũng như các thầy cô trong trường Đại Học Ngoại Thương trong suốt hainăm qua đã giảng dạy và trang bị cho tôi những kiến thức chuyên sâu hơn và cáckinh nghiệm quý giá, làm nền tảng vững chắc cho bài nghiên cứu này của tôi

Do thời gian nghiên cứu có hạn cũng như khả năng còn nhiều hạn chế nênluận văn khó tránh khỏi những sai sót, tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo của cácthầy cô để giúp tôi hoàn thiện luận văn của mình với kết quả tốt nhất

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG BIỂU vi

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU viii

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THÂM HỤT CÁN CÂN THƯƠNG MẠI 9

1.1 Cơ sở lý luận về thâm hụt cán cân thương mại 9

1.1.1 Một số lý thuyết về thương mại quốc tế 9

1.1.2 Cán cân thương mại 14

1.1.3 Thâm hụt cán cân thương mại 20

1.2 Kinh nghiệm quốc tế về xử lý thâm hụt cán cân thương mại 26

1.2.1 Kinh nghiệm của Mỹ 26

1.2.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 27

1.2.3 Kinh nghiệm của Thái Lan 29

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THÂM HỤT CÁN CÂN THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC 31

2.1 Lịch sử hình thành và phát triển mối quan hệ thương mại Việt Nam-Trung Quốc 32

2.1.1 Khái quát về mối quan hệ thương mại truyền thống giữa hai quốc gia 32 2.1.2 Những bước tiến trong quan hệ song phương giữa hai nước 33

2.1.3 Chính sách thương mại xuất nhập khẩu của mỗi quốc gia 36

2.2 Thực trạng quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc giai đoạn 2010-2016 42

2.2.1 Xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc 43

2.2.2 Nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc 50

2.3 Thâm hụt thương mại Việt Nam – Trung Quốc 55

Trang 6

2.3.1 Tổng quan về cán cân thương mại của Trung Quốc 55

2.3.2 Tổng quan về cán cân thương mại của Việt Nam 58

2.3.3 Thâm hụt thương mại Việt Nam –Trung Quốc 63

2.3.4 Nguyên nhân của tình trạng thâm hụt thương mại Việt Nam- Trung Quốc 67

2.3.5 So sánh cán cân thương mại của Việt Nam - Trung Quốc với cán cân thương mại của một số nước trong khu vực với Trung Quốc 70

2.3.6 Đánh giá nguy cơ của tình trạng thâm hụt cán cân thương mại Việt Nam - Trung Quốc 73

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG VIỆC CẢI THIỆN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC 76

3.1 Quan điểm chỉ đạo và định hướng của Chính phủ trong việc cải thiện cán cân thương mại Việt Nam –Trung Quốc 76

3.1.1 Quan điểm chỉ đạo của Chính phủ trong việc cải thiện cán cân thương mại Việt Nam- Trung Quốc 76

3.1.2 Định hướng của Chính phủ trong giai đoạn 2016-2020 80

3.2 Bài học cho Việt Nam về việc cải thiện cán cân thương mại song phương với Trung Quốc 81

3.3 Đề xuất các giải pháp cải thiện cán cân thương mại Việt Nam- Trung Quốc 83

3.3.1 Nâng cao năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam 83

3.3.2 Cải thiện cơ cấu hàng xuất nhập khẩu 85

3.3.3 Phát triển hơn nữa các ngành công nghiệp phụ trợ 86

3.3.4 Nhóm giải pháp khác 88

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ASEAN Association of South East Asian

Nations Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế giới

GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội

FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài

APEC Asia -Pacific Economic

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU BẢNG:

Bảng 1.1: Cán cân thương mại của Mỹ trong giai đoạn 2010-2015 26 Bảng 2.1: Giá trị xuất khẩu Việt Nam - Trung Quốc (2010-2016) 47 Bảng 2.2: Nhóm hàng Trung Quốc nhập khẩu lớn nhất từ Việt Nam năm 2016 49 Bảng 2.3: Thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam giai đoạn 2011- 2016 53 Bảng 2.4: Danh mục hàng hóa nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc (2011- 2016) 53 Bảng 2.5: Mức độ biến động cán cân thương mại của Trung Quốc (2010- 2016) 58 Bảng 2.6: Tình hình cán cân thương mại song phương của Việt Nam và một số nước năm 2016 67 Bảng 3.1: Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 2008-2015 78

BIỂU:

Biểu đồ 2.1: Kim ngạch thương mại Việt Nam-Trung Quốc (1995 -2015) 35 Biểu đồ 2.2: Top 5 thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt nam (2010- 2016) 44 Biểu đồ 2.3: Kim ngạch xuất khẩu Việt Nam -Trung Quốc (2010-2016) 46 Biểu đồ 2.4: Cơ cấu xuất khẩu Việt Nam sang Trung Quốc năm 2016 48 Biểu đồ 2.5: Kim ngạch nhập khẩu Việt Nam-Trung Quốc (2010-2016) 50 Biểu đồ 2.6: Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc (2005- 2016) 52 Biểu đồ 2.7: Cơ cấu hàng nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc năm 2015 54 Biểu đồ 2.8: Diễn biến cán cân thương mại của Trung Quốc (1995-2016) 55 Biểu đồ 2.9: Cán cân thương mại của Trung Quốc với một số nước năm 2015 56

Trang 9

Biểu đồ 2.10: Diễn biến cán cân thương mại Trung Quốc (2010-2016) 57 Biểu đồ 2.11: Diễn biến cán cân thương mại Việt Nam (2001-2016) 59 Biểu đồ 2.12: Tỷ trọng xuất khẩu của 2 khu vực kinh tế giai đoạn 2010- 2016 60 Biểu đồ 2.13: Diễn biến Cán cân thương mại Việt Nam giai đoạn 2010- 2016 61 Biểu đồ 2.14: Cán cân thương mại giữa Việt Nam và với một số nước năm 2016 63 Biểu đồ 2.15: Diễn biến cân thương mại song phương Việt Nam-Trung Quốc giai đoạn 1995-2016 65 Biểu đồ 2.16: Thương mại Việt Nam-Trung Quốc giai đoạn 2010-2016 .66 Biểu đồ 2.17: Cán cân thương mại Campuchia-Trung Quốc (2010-2016) 71 Biểu đồ 2.18: Cán cân thương mại Lào –Trung Quốc (2010-2016) 72 Biểu đồ 2.19: Mức độ thâm hụt cán cân thương mại Việt Nam, Lào,

Campuchia với Trung Quốc (2010-2016) 73

Trang 10

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tác giả lựa chọn đề tài “Thâm hụt thương mại giữa Việt Nam và Trung

Quốc: Thực trạng và Giải Pháp” với mục tiêu làm rõ bức tranh về tình hình

thương mại song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc, từ đó xem xét cán cânthương mại giữa hai quốc gia để đánh giá mức độ thâm hụt thương mại của ViệtNam so với quốc gia láng giềng này Theo đánh giá của tác giả, bài nghiên cứu đãđạt được các kết quả như sau:

Chương 1: Trên cơ sở trình bày lý luận và thực tiễn về thâm hụt cán cânthương mại quốc tế, tác giả cũng dẫn chứng nguyên nhân xảy ra tình trạng thâm hụtthương mại ở một số quốc gia trên thế giới như Mỹ, Pakistan, Ấn Độ, Trung Quốc

và kinh nghiệm xử lý tình trạng thâm hụt thương mại của một số quốc gia điển hình

Chương 2: Qua nghiên cứu thực trạng trao đổi thương mại hai chiều giữaViệt Nam với Trung Quốc trong giai đoạn 2010-2016 và đánh giá mức độ thâm hụtthương mại của Việt Nam với Trung Quốc so với một số nước láng giềng khác nhưLào và Campuchia Tác giả đã chỉ nguyên nhân chính dẫn đến thâm hụt thương mạiViệt Nam-Trung Quốc trong giai đoạn này là do cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩugiữa hai nước còn nhiều bất cập và ngành công nghiệp phụ trợ của Việt nam cònyếu kém nên khi Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu đồng nghĩa với việc phải tăngcường nhập khẩu nguyên phụ liệu sản xuất từ Trung Quốc

Chương 3: Từ những nguyên nhân của tình trạng thâm hụt đã trình bày trongchương 2, tác giả có để xuất các giải pháp cải thiện tình hình cán cân thương mạivới Trung Quốc trong đó giải pháp quan trọng nhất là phát triển ngành công nghiệpphụ trợ để tự chủ về yếu tố đầu vào, giảm bớt sự phụ thuộc vào thị trường TrungQuốc; cải thiện cơ cấu hàng hóa bằng cách tăng giá trị hàng công nghiệp chế tạo,giảm giá trị hàng nguyên liệu thô; nâng cao năng lực của doanh nghiệp xuất khẩu đểthâm nhập thị trường Trung Quốc nhằm đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường tiềmnăng này

Trong khuôn khổ luận văn, tác giả đã có điểm mới so với các nghiên cứucùng đề tài trước đây đó là ngoài phân tích thực trạng thương mại của Việt Nam-

Trang 11

Trung Quốc trong giai đoạn gần nhất (2010-2016), tác giả cũng tìm hiểu nguyênnhân thâm hụt của một số nước, so sánh với cán cân thương mại của một số quốcgia láng giềng trong khu vực, từ đó đánh giá mức độ nguy hiểm thâm hụt thươngmại của Việt Nam-Trung Quốc và học hỏi tìm ra những giải pháp phù hợp với điềukiện cụ thể của nước ta

Mặc dù vậy, luận văn vẫn còn một số điểm hạn chế Trước hết là về khoảngthời gian nghiên cứu tương đối ngắn trong vòng 7 năm từ năm 2010-2016, thực tếtác giả cũng có sự so sánh trong 1 giai đoạn dài trước thời kỳ nghiên cứu nhưng vẫncòn nhiều hạn chế Hai là quan hệ thương mại giữa Việt Nam - Trung Quốc cònnhiều phức tạp do thương mại biên giới phát triển mạnh nhưng trong khuôn khổ bàinghiên cứu, tác giả chưa đề cập sâu về lĩnh vực thương mại biên giới này

Trang 12

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thương mại song phương, thâm hụt cán cân thương mại đối với mộttrong hai quốc gia là điều không tránh khỏi Nếu cán cân thương mại song phươngcủa nước này thặng dư thì nước kia sẽ thâm hụt và ngược lại do vậy đạt được sự cânbằng cán cân thương mại là điều rất khó Nhưng thâm hụt thương mại trong bao lâu

và ở mức độ thế nào thì được coi là không nguy hại cho nền kinh tế luôn là mốiquan tâm của chính phủ các nước

Với Việt Nam, thâm hụt cao trong cán cân thương mại với Trung Quốc chính

là điều kiện cho phát triển kinh tế và đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường khác

Do đó, dù có bị thâm hụt thương mại cao nhưng không phải là điều quá lo lắng khithâm hụt với nước này được bù đắp bằng thặng dư từ nước khác và thực tế cán cânthương mại tổng thể của Việt Nam cũng đã cải thiện rất nhiều trong thời gian qua.Tuy nhiên, tình trạng thâm hụt thương mại với Trung Quốc đã kéo dài và vượt mức10% GDP của Việt Nam trong năm 2015 thì lại là vấn đề đáng báo động cho tìnhtrạng nhập siêu quá lớn với tốc độ quá nhanh Điều đó cho thấy Việt Nam đang giatăng sự phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc và không chủ động trong sản xuất, tiêudùng và xuất khẩu Thêm vào đó, thực tế thời gian qua cho thấy rất nhiều nông sảncủa Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn khi xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc vìkhông đủ giấy tờ về kiểm dịch thực vật hay các chứng từ hàng hóa theo yêu cầu củahải quan Trong khi đó, sản xuất xuất khẩu cũng đang phụ thuộc lớn vào thị trườngTrung Quốc khiến cho Việt Nam không thể chủ động được giá đầu vào và tạo ra giátrị gia tăng thấp do chỉ thực hiện ở khâu lắp ráp thành phẩm, chưa chủ động đượcnguồn cung và chỉ là một mắc xích rất nhỏ trong chuỗi cung ứng toàn cầu

Như vậy có thể thấy, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của ViệtNam trong nhiều năm và giá trị thâm hụt thương mại với Trung Quốc luôn chiếm tỷtrọng lớn nhất trong tổng giá trị thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam trongnhiều năm qua Mặc dù trên thực tế đã có nhiều bài nghiên cứu về quan hệ thươngmại giữa Việt Nam và Trung Quốc nhưng hầu hết chỉ dừng lại ở giai đoạn trướcnăm 2011 hoặc phân tích một khía cạnh cụ thể trong thương mại giữa Việt Nam –

Trang 13

Trung Quốc như thương mại biên giới và chưa có nghiên cứu nào thực sự làm rõtình trạng thâm hụt thương mại và những nguyên nhân của tình trạng thâm hụtthương mại với Trung Quốc đã kéo dài và đáng báo động trong giai đoạn nhữngnăm gần đây, cụ thể từ năm 2010 đến 2016 Đây là giai đoạn cán cân thương mạitổng thể của Việt Nam có chiều hướng tích cực nhưng cán cân thương mại songphương với Trung Quốc thì vẫn thâm hụt nghiêm trọng đặc biệt là năm 2015 Mặc

dù năm 2016 cán cân thương mại Việt –Trung đã có dấu hiệu tích cực, giảm mứcthâm hụt nhưng chưa đáng kể

Xuất phát từ nhu cầu cấp bách của thực tiễn, tác giả quyết định chọn đề tài

“Thâm hụt thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc: Thực trạng và Giải

pháp” để làm rõ hơn về nguyên nhân của tình trạng thâm hụt thương mại giữa Việt

Nam và Trung Quốc trong những năm gần đây (2010-2016), đồng thời so sánh vớimột số nước trong khu vực và cùng trình độ phát triển như nước ta để có sự đánhgiá sâu hơn từ đó đề xuất các giải pháp khả thi cho vấn đề này

2 Tình hình nghiên cứu

Khi lựa chọn đề tài này, tác giả đã nghiên cứu tìm hiểu và thấy rằng thực tế đã

có rất nhiều bài nghiên cứu trước đây về tình trạng thâm hụt cán cân thương mại,những nguyên nhân và tác động của nó đến nền kinh tế một quốc gia kể cả trongnước và ngoài nước

Các tài liệu trong nước

Đến nay đã có nhiều bài phân tích, công trình nghiên cứu khoa học có liênquan tới vấn đề xuất nhập khẩu, nhập siêu, cán cân thương mại Tuy nhiên, trong sốnhững công trình nghiên cứu này, có những công trình tập trung nghiên cứu về mộthoặc một số khía cạnh của cán cân thương mại hoặc một số yếu tố tác động tới cáncân thương mại và phương pháp tiếp cận cũng khác nhau

Bùi Trường Giang (2011), Phạm Thế Anh (2012), Tô Trung Thành (2014) đãnghiên cứu cán cân thương mại theo cách tiếp cận liên thời kỳ và sử dụng phươngpháp OLS để ước lượng mô hình, đi sâu phân tích tác động của nhiều biến số tớicán cân thương mại Kết quả nghiên cứu định lượng cho thấy, chênh lệch tiết kiệm

và đầu tư là nguyên nhân cơ bản dẫn đến thâm hụt thương mại tại Việt Nam trong

Trang 14

nhiều năm.Tác giả đưa ra khuyến nghị thay đổi mô hình tăng trưởng và tái cơ cấunền kinh tế, đồng thời bổ trợ thêm với một số chính sách liên quan đến đầu tư trựctiếp nước ngoài và chính sách tỷ giá để giải quyết vấn đề thâm hụt thương mại tạiViệt Nam một cách bền vững.

Vũ Quốc Huy và Đoàn Hồng Quang (2012) đã chỉ ra rằng thâm hụt thươngmại của một quốc gia có mối liên quan rõ rệt với những điều kiện kinh tế chung củaquốc gia đó Tăng trưởng có thể dẫn tới gia tăng nhu cầu phục vụ sản xuất vànguyên liệu nhập khẩu Từ đó tìm hiểu bản chất và nguyên nhân của thâm hụtthương mại lớn và dai giẳng tại Việt Nam trong thời gian trước năm 2012 từ góc độ

vĩ mô rộng lớn hơn của nền kinh tế và đưa ra những gợi ý về chính sách kinh tế đểcải thiện khả năng cạnh tranh và cán cân thương mại của Việt nam

Nguyễn Thị Hà Trang và đồng sự (2011), trong bài nghiên cứu về “Thâm hụttài khoản vãng lai: nguyên nhân và giải pháp” đã chỉ ra rằng thâm hụt tài khoảnvãng lai có nguồn gốc chủ yếu từ thâm hụt cán cân thương mại, tức là nhập khẩunhiều hơn xuất khẩu Nguyên nhân chính dẫn đến thâm hụt thương mại ngày càngtăng là do cơ cấu kinh tế, mất cân đối vĩ mô giữa tiết kiệm và đầu tư, thâm hụt ngânsách chính phủ, và việc sử dụng chưa hiệu quả của các dòng vốn nước ngoài.Nghiên cứu cũng cho rằng thâm hụt thương mại không phải luôn là yếu tố tiêu cực.Tùy thuộc vào tình hình kinh tế vĩ mô mà thâm hụt thương mại là dấu hiệu tích cựchay ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế

Vũ Huyền My (2012) đã vận dụng mô hình Lực hấp dẫn trong thương mại(Gravity Model) để phân tích các yếu tố tác động đến cán cân thương mại trong đóchỉ tập trung và 2 nhóm yếu tố tác động đến cung và cầu bao gồm: Nhóm yếu tố vềnăng lực sản xuất và sức mua thị trường như GDP và dân số Tác giả này đã đánhgiá được một số yếu tố tác động đến thương mại song phương giữa Việt Nam vàTrung Quốc nhưng mặt tồn tại là chưa phân tích nhóm yếu tố hấp dẫn thương mạinhư khoảng cách địa lý, chính sách thương mại giữa hai quốc gia trong khi đây làmột trong các yếu tố quan trọng có tác động trực tiếp đến tình hình trao đổi thươngmại giữa Việt Nam và Trung Quốc

Trang 15

Dương Duy Hưng (2013) với đề tài nghiên cứu “cán cân thương mại Việt Namtrong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, phân tích mối quan hệgiữa cán cân thương mại và công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như yêu cầu côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đối với cán cân thương mại Từ đó, nhận định việc tiếnhành công nghiệp hoá, hiện đại hoá có thể tạo ra sự thâm hụt trong cán cân thươngmại ở một số giai đoạn hay thời điểm nhất định nhưng việc tiến hành công nghiệphoá, hiện đại hoá không đồng nghĩa với việc đi kèm với nó là tình trạng thâm hụt cáncân thương mại

Peter Naray, Paul Baker, Trương Đình Tuyển, Đinh Văn Ân, Lê Triệu Dũng,

và Ngô Chung Khanh (2009), trong “Báo cáo phân tích thâm hụt thương mại củaViệt Nam và các điều khoản về cán cân thanh toán của WTO” đã trình bày nhữngquan điểm cụ thể về tình hình thâm hụt thương mại của Việt Nam Cụ thể, Thâm hụtthương mại tăng cao xuất phát từ việc cắt giảm nhanh chóng hàng rào bảo hộ kể từkhi hội nhập với ASEAN, tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN, ASEAN -Trung Quốc, ASEAN- Ấn Độ, ASEAN- Hàn Quốc và đàm phán để trở thành thànhviên của WTO vào năm 2007, là cơ sở để nhập khẩu tăng lên Trong năm 2009, ViệtNam thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng và nới lỏng chính sách tài khóa nhằmkích cầu trong nước Các chính sách kinh tế vĩ mô này của Chính phủ đã giúp đạtđược tăng trưởng kinh tế khá trong năm, lạm phát phát sinh ở mức thấp Tuy nhiên,chính sách này đã dẫn đến sự gia tăng nhu cầu nhập khẩu, được phản ánh trong cơcấu nhập khẩu Thông thường FDI tập trung vào ngành sản xuất phục vụ xuất khẩuhoặc và các ngành dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ tài chính và du lịch Tuy nhiên, gầnđây FDI lại tập trung vào bất động sản, tạo ra nhu cầu lớn đối với vật liệu xây dựng

và thiết bị nhập khẩu, trong khi không tạo ra năng lực xuất khẩu trong tương lai.Điều này tạo ra bất cập với cán cân thương mại, và giải pháp là Việt Nam nên cốgắng thu hút FDI vào các ngành sản xuất của nền kinh tế

Một lý do cơ bản khác dẫn tới bất cập của cán cân thương mại là sự mất cânđối lớn giữa tiết kiệm và đầu tư ở Việt Nam Mặc dù mức đầu tư lớn là dấu hiệu tíchcực nếu được tập trung vào các hoạt động sản xuất, nhưng trong điều kiện tiết kiệmquốc gia thấp, thì đầu tư lớn cũng đồng nghĩa với việc phải đi vay nước ngoài

Trang 16

Như vậy, trong số các tài liệu tác giả tìm hiểu, hầu hết đều nghiên cứu nguyênnhân chính dẫn đến thâm hụt thương mại ngày càng tăng là do cơ cấu kinh tế, mấtcân đối vĩ mô giữa tiết kiệm và đầu tư, do chính sách kinh tế chưa phù hợp củachính phủ và việc sử dụng chưa hiệu quả của các dòng vốn nước ngoài

Các tài liệu nước ngoài

Cho đến nay, ở hầu hết các nước có khá nhiều nghiên cứu đã được thực hiện

về vấn đề cán cân thương mại một cách trực diện hoặc gián tiếp qua việc nghiêncứu tác động của những yếu tố ảnh hưởng tới cán cân thương mại Tuy nhiên, cácnghiên cứu này phần lớn thực hiện theo hướng nghiên cứu về mối quan hệ giữa tìnhtrạng cán cân thương mại với tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là dựa trên phân tích đặcthù tính chất của từng nền kinh tế

John C.Hilke and Philip B.Nelson (1987) khi nghiên cứu về năng lực cạnhtranh quốc tế và tình hình thâm hụt thương mại tại Mỹ trong giai đoạn những năm

80 của thế kỷ trước đã nhận thấy rằng, sự gia tăng về thâm hụt thương mại tại nướcnày xuất phát từ những thay đổi về quy mô nền kinh tế chẳng hạn như tỷ giá hốiđoái và sự tăng trưởng nền kinh tế Mỹ chứ không phải là do sự cạnh tranh trong cácngành kinh tế Thực tế những thuận lợi và khó khăn của từng ngành chỉ hình thànhnên cơ chế thương mại tại Mỹ trong giai đoạn này

Trong khi đó đến giai đoạn sau, David M.Goud và các cộng sự (1996) lại cóquan điểm khác cho rằng, trong ngắn hạn cán cân thương mại phản ánh tình trạng

nợ quốc tế (tức là ở vị thế đi vay hay cho vay) của một quốc gia, còn trong dài hạn

nó thể hiện năng lực cạnh tranh của quốc gia đó Thâm hụt thương mại càng thấp thìnăng lực cạnh tranh càng cao và tăng trưởng kinh tế vì thế cũng tăng theo Mức độthâm hụt cán cân thương mại lớn và liên tục là dấu hiệu của một nền tế yếu kém.Chính vì vậy, thâm hụt thương mại hay thặng dư thương mại phản ánh sự phân bổhiểu quả đến đâu của các nguồn lực kinh tế và được coi là chỉ số quan trọng đối với

sự tăng trưởng kinh tế dài hạn của một quốc gia

Juan Marchetti và các đồng sự (Trung tâm dữ liệu và nghiên cứu kinh tế-WTO) (2012) trong báo cáo “Trade Imbalances and Mutlilateral TradeCooperation” cũng chỉ ra các nguyên nhân của tình trạng thâm hụt thương mại vàcác tác động của nó đến nền kinh tế nhưng tiếp cận ở một khía cạnh khác, ngoài

Trang 17

nhân tố tỷ giá còn có các yếu tố liên quan đến kinh tế vĩ mô, cấu trúc nền kinh tế vàcác chính sách tài chính tiền tệ của một quốc gia cũng là nguyên nhân dẫn đến tìnhtrạng thâm hụt thương mại của một quốc gia Trong ngắn hạn, phá giá tiền tệ được

dự đoán giúp cải thiện cán cân thương mại, và ngược lại nâng giá tiền tệ khiến chocán cân thương mại trở nên xấu đi Còn trong dài hạn, tác động của nhân tố này vẫncòn nhiều tranh cãi bởi trong điều kiện một nền kinh tế hoàn hảo thì biến động tỷgiá không ảnh hưởng nhiều đến cán cân thương mại và mối quan hệ tích cực giữacán cân thương mại với phá giá tiền tệ chỉ tồn tại ở các nước đang phát triển

Trần Thị Anh Đào và Đinh Thị Thanh Bình (2014) đã áp dụng mô hình Dữliệu Bảng (Fixed Effects & Random Effects) để đánh giá tác động trực tiếp và giántiếp của Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI đến cán cân thương mại ở các nước đangphát triển và các nền kinh tế chuyển đổi ở Châu Á trong giai đoạn 1991-2011, đặcbiệt là các nước Đông Á (Hàn Quốc, Trung Quốc ) đã tận dụng những lợi thế củamình để thu hút FDI giúp tăng trưởng xuất khẩu, tạo chuỗi cung ứng toàn cầu Kếtquả nghiên cứu của các tác giả này cũng cho thấy, dòng vốn FDI sẽ làm cho tìnhtrạng cán cân thương mại xấu đi trong ngắn hạn và sẽ sau đó sẽ cải thiện trong dàihạn do nhu cầu nhập khẩu các vật tư và máy móc phục vụ nhu cầu sản xuất của cácdoanh nghiệp FDI và tạo ra giá trị xuất khẩu sau một thời gian hoạt động

Có thể thấy, dù là tài liệu nghiên cứu trong nước hay nước ngoài, và đối tượnglựa chọn để nghiên cứu ở các quốc gia khác nhau với điều kiện kinh tế khác nhau,nhưng hầu hết các tài liệu nghiên cứu đều chỉ ra rằng nguyên nhân dẫn đến tìnhtrạng thâm hụt ngân sách chủ yếu là do chính sách điều hành kinh tế vĩ mô củachính phủ trong các lĩnh vực tài chính, tiền tệ, đầu tư, thương mại quốc tế có phùhợp và đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh tế của quốc gia đó hay không Từ đóđánh giá được mức độ ảnh hưởng của thâm hụt thương mại là tiêu cực hay tích cựcđối với nền kinh tế

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Bài nghiên cứu sẽ tập trung phân tích thực trạng trao đổi thương mại songphương giữa Việt Nam –Trung Quốc từ đó tìm ra những nguyên nhân chủ yếu dẫnđến tình trạng thâm hụt thương mại ngày càng gia tăng giữa Việt Nam và quốc gianày Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp để khắc phục và cải thiện cán

Trang 18

cân thương mại Việt Nam-Trung Quốc

Để thực hiện mục đích này, đề tài tập trung vào các nhiệm vụ chính sau:

- Hệ thống hóa lý luận cơ bản và kinh nghiệm quốc tế về cán cân thương mại

và thâm hụt cán cân thương mại

- Phân tích, đánh giá thực trạng cán cân thương mại tổng thể của Việt Nam vàTrung Quốc nói chung và phân tích cán cân thương mại song phương giữa ViệtNam và Trung Quốc nói riêng trong giai đoạn gần nhất (2010-2016), làm rõ nhữngnguyên nhân của tình trạng thâm hụt thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốctrong giai đoạn này

- Tìm hiểu nguyên nhân thâm hụt thương mại của một số nước trên thế giới, sosánh mức độ thâm hụt thương mại của Việt Nam –Trung Quốc với cán cân thươngmại của một số nước trong khu vực với Trung Quốc và tìm hiểu bài học kinh nghiệmhạn chế thâm hụt thương mại của một số quốc gia đã thành công trong khu vực

- Trên cơ sở nghiên cứu chủ trương chính sách của chính phủ nhằm cải thiệntình trạng thâm hụt thương mại trong thời gian qua, đề xuất các giải pháp hạn chếthâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tình trạng thâm hụt thương mại kéo dàicủa Việt Nam với Trung Quốc, từ đó tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất các giải phápnhằm hạn chế tình trạng này

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là Cán cân thương mại song phương ViệtNam-Trung Quốc trong giai đoạn 2010-2016 bởi giai đoạn này mức độ thâm hụtthương mại với Trung Quốc trở nên ngày càng trầm trọng và gia tăng sự phụ thuộckinh tế Trung Quốc của Việt Nam, trong đó năm 2015 mức độ thâm hụt lớn nhấttrong lịch sử quan hệ thương mại song phương với Trung Quốc

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp chủ yếu được tác giả sử dụng để hoàn thành luận văn này làphương pháp Phân tích, tổng hợp với những thông tin và số liệu thứ cấp được tổnghợp từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó chủ yếu là số liệu của Trung tâm thương

Trang 19

mại quốc tế (Trademap.org, ITC); Tổng cục Thống kê và Tổng Cục Hải Quan ViệtNam, Tổng cục Thống kê Trung Quốc.

Nghiên cứu qua các tài liệu thứ cấp khác như các đề tài nghiên cứu khoa học,các bài đăng tạp chí, các nghiên cứu của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nướcnhằm thu thập các cơ sở lý luận và thực tiễn về cán cân thương mại và thâm hụt cáncân thương mại nói chung Tác giả cũng kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây

và tham khảo kinh nghiệm của một số nước để tăng cường cơ sở khoa học, hiểu biếtcần thiết cho công việc nghiên cứu

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, tài liệu tham khảo và phụlục, đề tài được chia làm ba chương:

Chương 1: Tổng quan về thâm hụt cán cân thương mại

Chương 2: Thực trạng thâm hụt cán cân thương mại giữa Việt Nam và Trung

Quốc

Chương 3: Một số giải pháp trong việc cải thiện cán cân thương mại giữa

Việt Nam và Trung Quốc

Trang 20

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THÂM HỤT CÁN CÂN THƯƠNG MẠI

1.1 Cơ sở lý luận về thâm hụt cán cân thương mại

1.1.1 Một số lý thuyết về thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế (TMQT) là hoạt động trao đổi hàng hoá, tiền tệ vượt khỏibiên giới lãnh thổ của một quốc gia, cho phép một nước tiêu dùng tất cả các mặthàng với số lượng nhiều hơn mức có thể tiêu dùng với giới hạn về khả năng sảnxuất trong nước khi thực hiện một nền kinh tế khép kín, TMQT cũng cho phép khaithác các nguồn lực trong nước một cách có hiệu quả, tranh thủ khai thác được mọitiềm năng và thế mạnh về hàng hoá, công nghệ, vốn của nước ngoài nhằm thúc đẩy

sự phát triển kinh tế của đất nước Trong lịch sử đã có rất nhiều tư tưởng, học thuyếtđược đưa ra để phân tích và giải thích về hoạt động TMQT, khẳng định những tácđộng của TMQT đối với sự tăng trưởng và phát triển theo trình tự nhận thức từ thấpđến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ phiến diện đến toàn diện Do đó, việc nghiêncứu các học thuyết kinh tế của từng thời kỳ luôn có sự kế thừa và phát huy Để hiểubiết về hoạt động TMQT, cũng như cách nhìn nhận về nó trong những giai đoạnphát triển cụ thể, tác giả sẽ tìm hiểu các tư tưởng về thương mại quốc tế của một sốtrường phái, học giả tiêu biểu trong mỗi thời kỳ lịch sử

1.1.1.1 Chủ nghĩa trọng thương

Chủ nghĩa trọng thương được hình thành ở Châu Âu vào thế kỷ thứ XV vàphát triển đến giữa thế kỷ XVIII, là tư tưởng kinh tế đầu tiên của giai cấp tư sảntrong giai đoạn phương thức sản xuất phong kiến tan rã và chủ nghĩa tư bản ra đời

Tư tưởng xuất phát của Chủ nghĩa trọng thương cho rằng, tiền là tiêu chuẩn cơ bảncủa của cải, là tài sản thực sự của một quốc gia Nước nào càng nhiều tiền thì cànggiàu có Do đó, mục đích chủ yếu trong các chính sách kinh tế của mỗi nước là phảigia tăng khối lượng tiền tệ Các học giả trọng thương cho rằng, xuất khẩu làm tăngcủa cải của một nước vì đem vàng về cho nước đó, còn nhập khẩu thì ngược lại, làmgiảm của cải của một nước Do đó hoạt động ngoại thương đặc biệt được coi trọngbởi chỉ có hoạt động ngoại thương mới là nguồn gốc thực sự của của cải vì nó làmtăng thêm khối lượng tiền tệ Khi tham gia vào thương mại quốc tế, các nước muốn

Trang 21

có nhiều tiền thì phải thực hiện xuất siêu và quốc gia này thực sự giàu lên là nhờ sựnghèo đi của các quốc gia khác.

Các nhà trọng thương cho rằng chính phủ phải tham gia trực tiếp vào việc traođổi hàng hoá giữa các nước để đạt được sự gia tăng của cải của mỗi nước Việc trựctiếp tham gia này theo hai cách: trực tiếp tổ chức xuất khẩu và đề ra các biện phápkhuyến khích xuất khẩu, hỗ trợ về tài chính, trợ giá, bù giá cho nhà xuất khẩu; hayhạn chế nhập khẩu thì nhà nước phải áp dụng các biện pháp bảo hộ mậu dịch Từ đó

đi tới chính sách là phải tăng cường xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu

Đến giai đoạn cuối, trường phái trọng thương có thay đổi và cho rằng có thểtăng cường mở rộng nhập khẩu nếu như qua đó thúc đẩy xuất khẩu nhiều hơn nữa.Mặc dù có nội dung rất sơ khai và còn chứa đựng nhiều yếu tố đơn giản, phiến diện

về bản chất của hoạt động ngoại thương, song đó là tư tưởng đầu tiên của các nhàkinh tế học tư sản cổ điển nghiên cứu về hiện tượng và lợi ích của ngoại thương Lýluận của trường phái trọng thương là một bước tiến đáng kể trong tư tưởng về kinh

tế học Ngoài ra nó đã đánh giá được tầm quan trọng của xuất khẩu và vai trò củachính phủ trong việc thúc đẩy xuất khẩu, điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu để đạtcán cân thương mại thặng dư thông qua các công cụ thuế quan, bảo hộ mậu dịchtrong nước Những tư tưởng này đã góp phần quan trọng vào việc mở rộng hoạtđộng thương mại quốc tế và làm cơ sở lý luận hình thành chính sách thương mạiquốc tế của nhiều quốc gia (Trần Bình Trọng,2008,tr.47-52)

1.1.1.2 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith

Adam Smith là nhà kinh tế chính trị cổ điển nổi tiếng ở Anh và trên thế giới.Trong tác phẩm "Của cải của các dân tộc" đươc xuất bản năm 1976, A.Smith đã phêphán quan niệm coi vàng đồng nghĩa với của cải Ông xuất phát từ một chân lý đơngiản là trong thương mại quốc tế các bên tham gia đều phải có lợi vì nếu chỉ cóquốc gia này có lợi mà quốc gia gia khác lại bị thiệt thì quan hệ thương mại giữa họvới nhau sẽ không tồn tại Từ đó ông đưa ra lý thuyết cho rằng thương mại giữa hainước với nhau là xuất phát từ lợi ích của cả hai bên dựa trên cơ sở lợi thế tuyệt đốicủa từng nước

Trang 22

Theo Adam Smith, sức mạnh làm cho nền kinh tế tăng trưởng là do sự tự dotrao đổi giữa các quốc gia, do đó mỗi quốc gia cần chuyên môn vào những ngànhsản xuất có lợi thế tuyệt đối Một hàng hoá được coi là có lợi thế tuyệt đối khi chiphí sản xuất tính theo giờ công lao động quy chuẩn để sản xuất ra một đơn vị hànghoá đó phải thấp hơn nước khác Do vậy các quốc gia, các công ty có thể đạt đượclợi ích lớn hơn thông qua sự phân công lao động quốc tế nếu quốc gia đó biết tậptrung vào việc sản xuất và xuất khẩu những hàng hoá có lợi thế tuyệt đối, đồng thờibiết tiến hành nhập khẩu những hàng hoá kém lợi thế tuyệt đối Như vậy điều thenchốt trong lập luận về lợi thế tuyệt đối là sự so sánh chi phí sản xuất của từng mặthàng giữa các quốc gia.

Adam smith và những nhà kinh tế học cổ điển theo trường phái của ông đều tintưởng rằng, mọi quốc gia đều có lợi ích từ ngoại thương và đã ủng hộ mạnh mẽ tự dokinh doanh, hạn chế tối đa sự can thiệp của chính phủ vào hoạt động kinh doanh nóichung, trong đó có xuất nhập khẩu Cũng theo học thuyết của A.Smith, lợi thế tuyệtđối được quyết định bởi các điều kiện tự nhiên về địa lý, khí hậu và kỹ năng tay nghềchỉ nước đó mới có mà thôi, và tay nghề là nguyên nhân của mậu dịch quốc tế vàquyết định cơ cấu của mậu dịch quốc tế (Trần Bình Trọng,2008,tr.71-82)

1.1.1.3 Lý thuyết lợi thế tương đối (lợi thế so sánh) của David Ricardo

Lý thuyết lợi thế tuyệt đối trên đây của Adam Smith cho thấy một nước có lợithế tuyệt đối so với nước khác về một loại hàng hoá, nước đó sẽ thu được lợi ích từngoại thương, nếu chuyên môn hoá sản xuất theo lợi thế tuyệt đối Tuy nhiên chỉ dựavào lý thuyết lợi thế tuyệt đối thì không giải thích được vì sao một nước có lợi thếtuyệt đối hơn hẳn so với nước khác, hoặc một nước không có một lợi thế tuyệt đốinào vẫn có thể tham gia và thu lợi trong quá trình hợp tác và phân công lao độngquốc tế để phát triển mạnh các hoạt động thương mại quốc tế Để khắc phục nhữnghạn chế của lý thuyết lợi thế tuyệt đối và cũng để trả lời cho câu hỏi trên, năm 1817,trong tác phẩm nổi tiếng của mình "Những nguyên lý của kinh tế chính trị", nhà kinh

tế học cổ điển người Anh David Ricardo đã đưa ra lý thuyết lợi thế so sánh nhằm giảithích tổng quát, chính xác hơn về sự xuất hiện lợi ích trong thương mại quốc tế

Trang 23

Cơ sở của lý thuyết này chính là luận điểm của D.Ricardo về sự khác biệt giữacác nước không chỉ về điều kiện tự nhiên và tay nghề mà còn về điều kiện sản xuấtnói chung Điều đó có nghĩa là về nguyên tắc, bất kỳ quốc gia nào cũng có thể tìmthấy sự khác biệt này và chuyên môn hoá sản xuất những sản phẩm nhất định dù cóhay không lợi thế về tự nhiên, khí hậu, tay nghề D.Ricardo cho rằng, trên thực tếlợi thế tuyệt đối cuả mỗi quốc gia không có nhiều, hơn nữa thực tế cho thấy là phầnlớn các quốc gia tiến hành buôn bán với nhau không chỉ ở những mặt hàng có lợithế tuỵệt đối mà còn đối với cả những mặt hàng dựa trên lợi thế tương đối Theoông mọi nước đều có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc tế trên cơ sởkhai thác lợi thế tương đối, ngoại thương cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng củamột nước Nguyên nhân chính là do chuyên môn hoá sản xuất một số loại sản phẩmnhất định của mình để đổi lấy hàng nhập khẩu của các nước khác thông qua conđường thương mại quốc tế vì mỗi nước đó đều có lợi thế so sánh nhất định về một

số mặt hàng

Như vậy có thể kết luận rằng, một trong những điểm cốt yếu nhất của lợi thế

so sánh là những lợi ích do chuyên môn hoá sản xuất, mặt khác thương mại quốc tếphụ thuộc vào lợi thế so sánh chứ không phải là lợi thế tuyệt đối Lợi thế so sánh làđiều kiện cần và đủ đối với lợi ích của thương mại quốc tế Lợi thế tuyệt đối củaA.Smith là một trường hợp đặc biệt của lợi thế so sánh Về cơ bản, lý thuyết củaD.Ricardo không có gì khác với A.smith, nghĩa là ông ủng hộ tự do hoá xuất nhậpkhẩu, khuyến cáo các chính phủ tích cực thúc đẩy, khuyến khích tự do hoá thươngmại quốc tế (Trần Bình Trọng, 2008, tr.83-97)

1.1.1.4 Mô hình Hechscher-Ohlin về trang bị nguồn lực

Nếu như lao động là yếu tố sản xuất duy nhất như mô hình Ricardo giả thiết,lợi thế so sánh có thể tồn tại chỉ vì sự khác biệt quốc tế về năng suất lao động Tuynhiên, thương mại quốc tế phần nào được giải thích bằng sự khác biệt về năng suấtlao động , nhưng nó cũng phản ánh sự khác biệt về nguồn lực giữa các nước Đểgiải thích rõ hơn về vai trò của sự khác biệt về nguồn lực trong thương mại, ta xemxét mô hình Heckscher-Ohlin Đây là lý thuyết hàng đầu bàn về yếu tố nào quyếtđịnh mô hình thương mại của một quốc gia.Lý thuyết này do hai nhà kinh tế học

Trang 24

Thụy Điển Eli Heckscher và Bertil Ohlin đưa ra và phổ biến rộng rãi vào nhữngnăm 30 của thế kỷ XX Lý thuyết này nhấn mạnh đến sự tác động lẫn nhau giữa tỷ

lệ các yếu tố sản xuất sẵn có ở các nước và tỷ lệ các yếu tố đó được sử dụng để sảnxuất hàng hóa khác nhau, vì vậy cũng được gọi là học thuyết về tỷ lệ các yếu tố (TừThúy Anh,2013, tr.69)

Học thuyết về mô hình thương mại của Heckscher-Ohlin được phát biểu như

sau: “Những hàng hóa mà việc sản xuất ra chúng cần nhiều yếu tố dư thừa và cần ít

yếu tố khan hiếm được xuất khẩu để đổi lấy những hàng hóa mà việc sản xuất ra chúng cần các yếu tố sản xuất theo tỷ lệ ngược lại Vì vậy nói một cách gián tiếp, các yếu tố sản xuất dư thừa được xuất khẩu và các yếu tố cung khan hiếm được nhập khẩu” (Ohlin, 1993, tr 92).

Hay ngắn gọn hơn, học thuyết Heckscher-Ohlin dự đoán rằng các nước xuấtkhẩu các sản phẩm thâm dụng yếu tố dư thừa, và nhập khẩu những sản phẩm thâmdụng yếu tố khan hiếm của quốc gia đó

Học thuyết này giải thích tại sao những nước dư thừa lao động như Ấn Độ,Trung Quốc, Việt Nam lại xuất khẩu sản phẩm giày dép, hàng may mặc và các hànghóa đòi hỏi sự dụng nhiều lao động khác.Trong khi đó, các nước dư thừa đất đainhư Ac-hen-ti-na , Úc, Canada lại xuất khẩu thịt, lúa mỳ và các sản phẩm sử dụngnhiều đất đai khác Nói cách khác, theo lý thuyết H-O, một số nước có lợi thế sosánh hơn trong việc xuất khẩu một số sản phẩm hàng hoá của mình là do việc sảnxuất những sản phẩm hàng hoá đó đã sử dụng được những yếu tố sản xuất mà nước

đó được ưu đãi hơn so với nước khác Chính sự ưu đãi về các lợi thế tự nhiên củacác yếu tố sản xuất này (bao gồm: vốn, lao động, tài nguyên, đất đai, khí hậu ) đãkhiến cho một số nước có chi phí cơ hội thấp hơn (so với việc sản xuất các sảnphẩm hàng hoá khác) trong sản xuất những sản phẩm nhất định (Từ ThúyAnh,2013, tr.71-72)

Ngoài ra mô hình Heckscher-Ohlin được coi là sự phát triển từ mô hìnhthương mại đơn giản của D Ricardo khi bổ sung thêm vốn và đất đai bên cạnh laođộng – nhân tố cơ bản Học thuyết này cũng cho rằng các nước đều có lợi khi thamgia vào thương mại quốc tế ngay cả khi những nước không có lợi thế tuyệt đối

Trang 25

Nhưng học thuyết HO tiến bộ hơn so với lý thuyết lợi thế tương đối của DavidRicardo bởi trong khi D.Ricardo không chỉ ra được nguồn gốc lợi thế so sánh củacác quốc gia thì học thuyết H-O đã chỉ ra được điều này Đó chính là tỷ lệ các yếu tốsản xuất để sản xuât sản phẩm.

1.1.1.5 Lý thuyết về mô hình lực hấp dẫn trong thương mại

Có khá nhiều nghiên cứu đưa ra các mô hình giải thích các yếu tố ảnh hưởngđến dòng chảy thương mại giữa hai quốc gia.Trong đó mô hình lực hấp dẫn(Gravity Model) do Jan Tinbergen (nhà kinh tế học người Hà Lan –Nobel kinh tếnăm 1969) đưa ra lần dầu tiên vào năm 1962 là mô hình kinh tế lượng được sử dụngrộng rãi trong kinh tế học để phân tích các yếu tố tác động đến dòng chảy thươngmại song phương Theo mô hình lực hấp dẫn chuẩn tắc, giá trị thương mại giữa haiquốc gia sẽ tỷ lệ thuận với quy mô của hai nền kinh tế và tỷ lệ nghịch với khoảngcách giữa hai nước Mô hình lực hấp dẫn xuất hiện đầy đủ ba nhóm yếu tố ảnhhưởng đến luồng thương mại như sau (Vũ Huyền My,2008):

Nhóm yếu tố tác động đến cung (thể hiện năng lực sản xuất của nước xuấtkhẩu): GDP và dân số nước xuất khẩu;

Nhóm yếu tố tác động đến cầu ( thể hiện sức mua của thị trường nước nhậpkhẩu) : GDP và dân số nước nhập khẩu;

Nhóm yếu tố hấp dẫn, cản trở thương mại: Khoảng cách địa lý, đường biêngiới, chính sách khuyến khích, quản lý xuất nhập khẩu như chính sách tỷ giá, chínhsách thương mại

1.1.2 Cán cân thương mại

1.1.2.1 Khái niệm cán cân thương mại

Trong thương mại quốc tế, cán cân thương mại được hiểu như sau:

Cán cân thương mại là một bộ phận cấu thành của cán cân thanh toán và đượcphản ánh cụ thể trong cán cân thường xuyên (hay còn gọi là cán cân tài khoản vãnglai) Cán cân thường xuyên ghi lại tất cả các giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ vàcác giao dịch chuyển giao đơn phương, trong đó bao gồm:

- Cán cân thương mại hàng hóa hoặc cán cân thương mại hữu hình,

- Cán cân thương mại dịch vụ hay còn gọi là cán cân thương mại vô hình, và

Trang 26

- Cán cân chuyển giao đơn phương

Tổng của cán cân thương mại hữu hình và vô hình được gọi là cán cân thươngmại Cán cân này cho thấy mức chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa

và dịch vụ của quốc gia Nếu giá trị xuất khẩu (giao dịch ghi có) vượt quá giá trịnhập khẩu (giao dich ghi nợ) thì cán cân thương mại được gọi là thặng dư và ngượclại nếu nhập khẩu vượt quá xuất khẩu thì cán cân thương mại được coi là ở trongtình trạng thâm hụt (Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng, 2008, tr.179)

Tuy nhiên, nếu phân chia cán cân vãng lai theo bốn cán cân tiểu bộ phận baogồm:

- Cán cân thương mại – Trade balance

- Cán cân dịch vụ- Services

- Cán cân thu nhập –Incomes

-Cán cân chuyển giao vãng lai một chiều- Current Transfers

Khi đó cán cân thương mại được hiểu như sau: Cán cân thương mại ghi chép cáckhoản thu và chi từ xuất nhập khẩu hàng hóa hữu hình của một quốc gia trong mộtkhoảng thời gian nhất định (quý hoặc năm) cũng như mức chênh lệch giữa chúng(xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) Xuất khẩu làm phát sinh các khoản thu nên được ghi

có (+) và nhập khẩu làm phát sinh các khoản chi nên được ghi nợ (-) trong cán cânthanh toán Khi thu từ xuất khẩu lớn hơn chi cho nhập khẩu thì cán cân thương mại

ở trạng thái thặng dư hay xuất siêu Ngược lại khi thu từ xuất khẩu thấp hơn chi chonhập khẩu thì cán cân thương mại ở trạng thái thâm hụt hay nhập siêu (NguyễnVăn Tiến 2012,tr.239)

Do hạn chế về số liệu nghiên cứu, trong khuôn khổ luận văn tác giả chỉ tập trungphân tích cán cân thương mại hàng hóa

1.1.2.2 Đặc điểm và ý nghĩa của cán cân thương mại

Đặc điểm của cán cân thương mại: cán cân thương mại là cân đối giữa xuất

khẩu và nhập khẩu nên từ khái niệm cán cân thương mại vừa trình bày ở trên, ta cóđẳng thức sau:

TB =(X-M) (1)

Trong đó:

Trang 27

TB: Cán cân thương mại

X: Giá trị xuất khẩu hàng hóa

M: Giá trị nhập khẩu hàng hóa

Có thể nhận xét, Cán cân thương mại luôn tồn tại ở một trong ba trạng thái sau:

- Khi (X-M) >0 tức là thu từ xuất khẩu lớn hơn chi cho nhập khẩu thì cán cânthương mại ở trạng thái thặng dư hay xuất siêu

- Khi (X-M) <0 tức là thu từ xuất khẩu thấp hơn chi cho nhập khẩu thì cán cânthương mại ở trạng thái thâm hụt hay nhập siêu

- Khi (X-M) = 0 tức là thu từ xuất khẩu bằng chi cho nhập khẩu thì cán cânthương mại ở trạng thai cân bằng

Về ý nghĩa thực tiễn

Cán cân thương mại là bộ phận chính cấu thành cán cân vãng lai Số liệu củacán cân thương mại được cập nhập thường xuyên bởi cơ quan hải quan thường cungcấp kịp thời các số liệu về xuất nhập khẩu hàng hóa Chính vì vậy, khi phân tích tácđộng của cán cân thanh toán lên các biến số vĩ mô, thì trạng thái của cán cân thươngmại luôn là yếu tố quan trọng hàng đầu bởi tình trạng của cán cân thương mại (thâm

hụt hay thặng dư) thể hiện trạng thái của nền kinh tế Thứ nhất, cán cân thương mại cung cấp những thông tin liên quan đến cung và cầu tiền tệ của một quốc gia Thứ

hai, dữ liệu trên cán cân thương mại có thể được sử dụng để đánh giá khả năng cạnh

tranh trên thị trường quốc tế của một nước Thứ ba, thâm hụt hay thặng dư cán cân

thương mại có thể làm tăng khoản nợ nước ngoài hoặc gia tăng mức dự trữ ngoại tệ,

tức là thể hiện mức độ an toàn hoặc bất ổn của nền kinh tế Thứ tư, thâm hụt hay

thặng dư cán cân thương mại phản ánh hành vi tiết kiệm, đầu tư và tiêu dùng củanền kinh tế

1.1.2.3 Các nhân tố tác động đến cán cân thương mại

Nhìn vào hàm số (1) vừa đề cập ở phần trên, ta dễ dàng nhận thấy hai nhân tốcấu thành lên cán cân thương mại chính là Xuất khẩu và Nhập khẩu Do đó, để phântích các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại, cần phân tích các yếu tố quyếtđịnh xuất khẩu, nhập khẩu, từ đó cho thấy mức độ ảnh hưởng đến cán cân thươngmại như thế nào

Trang 28

Trước hết, ta thấy rằng cán cân thương mại được biểu thị bằng giá trị chứkhông phải khối lượng hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu Vì vậy, ta sẽ xem xét phântích các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị xuất khẩu và giá trị nhập khẩu để đánh giá sựtăng giảm của nó Cán cân thương mại thể hiện mối quan hệ ngược chiều giữa xuấtkhẩu và nhập khẩu, có nghĩa là cán cân thương mại sẽ thặng dư khi giá trị xuất khẩuròng là dương và thâm hụt khi giá trị xuất khẩu ròng là âm Vì vậy, một nhân tố làmtăng giá trị xuất khẩu thì đồng thời sẽ làm giảm giá trị nhập khẩu và ngược lại nêntác giả không tách riêng từng yếu tố xuất khẩu và nhập khẩu khi xem xét các nhân

tố ảnh hưởng sau đây

a) Tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái là một trong những yếu tố quan trọng nhất và trực tiếp nhấtảnh hưởng tới cán cân thương mại, bộ phận chính cấu thành lên cán cân thanh toáncủa nước đó Do đó, hiện nay ở nhiều quốc gia trên thế giới, khi cán cân thanh toánquốc tế không thuận lợi thì chính phủ thường đặt ra mục tiêu là cải thiện cán cânthương mại Như vậy, một trong những công cụ được thực hiện để cải thiện cán cânthương mại là tỷ giá hối đoái và ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đến cán cân thươngmại phụ thuộc vào độ co giãn của xuất khẩu và nhập khẩu đối với tỷ giá Khi phágiá tiền tệ (giảm tỷ giá hối đoái mà chính phủ cam kết ủng hộ) làm giảm giá đồngnội tệ Phá giá đưa đến tăng giá hàng nhập khẩu và giảm giá hàng xuất khẩu củaquốc gia Tổng giá trị xuất khẩu tăng nhiều và/hoặc tổng giá trị nhập khẩu giảmnhiều khi độ co giãn của xuất khẩu và/hoặc nhập khẩu với tỷ giá hối đoái là lớn, từ

đó sẽ cải thiện được cán cân thương mại Tuy nhiên trên thực tế có thể xảy ra trườnghợp mức độ con giãn của cầu nhập khẩu hàng hóa từ nước khác bằng 0- nghĩa làngười tiêu dùng của quốc gia cho rằng không một loại hàng hóa nào có thể thay thếcho hàng nhập khẩu Khi đó giá hàng hóa nhập khẩu ở một nước thay đổi trong khigiá hàng hóa nội địa vẫn giữ nguyên và không ảnh hưởng gì đến khối lượng hànghóa cần nhập khẩu Trong trường hợp này, cả tỷ lệ trao đổi lẫn cán cân thương mạiđều xấu đi

Ngoài ra, Khi xem xét lý thuyết về Hiệu ứng tuyến J (Nguyễn Văn Tiến, 2012,tr.270) và vấn đề cải thiện cán cân thương mại ta thấy: Phá giá làm cho khối lượng

Trang 29

xuất khẩu tăng và khối lượng nhập khẩu giảm, nhưng không vì thế mà cán cânthương mại sẽ phải được cải thiện Trong ngắn hạn, hiệu ứng giá cả có tính trội sovới hiệu ứng khối lượng làm cho cán cân thương mại bị xấu đi; còn trong dài hạn,hiệu ứng khối lượng lại có tính trội so với hiệu ứng giá cả làm cho cán cân thươngmại được cải thiện Hơn nữa phá giá dễ thành công với các nước công nghiệp pháttriển nhưng lại không chắc chắn với các nước đang phát triển, chính vì vậy, đối vớimột nước đang phát triển, trước khi chọn giải pháp phá giá cần thiết phải tạo đượccác điều kiện tiền đề để có thể phản ứng tích cực với những lợi thế mà phá giá đemlại, có như vậy cán cân thương mại mới có thể được cải thiện trong ngắn hạn.

b) Tỷ lệ Đầu tư, Tiết kiệm trong nước

Trong Kinh tế học, theo cách tiếp cận chi tiêu thì tổng sản phẩm trong nước(GDP) bao gồm 4 thành tố là tiêu dùng, đầu tư, chi tiêu chính phủ và xuất khẩu ròng GDP có thể viết dưới dạng phương trình sau: GDP = C + I + G + NX (trongđó: C: tiêu dùng; I: đầu tư; G: chi tiêu của Chính phủ; NX: xuất khẩu ròng (cònđược gọi là cán cân thương mại, là khoản chênh lệch giữa giá trị hàng xuất khẩu trừ

đi giá trị hàng nhập khẩu)

Để thấy được mối quan hệ giữa tiết kiệm, đầu tư, cán cân thương mại, chúng

ta biến đổi biểu thức lại như sau: NX = (GDP – C – G) – I (1) Trong đó (GDP – C –G) chính là tổng thu nhập còn lại của nền kinh tế sau khi đã trừ đi các khoản tiêudùng của người dân và chi tiêu của Chính phủ, và nó được gọi là tiết kiệm quốc dân(Sn) Từ phương trình (1) ta có thể viết lại thành: NX = Sn - I (2)

Từ đẳng thức trên cho thấy mối quan hệ giữa tiết kiệm, đầu tư với cán cân thươngmại hay là giữa luồng vốn quốc tế sử dụng để tích lũy vốn (Sn - I) và luồng hàng hóa,dịch vụ quốc tế (NX) Nếu mức tiết kiệm không đáp ứng đủ cho nhu cầu đầu tư thì cáncân thương mại sẽ bị thâm hụt và các nước sẽ dựa vào lượng vốn từ nước ngoài để tàitrợ cho nhu cầu đầu tư của nền kinh tế Ngược lại, khi nhu cầu đầu tư nhỏ hơn tiết kiệmcủa nền kinh tế thì cán cân thương mại sẽ chuyển sang thặng dư

c) Các chính sách kinh tế của chính phủ

Trước tiên, có thể thấy Chính sách thương mại quốc tế đóng vai trò quan trọngtrong việc phát triển kinh tế nói chung của một quốc gia, bao gồm rất nhiều biệnpháp, công cụ để can thiệp vào hoạt động thương mại quốc tế của một quốc gia Tuy

Trang 30

nhiên, trong đó có một số biện pháp, công cụ chủ yếu thường được sử dụng như:Thuế quan; Hạn ngạch nhập khẩu; Hạn ngạch thuế quan; Giấy phép; Hạn chế xuấtkhẩu tự nguyện; Các rào cản kỹ thuật; Trợ cấp xuất khẩu; Tín dụng xuất khẩu; Bánphá giá;Thông qua các chính sách này, nhà nước có thể điều chỉnh cán cân thươngmại khi cần thiết để ổn định kinh tế vĩ mô.

Chính sách đầu tư: Các chính sách và biện pháp liên quan đến đầu tư cũng cótác động quan trọng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đối với cán cân thương mạithông qua các kênh cơ bản là:

(1) Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

(2) Nguồn thu nhập chuyển giao từ nước ngoài như viện trợ, thu nhập ròng từcác dự án đầu tư ngoài nước, kiều hối

(3) Nguồn vốn vay

(4) Chính sách đầu tư trong nước

d) Một số yếu tố cơ bản khác cũng tác động qua lại với cán cân thương mại như:

- Lạm phát

Nếu giả định các nhân tố khác không đổi, tỷ lệ lạm phát của một nước cao hơn

ở nước ngoài, làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa nước này trên thị trường quốc

tế, do đó làm cho khối lượng xuất khẩu giảm,

- Giá thế giới của hàng hóa xuất khẩu

Cũng giả định với các nhân tố khác không đổi, nếu giá thế giới của hàng hóaxuất khẩu của một nước tăng sẽ làm tăng cầu nội tệ và tăng cung ngoại tệ trên thịtrường tài chính thế giới Hay nói cách khác, khi giá thế giới của hàng hóa xuấtkhẩu tăng, làm tăng giá trị xuất khẩu tính bằng nội tệ và ngoại tệ, do đó tác độngđến cán cân thương mại của quốc gia đó

- Thu nhập của người không cư trú bao gồm: các cá nhân, hộ gia đình, công ty

và các nhà chức trách, các tổ chức quốc tế (Khoản 2 và 3, điều 3, Nghị định164/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ)

Với các nhân tố khác không đổi, khi thu nhập thực tế của người không cư trútăng, làm tăng cầu xuất khẩu bởi người không cư trú, do đó làm tăng cầu nội tệ vàtăng cung ngoại tệ, tức là tăng cả giá trị xuất khẩu tính bằng nội tệ và ngoại tệ

- Thuế quan và hạn ngạch ở nước ngoài

Trang 31

Cũng với điều kiện các nhân tố khác không đổi, giá trị xuất khẩu của mộtnước sẽ giảm nếu bên nước ngoài áp dụng mức thuế quan cao, hạn ngạch nhập khẩuthấp cũng như áp dụng các hàng rào phi thuế quan như: yêu cầu về chất lượng hànghóa và tệ nạn quan liêu Kết quả làm giảm cầu nội tệ.

1.1.3 Thâm hụt cán cân thương mại

1.1.3.1 Khái niệm thâm hụt cán cân thương mại

Từ khái niệm chung và đặc điểm của cán cân thương mại đã trình bày trongphần trên, có thể thấy thâm hụt cán cân thương mại là trạng thái của cán cán cânthương mại khi thu từ xuất khẩu thấp hơn chi cho nhập khẩu Khi đó cán cânthương mại thâm hụt hay nhập siêu

1.1.3.2 Nguyên nhân của tình trạng thâm hụt cán cân thương mại

Thâm hụt cán cân thương mại là trạng thái nhập siêu của nền kinh tế và tìnhtrạng thâm hụt chủ yếu là do một trong các yếu tố trình bày ở phần trên tác động haichiều lên cán cân thương mại, tức là bất kỳ một sự biến động của các yếu tố này sẽtạo ra thặng dư hay gây ra thâm hụt thâm hụt cán cân thương mại Chẳng hạn, khibiến động tỷ giá theo hướng đồng nội tệ lên giá và đồng ngoại tệ giảm giá làm chogiá trị xuất khẩu giảm và giá trị nhập khẩu tăng từ đó sẽ dẫn đến tình trạng thâm hụtthương mại Hay một ví dụ khác, khi mức tiết kiệm không đáp ứng đủ cho nhu cầuđầu tư thì cán cân thương mại sẽ bị thâm hụt và các nước này sẽ dựa vào lượng vốn

từ nước ngoài để tài trợ cho nhu cầu đầu tư của nền kinh tế Do vậy, trong phần này,tác giả không đề cập lại các yếu tố trên và chỉ đề cập thêm một số nguyên nhân khác

có thể là nguồn gốc của sự thâm hụt cán cân thương mại

Trên thực tế, Thâm hụt thương mại có thể xảy ra ở cả nước phát triển và đangphát triển nhưng ở mức độ khác nhau và cũng xuất phát từ các nguyên nhân khácnhau Nhận định chính xác về nguyên nhân của tình trạng thâm hụt thương mại đốivới mỗi quốc gia là điều vô cùng quan trọng, bởi đó là kim chỉ nam để chính phủcác nước có thể có những chính sách phù hợp để cải thiện tình trạng này

Trước tiên, tác giả tìm hiểu một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng thâm hụtthương mại ở một số quốc gia đang phát triển:

a, Khả năng sản xuất trong nước còn hạn chế, không đáp ứng nhu cầu xuất khẩu

Đối với các nước đang phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa và mở cửa hội

Trang 32

nhập kinh tế, thâm hụt cán cân thương mại là một hiện tượng khá phổ biến vì yêucầu nhập khẩu rất lớn trong khi khả năng cạnh tranh của nền kinh tế còn hạn chế, do

đó, mức tăng trưởng xuất khẩu trong ngắn hạn không thể bù đắp được thâm hụtthương mại.Theo thống kê của Diễn đàn kinh tế Việt Nam (2008), trong vài thậpniên trở lại đây, những nước đang phát triển thành công với chiến lược tập trungphát triển các ngành công nghiệp xuất khẩu có thế mạnh cạnh tranh đều đạt đượctốc độ tăng trưởng đáng kinh ngạc: Hàn Quốc và Đài Loan vào những năm 60, cácnước Đông Nam Á như Malaysia, Thái Lan và Singapore vào những năm 70, TrungQuốc vào những năm 80 và Ấn Độ vào những năm 90 Các nước này đều là cácquốc gia châu Á Rất nhiều quốc gia khác trên thế giới cũng nỗ lực đi theo mô hìnhtăng trưởng này nhưng hiếm trường hợp thực sự thành công bởi họ chưa đáp ứng đủnhững điều kiện tiên quyết về thị trường nội địa và vẫn chỉ là một nhà xuất khẩuthuần túy nguồn tài nguyên thiên nhiên trong nước và các sản phẩm chứa hàmlượng sức lao động cao (như hàng may mặc) Và như vậy, khi giá trị xuất khẩu vẫnthấp không thể bù đắp nhu cầu nhập khẩu trong một thời gian dài và liên tục thì sẽđẩy tình trạng thâm hụt cán cân thương mại ngày càng nghiêm trọng

b, Nhu cầu tiêu dùng trong nước tăng cao trong khi khả năng sản xuất không đủ đáp ứng

Thâm hụt thương mại thường xuất hiện khi một nước không sản xuất đủ nhucầu của nền kinh tế Hầu hết các quốc gia đều phải nhập khẩu từ các nước khác Do

đó, khi nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn, thu nhập của người dân dần dầnđược cải thiện đồng nghĩa với nhu cầu tiêu dùng trong nước cũng tăng theo nhất làtrong bối cảnh thương mại quốc tế phát triển, nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao,trong khi năng lực sản xuất trong nước còn giới hạn và sản phẩm nhập khẩu được

ưa chuộng hơn khi người dân có thu nhập cao hơn Mặt khác, các ngành hàng sảnxuất xuất khẩu của hầu hết các nước đang phát triển đều là những mặt hàng có giátrị thấp, sử dụng nhiều lao động Vì vậy, khi nhu cầu nhập khẩu cao, giá trị nhậpkhẩu cao và có thể vượt giá trị xuất khẩu, dẫn đến thâm hụt cán cân thương mại

c, Nâng giá đồng nội tệ cũng có thể dẫn đến tình trạng thâm hụt kéo dài.

Trang 33

Trong suốt những năm của thập kỷ 80 và 90 Chile, Malaysia, Argentina vàThổ Nhĩ Kỳ đã phải đối mặt với một loạt sự suy thoái kinh tế do nâng giá nội tệ.Trong khi tình trạng thâm hụt thương mại ở các nước phát triển thường thấykhi nước này thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài cho một quốc gia khác thongqua việc đặt các nhà máy sản xuất tại các nước đó.Khi các nguyên liệu yếu tố đầuvào được vận chuyển đến các nhà máy, chúng đc tính là hàng xuất khẩu Khi hànghóa thành phẩm được vận chuyển lại nước chủ đầu tư, chúng được tính là hàngnhập khẩu Dù cho đó là sản phẩm do chính các công ty của nước này sản xuất Đây

là cách mà hầu hết các nước phát triển thực hiện sản xuất gia công tại các nước cólợi thế sản xuất hơn và chi phí thấp hơn hẳn so với nước chủ nhà Chẳng hạn nhưHàn Quốc đặt nhà máy Sam Sung tại Việt Nam giúp giá trị xuất khẩu của Việt Namtăng lên trên cán cân thương mại nhưng đằng sau đó, nguồn lợi nhuận khổng lồ lại

đổ về nước chủ nhà Hàn Quốc Hay Mỹ hầu hết đặt các nhà máy sản xuất tại cácnước như Mexico, Malaysia, Trung Quốc sau đó xuất khẩu thành phẩm về hoặcxuất đi các thị trường khác Điều này cho thấy, thâm hụt thương mại không phải lúcnào cũng ảnh hưởng tiêu cực bởi phụ thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia cũngnhư nguyên nhất cốt lõi của tình trạng này

Để tìm hiểu cụ thể hơn về những nguyên nhân dẫn đến tình trạng thâm hụtthương mại đối với mỗi quốc gia Tác giả dẫn chứng một số nước dưới đây:

Trước hết là Mỹ, dù là một cường quốc hàng đầu thế giới nhưng tình trạng

thâm hụt thương mại ở Mỹ đã kéo dài trong nhiều năm và vẫn chưa hề cải thiện.Nguyên nhân của tình trạng này như đã trình bày ở trên là do rất nhiều tập đoàn lớncủa Mỹ đặt nhà máy sản xuất tại nước khác như Mexico, Trung Quốc, Ấn Độ,Malaysia và nhập khẩu hàng hóa thành phẩm ngược lại Mỹ cung cấp cho thị trườngnội đia Khi hàng hóa được di chuyển qua cửa khẩu Hải quan vào thị trường Mỹ đểbán tại Mỹ, chúng được coi là hàng nhập khẩu dù được sản xuất bởi các công ty của

Mỹ Như vậy, dù là một nền kinh tế mạnh hàng đầu thế giới nhưng cán cân thươngmại của Mỹ cũng luôn ở tình trạng thâm hụt và kéo dài Theo số liệu của Tổng cụcthống kê Mỹ, cán cân thương mại của Mỹ bình quân từ năm 1950 đến 2017 là-13,623.90 triệu USD và thâm hụt thương mại trong nhiều năm Điều này, ít nhiềucũng ảnh hưởng đến thị trường lao động Mỹ, khi tình trạng thất nghiệp ngày càng

Trang 34

gia tăng, do các tập đoàn lớn và các công ty của Mỹ di chuyển nhà máy sản xuấtsang các nước cho chi phí nhân công thấp hơn trong nước

Pakistan, cũng là một điển hình về quốc gia có tình trạng thâm hụt thương

mại kéo dài kể từ năm 2003 (Tradedingeconomics.com) Nguyên nhân chủ yếu là

do nhập khẩu năng lượng Pakistan thâm hụt thương mại lớn nhất với các nước nhưTrung Quốc, Ấn độ, Ả Rập, Kuwait và Malaysia Tuy nhiên, chính phủ nước nàyvẫn chưa có những động thái và nỗ lực của các nhà hoạch định chính sách thì vẫnchưa thực sự hiệu quả và vấn đề này vẫn tiếp diễn giai dẳng đối với nền kinh tếnước này Theo báo cáo của ngân hàng Trung ương Pakistan, thâm hụt thương mạicủa quốc gia này tăng từ 16.59 tỷ USD trong năm 2013-2014 lên 17 tỷ Đô la Mỹgiai đoạn 2014-2015 mặc dù nguồn kiều hối chuyển từ nước ngoài vào Pakistan đạtđến 18.54 tỷ USD, cao nhất cho đến thời điểm đó Tăng trưởng GDP của nước nàyđạt 16.5%

Ấn Độ, thâm hụt thương mại ở Ấn độ ở mức 7.7% GDP của nước này.Theo số

liệu về cán cân thanh toán quốc tế từ ngân hàng Trung ương Ấn độ thì thâm hụtthương mại đã tăng từ 63.2 tỷ USD trong năm 2006-2007 lên 90.1 tỷ USD năm2007-2008 Nguyên nhân của sự gia tăng này là do Ấn độ là một nước đang tăngtrưởng nhanh ở mức hơn 9% mỗi năm Nhu cầu sản xuất của thị trường Ấn độ ngàycàng tăng, trong khi nguồn nguyên liệu trong nước không đủ phục vụ cho các ngànhcông nghiệp sản xuất và các hàng hóa trung gian là đầu vào cho một số ngành côngnghiệp thì hầu như phải nhập khẩu.Đây là một thực tế đã diễn ra trong nhiều nămvới nguồn hàng nhập khẩu chủ yếu là tài sản cố định và máy móc công nghiệp Tuyvậy, nếu giá trị nhập khẩu các mặt hàng phục sản xuất công nghiệp đẩy thâm hụtthương mại tăng cao thì cũng không phải là điều đáng lo ngại Ngược lại, đó là nềntảng cho sự tăng trưởng của nền kinh tế

Thực tế, thâm hụt cũng có thể tăng lên do chính sách điều hành giá hối đoáicủa nước này Sự nâng giá đồng Rupi so với một số ngoại tệ mạnh có thể khiếnhàng xuất khẩu của nước trở nên đắt hơn và hàng nhập khẩu rẻ hơn Tương tự nhưvậy, Phá giá đồng Rupi sẽ có ảnh hưởng ngược lại Ảnh hưởng cuối cùng của sựđiều chỉnh tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại sẽ phụ thuộc vào mức độ nhạycảm đối với giá của hàng xuất khẩu và nhập khẩu nước này.(Amitendu Palit,2008)

Trang 35

Trung Quốc, là nước được đánh giá là thặng dư thương mại với nhiều quốc

gia trên thế giới trong những năm gần đây Tuy vậy, những năm cuối thập kỷ 90,Trung Quốc đã rơi vào tình trạng thâm hụt trầm trọng trong quan hệ thương mại vớiHàn Quốc mà nguyên nhân không từ phía Trung Quốc mà do ảnh hưởng của cuộckhủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997 Khủng hoảng tài chính Châu Á bùng nổ ởHàn Quốc vào tháng 8/1997, khiến cho tiền tệ của nước này bị phá giá nhanhchóng Nền kinh tế Hàn Quốc đi vào bế tắc Trước tình hình đó, các doanh nghiệpHàn Quốc không thể kinh doanh xuất nhập khẩu theo cách thong thường Để tănglượng dự trữ ngoại hối, chính phủ Hàn Quốc đã quyết định đẩy mạnh xuất khẩubằng cách tận dụng lợi thế từ đồng tiền yếu của nước mình.Thặng dư thương mạicủa Hàn Quốc từ đó tăng dần và Trung Quốc trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhấtcủa Hàn Quốc và chịu sự ảnh hưởng từ làn sóng xuất khẩu của Hàn Quốc

1.1.3.3 Tác động của thâm hụt cán cân thương mại đến nền kinh tế quốc dân

a, Tác động tích cực

Thâm hụt thương mại là nhân tố cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triểncủa nền kinh tế Trong phần 1.1.2 ở trên ta đã đề cập đến ý nghĩa thực tiễn vô cùngquan trọng của Cán cân thương mại Bởi, trạng thái của cán cân thương mại thể hiệntrạng thái của nền kinh tế một quốc gia do vậy sẽ có ảnh hưởng sâu sắc đến sự tăngtrưởng của nền kinh tế Trên thực tế, ở giai đoạn đầu của sự tăng trưởng và pháttriển, hầu hết các quốc gia đều trải qua thời kỳ thâm hụt cán cân thương mại và xảy

ra tình trạng nhâp siêu trong quan hệ thương mại song phương với một quốc giakhác Đối với Việt Nam, thâm hụt trong thương mại song phương với Trung Quốc

có thể được bù đắp bằng thặng dư trong thương mại với các quốc gia khác như Mỹ,Nhật Bản, EU và cán cân thương mại tổng thể của Việt Nam đang có chiều hướngcải thiện là điều kiện cho sự phát triển của nền kinh tế Tình hình xuất khẩu đượccải thiện, sản xuất trong nước phát triển và tạo thêm nhiều công ăn việc làm chongười lao động

Ngoài ra, thâm hụt thương mại cũng xuất hiện khi nguồn vồn FDI đổ vàotrong nước tăng cao trong khi điều kiện sản xuất còn hạn chế Cùng với số lượnglớn các doanh nghiệp FDI đến hoạt động tại nước sở tại là số lượng các yếu tố đầu

Trang 36

vào nhập khẩu từ nước chủ đầu tư, khiến cho giá trị nhập khẩu giữa hai nước tăngcao, trong khi ở giai đoạn đầu mới hoạt động các doanh nghiệp chưa ổn định và tạo

ra giá trị xuất khẩu thấp dấn đến tình trạng thâm hụt thương mại song phương trongngắn hạn Còn trong dài hạn, tình hình cán cân thương mại sẽ cải thiện khi cácdoanh nghiệp đi vào hoạt động và tiến hành xuất khẩu hàng hóa trở lại nước chủđầu tư và xuất đi các thị trường khác

Như vậy, thâm hụt thương mại trong ngắn hạn là sự cần thiết cho sự tăngtrưởng và là động lực cho sự phát triển của nền kinh tế bởi thâm hụt thương mại cóthể xuất hiện khi nhu cầu nhập khẩu tăng cao và dòng vốn bên ngoài đổ vào trongnước lớn Nếu quốc gia đó phân bổ nguồn vốn đầu tư một cách hiệu quả, đây chính

là cơ hội tốt để cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, cải thiện nền sản xuất lạc hậu, tạocông ăn việc làm cho người lao động, từ đó nâng cao đời sống người dân và tạo đàcho sự phát triển của đất nước

b, Tác động tiêu cực

Thâm hụt thương mại kéo dài và vượt ngưỡng an toàn sẽ gây ra các biến độngbất ổn cho nền kinh tế như gia tăng nợ quốc tế, giảm năng lực cạnh tranh của nềnkinh tế, lạm phát và thất nghiệp tăng cao và là nguy cơ dẫn đến khủng hoảng kinh

tế Theo tính toán của Quỹ Tiền tệ thế giới IMF, khi thâm hụt cán cân vãng lại vượtquá 5% GDP của một quốc gia (chủ yếu là tính toán dựa trên số liệu của cán cânthương mại) có thể ảnh hưởng xấu đến cán cân thanh toán làm gia tăng tình trạng

nơ quốc tế khi nguồn vốn đầu tư bị thất thoát và sử dụng kém hiệu quả Nợ côngtăng cao trong khi không tạo ra giá trị xuất khẩu, sản xuất nội địa không phát triển

và lệ thuộc vào thị trường bên ngoài, gây nên những biến động bất lợi đối với nềnkinh tế như gia tăng tình trạng nợ quốc tế, hạn chế khả năng cạnh tranh của hànghóa xuất khẩu, tác động tiêu cực đến thu nhập và việc làm, ở mức độ trầm trọng cóthể gây nên khủng hoảng tài chính tiền tệ

Do tầm quan trọng của cán cân thương mại, nhiều quốc gia, đặc biệt là các nướcphát triển thường công bố tình trạng của cán cân này hàng tháng để chính phủ có cácbiện pháp điều hành chính sách vĩ mô kịp thời và phù hợp nhằm mục tiêu ổn định thị

trường và tăng trưởng kinh tế Trong trường hợp thâm hụt thương mại thường xuyên và

kéo dài trong nhiều năm, sẽ gây sức ép phải giảm bớt nhập khẩu như là một phần của

Trang 37

những biện pháp tài chính và tiền tệ khắc khổ Điều đó có thể làm mất ổn định kinh tế

vĩ mô, dẫn đến suy giảm kinh tế, gia tăng tình trạng thất nghiệp

1.2 Kinh nghiệm quốc tế về xử lý thâm hụt cán cân thương mại

Ở phần trên tác giả đã trình bày nguyên nhân dẫn đến tình trạng thâm hụt cáncân thương mại ở một số quốc gia trên thế giới như Mỹ, Pakistan, Ấn độ và TrungQuốc, để thấy rằng thâm hụt cán cân thương mại có thể xảy ra ở bất kỳ quốc gia nàotrong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào Điều quan trọng là cán cân thậm hụt trong baolâu và Chính phủ các nước có những biện pháp nào để cải thiện tình hình? Tiếp theotác giả sẽ tìm hiểu kinh nghiệm cải thiện cán cân thương mại của một số quốc gia đãthành công trong khu vực và trên thế giới

1.2.1 Kinh nghiệm của Mỹ

Mỹ là nền kinh tế số một thế giới nhưng trong suốt nhiều năm qua, cụ thể theothống kê của ITC, cán cân thương mại của Mỹ luôn trong tình trạng thâm hụt kể từnăm 2001 đến nay trong đó thâm hụt thương mại lớn nhất với Trung Quốc Nhìn vàobảng số liệu dưới đây, ta dễ dàng nhận thấy cán cân thương mại của Mỹ thườngxuyên thâm hụt và cụ thể mức độ thâm hụt thương mại với Trung Quốc chiếm tỷtrọng lớn 40-48% trong tổng mức thâm hụt thương mại của quốc gia này Điều đócho thấy Mỹ nhập siêu từ Trung Quốc hàng năm rất lớn và Trung Quốc cũng là mộttrong những thị trường cung câp hàng hóa lớn nhất của Mỹ

Bảng 1.1: Cán cân thương mại của Mỹ trong giai đoạn 2010-2015

Đơn vị tính: Tỷ USD

Năm 2010 2011 2012 2013 2014 2015

Cán cân thương mại của

Mỹ -690.16 -781.94 -789.75 -749.00 -791.11 -811.58Cán cân thương mại của

Mỹ với Trung Quốc -291.05 -313.22 -333.87 -337.39 -362.62 -387.96

Nguồn: Trademap.org, ITC

Nguyên nhân của tình trạng nhập siêu lớn và liên tục trong nhiều năm của Mỹnhư đã trình bày ở trên là do trong thập kỷ trước rất nhiều công ty lớn, các tập đoàn

đa quốc gia của Mỹ đã đạt nhà máy sản xuất tại Trung Quốc và nhiêu quốc gia đang

Trang 38

phát triển khác để tận dụng lợi thế nguồn nhân lực dồi dào giá rẻ, nguyên vật liệuđầu vào sẵn có với chi phí thấp Từ đó các nước này đã tranh thủ được công nghệ và

kỹ thuật tiên tiến của Mỹ trong các lĩnh vực sản xuất hàng gia công xuất khẩu chonước này và ngày càng mở rộng quy mô và nâng cao năng lực sản xuất để đẩymạnh hàng hóa xuất khẩu vào thị trường Mỹ Hiện nay, thị trường tiêu thụ của Mỹchủ yếu là các hàng gia công sản xuất tại các nước khác mặc dù đó vẫn là các sảnphẩm của chính các công ty của Mỹ cung cấp.Điều đó lý giải vì sao cán cân thươngmại của Mỹ luôn thâm hụt hay Mỹ nhập siêu với thế giới Trong những năm gầnđây chính phủ Mỹ tỏ ra lo ngại về tình trạng này bởi dù thế nào cán cân thương mại

bị thâm hụt kéo dài và với mức độ lớn cũng sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng của đấtnước, gây bất ổn kinh tế vĩ mô, tình trạng thất nghiệp và làm suy thoái kinh tế Cácnhà kinh tế và các nhà hoạch định chính sách của Mỹ đã có những đề xuất biệnpháp cải thiện cán cân thương mại cho nước này, một vài trong số những biện phápđược đưa ra như: hạ giá đồng Đô la Mỹ so với một số đồng tiền của các nước cótrao đổi thương mại lớn với Mỹ như đồng Nhân dân tệ và đồng Yên Nhật Mặc dùtrong dài hạn, hạ giá đồng nội tệ không phải là cách phù hợp và hiệu quả sẽ gâynhiều hệ lụy cũng như giảm mức sống của người dân Tuy nhiên Mỹ đã vận dụngbiện pháp này để gây áp lực nên các nước như Trung Quốc, Nhật Bản để giảm bớttình trạng nhập siêu với các nước này Thứ hai là phối hợp thực hiện các chính sáchkinh tế vĩ mô với các nước lớn như Nhật Bản, EU và khuyến khích các nước nàytăng cường và mở rộng nền kinh tế tạo ra nhu cầu có hàng xuất khẩu Mỹ thâm nhập

và các thị trường này Như vậy có thể thấy, để đối phó với tình trạng nhập siêu liêntục từ Trung Quốc và cải thiện cán cân thương mại với nước này,một nền kinh tếlớn như Mỹ cũng cần đồng thời vận dụng nhiều biện pháp khác nhau bao gồm chínhsách điều hành tỷ giá, chính sách điều hành kinh tế vĩ mô và phối kết hợp với cácchính sách kinh tế của một số nền kinh tế lớn khác như Nhật Bản, EU khi thực hiệnmục tiêu này

1.2.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Trước đây, Hàn Quốc từng được biết đến là một trong những nước nôngnghiệp nghèo nàn và lạc hậu nhất thế giới Nhưng đến nay, chứng kiến sự phát triển

Trang 39

và lớn mạnh của nền kinh tế Hàn Quốc, người ta khó có thể nghĩ rằng trong nhữngnăm 60, nền kinh tế nước này đã phải đối mặt với những khó khăn thách thức rấtlớn do hậu quả của cuộc Chiến tranh thế giới thứ II Có được điều này là do Chínhphủ Hàn Quốc đã kịp thời áp dụng hàng loạt các biện pháp nhằm quản lý, điều tiếtnền kinh tế, trong đó đặt trọng tâm là chính sách hướng về xuất khẩu Bên cạnh đó,Chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện hàng loạt biện pháp nhằm hỗ trợ xuất khẩu nhưgiảm thuế nhập khẩu, hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp xuất khẩu một cách hợp

lý, ưu đãi về tài chính cho các ngành công nghiệp mũi nhọn, điều chỉnh chế độ tỷgiá linh hoạt

Về chính sách định hướng xuất khẩu, Hàn Quốc đã sớm xác định phát triển cácmặt hàng chủ lực ở các lĩnh vực hàm lượng chất xám và công nghệ cao, thâm dụngvốn Chính phủ Hàn Quốc cũng rất tích cực trong việc tăng cường các hoạt động hỗtrợ xúc tiến thương mại với việc tổ chức rất nhiều hội chợ, triển lãm, hội thảo nhằmkết nối các doanh nghiệp trong và ngoài nước tạo cơ hội gặp gỡ giao lưu và hợp tác.Ngoài ra, Hàn Quốc cũng thực hiện tự do hóa thị trường vốn, tích cực tạo môi trườngthu hút đầu tư nước ngoài Đây là biện pháp gián tiếp nhưng có hiệu quả trong việcthúc đẩy xuất khẩu của Hàn Quốc nhờ vào thu hút các doanh nghiệp FDI

Bên cạnh chính sách định hướng xuất khẩu, Chính phủ Hàn Quốc cũng thànhcông khi áp dụng công cụ tỷ giá để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước thông qua chiến lược hướng vào xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán quốc

tế và đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế Từ thực tiễn thành công của Hàn Quốc, một sốkinh nghiệm được rút ra như sau:

Một là, Hàn Quốc đã kiên nhẫn theo đuổi chính sách phá giá tiền tệ để tăng

trưởng xuất khẩu Đối với một quốc gia phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu các mặthàng máy móc, nguyên liệu, thiết bị và công nghệ cũng như vay nợ nước ngoài đểđầu tư thì việc phá giá tiền tệ có thể làm giảm tăng trưởng do tác động làm cản trởđầu tư lớn hơn khuyến khích xuất khẩu Tuy nhiên, Hàn Quốc đã khôn ngoan khilựa chọn mở rộng xuất khẩu ở quy mô lớn kết hợp với các nhân tố khác làm giảmchi phí nhập khẩu và gánh nặng nợ Thực tế cho thấy, sau khi phá giá mạnh đồngWon, Hàn Quốc đã tăng cường năng lực sản xuất và đẩy mạnh xúc tiến thương mại

Trang 40

nên đã đạt tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao.

Hai là, tỷ giá KRW/USD được điều chỉnh theo hướng giảm giá trị đồng nội tệ

trong một thời gian dài song song với quá trình Hàn Quốc chuyển từ chế độ tỷ giá

cố định sang thả nổi Chính phủ Hàn Quốc đã rất chủ động tạo ra các điều kiệnthuận lợi để đảm bảo tỷ giá KRW/USD không cản trở tới hoạt động xuất khẩu: khiĐồng USD lên giá, chính phủ để thị trường tự điều tiết, còn khi Đồng USD giảmgiá, Chính phủ đã tăng cung đồng KRW nhằm có lợi cho xuất khẩu

Ba là, sau việc phá giá tiền tệ, Hàn Quốc đã có biện pháp thích hợp để loại bỏ

khả năng giảm giá kéo dài của nội tệ và sau đó củng cố các nhân tố thị trường khácgiúp cho tỷ giá duy trì ở mức độ ổn định Sự ổn định của tỷ giá KRW/USD đạt được

là do Chính phủ Hàn Quốc đã duy trì được một biên độ dao động ổn định trong suốtthời gian dài Điều này thực sự có lợi cho nhà đầu tư trong nước và thu hút vốn đầu

tư của nước ngoài Chính vì vậy Hàn Quốc là một trong số ít nước vực dậy saukhủng hoảng tài chính tiền tệ Đông Nam Á nhanh nhất và thực hiện chiến lược pháttriển kinh tế, ứng dụng công nghệ hiện đại nâng cao chất lượng sản phẩm phục vụmục tiêu hướng về xuất khẩu

Bốn là, không nên neo giữ đồng bản tệ với một ngoại tệ mạnh Kinh nghiệm từ

cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á cho thấy, một trong những nguyên nhânquan trong gây ra khủng hoảng trong giai đoạn đó là các nước trong khu vực neo giữ tỷgiá đồng bản tệ với ngoại tệ duy nhất là USD Sự ổn định này chỉ mang tính nhất thời

và có ảnh hưởng tích cực tới tâm lý nhà đầu tư Nhà đầu tư tin tưởng vào sự ổn địnhtiền tệ và nền kinh tế khi đồng USD mất giá Tuy nhiên, khi USD lên giá mạnh đã làmyếu đi khả năng cạnh tranh của các nước có đồng tiền gắn chặt với USD

1.2.3 Kinh nghiệm của Thái Lan

Sau cuộc khủng hoảng tài chính –tiền tệ năm 1997, nền kinh tế Thái Lan rơivào tình trạng khó khăn trầm trọng: mức tăng GDP năm 1998 là -10.5%, nợ nướcngoài khoảng 87 tỷ Đô la Mỹ, thất nghiệp giai tăng Trươc những áp lực từ hai phía

nợ nước ngoài và những bất ổn kinh tế vĩ mô, Chính phủ Thái Lan đã vạch rõnhững chính sách phát triển thương mại quốc tế để từng bước thoát khỏi khó khăn

và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Ngày đăng: 25/01/2019, 21:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Từ Thúy Anh, Giáo trình Kinh tế học quốc tế, NXB Thống kê, Hà Nội 2013, tr.43-68; tr 69-90; tr.342 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế học quốc tế
Nhà XB: NXB Thống kê
2. Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thường Lạng, Giáo trình Kinh tế quốc tế, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội 2008, tr.179 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế quốc tế
Nhà XB: NXB Đạihọc Kinh tế quốc dân
3. Báo cáo về tình hình kinh tế xã hội các năm 2011, 2012, 2013, 2014, 2015, Cổng thông tin Chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về tình hình kinh tế xã hội các năm 2011, 2012, 2013, 2014, 2015
4. Hoàng Văn Châu và cộng sự, Chính sách phát triển công nghiệp phụ trợ của Việt Nam, NXB Thông tin và Truyền Thông, Hà Nội 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách phát triển công nghiệp phụ trợ củaViệt Nam
Nhà XB: NXB Thông tin và Truyền Thông
5. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ 2011-2020, Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ 2011-2020
6. Thi Anh-Dao Tran, Thi Thanh Binh Đinh, FDI inflows and Trade balances:Evidence from developing Asia, The European Journal of Comparative Economics Vol.11, n.1, pp 147-169, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: FDI inflows and Trade balances:"Evidence from developing Asia
7. Federal Reserve Bank of Dallas, Trade Deficits: Causes and Consequences, Quarter 4/1996, page 10-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trade Deficits: Causes and Consequences
8. Nguyễn Trí Dĩnh, Phạm Thị Quý,Giaó Trình Lịch sử kinh tế, NXB Đại học Kinh tế Quốc Dân, Hà Nội 2010, tr.215-217;tr.489-490 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giaó Trình Lịch sử kinh t
Nhà XB: NXB Đại họcKinh tế Quốc Dân
16. Nguyễn Đình Liêm, China FDI in Vietnam after Twenty Years No. 6 (170), Vietnam Social Sciences, 2015 tại địa chỉ:http://www.vjol.info/index.php/VSS/article/view/22914/19583 Sách, tạp chí
Tiêu đề: China FDI in Vietnam after Twenty Years No. 6 (170)
17. Nguyễn Hoàng Diệu Linh, Thâm hụt cán cân thương mại Việt Nam-Trung Quốc: Tình hình và Giải pháp, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế đối ngoại, Trường Đại học Kinh tế-Đại Học Quốc Gia, Hà nội năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thâm hụt cán cân thương mại Việt Nam-TrungQuốc: Tình hình và Giải pháp
18. Juan Marchetti, Michele Ruta, Robert Teh, Trade Imbalances and Multilateral Trade Cooperation, Economic Research and Statistics Division, World Trade Organization, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trade Imbalances and MultilateralTrade Cooperation
19. Vũ Huyền My, Thâm hụt thương mại Việt Nam-Trung Quốc giai đoạn 2001- 2011: Nguyên nhân và giải pháp, Khóa luận tốt nghiệp, Đại Học Ngoại Thương, Hà nội năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thâm hụt thương mại Việt Nam-Trung Quốc giai đoạn 2001-2011: Nguyên nhân và giải pháp
20. Amitendu Palit, India’s trade deficit: Increasing fast but still manageable, ISAS Brief no.72, National University of Singapore, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: India’s trade deficit: Increasing fast but still manageable
21. Peter Naray, Paul Baker , Trương Đình Tuyển , Đinh Văn Ân, Lê Triệu Dũng, và Ngô Chung Khanh, Báo cáo phân tích thâm hụt thương mại của Việt Nam và các điều khoản về cán cân thanh toán của WTO, Dự án hỗ trợ thương mại đa biên Việt Nam – Mutrap III, , 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phân tích thâm hụt thương mại của Việt Namvà các điều khoản về cán cân thanh toán của WTO
22. Nguyễn Văn Tiến, Giáo trình Tài chính quốc tế, NXB Thống kê, Hà Nội 2012,tr.25; 239-260;270-278 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tài chính quốc tế
Nhà XB: NXB Thống kê
25. Trần Bình Trọng, Lịch sử các Học thuyết Kinh tế, NXB Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội 2008, tr 47-52;71-82;83-97 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử các Học thuyết Kinh tế
Nhà XB: NXB Đại học kinh tế quốcdân
28. National Bureau of Statistic of China, China Statistic yearbook 2014, tại địa chỉ: http://www.stats.gov.cn/tjsj/ndsj/2015/indexeh.htm truy cập ngày01/04/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: China Statistic yearbook 2014
29. Hà Thị Hồng Vân và Đỗ Tiến Sâm, Vietnam-China Trade,FDI and ODA Relations (1998-2008) and the Impacts upon Vietnam, China Embassy , tại địa chỉ: http://www.china-embassy.org/eng/zt/bps/t943740.htm, truy cập ngày 4/04/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnam-China Trade,FDI and ODA Relations (1998-2008) and the Impacts upon Vietnam
15. Số liệu của ITC, tại địa chỉ:http://www.Trademap.org,ITC/Bilateral.aspx?nvpm=1|704||156||TOTAL|||2|1|1|2|1||1|1| , ngày truy câp, 07/04/2017http://www.Trademap.org,ITC/Bilateral_TS.aspx?nvpm=1|704||156||TOTAL|||2|1|1|3|2|1|1|1|1 truy cập ngày 10/04/2017 Link
24. Tổng cục thống kê Việt Nam, địa chỉ : http://www.gso.gov.vn/Default.aspx?tabid=706&amp;ItemID=13412 truy cập ngày 01/04/2017 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w