1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức hoạt động ngoài trời nhằm phát huy tính sáng tạo cho trẻ 5 6 tuổi ở một số trường mầm non tỉnh bắc ninh

166 225 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 166
Dung lượng 5,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2ĐỖ HỒNG HẢI TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOÀI TRỜI NHẰM PHÁT HUY TÍNH SÁNG TẠO CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TỈNH BẮC NINH LUẬN V

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

ĐỖ HỒNG HẢI

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOÀI TRỜI NHẰM PHÁT HUY TÍNH SÁNG TẠO CHO TRẺ 5 - 6

TUỔI

Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

ĐỖ HỒNG HẢI

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOÀI TRỜI NHẰM PHÁT HUY

TÍNH SÁNG TẠO CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI

Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TỈNH BẮC NINH

Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

Mã số: 60.14.01.01 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Trịnh Thị Xim

HÀ NỘI, 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành cảm ơn TS Trịnh Thị Xim,

người đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất tận tình trong suốt thời gianthực hiện và hoàn thành luận văn

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Khoa Giáo dục mầm non, Phòng đào tạo sau đại học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện và giúp

đỡ tôi thực hiện luận văn

Bên cạnh đó tôi xin chân thành cảm Ban giám hiệu, tập thể các cô giáocùng các cháu mẫu giáo trường mầm non tỉnh Bắc Ninh: trường Mầm NonViệt Đoàn, trường Mầm Non Phật Tích, đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôitiến hành nghiên cứu và thực nghiệm để hoàn thành luận văn

Cuối cùng tôi xin cảm ơn các thành viên trong g ia đình đã động viên,ủng hộ, chia sẻ và là chỗ dựa tinh thần giúp tôi tập trung nghiên cứu và hoànthành bản luận văn của mình

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Tổ chức hoạt động ngoài trời nhằm phát huy tính sáng tạo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở một số trường mầm non tỉnh Bắc Ninh”

là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và tài liệu trong luận văn làtrung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Tất

cả những tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ

Hà Nội, tháng 7 năm 2017

Tác giả

Đỗ Hồng Hải

Trang 5

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Phạm vi nghiên cứu 5

8 Cấu trúc luận văn 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN NGHIÊN CỨU TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOÀI TRỜI NHẰM PHÁT HUY TÍNH SÁNG TẠO CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 6

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 6

1.2 Một số khái niệm cơ bản 11

1.2.1 Một số khái niệm về tổ chức, hoạt động ngoài trời, và tổ chức hoạt động ngoài trời

11 1.2.2 Khái niệm về sáng tạo 13

1.3 Đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ 5 - 6 tuổi

21 1.4 Tầm quan trọng của hoạt động ngoài trời nhằm phát huy tính sáng tạo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non

24 1.5 Quá trình tổ chức hoạt động ngoài trời nhằm phát huy tính sáng tạo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non

25 1.5.1 Mục đích của hoạt động ngoài trời 26

1.5.2 Nội dung của tổ chức HĐNT 28

1.5.3 Phương pháp, biện pháp tổ chức hoạt động ngoài trời 29

1.5.4 Các hình thức tổ chức hoạt động ngoài trời 32

Trang 6

1.5.5 Các phương tiện tổ chức hoạt động ngoài trời

33

1.5.6 Đánh giá hoạt động ngoài trời 34

Trang 7

1.5.7 Kết quả tổ chức hoạt động ngoài trời 34

1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tổ chức hoạt động ngoài trời nhằm phát huy tính sáng tạo cho trẻ 5- 6 tuổi ở trường mầm non

35 Kết luận chương 1 38

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOÀI TRỜI NHẰM PHÁT HUY TÍNH SÁNG TẠO CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON TỈNH BẮC NINH 39

2.1 Địa bàn và khách thể nghiên cứu 39

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên và xã hội tỉnh Bắc Ninh 39

2.1.2 Đặc điểm các trường mầm non tỉnh Bắc Ninh 40

2.2 Khái quát về quá trình khảo sát thực trạng

41 2.2.1 Mục đích khảo sát 41

2.2.2 Nội dung khảo sát 41

2.2.3 Khách thể khảo sát 41

2.2.4 Phương pháp khảo sát 42

2.3 Kết quả khảo sát thực trạng

42 2.3.1 Thực trạng về nhận thức của giáo viên về tổ chức hoạt động ngoài trời nhằm phát hiện tính sáng tạo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non

42 2.4 Đánh giá chung về thực trạng 60

2.4.1 Những kết quả đạt được

60 2.4.2 Những vấn đề còn tồn tại 61

2.4.3 Nguyên nhân thực trạng 63

Kết luận chương 2 64

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOÀI TRỜI NHẰM PHÁT TRIỂN TÍNH SÁNG TẠO CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI 65

VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 65 3.1 Một số biện pháp tổ chức hoạt động ngoài trời nhằm phát huy tính sáng

Trang 8

tạo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non 65

Trang 9

3.1.1 Một số yêu cầu khi đề xuất biện pháp tổ chức hoạt động hoạt động ngoài trời nhằm phát huy tính sáng tạo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non

65

3.1.2 Đề xuất một số biện pháp tổ chức hoạt động ngoài trời nhằm phát huy tính sáng tạo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non

66 3.2 Thực nghiệm 82

3.2.1 Mục đích thực nghiệm 82

3.2.2 Nội dung thực hiện 82

3.3.3 Chọn mẫu thực hiện 83

3.2.4 Thời gian thực hiện: Từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2017 83

3.2.5 Tổ chức thực nghiệm 83

3.2.6 Phân tích kết quả thực nghiệm 85

Kết luận chương 3 96

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100 PHỤ LỤC

Trang 10

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Viết tắt Viết đầy đủ

BGDĐT Bộ giáo dục và đào tạo

TB Trung bình

TST Tính sáng tạo

TC HĐNT Tổ chức hoạt động ngoài trờiTST Tính sáng tạo

Trang 11

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Ý kiến của giáo viên về sự cần thiết của biện pháp tổ chức hoạt động

ngoài trời nhằm phát triển tính sáng tạo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non

44

Bảng 2.2 Ý kiến của giáo viên về những biểu hiện tính sáng tạo của trẻ 5 - 6 tuổi

trong hoạt động ngoài trời

45

Bảng 2.3 Các biện pháp tổ chức hoạt động ngoài trời nhằm phát triển tính

sáng tạo cho trẻ 5 - 6 tuổi mà giáo viên hay sử dụng khi tổ chức hoạt động

ở trường mầm non 49Bảng 2.4 Thực trạng mức độ biểu hiện tính sáng tạo của trẻ ở hai trường

mầm non Việt Đoàn và mầm non Phật Tích (Lấy phần trăm của các mức

độ xếp loại) .56Bảng 3.1 Mức độ biểu hện sáng tạo của trẻ 5 - 6 tuổi trong hoạt động ngoài trời

nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm trước thực nghiệm (theo mức độ)

85

Bảng 3.2: mức độ biểu hiện tính sáng tạo của trẻ 5 - 6 tuổi trong hoạt động ngoài

trời nhóm đối chứng và thực nghiệm sau thực nghiệm (theo mức độ) 87

Bảng 3.3: So sánh mức độ biểu hiện tính sáng tạo của trẻ 5 - 6 tuổi nhóm trước

thực nghiệm và sau thực nghiệm

91

Bảng 3.4: So sánh mức độ biểu hiện phát triển tính sang tạo của trẻ 5- 6 tuổi

nhóm đối chứng trước và sau thực nghiệm

93

Bảng 3.5: Kiểm định kết quả thực nghiệm ở nhóm thực nghiệm và nhóm đối

chứng sau thực nghiệm

94

Trang 12

Bảng 3.6: Kiểm định kết quả thực nghiệm của nhóm thực nghiệm trước và sau

thực nghiệm

94

Trang 13

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Mức độ biểu hiện tính sáng tạo của trẻ ở hai trường mầm non Việt

Đoàn và mầm non Phật Tích (lấy phần trăm của các mức độ được xếp loại)

56

Biểu đồ 3.1: Kết quả biểu hiện mức độ sáng tạo của trẻ 5- 6 tuổi trong hoạt động

ngoài trời nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm trước thực nghiệm (theo mức độ)

85

Biểu đồ 3.2: Biểu đồ kết quả mức độ biểu hiện tính sáng tạo của 2 nhóm sau thực

nghiệm (theo mức

độ) 88

Trang 14

HĐNT là một hoạt động không thể thiếu trong chế độ sinh hoạt hàng ngày củatrẻ Bởi thông qua đó, trẻ được tiếp xúc, gần gũi với thiên nhiên, hít thở bầu khôngkhí trong lành, đồng thời được khám phá, thoả mãn trí tò mò HĐNT cũng chính làhoạt động vui chơi có mục đích, hướng trẻ đến những khám phá tìm hiểu về thếgiới tự nhiên, về những mối quan hệ giữa tự nhiên với con người và giữangười với người Vui chơi là một hoạt động luôn đi cùng và gắn bó với cuộc sốngcủa con người ngay từ thuở thơ ấu cho đến khi trưởng thành Tuy nhiên nộidung và hình thức chơi ở mỗi giai đoạn, mỗi lứa tuổi có khác nhau song cũngchung một mục đích là thoả mãn nhu cầu hoạt động của con người trong cuộc sốngcủa trẻ.

Giai đoạn bé đi mẫu giáo là giai đoạn phát triển quan trọng trong cuộc đờicủa bé Ở giai đoạn này, trẻ hình thành, phát triển giao tiếp xã hội, phát triển vềmặt tư duy, trí tuệ, thể chất và nhiều kĩ năng khác Nếu không được tham giahoạt động ngoài trời, sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý, tình cảm, kỹ năng giaotiếp của trẻ, có thể khiến trẻ mất tự tin, thiếu sự linh hoạt, khó hòa đồng Tuynhiên, trong thực tế giáo dục ở Việt Nam, loại hình hoạt động này vẫn chưa đượcquan tâm đúng mức so với vị trí và tầm quan trọng vốn có của nó Người ta quanniệm rằng, HĐNT là để trẻ được tự do khám phá thế giới xung quanh Do đó, mặc

dù các nhà giáo dục học, các nhà khoa học nghiên cứu về khoa học giáo dục có chú

ý đến việc lập kế hoạch và đưa ra những công trình nghiên cứu khảo sát đánh giáthực nghiệm cho

Trang 15

loại hình hoạt động này nhưng hầu hết các nghiên cứu chỉ tập trung chú ý đến pháttriển thể chất cho trẻ mà chưa thực sự quan tâm đến phát triển nhận thức, sángtạo cho trẻ thông qua các HĐNT.

Bên cạnh đó Hiện nay, việc tổ chức HĐNT cho trẻ ở các trường mẫu giáo còngặp nhiều khó khăn như:

Về mặt nhận thức của giáo viên, do những hiểu biết về cách thức TC HĐNTcòn chưa phù hợp nên hiệu quả đạt trên trẻ chưa cao giáo viên chưa quan tâmđánh giá đúng tầm quan trọng của HĐNT cho sự phát triển toàn diện của trẻ Trênthực tế hiện nay đa số giáo viên chưa thực sự đầu tư cho HĐ này Trong HĐNThiện nay giáo viên cho trẻ chơi tự do mà rất ít quan tâm nhằm hướng trẻ đếncác mục đích khám phá tăng cường phát huy tính sáng tạo ham hiểu biết tò mòcủa trẻ Chính vì vậy hiện nay sức sáng tạo của trẻ ngày càng hạn chế từ đó nềnmóng đầu tiên đã bị thui chột, từ đó trẻ ngày càng xa rời môi trường tự nhiên vàkhông hào hứng với những buổi HĐNT có chủ đích nhàm chán ít đổi mới khônghấp dẫn, trẻ chuyển hứng thú sang một số hoạt động thụ động khác như điện tử, vitính, công nghệ Điều đó làm mất sự cân bằng cho trẻ cả về thể chất, tinh thần, vàđặc biệt là hạn chế tiềm năng sáng tạo của trẻ

Về mặt cơ sở vật chất cũng còn nhiều khó khăn Đặc biệt trong điều kiện hiệnnay, môi trường HĐNT bị thu hẹp hầu hết phần diện tích của sân trường bị bê tônghóa Khoảng không gian tiếp xúc với môi trường tự nhiên bị thu hẹp, số lượng họcsinh quá đông, giáo viên còn thiếu, phương tiện hoạt động không đổi mới (như đồchơi ngoài trời, đồ dùng dụng cụ thí nghiệm, trải nghiệm của trẻ còn sơ sài khônghiệu quả, GV chưa tận dụng các nguyên liệu có sẵn từ tự nhiên…)

Về phía Ban quản lí lãnh đạo các cấp, một số chưa thực sự quan tâm sát saochưa quan tâm ủng hộ tạo lập môi trường, phương tiện, thiết bị khoảng không phùhợp cho công tác tổ chức hoạt động ngoài trời Do nhận thức chưa đúng đắn về tầmquan trọng của HĐNT đến sự phát triển toàn diện về thể chất tinh thần của trẻ nêndẫn đến những hạn chế nhất định trong sự phát huy tối đa tiềm năng của trẻ trongHĐNT

Từ thực trạng công tác TC HĐNT cho trẻ ở một số trường mầm non chúng tôinhận thấy sự cần thiết phải có giải pháp để HĐNT thực sự mang lại hiệu quả và

Trang 16

phát huy được tác dụng to lớn của HĐ này đối với những tiềm năng của trẻ về mọimặt, để hoàn thiện con người mới trong tương lai Từ đó chúng tôi mạnh dạn đưa ra

đề tài nghiên cứu “Tổ chức hoạt động ngoài trời nhằm phát huy tính sáng tạo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở một số trường mầm non tỉnh Bắc Ninh” Với đề tài trên chúng tôi

hy vọng sẽ thực sự đóng góp một phần nhỏ bé vào quá trình đổi mới giáo dục hiệnnay để xây dựng con người mới cho tương lai từ những mầm non của đất nước

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu:

Quá trình tổ chức hoạt động ngoài trời cho trẻ ở trường mầm non

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp tổ chức hoạt động ngoài trời nhằm phát huy tính sáng tạo cho trẻ

5

- 6 tuổi ở một số trường mầm non tỉnh Bắc Ninh

4 Giả thuyết khoa học

Hiện nay ở trường MN việc TC HĐNT nhằm phát huy TST cho trẻ 5 - 6 tuổi cònnhiều hạn chế Nếu TC HĐNT nhằm phát huy TST cho trẻ bằng cách vận dụng cácnhóm biện pháp như: cho trẻ chọn chủ đề theo hứng thú từ quan sát đó đưa ranội dung tổ chức phù hợp, tạo môi trường mở tự nhiên đa dạng, tạo bầu không khíhọc tập vui chơi thân thiện giữa cô và trẻ, tạo ra tình huống hấp dẫn, khuyến khíchtrẻ đưa ra ý tưởng, thì sẽ phát huy được tính sáng tạo của trẻ

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Xây dựng cơ sở lí luận của việc TC HĐNT nhằm phát huy TST cho trẻ

5-6 tuổi

5.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của việc TC HĐNT nhằm phát huy TST chotrẻ 5- 6 tuổi tại một số trường mầm non tỉnh Bắc Ninh

Trang 17

5.3 Đề xuất biện pháp TC HĐNT nhằm phát huy TST cho trẻ 5 - 6 tuổi.

5.4 Tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính khả thi và hiệu quảgiáo dục của các hoạt động đã đề xuất

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu có liên quan đến TC HĐNTnhằm xây dựng cơ sở lí luận của đề tài

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.2.1 Phương pháp quan sát sư phạm

Quan sát giáo viên TC HĐNT cho trẻ và quan sát biểu hiện của trẻ 5 - 6 tuổitrong HĐNT để điều tra thực trạng của đề tài

6.2.2 Phương pháp sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến

Phiếu hỏi GV về quá trình TC HĐNT cho trẻ 5 - 6 tuổi ở các trường MN nhămphát huy TST cho trẻ 5 - 6 tuổi ở một số trường MN

6.2.3 Phương pháp đàm thoại

Trao đổi trò chuyện với giáo viên phụ trách nhóm trẻ 5 - 6 tuổi; trao đổi tròchuyện với cán bộ quản lý ở 2 trường mầm non tỉnh Bắc Ninh để thu thập thông tinliên quan đến đề tài

6.2.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm

Nghiên cứu kế hoạch giáo dục, giáo án, đồ dùng nguyên vật liệu, sản phẩmcủa trẻ nhằm tìm hiểu thực trạng của việc TC HĐNT cho trẻ 5 -6 tuổi ở 2 trườngmầm non tỉnh Bắc Ninh

6.2.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn

Nghiên cứu những kinh nghiệm thực tiễn có liên quan đến đề tài

6.2.6 Phương pháp chuyên gia

Tham khảo những ý kiến của các chuyên gia giáo dục mầm non về chươngtrình thực nghiệm và các tiêu chuẩn đánh giá của đề tài

6.2.7 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Tiến hành thực nghiệm sư phạm trên trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi để xác địnhtính khả thi và hiệu quả của mô hình đề xuất

Trang 18

6.2.8 Phương pháp sử lí số liệu

Sử dụng các công thức toán học để sử lí số liệu và phân tích kết quả nghiên cứu

7 Phạm vi nghiên cứu

7.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu

- Khảo sát thực trạng về TC HĐNT nhằm phát huy TST cho trẻ 5 - 6 tuổi ở một số trường MN tỉnh Bắc Ninh

- Biện pháp TC HĐNT nhằm phát huy TST cho trẻ 5 - 6 tuổi ở một số trường

MN tỉnh Bắc Ninh

7.2 Địa bàn nghiên cứu

Hai trường mầm non trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh:

Trường mầm non Việt Đoàn - huyện Tiên Du - Tỉnh Bắc Ninh

Trường mầm non Phật Tích - huyện Tiên Du - Tỉnh Bắc Ninh

7.3 Giới hạn về khách thể nghiên cứu

50 giáo viên MN ở 2 trường MN

20 giáo viên trường MN Việt Đoàn- huyện Tiên Du Tỉnh Bắc Ninh,

30 giáo viên trường MN Phật Tích - huyện Tiên Du Tỉnh Bắc Ninh

100 trẻ MGL 5 - 6 tuổi ở 2 trường MN

50 trẻ ở trường MN Việt Đoàn - huyện Tiên Du Tỉnh Bắc Ninh,

50 trẻ Trường MN Phật Tích - huyện Tiên Du Tỉnh Bắc Ninh

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị tài liệu tham khảo, phụ lục, nộidung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận nghiên cứu tổ chức hoạt động ngoài trời nhằm phát huytính sáng tạo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non

Chương 2: Thực trạng tổ chức hoạt động ngoài trời nhằm phát huy tính sáng tạo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở một số trường mầm non tỉnh Bắc Ninh

Chương 3: Đề xuất biện pháp tổ chức hoạt động ngòai trời nhằm phát triển tính sáng tạo cho trẻ 5 - 6 tuổi và thực nghiệm sư phạm

Trang 19

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGOÀI TRỜI NHẰM PHÁT

HUY TÍNH SÁNG TẠO CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON

1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

HĐNT nhằm phát huy TST cho trẻ mầm non là vấn đề được các nhà nghiêncứu rất quan tâm Bởi thông qua đó, trẻ được tiếp xúc, gần gũi với thiên nhiên,hít thở bầu không khí trong lành, đồng thời được khám phá, thoả mãn trí tò mòcủa trẻ Giai đoạn bé đi mẫu giáo là giai đoạn phát triển quan trọng trong cuộc đờicủa bé Ở giai đoạn này, trẻ hình thành, phát triển giao tiếp xã hội, phát triển vềmặt tư duy, trí tuệ, thể chất và nhiều kĩ năng khác Nếu không được tham gia cácHĐNT, sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý, tình cảm, kỹ năng giao tiếp của trẻ, cóthể khiến trẻ mất tự tin, thiếu sự linh hoạt, khó hòa đồng…

Từ thế kỉ 18 các nhà nghiên cứu giáo dục trên thế giới đã thực sự coi giáo dục

tự nhiên gắn với môi trường ngoài lớp học có tầm quan trọng đặc biệt không gì cóthể thay thế J.Rut-xô (1712-1778) đã kêu gọi phải tiến hành giáo dục tự nhiên và

tự do vì “Thiên nhiên mong muốn rằng trẻ em phải là trẻ em trước khi trở thànhngười lớn” [57; tr 104] Ông còn cho rằng trẻ em thời kì từ 3-12 tuổi là thời kì pháttriển mạnh mẽ các giác quan nên hoạt động thực tiễn là không gì có thể thay thếđược Người lớn không được áp đặt ý muốn chủ quan lên trẻ, chỉ nên tạo điều kiện

để trẻ hoạt động tìm hiểu theo ý muốn bản thân trẻ

Bước sang thế kỉ 19 Jonh Deway (1859-1952) đã đề cao tính tự do học hỏi tìmtòi của trẻ trong các hoạt động thực tiễn ông viết “Học sinh là mặt trời, xungquanh chúng quy tụ mọi phương tiện giáo dục Nói không phải là dạy, nói ít hơnchú ý nhiều đến việc tổ chức hoạt động của học sinh.” [58; tr13] Ngoài ra các nhàtâm lí học giáo dục học như A.P.Uxova, A.U.Zaporojet., N.N.Potdiacop,A.A.Liublinxkaia đã nhấn mạnh quan điểm giáo dục mọi lúc mọi nơi, coi trọng cáchoạt động được tổ chức ở phạm vi ngoài lớp học như sân trường, các giờ hoạt độngngoài trời [45],[46]

Ngoài ra tổ chức HĐNT cho trẻ còn là phương tiện để hạn chế những nhượcđiểm diễn ra trong quá trình tổ chức hoạt động có chủ đích ở môi trường tronglớp

Trang 20

học Mặt khác theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm thì việc tổ chức HĐNT còn tạo

ra môi trường để trẻ tích cực hoạt động, chủ động sáng tạo theo khả năng nhu cầucủa bản thân, kích thích sự tò mò để trẻ có cơ hội tìm tòi, khám phá Với môitrường HĐNT trẻ có đủ không gian thời gian để hoạt động tìm tòi thỏa mãn nhucầu của bản thân cũng chính là trẻ tự trải nghiệm hoạt động học tập trong thựctiễn.[42]

Những nghiên cứu trước đây cho thấy khi cuộc sống bận rộn hơn kết hợp vớicảm giác sợ hãi ngày một lớn trong xã hội, trẻ em càng ít có cơ hội để khám phámôi trường xung quanh Điều này đang cản trở sự phát triển kỹ năng xã hội, và khảnăng tư duy sáng tạo của trẻ em cũng như sự phát triển lâu dài về thể chất, tinhthần và sức khỏe Do đó, điều quan trọng là các trường không bỏ qua cơ hội màhọc tập ngoài trời mang lại để xóa bỏ những ngăn cản này

Với tác giả Sue Waite: “Thời điểm này, nếu học tập ngoài trời là một phầntrong chương trình giảng dạy ở Anh thì nó sẽ được chú trọng vì các giáo viên đềunhận ra giá trị của hình thức học này Việc tập trung nhiều vào trình độ học vấn cóthể gây áp lực cho giáo viên trong việc học trên lớp Trẻ em đang mất dần nhữngtrải nghiệm thực tế có ích thông qua cuộc sống của chúng” Trực tiếp liên hệcác hoạt động ngoài trời tới kết quả học tập sẽ cho phép nó trở thành một phầncủa chương trình giảng dạy và do đó sẽ không cần tìm thêm thời gian cho việcgiáo dục ngoài trời Bà bổ sung: “Đưa giáo dục ngoài trời vào chính sách sẽ đảmbảo việc giáo viên coi đó là một hoạt động đáng để làm” Tác giả Karen Maloneđồng tác giả nghiên cứu với bà Waite, cho biết: “Nghiên cứu đã đưa ra bằngchứng để khuyến khích các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách thấy được sựtương đồng giữa nghiên cứu và quy định nhằm định hình tương lai tươi đẹp chocon em chúng ta” [61]

Trẻ tham gia HĐNT nhiều hơn sẽ có sức khỏe tim, phổi cao hơn so với những

bé chỉ chơi với các thiết bị điện tử Do đó, nên khuyến khích trẻ vận động nhiềuhơn, nên để bé được chơi đùa, vận động ngoài trời tối thiểu một giờ mỗi ngày.Điều này giúp trẻ phát triển óc sáng tạo, trí thông minh và tăng khả năng tậptrung Các

Trang 21

nhà nghiên cứu cho rằng tuổi thơ của trẻ thay đổi rõ rệt nếu có nhiều cơ hội và thời gian ở ngoài trời [66].

Theo quan điểm của Timo Heikkinen “Bọn trẻ sẽ không thể học nếu chúngkhông được vui chơi" và cho rằng, vui chơi luôn là cách đơn giản nhất kích thích trẻtìm được hạnh phúc chứ không phải một người thành công bằng mọi giá Bạn khôngmuốn tuổi thơ của trẻ bị vùi lấp trong những trang sách, muốn trẻ có những trảinghiệm thực tế và tự khám phá thế giới xung quanh theo cách riêng của trẻ [47]chương trình giáo dục này được thiết kế dành riêng cho trẻ từ 3-7 tuổi nhằm giúpcác bé thoải mái vận động, thỏa sức sáng tạo trong một không gian xanh mát gầngũi thiên nhiên Cùng quan điểm trên những nhà giáo dục Phần Lan đã đưa ra nhữngbiện pháp kế hoạch tạo ra sự đổi mới và thành công trong giáo dục với một hệthống giáo dục độc đáo và tuyệt vời được xếp hạng đứng đầu châu Âu qua

phương pháp "học mà chơi" Ở Phần Lan, học tập thông qua vui chơi là phương

pháp giáo dục đầu đời mang ý nghĩa rất quan trọng Ngoài việc học tập trên lớp,học sinh còn được dành nhiều thời gian cho việc tự học, tự tìm hiểu và vui chơi Học sinh thường được tham gia các tiết học ngoại khóa ngoài trời, không khí lớphọc luôn vui vẻ, không áp lực khiến cho học sinh cảm thấy thích thú và háo hức khiđến trường.[67]

Hơn thế nữa, khi trẻ có cơ hội tiếp xúc tham gia các HĐNT trẻ được trảinghiệm khám phá sẽ giúp trẻ tăng cường phát huy năng lực sáng tạo từ đó gìn giữrèn luyện cho trẻ mỗi ngày để năng lực sáng tạo không bị thui chột, mai một theothời gian

Đối với trẻ mầm non tính sáng tạo vô cùng phong phú Nó không chỉ xuấthiện ở trẻ thông minh, tính sáng tạo có tự nhiên ở bất cứ trẻ nào khi có cơ hội

thuận lợi Theo kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu của Kohns Neethling - Học

Viện thành tựu Quốc Tế ở 15 quốc gia ở trẻ từ 3 - 5 tuổi khả năng sáng tạo đạt 98%

và giảm xuống 2% ở tuổi 25 Nếu trẻ không được giúp đỡ bảo vệ gìn giữ trẻ sẽ mấthết năng lực sáng tạo.[49]

Trang 22

Dựa trên những thành tựu nghiên cứu trên thế giới, các công trình nghiêncứu về tầm quan trọng của hoạt động ngoài trời ảnh hưởng sâu sắc đến sự pháttriển toàn

Trang 23

diện của trẻ các nhà nghiên cứu giáo dục ở Việt Nam, cũng nhận thức được tầm quan trọng của HĐNT với đối với sự phát triển toàn diện của trẻ.

Về mặt thể chất các nhà nghiên cứu cho rằng: nước, ánh sáng, không khí tronglành thực sự là một liều thuốc bổ tích cực đối với sức khỏe con người, được vậnđộng trong môi trường tự nhiên còn tốt hơn nhiều

Về mặt tinh thần, thiên nhiên mang lại cho trẻ nguồn cảm hứng để trẻ tưởngtượng, sáng tạo vô tận

Tác giả Trịnh Thị Xim khẳng định: Sẽ hiệu quả hơn rất nhiều khi giáo viêndạy trẻ về cách thức hoạt động học tập vui chơi không chỉ qua lời nói mà qua chínhnhững hoạt động trải nghiệm của trẻ trong khi chơi Trong một số nghiên cứutác giả cũng chỉ ra tầm quan trọng của môi trường học tập vui chơi ngoài lớp học làđặc biệt quan trọng và cần thiết như một nhu cầu tất yếu để hình hình thành vàhoàn thiện quá trình phát triển tâm lí, phát huy tính độc lập sáng tạo ở trẻ mầmnon “Nếu biết cách khơi gợi thì các hoạt động như cuốc đất, trồng rau, nhổ cỏdại cũng tạo ra những âm thanh hạnh phúc cho trẻ khi được tham gia"[67]

Trong chuyên đề "Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm" tác giả

đã nhấn mạnh vai trò của môi trường hoạt động ngoài lớp học đặc biệt nhấnmạnh vai trò của HĐNT: Nó được ví như người giáo viên thứ hai trong công tác tổchức, hướng dẫn cho trẻ nhằm thỏa mãn nhu cầu vui chơi và hoạt động của trẻ,thông qua đó, nhân cách của trẻ được hình thành và phát triển toàn diện Một môitrường sạch sẽ, an toàn, có sự bố trí khu vực chơi và học trong lớp và ngoài trờiphù hợp, thuận tiện có ý nghĩa to lớn không chỉ đối với sự phát triển thể chất củatrẻ, mà còn thỏa mãn nhu cầu nhận thức, mở rộng hiểu biết của trẻ, kích thích trẻhoạt động tích cực, sáng tạo Xây dựng tốt môi trường giáo dục trong trường mầmnon là phương tiện, điều kiện để trẻ phát triển toàn diện về thể chất, ngôn ngữ,trí tuệ, khả năng thẩm mỹ, tình cảm và kỹ năng xã hội, tạo tiền đề vững chắc chotrẻ mầm non vào học lớp

1 trường tiểu học; phù hợp với phương châm của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ

đạo: "Học bằng chơi, chơi mà học"[42]

Trong một tài liệu nghiên cứu về tâm lí của tác giả Nguyễn Ánh Tuyết khẳngđịnh: “có thể nói rằng nơi nào có đất, cát sỏi, đá, nước non, cỏ cây, hoa lá thì nơiđó

Trang 24

có sức quyến rũ mãnh liệt đối với trẻ nhỏ Mặc dù có những lúc bị cấm đoán, ngăncản chúng vẫn cứ sấn đến một cách công khai hoặc lén lút để chơi nghịch Trẻ đếnvới thiên nhiên một cách thích thú như thế đó chẳng khác nào như xà vào lòng mẹvậy Chúng ta cần tạo mọi điều kiện để cho trẻ sớm được tiếp xúc với thiênnhiên ngay từ tấm bé.”[36]

Như vậy tiếp xúc với thiên nhiên như một nhu cầu không thể thiếu đối với trẻthơ Tuy nhiên người lớn chúng ta dù đã trải qua tuổi thơ với những mongmuốn được đắm mình trong thế giới thiên nhiên Nhưng một bộ phận khôngnhỏ đã vô tình quên đi sự gắn bó mật thiết của con người với thiên nhiên mà đưa

ra những áp đặt sai lầm cho trẻ Như cấm đoán trẻ không cho trẻ chơi nghịch đấtcát Không cho trẻ tiếp xúc trải nghiệm với môi trường tự nhiên bên ngoài Yên tâmcho rằng để bé suốt ngày ở trong nhà tránh mưa gió nóng bức, nắng nôi, rét mướtnhư vậy sẽ khiến trẻ khỏe mạnh không bị lây nhiễm bệnh tật Nhưng thực tế đãchứng minh ngược lại Những trẻ thường xuyên tiếp xúc với môi trường tự nhiên,tiếp xúc càng sớm thì tỉ lệ thích nghi càng cao, trẻ càng khỏe mạnh nhanh nhẹn, ítlây nhiễm bệnh tật đề kháng cao, tư duy nhạy bén, mạnh dạn, tự tin, nhận thứctốt hơn những trẻ bị cha mẹ o bế trong môi trường khếp kín tiện nghi trong nhà

Do các vật liệu từ tự nhiên như đất, đá, cỏ, cây vừa là phương tiện khích thích trẻsáng tạo [36]

Đào Thanh Âm đã nêu những cơ sở lí luận về việc tổ chức các hoạt động giáodục ở trường mầm non, nhấn mạnh vai trò quan trọng của hoạt động ngoài trời,nêu rõ: cần phải có kế hoạch và các phương pháp, biện pháp có hiệu quả để tổchức HĐNT cho trẻ.(3)

Nhóm các tác giả Phạm Thị Châu, Nguyễn Thị Oanh, Trần Sinh, Điền Sinh đã

cụ thể hóa HĐNT bằng một cấu trúc chặt chẽ gồm ba phần và đi sâu vào nội dung,phương pháp, biện pháp, tổ chức HĐNT đã được nêu đầy đủ, giúp sinh viên hìnhdung một cách cơ bản HĐNT diễn ra như thế nào ở một trường mầm non Nhậnthức được tầm quan trọng của HĐNT đối với độ tuổi mầm non các nhà nghiên cứuhoạch định đã kéo dài khung thời gian hoạt động lên từ 30 - 50 phút so với trước

đó chỉ từ 10 - 15 phút.(9)

Trang 25

Trong chương trình giáo dục mầm non hiện nay Vấn đề “xây dựng môi

trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm” được các trường mầm non triển khai trong

những năm gần đây đã nhấn mạnh hai yếu tố cần chú trọng, đó là môi trường giáodục trong lớp học và môi trường giáo dục ngoài lớp học Môi trường ngoài lớp học

là yếu tố góp phần tích cực trong các hoạt động nâng cao chất lượng chăm sóc giáodục toàn diện trẻ.(8)

Tuy nhiên dưới góc độ riêng biệt và chuyên sâu, HĐNT ở trường mầm noncòn ít được các nhà khoa học giáo dục dành thời gian và công sức đi sâu nghiêncứu Luận án TS hầu như không có công trình nào, luận văn thạc sỹ của TG.Nguyễn Thị Tuyết Ánh có đề tài nghiên cứu về cách thức tổ chức HĐNT chủ yếunhằm phát huy kĩ năng vận động cho trẻ bất cập khó khăn của việc TC HĐNTđặc biệt là những địa phương còn khó khăn về kinh tế

Do chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu trong vấn đề này nên trongngành mầm non tài liệu hướng dẫn TC HĐNT còn hạn chế, nên giáo viên, sinhviên hầu hết có tổ chức hoặc ít tổ chức HĐNT nhưng thiếu khoa học và chưa quantâm đến hiệu quả giáo dục trong các buổi HĐNT Từ những nguyên nhân chủ quan

và khách quan nêu trên, dẫn đến những thiệt thòi, thiếu hụt, mất cân bằng cho

độ tuổi vàng của chính con em chúng ta

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Một số khái niệm về tổ chức, hoạt động ngoài trời, và tổ chức hoạt động ngoài trời

1.2.1.1 Khái niệm về tổ chức

* Tổ chức hoạt động giáo dục là sự sắp xếp, bố trí hoạt động giáo dục nhằmđạt mục đích giáo dục

1.2.1.2 Khái niệm về hoạt động ngoài trời

* Khái niệm về hoạt động: Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hoạt động:

Thông thường người ta coi hoạt động là sự tiêu hao năng lượng thần kinh và cơ bắpcủa con người khi tác động vào hiện thực khách quan, nhằm thoã mãn nhữngnhu cầu của mình.[73]

Trang 26

Về phương diện triết học, tâm lý học người ta quan niệm hoạt động là phươngthức tồn tại của con người trong thế giới

Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với thế giới (kháchthể) để tạo ra sản phẩm cả về thế giới cả về phía con người (chủ thể)

* Khái niệm ngoài trời: là khoảng không gian thoáng, trong môi trường tự

nhiên hoặc nhân tạo không phải ở trong nhà hay nơi có mái che kiên cố[73]

* Vậy HĐNT là hoạt động được chủ thể tiến hành một cách có mục đích trong

môi trường không gian tự nhiên nhằm thỏa mãn nhu cầu của chủ thể.

Đối với HĐNT ở trường mầm non cũng là HĐNT nhưng về cơ bản nó mang tínhđặc trưng riêng biệt Đây là dạng hoạt động được tổ chức có kế hoạch nhằm đạtmục tiêu giáo dục là thúc đẩy sự phát triển toàn diện của trẻ trong độ tuổi mầmnon Đặt mục tiêu phát triển toàn diện cho trẻ mầm non chú trọng yêu cầu, mụctiêu lấy trẻ làm trung tâm thông qua các chuyên đề tập huấn đào tạo đổi mới nộidung phương pháp phù hợp Có thể nêu ra ở đây một cách khái quát về nội dung vàcấu trúc của một buổi hoạt động ngoài trời như sau:[8]

- Hoạt động có chủ đích: trẻ được làm quen với các sự vật hiện tượng của thế

giới xung quanh

Ôn luyện củng cố kiến thức đã học ở trên lớp

- Trò chơi vận động: trẻ được chơi 1- 2 trò chơi vận động trong một buổi HĐNT

- Chơi tự chọn: trẻ được chơi theo ý thích với các đồ chơi ngoài trời hoặc các

phương tiện do giáo viên tự tạo hoặc tự tìm kiếm dưới sự điều khiển hướng dẫn củagiáo viên

Thời gian cho một buổi HĐNT thường từ 20 - 50 phút tùy theo độ tuổi và tìnhhình thời tiết

Thời điểm là vào buổi sáng mỗi ngày sau giờ học trên lớp của trẻ

* Khái niệm về tổ chức hoạt động ngoài trời

Vậy từ những khái niệm trên ta có thể đưa ra khái niệm về TC HĐNT ở trường mầm non là sự sắp xếp, bố trí hoạt động giáo dục tiến hành một cách có mục đích

Trang 27

trong môi trường không gian tự nhiên theo kế hoạch dựa trên hứng thú và điều kiện phù hợp với yêu cầu khách quan, chủ quan của đối tượng muốn hướng đến nhằm đạt mục đích giáo dục theo kế hoạch yêu cầu của HĐNT cho trẻ ở trường mầm non.

1.2.2 Khái niệm về sáng tạo

1.2.2.1 Quan niệm về sáng tạo

Theo L.X Vưgotxki cho rằng: ST là bất cứ hoạt động nào của con người tạo rađược cái gì đó mới không kể cái đó được tạo ra ấy là một vật cụ thể hay là sảnphẩm của trí tuệ hoặc tình cảm chỉ sống và biểu lộ bản thân con người.[46]

Theo triết học: ST là say mê nghiên cứu, tìm tòi để tạo ra những giá trị mới vềvật chất, tinh thần hoặc tìm ra cái mới, cách giải quyết mới mà không bị gò bó phụthuộc vào những cái đã có [69]

Nguyễn Đức Uy lại cho rằng ST là sự đột khởi bằng hành động của một sảnphẩm liên hệ mới mẻ, nảy sinh độc đáo của một cá nhân Quan điểm này cho rằngkhông có sự phân biệt về ST, nghĩa là sáng tạo dù ít dù nhiều đều là sáng tạo[38]

Từ các khái niệm trên chúng tôi thấy dù có nhiều cách giải thích về ST nhưngcác tác giả đều thống nhất: ST là một phẩm chất trí tuệ đặc biệt của con người nódiễn ra mọi lúc mọi nơi luôn say mê nghiên cứu, tìm tòi để tạo ra những giá trị mới

về vật chất tinh thần hoặc tìm ra cái mới, cách giải quyết mới mà không bị gò bóphụ thuộc vào những cái đã có Trong quá trình tiến hành hoạt động, con ngườiluôn luôn suy nghĩ tìm tòi và học hỏi để tìm ra cái mới, cách giải quyết tốt nhất đểđạt được hiệu quả tốt nhất Hoặc chỉ đơn giản là dám làm ra một cái gì đó mới mẻ,táo bạo, khác thường nhưng vẫn rất hữu dụng Tuy là nhiều quan điểm nhưng hầuhết các tác giả đều nhấn mạnh đến cái mới của sản phẩm được tạo ra có giá trị lợiích cho bản thân cá thể ấy hoặc cho một tập thể hay toàn xã hội Từ đó mỗi tác giảđều nhấn mạnh ý nghĩa xã hội của sản phẩm ST

Vậy sáng tạo là loại tư duy có khuynh hướng phát hiện và giải thích bản chất

sự vật theo lối mới, hoặc tạo ra ý tưởng mới cách giải quyết mới không theo tiền lệ

đã có.

Trang 28

1.2.2.2 Bản chất của sáng tạo

Khi tìm hiểu về hoạt động ST các nhà nghiên cứu đã xác định bản chất củahoạt động này ở những vấn đề sau:

Thứ nhất, hoạt động ST của con người mang bản chất xã hội

Charles Van Doren đã viết “Nhu cầu kích thích hoạt động ST là lòng ham hiểubiết cái mới và không bằng lòng cái hiện có Nó xuất phát từ lòng hiếu kì và sự bấttoại”[52] Như vậy hoạt động ST xuất phát từ chính nhu cầu của bản thân mỗi conngười và nhu cầu của xã hội nhằm giải quyết các tình huống đã đặt ra Khi xã hộiphát triển các điều kiện thực tiễn không còn đáp ứng một cách phù hợp cho nhucầu xã hội thì buộc con người phải tìm ra cách giải quyết mới, hướng đi mới hoặccải biến cái cũ để phục vụ nhu cầu ấy

Nhà tâm lí học L.X Vưgotski khẳng định: “sáng tạo là một quá trình thừa kếlịch sử, trong đó bất cứ hình thức kế tiếp nào cũng được quy định bởi những hìnhthức trước đó” Ông chỉ rõ: “Nhà phát minh nào, nhà thiên tài, bao giờ cũng là cáicây mọc bên trong thời đại và trong môi trường của mình” [46; tr.86]

Như vậy, có thể khẳng định rằng, hoạt động ST của con người bao giờ cũngmang bản chất xã hội ST xuất phát từ chính nhu cầu phát triển của xã hội và phục

vụ cho chính nhu cầu xã hội đó

Thứ hai, bản chất của quá trình sáng tạo là do các yếu tố tâm lí tham gia.Khi bàn về vấn đề này có nhiều quan điểm được đưa ra Tuy nhiên để xác địnhđược yếu tố tâm lí nào là mắt xích trung tâm của quá trình ST thì còn nhiều ý kiếnkhác nhau

Một là, những ý kiến cho rằng linh cảm, cảm hứng vô thức là mắt xích trungtâm của quá trình sáng tạo Đại diện cho quan điểm này là nhà nghiên cứu: B.MKedrow, ông coi linh cảm là giác quan thứ sáu hay tri giác phi giác quan Theo ông

đó là khả năng hành động một cách đúng đắn trước một tình huống quyếtđịnh, nguy cấp mà con người lại không biết tại sao mình lại làm được như vậy.[53]Theo B.M Kedrow thì trung tâm của ST gắn liền với cơ chế linh cảm Ôngcho linh cảm trong ST như một linh cảm ngẫu nhiên, như là hiệu quả của sự giao

Trang 29

nhau giữa các sự kiện không liên quan tới nhau Thực tế có những linh cảm, cảmhứng hay trực giác trong ST chính là kết quả của sự lao động không mệt mỏi củabản thân mỗi con người, sự của tư duy ấy là kết quả của sự tích lũy kiến thức, sự say

mê, kiên trì suy nghĩ sáng tạo Phát minh không nằm ngoài tầm hoạt động kiêntrì với định hướng khoa học nghiêm túc Linh cảm, trực cảm không đến với nhữngngười lười biếng, đó chỉ là yếu tố bổ xung tuyệt vời cho kinh nghiệm và hiểu biết.[53]

Hai là những ý kiến cho rằng tư duy, tưởng tượng mới là mắt xích của trungtâm sáng tạo Đại diện cho quan điểm này là các nghiên cứu như:

L.X Vưgotski, A.N Leonchiev, X.L Rubinstein, cho rằng hoạt động ý thứccủa con người có vai trò quan trọng trong HĐST[46],[69],[50]

A.N Leonchiev đã đề cập đến vấn đề này trong các nghiên cứu của mình, ôngcho rằng tư duy là vấn đề tham gia chính vào việc ST chứ không phải linh cảm.[70]

Có thể thấy rằng, hai quan niệm đưa ra đều đúng nhưng không trọn vẹn Thực

tế những yếu tố linh cảm, tư duy, tưởng tượng không thể tách rời nhau trong HĐST.Linh cảm cung cấp cho lí trí những dữ kiện quý giá để lí trí phân tích sàng lọc, thửnghiệm và khẳng định Và ngược lại sự nỗ lực nghiêm túc, kiên trì tư duy và tưởngtượng sẽ tạo điều kiện cho linh cảm xuất hiện Rõ ràng, nếu chúng ta làm việc thật

sự căng thẳng và nghiêm túc trong một thời gian dài thì đến một thời điểm nào đóchúng ta sẽ giải quyết được nhiệm vụ một cách tốt nhất như một sự lóe sáng.[70]

Tóm lại bản chất của hoạt động sáng tạo của con người có nguồn gốc từ hiện

thực khách quan và mang bản chất xã hội Sáng tạo là hoạt động khó khăn, vất vả của con người nhằm cải thiện cuộc sống và thúc đẩy xã hội phát triển Nó là hoạt động có ý thức và có mục đích của con người chứ không phải là hoạt động mang tích chất huyền bí hay là sự may rủi và càng không phải là món quà Thượng đế ban tặng cho.

1.2.2.3 Đặc điểm sáng tạo và đặc điểm sáng tạo của trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ 5- 6 tuổi nói riêng ở trường mầm non.

* Đặc điểm sáng tạo

Trong nghiên cứu về ST, đã có nhiều quan niệm về các đặc trưng (thuộc tính)của ST Các quan niệm đều tập trung cho rằng tính linh hoạt, tính nhuần thục,tính

Trang 30

độc đáo, tính nhạy cảm vấn đề, tính phê phán, tính độc lập, tính chi tiết, khả năng giải quyết vấn đề theo cách mới là những đặc trưng của ST

Khi nghiên cứu về ST, J.P Guilford nhà tâm lí học Mỹ cho rằng: Tư duy phân kì(divergence thinking) là loại sáng tạo, có đặc trưng: Mềm dẻo (flexibility), thuầnphục (fluency), độc đáo (originality) và nhạy cảm vấn đề (problemsensibility Theoông, ST về bản chất là tìm kiếm và thể hiện những phương pháp logic trong tìnhhuống có vấn đề, tìm kiếm những phương pháp khác nhau và mới của việc giảiquyết vấn đề, giải quyết nhiệm vụ Ông cũng khẳng định năng khiếu ST có sẵn ởcác mức độ biến thiên ở mọi cá thể bình thường (tức mọi cá nhân bình thườngđều có khả năng sáng tạo) Đồng thời cho rằng quá trình ST có thể tái tạo tự giác(tức có thể dạy và học được với một số lớn cá thể) )[63]

Trong đề tài này chúng tôi thống nhất với quan điểm của các nhà nghiên cứutâm lý học sáng tạo kinh điển như Guilford J.P., Torrance P E, Loowenfeld chorằng ST được đặc trưng bởi các yếu tố chính (basic components) như tính mềm dẻo(flexibility), tính thuần thục (fluency), tính độc đáo (originality), tính chi tiết(elaboration) và tính nhạy cảm (problemsensibility), [63],[56]

Tính mềm dẻo (flexibility)

Tính mềm dẻo là khả năng dễ dàng chuyển từ hoạt động trí tuệ này sanghoạt động khác Đó là năng lực chuyển dịch dễ dàng nhanh chóng trật tự của hệthống tri thức, xây dựng phương pháp tư duy mới, tạo ra sự vật mới trong mốiliên hệ mới,

…dễ dàng thay đổi các thái độ đã cố hữu trong hoạt động trí tuệ của con người

Tính thuần thục (fluency)

Tính thuần thục (lưu loát, nhuần nhuyễn) thể hiện khả năng làm chủ tưduy, làm chủ kiến thức, kĩ năng và thể hiện tính đa dạng của các cách xử lý khigiải quyết vấn đề Đó chính là năng lực tạo ra một cách nhanh chóng sự tồn hợpgiữa các yếu tố riêng lẻ của tình huống, hoàn cảnh, đưa ra gỉa thuyết về ý tưởngmới

Tính độc đáo (originality)

Tính độc đáo là khả năng tìm kiếm và quyết định phương thức lạ và duy nhất.Tính độc đáo được đặc trưng bởi các khả năng sau: Khả năng tìm ra những liên

Trang 31

tưởng và kết hợp mới; Khả năng tìm ra các mối liên hệ trong những sự kiện bênngoài tưởng như không có quan hệ với nhau; Khả năng tìm ra những giải pháp lạtuy đã biết những giải pháp khác Ngoài ra, ST còn được đặc trưng bởi nhiều yếu tố

khác Tính chi tiết (elaboration, tính nhạy cảm (problemsensibility) vững thường là

kết quả của quá trình nỗ lực tìm tòi để phát minh sáng kiến những sản phẩm hoàntoàn mới lạ và có ý nghĩa nhất định trong đời sống xã hội Nhưng ở một đứa trẻ thìTST lại là chính một đứa trẻ khi bắt đầu tái tạo mô phỏng bắt chước, mô phỏng mộtđiều gì đó và thường kém bền vững

Các nhà tâm lý học cho rằng: Sản phẩm ST ở trẻ nhỏ nếu xem xét một cáchnghiêm ngặt theo tiêu chuẩn thì trẻ nhỏ chưa có sáng tạo Do đó theo họ nên

bỏ thuật ngữ “Sáng tạo của trẻ” thay bằng thuật ngữ “Tiền sáng tạo” nghĩa lànhững sản phẩm của trẻ tạo ra chỉ có biểu hiện sáng tạo mà thôi

X.L Rubinstein quan niệm có hai loại SPST: SPST ở trẻ nhỏ nếu xem xét mộtcách nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn thì trẻ nhỏ chưa có ST Do đó theo họ nên

bỏ thuật ngữ “Sáng tạo của trẻ” thay bằng thuật ngữ “Tiền sáng tạo” nghĩa lànhững sản phẩm của trẻ tạo ra chỉ có biểu hiện ST mà thôi[50]

X.L Rubinstein quan niệm có hai loại SPST: SPST mang tính khách quan vàSPST mang tính chủ quan Cái mới cái độc đáo có ý nghĩa đối với bản thân trẻchứ chưa phải mới mang ý nghĩa xã hội Hoạt động sáng tạo mang lại niềm vui,

sự thích thú.[50]

Vậy tính sáng tạo của trẻ em không có nghĩa là tạo ra cái mới mà chỉ cần trẻ

có nhu cầu mới, ý định và tìm phương tiện để giải quyết đã có sáng tạo rồi Như vậy

ở trẻ nhỏ sự sáng tạo phát triển ở kinh nghiệm của trẻ trong một quá trình nào đó chứ không phải là một sản phẩm hoàn chỉnh.

* Đặc điểm tính sáng tạo của trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ 5 - 6 tuổi nói riêng

ST của trẻ em mang tính chất tổng hợp các lĩnh vực trí tuệ ý chí, tình cảm, đặcbiệt là tưởng tượng ST Trẻ có thể ST một cách đột nhiên, có cách làm việc tự do,không cần thuật nhớ, không cần sự bắt chước, bất kỳ chỗ nào thiếu trí nhớ, nhữngkiểu bị rạn nứt chỉ còn lại những yếu tố rời rạc thì óc tưởng tượng sẽ móc ghép theocách riêng, thế là có ST

Trang 32

Sáng tạo bao giờ cũng xuất phát từ nhu cầu đã có trước, một nhu cầu cấpbách tự nhiên và là điều kiện tồn tại của trẻ Trẻ không bao giờ ST cái gì nó khôngbiết, không hiểu và không hứng thú ST của trẻ biểu hiện một cách tự phát,độc lập không theo ý muốn của người lớn.

Tầm nhìn thế giới xung quanh của trẻ em còn bị hạn chế nên hầu nhưchưa biết phân tích các mối liên hệ khác nhau Song ở trẻ mẫu giáo đã mang mầmmống, tiềm năng ST một cách nhất định

Khi sáng tác trẻ ít nghiền ngẫm sâu về tác phẩm của mình, phần lớn nó là sángtác liền mạch Trẻ giải quyết nhu cầu ST của mình một cách nhanh chóng và triệt đểnhững tình cảm đang ngập tràn SPST của trẻ có thể không hoàn hảo nhưng ưu thế

là chúng được nảy sinh trong quá trình ST của trẻ

Lứa tuổi mầm non là lứa tuổi tràn ngập cảm xúc, phát triển trí tò mò, trítưởng tượng bay bổng, khả năng liên tưởng mạnh Vì vậy trẻ 5 - 6 tuổi là giai đoạntối ưu nhất để phát triển TST cho trẻ mầm non

Trẻ 5 - 6 tuổi đã bộc lộ TST của mình khá rõ rệt trong các hoạt động học vàcác hoạt động khác như: âm nhạc, tạo hình, đóng kịch, toán, môi trường xungquanh và các hoạt động khác

Trẻ 5 - 6 tuổi thể hiện sự ST của trẻ trong quá trình học là dễ dàng đưa ra cáchlàm hoặc ý tưởng mới Do đó trẻ em có thể tạo những sản phẩm hoặc cáchgiải quyết mới lạ, độc đáo Trẻ có thể tưởng tượng, liên tưởng vấn đề sự việc hiệntại và những vấn đề, sự việc có liên quan để nhằm giải quyết chúng Đồng thời trẻcòn thể hiện ý tưởng của bản thân trong hoạt động hoặc trong giao tiếp với ngườikhác.Trẻ thích những nhiệm vụ mới lạ và tò mò muốn khám phá nó

Trong quá trình hoạt động trẻ 5 - 6 tuổi có thể đưa ra các ý tưởng khácnhau mà không bị trùng lập với các nhiệm vụ cũng như các tình huống mới.Trẻ có hướng suy nghĩ hành động theo ý tưởng mới của trẻ không dập khuân mộtcách máy móc những cái có sẵn Trẻ sử dụng kinh nghiệm của bản thân và thay đổi

nó theo điều kiện mới Trẻ dễ dàng khi nhận ra vấn đề mới và chức năng mới củađối tượng đã biết.[39]

Trang 33

Trong hoạt động học, trẻ 5 - 6 tuổi thể hiện rõ sự sáng tạo của mình đó là sựnhanh nhạy, sự linh hoạt, tính mềm dẻo của mình khi đứng trước một tìnhhuống hoặc một nhiệm vụ được giao, nhanh chóng đưa ra ý tưởng, đáp ứng phù hợpvới yêu cầu của tình huống Trong quá trình học trẻ biết cách tìm ra các phươngtiện và các mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng cụ thể, các từ ngữ, các ý nghĩa

để tạo ra ý tưởng mới Sự linh hoạt, mềm dẻo ấy của trẻ thể hiện ở sự thành thạotrong việc sử dụng ngôn ngữ để biểu đạt ý tưởng Sự biểu đạt của trẻ thường chặtchẽ, logic [43]

Trong mỗi hoạt động của mình, ở trẻ 5 - 6 tuổi đã xuất hiện những ýtưởng, tìm kiếm phương tiện để thực hiện ý định đó, có nghĩa là đứa trẻ luôn cócảm giác thắc mắc, tò mò cao độ và một sự nỗ lực tự phát nhằm khám pháthao tác thử nghiệm mang kiểu độc đáo mang tính trò chơi Đó cũng chính là sự STcủa trẻ.[40]

So với trẻ mẫu giáo nói chung và trẻ 5 - 6 tuổi nói riêng Trẻ 5 - 6 tuổi còn thểhiện TST của trẻ bằng việc tập hợp các thông tin thế giới xung quanh để đưa ra cáchgiải quyết mới cho tình huống cụ thể Trẻ xem xét kĩ càng vấn đề và lập kế hoạchkhi thực hiện hành động.[41]

Có thể nói TST của trẻ trong hoạt động học là khi trong đầu trẻ xuất hiệnnhững ý định và những ý tưởng mới và trẻ biết tìm kiếm phương tiện để giải quyếtvấn đề một cách nhanh chóng

Các đặc trưng trên của ST không tách rời nhau mà chúng có liên hệ mật thiếtvới nhau, bổ sung cho nhau, trong đó tính độc đáo được cho là quan trọngnhất trong biểu đạt ST, tính nhạy cảm vấn đề đi liền với cơ chế xuất hiện ST

Vậy, trẻ 5 - 6 tuổi thể hiện rõ sự sáng tạo của mình đó là sự nhanh nhạy, sự linh hoạt, tính mềm dẻo của mình khi đứng trước một tình huống hoặc một nhiệm

vụ được giao, nhanh chóng đưa ra ý tưởng, đáp ứng phù hợp với yêu cầu của tình huống.Trẻ thể hiện TST của trẻ bằng việc tập hợp các thông tin thế giới xung quanh

để đưa ra cách giải quyết mới cho tình huống cụ thể Trẻ có thể sáng tạo một cách

tự nhiên, trẻ thể hiện ý tưởng của bản thân trong hoạt động hoặc trong giao tiếp với người khác.Trẻ thích những nhiệm vụ mới lạ và tò mò muốn khám phá nó đó cũng

Trang 34

chính là đặc điểm biểu hiện TST của trẻ 5 - 6 tuổi

Trang 35

1.2.2.4 Biểu hiện tính sáng tạo của trẻ 5 - 6 tuổi trong hoạt động ngoài trời ở trường mầm non

Tổ chức hoạt động ngoài trời là một hoạt động mà có thể phát huy tính TCHĐNT đánh giá ở sản phẩm mà còn đánh giá cả quá trình trẻ tham gia hoạt động vàtạo ra sản phẩm của trẻ trong suốt hoạt động TST của trẻ trong HĐNT được thểhiện như sau:

Trẻ khám phá, nảy sinh được ý tưởng mới mẻ của mình trong khi tham giahoạt động

Trẻ đưa ra ý tưởng độc đáo trong cách giải quyết vấn đề

Trẻ tìm kiếm các phương tiện để thực hiện ý tưởng

Trẻ giải quyết các ý tưởng và thực hiện chúng

Đó chính là tiêu chí đánh giá mức độ ST của trẻ trong HĐNT của trẻ mẫu giáo

1.2.2.5 Những yếu tố tạo tiền đề cho sáng tạo của trẻ mẫu giáo

- Sự nhạy cảm của chủ thể đối với vấn đề Sự nhạy cảm là trạng thái bên trong

giúp chủ thể dễ dàng tiếp nhận những vấn đề bên ngoài và biến những vấn đề bênngoài đó thành nhiệm vụ của chính bản thân mình, đồng thời kích thích nhữnghoạt động bên trong giúp chủ thể giải quyết vấn đề trong thực tiễn Sự nhạycảm giúp chủ thể tiếp cận những vấn đề với hoàn cảnh có vấn đề nhanh chónghơn, dễ dàng nhìn thấy những vấn đề mà người khác khó nhận ra Tính nhạy cảmcũng là có cơ sở cho sự tích lũy rộng vốn tri thức cho sáng tạo.[38; tr 75]

- Lòng hiếu kì và sự bất toại Hai yếu tố này liên quan chặt chẽ với nhau, bổ

sung cho nhau tạo nên tiền đề tài cơ bản để con người đi đến sáng tạo [38;tr 76]

- Nhu cầu nội tại của con người là yếu tố con người là yếu tố quan trọng làm

nảy sinh quá trình ST Nhu cầu ST có thể làm tăng hoặc ngược lại, làm giảm nhữngyếu tố khác trong quá trình ST [38; tr 76]

Động cơ ST cũng là một yếu tố có ý nghĩa quan trọng Đây chính là yếu tốthúc đẩy con người đến hoạt động như vậy gốc của động cơ là nhu cầu

- Tư duy phân kỳ Nói đến nền tảng của ST người ta đề cập đến tư duy phân

kỳ Có hai phương thức tư duy: Tư duy hội tụ và tư duy phân kỳ

Trang 36

- Linh cảm và trực giác: Đây là yếu tố cũng rất được chú ý trong HĐ ST.

Nhiều người cho rằng ST thường gắn liền với ngẫu nhiên - là hoạt động vô cảm, vôthức Trên thực tế, nhiều phát minh nảy sinh các phát kiến lại không phải “quàtặng của thượng đế” mà hiệu quả bộc lộ trên kinh nghiệm Linh cảm là phẩm chấttâm lý không phải ai cũng có và không phải tự nhiên mà có Nó chỉ có tạo nên phátminh sáng tạo ở một số có sự lao động, tích lũy kinh nghiệm học tập, rèn luyệnmột cách có ý thức.[38]

1.3 Đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ 5 - 6 tuổi

Độ tuổi mẫu giáo 5 - 6 tuổi là giai đoạn cuối cùng của trẻ em lứa tuổi mầmnon, tức là lứa tuổi trước khi đến trường phổ thông Ở giai đoạn này, những cấutạo tâm lý đặc trưng của con người đã hình thành trước đây, đặc biệt là hình thànhtrong độ tuổi mẫu giáo bé, đến độ tuổi mẫu giáo nhỡ vẫn tiếp tục phát triển mạnh.Với sự giáo dục của người lớn, những chức năng tâm lý đó sẽ được hoàn thiện

về mọi phương diện của hoạt động tâm lý (nhận thức, tình cảm và ý chí) để hoànthiện việc xây dựng những cơ sở ban đầu về nhân cách của con người [36]

+ Trẻ sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hằng ngày sự phát

triển ngôn ngữ của trẻ đạt tốc độ khá nhanh và đến cuối tuổi mẫu giáo thì hầu hếttrẻ em đều biết sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách thành thạo Sự hoàn thiện tiếng mẹ

đẻ ở trẻ mẫu giáo lớn theo các hướng sau:

- Trẻ nắm vững ngữ âm và ngữ điệu khi sử dụng tiếng mẹ đẻ Ở cuối tuổi mẫu

giáo, do việc giao tiếp bằng ngôn ngữ được mở rộng trong những năm trước đây,.Trẻ mẫu giáo lớn còn biết sử dụng ngữ điệu một cách phù hợp với nội dung giaotiếp

- Vốn từ của trẻ cũng được tích lũy khá phong phú trong hành vi ngôn ngữ, trẻ

đã chú ý đến ý nghĩa của lời nói nhờ có đặc điểm này mà việc hướng dẫn trẻ quangôn ngữ nói rất có hiệu quả [18]

- Sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc: ngôn ngữ mạch lạc thể hiện một trình độ

tương đối cao, phương diện ngôn ngữ, và cả phương diện tư duy nữa Trước đây trẻ

sự dụng ngôn ngữ tình huống là chủ yếu Dần dần cuộc sống đòi hỏi trẻ em cân cómột kiểu ngôn ngữ khác, ít phụ thuộc tình huống hơn Kiểu ngôn ngữ này là ngôn

Trang 37

ngữ ngữ cảnh, mang tính rõ ràng, Chính ngôn ngữ mạch lạc là phương diện để cho

tư duy của trẻ phát triển đến một chất lượng mới, đó là việc nảy sinh các yếu tố

tư duy loogic, nhờ đó mà toàn bộ sự phát triển của trẻ được nâng lên một trình độmới, cao hơn.[18]

Tóm lại, trẻ đã thực sự nắm vững tiếng mẹ đẻ

+ Sự xác định ý thức bản ngã và tính chủ định trong hoạt động tâm lý Tiền đề

của ý thức bản ngã là việc tách mình ra khỏi người khác đã được hình thành từ cuốituổi ấu nhi Tuy nhiên phải trải qua một quá trình phát triển, ý thức bản ngã củatrẻ mới được xác định rõ ràng, đến cuối tuổi mẫu giáo, trẻ đã hiểu được mình làngười như thế nào, có những phẩm chất gì, những người xung quanh đối xử vớimình ra sao và tại sao mình lại có hành động này hay hành động khác…

Ở mẫu giáo lớn, sự tự ý thức còn được biểu hiện rõ ràng trong sự pháttriển giới tính của trẻ Ở tuổi này trẻ không những nhận ra mình là trai hay gái

mà còn biết thể hiện hành vi cho phù hợp với giới tính của mình

Ý thức bản ngã được xác định rõ ràng giúp trẻ điều khiển điều chỉnh hành vicủa mình cho phù hợp với những chuẩn mực, quy tắc xã hội, từ đó mà hành vi củatrẻ mang tính xà hội, tính nhân cách đậm nét hơn trước Nhưng đến tuổi mẫugiáo lớn sự chú ý đã tập trung hơn, bền vững hơn Đến cuối tuổi mẫu giáo lớn, thờigian trẻ có thể tập trung để xem tranh tăng lên gấp đôi với độ tuổi mẫu giáo bé.Cũng tương tự như vậy, ghi nhớ của trẻ mẫu giáo lớn ngày càng có tính chủ địnhnhiều hơn so với trẻ mẫu giáo bé nhờ sử dụng một số phương thức như nhắc lạihay liên hệ các sự kiện với nhau do người lớn gợi ý cho.[13]

Tuy vậy đến cuối tuổi mẫu giáo các quá trình tâm lý không chủ định vẫn chiếm

ưu thế trong hoạt động tâm lý của trẻ, ngay cả trong hoạt động trí tuệ Chẳngnhững em xếp các tranh theo những vật trong vườn trường hay trong nhà bếp chỉ

để chơi chứ không nhằm mục đích ghi nhớ thì trẻ lại ghi nhớ tốt hơn nhiều so vớinhững em xem các bức tranh đó với mục đích ghi nhớ do người lớn yêu cầu [14]

Ở tuổi mẫu giáo lớn việc đặt mục đích cho hành động và việc lập kế hoạch đểthực hiện hành động thường được thể hiện rõ nét Điều đó thúc đẩy các hànhđộng

Trang 38

định hướng bên trong (tức là các quá trình tâm lý) phát triển mang tính chủ định rõràng Tính chủ định này được phát triển cùng sự tiến triển của hoạt động vui chơi ởtrẻ mẫu giáo lớn Trước đây khi tham gia vào các trò chơi, động cơ hoạt động củatrẻ nằm chính trong quá trình chơi Trẻ em mải mê chơi không cần biết đến kếtquả của việc chơi Vào cuối tuổi mẫu giáo còn xuất hiện khá nhiều trò chơi có luật,hành động của trẻ trở nên có mục đích hơn.[27]

Khi tham gia trò chơi loại này, động cơ hoạt động của trẻ không chỉ nằm trongquá trình chơi mà cả ở trong kết quả chơi Nghĩa là động cơ hoạt động của trẻđang di chuyển từ quá trình chơi đến kết quả chơi Nhờ có sự thay đổi mà cáchoạt động tâm lý bên trong được biến đổi một cách rõ rệt, từ những quá trình tâm

lý không chủ định chuyển sang những quá trình tâm lý có chủ định như tri giác có

chủ định, chú ý có chủ định, ghi nhớ có chủ định… Đây là một đặc điểm tâm lý rất

quan trọng mà giáo viên cần quan tâm khi tổ chức trò chơi cho trẻ mẫu giáo lớn,

bời vì nó ảnh hưởng rất nhiều đến hứng thú chơi của trẻ, và tất nhiên ảnh hưởngđến kết quả của hoạt động.[27]

Trong sự phát triển các hành động ý chí của trẻ mẫu giáo lớn, có thể thấy sựliên kết giữa ba mặt: thứ nhất là sự phát triển tính mục đích của hành động, thứhai là sự xác lập quan hệ giữa mục đích của hành động cơ và thứ ba là tăng vai tròđiều chỉnh của ngôn ngữ trong việc thực hiện các hành động Có thể nói sự pháttriển về mặt ý chí là một trong những biểu hiện rõ nhất của ý thức, khiến cho nhâncách của trẻ được khẳng định

+ Xuất hiện kiểu tư duy trực quan hình tượng mới - tư duy trực quan sơ đồ và

những yếu tố của tư duy lôgic Trẻ em ở cuối tuổi mẫu giáo nhỡ và mẫu giáo lớn có

khả năng hiểu một cách dễ dàng và nhanh chóng về cách biểu diễn sơ đồ và sửdụng sơ đồ đó để tìm hiểu sự vật, cả tư duy trực quan - hành động lẫn tư duy trựcquan - hình tượng đều liên quan mật thiết đến ngôn ngữ Vai trò ngôn ngữ ở đâyrất lớn, nó giúp trẻ nhận ra bài toán cần giải quyết, giúp trẻ đặt kế hoạch để tìm racách giải quyết và nghe những lời giải thích, hướng dẫn của người lớn.[9]

Trang 39

1.4 Tầm quan trọng của hoạt động ngoài trời nhằm phát huy tính sáng tạo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non

HĐNT có ý nghĩa và tầm quan trọng lớn lao đối với việc hình thành pháttriển toàn diện con người đối với trẻ

Về mặt thể chất, khi tham gia HĐNT trẻ được tiếp xúc với môi trường khônggian tự nhiên như nước, ánh nắng, không khí trong lành và một khoảng không rộngrãi thoáng mát cảnh vật sống động kích thích mạnh mẽ hứng thú hoạt động, giúptrẻ được tự do vận động, thoải mái tham gia các hoạt động thể chất, đáp ứngđầy đủ nhu cầu vận động của trẻ Nhờ đó cơ thể trẻ được rèn luyện, tăng cường sựdẻo dai của hệ cơ, xương, đáp ứng nhu cầu hấp thụ canxi qua quá trình tổng hợpvitamin D từ ánh nắng mặt trời trực tiếp có lợi cho trẻ phòng chống còi xương,tăng cường sự trao đổi chất, hoàn thiện các cơ quan bộ phận như tuần hoàn, hôhấp cho trẻ, tăng sức đề kháng, rèn luyện sức chịu đựng của cơ thể với các tácđộng tiêu cực của môi trường giúp trẻ phát triển hoàn thiện thể lực toàn diện

HĐNT là một hoạt động bổ ích và lí thú có sức hấp dẫn và lôi cuốn kì lạ đốivới trẻ Thiên nhiên là môi tường tác động có lợi về nhiều mặt lên sự hình thành vàphát triển toàn diện đối với trẻ Ở đây trẻ được gặp nhiều tình huống thực tếsinh động, tự nhiên mà khi hoạt động ở trong lớp không nảy sinh tình huống để trẻđược trải nghiệm, với những trải nghiệm trong HĐNT trẻ thêm tự tin, tự chủ, độclập tích cực trong việc giải quyết các vấn đề gặp phải, ít bị lệ thuộc vào ngườihướng dẫn HĐNT giúp trẻ điều hòa về mặt tâm lí, giảm bớt những căng thẳng mệtmỏi sau những hoạt động gò bó trong các giờ hoạt động chủ định trên lớp, tạo chotrẻ sự thoải mái giúp trẻ tăng cường cảm xúc, hòa nhập tốt hơn với môitrường xung quanh từ đó tiếp nhận các kích thích từ môi trường một cách lànhmạnh, nhanh nhạy tích cực chính xác hơn HĐNT làm cho cuộc sống của trẻ gần gũivới thực tế hơn từ đó tham gia các hoạt động xã hội một cách chủ động tích cực

Thông qua hoạt động ngoài trời, trẻ được tiếp xúc với các hiện tượng tựnhiên, xã hội phong phú, giúp tre mở rộng hiểu biết về thế giới xung quanh, kíchthích trẻ tò mò ham hiểu biết sáng tạo, thích thú tìm tòi, khám phá thế giớixung

Trang 40

quanh Từ đó mở rộng và phát triển các năng lực hoạt động trí tuệ như khảnăng phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, phát triển tích cực các quá trìnhhình thành tâm lí như tri giác, tư duy, tưởng tượng, trí nhớ.

Khi trẻ tham gia vào HĐNT với cô và các trẻ khác sẽ nảy sinh các tìnhhuống trong các hoàn cảnh trẻ cùng nhau hoạt động khám phá, tìm hiểu vấn đềgiải quyết vấn đề cùng bạn trẻ sẽ học tập được các kĩ năng chia sẻ, hoạt độngnhóm, tôn trọng kỉ luật, tôn trọng bạn biết giúp đỡ bạn cùng hoàn thành nhiệm vụ

Từ đó trẻ biết đoàn kết giúp đỡ, biết nhường nhịn, yêu thương bạn Giáo viên cũng

có thể tận dụng những tình huống trên để giáo dục trẻ hành vi văn minh lịch sự.Bên cạnh đó khi quan sát trẻ tham gia HĐNT giáo viên cũng có thể giáo dục trẻlòng yêu thiên nhiên, biết ứng xử đúng đắn, biết bảo vệ thiên nhiên môi trường

có thói quen vệ sinh môi trường, giáo dục trẻ lợi ích từ việc bảo vệ môi trường sốngxung quanh

Với HĐNT trẻ được thưởng thức những vẻ đẹp kì thú , với những thay đổi kìdiệu của thiên nhiên như trẻ được đắm mình trong ánh nắng của buổi sớm banmai, với những giọt sương còn đọng trên lá, hoa, hay ngắm nhìn vẻ đẹp củabông hoa mới nở cảm nhận sự tươi mát của khí hậu qua những làn gió nhẹ củabuổi sớm mùa hè… Những cảm nhận đó giúp phát triển cảm xúc thẩm mĩ mạnh

mẽ ở trẻ Đây cũng chính là cơ hội phương tiện để giáo dục thẩm mĩ hiệu quả chotrẻ

HĐNT còn góp phần giáo dục trẻ ý thức tự giác lao động, như biết chăm sóccây cối cảnh vật môi trường sống xung quanh, giúp trẻ thêm yêu lao động và biếttrân quý công sức lao động của người lao động, hiểu được ý nghĩa giá trị của nhữngsản phẩm lao động trẻ được dùng

1.5 Quá trình tổ chức hoạt động ngoài trời nhằm phát huy tính sáng tạo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non

HĐNT là một trong các hoạt động được tổ chức thường xuyên trong trườngmầm non Cũng như các hoạt động giáo dục khác, HĐNT có mục đích nội dungphương pháp, biện pháp, hình thức tổ chức và phương tiện riêng của nó Đồng thờimuốn tổ chức có hiệu quả HĐNT không thể không có khâu đánh giá HĐNT

Ngày đăng: 25/01/2019, 21:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nguyễn Thị Kim Anh (2016), “Giúp trẻ làm quen với MTXQ thí nghiệm vui với nước”. Cao Đẳng Sư Phạm TW TP.HCM Tạp chí GDMN số 01 năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giúp trẻ làm quen với MTXQ thí nghiệm vui vớinước”
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Anh
Năm: 2016
[2] Akiko Hayashi (2015) “Ehon - Trước khi đi dã ngoại, 3-6 tuổi” Nhà xuất bản: Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ehon - Trước khi đi dã ngoại", 3-6 tuổi
Nhà XB: Nhà xuất bản: Phụ nữ
[3] Đào Thanh Âm (chủ biên) (2003), “Giáo dục học mầm non-Tập 2,” NXB ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học mầm non-Tập 2
Tác giả: Đào Thanh Âm (chủ biên)
Nhà XB: NXBĐHSPHN
Năm: 2003
[4] Đào Thanh Âm (chủ biên), Trịnh Văn Dân, Nguyễn Thị Hoà, Đinh Văn Vang (2002) “Giáo dục học mầm non Tập 1”. NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào Thanh Âm "(chủ biên), Trịnh Văn Dân, Nguyễn Thị Hoà, Đinh Văn Vang(2002) “"Giáo dục học mầm non Tập 1”
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
[5] Bộ Giáo Dục Và Đào Tạ o , Hoàng Đ ứ c Min h , (Năm học 2016-2017)”Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên: Cán bộ quản lý và giáo viên mầm non” Nhà xuất bản Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồidưỡng thường xuyên: Cán bộ quản lý và giáo viên mầm non”
Nhà XB: Nhà xuất bảnGiáo Dục
[6] Bộ giáo dục và đào tạo trung tâm nghiên cứu GDMN - Vụ GDMN, “Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục trẻ mẫu giáo,” năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tài liệu bồidưỡng giáo viên thực hiện đổi mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục trẻmẫu giáo,”
[7] Bộ Giáo dục và đào tạo, “Chương trình Giáo dục mầm non,” NXB Giáo dục Việt Nam. 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình Giáo dục mầm non
Nhà XB: NXB Giáo dụcViệt Nam. 2009
[9] Phạm Thị Châu, Nguyễn Thị Oanh, Trần Sinh (2004), “Giáo dục học mầm non”NXB ĐH QG HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giáo dục học mầm non”
Tác giả: Phạm Thị Châu, Nguyễn Thị Oanh, Trần Sinh
Nhà XB: NXB ĐH QG HN
Năm: 2004
[10] Đặng Thị Chính (2005), “Tìm hiểu thực trạng tổ chức hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo nhỡ”, Khóa luận tốt nghiệp trường Cao đẳng mẫu giáo trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thực trạng tổ chức hoạt động ngoài trờicho trẻ mẫu giáo nhỡ
Tác giả: Đặng Thị Chính
Năm: 2005
[11] Hoàng Thị Dinh “Hướng dẫn làm đồ chơi từ lá cây” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hướng dẫn làm đồ chơi từ lá cây
[12] Phạm Việt Hà “Hướng dẫn tạo hình bằng vật liệu thiên nhiên” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tạo hình bằng vật liệu thiên nhiên
[13] Lê Minh Hà “Nghiên cứu về mức độ phát triển trí tuệ và thể lực của trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi” Luận án ĐHSP HN ( năm?) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về mức độ phát triển trí tuệ và thể lực của trẻ mẫugiáo 5- 6 tuổi
[14] Phạm Minh Hạc (2002) “Tuyển tập tâm lí học,” NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập tâm lí học
Nhà XB: NXB Giáo dục
[15] Đặng Thành Hưng (2004) “Dạy học hiện đại - lí luận, biện pháp, kĩ thuật,”NXB Đại hoc quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học hiện đại - lí luận, biện pháp, kĩ thuật
Nhà XB: NXB Đại hoc quốc gia
[16] Trần Duy Hưng, (1998) “Quy trình thảo luận nhóm trong dạy học theo quan điểm hướng vào người học, tạp chí nghiên cứu giáo dục”, TCGD số 10/1998 tr, 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình thảo luận nhóm trong dạy học theo quanđiểm hướng vào người học, tạp chí nghiên cứu giáo dục”
[17] Lê Hải Liệu (2005), “Thực trạng tổ chức hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi”, Khóa luận tốt nghiệp trường Cao đẳng mẫu giáo trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng tổ chức hoạt động ngoài trời cho trẻ mẫugiáo 5 - 6 tuổi
Tác giả: Lê Hải Liệu
Năm: 2005
[18] Nguyễn Xuân Khoa (2003), “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫugiáo
Tác giả: Nguyễn Xuân Khoa
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2003
[19] Phạm Chi Mai (2001). “Những điều cần biết khi nuôi dạy trẻ từ 0-6 tuổi” NXB GD HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều cần biết khi nuôi dạy trẻ từ 0-6 tuổi
Tác giả: Phạm Chi Mai
Nhà XB: NXBGD HN
Năm: 2001
[20] Đỗ Ngọc Miên (2014), "Phát triển một số yếu tố của tư duy sáng tạo cho học sinh tểu học" Bộ GD&ĐT Viện KHGD Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển một số yếu tố của tư duy sáng tạo cho họcsinh tểu học
Tác giả: Đỗ Ngọc Miên
Năm: 2014
[21] Trần Thành Nam (2005), “Về nguyên tắc L.X.Vưgốtxki trong học thuyết các giai đoạn phát triển trí tuệ trẻ em của Jean Piaget”, Tạp chí Tâm lý học, số 9/2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nguyên tắc L.X.Vưgốtxki trong học thuyết cácgiai đoạn phát triển trí tuệ trẻ em của Jean Piaget
Tác giả: Trần Thành Nam
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w