1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thơ bằng việt từ góc nhìn tư duy nghệ thuật

151 104 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 3,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mỗi bài thơ Bằng Việt đều có nét bút riêng… Nguyễn Xuân Nam khi đánh giá về thơ Bằng Việt cũng dành nhiều lời khen cho thơ ông: Bằng Việt có tiếng nói sâu lắng và trong sáng của lớp than

Trang 1

Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

-NGUYỄN THỊ VUI

THƠ BẰNG VIỆT

TỪ GÓC NHÌN TƯ DUY NGHỆ THUẬT

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học PGS, TS LÝ HOÀI THU

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô giáo PGS TS Lý

Hoài Thu, người đã luôn động viên, giúp đỡ, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo để

em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này Kính chúc cô luôn mạnh khỏe để cónhiều cống hiến cho nhà trường và xã hội

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong trường và nhất là các thầy

cô trong khoa Ngữ Văn – trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiệncho chúng em hoàn thành khóa học này

Em xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp và các bạn học viên

K19-Lí luận văn học đã luôn động viên, khích lệ, giúp đỡ em trong suốt quá trìnhviết luận văn

Mặc dù đã có những cố gắng nhất định song luận văn của em vẫn cònnhiều thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp để côngtrình

được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Học viên

Nguyễn Thị Vui

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng kết quả nghiên cứu trong luận văn Thơ Bằng

Việt từ góc nhìn tư duy nghệ thuật là trung thực và không trùng lặp với các

đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiệnluận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận vănđã

được ghi rõ nguồn gốc

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Học viên

Nguyễn Thị Vui

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Mục đích nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của luận văn 5

7 Bố cục của luận văn 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1 KHÁI LƯỢC VỀ TƯ DUY THƠ VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC THƠ BẰNG VIỆT 7

1.1 Khái niệm về tư duy nghệ thuật và tư duy thơ 7

1.1.1 Tư duy nghệ thuật 8

1.1.2 Tư duy thơ 11

1.2 Hành trình sáng tác thơ của Bằng Việt 13

1.2.1 Những chặng đường và thành tựu chính 13

1.2.2 Bằng Việt và những nhà thơ cùng thời 18

1.2.3 Quan niệm về thơ của Bằng Việt 23

CHƯƠNG 2 NHỮNG NGUỒN CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO VÀ HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG THƠ BẰNG VIỆT 26

2.1 Những nguồn cảm hứng chủ đạo trong thơ Bằng Việt 26

2.1.1 Cảm hứng về đất nước 27

2.1.1.1 Cảm hứng về đất nước trong chiến tranh 27

2.1.1.2 Cảm hứng về đất nước trong hoà bình 38

2.1.2 Cảm hứng thế sự - đời tư 42

2.1.2.1 Vẻ đẹp của con người và nhân loại trong thế kỉ XX 42

Trang 5

2.1.2.2 Những suy tư chiêm nghiệm về một thế giới đầy biến

động 45

2.1.3 Cảm hứng về tình yêu 49

2.1.3.1 Tình yêu và báo động 49

2.1.3.2 Gợi dậy tâm hồn và thức dậy tình yêu 52

2.2 Hình tượng nhân vật trữ tình trong thơ Bằng Việt 56

2.2.1 Hình tượng cái tôi trữ tnh 58

2.2.2 Hệ thống các nhân vật trữ tình khác 62

2.2.2.1 Hình tượng người bà, người mẹ 62

2.2.2.2 Hình tượng người lính và những cô gái thanh niên xung phong

67 CHƯƠNG 3 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM THUỘC PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT 70

3.1 Nghệ thuật xây dựng hình ảnh và biểu tượng

70 3.2 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ

83 3.3 Giọng điệu và thể thơ

89 3.3.1 Giọng điệu 89

3.3.1.1 Giọng trữ tình sâu lắng 90

3.3.1.2 Giọng suy tư triết lí 93

3.3.2 Thể thơ 96

3.3.2.1 Thể thơ tự do 97

3.3.2.2 Các thể thơ khác 102

KẾT LUẬN 111

TÀI LIỆU THAM KHẢO 114

Trang 6

Xuất hiện từ khoảng những năm 60 của thế kỉ XX, thơ Bằng Việt

nhanh chóng khẳng định được vị thế trên thi đàn với tập thơ Hương cây –

Bếp lửa (in chung với Lưu Quang Vũ) Hơn bốn thập kỉ qua, Bằng Việt vẫn

không ngừng sáng tạo Hàng loạt các tập thơ đã ra đời: Những gương

mặt, những khoảng trời (1973); Đất sau mưa (1977), Khoảng cách giữa lời

(1983), Phía nửa mặt trăng chìm (1995), Ném câu thơ vào gió (2001), Nheo

mắt nhìn thế giới (2008)…

Thơ Bằng Việt trong thời kì kháng chiến chống Mỹ được nhiều ngườichú ý Tuy nhiên, mảng sáng tác của ông về sau, nhất là sau đổi mới lại chưađược quan tâm một cách xứng đáng Với hàng loạt các tập thơ về sau,Bằng Việt đã dành nhiều tâm huyết để xây dựng cho mình một giọng thơriêng, một phong cách nghệ thuật độc đáo Chính vì vậy, việc đọc thơ, yêuthơ, nghiên cứu thơ Bằng Việt vẫn luôn có sức hấp dẫn với bao thế hệ độcgiả và người nghiên cứu văn học

1.2 Trên phương diện lí luận, vấn đề nghiên cứu, khám phá thơ BằngViệt từ góc độ tư duy nghệ thuật sẽ giúp chúng tôi có điều kiện để tìmhiểu, soi chiếu thơ Bằng Việt ở chiều sâu sáng tạo, để từ đó có thêm hiểubiết về phong cách cũng như thi pháp trong thơ Từ đó khẳng định BằngViệt đã mang đến thơ ca một hệ thống thi pháp, một giọng điệu riêng, làmphong phú thêm diện mạo thơ ca chống Mỹ và đương đại

Trang 7

1.3 Trong thực tiễn văn học và giảng dạy, Bằng Việt là một trong sốnhững nhà thơ tiêu biểu được đưa vào giảng dạy trong nhà trường Nhiều bài

thơ nổi tiếng của ông trong đó có bài Bếp lửa còn mãi được các thế hệ độc

giả đón nhận và tôn vinh Những bài thơ bồi đắp cho con người tnh cảmthiêng liêng về gia đình, đất nước; nhắc nhở mỗi chúng ta không được lãngquên quá khứ mà phải lấy quá khứ làm động lực để vươn tới tương lai

Với những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: Thơ Bằng Việt từ góc

nhìn tư duy nghệ thuật để nghiên cứu Thông qua đề tài này, chúng tôi mong

muốn đóng góp tiếng nói khẳng định giá trị thơ Bằng Việt và đóng góp vàolĩnh vực giảng dạy và khám phá thơ Bằng Việt

2 Lịch sử vấn đề

Ngay từ những ngày đầu cầm bút, Bằng Việt đã nhận được sự quantâm của đông đảo bạn đọc ở nhiều tầng lớp, lứa tuổi và cả giới nghiên cứu,phê bình văn học Các tài liệu nghiên cứu về thơ Bằng Việt khá đa dạng,trong đó có nhiều công trình nghiên cứu của những người có uy tín

Lê Đình Kỵ trong Hương cây – Bếp lửa, đất nước và đời ta có viết:

Một tâm hồn nhiều suy nghĩ và rung động tinh tế, một chủ nghĩa trữ tình xao động, bồi hồi, khi đậm đà duyên dáng, khi âm vang sâu thẳm… Ngay từ bài đầu (Qua Trường Sa), Bằng Việt đã tỏ ra không giống ai, rao rực mà tươi mát, giản dị hồn nhiên mà không dễ dãi Mỗi bài thơ Bằng Việt đều có nét bút riêng…

Nguyễn Xuân Nam khi đánh giá về thơ Bằng Việt cũng dành nhiều lời

khen cho thơ ông: Bằng Việt có tiếng nói sâu lắng và trong sáng của lớp

thanh niên trí thức mới… Đọc thơ anh, có lúc như gặp lại một người bạn thân, một người anh em trong gia đình, hay gặp lại một thời hoa niên của chính mình Cảm giác gần gũi, thân thiết ấy là một nét hấp dẫn trong thơ Bằng Việt (Trích: Nhà văn hiện đại Việt Nam).

Trang 8

Nhà thơ Anh Ngọc trong bình luận thơ Hồn thơ thế kỉ có nhận xét:

Bằng Việt xuất hiện vào khoảng giữa những năm 60, gần như cùng lúc với Lưu Quang Vũ và tập thơ in chung của hai người “Hương cây – Bếp lửa” có một vị trí quan trọng trong nền thơ chống Mỹ Riêng với Bằng Việt, giọng thơ “có học” sang trọng của anh đã nhanh chóng thu hút được sự chú ý của đông đảo công chúng yêu thơ vốn đã thấm nhuần nền học vấn do chế độ mới mang lại.

Nhà thơ Nguyễn Thanh Kim viết: Thơ Bằng Việt đậm chất hào hoa

phong nhã, có giọng điệu tinh tế, giàu tư duy trí tuệ… Bằng Việt mở rộng lòng anh với mọi người, đồng thời thu lại trong một cá thể sáng tạo với bao biến thể của tâm trạng Anh vừa là nhân chứng của lịch sử vừa là kẻ tnh nhân mê đắm, vừa là kẻ đồng hành, đồng cảm vui buồn với bạn đọc yêu thơ, vừa là kẻ phiêu du trong trời đất và hồn người… Nhưng trước hết, nhà thơ – anh là anh trong chứng nghiệm (Tạp chí giáo dục và Thời đại, số 48).

Nhà phê bình văn học Nguyễn Hoàng Sơn trong Lời tựa cho tuyển thơ

Thơ với tuổi thơ của Bằng Việt đánh giá: “Những trang sách suốt đời đi vẫn nhớ/ Như đám mây ngũ sắc ngủ trong đầu” Nghe nói nhờ bài thơ này và nhiều bài thơ dịch của ông Ônga Bécgôn mà Bằng Việt trở thành thần tượng của cánh sinh viên khoa văn các trường đại học một thời Những câu thơ chấm phá rất sương khói, sự hiểu biết và đồng cảm về một chân trời văn học đương có sức hấp dẫn lớn, giọng thơ lạ và mới vào thời điểm ấy (1969) là những nguyên nhân khiến bài thơ neo được vào tâm trí bạn đọc.

Năm 2005, Bằng Việt đoạt giải thành tựu trọn đời của Hội Nhà văn Hà

Nội cho Thơ trữ tình thế giới thế kỉ XX, với nhận xét: Nhiều bài thơ đã trở

nên quen thuộc với các thế hệ người yêu thơ trong suốt bốn thập kỉ qua, mang dấu ấn tâm hồn và nét sang trọng, tinh tế của người chuyển ngữ.

Nhà thơ Anh Chi viết trong Tập san Nhà văn: Vào mùa thu này, Bằng

Việt cho ra mắt bạn đọc tập thơ “Ném câu thơ vào gió”, gồm 45 bài, chính là

Trang 9

sản phẩm của chặng đường thơ anh vừa đi qua Và tập thơ lại được bạn đọc và giới quan tâm chú ý Một giọng thơ mềm mại, những tứ thơ sắc sảo, sức suy tưởng dồi dào của một Bằng Việt quen thuộc từ ba mươi năm trước.

Trịnh Thanh Sơn khi đọc tập thơ Ném câu thơ vào gió có viết: Đọc tập

thơ “Ném câu thơ vào gió” bạn đọc sẽ gặp lại một thi sĩ Bằng Việt của ngày xưa, của hôm nào, nhưng là Bằng Việt của hôm nay, thâm trầm hơn rất nhiều chiêm nghiệm và từng trải (Say đắm vẫn còn khi Ném câu thơ vào gió – Tạp

chí Văn nghệ, số 52)

Ngoài ra còn rất nhiều bài nghiên cứu, phê bình văn học, tiểu luận,luận án, luận văn… viết về Bằng Việt và thơ của ông, như các tác giả: NguyễnTrọng Hoàn, Hà Minh Đức, Mai Thị Thanh Hương, Trần Quang Quý,Nguyễn Xuân Nam…

Qua việc tìm hiểu các tài liệu, chúng tôi thấy từng bài thơ, tập thơ vàtừng khía cạnh trong nội dung và nghệ thuật thơ Bằng Việt đều được các tácgiả nhận định xác đáng Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu,khái quát thơ Bằng Việt từ góc độ tư duy nghệ thuật, nhất là trong các tập

thơ sau đổi mới của ông Từ thực tế đó, chúng tôi thực hiện đề tài Thơ Bằng

Việt từ góc nhìn tư duy nghệ thuật với mong muốn đóng góp công sức nhỏ

bé của mình trong việc khám phá thơ Bằng Việt Đồng thời, góp phần vàoviệc tm hểu và làm sáng tỏ những đóng góp của Bằng Việt đối với tiến trìnhthơ hiện đại Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tư duy thơ Bằng Việt Để làm rõđối tượng nghiên cứu, chúng tôi đi sâu vào tm hiểu những thành tốquan trọng tạo nên tư duy nghệ thuật trong thơ Bằng Việt Trong đó tập

Trang 10

trung khảo sát ở một số phương diện chủ yếu: hành trình sáng tác và quanniệm về thơ;

Trang 11

cảm hứng chủ đạo và nhân vật trữ tnh; một số đặc điểm thuộc phương thức nghệ thuật.

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi tiến hành khảo sát toàn bộ

những tác phẩm đã xuất bản, trong đó tập trung vào các tập thơ: Bếp lửa;

Những gương mặt, những khoảng trời; Đất sau mưa; Khoảng cách giữa lời; Ném câu thơ vào gió; Nheo mắt nhìn thế giới Bên cạnh đó, để làm nổi

bật đề tài, chúng tôi cũng sử dụng những sáng tác của các nhà thơ cùng thờivới tác giả Bằng Việt để đối chiếu, so sánh, soi sáng cho đề tài

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài Thơ Bằng Việt từ góc nhìn tư duy nghệ thuật,

chúng tôi đã sử dụng đồng thời các phương pháp nghiên cứu sau:

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn có thể đóng góp ở hai phương diện:

Thứ nhất: hệ thống hoá một số phương diện tư duy tiêu biểu trong hệhình tư duy của thơ để nghiên cứu trường hợp tác giả cụ thể

Trang 12

Thứ hai: Thông qua việc tiếp cận thơ Bằng Việt, chỉ ra được đặc điểm

tư duy thơ Bằng Việt từ đó khẳng định những đóng góp của ông trong tiếntrình thơ Việt Nam hiện đại

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và mục tài liệu tham khảo, luận văn đượctriển khai thành ba chương:

Chương 1: Khái lược về tư duy thơ và hành trình sáng tác thơ BằngViệt

Chương 2: Những nguồn cảm hứng chủ đạo và hình tượng nhân vật trữtình trong thơ Bằng Việt

Chương 3: Một số đặc điểm thuộc phương thức nghệ thuật

Trang 13

NỘI DUNG

Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ TƯ DUY THƠ

VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC THƠ BẰNG VIỆT 1.1 Khái niệm về tư duy nghệ thuật và tư duy thơ

Tư duy là quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất, nhữngmối liên hệ và quan hệ bên trong có quy luật của sự vật, hiện tượng trong

hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết Theo Từ điển triết học của M Roodentan; P Iudin thì: Tư duy là một hoạt động nhận thức lí tính của

con người Khí quan của tư duy chính là bộ óc người với hệ thống tinh vi của gần

16 tỉ tế bào thần kinh [26; 676].

Theo triết học duy vật biện chứng, tư duy xuất hiện trong quá trìnhhoạt động của con người Trong quá trình đó, con người so sánh các thôngtin, dữ liệu thu được từ nhận thức cảm tnh hoặc các ý nghĩ với nhau Trảiqua các quá trình khái quát hoá, trừu tượng hoá, phân tích và tổng hợp đểrút ra các khái niệm, phán đoán, giả thuyết… Kết quả của quá trình tư duybao giờ cũng là sự phản ánh khái quát các thuộc tnh, các mối liên hệ phổbiến, các quy luật không chỉ ở một sự vật riêng lẻ mà còn ở một nhóm sự vậtnhất định

Tư duy chỉ nảy sinh khi con người nhận thức được tình huống Tuynhiên không phải tình huống nào cũng nảy sinh tư duy mà chỉ những tìnhhuống “có vấn đề” khiến con người phải giải quyết để thoả mãn nhu cầu thìmới nảy sinh tư duy Đặc trưng của tư duy là phản ánh các mối quan hệ giữacon người đối với thế giới khách quan Phương tiện của tư duy chính là ngônngữ và chỉ có ở ngôn ngữ, tư duy mới được biểu hiện một cách rõ rệt và thểhiện được hết tính chất của nó

Trang 14

1.1.1 Tư duy nghệ thuật

Tư duy nghệ thuật là tư duy được thể hiện và thực hiện trong quá trìnhsáng tạo nghệ thuật Sáng tạo nghệ thuật là hình thái đặc trưng và là hình

thái cao nhất của hoạt động thẩm mĩ Theo Từ điển thuật ngữ văn học:

Tư duy nghệ thuật là dạng hoạt động trí tuệ của con người hướng tới sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật Tư duy nghệ thuật là một bộ phận của hoạt động nghệ thuật nhằm khái quát hoá hiện thực và giải quyết nhiệm

vụ thẩm mĩ Phương tiện của nó là các biểu tượng, tượng trưng có thể trực quan được Cơ sở của nó là tình cảm Dấu hiệu bản chất của tư duy nghệ thuật là ngoài tính giả định, ước lệ, nó hướng tới việc nắm bắt những sự thật đời sống cụ thể, cảm tính mang nội dung khả nhiên (cái có thể) [7;

381].Tác giả Nguyễn Bá Thành cũng bàn khá nhiều về tư duy nghệ thuật Trong cuốn Tư duy thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nam ông nhận định: Tư

duy nghệ thuật là sự khôi phục sáng tạo của các biểu tượng trực quan, là sự hình tượng hoá hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan […] Tư duy nghệ thuật chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới quan và nhân sinh quan của người sáng tạo [35; 54] Cũng cần phân biệt giữa tư duy khoa học và

tư duy nghệ thuật Khả năng tưởng

tượng của tư duy khoa học là ở chỗ trừu tượng hoá, vô hình hoá các sự vật, hiện tượng Còn nhà thơ thì cụ thể hoá, hình tượng hoá hiện thực khách quan theo một đường dây liên tưởng [35; 59] Nghệ thuật là tôi, khoa học là chúng ta [35; 54].

Là hình thái kết tinh của tư duy thẩm mĩ, tư duy nghệ thuật có nhữngđặc trưng riêng biệt, biểu hiện trên các phương diện

sau:

Thứ nhất: Tư duy nghệ thuật là tư duy tái hiện, tái tạo Nếu tư duy khoahọc hướng đến việc phát hiện bản chất, các quy luật của đối tượng, sự vật vàthể hiện kết quả dưới dạng khái niệm trừu tượng thì tư duy nghệ thuật là

Trang 15

tái hiện, tái tạo hiện thực cuộc sống dưới những hình tượng cụ thể, sinhđộng.

Trang 16

Trong tư duy nghệ thuật, công cụ tư duy không phải là các khái niệm mà bảnchất, các quy luật của hiện thực được biểu hiện qua hình tượng cụ thể, sinhđộng Hình tượng nghệ thuật là sáng tạo của chủ thể tư duy Xét về phươngdiện nhận thức luận, hình tượng nghệ thuật về bản chất, cũng là sự phản ánhhiện thực, tuy nhiên sự phản ánh này không phải là trực tiếp mà là giántiếp và được thực hiện thông qua sự sáng tạo mang tnh cá nhân, in đậmdấu ấn chủ thể Vì thế, tư duy nghệ thuật không chấp nhận sự giống nhau, sựlặp lại hay sao chép Nó luôn giả định tính cá biệt, điển hình và độc đáo.

Thứ hai: chất liệu của tư duy nghệ thuật được lấy từ hiện thực nhưngkết quả của nó (tức là hình tượng nghệ thuật) không phải là sự sao chép ynguyên hiện thực mà có sự hư cấu, sáng tạo của người nghệ sĩ Tư duy nghệthuật đích thực luôn là tư duy sáng tạo Mỗi hình tượng nghệ thuật, mỗi tácphẩm nghệ thuật đều khai mở những cách cảm, cách nghĩ, cách nhìn nhậncon

người độc đáo, sáng tạo Tính sáng tạo trong tư duy nghệ thuật được thựchiện một cách đặc biệt thông qua các năng lực: cảm nhận, đánh giá vànhững liên

tưởng đa chiều Những năng lực này là biểu hiện của năng lực sáng tạo trong

tư duy nghệ thuật; bởi cùng chứng kiến một sự vật, hiện tượng nhưng ngườinghệ sĩ nhìn thấy những điều nguời khác không thấy

Thứ ba: Tư duy nghệ thuật bao hàm cả tình cảm, cảm xúc của ngườinghệ sĩ Người nghệ sĩ cảm xúc trước các cảnh đời, số phận con người, cáchiện tượng của cuộc sống, từ đó mà sáng tạo nên các tác phẩm, nhữnghình

tượng nghệ thuật Thậm chí những vật vô tri của thế giới tự nhiên thôngqua cảm xúc và sự tái tạo của người nghệ sĩ cũng trở nên sinh động, có tìnhcảm, tâm hồn Người xưa hay dùng từ cảm tác (nhân cảm xúc mà sáng tác)trong tiêu đề một bài thơ hoặc đề từ một bức tranh là có ý như vậy.Nghệ thuật không phải là sự cắt nghĩa, lí giải tường tận mà là sự giãi bày

Trang 17

tình cảm, tâm tư, gửi gắm những xúc cảm sâu kín nhất của tâm hồn Cáctác phẩm nghệ thuật là sự kết tinh của tâm tư, tình cảm, nguyện vọng củangười nghệ sĩ.

Trang 18

Thứ tư: Tư duy nghệ thuật không chỉ có yếu tố tnh cảm, cảm xúc màcòn có yếu tố trí tuệ, tri thức Hình tượng nghệ thuật không chỉ là biểuhiện mà còn phản ánh, do vậy tư duy nghệ thuật là quá trình khám phá, pháthiện thông qua cảm xúc Nghệ thuật không khám phá những quy luật, lí giảinhững chân lí cuộc sống mà khám phá bên trong con người, hướng con ngườiđến những giá trị nhân đạo Cũng như tư duy nói chung, tư duy nghệthuật có chức năng cung cấp cho con người những tri thức nhất định Đó lànhững tri thức đa dạng, phức tạp về đời sống, nhất là đời sống tâm hồn conngười Những tri thức này không dễ dàng gì để khái quát trong các công thức,định luật; hơn nữa xã hội và bản thân mỗi con người luôn luôn biến đổi Chonên không có sự chính xác tuyệt đối trong tư duy nghệ thuật mà chỉ là những

sự phản ánh mang tính chất tương đối Để khái quát được những thay đổisinh động ấy, người nghệ sĩ đã xây dựng những hình tượng nghệ thuật Cáchình

tượng nghệ thuật ngày càng đa dạng, phức tạp, đa trị để biểu hiện tối đanhất những nội dung mà người nghệ sĩ muốn gửi gắm Cùng với đó là tínhchất dự báo trong văn học Chính vì có khả năng dự báo nên một số nhà văntài năng đã cho thấy cái nhìn vượt thời đại của tư duy nghệ thuật

Thư năm: Trong tư duy nghệ thuật, phương diện tình cảm, cảm xúc vàphương diện trí tuệ, tri thức không tồn tại độc lập, tách rời nhau Trithức trong nghệ thuật là tri thức được bộc lộ thông qua cảm xúc Người nghệ

sĩ trong trạng thái cảm xúc mà nhận diện cuộc sống, khái quát và thể hiệncuộc sống Cũng giống như vậy, những cảm xúc trong sáng tạo nghệ thuật,cảm thụ nghệ thuật không phải là những cảm xúc thuần tuý mà là nhữngcảm xúc mang trí tuệ, được nảy sinh trên cơ sở vốn tri thức, phông văn hoácủa người nghệ sĩ và công chúng đón nhận Do vậy, cùng một tác phẩmnghệ thuật nhưng đối tượng tiếp nhận khác nhau thì cách hiểu về tác phẩm

Trang 19

ấy cũng khác nhau Là sự thống nhất giữa phương diện tình cảm, cảm xúc vàphương diện lí

Trang 20

trí, trí tuệ, tư duy nghệ thuật góp phần tạo nên sự cân bằng trong lốisống, khắc phục sự thiên lệch trong đời sống con người.

Thứ sáu: Hình tượng nghệ thuật là sự thống nhất giữa cái hiện thực vàcái lí tưởng, ước mơ Người nghệ sĩ xuất phát từ hiện thực nhưng nhìn nhậnhiện thực thông qua lí tưởng thẩm mĩ của mình Lí tưởng thẩm mĩ chính làhình ảnh mơ ước của người nghệ sĩ về con người và xã hội, đặc biệt là nhữnggiá trị về nhân cách con người Nó được hình thành trong tư duy nghệ thuật,đồng thời là phương thức để tư duy nghệ thuật quán triệt hiện thực, nhìnnhận hiện thực cuộc sống một cách tích cực, lạc quan Theo nghĩa này, tư duynghệ thuật góp phần tạo ra niềm tin, động lực cho cuộc sống, làm cho conngười

hướng đến những giá trị nhân

văn

Sau cùng, với tư cách là tổng hoà tất cả các đặc trưng trên, tư duy nghệthuật là tư duy hướng tới cái đẹp, tư duy về cái đẹp, cổ vũ cho cái đẹp Hìnhtượng nghệ thuật chính diện là sự phản ánh, kết tinh, thăng hoa và tôn vinhcái đẹp trong đời sống hiện thực Hình tượng nghệ thuật phản diện cũng giántiếp thực hiện chức năng này; vì khi sáng tạo nó, người nghệ sĩ dựa trên cơ

sở khẳng định cái đẹp để phê phán cái xấu Do vậy, dù là hình tượng nghệthuật chính diện hay phản diện đều nêu cao tình cảm, thái độ khẳng địnhcái đẹp, phê phán cái xấu Cái đẹp là trung tâm của quan hệ thẩm mĩ, quan

hệ nghệ thuật giữa con người và hiện thực

1.1.2 Tư duy thơ

Theo tác giả Nguyễn Bá Thành trong cuốn Tư duy thơ và tư duy thơ

hiện đại Việt Nam thì Tư duy thơ là một phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật, nhưng nó mang trong mình khả năng biểu hiện phong phú nhờ ngôn ngữ thơ [35; 54] So với các loại hình nghệ thuật khác, khả năng biểu

hiện của tư duy thơ phong phú và đa dạng hơn Phương tiện biểu hiện là

Trang 21

ngôn ngữ với tất cả hệ thống kí hiệu, dấu câu, biện pháp tu từ… phong phúcủa nó.

Trang 22

Ngôn ngữ thơ cũng là phương tiện tư duy cao nhất, ở đó con người nhìn nhậnthế giới và chuyển hoá những tri thức vào não bộ của mình.

Nói đến tư duy thơ ta không thể không nói đến chủ thể trữ tình bởi sựthể hiện cái tôi trữ tình, cái tôi đang cảm xúc, cái tôi đang tư duy chính là điềuquan trọng nhất trong tư duy thơ Đọc thơ ta luôn bắt gặp bóng dángcon

người đang nhìn ngắm, đang rung động, suy tư về cuộc sống Con người ấyđược gọi là chủ thể trữ tình Nói cách khác, chủ thể trữ tình là con người đangcảm xúc, suy tư trong tác phẩm thơ Cần phân biệt chủ thể trữ tình với

nhân vật trữ tình Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học xác định: Nhân

vật trữ tình là hình tượng nhà thơ trong thơ trữ tình, phương thức bộc lộ ý thức của tác giả [7; 234] Tuy nhiên mọi ranh giới đều mang tính chất

tương đối Có tác phẩm cả chủ thể trữ tnh và nhân vật trữ tnh đồng nhấtvới nhau và đồng nhất với con người tác giả, cũng có những tác phẩmngười đọc có thể nhìn thấy chủ thể trữ tình có sự khác biệt với nhân vật trữtình

Chủ thể trữ tình trong thơ được biểu hiện chủ yếu dưới hai dạng thức làchủ thể trữ tnh trực tiếp và chủ thể trữ tình gián tiếp Ở dạng trực tiếp đó

là tnh cảm, cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ… của tác giả được giãi bày trực tiếp

và làm thành nội dung chủ yếu của tác phẩm Ở đây nhà thơ có thể biểu hiệncảm xúc cá nhân của mình mà không cần làm theo bất cứ một sự miêu tả biến

cố, sự kiện nào Người đọc cảm nhận trước hết là thế giới nội tâm, thái độ,cảm xúc, tâm trạng của nhân vật trữ tình đối với con người, thiên nhiên Nhàthơ không cần phải miêu tả kĩ về con người và những nguyên nhân cụ thể dẫntới những tnh cảm đó Điều này chứng tỏ sự biểu hiện trực tiếp của thế giớichủ quan của tác giả là đặc điểm tiêu biểu nhất của tư duy thơ Bên cạnh đó,chủ thể trữ tnh còn được xác lập trong mối quan hệ giữa con người và thựctại khách quan bởi vì mọi cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ của con người bao giờ

Trang 23

cũng là cảm xúc về cái gì, tâm trạng trước vấn đề nào đó Do đó, hiện tượngcuộc sống vẫn được

Trang 24

thể hiện trong tác phẩm trữ tnh Dù thể hiện qua thế giới chủ quan của conngười, tác phẩm trữ tình vẫn coi trọng việc miêu tả các sự vật, hiện tượngtrong đời sống khách quan bằng chi tiết chân thật, sinh động Như vậy, tư duythơ cũng phản ánh thế giới khách quan, nhưng chức năng chủ yếu của nó lànhằm biểu hiện những tâm trạng, cảm xúc, suy nghĩ của con người.

Như vậy, tư duy thơ không chỉ hướng nội mà còn có khả năng hướngngoại Nếu hướng nội là bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc,… của nhà thơ thì hướngngoại là bộc lộ những suy nghĩ, cảm xúc về hiện thực khách quan và biểu hiện

nó dưới lăng kính thẩm mĩ của nhà thơ Tìm hiểu về thơ chính là quá trình đi

tm hiểu về sự vận động của chủ thể trữ tnh trong cả hướng nội và hướngngoại

1.2 Hành trình sáng tác thơ của Bằng Việt

1.2.1 Những chặng đường và thành tựu chính

Giữa những năm 60 của thế kỉ trước, công chúng văn học đã đượcchứng kiến sự xuất hiện của một loạt cây bút trẻ mà chỉ ít lâu sau đã trởthành chủ lực của thi đàn Đó là Lưu Quang Vũ, Bằng Việt, Xuân Quỳnh,Phạm Tiến Duật, Vũ Quần Phương, Phan Thị Thanh Nhàn,… và không lâu sau

đó là sự xuất hiện của Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Mậu, Lâm Thị Mỹ Dạ, HoàngNhuận Cầm, Anh Ngọc, Hữu Thỉnh,… Trong đội ngũ sáng tác đông đảo này,Bằng Việt là một gương mặt riêng, có giọng điệu riêng không bị khuất lấp,nhầm lẫn trong dàn đồng ca hùng mạnh ấy Dù viết về những năm thángchiến tranh, cuộc sống hoà bình hay thời hiện đại, thơ Bằng Việt đều mangtnh trí tuệ, suy tưởng mà vẫn sinh động, gần gũi với cuộc sống Đó chính là

sự riêng biệt mà nhà thơ đã tạo ra bằng chính tài năng của mình

Bằng Việt sinh ngày 15 tháng 6 năm 1941, nguyên quán xã Chàng Sơn,huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội, nhưng ông sinh tại phường Phú Cát,thành phố Huế Tri thức, kiến văn và tâm hồn thơ trữ tình giàu tưởng tượng

Trang 25

cùng với truyền thống gia đình đã góp phần làm nên tư chất và phẩm cáchthơ

Trang 26

Bằng Việt Sinh ra vào đúng thời kì lịch sử oai hùng của dân tộc, tuổi thơ tácgiả sống trong những sự kiện vang động của cuộc kháng chiến chốngthực dân Pháp Giã từ chiếc khăn quàng đỏ thời niên thiếu, Bằng Việt họcxong trung học tại Hà Nội và được cử đi học Đại học Luật ở Liên Xô Chínhtrong thời gian này, việc tiếp xúc với một nền văn hoá lớn cùng nhiều têntuổi văn học lớn của thế giới đã tác động không nhỏ đến phong cách sángtác và con

đường dịch thuật của Bằng Việt Sau khi tốt nghiệp khoa Pháp lí, Đại họcTổng hợp Kiev vào năm 1965, ông trở về Việt Nam công tác tại Viện Luật học.Đến năm 1970, ông tham gia công tác tại chiến trường Bình Trị Thiên với

tư cách là một phóng viên chiến trường, lúc này ông đã chuyển sang công tác

ở Hội Nhà văn Việt Nam Chính những trải nghiệm ở chiến trường đãmang đến cho ngòi bút Bằng Việt những vần thơ đầy chân thực về chiếntranh và những con người anh hùng Sau hoà bình, Bằng Việt tiếp tụctham gia công tác văn hoá văn nghệ và giữ nhiều cương vị quan trọng Nhữngtiếp xúc trực tiếp với cuộc sống đời thường đã đem đến cho thơ ông nhữngsuy tư, trải nghiệm tạo nên độ sâu lắng nhất định cho thơ

Bằng Việt làm thơ từ năm 13 tuổi nhưng bài thơ đầu tiên được công bố

là bài Qua Trường Sa viết năm 1961 Ông đã thể nghiệm nhiều loại thơ:

không vần, xuống thang rồi bắc thang… những hình thức đã có trong thơ ViệtNam và thơ thế giới Tập thơ đầu tay của ông (in chung với Lưu Quang Vũ)

Hương cây – Bếp lửa xuất bản năm 1968 đã để lại dấu ấn đậm nét trên

thi đàn Đồng hành với tiến trình thơ hiện đại Việt Nam, nhìn một cách kháiquát có thể chia thơ Bằng Việt thành hai chặng lớn:

Chặng thứ nhất: Những vần thơ ông viết trước thời kì đổi mới Ở chặngđường này, thơ Bằng Việt chủ yếu hướng về đất nước và con người trongchiến tranh, thể hiện niềm tin tất thắng của cả dân tộc Những tập thơ

Trang 27

tiêu biểu đã xuất bản như: Hương cây – Bếp lửa (in chung với Lưu Quang

Vũ –

Trang 28

1968); Những gương mặt, những khoảng trời (1973); Đất sau mưa (1977);

Khoảng cách giữa lời (1984).

Viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ là một trong những nhiệm vụ hàngđầu của nền văn học nói chung và thơ ca nói riêng thời kì kháng chiến chống

Mỹ Nó là đòi hỏi của dân tộc và thời đại, đồng thời cũng là đòi hỏi của chínhnền thơ ca kháng chiến Nhiều nhà thơ thuộc nhiều thế hệ đã viết về chiếntranh bằng cái nhìn riêng, in đậm cá tnh sáng tạo Những vần thơ củanhững

người cầm súng, những vần thơ như còn vương bụi đất chiến trường vàkhét lẹt mùi bom đạn luôn được bạn đọc chờ đợi, đón nhận Bằng Việt

là một trong những nhà thơ trực tiếp tham gia vào chiến trường và đemđến cho thơ hiện thực khốc liệt đó cùng những suy tư mang chiều sâu triết lí

Thơ Bằng Việt thời chống Mỹ đưa người đọc đi vào thế giới hiện thựccủa chiến tranh, đến những nơi gian khổ nhất, nóng bỏng nhất, ác liệt nhấtcủa Trường Sơn khói lửa Thơ ông phản ánh được một phần không khíkhẩn trương, ác liệt mà hào hùng của những năm tháng “xẻ dọc Trường Sơn

Tôi đi dọc rừng già, đất nước đau thương Những em bé gầy đen băng rừng tìm bộ đội Những cụ già quắt khô nhìn không còn biết tuổi Lẳng lặng đào hầm, canh thú, tra nương

Trang 29

(Bản cũ giữa rừng Lào)

Trang 30

Chiến tranh khắc nghiệt với tất cả mọi người, nhưng có lẽ những đứatrẻ là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi, gian khổ nhất Tuổi thơ vô tư đãsớm làm quen với những kinh hoàng của chiến tranh, chết chóc:

Cùng tiếng “mẹ”, tiếng “cha”, là bập bẹ “máy bay”

Bài hát đầu tiên là “Mẹ đào hầm”

Đồ chơi đầu tiên là cây súng nhựa Khi ôm con búp bê - mảnh khăn trùm quanh cổ Cũng cắt ra từ vải nhuộm phòng không

(Từ chiến trường lại viết cho con)

Nhưng cũng chính trong những trang thơ này, ông luôn luôn giữ niềmtin bất diệt vào ngày toàn thắng, vào tương lai tươi sáng của dân tộc:

Cửa ngõ chiến trường thắm một sắc màu riêng Đưa tôi bước vào niềm thông cảm lớn:

Những đôi mắt nhìn tôi không vết gợn Những bàn tay trong sạch nắm tay tôi

…Tôi hiểu ra Cửa ngõ chiến trường Cửa ngõ của lòng tin!

(Trước cửa ngõ chiến trường)

Tôi đi thẳng vào lòng đất mở Đất khai sinh cạnh đất đã chôn vùi

(Ghi từ một vùng đất lửa)

Sự cộng hưởng của không khí chiến trận hào hùng cùng với một tráitim tha thiết yêu thương đã thăng hoa thành thơ ca nghệ thuật Những nămtháng oanh liệt ở Trường Sơn đã đem đến cho nhà thơ nguồn cảm hứngmãnh liệt để ông viết nên nhiều bài thơ hay, độc đáo Sự hình thành phongcách, tư duy thơ Bằng Việt được thể hiện ngay trong những vần thơ chống

Mỹ Dù

Trang 31

viết về chiến tranh, đạn bom và cuộc sống gian lao đến tận cùng, thơ ôngvẫn luôn giàu suy tư và triết lí.

Chặng thứ hai: thơ Bằng Việt sau thời kì đổi mới Ở chặng này, nhà thơhướng ngòi bút vào cuộc sống hiện thực mau lẹ, những biến đổi của xãhội với sự chuyển mình mạnh mẽ Chất triết lí, suy tư được ông đưa vào thơmột cách đậm nét Những tập thơ đã xuất bản của ông trong giai đoạn này

như gồm: Phía nửa mặt trăng chìm (1995), Ném câu thơ vào gió (2001), Thơ

trữ tình (2002), Nheo mắt nhìn thế giới (2008), Oẳn tù tì (2016).

Những vần thơ của Bằng Việt giai đoạn này mang đậm tnh chất triết lí

về cuộc sống Những thay đổi nhanh chóng của cuộc sống hiện đại được ôngtái hiện trong thơ bằng cái nhìn nhuốm nỗi buồn và đôi khi chua xót:

Lịch sử đã sang trang cuộc sống khá lên nhiều Những vất vả chiến tranh, hầu như dần xoá hết Mọi giá trị thuở xưa quen đo bằng sống – chết Thì hôm nay gắn chặt với giàu – nghèo

(Thơ vui đùa bạn)

hay:

Cơm ai, người nấy ăn Việc ai, người nấy làm Bạn ai, người nấy tiếp

(Vợ thời @)

Những vần thơ vẫn đậm chất hiện thực nhưng không còn là một hiệnthực hào hùng của cả dân tộc mà là một hiện thực của thời đại kinh tế thịtrường Con người dần trở thành những cỗ máy vô cảm, mọi giá trị của xã hộiđều bị quy chụp bằng vật chất “gắn chặt với giàu nghèo” Một người đã trảiqua sống chết ở chiến trường để có được hoà bình, nay lại chứng kiến nhữngbiến đổi quá nhanh chóng của thời đại đã đẩy vào thơ Bằng Việt nhữngchiêm nghiệm đôi lúc cả xót xa

Trang 32

Ngoài ra Bằng Việt còn dịch thơ của các nhà thơ Yannis Ritsos (HyLạp), Pablo Neruda (Chile); các nhà thơ Nga cổ điển và hiện đại: A Puskin, M.Lermontov, S Esenin, E Evtushenko, O Berggoltz, M Aliger…; các nhà thơPháp: G Apollinaire, P Eluard và tham gia biên soạn một số từ điển văn học.

Với sự lao động miệt mài trong suốt hành trình sáng tác, ông đã đượcnhận nhiều giải thưởng có giá trị và để lại dấu ấn trong lòng độc giả Nhiềubài đã trở nên quen thuộc với các thế hệ người yêu thơ trong hơn bốn thập kỉqua Những vần thơ mang dấu ấn tâm hồn, nét sang trọng và tinh tế củangười sáng tạo

1.2.2 Bằng Việt và những nhà thơ cùng thời

Cũng như nhiều nhà thơ khác xuất hiện cùng thời, Bằng Việt có hàngchục bài thơ về chiến tranh và lòng yêu nước, về những biến động của thờicuộc Phần ấn tượng của thơ Bằng Việt chính là khi nhà thơ đi sâu vào nhữngsuy nghĩ về kiếp người, về tnh yêu và hạnh phúc lứa đôi Thế giới thơ ông làthế giới của nỗi lòng, của mộng tưởng, của hoài tiếc xen với nỗi ngậm ngùi

Đó là điều làm nên phẩm chất thi nhân và tài năng của tác giả Ông có nhữnghình tượng thơ độc đáo, những câu thơ sang trọng như chắt ra từ chínhnỗi lòng tinh khiết:

Giọt nước soi trên tay không cùng màu sóng bể Một bầu trời vĩnh viễn ướp hương hoa

Trang 33

Chút xôn xao trong hàng cây nắng nhỏ Giọt nước tròn rung rinh trong lá sen

Cả gợn sóng mơ hồ trong ánh mắt riêng em

(Thơ tình ngày biển động)

Cùng với thời gian, những xao xuyến ban sơ buổi đầu dần qua,thơ Bằng Việt ngày càng thêm nặng ưu tư, mang xu hướng ngẫm ngợi về sựđổi thay, còn mất trong cuộc đời, trong tình yêu, tnh bạn Đôi khi thơ ôngnhư một khúc nhạc trầm gợi ngẫm về suy nghĩ, hạnh phúc lứa đôi Có lúc là

sự thức ngộ về những bí ẩn của hạnh phúc Biết bao nhiêu người từng sống,từng mơ ước, tưởng chừng như có thể đạt đến cái đích của cuộc đời Nhưngkhông, hoá ra tất cả chỉ như một ảo giác, gần đấy mà xa đấy, hiện hữu đấy

người trên đường đi tìm kiếm hạnh phúc của đời mình

Có một điều cần nói là trong thơ Bằng Việt luôn có nỗi nhớ tiếc cuộcđời, niềm khao khát sống trở thành một cảm giác thường trực và lớn dần lêntheo năm tháng Con người không thể chống lại những quy luật hà khắc củathời gian, cho nên thơ ông vẫn vang vọng lời than trách cho kiếp phận vànhững nghịch lí đời người:

Trang 34

Nhanh quá thế mà cũng buồn quá thế Chớp mắt xong, là đã một đời người

(Tự sự)

Đó là nỗi buồn của tnh yêu đời, nỗi buồn làm cho người ta khao khátsống hơn, làm cho người ta có trách nhiệm hơn với chính mình và nhữngngười xung quanh

Những năm gần đây, Bằng Việt có dịp suy nghĩ lại nhiều điều Khicuộc sống chuyển sang cơ chế thị trường, khi sự hội nhập toàn cầu đã tạonên nhiều biến chuyển, đảo lộn nhiều giá trị, thơ ông cũng có những tìm tòimới Ngoài những bài thơ mà phần lớn là những bài thơ buồn nói lên nghịch

lí, những đổi thay của thời thế, có lúc ông chuyển sang làm những bài thơgần với thơ thiền, có xu hướng thoát tục để tìm về bản thể và sự thanh tĩnh:

Cỏ hữu hạn, xanh veo vào bất tử Lòng hoàn nguyên rửa sạch với thinh không

(Vườn Nhật Bản)

Như đã trình bày ở trên, Bằng Việt trưởng thành trong kháng chiếnchống Mỹ, vì vậy để đánh giá về thơ ông, ta không thể tách rời Bằng Việt vớicác nhà thơ cùng thời Đó là thế hệ những nhà thơ trẻ thời kháng chiếnchống Mỹ và ở giai đoạn sau là những nhà thơ đương đại

Thơ chống Mỹ được hình thành từ nhiều thế hệ nhà thơ: thế hệ nhàthơ xuất hiện từ trước Cách mạng (Tố Hữu, Xuân Diệu, Chế Lan Viên,…), thế

hệ nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Pháp (Nguyễn ĐìnhThi, Chính Hữu, Hoàng Trung Thông,…) và thế hệ nhà thơ trưởng thành từcuộc kháng chiến chống Mỹ Mỗi thế hệ nhà thơ nói trên đều có những đónggóp đáng ghi nhận đối với nền thơ chống Mỹ Bên cạnh đó, mỗi nhà thơ bằngphong cách riêng của mình đã đem đến một cách nhìn, cách cảm nhậnriêng về cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của dân tộc, nói lên được mộtphần hiện

Trang 35

thực lớn lao của đất nước Thế hệ nhà thơ – chiến sĩ , những nhà thơ trẻ xuấthiện từ đầu những năm 60, đặc biệt đông đảo trong thời kì kháng chiếnchống Mỹ, đem lại cho thơ sức sáng tạo mới, trẻ trung, trong sáng, gợicảm, mà trong đó không ít tài năng đã sớm được chú ý và khẳng định như:Nguyễn Khoa Điềm, Lưu Quang Vũ, Bằng Việt, Phạm Tiến Duật, NguyễnDuy, Hoàng Nhuận Cầm, Thanh Thảo, Lê Anh Xuân, Hữu Thỉnh,… Trong độingũ đông đảo hàng vạn thanh niên cầm súng đi vào chiến trường miềnNam đã nảy nở nhiều tài năng thơ như một nhu cầu tự ý thức và tự biểuhiện của thế hệ trẻ Tình cảm lớn lao đã trở thành mạch nguồn dồi dào chocảm hứng thơ ca Vừa cầm súng, vừa cầm bút, họ đã viết về thế hệ mình một

cách đáng trân trọng, tự hào: Không có sách chúng tôi làm ra sách/ Chúng tôi

làm thơ ghi lấy cuộc đời mình (Hữu Thỉnh) Tiếng thơ của họ trẻ trung mà

luôn trăn trở, nghĩ suy đầy trách nhiệm về Tổ quốc, về dân tộc Họ đã thật sựvươn lên, khẳng định mình, vừa tiếp nối truyền thống của thế hệ trước vừa cónhững sáng tạo độc đáo làm nên nét riêng biệt của thơ trẻ thời chống Mỹ

Trong không khí cách mạng sục sôi và sự nở rộ của thơ ca chống Mỹ,Bằng Việt đã có những đóng góp nhất định để hoàn thiện hơn bức tranh sinhđộng của văn học giai đoạn này và để lại được dấu ấn riêng Cùng viết vềcuộc chiến đấu anh hùng của dân tộc nhưng ông không đi sâu vào hiện thựcchiến trường mà tập trung vào những suy nghĩ sâu lắng trong thơ Dù viết

về những ngày tháng rực lửa, hào hùng nhưng thơ Bằng Việt vẫn thiên nhiều

về lí trí Đây cũng là nét phong cách nổi bật của ông, tạo nên thanh âm riêngcủa Bằng Việt trong dàn đồng ca của các nhà thơ thời chống Mỹ

Sau đổi mới, hoàn cảnh đất nước có nhiều chuyển biến lớn, tácđộng đến thơ ca đặc biệt là các nhà thơ trẻ đương đại thuộc thế hệ 8X, 9X.Những cây bút thế hệ chống Mỹ vẫn viết đều, đóng góp cho thi đàn cùng vớinhững nhà thơ trẻ trưởng thành sau này – đại diện cho một thế hệ mới vớicách suy

Trang 36

nghĩ, nhìn nhận mới Lớp nhà thơ mới xuất hiện sau 1975 rất đông đảo, cóthể kể đến: Nguyễn Thị Hồng Ngát, Dư Thị Hoàn, Đoàn Thị Lam Luyến,Nguyễn Quang Thiều, Đỗ Trung Quân,… và những nhà thơ đương đại như: ViThuỳ Linh, Nguyễn Quang Hưng, Lữ Thị Mai, Du Nguyên, Phan TuấnAnh, Nguyễn Phong Việt,… Con người, nhất là những người trẻ tuổi hômnay, trong không gian đương đại, đã nếm trải một cách khá thấm thía nhữngđiều kiện của hiện hữu Không chỉ là cái sống, cái chết mà gần gũi hơn làcái ăn, cái mặc, gặp gỡ, chia li, xa gần, hạnh phúc, khổ đau, gia đình, xã hội…Muôn vàn truy bức của cuộc sống giăng lên xung quanh Thơ như là tiếngkêu, là lời tâm sự, một âm thanh vang vọng lên từ “hố thẳm” về nỗi ưu

tư của phận

người Không cứ điệu sống trẻ, nguồn sống trẻ là thanh tân, xuân sắc, là khoẻkhoắn, vui tươi hay rộn ràng, mới mẻ Điệu sống trẻ là điệu sống của một hiệnhữu trong ưu tư về chính tồn tại của mình Bởi thế thơ của người trẻ có nétriêng khác với thế hệ cha anh Vẫn nhận ra những vệt sáng, những mảng màuvui tươi, rạng rỡ, nhưng sắc thái chủ đạo của thơ trẻ dường như là nỗibuồn Đúng hơn là những ưu tư về cuôc đời, con người và tồn tại Đói nghèo,bệnh tật, chiến tranh, thảm hoạ, sự cô độc, sự vô cảm,… đã đè nén niềm hânhoan của tuổi trẻ Sống là thực hiện hành trình kiến tạo tính người của mình

Họ nhận thức trên chính thân thể, hơi thở, đời sống của mình những giới

hạn: Chúng ta ngồi cạnh nhau ở một góc thật xa cuộc đời/ nghe tuổi thanh

xuân trôi qua từng giây phút (Cứ im lặng vậy thôi – Nguyễn Phong Việt) Và

họ không quan tâm đến khuôn khổ, thể loại, chỉ lấy đạt ý, đạt tình làm trọng.Thể thơ cũng như vần, khổ là một khái niệm đã bị “thất sủng” trong khônggian thơ đương đại Sự tự do từ việc thể hiện ý thơ trên một trường ngônngữ phi định hướng, chỉ giữ lại cấu trúc nhịp điệu, nhạc tnh Ngay cả khi nhàthơ lựa chọn một thể thơ nào đó cũng không bị ràng buộc vào một quyước nào Chính điều này đã nở ra sự sáng tạo không giới hạn trong thơđương đại Đó là một câu chuyện chưa hoàn tất

Trang 37

Trong hoàn cảnh mới, Bằng Việt vẫn tiếp tục tìm tòi, sáng tác tuy nhiênnhững sáng tác của ông ngày càng thiên nhiều về lí trí mà thiếu đi mạch cảmxúc dạt dào Trong giai đoạn này, thơ ông không ghi được dấu ấn như thời kìchống Mỹ Những sáng tác vẫn bám sát hiện thực đời sống nhưng nhà thơchưa đổi mới được cách nhìn nhận những vấn đề về con người và thân phậncon người, nhất là con người của thời đại mới Cũng cần nhìn nhận trongkhông gian chung của thơ ca đương đại, vị thế của thơ ca trong văn họckhông còn đóng vai trò chủ đạo Các nhà thơ đua nhau sáng tác, loại thơ kémphẩm chất quá nhiều, nhất là thơ tình khiến cho khối lượng sản xuất cànglớn, thơ càng mất giá trị trước con mắt độc giả Những tìm tòi thửnghiệm táo bạo không thiếu nhưng thành tựu không được bao nhiêu Nhữngnhà thơ vẫn cố gắng tìm lối đi riêng cho mình và cho thơ nhưng chặng đường

ấy còn quá nhiều gian nan và thử thách

Trong cái nhìn mang tính lịch đại, xa là Thơ mới, gần hơn là thơ chống

Mỹ, ngay bên cạnh những người trẻ là các nhà thơ lớn tuổi đã có nhữngthành tựu định hình, thơ của thế hệ 8X, 9Xvà sau nữa, đã mang nhiều sắcthái khác Và đó là những bước chuyển mình, đổi mới tất yếu của thơ ca.Chúng ta vẫn luôn tin tưởng và chờ đợi sự sáng tạo và toả sáng của thơđương đại giữa nhịp sống hiện đại và vô số phương tiện giải trí đang pháttriển rầm rộ

1.2.3 Quan niệm về thơ của Bằng Việt

Bằng Việt là một trong số những nhà thơ thời chống Mỹ rất có ý thức

về sáng tạo thơ ca Có thể thấy những quan niệm đó được bộc lộ qua nhữngbài phát biểu dưới dạng lí luận vừa được thể hiện qua những sáng tác của nhàthơ

Con đường đến với thơ ca của Bằng Việt có ảnh hưởng trực tiếp từ bốicảnh lịch sử - xã hội Việt Nam những năm 60 Như những nhà thơ trẻ cùngthời, ông có ý thức sâu sắc về vai trò, sứ mệnh lịch sử của thế hệ mình “cả

Trang 38

thế hệ dàn hàng gánh đất nước trên vai”, để từ đó ông xác định rõ tư tưởng,nhận

Trang 39

thức cho con đường sáng tạo thơ ca của mình Nói về quan niệm củaBằng Việt về thơ ca thực chất là đi tìm hiểu quan điểm nghệ thuật củaông Với hành trình hơn bốn mươi năm sáng tạo, Bằng Việt tự đúc kết chomình lí luận đúng đắn và tâm huyết về thơ Ông từng phát biểu: “Thơ viếttrong thời kì ấy cũng là thước đo một thái độ sống, một nhân cách sống.Không một nhà thơ nào sống đớn hèn, lẩn tránh, đào ngũ trong thời kì ấy

mà lại thành một nhà thơ lớn được” Rõ ràng, những năm tháng hàohùng ấy, người nghệ sĩ và

người chiến sĩ như hoà nhập, những vần thơ được viết từ chính trái timđầy nhiệt huyết, không sợ hy sinh, bom đạn chiến trường mới thực sự layđộng

đã xác định phẩm chất đầu tiên của người làm thơ là sự “chân thành”

Có lẽ chính bằng sự chân thành ấy mà thơ Bằng Việt được tin yêu, từ đó

dễ dàng ghi dấu trong lòng bạn đọc

Với Bằng Việt thơ là phần tinh tuý nhất của phương tiện thể hiện

và trình diễn bằng lời, càng thể hiện súc tch và sâu xa bản chất và nội tâmmỗi con người càng đặc sắc Từ kinh nghiệm của một nhà quản lí nghệ thuật,Bằng Việt rất coi trọng tính cá biệt và tính đặc thù, tính độc đáo trong mỗikhám phá nội tâm của mỗi chủ thể trong thơ Khát khao khẳng định cái Tôiđộc đáo ấy luôn hoà quyện với những lí tưởng nhân văn cao đẹp của cái Ta

Trong bài viết thay lời tựa của nhà thơ Bằng Việt cho tập sách Tác phẩm chọn

lọc của ông, nhà thơ đã khái quát và đúc kết lại các đặc điểm về phương pháp

và thế giới quan chung cho các nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng

Trang 40

chiến chống Mỹ Qua đó Bằng Việt phác hoạ nên những đặc trưng của cácsáng tác trong thời kì

Ngày đăng: 25/01/2019, 21:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Tuấn Anh, (1997), Nửa thế kỉ thơ Việt Nam (1945 – 1995), Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỉ thơ Việt Nam (1945 – 1995)
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1997
2. Hữu Đạt, (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
3. Nguyễn Đăng Điệp, (2002), Giọng điệu thơ trữ tình, Chuyên luận, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: NxbVăn học
Năm: 2002
4. Hà Minh Đức (Chủ biên), (1999), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
5. Hà Minh Đức, (1984), Thơ ca chống Mỹ cứu nước, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca chống Mỹ cứu nước
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1984
6. Hà Minh Đức, (1974), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1974
7. Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử, (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
8. Lê Quốc Hán, (2002), Thơ trong kí ức, Bình luận thơ, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ trong kí ức
Tác giả: Lê Quốc Hán
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2002
9. Nguyễn Văn Hạnh, (1975), Đọc thơ Bằng Việt, Tạp chí Tác phẩm mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc thơ Bằng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh
Năm: 1975
10. Đỗ Đức Hiểu, (2000), Thi pháp hiện đại, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp hiện đại
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2000
11. Mai Hương, (1981), Nghĩ về những đóng góp của đội ngũ thơ trẻ trong thơ chống Mỹ, Tạp chí văn học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghĩ về những đóng góp của đội ngũ thơ trẻ trongthơ chống Mỹ
Tác giả: Mai Hương
Năm: 1981
12. Lê Đình Kỵ, (1996), Đường vào thơ, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường vào thơ
Tác giả: Lê Đình Kỵ
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1996
13. M.B.Khrapchenco, (1987), Cá tnh sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học, Nxb Tác phẩm mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: á tnh sáng tạo của nhà văn và sự phát triểnvăn học
Tác giả: M.B.Khrapchenco
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1987
14. Mã Giang Lân, (1983), Suy nghĩ thêm về tứ thơ, Tạp chí văn học, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ thêm về tứ thơ
Tác giả: Mã Giang Lân
Năm: 1983
15. Nguyễn Văn Long (Chủ biên), Lê Mai, Phạm Khánh Cao, (1983), Tư liệu thơ hiện đại Việt Nam 1955 – 1975, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư liệuthơ hiện đại Việt Nam 1955 – 1975
Tác giả: Nguyễn Văn Long (Chủ biên), Lê Mai, Phạm Khánh Cao
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1983
16. Phương Lựu, (Chủ biên), 2004, Lí luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
17. Nguyễn Đăng Mạnh (Chủ biên), Nguyễn Văn Long (Đồng chủ biên), (2010), Lịch sử văn học Việt Nam, tập 3, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh (Chủ biên), Nguyễn Văn Long (Đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2010
18. Nguyễn Đăng Mạnh, Bùi Duy Tân, Nguyễn Như Ý, (2003), Từ điển tác giả tác phẩm văn học Việt Nam dùng trong nhà trường, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tác giảtác phẩm văn học Việt Nam dùng trong nhà trường
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh, Bùi Duy Tân, Nguyễn Như Ý
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2003
19. Thiếu Mai, (1983), Thơ, những gương mặt, Nxb Tác phẩm mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ, những gương mặt
Tác giả: Thiếu Mai
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1983
20. Nguyễn Xuân Nam, (1986), Bằng Việt trong nhà văn hiện đại Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bằng Việt trong nhà văn hiện đại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Xuân Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1986

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w