1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

XÂY DỰNG một TÌNH HUỐNG về THỰC HIỆN NGHĨA vụ LIÊN đới

4 195 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 16,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

XÂY DỰNG MỘT TÌNH HUỐNG VỀ THỰC HIỆN NGHĨA VỤ LIÊN ĐỚI Quan hệ nghĩa vụ dân sự liên đới là một quan hệ nghĩa vụ dân sự tương đối phức tạp được Luật dân sự điều chỉnh. Để quyền dân sự của các chủ thể được bảo đảm, trong một số trường hợp nghĩa vụ nhiều người sẽ được xác định là nghĩa vụ dân sự liên đới nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định. Để tìm hiểu rõ hơn về nghĩa vụ dân sự liên đới em xin chọn đề 1: Xây dựng một tình huống về thực hiện nghĩa vụ liên đới, qua đó phân tích một số nội dung liên quan đến nghĩa vụ này. Tình huống: Ngày 852016 anh A có giao kết hợp đồng vay tiền với anh B, số tiền vay là 500triệu đồng, thời hạn vay 3 tháng và lãi suất 1%tháng. Trong hợp đồng ghi rõ anh trai và chị gái A là C và D là những người liên đới đứng ra bảo lãnh cho A. Anh D và chị C cam kết với anh B về việc thực hiện thay nghĩa vụ của A nếu khi đến thời hạn mà anh A không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình. Việc bảo lãnh của D và C với A được lập thành một văn bản, có công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền. Anh A đã dùng số tiền số tiền vay của B vào việc kinh doanh nhưng bị thua lỗ, sau 3 tháng A đã không trả được khoản gốc và lãi nào cho B. Nhận thấy anh D là người có năng lực tài chính để thực hiện toàn bộ nghĩa vụ bảo lãnh liên đới căn cứ vào hợp đồng B đã yêu cầu anh D trong 3 tháng phải dùng tài sản của mình thay A thực hiện toàn bộ nghĩa vụ vay tiền. Trong vòng 3 tháng anh D đã dùng số tiền của mình thực hiện nghĩa vụ vay tiền cho A đối với B. Sau đó anh D cần tiền gấp đã yêu cầu C trả lại cho mình 50% số tiền cho việc trước đó D thay C đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ liên đới giữa D và C cho B. Tuy nhiên C không trả tiền cho D vì cho rằng người phải trả cho D là A. I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGHĨA VỤ LIÊN ĐỚI 1.Khái niệm và đặc điểm của nghĩa vụ liên đới a. Khái niệm Về khái niệm nghĩa vụ dân sự liên đới Khoản 1 Điều 288 BLDS 2015 quy định “Nghĩa vụ liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.” Như vậy, trong một số quan hệ, nghĩa vụ sẽ được xem là nghĩa vụ liên đới nếu thỏa mãn các quy định của pháp luậtvà các đặc điểm đặc trưng của nghĩa vụ liên đới. b. Đặc điểm Nghĩa vụ liên đới có hai đặc điểm chính như sau: Thứ nhất, đây là một loại nghĩa vụ nhiều người. Nói đến liên đới là nói đến sự liên quan giữa nhiều chủ thể với nhau. Vì vậy, nghĩa vụ liên đới có thể là nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ bao gồm nhiều người và họ được gọi là những người có nghĩa vụ liên đới, có thể bên có quyền bao gồm nhiều người và họ được gọi là những người có quyền liên đới. Thứ hai là có sự liên quan trong việc thực hiện nghĩa vụ giữa những người có nghĩa vụ và sự liên quan trong việc hưởng quyền giữa những người có quyền. Như vậy, bên cạnh việc thực hiện nghĩa vụ theo phần của mình, những người có nghĩa vụ còn phải thực hiện nghĩa vụ thay phần của người có nghĩa vụ khác nếu họ không có khả năng thực hiện phần nghĩa vụ của họ. Và cũng bên cạnh việc hưởng quyền theo phần của mình thì mỗi người trong số những người có quyền đều có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện toàn bộ nội dung của nghĩa vụ đó trước mình mà không cần có sự ủy quyền của những người có quyền khác. 2. Căn cứ phát sinh nghĩa vụ liên đới. Khi các quan hệ nghĩa vụ có nhiều người trong một bên chủ thể thì nghĩa vụ đó được xác định là nghĩa vụ liên đới hay không tùy thuộc vào sự thỏa thuận giữa các bên tham gia nghĩa vụ hoặc quy định của pháp luật. Như vậy, nghĩa vụ liên đới được xác định theo một trong hai căn cứ sau đây: Theo thỏa thuận giữa các bên. Như vậy nghĩa vụ dân sự liên đới phát sinh nếu trong hợp đồng các bên đã thỏa thuận nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng này là nghĩa vụ liên đới. Theo quy định của pháp luật. Theo quy định của BLDS hiện hành thì nghĩa vụ nhiều người được xác định là nghĩa vụ liên đới trong các trường hợp sau: + Khi có nhiều người cùng bảo lãnh cho một người mà các bên trong quan hệ bảo lãnh không có thỏa thuận nào khác. ( Điều 338 BLDS 2015) + Chủ sở hữu và người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ phải liên đới bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra nếu chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật. ( Khoản 4 Điều 601 BLDS 2015) + Người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ và người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ phải liên đới bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra nếu người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật. ( Khoản 3 Điều 601 BLDS 2015) + Chủ sở hữu tài sản và người thứ ba phải liên đới bồi thường thiệt hại nếu chủ sở hữu tài sản và người thứ ba điều có lỗi trong việc đề tài gây ra thiệt hại cho người khác. ( Điều 587 BLDS 2015). 3. Hậu quả của việc thực hiện nghĩa vụ liên đới Hậu quả chính là sự bất lợi nếu một bên thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nghĩa vụ của mình. Theo đó hậu quả hay nói cách khác là trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ dân sự liên đới được quy định ở các khoản 2, 3, 4 Điều 288 BLDS 2015 như sau: “ 2. Trường hợp một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình. 3. Trường hợp bên có quyền đã chỉ định một trong số những người có nghĩa vụ liên đới thực hiện toàn bộ nghĩa vụ, nhưng sau đó lại miễn cho người đó thì những người còn lại cũng được miễn thực hiện nghĩa vụ. 4. Trường hợp bên có quyền chỉ miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho một trong số những người có nghĩa vụ liên đới không phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình thì những người còn lại vẫn phải liên đới thực hiện phần nghĩa vụ của họ.” 4. Chỉ ra mối quan hệ giữa nghĩa vụ liên đới và nghĩa vụ hoàn lại. Đầu tiên để hiểu được mối quan hệ giữa nghĩa vụ liên đới và nghĩa vụ hoàn lại ta phải hiểu xem nghĩa vụ hoàn lại là gì. Hiện nay luật thực định không có định nghĩa về nghĩa vụ hoàn lại. Tuy vậy, trong nhiều trường hợp từ quy định của pháp luật đã làm hình thành một nghĩa vụ mới sau một nghĩa vụ trước đó. Vì vậy, nghĩa vụ hoàn lại có thể được hiểu như sau: Nghĩa vụ hoàn lại là một quan hệ nghĩa vụ trong đó bên có quyền yêu cầu bên kia ( người có nghĩa vụ) thanh toán lại khoản tiền hoặc lợi ích vật chất khác mà người có quyền đã thay người có nghĩa vụ thực hiện cho người khác hoặc một bên nghĩa vụ phải hoàn trả cho bên có quyền khoản tiền hay một lợi ích vật chất mà họ đã nhận được từ người khác trên cơ sở quyền yêu cầu của bên có quyền. Như vậy dựa vào đặc điểm đặc trưng của nghĩa vụ liên đới và nghĩa vụ hoàn lại ta có thể thấy rằng : nghĩa vụ dân sự hoàn lại có thể được phát sinh từ một nghĩa vụ liên đới và kiểm tra phản ánh việc thực hiện nghĩa vụ liên đới tới đâu và như thế nào trong quan hệ trước đó. II. GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG 1. Căn cứ phát sinh nghĩa vụliên đới. Như đã nêu ra ở trên nghĩa vụ liên đới có thể được phát sinh thông qua sự thỏa thuận của các bên hoặc thông qua quy định của pháp luật. Trong đó có một căn cứ để phát sinh nghĩa vụ liên đới theo pháp luật là “ khi có nhiều người cùng bảo lãnh cho một người mà các bên trong quan hệ bảo lãnh không có thỏa thuận nào khác”. Như vậy, khi nhiều người cùng có ý chí thỏa thuận bảo lãnh cho một người hay một nhóm người thì giữa họ sẽ phát sinh một quan hệ nghĩa vụ khi mà bên được bảo lãnh không thực hiện được hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ với bên nhận bảo lãnh giữa họ sẽ phát sinh nghĩa vụ liên đới với bên nhận bảo lãnh. Khái niệm về bảo lãnh Khoản 1 Điều 335 BLDS 2015 quy định: “ Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.” Với bản chất là một hợp đồng, bảo lãnh được hình thành trên cơ sở thỏa thuận thống nhất ý chí của: người bảo lãnh, người nhận bảo lãnh và người được bảo lãnh nhằm đạt được mục đích nhất định mà chủ yếu là bảo đảm cho quyền lợi của người nhận bảo lãnh. Từ việc thỏa thuận và thống nhất ý chí của các chủ thể tham gia quan hệ bảo lãnh, các bên đã xác lập với nhau những quyền và nghĩa vụ pháp lý để đạt được mục đích mà mỗi bên mong muốn. Trong trường hợp nhiều người cùng bảo lãnh, Điều 338 BLDS 2015 quy địn

Trang 1

XÂY DỰNG MỘT TÌNH HUỐNG VỀ THỰC HIỆN NGHĨA VỤ LIÊN ĐỚI

Quan hệ nghĩa vụ dân sự liên đới là một quan hệ nghĩa vụ dân sự tương đối phức tạp được Luật dân sự điều chỉnh Để quyền dân sự của các chủ thể được bảo đảm, trong một số trường hợp nghĩa vụ nhiều người sẽ được xác định là nghĩa vụ dân sự liên đới nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định Để tìm hiểu rõ hơn về nghĩa vụ dân sự liên đới em xin chọn đề 1: Xây dựng một tình huống về thực hiện nghĩa vụ liên đới, qua đó phân tích một

số nội dung liên quan đến nghĩa vụ này

Tình huống:

Ngày 8/5/2016 anh A có giao kết hợp đồng vay tiền với anh B, số tiền vay là 500triệu đồng, thời hạn vay 3 tháng và lãi suất 1%/tháng Trong hợp đồng ghi rõ anh trai và chị gái A là C và D là những người liên đới đứng ra bảo lãnh cho A Anh D và chị C cam kết với anh B về việc thực hiện thay nghĩa vụ của A nếu khi đến thời hạn mà anh A không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình Việc bảo lãnh của D và C với A được lập thành một văn bản, có công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền

Anh A đã dùng số tiền số tiền vay của B vào việc kinh doanh nhưng bị thua lỗ, sau 3 tháng A đã không trả được khoản gốc và lãi nào cho B Nhận thấy anh D là người có năng lực tài chính để thực hiện toàn bộ nghĩa vụ bảo lãnh liên đới căn cứ vào hợp đồng B đã yêu cầu anh D trong 3 tháng phải dùng tài sản của mình thay A thực hiện toàn bộ nghĩa vụ vay tiền Trong vòng 3 tháng anh D đã dùng số tiền của mình thực hiện nghĩa vụ vay tiền cho A đối với B Sau đó anh D cần tiền gấp đã yêu cầu C trả lại cho mình 50% sốtiền cho việc trước đó D thay C đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ liên đới

giữa D và C cho B Tuy nhiên C không trả tiền cho D vì cho rằng người phải trả cho D là A

I.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGHĨA VỤ LIÊN ĐỚI

1.Khái niệm và đặc điểm của nghĩa vụ liên đới

a Khái niệm

Về khái niệm nghĩa vụ dân sự liên đới Khoản 1 Điều 288 BLDS 2015 quy định “Nghĩa vụ liên đới là nghĩa

vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.” Như vậy, trong một số quan hệ, nghĩa vụ sẽ được xem

là nghĩa vụ liên đới nếu thỏa mãn các quy định của pháp luậtvà các đặc điểm đặc trưng của nghĩa vụ liên đới

b Đặc điểm

Nghĩa vụ liên đới có hai đặc điểm chính như sau:

Trang 2

Thứ nhất, đây là một loại nghĩa vụ nhiều người Nói đến liên đới là nói đến sự liên quan giữa nhiều chủ thể với nhau Vì vậy, nghĩa vụ liên đới có thể là nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ bao gồm nhiều người và họ được gọi là những người

có nghĩa vụ liên đới, có thể bên có quyền bao gồm nhiều người và họ được gọi là những người có quyền liên đới

Thứ hai là có sự liên quan trong việc thực hiện nghĩa vụ giữa những người có nghĩa vụ và sự liên quan trong việc hưởng quyền giữa những người có quyền Như vậy, bên cạnh việc thực hiện nghĩa vụ theo phần của mình, những người có nghĩa vụ còn phải thực hiện nghĩa vụ thay phần của người có nghĩa vụ khác nếu họ không có khả năng thực hiện phần nghĩa vụ của họ Và cũng bên cạnh việc hưởng quyền theo phần của mình thì mỗi người trong số những người có quyền đều có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện toàn bộ nội dung của nghĩa vụ đó trước mình mà không cần có sự ủy quyền của những người có quyền khác

2.

Căn cứ phát sinh nghĩa vụ liên đới.

Khi các quan hệ nghĩa vụ có nhiều người trong một bên chủ thể thì nghĩa vụ đó được xác định là nghĩa vụ liên đới hay không tùy thuộc vào sự thỏa thuận giữa các bên tham gia nghĩa vụ hoặc quy định của pháp luật Như vậy, nghĩa vụ liên đới được xác định theo một trong hai căn cứ sau đây:

Theo thỏa thuận giữa các bên Như vậy nghĩa vụ dân sự liên đới phát sinh nếu trong hợp đồng các bên đã thỏa thuận nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng này là nghĩa vụ liên đới

Theo quy định của pháp luật Theo quy định của BLDS hiện hành thì nghĩa vụ nhiều người được xác định là nghĩa vụ liên đới trong các trường hợp sau:

+ Khi có nhiều người cùng bảo lãnh cho một người mà các bên trong quan hệ bảo lãnh không có thỏa thuận nào khác ( Điều 338 BLDS 2015)

+ Chủ sở hữu và người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ phải liên đới bồi thường thiệt hại

do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra nếu chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ

bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật ( Khoản 4 Điều 601 BLDS 2015)

+ Người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ và người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ phải liên đới bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra nếu người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật ( Khoản 3 Điều 601 BLDS 2015)

+ Chủ sở hữu tài sản và người thứ ba phải liên đới bồi thường thiệt hại nếu chủ sở hữu tài sản và người thứ ba điều có lỗi trong việc đề tài gây ra thiệt hại cho người khác ( Điều 587 BLDS 2015)

3.

Hậu quả của việc thực hiện nghĩa vụ liên đới

Hậu quả chính là sự bất lợi nếu một bên thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nghĩa vụ của mình Theo đó hậu quả hay nói cách khác là trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ dân sự liên đới được quy định ở các khoản 2, 3, 4 Điều 288 BLDS 2015 như sau:

Trang 3

“ 2 Trường hợp một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình.

3 Trường hợp bên có quyền đã chỉ định một trong số những người có nghĩa vụ liên đới thực hiện toàn bộ nghĩa

vụ, nhưng sau đó lại miễn cho người đó thì những người còn lại cũng được miễn thực hiện nghĩa vụ.

4 Trường hợp bên có quyền chỉ miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho một trong số những người có nghĩa vụ liên đới không phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình thì những người còn lại vẫn phải liên đới thực hiện phần nghĩa vụ của họ.”

4.

Chỉ ra mối quan hệ giữa nghĩa vụ liên đới và nghĩa vụ hoàn lại.

Đầu tiên để hiểu được mối quan hệ giữa nghĩa vụ liên đới và nghĩa vụ hoàn lại ta phải hiểu xem nghĩa vụ hoàn lại là gì Hiện nay luật thực định không có định nghĩa về nghĩa vụ hoàn lại Tuy vậy, trong nhiều trường hợp từ quy định của pháp luật đã làm hình thành một nghĩa vụ mới sau một nghĩa vụ trước đó Vì vậy, nghĩa vụ hoàn lại có thể được hiểu như sau: Nghĩa vụ hoàn lại là một quan hệ nghĩa vụ trong đó bên có quyền yêu cầu bên kia ( người

có nghĩa vụ) thanh toán lại khoản tiền hoặc lợi ích vật chất khác mà người có quyền đã thay người có nghĩa vụ thực hiện cho người khác hoặc một bên nghĩa vụ phải hoàn trả cho bên có quyền khoản tiền hay một lợi ích vật chất mà họ đã nhận được từ người khác trên cơ sở quyền yêu cầu của bên có quyền.

Như vậy dựa vào đặc điểm đặc trưng của nghĩa vụ liên đới và nghĩa vụ hoàn lại ta có thể thấy rằng : nghĩa vụ dân sự hoàn lại có thể được phát sinh từ một nghĩa vụ liên đới và kiểm tra phản ánh việc thực hiện nghĩa vụ liên đới tới đâu và như thế nào trong quan hệ trước đó

II.

GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG

1.

Căn cứ phát sinh nghĩa vụliên đới.

Như đã nêu ra ở trên nghĩa vụ liên đới có thể được phát sinh thông qua sự thỏa thuận của các bên hoặc thông qua quy định của pháp luật Trong đó có một căn cứ để phát sinh nghĩa vụ liên đới theo pháp luật là “ khi có nhiều người

cùng bảo lãnh cho một người mà các bên trong quan hệ bảo lãnh không có thỏa thuận nào khác” Như vậy, khi nhiều người cùng có ý chí thỏa thuận bảo lãnh cho một người hay một nhóm người thì giữa họ sẽ

phát sinh một quan hệ nghĩa vụ khi mà bên được bảo lãnh không thực hiện được hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ với bên nhận bảo lãnh giữa họ sẽ phát sinh nghĩa vụ liên đới với bên nhận bảo lãnh

Khái niệm về bảo lãnh Khoản 1 Điều 335 BLDS 2015 quy định: “ Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau

đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.”

Trang 4

Với bản chất là một hợp đồng, bảo lãnh được hình thành trên cơ sở thỏa thuận thống nhất ý chí của: người bảo lãnh, người nhận bảo lãnh và người được bảo lãnh nhằm đạt được mục đích nhất định mà chủ yếu là bảo đảm cho quyền lợi của người nhận bảo lãnh Từ việc thỏa thuận và thống nhất ý chí của các chủ thể tham gia quan hệ bảo lãnh, các bên đã xác lập với nhau những quyền và nghĩa vụ pháp lý để đạt được mục đích mà mỗi bên mong muốn

Trong trường hợp nhiều người cùng bảo lãnh, Điều 338 BLDS 2015 quy địn

Ngày đăng: 25/01/2019, 19:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w