1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển kinh tế trang trại tại tỉnh ninh thuận

49 247 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 597 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong sự nghiệp phát triển đó, một bộ phận nông dân có ý thức kinh doanh, có kinh nghiệm hơn về sản xuất hàng hóa nên đã tự tạo ra nguồn vốn và sức lao động vươn lên thành những chủ thể

Trang 1

ĐÁNH GIÁ, NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH PHÂN HIỆU NINH THUẬN

- -Báo cáo tiểu luận:

Phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển kinh

tế trang trại tại tỉnh Ninh Thuận

Ninh Thuận, tháng 12 năm 2014

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Qua quá trình học tập, nghiên cứu và thảo luận, Nhóm chúng em đã hoànthành Báo cáo tiểu luận học phần môn Quản trị trang trại với Đề tài tiểu luận “Phântích thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển kinh tế trang trại tại tỉnh Ninh Thuận

Để có được kết quả này, trước hết tập thể Nhóm xin gửi lời cảm ơn chânthành đến TS Nguyễn Tài – giảng viên Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM đã tậntình trong việc truyền đạt nhiều kiến thức bổ ích về Quản trị trang trại, Kinh tế trangtrại cũng như hướng dẫn tập thể Nhóm tham gia thực hiện nghiên cứu thành công

Đề tài tiểu luận

Bên cạnh đó, xin chân thành cảm ơn sự cố gắng và tham gia tích cực trongquá trình hợp tác nghiên cứu của tất cả các thành viên trong Nhóm

Trân trọng./

Trang 3

M c l c ục lục ục lục

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

I Tính cấp thiết của đề tài: 1

II Mục tiêu nghiên cứu: 2

1 Mục tiêu chung: 2

2 Mục tiêu cụ thể: 2

PHẦN II: NỘI DUNG 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI 3

1.1 Cơ sở lý luận về kinh tế trang trại 3

1.1.1 Khái niệm, phân loại và tiêu chí xác định trang trại 3

1.1.2 Khái niệm kinh tế trang trại: 8

1.1.3 Tính khách quan hình thành kinh tế trang trại: 9

1.1.4 Những đặc trưng của kinh tế trang trại: 10

1.2 Một số vấn đề cơ bản trong quản trị trang trạng: 11

1.3 Tổng quan về kinh tế trang trại ở Việt Nam 18

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TẠI TỈNH NINH THUẬN 21

2.1 Khái quát về tỉnh Ninh Thuận: 21

2.1.1 Vị trí địa lý: 21

2.1.2 Địa hình: 21

2.1.3 Khí hậu: 22

2.1.4 Tài nguyên nước 22

2.1.5 Tài nguyên đất 24

2.1.6 Nguồn lao động 26

2.2 Thực trạng phát triển kinh tế trang trại tại tỉnh Ninh Thuận 27

2.3 Đánh giá tình hình phát triển kinh tế trang trại tại tỉnh Ninh Thuận: 34

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TẠI TỈNH NINH THUẬN 38

3.1 Quan điểm phát triển: 38

3.2 Phương hướng phát triển: 38

3.3 Giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế trang trại tại tỉnh Ninh Thuận 39

3.3.1 Công tác quy hoạch 39

3.3.2 Chính sách về đất đai 39

3.3.3 Chính sách thuế ưu đãi riêng cho đầu tư kinh tế trang trại 40

3.3.4 Chính sách về đầu tư và tín dụng 40

Trang 4

3.3.5 Chính sách về lao động, đào tạo nguồn nhân lực 41

3.3.6 Chính sách về thị trường và xúc tiến thương mại 41

3.3.7 Chính sách về khoa học công nghệ 42

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44

1 Kết luận 44

2 Kiến nghị 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

PHẦN I: MỞ ĐẦU

I Tính cấp thiết của đề tài:

Trong tiến trình đổi mới, Đảng và Nhà nước đã xác định hộ nông dân là chủ thể kinh tế: tức phải tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh Từ đó đã tạo góp phần thúc đẩy sản xuất hàng hóa nông sản, thủy sản và dịch vụ gia đình nông thôn Đời sống nông dân được cải thiện đáng kể như một bộ phận nông dân, ngư dân giàu có xuất hiện

Điều đó cho thấy với cơ chế tự chủ trong sản xuất kinh doanh của kinh tế hộ

ở nông thôn đã giữ vị trí rất lớn thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển nông nghiệp trong thời gian qua Trong sự nghiệp phát triển đó, một bộ phận nông dân có ý thức kinh doanh, có kinh nghiệm hơn về sản xuất hàng hóa nên đã tự tạo ra nguồn vốn và sức lao động vươn lên thành những chủ thể trang trại với quy mô lớn, hình thành nên một nền kinh tế trang trại với nhiều thành công bước đầu trong công cuộc đổi mới, đặc biệt là đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn

Hiện nay, kinh tế trang trại đang tăng nhanh về số lượng với nhiều thành phần kinh tế tham gia, nhưng chủ yếu vẫn là trạng trại hộ gia đình nông dân và phần lớn trang trại tập trung phát huy lợi thế của từng vùng, từng địa phương Có thể nói,

sự phát triển kinh tế trang trại đã, đang và sẽ đóng góp to lớn khối lượng nông sản được sản xuất, đáp ứng nhu cầu nông sản trong nước, mặt khác nó còn đóng vai trò

cơ bản trong tiến trình hội nhập với kinh tế quốc tế, với sản lượng và kim ngạch xuất khẩu hàng năm đều tăng trưởng tích cực và ổn định, không những đem lại lợi nhuận cho trang trại, mà còn cải thiện đáng kể thu nhập của những người lao động trong các trang trại

Trong xu thế đó, kinh tế trang trại của tỉnh Ninh Thuận trong những năm qua cũng đạt được nhiều thành công đáng kể như các trang trại Nho, Tỏi, Cừu, Bò, Dê Dựa trên đặc điểm khí hậu và địa hình đặc trưng của Ninh Thuận, các trang trại đã vận dụng sáng tạo nguồn vốn, nguồn nhân lực để đầu tư, phát triển sản xuất hàng hóa đem lại hiệu quả cao, góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo thêm việc làm, thúc đẩy tiến trình phát triển kinh tế nông nghiệp của tỉnh nhà

Trang 5

Tuy nhiên, định hướng kinh tế trang trại ở tỉnh Ninh Thuận vẫn chưa thật sựphát triển ổn định bởi còn mang tính tự phát, đa phần các trang trại còn hạn chế vềquy mô, kỹ thuật, nhân lực, nguồn vốn…Trên thực tế đó, để tạo nên bức tranh tổngthể về thực trạng trên đi đến thảo luận, đề xuất giải pháp phát triển kinh tế trang trại

ở tỉnh Ninh Thuận, nhóm đã chọn đề tài:

“Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển kinh tế trang trại tại tỉnh Ninh Thuận”

II Mục tiêu nghiên cứu:

1 Mục tiêu chung:

Nghiên cứu, đánh giá về thực trạng kinh tế trang trại ở tỉnh Ninh Thuận, từ

đó đưa ra những giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế trang trại của tỉnh NinhThuận

2 Mục tiêu cụ thể:

- Nắm rõ các cơ sở lý luận về kinh tế trang trại

- Tổng quan về kinh tế trang trại của Việt Nam

- Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại của tỉnh Ninh Thuận

- Thảo luận đưa ra những giải pháp cho sự phát triển loại hình kinh tế trangtrại tại tỉnh Ninh Thuận

Trang 6

PHẦN II: NỘI DUNGCHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI

1.1 Cơ sở lý luận về kinh tế trang trại

1.1.1 Khái niệm, phân loại và tiêu chí xác định trang trại

1.1.1.1 Khái niệm về trang trại:

FAO (1997), đã đưa ra khái niệm trang trại trên cơ sở khái niệm nông trại:Trang trại là nông trại có qui mô lớn và tập trung vào sản xuất hàng hóa để bán rathị trường nhằm mục tiêu chủ yếu là tạo ra lợi nhuận

Theo FAO, nông trại (Farm) là một mảnh đất mà trên đó nông hộ thực hiệncác hoạt động sản xuất nông nghiệp phục vụ cho sinh kế của họ Nông trại ở khuvực châu Á được chia thành 6 loại hình cơ bản theo mục đích sản xuất, diện tích đấtđai và mức độ phụ thuộc khác nhau

a Nông trại gia đình qui mô nhỏ sản xuất theo hướng tự cấp tự túc:

Đối với nông trại thuộc loại này, "tự cấp tự túc" (sản xuất để tiêu thụ giađình) là mục tiêu chủ yếu của nông trại Có thể có sản phẩm để bán nhưng khôngđáng kể Nông trại thuộc loại này thường độc lập với bên ngoài (không chịu tácđộng của thị trường)

b Nông trại gia đình qui mô nhỏ, một phần sản xuất hàng hóa:

Mục tiêu của nông trại thuộc loại này là tiêu thụ gia đình thông qua việc sảnxuất các nông sản phục vụ cho tiêu dùng hàng ngày của gia đình và thu nhập tiềnmặt thông qua việc bán sản phẩm dư thừa so với yêu cầu tiêu dùng gia đình

c Nông trại gia đình qui mô nhỏ, sản xuất chuyên môn hóa và độc lập:

Trang 7

Đặc trưng của nông trại thuộc loại này là chuyên môn hóa trong một số hoạtđộng sản xuất trồng trọt, chăn nuôi cụ thể Mục tiêu của nông trại loại này cũng baogồm sản xuất hàng hóa và tiêu thụ gia đình nhưng ở mức độ chuyên môn hóa.

d Nông trại gia đình qui mô nhỏ, chuyên môn hóa sản xuất nhưng phụthuộc:

Tương tự như loại hình trang trại 3 nhưng có một khác biệt cơ bản là hộ giađình ít có quyền lực trong việc ra quyết định sản xuất của nông trại Điều này domột số lý do sau:

- Đất sản xuất của nông trại không thuộc quyền sở hữu của gia đình mà đượcthuê mướn từ các chủ đất khác

- Hộ gia đình phải vay mượn các đầu vào cho sản xuất từ các doanh nghiệp

và sản xuất hàng hóa theo yêu cầu của các doanh nghiệp

- Chịu sự can thiệp của chính phủ vào hoạt động sản xuất của gia đình (ví dụnhư qui hoạch vùng sản xuất…)

e Nông trại gia đình sản xuất hàng hóa với qui mô lớn:

Nông trại loại này có qui mô như một trang trại và người hưởng lợi của nôngtrại là các thành viên trong gia đình, cũng là chủ nông trại mà không phải là ngườingoài gia đình làm chủ và hưởng lợi Mục tiêu hoạt động của nông trại loại này làlợi nhuận thông qua sản xuất hàng hóa bán ra thị trường

f Trang trại sản xuất hàng hóa

Đặc trưng của nông trại thuộc loại này là sản xuất chuyên canh, hoặc đa canhtrên diện tích nông trại lớn từ 20 - 2000 ha Người hưởng lợi chủ yếu của nông trại

là người chủ nông trại, họ chỉ làm công tác quản lý, không tham gia lao động trựctiếp trên nông trại Lao động cho nông trại hoàn toàn được thuê mướn Lợi nhuận làmục tiêu hàng đầu của các nông trại loại này Loại hình nông trại e và f được xemnhư là trang trại

Như vậy, trang trại là nông trại có qui mô lớn và tập trung vào sản xuất hànghóa để bán ra thị trường nhằm mục tiêu chủ yếu là tạo ra lợi nhuận

Ở nước ta hiện nay, có nhiều nhận thức và quan điểm khác nhau về trangtrạimvà kinh tế trang trại:

Ban kinh tế Trung ương cho rằng “Trang trại là một hình thức tổ chức kinh

tế trong nông- lâm-ngư nghiệp phổ biến được hình thành trên có sở phát triển kinh

tế hộ nhưng mang tính sản xuất hàng hóa rõ rệt”

Trang 8

Tác giả Nguyễn Thế Nhã cho rằng "Trang trại là một loại hình tổ chức sảnxuất cơ sở trong nông, lâm, thủy sản có mục đích chính là sản xuất hàng hóa, có tưliệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một chủ độc lập, sản xuấtđược tiến hành trên quy mô ruộng đất với các yếu tố sản xuất tiến bộ và trình độ kỹthuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường”

Tiến sĩ Nguyễn Tài - Trường Đại học công nghiệp thực phẩm TP-HCM vàĐại học Nông Lâm TP-HCM căn cứ trên thuộc tính cơ bản của các tổ chức doanhnghiệp và trang trại đã được các nhà khoa học trong lĩnh vực kinh tế khẳng định thìcho rằng: “Trang trại là một tổ chức kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp có cácnguồn lực của tổ chức mang tính đặc trưng và tiên tiến ,Chính tính chất này chophép trang trại ứng dụng các tiến bộ khoa học kỷ thuật trong lĩnh vực nông nghiệp,

cớ giới hóa ,hiện đại hóa, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý trong quátrình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm một cách hiệu quả,đồng thời cũng nhờ tính chấtnày mà sản xuất của trang trại lại càng nâng cao tính sản xuất hàng hóa hơn Hay

có thể nói “Trang trại là hình thức tổ chức kinh tế trong sản xuất nông nghiệp mangloại hình doanh nghiệp tư nhân hoặc doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn”

1.1.1.2 Phân loại trang trại:

a Phân loại theo nguồn gốc hình thành:

- Trang trại được hình thành từ khu đất từ thời phong kiến: Đây là các trangtrại hình thành từ các khu đất thuộc sở hữu tư nhân của tầng lớp quý tộc, địa chủ

- Trang trại phát triển từ kinh tế hộ gia đình: Quá trình sản xuất đã diễn ra sựphân hoá giữa các hộ Các hộ sản xuất thuận lợi sẽ phát triển cao hơn về quy mô vàkết quả sản xuất mà hình thành các trang trại

- Trang trại hình thành theo kiểu xí nghiệp tư bản: Các nhà tư bản đầu tư vốnvào sản xuất nông lâm nghiệp, họ bỏ tiền mua máy móc thiết bị, thuê đất đai và thuêlao động kinh doanh theo kiểu tư bản chủ nghĩa hình thành các trang trại

Hiện nay trang trại gia đình là loại hình trang trại phổ biến ở hầu hết cácnước trên thế giới Trang trại theo kiểu xí nghiệp tư bản còn tồn tại nhưng giới hạntrong một số ngành có giá trị cao như chăn nuôi gia súc, đại gia súc theo hướng xuấtkhẩu

b Phân loại trang trại theo hình thức quản lý:

- Trang trại gia đình: Là loại trang trại độc lập tự sản xuất kinh doanh Mỗigia đình có tư cách pháp nhân do một người trong gia đình làm chủ điều hành

- Trang trại liên doanh: Do vài trang trại hợp nhất để tăng nguồn lực tạo sứccạnh tranh và sự ưu đãi của nhà nước

Trang 9

- Trang trại hợp doanh theo cổ phần: Trang trại loại này được tổ chức theonguyên tắc công ty cổ phần.

- Trang trại uỷ thác: Trang trại mà người chủ uỷ quyền cho người nhà, bạn

bè quản lý điều hành sản xuất

c Phân loại trang trại theo phương hướng sản xuất:

- Trang trại kinh doanh tổng hợp: Trang trại này thường kết hợp sản xuấtkinh doanh nông, lâm, ngư nghiệp kết hợp ngành nghề và dịch vụ

- Trang trại chuyên môn hoá: Phương hướng sản xuất chỉ phát triển mộtngành hoặc một sản phẩm như sản xuất ngũ cốc, chăn nuôi gia súc

d Phân loại theo nguồn thu nhập:

- Nguồn thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp: Xu thế trang trại loại này đanggiảm dần

- Trang trại có thu nhập thêm từ bên ngoài trang trại, loại này thường kinhdoanh tổng hợp và xu thế ngày càng tăng

e Phân loại theo phương thức điều hành sản xuất:

- Chủ trang trại vừa điều hành vừa trực tiếp tham gia sản xuất: Loại trang trạinày chủ hộ thường là nông dân, hiện nay hình thức này là phổ biến

- Chủ trang trại và gia đình không ở trang trại nhưng vẫn điều hành sản xuất:Hình thức này không nhiều nhưng đang có xu hướng phát triển ở các nước côngnghiệp phát triển

- Chủ trang trại nhỏ có ít ruộng đất, không điều hành sản xuất mà uỷ quyềncho người thân quản lý trang trại của mình theo từng vụ hay nhiều năm

f Phân loại theo tiến trình hình thành và phát triển:

- Hộ nông dân nhỏ: Quy mô sản xuất nhỏ, ruộng đất ít, sản xuất bằng công

cụ thô sơ, mục đích đảm bảo thức ăn cho cuộc sống gia đình

- Trang trại truyền thống: Đất đai được khai khẩn thêm về diện tích, bắt đầu

có sự tích tụ đất đai, lao động chủ yếu là lao động của gia đình Sản phẩm sản xuất

ra phần lớn dùng để tiêu dùng

- Trang trại sản xuất trồng trọt hoặc chăn nuôi nhỏ: Quy mô diện tích đượctích tụ lớn hơn, sản xuất được phân định ra với vài loại cây trồng, vật nuôi chủ yếu,sản xuất phần lớn là thủ công, một phần máy móc

Trang 10

- Trang trại sản xuất đa dạng hoá: Sản xuất thâm canh có tưới nước, lao độngkết hợp thủ công và máy móc, sản phẩm đa dạng hoá nhằm đảm bảo thu nhập bềnvững, chủ yếu là sản xuất sản phẩm hàng hóa

- Trang trại chuyên môn hoá: Sử dụng lao động gia đình và thuê ngoài, sảnxuất thâm canh đạt hiệu quả cao chủ yếu là sản xuất sản phẩm hàng hoá

- Trang trại tự động hoá: Đang phát triển ở các nước phát triển trên thế giớitrong ngành chăn nuôi, sản phẩm chủ yếu xuất khẩu

Theo thông tư 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13 tháng 04 năm 2011 của BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn tiêu chí và thủ tục cấp giấychứng nhận kinh tế trang trại, đã phân loại như sau:

1 Các trang trại được xác định theo lĩnh vực sản xuất như sau:

a) Trang trại trồng trọt;

b) Trang trại chăn nuôi;

c) Trang trại lâm nghiệp;

d) Trang trại nuôi trồng thuỷ sản;

đ) Trang trại tổng hợp

2 Trang trại chuyên ngành (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồngthủy sản) là trang trại có tỷ trọng giá trị sản lượng nông sản hàng hóa của ngànhchiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản lượng hàng hóa của trang trại trong năm Trườnghợp không có ngành nào chiếm trên 50% cơ cấu giá trị sản lượng hàng hóa thì đượcgọi là trang trại tổng hợp

1.1.1.3 Tiêu chí xác định trang trại:

Theo thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT BNN-TCTK ngày 20/06/2000 của

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Tổng cục Thống kê hướng dẫn các tiêuchí xác định trang trại như sau:

a Giá trị sản lượng hàng hóa và giá trị bình quân một năm đạt từ 40 triệuđồng trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và ven biền miền Trung, từ 50 triệu đồng trởlên đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên

b Có qui mô sản xuất tương đối lớn so với mức trung bình của kinh tế hộ tạiđịa phương, tương ứng với từng ngành sản xuất cụ thể như trồng trọt, chăn nuôi,lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản

Trang 11

- Đối với các trang trại trồng cây hàng năm là chủ yếu thì ở miền Bắc vàmiền Trung phải có diện tích từ 2 ha canh tác trở lên, còn ở các tỉnh Nam Bộ phải

- Đối với trang trại lâm nghiệp phải có 10 ha đất rừng trở lên

- Đối với trang trại nuôi trồng thủy sản phải có từ 2 ha diện tích mặt nước trởlên

c Có sử dụng lao động làm thuê thường từ 2 lao động/năm Nếu lao độngthời vụ thì quy mô qui đổi thành lao động thường xuyên

d Chủ trang trại phải là người có kiến thức, kinh nghiệm về nông, lâm, ngưnghiệp và trực tiếp điều hành sản xuất tại trang trại

e Lấy sản xuất hàng hóa làm hướng chính và có thu nhập vượt trội so vớitrung bình của kinh tế hộ tại địa phương

Như vậy, nông hộ được xem là cơ sở để hình thành trang trại, một nông hộbình thường không được xem là trang trại, khi nông hộ phát triển đến một mức độnhất định hội đủ các tiêu chỉ trên sẽ được xem là một trang trại Tuy nhiên, hiện nayvẫn chưa có sự thống nhất trong việc xác định trang trại và phân biệt giữa trang trại

và nông hộ sản xuất hàng hóa giữa các vùng khác nhau, cho nên cũng là một hìnhthức tổ chức kinh tế giống nhau nhưng có nơi gọi là trang trại (như Yên Bái, BìnhDương, Bình Phước), có nơi gọi là hộ sản xuất kinh doanh tổng hợp (như SócTrăng) Vì thế mà số lượng trang trại được thống kê trên cả nước thường khôngchính xác

1.1.2 Khái niệm kinh tế trang trại:

Kinh tế trang trại là một khái niệm khác, phân biệt với khái niệm "trang trại"

"Kinh tế trang trại" là tổng thể các yếu tố sản xuất kinh doanh và các mối quan hệkinh tế nảy sinh trong quá trình hoạt động của trang trại Còn “trang trại” là nói kếthợp các yếu tố vật chất của sản xuất và là chủ thể của của các mối quan hệ kinh tế

đó, trang trại là nơi diễn ra các mối quan hệ

Theo Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 về Kinh tế trang trạicủa Chính phủ: Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông

Trang 12

nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình nhằm mở rộng quy mô và nâng caohiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồngrừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thủy sản.

1.1.3 Tính khách quan hình thành kinh tế trang trại:

Từ hộ nông dân tự cung tự cấp chuyển sang kinh tế hàng hóa kinh tế hộ nông

dân nói riêng và kinh tế nông thôn nông nghiệp nói chung có thể phát triển theo các

xu hướng cơ bản như sau:

- Quá trình hình thành các nông trại hay trang trại gia đình Sự hình thànhcác nông trại hay các trang trại gia đình chính là sự hình thành các cơ sở sản xuấthàng hóa nông nghiệp Từ hộ gia đình nông dân tự cung tự cấp, sản xuất mang nặngtính chất hiện vật sang nền kinh tế trang trại sản xuất hàng hóa là một lịch sử tiếnhóa lâu dài trong quá trình hình thành nền nông nghiệp thương phẩm Và con đườngnày không phải của riêng các nước tư bản hay là các nước đang phát triển mà đó là

sự phát triển hợp quy luật của nền nông nghiệp toàn cầu

- Sự hình thành các dịch vụ kinh tế, kỹ thuật phục vụ cho nghề nông thươngphẩm và đời sống của dân cư nông thôn diễn ra cùng với quá trình công nghiệp hóanông thôn Quá trình này làm nảy sinh các quan hệ hoạt động trong các lĩnh vựckinh tế, kỹ thuật ngoài ruộng đất - tức kinh doanh tách khỏi ruộng đất

- Quá trình làm tan rã hoàn toàn về mặt kinh tế các hộ nông dân nghèo, hiệuquả sản xuất thấp (có mức thu nhập dưới ngưỡng tích lũy) cùng với quá trình giatăng phát triển công nghiệp và dịch vụ Đây là quá trình phi nông nghiệp, giảiphóng dần cư dân khỏi lĩnh vực nông nghiệp nông thôn Đây là nội dung quan trọngcủa quá trình phân công lại lao động xã hội và chuyển xã hội nông thôn truyềnthống sang xã hội nông thôn hiện đại

Ba quá trình trên là những bộ phận khác nhau của cùng một nội dung:Chuyển kinh tế nông thôn truyền thống sang kinh tế hàng hóa Có thể xem kinh tế

Trang trại gia đình là một hình thức phát triển cao của kinh tế hộ nông dân, làhạt nhân, là nhân vật trung tâm trong mối quan hệ đan xen với kinh tế tư bản tưnhân, kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác xã tạo thành kết cấu kinh tế nhiều thànhphần, đặc trưng cho nền kinh tế nông thôn đang trong quá trình xác lập nền kinh tếhàng hóa hiện đại

Kinh tế thị trường có sức sống kỳ diệu của chính sự phát triển Phát triểnkinh tế hàng hóa sẽ khai thác mọi tiềm năng của nền kinh tế, phát huy được tínhsáng tạo của người lao đông Khác với kinh tế tự nhiên, sản xuất hàng hóa là nhằmmục đích trao đổi, đáp ứng nhu cầu của người khác do đó kinh tế hàng hóa có ưuthế là phát triển nhu cầu Mà nhu cầu chính là động lực để thúc đẩy phát triển kinh

tế, phát triển xã hội, thúc đẩy tiến bộ khoa học kĩ thuật, cũng chính từ đó tạo ra

Trang 13

động lực kinh tế cho con người, thúc đẩy làm giàu, phát triển đi lên Chỉ có sản xuấthàng hóa mới tạo ra được mục tiêu và động lực rõ ràng cho người sản xuất, dịch vụ

và họ tồn tại vì người khác - người tiêu dùng Kinh tế hàng hóa ra đời và phát triểntrên cơ sở phân công lao động xã hộ nhưng đến lượt nó, chính sự phát triển của kinh

tế hàng hóa lại tác động, thúc đẩy mạnh mẽ sự phân công lao động xã hội ở trình độcao hơn

Chính kinh tế hàng hóa là yếu tố đảm bảo cho sự hòa nhập giữa kinh tế trongnước và kinh tế thế giới, có tác dụng nâng cao trình độ quản lý sản xuất, chất lượngsản phẩm nhằm tạo ra cơ chế động lực thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất

và xã hội hóa nền sản xuất

1.1.4 Những đặc trưng của kinh tế trang trại:

a Trang trại là một đơn vị kinh tế trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp:

- Trang trại là đơn vị trực tiếp sản xuất ra những sản phẩm vật chất cần thiếtcho xã hội, bao gồm nông, lâm, thủy sản; đồng thời quá trình kinh tế trong trang trại

là quá trình khép kín với các khâu của quá trình tái sản xuất luôn kế tiếp nhau, baogồm: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng

- Trang trại là một đơn vị kinh tế có một cơ cấu thống nhất, đó là dựa trên cơ

sở hộ gia đình bao gồm chủ hộ và các thành viên khác trong gia đình Chủ trang trại(thường là chủ hộ) là người đại diện cho trang trại gia đình trong các quan hệ liênquan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại Chủ trang trại là người cókiến thức, có kinh nghiệm kinh doanh, am hiểu thị trường và trực tiếp điều hành sảnxuất kinh doanh tại trang trại Đây là những tố chất rất cần thiết cho một nhà kinhdoanh trong nền kinh tế thị trường

- Tài sản và vốn sản xuất kinh doanh của trang trại gia đình thuộc quyền sởhữu hoặc sử dụng (đối với đất đai) chung của các thành viên trong hộ gia đình.Bằng công sức, tài sản và vốn chung, các thành viên của hộ gia đình tiến hành cáchoạt động sản xuất kinh doanh nông, lâm, ngư nghiệp dưới hình thức trang trại giađình Đồng thời chịu trách nhiệm về các hoạt động sản xuất kinh doanh bằng nhữngtài sản chung đó

- Xuất phát từ bản chất kinh tế của trang trại, nên hoạt động sản xuất kinhdoanh của trang trại luôn gắn liền với một vị trí diện tích đất đai nhất định Thực tếcho thấy, đây vừa là địa điểm sản xuất kinh doanh đồng thời cũng là trụ sở giao dịchcủa trang trại gia đình trong các quan hệ nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất kinhdoanh Ngoài ra, để thuận lợi hơn trong việc tiếp cận thị trường, không ít trang trạigia đình đã mở thêm các địa điểm giao dịch gần các trung tâm thương mại lớn nhằmtiếp thị và tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của mình

Trang 14

b Mục đích chủ yếu của trang trại là kinh doanh nông sản phẩm hàng hóatheo nhu cầu thị trường:

- Đây là đặc đểm quan trọng nhất của trang trại Mục tiêu của trang trại làsản xuất nông, lâm, thủy sản để bán, khác hẳn với kinh tế hộ tự cấp tự túc Trangtrại là một hình thức tổ chức sản xuất nông lâm ngư nghiệp được hình thành trên cơ

sở kinh tế tự chủ trong cơ chế thị trường mang tính chất sản xuất hàng hóa rõ rệt Vìvậy, đặc trưng cơ bản của trang trại là sản xuất nông, lâm, thủy sản hàng hóa Kinhnghiệm các nước trên thế giới cho thấy tiêu chí giá trị nông sản hàng hóa và tỷ suấthàng hóa bán ra trong năm luôn được sử dụng làm thước đo chủ yếu của trang trại

c Trong trang trại, các yếu tố sản xuất trước hết là ruộng đất và tiền vốnđược tập trung tới quy mô nhất định theo yêu cầu phát triển sản xuất hàng hóa:

- Trong nông nghiệp cũng như trong các ngành sản xuất vật chất khác, sảnxuất hàng hóa chỉ có thể được tiến hành khi các yếu tố sản xuất được tập trung vớiquy mô nào đó Do đó ở các trang trại, sản xuất hàng hóa chỉ có thể được thực hiệnkhi ruộng đất, vốn, tư liệu sản xuất,…được tập trung với quy mô đủ lớn

d Lao động trong các trang trại chủ yếu dựa trên các thành viên trong hộ,ngoài ra có thuê mướn lao động:

- Lực lượng lao động trong trang trại chủ yếu là chủ trang trại và các thànhviên trong gia đình, đây là những người có quan hệ huyết thống, gần gũi như: cha

mẹ, vợ chồng, anh em Lao động được tổ chức gọn nhẹ, đơn giản, quản lý điều hànhlinh hoạt, dễ dàng và hiệu quả lao động cao Ngoài ra, để phục vụ cho nhu cầu sảnxuất kinh doanh, trang trại còn phải thuê mướn lao động bên ngoài, nhất là vào thời

vụ gieo trồng, thu hoạch Quy mô thuê mướn lao động trong trang trại tùy thuộc vàoquy mô sản xuất kinh doanh của trang trại Có hai hình thức thuê mướn lao độngtrong các trang trại: thuê lao động thường xuyên và thuê lao động theo thời vụ

e Cách thức tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh trong trang trại ngày càngmang tính khoa học, chuyên nghiệp:

- Đối với trang trại, với mục đích chính là sản xuất hàng hóa và bị chi phốibởi các yếu tố như lợi nhuận, giá cả, cạnh tranh, đòi hỏi việc sản xuất phải cóphương án hợp lý lựa chọn cây trồng, vật nuôi, quy hoạch ruộng đất, xây dựng kếtcấu hạ tầng kỹ thuật sản xuất, áp dụng các công nghệ và quy trình sản xuất thâmcanh, kế hoạch tài chính, hạch toán giá thành, lợi nhuận, phân tích kinh doanh…Vìvậy, việc quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại đòi hỏiphải dựa trên cơ sở những kiến thức khoa học và ngày càng mang tính chuyênnghiệp, đi vào chiều sâu

Trang 15

1.2 Một số vấn đề cơ bản trong quản trị trang trạng:

1.2.1 Khái niệm quản trị:

Quản trị là quá trình thực hiện các tác động của chủ thể quản lý lên đối tượngquản lý để phối hợp hoạt động của các cá nhân và tập thể nhằm đạt các mục tiêu đã

Nói chung, quản trị là một hình thức phức tạp mà các nhà quản trị kinhdoanh phải quản trị từ khâu đầu đến khâu cuối của một chu kỳ sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp, thực chất của quản trị kinh doanh là quản trị các yếu tố đầu vào,quá trình sản xuất kinh doanh các yếu tố đầu ra theo quá trình hoạt động

• Theo quá trình quản trị kinh doanh: Công tác quản trị trong doanh nghiệp làquá trình lập kế họach, tổ chức phối hợp và điều chỉnh các hoạt động của các thànhviên , các bộ phận và các chức năng trong doanh nghiệp nhằm huy động tối đa mọinguồn lực để đạt được các mục tiêu đã đặt ra của tổ chức

• Theo quan điểm hệ thống quản trị: Quản trị còn là việc thực hành nhữnghoạt động trong mỗi tổ chức một cách có ý thức và liên tục Quản trị trong mộtdoanh nghiệp tồn tại trong một hệ thống bao gồm các khâu, các phần, các bộ phận

có mối liên hệ khăng khít với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và thúc đẩy nhau pháttriển

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản trị trang trại:

1.2.2.1 Yếu tố vi mô:

Trang 16

Bao gồm các yếu tố trong ngành và là các yếu tố ngoại cảnh đối với doanhnghiệp, quyết định tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành kinh doanh đó Có 5yếu tố cơ bản là: đối thủ cạnh tranh, người mua, người cung cấp, các đối thủ mớitiềm ẩn và sản phẩm thay thế

Vì ảnh hưởng chung của các yếu tố này thường là một sự miễn cưỡng đối vớitất cả các doanh nghiệp, nên chìa khóa để ra được một chiến lược thành công là phảiphân tích từng yếu tố chủ yếu đó Sự am hiểu các nguồn sức ép cạnh tranh giúp cácdoanh nghiệp nhận ra mặt mạnh và mặt yếu của mình liên quan đến các cơ hội vànguy cơ mà ngành kinh doanh đó gặp phải

- Các đối thủ cạnh tranh: Sự hiểu biết về các đối thủ cạnh tranh có một ý

nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp do nhiều nguyên nhân Các đối thủ cạnhtranh quyết định tính chất và mức độ tranh đua hoặc thủ thuật giành lợi thế trongngành

- Khách hàng: Vấn đề khách hàng là một bộ phận không tách rời trong môi

trường cạnh tranh Sự tín nhiệm của khách hàng có thể là tài sản có giá trị nhất củahãng Sự tín nhiệm đó đạt được do biết thỏa mãn tốt hơn nhu cầu và thị hiếu củakhách hàng so với với các đối thủ cạnh tranh

- Nhà cung ứng: Các doanh nghiệp cần phải quan hệ với các tổ chức cung

cấp các nguồn hàng khác nhau, như vật tư, thiết bị, lao động và tài chính

- Người bán vật tư, thiết bị: Các tổ chức cung cấp vật tư, thiết bị có ưu thế

có thể gây khó khăn bằng cách tăng giá, giảm chất lượng sản phẩm hoặc giảm dịch

vụ đi kèm Yếu tố làm tăng thế mạnh của các tổ chức cung ứng cũng tương tự nhưcác yếu tố làm tăng thế mạnh của người mua sản phẩm Cụ thể là các yếu tố: sốlượng cung cấp ít; không có mặt hàng thay thế khác và không có nhà cung cấp nàochào bán các sản phẩm có tính khác biệt

Nếu người cung cấp có được điều kiện thuận lợi như vậy thì các doanhnghiệp mua hàng cần kiếm cách cải thiện vị thế của họ bằng cách tác động đến mộthay nhiều yếu tố nói trên Họ có thể đe dọa hội nhập dọc bằng cách mua lại các cơ

sở cung cấp hàng cho chính họ, hoặc có thể mua giấy phép độc quyền

- Người cung cấp vốn: Trong những thời điểm nhất định phần lớn các doanh

nghiệp, kể cả các doanh nghiệp làm ăn có lãi, đều phải vay vốn tạm thời từ người tàitrợ Nguồn tiền vốn này có thể nhận được bằng cách vay ngắn hạn hoặc dài hạnhoặc phát hành cổ phiều Khi doanh nghiệp tiến hành phân tích về các tổ chức tàichính thì trước hết cần chú ý xác định vị thế của mình so với các thành viên kháctrong cộng đồng

- Nguồn lao động: Nguồn lao động cũng là một phần chính yếu trong môi

trường cạnh tranh của doanh nghiệp Khả năng thu hút và giữ được các nhân viên

Trang 17

có năng lực là tiền đề để dảm bảo thành công cho doanh nghiệp Các yếu tố chínhcần đánh giá là đội ngũ lao động chung bao gồm: trình độ đào tạo và trình độchuyên môn của họ, mức độ hấp dẫn tương đối của doanh nghiệp với tư cách làngười sử dụng lao động và mức tiền công phổ biến

- Đối thủ tiềm ẩn mới: Đối thủ mới tham gia kinh doanh trong ngành có thể

là yếu tố làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp do họ đưa vào khai thác các nănglực sản xuất mới, với mong muốn giành được thị phần và các nguồn lực cần thiết.Cần lưu ý là việc mua lại các cơ sở khác trong ngành với ý định xây dựng phần thịtrường thường là biểu hiện của sự xuất hiện đối thủ mới xâm nhập

Mặc dù không phải bao giờ doanh nghiệp cũng gặp phải đối thủ cạnh tranhtiềm ẩn mới, song nguy cơ đối thủ mới hội nhập vào ngành vừa chịu ảnh hưởngđồng thời cũng có ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp

- Sản phẩm thay thế: Sức ép do có sản phẩm thay thế làm hạn chế tiềm

năng lợi nhuận của ngành do mức giá cao nhất bị khống chế Nếu không chú ý tớicác sản phẩm thay thế tiềm ẩn, doanh nghiệp có thể bị tụt lại với các thị trường nhỏ

bé Thí dụ: như các doanh nghiệp sản xuất máy chơi bóng bàn không chú ý tới sựbùng nổ của các trò chơi điện tử Vì vậy, các doanh nghiệp cần không ngừng nghiêncứu và kiểm tra các mặt hàng thay thế tiềm ẩn

Phần lớn sản phẩm thay thế mới là kết quả của cuộc bùng nổ công nghệ.Muốn đạt được thành công, các doanh nghiệp cần chú ý và dành nguồn lực thíchhợp để phát triển hay vận dụng công nghệ mới vào chiến lược của mình

1.2.2.2 Yếu tố vĩ mô:

Các yếu tố môi trường vĩ mô bao gồm: Các yếu tố kinh tế, yếu tố chính trị

và luật pháp, yếu tố xã hội, yếu tố tự nhiên và yếu tố công nghệ, yếu tố môi trườngquốc tế Mỗi yếu tố môi trường vĩ mô nói trên có thể ảnh hưởng đến tổ chức mộtcách độc lập hoặc trong mối liên kết với các yếu tố khác

- Các yếu tố kinh tế:

Các ảnh hưởng chủ yếu về kinh tế gồm các yếu tố như lãi suất ngân hàng,giai đoạn của chu kỳ kinh tế, cán cân thanh toán, chính sách tài chính và tiền tệ Vìcác yếu tố này tương đối rộng nên cần chọn lọc để nhận biết các tác động cụ thể ảnhhưởng trực tiếp nhất đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng vô cùng lớn đến các doanh nghiệp kinhdoanh Chẳng hạn như lãi suất và xu hướng lãi suất trong nền kinh tế có ảnh hưởngtới xu thế của tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư, do vậy sẽ ảnh hưởng tới họat động củacác doanh nghiệp Lãi suất tăng sẽ hạn chế nhu cầu cầu vay vốn để đầu tư mở rộnghọat động kinh doanh, ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp Ngoài ra khi lãi

Trang 18

suất tăng cũng sẽ khuyến khích người dân gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn, do vậycũng sẽ làm cho nhu cầu cầu tiêu dùng giảm xuống.

Xu hướng của tỷ giá hối đoái: Sự biến động của tỷ giá làm thay đổi nhữngđiều kiện kinh doanh nói chung, tạo ra những cơ hội đe dọa khác nhau đối với cácdoanh nghiệp, đặc biệt nó có những tác động điều chỉnh quan hệ xuất nhập khẩu

Mức độ lạm phát: lạm phát cao hay thấp có ảnh hưởng đến tốc độ đầu tư vàonền kinh tế Khi lạm phát quá cao sẽ không khuyến khích tiết kiệm và tạo ra nhữngrủi ro lớn cho sự đầu tư của các doanh nghiệp, sức mua của xã hội cũng bị giảm sút

và làm cho nền kinh tế bị đình trệ Trái lại, thiểu phát cũng làm cho nền kinh tế bịđình trệ Việc duy trì một tỷ lệ lạm phát vừa phải có tác dụng khuyến khích đầu tưvào nền kinh tế, kích thích thị trường tăng trưởng

Tuy có nhiều số liệu cụ thể, song việc dự báo kinh tế không phải là một khoahọc chính xác Một số doanh nghiệp thường sử dụng các mô hình dự báo thay vìdựa vào các số liệu dự báo sẵn có Đối với các doanh nghiệp chưa xây dựng được

mô hình đó cũng cần phải xác định các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng lớn nhất đối với

tổ chức

Các kiến thức kinh tế sẽ giúp các nhà quản trị xác định những ảnh hưởng củamột doanh nghiệp đối với nền kinh tế của đất nước, ảnh hưởng của các chính sáchkinh tế của chính phủ đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Tính ổn định

về kinh tế trước hết và chủ yếu là ổn định nền tài chính quốc gia, ổn định tiền tệ,khống chế lạm phát Đây là những vấn đề các doanh nghiệp rất quan tâm và liênquan trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh của họ

- Yếu tố chính trị và luật pháp:

Các yếu tố chính trị và luật pháp có ảnh hưởng ngày càng lớn đến hoạt độngcủa các doanh nghiệp, bao gồm hệ thống các quan điểm, đường lối chính sách củachính phủ, hệ thống luật pháp hiện hành, các xu hướng ngoại giao của chính phủ,những diễn biến chính trị trong nước, trong khu vực và trên toàn thế giới Doanhnghiệp phải tuân theo các quy định về thuê mướn, thuế, cho vay, an toàn, vật giá,quảng cáo nơi đặt nhà máy và bảo vệ môi trường v.v

Luật pháp: Đưa ra những quy định cho phép hoặc không cho phép, hoặcnhững ràng buộc đòi hỏi các doanh nghiệp phải tuân thủ

Chính phủ là cơ quan giám sát, duy trì, thực hiện pháp luật và bảo vệ lợi íchquốc gia Chính phủ có vai trò to lớn trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua cácchính sách kinh tế, tài chính, tiền tệ, các chương trình chi tiêu của mình Trong mốiquan hệ với các doanh nghiệp, chính phủ vừa đóng vai trò là người kiểm soát,khuyến khích, tài trợ, quy định ngăn cấm, hạn chế, vừa đóng vai trò là khách hàngquan trọng đối với các doanh nghiệp (trong các chương trình chi tiêu của chính

Trang 19

phủ), và sau cùng chính phủ cũng đóng vai trò là nhà cung cấp các dịch vụ cho cácdoanh nghiệp: cung cấp các thông tin vĩ mô, các dịch vụ công cộng khác

Như vậy, hoạt động của chính phủ cũng có thể tạo ra cơ hội hoặc nguy cơ.Thí dụ, một số chương trình của chính phủ (như biểu thuế hàng ngoại nhập cạnhtranh, chính sách miễn giảm thuế) tạo cho doanh nghiệp cơ hội tăng trưởng hoặc cơhội tồn tại Ngược lại, việc tăng thuế trong một ngành nhất định nào đó có thể đedọa đến lợi nhuận của doanh nghiệp

Nhìn chung, các doanh nghiệp hoạt động được là vì điều kiện xã hội chophép Chừng nào xã hội không còn chấp nhận các điều kiện và bối cảnh thực tế nhấtđịnh, thì xã hội sẽ rút lại sự cho phép đó bằng cách đòi hoi chính phủ can thiệp bằngchế độ chính sách hoặc hệ thống pháp luật Thí dụ, mối quan tâm của xã hội đối vớivấn đề ô nhiễm môi trường hoặc tiết kiệm năng lượng được phản ảnh trong các biệnpháp của chính phủ Xã hội cũng đòi hỏi có các quy định nghiêm ngặt đảm bảo cácsản phẩm tiêu dùng được sử dụng an toàn

Sự ổn định chính trị tạo ra môi trường thuận lợi đối với các hoạt động kinhdoanh Một chính phủ mạnh và sẵn sàng đáp ứng những đòi hỏi chính đáng của xãhội sẽ đem lại lòng tin và thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước Trong một xãhội ổn định về chính trị, các nhà kinh doanh được đảm bảo an toàn về đầu tư, quyền

sở hữu các tài sản khác của họ, như vậy họ sẽ sẵn sàng đầu tư với số vốn nhiều hơnvào các dự án dài hạn Chính sự can thiệp nhiều hay ít của chính phủ vào nền kinh

tế đã tạo ra những thuận lợi hoặc khó khăn và cơ hội kinh doanh khác nhau chotừng doanh nghiệp Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp cần sớm phát hiện ra những

cơ hội hoặc thách thức mới trong kinh doanh, từ đó điều chỉnh thích ứng các hoạtđộng nhằm tránh những đảo lộn lớn trong quá trình vận hành, duy trì và đạt đượccác mục tiêu đã đặt ra trong kinh doanh Vấn đề then chốt là cần phải tuân thủ cácquy định có thể được ban hành

- Yếu tố văn hóa - xã hội:

Môi trường văn hóa - xã hội bao gồm những chuẩn mực và giá trị được chấpnhận và tôn trọng bởi một xã hội hoặc một nền văn hóa cụ thể Sự thay đổi của cácyếu tố văn hóa - xã hội một phần là hệ quả của sự tác động lâu dài của các yếu tố vĩ

mô khác, do vậy nó thường biến đổi chậm hơn so với các yếu tố khác Một số đặcđiểm mà các nhà quản trị cần chú ý là: sự tác động của các yếu tố văn hóa - xã hộithường có tính dài hạn và tinh tế hơn so với các yếu tố khác, nhiều lúc khó mà nhậnbiết được Mặt khác, phạm vi tác động của các yếu tố văn hóa - xã hội thường rấtrộng: "nó xác định cách thức người ta sống, làm việc, sản xuất và tiêu thụ các sảnphẩm và dịch vụ" Các khía cạnh hình thành môi trường văn hóa - xã hội có ảnhhưởng mạnh mẽ đến các họat động kinh doanh như: những quan niệm về đạo đức,thẩm mỹ,lối sống, về nghề nghiệp; những phong tục, tập quán, truyền thống; nhữngquan tâm ưu tiên của xã hội; trình độ nhận thức, học vấn chung của xã hội

Trang 20

Tất cả các doanh nghiệp cần phân tích rộng rãi các yếu tố xã hội nhằm nhậnbiết các cơ hội và nguy cơ có thể xảy ra Khi một hay nhiều yếu tố thay đổi chúng

có thể tác động đến doanh nghiệp, như xu hướng nhân chủng học, sở thích vui chơigiải trí, chuẩn mực đạo đức và quan điểm về mức sống, cộng đồng kinh doanh vàlao động nữ

Các yếu tố xã hội học trên thường biến đổi hoặc tiến triển chậm nên đôi khithường khó nhận biết Thí dụ, hiện nay có một số lượng lớn lao động là nữ giới.Điều nay do quan điểm của nam giới cũng như nữ giới đã thay đổi Nhưng rất ítdoanh nghiệp nhận ra sự thay đổi quan điểm này để dự báo tác động của nó và đề rachiến lược tương ứng Các thay đổi khác diễn ra nhanh hơn nếu chúng gây ra bởi sựgián đoạn bên ngoài nào đó trong hành vi chuẩn mực đạo đức của xã hội

Trong môi trường văn hóa, các nhân tố nổi lên giữ vai trò đặc biệt quan trọng

là tập quán, lối sống, tôn giáo Các nhân tố này được coi là "hàng rào chắn" cáchoạt động giao dịch thương mại Thị hiếu và tập quán của người tiêu dùng có ảnhhưởng rất lớn đến nhu cầu, vì ngay cả trong trường hợp hàng hóa thực sự có chấtlượng tốt nhưng nếu không được người tiêu dùng ưa chuộng thì cũng khó được họchấp nhận Chính thị hiếu, tập quán người tiêu dùng mang đặc điểm riêng của từngvùng, từng dân tộc và phản ánh yếu tố văn hóa, lịch sử, tôn giáo của từng địaphương, từng quốc gia

Trong điều kiện thực hiện cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, đạođức xã hội trong đó có đạo đức kinh doanh được coi là một khía cạnh thiết thực vàquan trọng của môi trường kinh doanh Đạo đức đặt cương lĩnh cho hoạt động hàngngày trong một xã hội và chi phối mọi hành vi và tác phong cá nhân Đạo đức làgiới hạn ngăn cách những hành vi xấu và là động lực thúc đẩy những hành vi tốt.Đạo đức có thể coi như một nhu cầu xã hội và vì vậy bất kỳ một thể chế kinh tế nàocũng phải xây dựng một khuôn khổ đạo đức để làm một trong những nguyên tắcđiều hành

- Yếu tố tự nhiên:

Điều kiện tự nhiên bao gồm vị trí địa lý, khí hậu, cảnh quan thiên nhiên, đấtđai, sông biển, các nguồn tài nguyên khoáng sản trong lòng đất, tài nguyên rừngbiển, sự trong sạch của môi trường nước, không khí, Tác động của các điều kiệu

tự nhiên đối với các quyết sách trong kinh doanh từ lâu đã được các doanh nghiệpthừa nhận Trong rất nhiều trường hợp, chính các điều kiện tự nhiên trở thành mộtyếu tố rất quan trọng để hình thành lợi thế cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ

Tuy nhiên, cho tới nay các yếu tố về duy trì môi trường tự nhiên rất ít đượcchú ý tới Sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách của nhà nước ngày càngtăng vì công chúng quan tâm nhiều hơn đến chất lượng môi trường tự nhiên Cácvấn đề ô nhiễm môi trường, sản phẩm kém chất lượng, lãng phí tài nguyên thiênnhiên cùng với nhu cầu ngày càng lớn đối với các nguồn lực có hạn khiến công

Trang 21

chúng cũng như các nhà doanh nghiệp phải thay đổi các quyết định và biện pháphoạt động liên quan

- Yếu tố công nghệ và kỹ thuật:

Đây là một trong những yếu tố rất năng động, chứa đựng nhiều cơ hội và đedọa đối với các doanh nghiệp Những áp lực và đe dọa từ môi trường công nghệ cóthể là: sự ra đời của công nghệ mới làm xuất hiện và tăng cường ưu thế cạnh tranhcủa các sản phẩm thay thế, đe dọa các sản phẩm truyền thống của ngành hiện hữu

Sự bùng nổ của công nghệ mới làm cho công nghệ hiện tại bị lỗi thời và tạo ra áplực đòi hỏi các doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ để tăng cường khả năng cạnhtranh Sự ra đời của công nghệ mới làm tăng thêm áp lực đe dọa các doanh nghiệphiện có trong ngành Sự bùng nổ của công nghệ mới càng làm cho vòng đời côngnghệ có xu hướng rút ngắn lại, điều này càng làm tăng thêm áp lực phải rút ngắnthời gian khấu hao so với trước

Ít có ngành công nghiệp và doanh nghiệp nào mà lại không phụ thuộc vào

cơ sở công nghệ ngày càng hiện đại Các nhà nghiên cứu phát triển và chuyển giaocông nghệ hàng đầu nói chung đang lao vào công việc tìm tòi các giải pháp kỹ thuậtmới nhằm giải quyết các vấn đề tồn tại và xác định các công nghệ hiện tại có thểkhai thác trên thị trường

Các doanh nghiệp cũng phải cảnh giác đối với các công nghệ mới có thể làmcho sản phẩm của họ bị lạc hậu một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Bên cạnh đó, cácnhà quản trị cần lưu ý thêm khi đề cập đến môi trường công nghệ:

Áp lực tác động của sự phát triển công nghệ và mức chi tiêu cho sự phát triểncông nghệ khác nhau theo ngành Như vậy, đối với những nhà quản trị trong nhữngngành bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi kỹ thuật nhanh thì quá trình đánh giá những cơhội và đe dọa mang tính công nghệ trở thành vấn đề đặc biệt quan trọng của việckiểm soát các yếu tố bên ngoài

Một số ngành nhất định có thể nhận được sự khuyến khích và tài trợ củachính phủ cho việc nghiên cứu và phát triển - khi có sự phù hợp với các phươnghướng và ưu tiên của chính phủ Nếu các doanh nghiệp biết tranh thủ những cơ hội

từ sự trợ giúp này sẽ gặp được những thuận lợi trong quá trình họat động

1.3 Tổng quan về kinh tế trang trại ở Việt Nam

1.3.1 Thành tựu đạt được:

Kinh tế trang trại nước ta mở dù còn nhỏ bé những đã góp phần phát huy nội lực, khơi dậy được tiềm năng đất đai, lao động, vốn trong dân cư, cho đầu tư phát triển sản xuất nông lâm, ngư nghiệp và phát triển nông thôn Cơ cấu vốn của trang

Trang 22

trại chủ yếu là vốn tự có của chủ trang trại chiếm 85% Phần còn lại là vay ngân

hàng 8%, vay thân nhân 6% và 1% là do liên kết với doanh nghiệp Nhà nước.

Kinh tế trang trại góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp,nông thôn, tạo ra các vùng tập trung, chuyên canh, sản xuất hàng hóa làm tiền đềcho phát triển công nghiệp chế biên nông sản, thực phẩm ; tạo thuận lợi cho việcđưa công nghiệp, dịch vụ vào nông thôn ,tăng tốc độ phủ xanh đất trống, đồi núitrọc, cải thiện môi trường sinh thái

Đến nay nhiều vùng sản xuất tập trung về cây công nghiệp và cây ăn quảnhư: Cà phê, điều, hồ tiêu, mía, vải thiều, về chăn nuôi bò sữa, bò thịt, dê,cừu,nuôi tôm, được hình thành phát triển dựa vào phát triển kinh tế trang trại

Kinh tế trang trại tạo thêm việc làm, góp một phần giải quyết số lao động dưthừa trong nông thôn, tăng thu nhập cho một phận dân cư, góp phần thúc đẩy việcnâng cao dân trí và đời sống văn hóa ở nông thôn, đặc biệt là ở vùng trung du, miềnnúi, vùng đồng bào dân tộc

Năm 1997, bình quân giá trị thu hoạch sản phẩm trên 1 ha của nhiều trangtrại khá cao Một số trang trại trồng hồ tiêu, thu nhập đạt từ 200 đến 500 triệu đồng/ha; trang trại nuôi tôm đạt từ 80 đến 150 triệu đồng/ha, Nhờ đó mà nhiều chủtrang trại đã giàu lên nhanh chóng ; thu nhập của người lao động làm thuê thườngxuyên đạt khoảng 300 dấn 600 ngàn đồng/tháng ; người làm thuê thời vụ nhận đượcđến 25000 đồng/ngày

Kinh tế trang trại gắn với thị trường, phải tham gia cạnh tranh quyết liệt trênthị trường, chính vì vậy, các trang trại có yêu cầu hợp tác, liên kế lại với nhau vớikinh tế nhà nước về nhiều mặt để có sức cạnh tranh trên thị trường và cùng nhauchung sức giải quyết các nhu cầu xã hội của người lao động Mối quan hệ hợp tác sẽgiúp cho các trang trại vượt qua nhiều khó khăn, đặc biệt là vốn đầu tư cho sản xuất

là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế trang trại trongđiều kiện hiện hiện nay

- Nhiều trang trại còn lúng túng về phương hướng sản xuất, thu nhập thấp

Ở Yên Bái, năm 1997, thu nhập bình quân một trang trại chỉ có 14,5 triệuđồng

Trang 23

- Các trang trại đều chưa được thừa nhận về mặt pháp lý nên chưa có tư cáchpháp nhân trong quan hệ giao dịch với cơ quan Nhà nước và các tổ chức kinh tếnhất là đối với ngân hàng Thực tế, chủ trang trại chỉ được xem như là một chủ hộnông dân bình thường, trong khi đó qui mô sản xuất của chủ trang trang trại lớn gấptrăm thậm chi gấp ngàn lần, nhất là vốn Thiếu tư cách pháp nhân chủ trang trại chịuthiệt thòi về nhiều mặt, do đó họ chưa yên tâm và không có điều kiện để mở rộngsản xuất kinh doanh.

- Các trang trại đều có qui mô ruộng đất vượt quá hạn điền theo quy định củaLuật đất đai hiện hành Hầu hết quỹ đất của trang trại là do khai hoang, phục hóa vànhận chuyển nhượng từ người khác Nguồn vốn và lao động của gia đình, nhưng lạichưa được pháp luật côngnhận Đến nay, Nhà nước vẫn chưa có chính sách về đấtđai vượt quá hạn điền của các trạng trại nên họ còn rất băn khoăn Hiện tượng phântán ruộng đất của các trạng trại thành nhiều chủ hoặc chuyển nhượng ngầm còn diễn

ra phổ biến

- Quan hệ giữa trang trại với chính quyền địa phương, các chủ thể kinh tế(nông trường, lâm trường, hợp tác xã nông nghiệp) và các hội nông dân trên địa bàncòn chưa rõ ràng, cả về quyền lợi và nghĩa vụ Ranh giới giữa trang trại và hộ nôngsản xuất giỏi chưa được phân định đúng với thực tế và nói chung là chưa rõ ràng

- Thiếu vốn nghiêm trọng nhưng nhà nước chưa có chính sách tín dụng để hỗtrợ các trang trại nhất là trong nhưng năm đầu thành lập

- Thiếu kỹ thuật, hoạt động sản xuất của trang trại còn dựa chủ yếu vào kinhnghiệm hơn là áp dụng khoa học kỹ thuật, thiếu máy móc, nông cụ và thiêu laođộng lành nghề, nhưng bản thân các trang trại không có điều kiện đào tạo, bồidưỡng trong khi Nhà nước chưa quan tâm

- Cơ sở hạ tầng yếu kém, gây khó khăn cho phát triển và mở rộng sản xuất.Hầu hết các trạng trại hiện nay được hình thành ở vùng trung du, miền núiđất xấu, địa hình phức tạp, giao thông thủy lợi, điện đều khó khăn Do đó sản phẩmlàm ra nhiều đang mâu thuẫn với khả năng vận chuyển chế biến và tiêu thụ

- Thị trường và giá cả nông sản chưa ổn định nên nhiều chủ trang trại khôngmuốn mở rộng qui mô sản xuất mặc dù khả năng đất đai lao động vẫn còn

Trang 24

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TẠI

TỈNH NINH THUẬN 2.1 Khái quát về tỉnh Ninh Thuận:

Trong phạm vi trên, tỉnh Ninh Thuận có quốc lộ 1A, quốc lộ 27 và đường sắtThống Nhất chạy qua; cách sân bay quốc tế Cam Ranh khoảng 60km Trong tươnglai gần, khi đường sắt Thống Nhất (đoạn thành phố Hồ Chí Minh đi Nha Trang)được nâng cấp và xây mới thành đường sắt cao tốc, tuyến đường sắt Tháp Chàm -

Đà Lạt được khôi phục và nâng cấp; cùng với các công trình, dự án có qui mô lớnđược triển khai đầu tư trong giai đoạn 2008-2010 và sau năm 2010 như xây dựngcảng Dốc Hầm, tổ hợp luyện thép, nhà máy điện hạt nhân, các nhà máy điện gió,khu sản xuất muối công nghiệp và xuất khẩu Quán Thẻ qui mô 2.500 ha, tạo điềukiện cho Ninh Thuận phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh hơn, thu hẹpkhoảng cách tụt hậu so với cả nước; đẩy mạnh giao thương với quốc tế và các nơikhác trong cả nước

Mặt khác, ở vào vị trí địa lý trên, Ninh Thuận nằm trong vùng khí hậu khôhạn nhất Việt Nam và có vùng nước trồi, đây là một đặc điểm mang tính đặc thùriêng của Ninh Thuận, vừa mang tính chất là khó khăn lại có ý n ghĩa như một lợithế, cần có những phương hướng, giải pháp phát triển, sử dụng, khai thác hợp lý đặcđiểm mang tính đặc thù Ngoài ra, Ninh Thuận được xác định có vị trí quan trọng vềbảo vệ quốc phòng và an ninh của cả nước trong mối quan hệ với vùng Tây Nguyên

và các tỉnh ở Miền Trung với nhiều cơ sở quân sự đóng trên địa bàn như sân bayThành Sơn, Đoàn Đặc công

2.1.2 Địa hình:

Địa hình của tỉnh có 3 dạng chính là: Núi, đồi gò bán sơn địa và đồng bằngven biển Địa hình đồi núi của tỉnh chiếm 63,2% diện tích toàn tỉnh, chủ yếu là núithấp, dốc từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam Phía Bắc có Núi Chúa, phía Nam

Ngày đăng: 25/01/2019, 16:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w