Thực trạng chuyển giá của các doanh nghiệp FDI tại việt nam
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG I - CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ CHUYỂN GIÁ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP FDI 5
1.1.Khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 5
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 5
1.1.1.1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 5
1.1.1.2 Các hình thức của FDI 5
1.1.1.3 Đặc điểm của FDI 7
1.1.2 Vai trò của FDI đối với sự phát triển kinh tế 8
1.1.2.1 Đối với nước tiếp nhận đầu tư: 8
1.1.2.2 Vai trò của FDI đối với nước chủ đầu tư: 9
1.2 Tổng quan về chuyển giá 9
1.2.1 Khái niệm chuyển giá 9
1.2.2 Bản chất của chuyển giá 9
1.2.3 Các hình thức chuyển giá ở doanh nghiệp FDI 10
1.2.3.1 Chuyển giá thông qua hình thức nâng cao giá trị tài sản góp vốn 10
1.2.3.2 Chuyển giá bằng cách nâng khống trị giá công nghệ, thương hiệu…11 1.2.3.3 Nhập khẩu nguyên vật liệu từ công ty mẹ ở nước ngoài hoặc từ công ty đối tác trong liên doanh với giá cao 11
1.2.3.4 Chuyển giá thông qua hình thức nâng chi phí các đơn vị hành chính và quản lý 11
1.2.3.5 Thực hiện chuyển giá thông qua việc điều tiết giá mua bán hàng hóa 12 1.2.3.6 Chuyển giá thông qua hình thức tài trợ bằng nghiệp vụ vay từ công ty mẹ 12
1.2.3.7 Chuyển giá thông các trung tâm tái tạo hóa đơn 12
1.2.4 Nguyên nhân chuyển giá 12
1.2.4.1 Các yếu tố thúc đẩy bên trong 12
1.2.4.2 Các yếu tố thúc đẩy bên ngoài 13
1.2.5 Tác động của chuyển giá: 15
1.2.5.1 Đối với quốc gia nhận đầu tư: 15
1.2.5.2 Đối với quốc gia xuất khẩu đầu tư: 16
1.2.6 Môi trường pháp lí của Việt Nam liên quan đến vấn đề chuyển giá 17
Trang 2CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP FDI TẠI VIỆT NAM 20
2.1 Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp (FDI) tại Việt Nam: 20
2.1.1 Bản chất doanh nghiệp FDI tại Việt Nam 20
2.1.2 Nguồn vốn FDI vào Việt Nam những năm gần đây 21
2.2 Thực trạng hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam 24
2.2.1 Tình hình chuyển giá của các doanh nghiệp FDI trong thời gian qua tại Việt Nam 24
2.2.2 Tìm hiểu một số trường hợp chuyển giá tiêu biểu tại Việt Nam trong các năm gần đây 28
2.2.3 Nguyên nhân chuyển giá ở Việt Nam 39
2.3 Đánh giá thực trạng chuyển giá của các doanh nghiệp 41
2.3.1 Những thay đổi tích cực trong hoạt động chống chuyển giá 42
2.3.2 Những khó khăn trong hoạt động chuyển giá 44
CHƯƠNG III CÁC GIẢI PHÁP HẠN CHẾ HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP FDI Ở VIỆT NAM 46
KẾT LUẬN 48
PHỤ LỤC THAM KHẢO 49
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Để hội nhập kinh tế thế giới, các quốc gia không ngừng “chuyển mình” để không
bị gạt ra khỏi vòng quay của sự phát triển Sau khi Việt Nam thực hiện chính sách mởcửa cho đến nay, đã có nhiều nhà đầu tư cũng như các tập đoàn đa quốc gia thâm nhậpthị trường làm cho nền kinh tế trong nước trở nên sôi động hơn Nguồn vốn FDI đổvào nước ta không chỉ là tăng về số lượng các dự án mà tăng về cả qui mô và chấtlượng của các dự án Việc tiếp nhận vốn FDI đã tạo ra cơ hội cho Việt Nam tiếp cậnvới trình độ khoa học kỹ thuật hiện đại, trình độ quản lý kinh tế tầm cao của thế giới
và giải quyết công ăn việc làm cho lao động trong nước FDI trở thành một trongnhững nguồn cung cấp vốn quan trọng cho nên kinh tế, là động lực để thúc đẩy kinh tếViệt Nam phát triển, tạo nên tính năng động và cạnh tranh cho thị trường
Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực của vốn FDI, thì nguồn vốn nàyvẫn tiềm ẩn những nhiều rủi ro Một vấn đề mà khiến chính phủ phải lo ngại trong
nhiều năm qua đó chính là hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp FDI Trong
những năm gần đây tình hình các doanh nghiệp FDI kê khai lỗ kéo dài nhiều năm,chiếm khoảng 50% tổng số doanh nghiệp FDI đang hoạt động trên cả nước, làm chochính phủ Việt Nam bị thất thu thuế, ảnh hưởng trực tiếp đến ngân sách, bên cạnh đótạo ra môi trường cạnh tranh không bình đẳng của các doanh nghiệp trong và ngoàinước, tác động không tốt đến cơ chế quản lý tài chính của chính phủ trong lĩnh vựcFDI, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng nguồn vốn này cũng như tác động xấu đến mụctiêu thu hút và quản lý vĩ mô vốn FDI của chính phủ
Mặc dù chuyển giá không phải là vấn đề mới mẻ ở Việt Nam nhưng việc chốngchuyển giá vẫn luôn là bài toán làm đau đầu của các nhà quản lý Trong khi các quốcgia phát triển đã có nhiều kinh nghiệm trong việc chống chuyển giá thì Việt Nam vẫncòn thiếu kinh nghiệm trong vấn đề này khi mà tình hình chuyển giá vẫn đang là mộtthực trạng đáng báo động tại Việt Nam Nhận thấy được những tồn tại xung quanh vấn
đề chuyển giá ở nước ta, em xin đưa ra đề tài nghiên cứu của mình
“ Thực trạng chuyển giá của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam” với mong muốn
được tìm hiểu kĩ hơn về vấn đề chuyển giá, thực trạng chuyển giá ở Việt Nam và đềxuất một số biện pháp để khắc phục thực trạng này
Trang 4Với nội dung cơ bản như trên, đề án được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về vấn đề chuyển giá của các doanh nghiệp FDI
Chương 2: Thực trạng hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp FDI tại Việt NamChương 3: Các giải pháp hạn chế hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp FDI ởViệt Nam
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, dù đã cố gắng nhưng vẫn không thể tránh khỏi những sai sót, mong nhận được sự góp ý và chỉ bảo tận tình từ các thầy cô giáo
để đề án nghiên cứu được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn đến cô Phạm Thị Bé Loan đã hướng dẫn em hoàn thành đề án này.
Trang 5CHƯƠNG I - CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ CHUYỂN GIÁ CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP FDI
1.1.Khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1.1 Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Đầu tư trực tiếp( FDI = Foreign Direct Investment) là hình thức đầu tư dài hạn là quyền sở hữu và quyền sử dụng quản lý vốn của người đầu tư thống nhất với nhau, tức là người có vốn đầu tư trực tiếp tham gia vào việc tổ chức, quản lý và điều hành dự án đầu tư, chịu trách nhiệm về kết quả, rủi ro trong kinh doanh và thu lợi nhuận
Trong các chủ thể của đầu tư trực tiếp nước ngoài thì các công ty đa quốc gia chiếm
tỷ trọng cao nhất rồi mới đến các tổ chức chính phủ và phi chính phủ khác Các công
ty đa quốc gia là các công ty FDI mà lĩnh vực hoạt động của nó vượt qua ra ngoài biêngiới địa lí của một quốc gia nào đó để bành trướng hoạt động sản xuất kinh doanh quacác quốc gia khác trên thế giới Chính sự quốc tế hóa hoạt động kinh doanh của cáccông ty đa quốc gia là nguyên nhân trực tiếp đến sự hình thành và phát triển của nguồnvốn FDI
1.1.1.2 Các hình thức của FDI
Xét về hình thức sở hữu, đầu tư trực tiếp nước ngoài thường có các hình thức sau:
+ Hình thức doanh nghiệp liên doanh: hình thức này có đặc trưng là mỗi bên tham
gia vào doanh nghiệp liên doanh là 1 pháp nhân riêng, nhưng doanh nghiệp liên doanh
là một pháp nhân độc lập Khi các bên đã đóng góp đủ số vốn quy định vào liên doanhthì dù 1 bên có phá sản, doanh nghiệp liên doanh vẫn tồn tại
+ Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài: đây là doanh nghiệp thuộc quyền sở
hữu của tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài, được hình thành bằng toàn bộ vốn nướcngoài và do tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài thành lập, tự quản lý, điều hành và hoàntoàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh
+ Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh: hình thức
trong đó hợp đồng hợp tác kinh doanh được ký kết giữa hai hay nhiều bên (gọi là cácbên hợp tác kinh doanh) để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh ở nước
Trang 6nhận đầu tư trong đó quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗibên tham gia mà không cần thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc pháp nhân mới Hìnhthức này không làm hình thành một công ty hay một xí nghiệp mới
+ Hợp đồng xây dựng- kinh doanh- chuyển giao (BOT): một phương thức được
thực hiện trên cơ sở văn bản được ký kết giữa nhà đầu tư nước ngoài (có thể là tổchức, cá nhân nước ngoài) với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xây dựng kinhdoanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định, hết thời hạn nhà đầu tưnước ngoài chuyển giao cho nước chủ nhà
+ Hợp đồng xây dựng- chuyển giao- kinh doanh (BTO): là phương thức đầu tư dựa
trên văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước chủ nhà và nhàđầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng Sau khi xâydựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình cho nước chủ nhà Nướcchủ
nhà sẽ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất đị
nh để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý
+ Hợp đồng xây dựng- chuyển giao (BT): phương thức đầu tư nước ngoài trên cơ
sở văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước chủ nhà và nhà đầu
tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng Sau khi xây dựng xong, nhà đầu
tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nước chủ nhà Sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nước chủ nhà, nước chủ nhà
sẽ tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu
tư và lợi nhuận hợp lý
+ Hình thức đầu tư mua lại và sáp nhập (M&A): Sáp nhập doanh nghiệp là hình
thức đầu tư được thực hiện thông qua việc chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ vàlợi ích hợp pháp của một hoặc một số công ty cùng loại (công ty bị sáp nhập) vào mộtcông ty khác (công ty nhận sáp nhập), đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sápnhập
Mua lại doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp là hình thức đầu tư theo đó nhà đầu
tư nhận chuyển giao quyền sở hữu doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp có thanhtoán
Trang 71.1.1.3 Đặc điểm của FDI
Ưu điểm:
Đối với chủ đầu tư:
+ Chủ đầu tư có khả năng kiểm soát hoạt động sử dụng vốn đầu tư và có thể đưa ranhững quyết định có lợi nhất cho họ Do đó, vốn đầu tư thường được sử dụng với hiệuquả cao
+ Giúp chủ đầu tư nước tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch và chiếm lĩnh thịtrường nước sở tại
+ Chủ đầu tư nước ngoài có thể giảm được chi phí, hạ giá thành sản phẩm do khaithác được nguồn nguyên liệu và lao động với giá cả thấp của nước sở tại Vì vậy,thông qua thực hiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, chủ đầu tư có thể nâng cao đượckhả năng cạnh tranh của họ trên thị trường thế giới
Đối với phía tiếp nhận đầu tư:
+ Tạo điều kiện cho nước sở tại có thể tiếp thu được kỹ thuật và công nghệ hiện đại,kinh nghiệm quản lý và tác phong làm việc tiên tiến của nước ngoài
+ Giúp cho nước sở tại khai thác một cách có hiệu quả nguồn lao động, nguồn tàinguyên thiên nhiên và nguồn vốn trong nước, từ đó góp phần mở rộng tích lũy và nângcao tốc độ tăng trưởng kinh tế
Hạn chế:
Đối với nước tiếp nhận vốn:
+ Nước sở tại khó chủ động trong việc bố trí cơ cấu đầu tư theo ngành và theo vùnglãnh thổ Nếu nước sở tại không có một quy hoạch đầu tư cụ thể và khoa học, dễ dẫnđến hiện tượng đầu tư tràn lan kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quámức và nạn ô nhiễm môi trường trầm trọng
+ Nếu không thẩm định kỹ sẽ dẫn đến sự du nhập của các loại công nghệ lạc hậu,công nghệ gây ô nhiễm môi trường với giá đắt làm thiệt hại lợi ích của nước sở tại
Đối với nước xuất khẩu vốn:
+ Chủ đầu tư có thể gặp rủi ro cao nếu không hiểu rõ môi trường đầu tư của nước sởtại
+ Có thể xảy ra tình trạng chảy máu chất xám nếu chủ đầu tư nước ngoài để mất bảnquyền sở hữu công nghệ, bí quyết sản xuất trong quá trình chuyển giao
Trang 81.1.2 Vai trò của FDI đối với sự phát triển kinh tế
FDI có vai trò quan trọng với cả nước chủ đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư, cụ thể:
1.1.2.1 Đối với nước tiếp nhận đầu tư:
FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng phục vụ cho chiến lược thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế cao, đặc biệt là với các nước đang phát triển Các nước đang phát triểnvốn là những nước còn nghèo, tích luỹ nội bộ thấp, nên để có tăng trưởng kinh tế caothì các nước này không chỉ dựa vào tích luỹ trong nước mà phải dựa vào nguồn vốntích luỹ từ bên ngoài, trong đó có FDI
FDI có ưu điểm hơn các hình thức huy động vốn nước ngoài khác, phù hợp với cácnước đang phát triển Các doanh nghiệp nước ngoài sẽ xây dựng các dây chuyền sảnxuất tại nước sở tại dưới nhiều hình thức khác nhau Điều này sẽ cho phép các nướcđang phát triển tiếp cận công nghệ tiên tiến, kỹ năng quản lý hiện đại Tuy nhiên, việc
có tiếp cận được các công nghệ hiện đại hay chỉ là các công nghệ thải loại của cácnước phát triển lại tuỳ thuộc vào nước tiếp nhận đầu tư trong việc chủ động hoàn thiệnmôi trường đầu tư hay không
FDI giúp giải quyết tốt vấn đề việc làm và thu nhập của dân cư Vai trò này của FDIkhông chỉ đối với các nước đang phát triển mà cả với các nước phát triển, đặc biệt làkhi nền kinh tế bước vào giai đoạn khủng hoảng theo chu kỳ
FDI có tác động làm năng động hoá nền kinh tế, tạo sức sống mới cho các doanhnghiệp thông qua trao đổi công nghệ Với các nước đang phát triển thì FDI giúp thúcđẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất, phá vỡ cơ cấu sản xuất khép kín theo kiểu tự cấp tựtúc
FDI cho phép các nước đang phát triển học hỏi kinh nghiệm, kỹ năng quản lý dâychuyền sản xuất hiện đại, nâng cao trình độ chuyên môn cũng như ý thức lao độngcông nghiệp của đội ngũ công nhân trong nước
Tuy vậy, FDI cũng có mặt trái, đó là:
Khi các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào nước tiếp nhận đầu tư thì họ
sẽ kiểm soát thị trường địa phương, vì thế có thể sẽ làm mất tính độc lập, tự chủ vềkinh tế của các doanh nghiệp địa phương và khiến họ phụ thuộc ngày càng nhiều vàonước ngoài;
Trang 9 FDI chính là công cụ phá vỡ hàng rào thuế quan, và có thể làm mất tácdụng của công cụ này trong bảo hộ thị trường trong nước
FDI sẽ tạo ra sự cạnh tranh giữa doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệptrong nước, vì thế có thể dẫn đến sự suy giảm sản xuất của các doanh nghiệp trongnước
FDI gây ra tình trạng chảy máu chất xám, phân hoá đội ngũ cán bộ, thamnhũng ở nước tiếp nhận đầu tư
1.1.2.2 Vai trò của FDI đối với nước chủ đầu tư:
FDI giúp các doanh nghiệp đầu tư khắc phục xu hướng tỷ suất lợi nhuậnbình quân giảm dần, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh
FDI giúp chủ đầu tư kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm khi ở thị trường trong nước đã chuyển sang giai đoạn suy thoái, giúp nhà đầu tư tăng doanh số sản xuất
ở nước ngoài trên cơ sở khai thác lợi thế so sánh
FDI có thể phá vỡ hàng rào thuế quan ở các nước có xu hướng bảo hộ
FDI giúp chủ đầu tư bành trướng sức mạnh về kinh tế và chính trị
FDI cũng có những bất cập đối với nước chủ đầu tư, đó là vốn đầu tư chảy ra nước ngoài có khả năng làm giảm tăng trưởng GDP và việc làm của quốc gia; khi các công ty lớn đầu tư ra nước ngoài sản xuất những mặt hàng cùng loại sẽ tạo nênkhả năng cạnh tranh mới giữa các doanh nghiệp ngoài nước với chính doanh nghiệp trong nước, thậm chí cạnh tranh với chính doanh nghiệp đầu tư
1.2 Tổng quan về chuyển giá
1.2.1 Khái niệm chuyển giá
Chuyển giá được hiểu là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ
và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không theogiá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế của các công ty đa quốc gia trên toàn cầu
1.2.2 Bản chất của chuyển giá
Chuyển giá chỉ có ý nghĩa với những giao dịch giữa các chủ thể có quan hệliên kết với nhau Thông qua hoạt động chuyển giá, các doanh nghiệp FDI sẽ thực hiện
ý đồ trốn tránh việc nộp thuế thu nhập doanh nghiệp tại các quốc gia có thuế suất cao.Các công ty này sẽ chuyển thu nhập ra khỏi quốc gia có mức thuế thu nhập doanhnghiệp cao mà công ty đa quốc gia này có trụ sở Chuyển giá là một trong những vấn
Trang 10đề phức tạp và khó tiếp cận trong thời đại kinh tế quốc tế hội nhập, khi mà các công ty
có nhiều chi nhánh, công ty con trên nhiều quốc gia khác nhau mà các công ty nàymua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho nhau Trong nhiều trường hợp, các doanhnghiệp FDI còn chủ động “móc túi” các chính phủ thông qua việc chiếm đoạt giántiếp các khoản thuế mà những người đóng thuế lương thiện đã đóng góp Giá cả củahàng hóa dịch vụ trong các nghiệp vụ chuyển giao này được tính theo một xu hướngchủ quan mà không hề dựa trên chi phí thực tế tạo nên sản phẩm hay dịch vụ đượccung cấp Thông qua hoạt động chuyển giá sẽ mang về cho các công ty FDI mộtkhoảng lợi nhuận lớn trong khi các công ty này không cần phải nỗ lực nâng cao chấtlượng sản phẩm, dịch vụ hay mở rộng phát triển thị trường mà chỉ cần những “kĩ xảo”trên sổ sách kế toán
1.2.3 Các hình thức chuyển giá ở doanh nghiệp FDI
Tùy vào hoàn cảnh kinh doanh khác nhau mà các doanh nghiệp FDI sử dụngcác biện pháp khác nhau để thực hiện chuyển giá nhằm tối đa hóa lợi nhuận trên phạm
vi toàn cầu
1.2.3.1 Chuyển giá thông qua hình thức nâng cao giá trị tài sản góp vốn
Các doanh nghiệp FDI có thể nâng giá trị vốn góp của mình bằng cách định giácao các tài sản cố định hữu hình như máy móc thiệt bị, dây chuyền công nghệ hoặc lợidụng vào sự khó khăn trong việc xác định giá trị của các tài sản vô hình như giá trịthương hiệu, bằng phát minh, sáng chế…để nâng khống giá trị của các tài sản này.Việc nâng giá trị vốn góp được thể hiện như sau:
Đối với đầu tư dưới dạng liên doanh: việc nâng giá trị tài sản đóng góp sẽ làm
cho phần vốn góp của bên nâng giá trị góp vốn tăng, nhờ đó, tăng sự chi phối trong cácquyết định liên quan đến hoạt động của dự án liên doanh và mức lời được chia sẽ tăng.Ngoài ra, khi dự án kết thúc thì tỷ lệ trị giá tài sản được chia cao hơn giúp các doanhnghiệp thu về dòng tiền cao hơn
Đối với các công ty có 100% vốn đầu tư nước ngoài : việc nâng tài sản góp vốn
sẽ giúp họ tăng mức khấu hao trích hàng năm, làm tăng chi phí đầu vào Việc tăngmức khấu hao tài sản cố định sẽ giúp chủ đầu tư nhanh hoàn vốn đầu tư cố định, nhờ
đó giảm thiểu rủi ro đầu tư và giảm mức thuế TNDN phải đóng cho nước tiếp nhậnđầu tư
Trang 11Ngoài ra, khi nâng giá trị vốn góp bằng cách định giá cao hơn giá trị thực của các tàisản cố định thì các công ty đã một phần chuyển bớt thu nhập của công ty ra ngoài.
1.2.3.2 Chuyển giá bằng cách nâng khống trị giá công nghệ, thương hiệu… (tài sản vô hình)
Việc định giá chính xác được tài sản vô hình của các nhà đầu tư hết sức khó Lợidụng việc này mà các doanh nghiệp FDI chủ ý thổi phồng phần góp vốn bằng thươnghiệu, công thức pha chế, chuyển giao công nghệ… nhằm tăng phần góp vốn của mìnhlên Một số trường hợp phía góp vốn bằng tài sản vô hình có xuất trình giấy chứngnhận của công ty kiểm toán nhưng độ tin cậy, trung thực của các giấy chứng nhận nàyrất khó kiểm định
1.2.3.3 Nhập khẩu nguyên vật liệu từ công ty mẹ ở nước ngoài hoặc từ công
ty đối tác trong liên doanh với giá cao
Đây là hình thức chuyển một phần lợi nhuận ra nước ngoài thông qua việc thanhtoán tiền hàng nhập khẩu Ngoài ra, việc mua hàng nhập khẩu với giá đắt làm chi phísản xuất tăng, dẫn tới lợi nhuận chịu thuế TNDN giảm
1.2.3.4 Chuyển giá thông qua hình thức nâng chi phí các đơn vị hành chính
và quản lý
Các công ty mẹ thường sử dụng các hợp đồng tư vấn hay thuê trung gian Một sốđối tác liên doanh còn bị ép nhận chuyển giá với chi phí rất cao nhưng hiệu quả lạithấp Chi phí này phía liên doanh nước chủ nhà gánh chịu
Một số công ty thuê người quản lý doanh nghiệp FDI với lương cao, ngoài racòn phải trả một khoản tiền lớn cho công ty nước ngoài cung cấp nhà quản lý Ở một
số trường hợp cũng có hiện tượng chuyển giá ở khâu này khi công ty cung cấp nguồnnhân lực cũng là công ty con của cùng một tập đoàn
Một số trường hợp còn thực hiện chuyển giá thông qua hình thức đào tạo ở nướcngoài: cử chuyên viên, công nhân sang học tập, thực tập tại công ty mẹ với chi phí cao.Một hình thức chuyển giá của công ty có vốn FDI khác là trả lương, chi phí chochuyên gia tư vấn được gởi đến từ công ty mẹ Loại hình tư vấn này rất khó xác định
số lượng và chất lượng để xác định chi phí cao hay thấp Lợi dụng điều này, nhiềucông ty FDI thực hiện hành vi chuyển giá mà thực chất là chuyển lợi nhuận về nướcdưới danh nghĩa là phí dịch vụ tư vấn
Trang 121.2.3.5 Thực hiện chuyển giá thông qua việc điều tiết giá mua bán hàng hóa
Khi thuế nhập khẩu cao thì công ty mẹ bán nguyên liệu, hàng hóa với giá thấpnhằm tránh nộp thuế nhập khẩu nhiều Trong trường hợp này, công ty mẹ sẽ tăngcường hoạt động tư vấn, huấn luyện, hỗ trợ tiếp thị với giá cao để bù đắp lại hoặc mualại sản phẩm với giá thấp Đối với hàng hóa nhập khẩu mà thuế suất thấp, thì công ty
ký hợp đồng nhập khẩu với giá cao nhằm nâng chi phí để tránh thuế
1.2.3.6 Chuyển giá thông qua hình thức tài trợ bằng nghiệp vụ vay từ công ty mẹ
Bằng hình thức này, các công ty con tạo ra cơ cấu vốn và nguồn vốn bất hợp lýnhư dùng nguồn vốn vay từ công ty mẹ để tài trợ cho tài sản cố định và tài sản đầu tưdài hạn mà không tăng vốn góp và vốn chủ sở hữu nhằm đẩy chi phí hoạt động tàichính lên cao như chi phí chênh lệch tỷ giá, chi phí lãi vay… và chuyển một phần lợinhuận về nước dưới dạng lãi vay, chi phí bảo lãnh vay vốn để tránh thuế, tránh lỗ dochênh lệch tỷ giá về sau
1.2.3.7 Chuyển giá thông các trung tâm tái tạo hóa đơn
Trung tâm tái tạo hóa đơn đóng vai trò người trung gian giữa công ty mẹ và cáccông ty con Hàng hóa trên chứng từ hóa đơn thì được bán từ công ty nơi sản xuấthàng hóa qua trung tâm tái tạo hóa đơn và sau đó thì trung tâm này lại bán lại cho công
ty phân phối bằng cách xuất hóa đơn và chứng từ kèm theo Thông qua việc này sẽđịnh vị lại loại ngoại tệ của cả đơn vị sản xuất và trung tâm tái tạo hóa đơn Nhưngtrên thực tế, hàng hóa được chuyển giao trực tiếp từ công ty sản xuất qua thẳng công typhân phối mà không qua trung tâm tái tạo hóa đơn Hình thức này thường xảy ra trongngành dược phẩm
1.2.4 Nguyên nhân chuyển giá
1.2.4.1 Các yếu tố thúc đẩy bên trong
Khi các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty FDI tại công ty mẹ bị thua
lỗ hay tại các công ty thành viên trên các quốc gia khác, chuyển giá sẽ giúp cho cáccông ty FDI san sẻ thua lỗ giữa các thành viên với nhau, từ đó làm giảm các khoảnthuế phải nộp và tạo nên bức tranh tài chính tươi sáng hơn cho công ty khi báo cáo vớicác cổ đông và các bên hữu quan khác
Các công ty FDI trong giai đoạn thâm nhập thị trường mới sẽ tăng cường cáchoạt động quảng cáo, quảng bá sản phẩm mới nhằm xây dựng nền tảng cho hoạt động
Trang 13kinh doanh sau này, do đó giai đoạn này công ty sẽ phải chấp nhận chịu lỗ nặng trongthời gian dài Và dựa vào tiềm lực tài chính mạnh mẽ của mình, daonh nghiệp FDI sẽthực hiện hành vi chuyển giá bất hợp pháp để làm cho hoạt động kinh doanh thua lỗkéo dài, sau đó đẩy các bên liên kết kinh doanh ra khỏi và chiếm lấy quyền quản lý,kiểm soát công ty Sau khi đánh bật các các đối thủ và đối tác kinh doanh ra khỏi thịtrường thì các công ty FDI sẽ chiếm lĩnh thị trường và nâng giá sản phẩm để bù lạiphần chi phí trước đây đã bỏ ra
Do được hưởng các đặc quyền, đặc lợi trong quá trình kêu gọi đầu tư của nướcchủ nhà, công ty đa quốc gia xem công ty con đặt trên quốc gia này như là trung tâmlợi nhuận của cả công ty và thực hiện hành vi chuyển giá để lại hậu quả đáng kể chonước tiếp nhận đầu tư
Thông qua việc bán các tài sản, thiết bị lỗi thời với giá cao thì một mặt giúp cáccông ty tại chính quốc thay đổi được công nghệ với chi phí thấp, một mặt lại thu hồivốn đầu tư nhanh tại các quốc gia tiếp nhận đầu tư và các công ty FDI đã chuyển mộtphần thu nhập ra nước ngoài Đồng thời, các công ty FDI có thể tránh được các rủi rotrong hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm vì các hoạt động này thường tốnnhiều chi phí và khả năng thành công cũng không cao
1.2.4.2 Các yếu tố thúc đẩy bên ngoài
Thuế:
Với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của mình, các doanh nghiệp FDI luôn tìmkiếm một lợi thế từ thuế suất thuế TNDN của các quốc gia có mức thuế suất khác nhaubằng các hành vi chuyển giá Các thủ thuật thường sử dụng là nâng giá mua đầu vàocác nguyên vật liệu, hàng hóa và định giá bán ra hay giá xuất khẩu thấp tại các công tycon đóng tại các quốc gia có thuế suất thuế TNDN cao Nhờ vậy, các công ty FDI đãchuyển một phần lợi nhuận từ quốc gia có thuế suất thuế TNDN cao sang quốc gia cóthuế suất thuế TNDN thấp, như thế công ty đã thực hiện được mục tiêu tối đa hóa lợinhuận của mình Nói tóm lại, sự khác biệt về thuế suất thuế TNDN là động cơ lớn thúcđẩy chuyển giá
Trang 14 Sự biến động của tỷ giá hối đoái:
Một yếu tố khác là các công ty FDI mong muốn bảo toàn vốn đầu tư theo đồngnội tệ Kỳ vọng về sự biến đổi trong tỷ giá và trong chi phí cơ hội đầu tư, các công ty
sẽ tiến hành đầu tư vào một quốc gia nếu họ dự đoán rằng trong tương lai đồng tiềncủa quốc gia này sẽ mạnh lên nghĩa là số vốn đầu tư ban đầu của họ được bảo toàn vàphát triển
Dựa trên các dự báo về tình hình tỷ giá, các công ty FDI thực hiện các khoảnthanh toán nội bộ sớm hơn hay muộn hơn nhằm giảm rủi ro về tỷ giá Các khoản nợ cóthể được thanh toán sớm hơn nếu các dự báo cho rằng đồng tiền của quốc gia mà công
ty FDI có công ty con sẽ bị mất giá và ngược lại, nếu dự báo đồng tiền của quốc gia đó
sẽ tăng giá thì công ty đa quốc gia có thể trì hoãn thanh toán các khoản nợ Hơn nữa,việc trả sớm hay trả chậm này cũng có thể giúp tránh được nhu cầu vay mượn, làmgiảm bớt số vay nợ ngắn hạn trên bảng cân đối kế toán của các công ty thành viên
Chính sách của nước sở tại:
Đối với các quốc gia có chính sách tiền tệ thắt chặt thì thực hiện việc chuyểngiá sẽ giúp cho các công ty FDI dễ dàng chuyển lợi nhuận ra nước ngoài và thực hiệnnhững kế hoạch kinh doanh một cách nhanh chóng, không bỏ lỡ các cơ hội kinhdoanh Đồng thời cũng tránh được tình trạng lãi nhiều sẽ dẫn đến áp lực đòi tăng lươngcủa lực lượng lao động
Lạm phát:
Tình hình lạm phát của các quốc gia là khác nhau, nếu quốc gia nào có tỷ lệlạm phát cao tức đồng tiền nước đó đang bị mất giá Do đó, để bảo toàn lợi nhuận vàlượng vốn đầu tư ban đầu của mình thì các công ty FDI sẽ tiến hành hoạt động chuyểngiá
Sự có mặt của các đối tác địa phương trong liên doanh
Vì nhiều lí do, các công ty FDI sẽ chọn hình thức liên doanh để đầu tư Sự có mặtcủa các đối tác địa phương trong liên doanh có thể kích thích các công ty sử dụngchính sách định giá chuyển giao nhằm giảm lợi nhuận của liên doanh trong khi công tyvẫn lãi từ các hoạt đọng kinh doanh này Chính sách này làm cho đối tác liên doanhđịa phương suy yếu, phải giảm tỷ lệ góp vốn trong kinh doanh hoặc bán lại phần gópvốn trong liên doanh cho các đối tác nước ngoài
Trang 15 Các bất ổn về chính trị và xã hội
Sự bất ổn về chính trị và xã hội của nước chủ nhà hàm chứa một rủi ro to lớn đốivới hoạt đọng sản xuất liên doanh của các nhà đầu tư Rủi ro cao trong hoạt động kinhdoanh của nước chủ nhà có thể dẫn các công ty FDI cố gắng thu lợi nhuận đầu tư càngsớm càng an toàn thông qua cơ chế định giá chuyển giao
Nói chung có nhiều nguyên nhân FDI chuyển giá nhưng sự khác biệt lớn về thuếsuất là động lực chính khiến các công ty thực hiện hành vi này, nhằm tối đa hóa lợinhuận thông qua việc tối thiểu số thuế phải nộp trên phạm vi toàn cầu
1.2.5 Tác động của chuyển giá:
1.2.5.1 Đối với quốc gia nhận đầu tư:
Trong một số trường hợp, quốc gia tiếp nhận đầu tư có thuế suất thuế thu nhậpdoanh nghiệp thấp hơn nên trở thành người được hưởng lợi từ hoạt động chuyển giácủa các công ty FDI Vì vậy mà các quốc gia này cố ý làm lơ để các công ty đa quốcgia tha hồ thực hiện hành vi chuyển giá Về lâu dài, các quốc gia này sẽ phải đươngđầu với khó khăn về tài chính do các nguồn thu không bền vững đã phản ánh khôngchính xác sức mạnh của nền kinh tế và khủng hoảng kinh tế sẽ xảy ra
Thông qua hoạt động chuyển giá, các doanh nghiệp FDI định giá cao các yếu tốđầu vào từ đó họ sẽ rút ngắn được thời gian thu hồi vốn, vì vậy mà các luồng vốn có
xu hướng chảy ngược ra khỏi quốc gia tiếp nhận đầu tư Các hành động chuyển giánhằm thu hồi vốn nhanh hơn so với kế hoạch đầu tư ban đầu sẽ làm cho thay đổi cơcấu vốn của nền kinh tế quốc gia tiếp nhận đầu tư Hậu quả là tạo ra sự phản ánh sailệch kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế, tạo ra một bức tranh kinh
tế không trung thực
Thông qua hoạt động chuyển giá nhằm xâm chiếm thị phần khi mới tham giavào thị trường, các doanh nghiệp FDI sẽ tiến hành các chiêu thức quảng cáo và khuyếnmãi quá mức và hậu quả là lũng đoạn thị trường Các doanh nghiệp trong nước không
đủ tiềm lực để cạnh tranh vì vậy mà dần dần sẽ bị phá sản hoặc buộc phải chuyển sangkinh doanh trong các ngành khác Các công ty FDI sẽ dần trở nên độc quyền và thaotúng thị trường trong nước, kiểm soát giá cả và mất dần tính tự do cạnh tranh của thịtrường tự do Đồng thời Chính phủ của quốc gia này cũng không thể thúc đẩy ngànhsản xuất trong nước phát triển
Trang 16Khi các công ty FDI thực hiện hành vi chuyển giá sẽ làm cho kết quả kinhdoanh của các công ty con thua lỗ kéo dài Khi kết quả hoạt động kinh doanh thua lỗthì bắt buộc phải tăng vốn góp lên, và nếu các đối tác trong nước không đủ khả năngtài chính sẽ phải bán lại phần vốn góp của mình và như vậy là từ công ty liên doanhchuyển thành công ty 100% vốn nước ngoài Kế hoạch thôn tính doanh nghiệp trongnước sẽ thành công.
Chuyển giá sẽ tạo ra bất bình đẳng trong cạnh tranh giữa doanh nghiệp FDI vớidoanh nghiệp nội địa Chẳng hạn, một công ty FDI sử dụng công cụ chuyển giá để tối
ưu hóa lợi nhuận về công ty mẹ ở nước ngoài trong khi đó báo cáo thua lỗ tại quốc giađang kinh doanh để khỏi đóng thuế và nhiều trường hợp được hoàn thuế, như vậy công
ty sẽ có nhiều nguồn lực về tài chính hơn để đầu tư vào các hoạt động tiếp thị, quảng
bá Trong khi đó, doanh nghiệp nội địa phải thực hiện nghĩa vụ thuế nghiêm túc hơnnên ít nhiều sẽ thua thiệt với các công ty FDI, tạo ra sự cách biệt trong ưu thế cạnhtranh
Các hoạt động chuyển giá sẽ làm phá sản kế hoạch phát triển nền kinh tế quốcdân của các quốc gia tiếp nhận đầu tư Nếu không bị ngăn chặn kịp thời thì về lâu dàicác quốc gia tiếp nhận đầu tư sẽ phải phụ thuộc về mặt kinh tế và tiếp theo sau đó là sựchi phối về mặt chính trị
1.2.5.2 Đối với quốc gia xuất khẩu đầu tư:
Chuyển giá làm thất thu thuế của quốc gia xuất khẩu đầu tư các quốc gia này cómức thuế suất cao hơn, làm mất cân đối trong kế hoạch thuế của quốc gia này
Hoạt động chuyển giá sẽ làm cho dòng vốn đầu tư dịch chuyển không theo ýmuốn quản lý của chính phủ của quốc gia xuất khẩu đầu tư do các doanh nghiệp FDI
sẽ chuyển lợi nhuận về nơi có thuế suất thấp hơn để tối đa mức lợi nhuận đạt được, vìvậy mục tiêu quản lý kinh tế vĩ mô sẽ gặp nhiều khó khăn
Tuy hành vi chuyển giá của doanh nghiệp FDI mang lại những tác động khôngtốt cả cho nước tiếp nhận đầu tư và nước xuất khẩu đầu tư nhưng có một số quốc gia vìlợi ích riêng của mình và tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty đa quốc gia thực hiệnhành vi chuyển giá nhằm chuyển lợi nhuận của doanh nghiệp FDI tại các quốc giakhác về
Trang 171.2.6 Môi trường pháp lí của Việt Nam liên quan đến vấn đề chuyển giá
Trước đây, Bộ Tài chính Việt Nam cũng đã ban hành khung pháp lý về quản lýthuế đối với hoạt động chuyển giá từ rất sớm như: Thông tư 74/1997/TT-BTC, Thông
tư 89/1999/TT-BTC, Thông tư 13/2001/TT- BTC ngày 8-3-2001 hướng dẫn thực hiệnmột số quy định về thuế đối với các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại ViệtNam, tuy nhiên, những quy định này vẫn chưa đề cập đến vấn đề chống chuyển giá Theo quy định hiện hành, chúng ta có Luật quản lý thuế và luật sửa đổi, bổsung một số điều của Luật quản lý thuế có hiệu lực từ ngày 1 tháng 07 năm 2013 Gầnđây, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật quản lý Thuế đã bổ sung quy định vềThỏa thuận phương pháp xác định nguyên tắc giá tính thuế Đây có thể được coi làmột biện pháp để có thể chống chuyển giá Tuy nhiên, hiện tại, vẫn chưa có Nghị định
và Thông tư hướng dẫn quy định này
Chính sách quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá trong giai đoạn vừa qua
đã có những bước thay đổi tích cực cả về mặt pháp lý và thực tế ứng dụng Về cơ bản,các quy định về xác định giá thị trường đối với sản phẩm trong giao dịch kinh doanhgiữa các bên có quan hệ liên kết được dựa trên hướng dẫn của OECD, phù hợp vớithông lệ quốc tế và phù hợp với thực tiễn Việt Nam Cụ thể, Thông tư 66/2010/TT-BTC ngày 22/4/2010 của Bộ Tài chính (Thông tư 66) về cơ bản đã điều chỉnh đượccác hành vi chuyển giá của doanh nghiệp liên kết Việc quy định các bên liên kết đã rõràng, cụ thể hơn các quy định trước đây Đặc biệt, nguồn thông tin, dữ liệu được phép
sử dụng để phân tích, so sánh về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu xác định giá thịtrường của doanh nghiệp và cơ quan thuế, như: (i) quy định về khác biệt trọng yếutrong so sánh giao dịch liên kết với giao dịch độc lập đã được lượng hóa, không chỉmang tính định tính như quy định trước đây, đảm bảo cho việc hiểu và áp dụng thốngnhất giữa cơ quan thuế với người nộp thuế và giữa nội bộ cơ quan thuế với nhau; (ii)hướng dẫn về xác định giá thị trường đã được quy định riêng đối với trường hợp mua
và trường hợp bán, đảm bảo thống nhất giữa nguyên tắc chung với việc hướng dẫn cụthể về xác định giá thị trường; (iii) mẫu biểu kê khai thông tin giao dịch liên kết đượcquy định cụ thể, rõ ràng hơn, thuận tiện co việc kê khai của người nộp thuế…
Việc ban hành và thực hiện Thông tư 66 đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lýthuế, tăng cường thu cho ngân sách nhà nước, góp phần bảo vệ lợi ích và quyền đánh
Trang 18thuế của quốc gia và đảm bảo công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế giữa cácdoanh nghiệp Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn hạn chế quyền hạn của cơ quanthuế, hình thức xử lý đối với doanh nghiệp có hành vi chuyển giá tránh thuế còn quánhẹ, quy định xác định giá thị trường chưa được linh hoạt đối với một số doanh nghiệp
có giao dịch liên kết, quá trình thực hiện của người nộp thuế cũng như cơ quan thuếchưa thực sự thuận tiện Biểu hiện như cơ quan thuế rất khó xác định giá giao dịchthông thường trên thị trường (giá thỏa thuận khách quan giữa các bên không có quan
hệ liên kết) tạo nên sự khó khăn lớn cho căn cứ xử lý về ấn định giá Bên cạnh đó, cáchành vi chuyển giá vẫn chưa có hình thức xử phạt riêng, nghiêm khắc hơn nên chưa đủsức răn đe đối với người nộp thuế vi phạm (trường hợp cơ quan thuế thanh tra, kiểmtra doanh nghiệp liên kết, thực hiện điều chỉnh giá làm giảm lỗ của doanh nghiệp thìcũng không có chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế đối với doanhnghiệp; trường hợp thực hiện điều chỉnh giá làm tăng số thuế thu nhập doanh nghiệpthì cũng chỉ xử phạt kê khai sai (10%) và phạt chậm nộp (0,05%/1 ngày chậm nộp).Các trường hợp chuyển giá dẫn tới số lỗ lũy kế bằng hoặc vượt số vốn chủ sở hữu thìcũng chưa có quy định bắt buộc người nộp thuế không được hoàn thuế giá trị gia tănghoặc phải giải thể doanh nghiệp;
Thanh tra thuế đối với hoạt động chuyển giá là lĩnh vực quản lý khó, phức tạp,tốn nhiều thời gian và nguồn lực để thu thập thông tin, phân tích, so sánh, loại trừ khácbiệt ảnh hưởng đến đơn giá sản phẩm được chuyển giao, lựa chọn và áp dụng phươngpháp xác định giá thị trường… Tuy nhiên, theo quy định của Luật Thanh tra hiệnhành, không quy định riêng thời gian thanh tra thuế đối với hoạt động chuyển giá màquy định chung như thời gian thanh tra thuế đối với các trường hợp thông thườngkhác Hạn chế này đã dẫn tới các hiệu qủa thanh tra về giá chuyển nhượng trong giaiđoạn vừa qua chưa cao
Để quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá đạt hiệu quả cao, cơ quan thuếcần thiết có quyền điều tra để xác định hành vi chuyển giá của người nộp thuế Tuynhiên, tại các văn bản pháp quy hiện hành không quy định cơ quan thuế có quyền điềutra;
Trang 19Pháp luật Việt Nam chưa cho phép áp dụng cơ chế thỏa thuận trước giữa cơquan thuế và người nộp thuế về giá giao dịch liên kết của người nộp thuế trong tươnglai (APA);
Quy định về kê khai thông tin giao dịch liên kết chưa thực sự giảm thiểu gánhnặng thực hiện nghĩa vụ thuế đối với doanh nghiệp: nếu doanh nghiệp có hành vichuyển giá thông qua các giao dịch liên kết có giá trị nhỏ sẽ ảnh hưởng không đáng kểđến số thu ngân sách nhà nước và lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp Tuy nhiên,theo quy định hiện hành của Việt Nam, doanh nghiệp vẫn phải xác định giá thị trường
và kê khai đối với giao dịch liên kết có giá trị nhỏ trong khi chi phí và thời gian xácđịnh giá thị trường, kê khai với cơ quan thuế là đáng kể và không thấp hơn đối vớiviệc xác định giá thị trường và kê khai giao dịch lớn
Từ hạn chế trong hệ thống pháp lí hiện tại ở Việt Nam, Dự thảo Luật 2013 đãsửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lí thuế nhằm kiểm soát tình trạng chuyểngiá ở Việt Nam hiện nay như
Bổ sung các quy định áp dụng cơ chế xác định trước về giá tính thuế (APA).
Cơ quan thuế được quyền ấn định thuế dựa trên doanh thu trong trường hợp
Trang 20CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP FDI TẠI VIỆT NAM
2.1 Tình hình thu hút vốn đầu tư trực tiếp (FDI) tại Việt Nam:
2.1.1 Bản chất doanh nghiệp FDI tại Việt Nam
Về cơ bản, sản phẩm của khu vực FDI thường được chia làm ba loại Thứ nhất
là sản phẩm trung gian Thứ hai là sản phẩm cuối cùng nhưng được tiêu thụ ở thịtrường nước ngoài theo đơn đặt hàng của công ty mẹ Thứ ba là các sản phẩm đượctiêu thụ trong nước
Với loại sản phẩm thứ nhất, các doanh nghiệp FDI thực chất là một công xưởngvới nguyên vật liệu chính được nhập khẩu, toàn bộ giá trị của sản phẩm được đưa ranước ngoài (xuất khẩu) để đi qua các công đoạn tiếp theo, từ đó mới hình thành giábán
Như vậy, về thực chất toàn bộ hoạt động của loại doanh nghiệp này hầu nhưkhông hạch toán lợi nhuận Phía Việt Nam không những không thu được đồng thuế giátrị gia tăng nào mà ngược lại các doanh nghiệp FDI được hoàn thuế; thuế thu nhậpdoanh nghiệp cũng coi như không có (vì không có lợi nhuận)
Với loại sản phẩm thứ hai, doanh nghiệp FDI tuy có chút lãi (không đáng kể)nhưng đó là một quy trình gần như khép kín Về hạch toán lợi nhuận phía Việt Namkhông được phép biết hoặc tham gia gì (vì vốn của chủ doanh nghiệp nước ngoài), nhưvậy việc xuất khẩu được bao nhiêu cũng chẳng liên quan gì đến mình
Với loại sản phẩm thứ ba, tuy được tiêu thụ trong nước, nhưng hầu hết cácnguyên vật liệu chính đều được nhập khẩu từ bên ngoài Chẳng hạn như bột ngọt (gầnnhư 100% nguyên vật liệu là nhập khẩu), da cứng là 83%; giày thể thao là 76%; sứ vệsinh là 74%; sơn hóa học 68,3%; bột giặt 56%
Do quá trình hạch toán lợi nhuận khép kín của các doanh nghiệp FDI, nên dù làtiêu thụ trong nước cũng được xem thực chất là nhập khẩu
Ngoài ra, các doanh nghiệp FDI thường “gửi giá” vào vật tư, máy móc nhậpkhẩu, làm tăng chi phí trung gian dẫn đến lỗ Việc này làm ảnh hưởng đến nguồnngoại tệ trong nước
Trang 212.1.2 Nguồn vốn FDI vào Việt Nam những năm gần đây
Sau hơn 25 năm, kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài chính thức được ban hành(ngày 29-12-1987), Việt Nam đã thu hút được khoảng 14500 dự án đầu tư trực tiếpnước ngoài với tổng số vốn đăng ký hơn 213,6 tỷ USD, vốn thực hiện đạt xấp xỉ 100
tỷ USD; số dự án giải thể và hết hạn là 1.901 dự án (tương ứng với 40 tỷ USD) Trong
số các dự án còn hiệu lực, số dự án có vốn đăng ký trên 1 tỷ USD là 26 dự án (tươngứng với 66 tỷ USD) Xét tỷ lệ trên GDP, Việt Nam thu hút FDI lớn hơn 5 lần so vớiTrung Quốc hay Ấn Độ trong 5 năm qua
Hình 1: Tình hình thu hút vốn FDI vào Việt Nam năm 2006-2012
Khu vực doanh nghiệp FDI là khu vực luôn năng động và có đóng góp đáng kểtrong sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam Trong giai đoạn 2001 - 2005, nguồnvốn FDI đã đóng góp 16% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và tỷ trọng này tăng lên 25%trong giai đoạn 2006 - 2012
Theo Cục Đầu tư Nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính chung 10 thángđầu năm 2013, cả nước đã thu hút được 19,234 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài (FDI), tăng 65,5% so với cùng kỳ năm 2012 Trong 10 tháng đầu năm, cả nước
đã có 1050 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký là13,077 tỷ USD, tăng 79% so với cùng kỳ năm 2012 và 393 lượt dự án đăng ký tăng
Trang 22vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 6,158 tỷ USD, tăng 42,5% so với cùng
kỳ năm 2012
Vốn FDI chủ yếu tập trung vào những ngành có khả năng sinh lời cao, như khaithác tài nguyên khoáng sản, dầu khí, công nghiệp nặng với khoảng 60% tổng vốnđăng ký Tỷ lệ vốn đầu tư vào dịch vụ chỉ chiếm khoảng 38% vốn đăng ký, chưa đápứng yêu cầu của phát triển kinh tế theo hướng hiện đại Còn trong lĩnh vực nôngnghiệp, tuy đã có những chính sách ưu đãi lớn nhưng do số dự án và vốn đăng ký ít,nên tỷ lệ vốn đầu tư có xu hướng giảm dần (từ 8% trong tổng số vốn đăng ký năm
2001 xuống còn 7,4% năm 2006, 3% năm 2008 và đến nay chỉ còn khoảng 1%)
Cơ cấu FDI theo địa bàn thể hiện sự mất cân đối Các dự án FDI chủ yếu tập trung ởnhững địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi (5 tỉnh dẫn đầu thu hút FDIcủa cả nước là TP Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Hà Nội, Đồng Nai và BìnhDương chiếm tới gần 60% tổng vốn đăng ký) Hệ quả này đã góp phần làm gia tăngkhoảng cách giữa các vùng, miền về trình độ phát triển và thu nhập
Bảng 1: Thứ tự các nước đầu tư FDI tại Việt Nam 2012-2013
Trang 23Nhật Bản hiện đang là quốc gia dẫn đầu trong tổng số 52 quốc gia và vùnglãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam trong năm nay Tổng vốn đầu tư đăng ký cấpmới và tăng thêm của các doanh nghiệp FDI Nhật Bản là 4,842 tỷ USD, chiếm 25,2%tổng vốn đầu tư đăng ký tại Việt Nam Đứng ở vị trí tiếp theo là Hàn Quốc với tổngvốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 4,019 tỷ USD, chiếm 20,9% tổng vốn đầu
tư Singapore đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là3,985 tỷ USD, chiếm 20,7% tổng vốn đầu tư đăng ký…
Vai trò của nguồn vốn FDI vào Việt Nam trong năm 2012 cũng như trong hơn
25 năm qua thể hiện ở một số mặt sau:
Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp
Yêu cầu dịch chuyển nền kinh tế không chỉ là đòi hỏi của bản thân nội tại nềnkinh tế, mà còn là đòi hỏi của xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế đang diễn ramạnh mẽ Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một bộ phận quan trọng của hoạt động kinh
tế đối ngoại, thông qua quá trình này Việt Nam tham gia ngày càng nhiều vào quátrình phân công lao động quốc tế Để hội nhập vào nền kinh tế thế giới, cơ cấu kinh tếViệt Nam những năm qua đã có sự chuyển biến mạnh mẽ theo hướng tích cực Tỷtrọng ngành nông nghiệp từ chỗ chiếm 80% trong năm 1988, giảm xuống còn khoảng22% trong năm 2012, công nghiệp và dịch vụ chiếm 78% Tốc độ tăng trưởng côngnghiệp của khu vực FDI luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng công nghiệp chung của cảnước Hiện, khu vực này đóng góp khoảng 45% giá trị sản xuất công nghiệp Nhiềutỉnh như Vĩnh Phúc, Bình Dương, Đồng Nai còn đóng góp khoảng 65% - 70%
Đóng góp đáng kể vào thu ngân sách và tạo việc làm
Trong 5 năm 2006 - 2010, thu ngân sách trong khối doanh nghiệp FDI đạt hơn10,5 tỷ USD, tăng bình quân trên 20%/ năm Trong năm 2011, thu nộp ngân sách củakhu vực FDI (không kể thu từ dầu thô) đạt 3,5 tỷ USD Theo số liệu tại Bảng xếp hạngV1.000 - Top 1.000 doanh nghiệp đóng thuế thu nhập lớn nhất Việt Nam năm 2011, cótới hơn 30% trong số này là các doanh nghiệp FDI với 20.000 tỷ đồng thuế thu nhập.Các dự án FDI đã tạo ra nhiều chỗ làm việc mới, góp phần làm giảm đáng kể nạn thấtnghiệp Tính đến cuối tháng 11-2012, khu vực FDI tạo ra hơn 2,5 triệu việc làm vàtiền lương lao động của khu vực này luôn cao hơn mức trung bình cả nước
Trang 24 Đóng góp quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và tham gia mở rộng thị trường quốc tế
Kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI năm 2012 đạt 73,4 tỷ USD, tăng 33,2% sovới cùng kỳ năm ngoái và chiếm 64% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước.Đóng góp của các doanh nghiệp FDI càng thể hiện rõ khi có nhiều mặt hàng có kimngạch xuất khẩu tăng vọt, như máy vi tính, sản phẩm và linh kiện điện tử, góp phầnđưa Việt Nam hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế quốc tế và mở rộng quan hệ đốingoại
Đóng góp vai trò nổi bật trong đổi mới và chuyển giao công nghệ ở Việt Nam
Lợi ích quan trọng mà FDI mang lại đó là công nghệ khoa học hiện đại, kỹ xảochuyên môn và trình độ quản lý tiên tiến Những năm qua, hầu hết các lĩnh vực có vốnFDI đều cải thiện đáng kể trình độ kỹ thuật công nghệ của mình Đầu tư nước ngoài đãkhông những tác động trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động đổi mới công nghệ, chuyểngiao công nghệ ở Việt Nam mà còn góp phần vào việc tăng cường cơ sở vật chất cho
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
2.2 Thực trạng hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam 2.2.1 Tình hình chuyển giá của các doanh nghiệp FDI trong thời gian qua tại Việt Nam
Với nguồn vốn FDI dồi dào đang đổ về, Việt Nam đang ngày càng khẳng định
là điểm đến đầu tư hấp dẫn, an toàn, hiệu quả cho các doanh nghiệp nước ngoài Tuynhiên, trong 5 năm trở lại đây, hàng loạt những doanh nghiệp nước ngoài tên tuổilớn bị đưa vào vòng nghi vấn có hành vi chuyển giá do báo lỗ lớn và liên tục trongnhiều năm liền, như Metro Cash&Carry (2009), Coca Cola, PepsiCo, Adidas, Nestlé,
và đặc biệt gần đây là Keangnam Vina và Hualon thì phải chăng đầu tư trực tiếpnước ngoài không phải khi nào cũng có lợi?
Chưa bao giờ nghi án các doanh nghiệp chuyển giá lại rầm rộ như giai đoạn hiện nay.Đặc biệt, trong thời điểm kinh tế khó khăn, vấn đề thu-chi ngân sách đang làm đauđầu cơ quan chức năng Điều đáng nói là dù liên tục báo lỗ trong nhiều năm, nhưngmột số DN, trong đó chủ yếu là DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vẫn khôngngừng mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh