Nhiều công trìnhkhác nghiên cứu về các chỉ số sinh học của học sinh phổ thông được công bố,chẳng hạn các công trình của Đỗ Hồng Cường [7], Tạ Thúy Lan [33], Đào HuyKhuê [30], Thẩm Thị Ho
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
ĐỖ THỊ THÀNH
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI, SINH LÝ CỦA HỌC SINH NGƯỜI KINH VÀ HỌC SINH NGƯỜI MƯỜNG TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC
CƠ SỞ KỲ PHÚ XÃ KỲ PHÚ, HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm
Mã số: 60.42.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Quý Tỉnh
HÀ NỘI, 2012
Trang 2ta đã xác định đối tượng giữ vai trò then chốt, làm nguồn lực cho tương lai đấtnước chính là học sinh, sinh viên Để thực hiện chính sách nâng cao dân trí, đàotạo nhân lực (đặc biệt là đào tao nguồn nhân lực cho miền núi), bồi dưỡng nhântài và thực hiện mục tiêu chiến lược con người của Đảng và nhà nước ta thì việcnghiên cứu và đánh giá thực trạng con người thông qua các chỉ số sinh học là mộttrong những yếu tố quan trọng để đánh giá tình trạng sức khỏe, trí tuệ của ngườiViệt Nam Chính vì vậy, việc nghiên cứu các chỉ số sinh học và chức năng sinh lýcủa các cơ quan ở đối tượng học sinh, sinh viên đặc biệt là đối tượng học sinhtrung học cơ sở là rất cấp thiết cho việc hoạch định những chiến lược sớm về conngười và lựa chọn phương pháp giáo dục đạt hiệu quả cao nhất nhằm phát triểnthế hệ tương lai một cách tốt nhất.
Với mục tiêu giáo dục toàn diện (đức, trí, thể, mỹ và lao động) cho họcsinh ở mọi lứa tuổi theo hướng bồi dưỡng, nâng cao chất lượng mũi nhọn và khôngngừng thúc đẩy nâng cao chất lượng đại trà Hiện nay ngành giáo dục đã và đangđổi mới nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy, trang thiết bị nhằm thúcđẩy nhanh quá trình đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội Tuy nhiên, sự đổi mới nàychỉ thực sự có hiệu quả khi áp dụng đúng đối tượng, phù hợp với đặc điểm tâm,sinh lý, năng lực nhận thức của học sinh ở từng lứa tuổi Để nâng cao hiệu quảgiáo dục thì cần phải dựa vào các đặc điểm tâm, sinh lý và các chỉ số sinh học của
Trang 3Đến nay, ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các chỉ sốsinh học của người Việt Nam ở các lứa tuổi khác nhau Năm 1975, cuốn “Hằng sốsinh học người Việt Nam” [4] do giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng làm chủ biên đãđưa ra các chỉ số sinh học của người Việt Nam ở các lứa tuổi Nhiều công trìnhkhác nghiên cứu về các chỉ số sinh học của học sinh phổ thông được công bố,chẳng hạn các công trình của Đỗ Hồng Cường [7], Tạ Thúy Lan [33], Đào HuyKhuê [30], Thẩm Thị Hoàng Điệp [16], Nguyễn Văn Mùi [49], Trần Thị Loan[35], Trần Đình Long và cs [38], [39], ,
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của điều kiện môitrường tới sự phát triển hình thái và sinh lý của học sinh trung học cơ sở (THCS)
và so sánh các chỉ số đó giữa học sinh người Kinh và học sinh người Mường tạitỉnh Ninh Bình còn rất ít, đặc biệt là ở huyện Nho Quan thì vấn đề này hoàn toàn
“Một số đặc điểm hình thái, sinh lí của học sinh người Kinh và học sinh ngườiMường tại trường Trung học cơ sở Kỳ Phú, xã Kỳ Phú, huyện Nho Quan, tỉnhNinh Bình”
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Xác định một số đặc điểm hình thái và sinh lý của học sinh người Kinh
và người Mường ở trường THCS Kỳ Phú, xã Kỳ Phú, huyện Nho Quan, tỉnh NinhBình
- Tìm ra mối liên quan giữa các giá trị về hình thái và các chức năng sinh
lý để có thể vận dụng vào công tác giáo dục - đào tạo con người phát triển toàndiện, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai; Mối liênquan giữa sự tăng trưởng hình thái, sinh lý với một số yếu tố môi trường
1.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu sự tăng trưởng các chỉ số hình thái, thể lực của học sinh trườngTHCS Kỳ Phú – xã Kỳ Phú – huyện Nho Quan – tỉnh Ninh Bình, gồm chiều caođứng, cân nặng, vòng ngực trung bình, chỉ số Pignet, chỉ số BMI; Nghiên cứu sự
Trang 4tăng trưởng các chỉ số chức năng của một số cơ quan trên học sinh trường THCS
Kỳ Phú – xã Kỳ Phú – huyện Nho Quan – tỉnh Ninh Bình, gồm các chỉ số chứcnăng tuần hoàn, chức năng hô hấp
- Sử dụng các công cụ thống kê để nghiên cứu mối tương quan giữa một
số chức năng hình thái và sinh lý, mối tương quan giữa môi trường và tình trạngsuy dinh dưỡng của học sinh
1.4 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Cung cấp bộ số liệu về các chỉ số hình thái, chức năng và so sánh đượcmức độ khác nhau của các chỉ số này trên các đối tượng học sinh người dân tộcKinh và người dân tộc Mường trong độ tuổi 12 – 15 tuổi tại trường THCS Kỳ Phú– xã Kỳ Phú – huyện Nho Quan – tỉnh Ninh Bình
- Các số liệu nghiên cứu có thể bổ sung thêm vào phổ thông tin về các chỉ
số sinh học người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trang 5Hình thái và thể lực là các đặc điểm phản ánh tổng hợp của cơ thể, có liênquan chặt chẽ với sức lao động và thẩm mỹ của con người Sự tăng trưởng vềhình thái và thể lực là kết quả của sự sinh trưởng, phát triển của cơ thể sống [2],[9].
Chiều cao đứng là một chỉ số phát triển thể lực quan trọng nhất và được sửdụng trong hầu hết các nghiên cứu nhân trắc học Sự tăng trưởng chiều cao mangtính chất đặc trưng cho chủng tộc, giới tính và môi trường sống
Cân nặng cũng được khảo sát thường xuyên trong các nghiên cứu thể lựccủa con người Cân nặng gồm hai phần: phần cố định chiếm 1/3 khối lượng cơ thểgồm xương, da, nội tạng, thần kinh, Phần không cố định chiếm 2/3 khối lượng
cơ thể gồm khối lượng cơ, khối lượng mỡ và nước Ở người trưởng thành, sự tăngcân chủ yếu là tăng phần không cố định và có liên quan chặt chẽ đến chế độ dinhdưỡng [10], [13]
Vòng ngực cũng được coi là một đặc trưng cơ bản của thể lực Nhữngngười đầu tiên quan tâm đến số đo vòng ngực là các bác sĩ lâm sàng, ở đầu thế kỉXIX, khi họ nhận thấy có sự liên quan giữa mức độ phát triển của lồng ngực vớicác bệnh hô hấp Dần dần đến cuối thế kỉ XIX, vòng ngực trở thành chỉ tiêu quantrọng trong các cuộc tuyển chọn binh lính và nhân công lao động [1]
Thể lực là thước đo sức khỏe, khả năng lao động, làm việc của con người.Chính vì vậy, việc nghiên cứu và ứng dụng các chỉ tiêu hình thái – thể lực đượcphổ biến rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như: tuyển sinh, tuyển quân, tuyển laođộng, giám định y khoa [53]
Thể lực của con người là một chỉ tiêu phức hợp Một trong những biểu hiện
cơ bản của thể lực là những số đo kích thước cơ thể, trong đó chiều cao đứng, cânnặng và vòng ngực là ba chỉ số phản ánh thể lực của con người Từ ba chỉ số này
có thể tính thêm một số chỉ số khác thể hiện mối liên quan giữa chúng như chỉ sốPignet và BMI [61]
Nhiều công trình nghiên cứu về thể lực đã cho thấy sự khác nhau giữa trẻ
Trang 6em thành phố và trẻ em nông thôn, giữa nam và nữ Trên thực tế, sự phát triển thểlực của trẻ em phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố và là kết quả của sự tác động qua lạigiữa cơ thể với môi trường [36], [45], [62].
1.1.1 Nghiên cứu chỉ số hình thái – thể lực trên thế giới
Từ thế kỷ XIII Tenon đã coi cân nặng là một chỉ số quan trọng để đánh giáthể lực [75] Sau này, các nhà giải phẫu học kiêm họa sỹ thời phục hưng(LeonardeVinci, Mikenlangielo, Raphael) đã tìm hiểu rất kỹ cấu trúc và mốitương quan giữa các bộ phận trong cơ thể người để đưa vào tác phẩm hội họa củamình Mối quan hệ giữa hình thái với môi trường sống cũng đã được nghiên cứutương đối sớm mà đại diện cho nó là các nhà nhân trắc học Ludman, Nold vàVolanski
Rudolf Martin là người đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại qua 2 tácphẩm nổi tiếng “Giáo trình về nhân trắc học” và “Kim chỉ nam đo đạc cơ thể và
xử lý thống kê” Trong các công trình này, ông đã đề xuất một số phương pháp vàdụng cụ đo đạc các kích thước của cơ thể, cho đến nay vẫn được sử dụng [74].Sau Rudolf Martin đã có nhiều công trình bổ sung và hoàn thiện thêm các
đề xuất của ông cho phù hợp với từng nước Vấn đề nhân trắc học còn được thểhiện qua các công trình của P.N Baskirov – “Nhân trắc học”, Evan Dervael –
“Nhân trắc học”, công trình của Bunak, A.M Aruwxon Song song với sự pháttriển của bộ môn Di truyền, Sinh lý học, Toán học… việc nghiên cứu nhân trắchọc ngày càng hoàn chỉnh và đa dạng hơn Vấn đề này được thể hiện qua cáccông trình của X Galperin, Tomiewicz, Tarasov, Tommer, M Sempé, G Pédron,M.P Rog – Pernot [70]
Nghiên cứu cắt ngang là một hướng đi sâu nghiên cứu sự tăng trưởng vềmặt hình thái, đó là nghiên cứu sự tăng trưởng của cơ thể và các đại lượng có thể
đo lường được bằng kỹ thuật nhân trắc trong cùng một thời điểm [4] Công trìnhđầu tiên trên thế giới cho thấy, sự tăng trưởng một cách hoàn chỉnh ở các lớp tuổi
từ 1 đến 25 là luận án tiến sỹ của Christian Fridrich Jumpert người Đức vào năm
1754 Công trình này được nghiên cứu theo phương pháp cắt ngang (Cross –sectional study) được dùng phổ biến do có ưu điểm là rẻ tiền, nhanh và thực hiện
Trang 7trai mình từ năm 1759 đến năm 1777 Đây là phương pháp rất tốt đã được ứngdụng cho đến ngày nay Sau đó còn có nhiều công trình khác của EdwinChadwick ở Anh, Carlschule ở Đức, H.P Bowditch ở Mỹ, Paul Godin ở Pháp…Năm 1977 Hiệp hội các nhà tăng trưởng học đã được thành lập đánh dấu mộtbước phát triển mới của việc nghiên cứu vấn đề này trên thế giới.
1.1.2 Nghiên cứu các chỉ số hình thái – thể lực ở Việt Nam
Hình thái – thể lực con người Việt Nam được nghiên cứu lần đầu tiên vàonăm 1875 do Mondiere thực hiện trên trẻ em Vào những năm 30 của thế kỷ XXtại Viện Viễn Đông Bác cổ, sau đó là tại trường Đại học Y khoa Đông Dương(1936 – 1944) đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu về vấn đề này Tácphẩm “Những đặc điểm nhân chủng và sinh học của người Đông Dương” của P.Huard và Đỗ Xuân Hợp được xem là những công trình đầu tiên nghiên cứu vềhình thái người Việt Nam Tuy số lượng chưa nhiều nhưng các tác phẩm này đãnêu được các đặc điểm nhân trắc của người Việt Nam đương thời
Từ năm 1954 đến nay, việc nghiên cứu hình thái học đã được đẩy mạnh vàchuyên môn hóa, thể hiện qua việc thành lập bộ môn hình thái học ở một sốtrường đại học và viện nghiên cứu Các hội nghị về vấn đề này đã được tổ chứcnhiều lần, đặc biệt là vào các năm 1967 và 1972, nhiều chương trình cấp quốc gia
và địa phương được thực hiện Đó là công trình “Hằng số sinh học người ViệtNam” năm 1975 do Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ biên [4] Đây cũng là công trìnhđầu tiên nêu ra khá đầy đủ các thông số về thể lực người Việt Nam ở mọi lứa tuổi,trong đó có lớp tuổi của học sinh THCS Đây mới là các chỉ số sinh học củangười miền Bắc (do hoàn cảnh lịch sử), song nó thực sự là chỗ dựa đáng tin cậycho các nghiên cứu sau này trên người Việt Nam Sau này cũng đã có một sốcông trình nghiên cứu về các đặc điểm hình thể người Việt Nam [64], [65]
Qua các công trình này có thể thấy, tầm vóc và thể lực người Việt Nam nhỏhơn so với các dân tộc Âu, Mỹ [77] Đa số các kích thước về tầm vóc – thể lựccủa nam lớn hơn của nữ Các kích thước này tăng dần theo tuổi, đạt giá trị cao
Trang 8nhất ở lớp tuổi 26 – 40 (đối với nam) rồi sau đó giảm dần từ 41 đến 60 tuổi Mức
độ giảm mạnh thường thấy ở các lớp tuổi trên 60 Đối với nữ, tầm vóc – thể lựccũng tăng dần, đạt đỉnh cao lúc 18 – 25 tuổi Từ 26 – 40 tuổi các chỉ số thể lực ở
nữ đã có xu hướng giảm và giảm rõ nhất ở lớp tuổi 41 – 55 Từ 56 tuổi trở đi cácchỉ số thể lực ở phụ nữ ngày càng giảm nhiều hơn [52]
Chiều cao là một đặc điểm nhân chủng quan trọng, mỗi dân tộc thường cómột khung chiều cao nhất định, nó được xác định trong quá trình hình thành cácđặc điểm sinh thể của dân tộc [37] Ở nước ta, chiều cao đứng của nam trưởngthành ở lớp tuổi 18 – 25 là 159,0 5,0 cm và của nữ là 149,0 4,0 cm [33] Theo
đề tài KX – 07 – 07 thì chiều cao của nam là 162,4 5,5 cm và ở nữ là 153,3
4,7 cm [61] Như vậy, nam giới cao hơn nữ giới khoảng 9 cm, đây cũng là mứcchênh lệch phổ biến của nhiều quần thể người trên thế giới [25] Tuy nhiên,không chỉ có sự khác biệt theo chiều cao giữa nam và nữ mà giữa dân cư thuộccác miền khác nhau cũng có sự khác biệt về kích thước này Phải chăng, đâychính là ảnh hưởng của môi trường sống đến sự tăng trưởng và phát triển của conngười trong các giai đoạn phát triển khác nhau, như nhiều tác giả đã nhận định[41], [44], [46], [47], [55]
Các công trình nghiên cứu trước đây cũng cho thấy, khối lượng cơ thể cũngthay đổi theo quy luật giống như tăng trưởng chiều cao Cân nặng tăng dần theotuổi, sau đó, các chỉ số này giảm xuống ở các lớp tuổi cao Giữa dân cư thuộc cácmiền khác nhau cũng có sự khác biệt về khối lượng trung bình của cơ thể [41],[55] Người miền Nam Việt Nam thường có khối lượng cơ thể lớn hơn ngườimiền Bắc [17], [30]
Chỉ số sinh học khác được nghiên cứu nhiều là vòng ngực Đặc điểm chungcủa tất cả các đối tượng là kích thước vòng ngực trung bình phát triển cao nhất ởlớp tuổi từ 16 – 25 (đối với nữ) và 26 – 40 (đối với nam) Ở các lớp tuổi sau đókích thước vòng ngực giảm dần [50] Các số liệu về vòng ngực trung bình của cáctác giả cũng không hoàn toàn giống nhau Theo dự án 90 [46] vòng ngực trungbình của nam là 82,03 4,34 cm và của nữ cùng tuổi là 79,82 5,31 cm Ở cảnam và nữ vòng ngực trung bình đều giảm dần khi ở tuổi từ 41 trở đi
Trang 9này ở lớp tuổi 18 – 25 đối với nam là 80,0 4,0 cm và nữ là 76,0 4,0 cm [62].Theo nghiên cứu của Trịnh Văn Minh và cộng sự [48] với lớp tuổi 24 thì vòngngực trung bình của nam là 82,44 3,58 cm và của nữ là 74,89 4,06 cm Vớivòng ngực trung bình như vậy, chỉ số Pignet của nam ở tuổi 24 là 36,38 6,38
và của nữ là 36,50 6,54 Như vậy, so với “Hằng số sinh học năm 75” [4] và cácnghiên cứu sau này cho thấy, chỉ số Pignet của nam và nữ có sự khác biệt khôngnhiều Chỉ số BMI cũng được xác định trong nhiều công trình Theo nghiên cứucủa Trịnh Văn Minh và cộng sự [48] thì chỉ số BMI của lớp tuổi 24 ở nam là18,78 1,50 và ở nữ là 19,13 1,67
Tiếp đó là công trình nghiên cứu của Trịnh Bỉnh Dy và cộng sự [13], [14]nghiên cứu về các thông số sinh học và đặc điểm chức năng sinh lý người ViệtNam Các tác giả cho rằng, con người sinh học sau khi bộ xương đã hoàn tất quátrình tăng trưởng (khoảng 20 – 25 tuổi) thì hầu hết mọi chức năng đều từ từ giảmdần Đó là quá trình suy thoái chức năng, đặc trưng cho sự già hóa sau 20 – 25tuổi
“Atlas nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động” do Võ Hưngchủ biên đã trình bày các công trình nghiên cứu nhân trắc người Việt Nam trên cả
ba miền của đất nước Qua công trình này, tác giả đã nêu lên được quy luật pháttriển tầm vóc cũng như đặc điểm hình thái người Việt Nam [26]
“Các chỉ tiêu nhân trắc hình thái thể lực người miền Bắc Việt Nam trưởngthành trong thập niên 90” do Trịnh Văn Minh và cộng sự [48] thực hiện cho thấy,
ở lớp tuổi thanh niên sau tuổi dậy thì, các kích thước vẫn tiếp tục phát triển và đạtđỉnh cao vào lúc 20 – 21 tuổi (ở nữ) và 22 tuổi (ở nam) Nam giới có chiều cao,cân nặng và các kích thước liên quan đến thể lực, cụ thể là với các hoạt động cơbắp luôn cao hơn so với nữ giới Trong khi đó, các chỉ số khác có liên quan đếndinh dưỡng, khối mỡ, chỉ số Pignet thì của nữ lại cao hơn so với của nam
Lê Nam Trà và cộng sự [59], [60], [61] trong đề tài KX 07 – 07 đã cho thấytrong giai đoạn từ 18 đến 25 tuổi cơ thể con người vẫn tiếp tục tăng trưởng Tuy
Trang 10nhiên, mức độ thay đổi không nhiều như ở các lớp tuổi trước đó Đến tuổi 25 ở cảhai giới đều có các chỉ số thể lực ổn định như ở tuổi trưởng thành.
Nguyễn Thị Đoàn Hương và cộng sự [29] tiến hành nghiên cứu thể lực của
767 sinh viên của một số trường đại học tại thành phố Hồ Chí Minh Kết quả chothấy, có sự khác biệt về một số chỉ số thể lực giữa sinh viên miền Nam so với
“Hằng số sinh học năm 1975” [4] Các số liệu cũng cho thấy sự tăng trưởng vượttrội vào giai đoạn 18 lên 19 tuổi (tương đương với năm thứ nhất lên năm thứ haiđại học) của một số chỉ số thể lực
Nguyễn Văn Lực và cộng sự [41] nghiên cứu về tầm vóc thể lực của 834sinh viên Đại học khu vực Thái Nguyên cho thấy, chỉ số thể lực của các đối tượngnghiên cứu tốt hơn so với sinh viên của một số trường đại học và thanh niên cùnglứa tuổi thuộc các khu vực khác
Cuối năm 1996, Thẩm Hoàng Điệp và cộng sự [17] đã nghiên cứu về sựphát triển chiều cao, vòng đầu, vòng ngực của trên 8000 người Việt Nam tuổi từ 1đến 55 ở cả 3 miền Bắc, Trung và Nam Các tác giả đã nhận xét rằng, chiều caotrung bình của nam trưởng thành là 163 cm và của nữ là 158 cm Chiều cao củanam tăng nhanh đến 18 tuổi, còn của nữ tăng nhanh đến 14 tuổi Vòng ngực trungbình của nam trưởng thành là 78 – 80 cm, vòng đầu là 55 – 56 cm, còn của nữtương ứng là 79 cm và 54 – 55 cm Cũng tác giả này (1992) [16] khi nghiên cứucác chỉ tiêu nhân trắc trên học sinh THCS Hà Nội cho rằng, chiều cao phát triểnmạnh nhất lúc 12 tuổi ở nữ và 13 – 15 tuổi ở nam, còn cân nặng phát triển mạnhnhất lúc 13 tuổi ở nữ và 15 tuổi ở nam
Trịnh Văn Minh và cộng sự [46] đã tiến hành điều tra một số chỉ số nhântrắc trên 1309 người bình thường trưởng thành tại xã Liên Ninh và tại phườngThượng Đình và xã Định Công (Hà Nội) Kết quả đáng chú ý qua hai cuộc điềutra này là các kích thước nhân trắc cũng như các chỉ số thể lực vẫn còn tiếp tụcphát triển cho đến tuổi 19 – 20 ở nữ và 22 ở nam
Năm 1992, Trần Thiết Sơn và cộng sự [52] chọn ngẫu nhiên 165 sinh viênnăm thứ nhất Đại học Y Hà Nội để nghiên cứu đặc điểm hình thái và thể lực Kếtquả cho thấy, thể lực của sinh viên Y Hà Nội thuộc loại trung bình, và có chiều
Trang 11Năm 1993, Bùi Văn Đăng và cộng sự [15] tiến hành nghiên cứu thể lực của
1221 sinh viên Đại học Y Thái Bình (thuộc 8 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ) Kết quảcho thấy, các chỉ số thể lực của sinh viên Y Thái Bình tương đương với các sốliệu trong “Hằng số sinh học người Việt Nam” (1975) [4]
Năm 1993, Nghiêm Xuân Thắng [53] nghiên cứu ảnh hưởng của môitrường nóng khô và nóng ẩm lên một số chỉ số sinh lý người đã cho thấy, khí hậukhắc nghiệt vùng Nghệ Tĩnh bước đầu làm phát sinh những biến đổi về cấu trúchình thái Các chỉ số về chiều cao, cân nặng, vòng ngực, vòng đầu, chỉ số Pignet,chỉ số Broca, Skelie của cư dân Nghệ Tĩnh phần lớn thấp hơn so với các chỉ sốchung ở người Việt Nam Tác giả cho rằng, đây là điểm đặc trưng cho sự thíchnghi với khí hậu nóng khô và nóng ẩm
Năm 1994, Nguyễn Hữu Choáng và cộng sự [6] đã nghiên cứu thể lực củanam thanh niên quận Hồng Bàng (Hải Phòng) qua đợt khám nghĩa vụ quân sự.Các tác giả cho thấy, từ 18 đến 25 tuổi, sự phát triển chiều cao, cân nặng, vòngngực trung bình của nam thanh niên quận Hồng Bàng đã chững lại hay vẫn còntăng nhưng mức độ tăng không đáng kể
Năm 1995, Nguyễn Đức Hồng [23] đã nghiên cứu “Đặc điểm nhân trắcngười Việt Nam trong lứa tuổi lao động giai đoạn 1981 – 1985” trên 13.223người thuộc cả 3 miền của đất nước Kết luận của công trình nghiên cứu này làngười Việt Nam trong lứa tuổi lao động có chiều cao (trung bình là 163 cm ở nam
và 153 cm ở nữ) thuộc loại trung bình thấp của thế giới, nhẹ cân, có phần trên củathân thuộc loại trung bình, hơi dài Một số chỉ số nhân trắc hình thái có số đotrung bình tăng dần từ Bắc vào Nam
Năm 1996, Trần Đình Long và cộng sự [36] qua nghiên cứu đặc điểm sựphát triển cơ thể học sinh phổ thông tại một số trường học ở Hà Nội đã cho thấy,
từ 17 đến 18 tuổi sự phát triển cơ thể của cả hai giới đều chậm lại rõ rệt hoặcchững lại Điều này cũng có thể thấy trong công trình nghiên cứu trên học sinhđến 18 tuổi của Nguyễn Kim Minh [44]
Trang 12Nghiên cứu của Nguyễn Thế Hùng và cộng sự [24] trên sinh viên Đại học yHải Phòng cho thấy, thể lực của nam sinh viên từ 18 đến 25 tuổi phát triển mạnhhơn của nữ cùng lớp tuổi.
Năm 1998, Nguyễn Kỳ Anh và cộng sự [1], sau khi đối chiếu so sánh cáckết quả nghiên cứu của mình với một số tác giả khác đã đưa ra nhận xét rằng,thanh niên Việt Nam lớp tuổi 14 – 18 ở nữ và 16 – 18 ở nam lớn chậm hơn so vớicác lớp tuổi trước đó
Theo Nguyễn Hữu Chỉnh và cộng sự [5], ở sinh viên lớp tuổi 18 – 25 khuvực Kiến An, Hải Phòng vẫn có sự tăng trưởng, song sự khác biệt theo các chỉ sốnghiên cứu giữa các lớp tuổi kế tiếp nhau không có ý nghĩa thống kê Cũng theoNguyễn Hữu Chỉnh và cs [5] dân cư khu vực Kiến An có các chỉ số nhân trắc tốthơn so với “Hằng số sinh học người Viêt Nam” [4] So sánh giữa nam và nữ tácgiả cho rằng, từ 10 đến 11 tuổi, nữ phát triển nhanh hơn nam, nhưng từ 14 đến 15tuổi, các kích thước của nam bắt kịp và vượt trội nữ Sau tuổi 25 chiều cao khôngtăng nữa, cân nặng tăng đến 30 – 39 tuổi sau đó ổn định rồi suy giảm, trong đónam giảm chậm hơn nữ
Năm 1998, Vũ Thị Thanh Bình [3] nghiên cứu các chỉ số hình thái thể lực
và chức năng sinh lý của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm thể dục Trung ương
1 đã nhận thấy, sinh viên ở đây có thể lực tốt hơn sinh viên các trường đại họckhác và thuộc loại tốt so với sinh viên Việt Nam nói chung Có thể coi nhữngkhác biệt này là do đặc trưng thể lực của sinh viên năng khiếu và tác động củaviệc rèn luyện thể chất ở cường độ cao
Nhìn chung, các nghiên cứu gần đây về thể lực của sinh viên và thanh niênViệt Nam đều cho thấy có sự tăng lên đáng kể so với số liệu trong các nghiên cứu
từ nhiều năm trước Đặc biệt là từ sau năm 1975 đến nay khi tình hình kinh tế,văn hóa, xã hội của nước ta có nhiều thay đổi chắc chắn sẽ có ảnh hưởng đến tầmvóc, sức khỏe của con người Việt Nam [17] Thanh niên thành phố thường có cácchỉ số nhân trắc tốt hơn thanh niên nông thôn [8] Để giải thích sự khác biệt này,
có tác giả [34] cho rằng, yếu tố cơ bản làm xuất hiện hiện tượng này là chất lượngcuộc sống Do điều kiện sống ở thành phố được cải thiện nhiều hơn nên thanh
Trang 13cũng là những yếu tố tác động đến thể lực của sinh viên và thanh niên [52] Năm
1998, Nguyễn Quang Mai và cộng sự [42] đã nghiên cứu trên nữ sinh các DTTScho thấy, đến 18 tuổi chiều cao, cân nặng trung bình của nữ sinh các DTTS thấphơn của nữ sinh các vùng đồng bằng và thành thị Tác giả cho rằng, nguyên nhânchủ yếu của hiện tượng này là do ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, môi trường,chủng tộc, điều kiện kinh tế
Nguyễn Quang Mai và Nguyễn Thị Lan [42] nghiên cứu trên nam, nữ họcsinh 9 – 18 tuổi thuộc các DTTS ở tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ cho thấy, chiềucao và cân nặng của các em tăng dần theo tuổi, chiều cao tăng nhanh lúc 14 – 15tuổi còn cân nặng tăng nhanh lúc 15 – 16 tuổi Các chỉ số chiều cao và cân nặngcủa học sinh nam, nữ trong nghiên cứu của các tác giả này lớn hơn so với số liệutrong cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam” [4], nhưng lại nhỏ hơn kết quảnghiên cứu trên học sinh Hà Nội [35], Thái Bình [44] và Hà Tây [30] Thời tăngnhanh chiều cao và cân nặng của các nữ sinh DTTS đến sớm hơn so với các dẫnliệu trong cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam” nhưng muộn hơn so với họcsinh Hà Nội và học sinh Thái Bình từ 1 đến 2 năm
Một số công trình nghiên cúu trong những năm gần đây của nhiều tác giả[27], [34], [29] trên học sinh ở các tỉnh Thanh Hóa, thành phố Hồ Chí Minh, TháiBình cho thấy, sự biến đổi các chỉ số hình thái của học sinh cũng có những đặcđiểm chung như đã trình bày ở trên
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về các chỉ tiêu hình thái của học sinhViệt Nam khá phong phú Tuy kết quả nghiên cứu về các chỉ số này trong cáccông trình có khác nhau ít nhiều nhưng đều xác định được là chúng biến đổi theolứa tuổi và mang đặc điểm giới tính Trong quá trình phát triển của trẻ em có giaiđoạn nhảy vọt tăng trưởng, mốc đánh dấu lứa tuổi nhảy vọt tương đối thống nhất
là 13 -15 tuổi ở nam và 11 -13 tuổi ở nữ Có sự khác biệt về các chỉ số này giữanam và nữ, giữa trẻ em thành thị và nông thôn, cũng như giữa các vùng khí hậukhác nhau, giữa các nhóm dân tộc khác nhau
Trang 14Năm 2000, trong luận án tiến sỹ về thể lực của người Êđê và người Kinhđịnh cư ở Đăk Lăk, Đào Mai Luyến [40] đã cho thấy, thể lực của người Êđê tốthơn người Kinh định cư Tác giả cho rằng, đây là điểm khác biệt mang tính dântộc và do môi trường sống có ảnh hưởng nhất định đến sự tăng trưởng đối với cácchỉ số hình thái Ngoài ra, sự rèn luyện thể lực cũng có tác động tốt lên chiều cao,cân nặng và một số vòng của cơ thể [50] Các yếu tố xã hội cũng có ảnh hưởngđến sự phát triển của cơ thể, đặc biệt là tuổi dậy thì [65].
Các chỉ số hình thái – thể lực phản ánh tình trạng dinh dưỡng của trẻ.Người ta thấy rằng yếu tố dinh dưỡng giữ vai trò chi phối chính trong sự pháttriển của trẻ em, ít nhất cho đến 5 tuổi Do nhận thấy ở trẻ em dưới 5 tuổi nếuđược nuôi dưỡng hợp lý và điều kiện sống hợp vệ sinh thì khả năng tăng trưởngkhông khác nhau theo chủng tộc, WHO (1995) đã đề nghị lấy quần thể NCHS(National Centre of Health Satistic) của Hoa Kỳ làm quần thể tham chiếu Từtrước những năm 90 của thế kỷ trước, đề nghị này được ứng dụng rộng rãi tạinhiều nước trên thế giới trong đó có cả Việt Nam [78] Năm 1990, WHO thànhlập Nhóm nghiên cứu về tăng trưởng của trẻ nhằm đưa ra những khuyến cáo choviệc sử dụng và giải thích một cách hợp lý về các kích thước nhân trắc áp dụngcho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ Theo báo cáo của nhóm nghiên cứu này, dữ liệu thamchiếu của Trung tâm quốc gia về thống kê y học (WHO) có những sai sót và thấtbại trong việc dự đoán một cách đầy đủ sự tăng trưởng về mặt thể chất của trẻ.Những hạn chế này đã làm cản trở công tác quản lý dinh dưỡng hợp lý của trẻnhỏ Vì vậy cần phải có những đường tăng trưởng mới để đáp ứng cho nhu cầutrên [79]
Năm 2006, WHO đã công bố bộ chuẩn tăng trưởng thứ nhất của trẻ dưới 5tuổi, gồm các chuẩn về chiều cao theo tuổi (chiều cao/tuổi), cân nặng theo tuổi(cân nặng/tuổi), cân nặng theo chiều cao (cân nặng/chiều cao) và BMI theo tuổi(BMI/tuổi) [80]
Năm 2007, WHO tiếp tục công bố bộ chuẩn tăng trưởng thứ 2 cho trẻ dưới
5 tuổi gồm các chuẩn về vòng đầu theo tuổi (vòng đầu/tuổi), Vòng cánh tay trái duỗi theo tuổi (VCTTD/tuổi), bề dày lớp mỡ dưới da tại cơ tam đầu cánh tay theo
Trang 15đường và người trưởng thành đã đánh dấu một mốc quan trọng cho các nghiêncứu về ứng dụng của các kích thước nhân trắc để đánh giá trình trạng dinh dưỡng
và phát triển thể lực của con người [73]
1.2 Nghiên cứu về sinh lý
1.2.1 Các nghiên cứu về chức năng tuần hoàn máu
Chức năng cơ bản đảm bảo cung cấp ôxy và các chất dinh dưỡng cho toàn
bộ cơ thể là hoạt động của hệ tuần hoàn, trong đó tần số tim và huyết áp độngmạch là những chỉ số cơ bản biểu hiện hoạt động của hệ tuần hoàn [62]
Tim có chức năng vừa hút máu vừa đẩy máu, là động lực chính của hệ tuầnhoàn Công suất của tim phụ thuộc vào tần số co bóp và thể tích cơ tim Bởi vậy,tần số tim là một trong các chỉ số dùng để đánh giá hoạt động của hệ tuần hoàn vàtình trạng sức khỏe của con người
Tim co bóp tạo nên lực đẩy máu trong động mạch lại chịu lực cản củamạch máu Tuần hoàn máu có thể coi là kết quả của hai loại lực đối lập nhau: lựcđấy máu của tim và lực cản của động mạch Trong đó, lực đẩy của tim đã thắngnên máu chảy trong động mạch với một áp suất nhất định (gọi là huyết áp) và mộttốc độ nhất định Nói cách khác, huyết áp là áp lực của máu tác động lên thànhmạch máu
Huyết áp khi tim co và khi tim giãn không giống nhau Huyết áp khi timgiãn là huyết áp tối thiểu hay huyết áp tâm trương vì áp suất đẩy máu đi trongmạch tăng cao khi tâm thất co và giảm khi âm thất giãn Huyết áp trong giai đoạntim co có trị số lớn nhất nên gọi là huyết áp tối đa Ngược lại, khi tim giãn không
có sức đẩy của tim nhưng tính đàn hồi của thành động mạch gây áp lực đẩy máu
đi Vì vậy huyết áp trong giai đoạn tim giãn có trị số thấp nhất nên gọi là huyết áptối thiểu
Huyết áp động mạch đã được nghiên cứu từ thế kỷ XIX do nhiều tác giảtiến hành [67], [69] Huyết áp đã được Korotkow xác định bằng phương pháp đogián tiếp, phương pháp này hiện vẫn được dùng phổ biến Kết quả nghiên cứu của
Trang 16nhiều tác giả cho thấy, huyết áp của nam và nữ từ 5 tuổi trở lên có sự khác biệt rõ,trong đó huyết áp của nam thường cao hơn của nữ và huyết áp còn chịu ảnhhưởng của môi trường sống.
Mức độ chênh lệch giữa huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu là huyết áphiệu số Đó là điều kiện cần thiết cho sự tuần hoàn của máu Khi huyết áp hiệu sốgiảm xuống thấp thì tuần hoàn máu bị ứ trệ, huyết áp trị số lớn nhất ở các độngmạch chủ và động mạch lớn
Tần số tim và huyết áp động mạch được nghiên cứu từ khá sớm trên nhiềuđối tượng khác nhau Trong số các công trình đó đáng chú ý hơn cả “Hằng số sinhhọc người Việt Nam (1975)” [4] Kết quả nghiên cứu cho thấy, tần số tim củanam trưởng thành trung bình là 70 – 80 lần/phút và của nữ trưởng thành trungbình là 75 – 85 lần/phút Tần số tim của trẻ em 2 – 4 tuổi là 95 – 110 lần/phút, 5 –
15 tuổi là 80 – 95 lần/phút
Các kết quả nghiên cứu về huyết áp động mạch trên người Việt Nam củaTrịnh Bỉnh Dy trình bày trong cuốn “Về những thông số sinh học người ViệtNam” cho thấy, huyết áp của người Việt Nam không những thấp mà còn tăngchậm theo tuổi [12] Trong “Hằng số sinh học người Việt Nam (1975)” huyết áptâm thu ở người trưởng thành dao động là 90 – 140 mmHg và huyết áp tâmtrương là 50 – 90 mmHg
Nghiên cứu của Trần Đỗ Trinh [62] cũng cho thấy, các chỉ số huyết ápđộng mạch nằm trong giới hạn kể trên, chỉ số huyết áp tâm thu trung bình cho cảnam và nữ là 120,06 16,25 mmHg và huyết áp tâm trương là 75,28 10,74mmHg
Các công trình nghiên cứu trên học sinh phổ thông [35] cho thấy, huyết ápđộng mạch tăng dần theo lớp tuổi Nghiên cứu trên những người trưởng thànhkhác nhau về chủng tộc [40] cũng cho thấy, huyết áp động mạch của nữ ngườiÊđê cao hơn của nữ người Kinh
Năm 1993, Đoàn Yên và cs [66] dựa vào kết quả nghiên cứu tần số tim vàhuyết áp của người Việt Nam đã cho rằng, từ khi sinh ra và lớn lên, tần số tim vàhuyết áp động mạch biến đổi có tính chất chu kỳ Huyết áp động mạch tăng đến
Trang 17Việt Nam thường thấp hơn.
Nghiêm Xuân Thắng [53] khi nghiên cứu thể lực của người Nghệ Tĩnh lớptuổi 18 – 25 đã nhận thấy, tần số tim, huyết áp động mạch chịu sự tác động củamôi trường sống, đặc biệt là khí hậu trong khu vực Tần số tim tăng khi nhiệt độmôi trường tăng, nó biến đổi theo ngày, mùa và phụ thuộc vào mức độ bức xạ.Tần số co bóp của tim về mùa hè cao hơn về mùa đông Ngoài ra, chỉ số này cònchịu sự chi phối của các yếu tố khác như lao động, trạng thái tâm lý,…
Năm 1996, Trần Đỗ Trinh [62] nghiên cứu trên 367.843 người thuộc 7vùng địa lý khác nhau đã cho thấy, chỉ số huyết áp trung bình của người ViệtNam là 120/75 mmHg Theo tác giả, huyết áp tăng tuổi, ở lớp tuổi 18 – 25 mứctăng chậm lại rồi tương đối ổn định ở tuổi trung niên Về già huyết áp lại tăng lên,huyết áp của nam thường cao hơn của nữ, tuy sự chênh lệch không nhiều, chỉ 1 –
3 mmHg
Qua nghiên cứu huyết áp của các dân tộc ở Tây Nguyên, Đào Mai Luyến[40] nhận thấy, dân tộc Êđê, Bana, Giarai có tần số tim và huyết áp động mạchkhác nhau, song các chỉ số này vẫn trong giới hạn bình thường Trong số các dântộc này thì dân tộc Êđê có các chỉ số huyết áp tốt hơn cả Cũng giống như ngườiKinh, ở cả 3 dân tộc huyết áp đều tăng dần theo tuổi
Nghiên cứu của Trần Thị Loan [35] cho thấy ở lớp tuổi học sinh phổ thôngtần số tim giảm dần theo lớp tuổi, sự biến đổi nhịp tim của nam và nữ khác nhau
Năm 2002, Nguyễn Văn Mùi và cs [50] đã nghiên cứu tần số tim và huyết
áp động mạch trên 182 vận động viên một số môn thể thao ở Hải Phòng cho thấy,huyết áp tâm thu và tâm trương của các vận động viên, cả nam và nữ, đều thấphơn so với người bình thường cùng lứa tuổi và nằm trong giới hạn bình thường.Trong số này nhóm vận động viên bơi lội có huyết áp thấp hơn cả Tần số co bóptim ở các vận động viên đều thấp hơn so với các thanh niên cùng lứa tuổi vànhóm vận động viên bắn súng có tần số thấp nhất Điều này cho thấy, việc rènluyện thể chất có ý nghĩa rất lớn đối với chức năng của hệ tim – mạch
Trang 18Nghiên cứu về điện tim được thực hiện từ thế kỷ XIX [72] Năm 1885,Einthoven đã đặt tên cho các sóng trên điện tâm đồ và đưa ra cách tính trục điệntim Goldberger năm 1947 đã cải tiến cách mắc các chuyển đạo đơn cực chỉ làmcho điện thế ở các chuyển đạo này tăng lên 1,5 lần mà không làm thay đổi hìnhdạng sóng [70] Điều này đã giúp các nhà nghiên cứu dễ dàng hơn trong việc điệntâm đồ Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, tần số tim thay đổi theo tuổi vàtheo trạng thái chức năng của cơ thể Những thay đổi này có liên quan đến sựgiảm hoạt động của nút xoang và giảm ảnh hưởng của dây thần kinh ngoài tim.1.2.2 Các nghiên cứu về tần số thở
Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của con người có một chất quantrọng không thể thiếu cho sự sống đó là khí oxi Phổi là cơ quan hô hấp làmnhiệm vụ lấy khí oxi đồng thời thải khí cacbonic nhờ cử động hô hấp Mỗi lần cơthể hít vào để lấy oxi và thở ra để thải khí cacbonic được gọi là một nhịp thở, tần
số thở là số lần thở ra, hít vào trong 1 phút (nhịp/phút)
Năm 1846, Hutchinson thiết kế ra máy hô hấp kế và đặt nền móng cho việcxét nghiệm chức năng phổi [11] Từ đó, việc nghiên cứu về chức năng phổi đã cónhững thay đổi theo hướng hoàn thiện hơn về phương pháp [67], [68]
Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Mùi [49], tần số thở của trẻ em giảm dầntheo tuổi Trẻ sơ sinh có tần số thở là 40 – 60 lần/phút, trẻ dưới 6 tháng thở 35 –
40 lần/phút, trẻ 7 – 12 tháng thở 35 – 30 lần/phút, trẻ 2 – 3 tuổi thở 30 – 25lần/phút, trẻ 10 – 12 tuổi thở 22 – 20 lần/phút, trẻ 14 – 15 tuổi thở 20 – 18lần/phút Các thông số hô hấp của trẻ em nam đặc biệt tăng nhanh ở lứa tuổi 14 –
15 và ở trẻ em nữ tăng mạnh ở 13 – 14 tuổi
Theo nhiều tác giả khác, tần số hô hấp của trẻ sơ sinh dao động ở 29 – 65lần/phút Tần số hô hấp trở nên ổn định và giảm thấp trong quá trình phát triểncủa cá thể: ở trẻ 3 – 4 tuổi tần số hô hấp khoảng 30 -28 lần/phút, trẻ 5 – 6 tuổi chỉ
số này khoảng 24 – 22 lần/phút, ở trẻ 7 – 8 tuổi khoảng 23 – 22 lần/phút, ở trẻ 9 –
10 tuổi khoảng 21 – 20 lần/phút và không có sự khác biệt rõ rệt theo tần số hô hấp
ở trẻ nam và trẻ nữ lứa tuổi 12 – 16, dao động trong khoảng 17 – 15 lần/phút [7]
Trang 19Trong cuốn “Hằng số sinh học người Việt Nam” năm 1975 [4] đã trình bàymột loạt các chỉ số cơ bản như tần số thở, dung tích sống gắng sức, thể tích khílưu thông,… và mối quan hệ của chúng với giới tính và chiều cao của cơ thể [4].Nghiêm Xuân Thắng [53] nghiên cứu sự ảnh hưởng của khí hậu lên các chỉ
số hô hấp của cư dân Nghệ An và Hà Tĩnh đã thấy rằng tần số thở và dung tíchsống chịu ảnh hưởng của khí hậu là nhiều nhất
Trang 20Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng khảo sát bao gồm 593 học sinh (trong đó có 300 học sinh nam gồm
140 học sinh dân tộc Mường và 160 học sinh dân tộc Kinh, 293 học sinh nữ gồm 158học sinh dân tộc Mường và 135 học sinh dân tộc Kinh) trường THCS Kỳ Phú, xã KỳPhú, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình có độ tuổi 12 đến 15 và phụ huynh của nhữnghọc sinh này Tất cả những học sinh này đều có trạng thái tâm lý và sức khỏe bìnhthường, không có các dị tật bẩm sinh và bệnh mãn tính Các chỉ số nghiên cứu đượcxác định trên cùng một đối tượng, nên khi trình bày kết quả và bàn luận chúng tôikhông nhắc lại số đối tượng trong từng bảng số liệu Phân bố các đối tượng theo tuổi
và giới tính thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2.1 Phân bố học sinh theo tuổi giới tính và dân tộc
- Chiều cao đứng: Được xác định bằng thước dây có vạch chia đến 0,1 cm Khi
đo, học sinh ở tư thế đứng thẳng, hai gót chân sát vào nhau, mắt nhìn thẳng, đồng thờiđảm bảo bốn điểm là chẩm, lưng, mông, gót chạm vào tường Tư thế đứng thẳng đượcxác định khi đuôi mắt và lỗ tai ngoài cùng ở trên đường thẳng nằm ngang, song songvới mặt đất Dùng thước gỗ đặt lên đầu đối tượng để xác định điểm mốc trên, sau đódùng phấn màu đánh dấu vào tường, dùng thước dây đo từ điểm mốc trên xuống mặtđất theo chiều thẳng đứng Chiều cao đứng được tính theo đơn vị centimet (cm)
- Trọng lượng cơ thể: Được xác định bằng cân đồng hồ có độ chính xác đến 0,1
kg Đo xa bữa ăn Khi cân mỗi đối tượng chỉ mặc một bộ quần áo mỏng, không manggiày, dép, đứng yên ở vị trí giữa bàn cân, hai bàn chân sát nhau Trước khi đo bất kì
Trang 21học sinh nào, cân đều được chỉnh để đảm bảo độ chính xác Đơn vị tính trọng lượng
cơ thể là kilogam (kg)
- Vòng ngực trung bình: Được xác định bằng số trung bình cộng của số đo vòngngực lúc hít vào tận lực và lúc thở ra cố sức Vòng ngực được đo ở tư thế đứng thẳngbằng thước dây vòng quanh ngực vuông góc với cột số xương bả vai, phía trước quámũi ức Như vậy, chu vi đo thước tạo thành nằm trên mặt phẳng ngang song song vớimặt đất Trước khi đo hướng dẫn đối tượng hít vào tận lực và thở ra cố sức để đo.Dụng cụ đo là thước dây bằng vải của Trung Quốc, không co giãn, có chia số tới mm.Đơn vị đo vòng ngực trung bình là cm
Để đánh giá thể lực của học sinh chúng tôi dùng các loại chỉ số:
- BMI (Body Mass Index) còn gọi là chỉ số khối cơ thể, tính theo công thức:
Bảng 2.2 Đánh giá tăng trưởng thể lực dựa vào BMI theo WHO
M
đánh
(CED: Choronic Enegry Deficiency: thiếu năng lượng trường diễn)
Bảng 2.3 Chuẩn suy dinh dưỡng BMI/tuổi người 5-19 tuổi của WHO
B B n
Bình thường
< Bình thường
<
<
Trang 22- Chỉ số Pignet: được tính bằng công thức:
Pignet = Chiều cao đứng (cm) – [Cân nặng (kg) + Vòng ngực trung bình (cm)] Đánh giá chỉ số Pignet của Nguyễn Quang Quyền:
Bảng 2.4 Đánh giá chỉ số Pignet của Nguyễn Quang Quyền
C
h
s ứcđộ
C h
s ứcđ 0
4 ≥4 Yếu
2
7
T r
2.2.2 Phương pháp xác định các chỉ số chức năng
- Các chỉ số chức năng hệ tim, mạch
+ Tần số tim: được xác định bằng ống nghe, khi đo đối tượng ngồi ở tư thếthoải mái, người đo đặt ống nghe vào ngực trái của đối tượng, ở vị trí giữa xương sườnthứ 5 và thứ 6, đếm nhịp tim trong vòng 1 phút Đo 3 lần rồi lấy giá trị trung bình Nếuthấy kết quả 3 lần đo khác nhau nhiều thì cho đối tượng nghỉ 15 phút rồi đo lại
+ Huyết áp động mạch: được xác định bằng phương pháp Korotkov, dụng cụ
đo là huyết áp kế đồng hồ
Chuẩn bị đo: đặt cánh tay trái ngang trong tư thế nằm thoải mái, người đo quấnbao cao su của huyết áp kế quanh cánh tay đối tượng, chặt vừa phải, đặt ống nghe trênđộng mạch cánh tay ngay sát bên dưới bao cao su để nghe mạch đập và đặt đồng hồcủa huyết áp kế trước mặt
Cách đo: vặn chặt ốc ở bóp cao su rồi từ từ bơm cho đến khi kim đồng hồ chỉvào số 150 – 160 mmHg Sau đó mở nhẹ ốc cho hơi thoát ra từ từ, đồng thời lắngnghe Trị số trên đồng hồ lúc nghe tiếng đập đầu tiên là chỉ số huyết áp tâm thu vàtiếng cuối cùng là chỉ số huyết áp tâm trương Trong trường hợp bất thường cần phải
đo lại Đo ba lần và lấy trị số trung bình của 3 lần đo
- Chỉ số về chức năng hô hấp
+ Tần số thở: để đối tượng nằm thoải mái, tay đặt ở hai bên Người đo cầm tayđối tượng như kiểu bắt mạch (đặt nhẹ 3 ngón tay (trỏ, giữa, nhẫn) lên động mạch quaycủa đối tượng), quan sát tay đối tượng nâng lên, hạ xuống để đếm nhịp thở Đo nhịpthở 3 lần rồi lấy giá trị trung bình
Trang 23Sự sai khác của hai giá trị trung bình của hai mẫu nghiên cứu khác nhau đượckiểm định bằng hàm “t – test” theo phương pháp Student – Fisher.
Kết quả nghiên cứu được so sánh với số liệu trong quyển “Hằng số sinh họcngười Việt Nam” (1975) và các kết quả nghiên cứu trong những năm gần đây của cáctác giả khác
Sử dụng phần mềm nhân trắc của WHO để xác định tình trạng dinh dưỡng củahọc sinh trong nghiên cứu
Trang 2414 4,
1, 8
3
-<0 0 1
4 32 15 10,0 32
14 7,
3,
6 3, <0.0 1
3 3 , <0.0 C
Chiều cao đứng của học sinh dân tộc Kinh
Chiều cao đứng là một trong những chỉ tiêu quan trọng trong nghiên cứu hìnhthái người, nó có ý nghĩa trong việc đánh giá về thể lực cũng như về tầm vóc conngười, đặc biệt là trong giai đoạn đang phát triển Ở giai đoạn này sự tăng trưởng vềchiều cao thay đổi theo dân tộc, giới tính đồng thời cũng chịu những ảnh hưởng nhấtđịnh của các yếu tố môi trường
Kết quả nghiên cứu chiều cao của học sinh dân tộc Kinh tại trường THCS KỳPhú được thể hiện ở bảng 3.1
Bảng 3.1 Chiều cao đứng (cm) của HSDT Kinh
1 2
Dựa vào số liệu ở bảng 3.1 và hình 3.1 cho thấy chiều cao đứng của HSDTKinh liên tục tăng Chiều cao đứng của học sinh nam tăng từ 140,68 cm lên 154,4 cm,mỗi năm tăng trung bình 4,57 cm Chiều cao của học sinh nữ tăng từ 142,27 cm lên150,75 cm, trung bình mỗi năm tăng 2,83 cm, tốc độ tăng trung bình của học sinh namcao hơn của học sinh nữ Chiều cao đứng của học sinh ở lứa tuổi 12 – 15 tăng nhanh vìđây là thời kỳ dậy thì Chiều cao đứng của học sinh nam và nữ tăng nhanh nhất ở tuổi
14 (học sinh nam tăng 10,03 cm/năm, học sinh nữ tăng 3,62 cm/năm) Tốc độ tăngchiều cao đứng trung bình của nam lớn hơn nữ, tuy nhiên năm 12, 13 tuổi tốc độ tăngcủa nữ lại lớn hơn nam, nhưng đến năm 14, 15 tuổi thì nữ lại thấp hơn, do thời điểmdậy thì của nam muộn hơn nữ Đây là giai đoạn chiều cao của các em tăng vọt vì quátrình sinh trưởng và phát triển diễn ra mạnh mẽ nhất là của hệ xương, đặc biệt là các
Trang 25xương ống dài ra rất nhanh [32], [42] Tốc độ tăng và thời điểm tăng nhanh chiều caocủa học sinh người Kinh trường THCS Kỳ Phú cũng phù hợp với nghiên cứu của ĐàoHuy Khuê [30] Trần Đình Long [38] Trần Thị Loan [35], Đỗ Hồng Cường [7] và sớmhơn so với HSSH 1975 [4].
Chiề u cao đứng
(cm) 160
154.4 150.75
Nam Nữ
“a – giai đoạn lớn đều: 1 – 10 tuổi với nữ và 1-12 tuổi với nam; b – giai đoạn
2 gồm 2 thời kỳ: trước dậy thì và dậy thì (11 – 13 tuổi với nữ và 13 – 15 tuổi với nam) Đặc điểm thời kỳ này là sức lớn nhảy vọt lên hơn trước (mỗi năm tăng trên dưới 7 cm)[49]
Ở cùng một độ tuổi thì chiều cao đứng của học sinh nam và học sinh nữ khônggiống nhau Sự chênh lệch về chiều cao của học sinh nam và nữ ở độ tuổi 12 không có
ý nghĩa thống kê (p>0,05), còn ở độ tuổi 13, 14, 15 thì sự chênh lệch này đều có ýnghĩa thống kê (p<0,05)
Chiều cao đứng của học sinh dân tộc Mường và học sinh dân tộc Kinh
Cũng giống như HSDT Kinh, chiều cao đứng của HSDT Mường cũng tăngdần theo độ tuổi, tăng trưởng trung bình của học sinh nam là 5,14 cm/năm và của họcsinh nữ là 2,93 cm Ở độ tuổi 12, 13, chiều cao trung bình của học sinh nam đều thấphơn của học sinh nữ và ở độ tuổi 14, 15 thì ngược lại, chiều cao trung bình của họcsinh nam cao hơn chiều cao đứng trung bình của học sinh nữ Sự khác biệt này đều
Trang 26
-3 <0, 1
3 , 3, <0, 1
153.79 150.6
Trang 27Cân nặng của học sinh dân tộc Kinh
Trong các điều tra cơ bản về hình thái người, cân nặng là một thông số quantrọng Nó liên quan đến nhiều kích thước khác nên thường được sử dụng để đánh giá
sự phát triển cơ thể, trong giai đoạn đang lớn thì cân nặng thường tăng nhưng khôngđều Kết quả nghiên cứu về cân nặng của HSDT Kinh trường THCS Kỳ Phú theo tuổi
và giới tính được thể hiện trong bảng 3.4
Trang 28 T
ăn n X T
ăn1
và của nữ học sinh dân tộc Kinh thì con số này là 2,87 kg/năm Tốc độ tăng cân nặng diễn ra không đều, cân nặng của học sinh nam dân tộc Kinh tăng nhanh nhất ở tuổi 15 (6,56 kg) còn ở nữ thì tốc độ tăng nhanh nhất là ở độ tuổi 14 (3,54 kg), cân nặng của học sinh nam tăng chậm hơn của học sinh nữ 1 năm Ở cùng một độ tuổi thì cân nặng của học sinh nam và học sinh nữ không giống nhau, 12 – 14 tuổi thì nữ nặng cân hơn nam, 15 tuổi thì nam nặng cân hơn nữ, tuy nhiên ở độ tuổi 12 và 15 thì sự khác biệtnày không có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
Cân nặ ng (kg) 50 40 30 20
37.78 39.34
44.34 41.89
Nam Nữ 10
Trang 29Cân nặng của học sinh dân tộc Mường và học sinh dân tộc Kinh
Số liệu trong bảng 3.5 cho thấy tốc độ tăng trưởng về cân nặng của HSDTMường về cơ bản tương tự như HSDT Kinh, tốc độ tăng trưởng nhanh nhất ở nam và
nữ đều ở độ tuổi 15 Ở học sinh nam thì tăng trung bình 7,02 cm/năm, còn ở học sinh
Cân nặ ng
(kg) 50
Nam Nữ 10
Trang 30Số liệu ở bảng 3.5 cho thấy tốc độ tăng trưởng về trọng lượng cơ thể ở học sinh là tương đối đồng đều: ở nam, HSDT Kinh có tốc độ tăng trưởng trung bình/năm cao hơn HSDT Mường, mức độ chênh lệch là 1,7 kg/năm; còn ở nữ, mức chênh lệch
36.6
36.4
36.2
36 35.8
Nam Nữ Giới tính
Hình 3.6 Cân nặng của HSDT Kinh và HSDT Mường3.1.3 Vòng ngực trung bình
Vòng ngực trung bình (VNTB) của học sinh dân tộc Kinh
Cũng như khối lượng cơ thể và chiều cao đứng, VNTB được coi là một chỉtiêu đặc trưng cho thể lực của mỗi người Nhìn chung, một người có kích thước vòngngực rộng thì có thể lực tốt Các nghiên cứu [17], [23]… đã cho thấy, sự phát triển củavòng ngực xảy ra song song với phát triển chiều cao Quy luật phát triển vòng ngựccũng gần giống với quy luật phát triển của khối lượng cơ thể Đặc biệt, vòng ngực còn
Trang 31 T
ăn n X T
ă1
Bảng số liệu 3.7 cho thấy:
Từ 12 đến 15 tuổi, VNTB của học sinh tăng dần theo lớp tuổi Ở học sinhnam, VNTB lúc 12 tuổi là 63,83 cm 7,84 cm, lên 18 tuổi VNTB là 71,4 cm 1,47
cm, mỗi năm tăng trung bình 2,52 cm và của học sinh nữ từ 61,59 cm lên 68,36 cm,mỗi năm tăng trung bình 2,26 cm Điều này phù hợp với các kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả [4], [7], [16], [18], [38], [35], [30],… VNTB của HSDT Kinh được minhhọa ở hình 3.7:
VNTB (cm) 74 72 70 68
66 63.83 64
62 60 58 56
61.59
65.23 63.56
68.16 66.06
71.4 68.36
Nam Nữ
12 13 14 15
Tuổi
Hình 3.7 Vòng ngực trung bình của HSDT Kinh
Trang 32Ở cùng một lứa tuổi, VNTB của học sinh nam và nữ cũng không giống nhau,
sự khác biệt này đều mang ý nghĩa thống kê (p<0,05)
Vòng ngực trung bình của học sinh dân tộc Mường và học sinh dân tộc Kinh
Cũng giống như HSDT Kinh, VNTB của HSDT Mường cũng tăng dần theo độtuổi và tốc độ tăng không đều ở các lứa tuổi và hai giới (Bảng 3.8) Cụ thể: ở học sinhnam VNTB năm 12 tuổi là 63,24 cm 3,69, năm 15 tuổi là 70,82 cm 7,5 cm, tăngtrung bình 2,53 cm/năm, tăng nhanh nhất ở lứa tuổi 14 - 15 (3,72 cm); ở học sinh nữcon số này là 2,12 cm/năm, tăng nhanh nhất ở độ tuổi 13 - 14 (3,28 cm) Số liệu nàyhoàn toàn phù hợp với nghiên cứu của Đỗ Hồng Cường trên đối tượng là HSDT thiểu
Trang 33trình “Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 - thế kỷ XX”.
67.1 65.3 1
70.8 2 67.8
Nam Nữ
12 13 14 15
Tuổi
Hình 3.8 Vòng ngực trung bình của HSDT MườngKết quả nghiên cứu VNTB của HSDT Kinh và HSDT Mường được thể hiện ở bảng3.9:
Bảng 3.9 Vòng ngực trung bình của HSDT Kinh và HSDT Mường
Trang 34 T
ăn n X T
ă1
67.33 66.85 66
64.89 65
64
HSDT Mường 63
BMI của học sinh dân tộc Kinh
BMI (Body Mass Index) hay chỉ số khối cơ thể được tính bằng cân nặng (kg)/[chiều cao (m)]2 cho phép so sánh sức nặng tương đối của người có chiều cao khácnhau Căn cứ vào BMI người ta có thể đánh giá hiện tượng béo hay gầy của cơ thể,
có thể xác định được tình trạng dinh dưỡng của cơ thể
Ở nước ta, việc đo BMI phổ biến gần đây khi điều kiện kinh tế, xã hội cónhiều thay đổi, đời sống con người được nâng lên, kéo theo sự gia tăng của một sốbệnh liên quan đến chuyển hoá và dinh dưỡng, dó đó BMI cũng như các chỉ số vòngbụng, vòng mông cũng được nghiên cứu nhiều hơn
Kết quả nghiên cứu BMI của HSDT Kinh trường THCS Kỳ Phú được thể hiệntrong bảng 3.10
Bảng 3.10 BMI của HSDT Kinh
1 2
Trang 35
-0 >0 1
0 , 0, >0 1
1 7
0 ,
0 ,
>
0 C
BMI 19 18.5 18 17.5 17 16.5 16 15.5 15 14.5
16.36 16.01 16.12
17.44 17.58
16.54
18.1518.37
Nam Nữ
12 13 14 15
Tuổi
Hình 3.10 BMI của học sinh dân tộc KinhTheo bảng phân loại BMI được đánh giá theo tiêu chuẩn của WHO khuyến cáo dành cho các quốc gia châu Á thì học sinh nam và nữ của trường THCS Kỳ Phú thuộc loại gầy (BMI<18,5)
BMI của học sinh dân tộc Mường và học sinh dân tộc Kinh
Căn cứ vào số liệu bảng 3.11 thì BMI của HSDT Mường đều tăng nhưngkhông đều, từ 12 đến 15 tuổi, BMI của học sinh nam tăng 2,38, trung bình mỗi nămtăng 0,79 còn ở nữ tăng 1,82, mỗi năm tăng trung bình 0,61 Sự chênh lệch BMI giữahọc sinh nam và học sinh nữ là không đáng kể và không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)
Bảng 3.11 BMI của HSDT Mường
1 2
Trang 36Dựa vào cách phân loại của WHO thì HSDT Mường trường THCS Kỳ Phúthuộc loại gầy (BMI<18,5), so với kết quả điều tra trong “Các giá trị sinh học ngườiViệt Nam thập kỷ 90 - thế kỷ XX” ở cùng độ tuổi thì các số liệu nghiên cứu đều phùhợp.
Nam Nữ
12 13 14 15
Tuổi
Hình 3.11 BMI của HSDT MườngQua bảng số liệu 3.12 cho thấy sự khác nhau giữa BMI của HSDT Kinh và HSDT Mường là không đáng kể, BMI của HSDT Mường nhỏ hơn chỉ số BMI của HSDT Kinh, ở nam là 0,22 và ở nữ là 0,01 Sự chênh lệch này không có ý nghĩa thống
Trang 37Bảng 3.13 Đánh giá tăng trưởng thể lực dựa vào BMI theo WHO
16.97
16.75
HSDT Kinh HSDT Mường
Chỉ số pignet của học sinh dân tộc Kinh
Chỉ số Pignet được tính dựa vào ba chỉ số hình thái đặc trưng là chiều cao, cânnặng và VNTB Chỉ số này càng nhỏ thì sự phát triển của cơ thể càng tốt Chỉ số này
có lợi cho người béo và thiệt cho người cao vì người cao chỉ số này sẽ lớn Chỉ sốPignet được dùng thường xuyên ở Việt Nam để đánh giá thể lực của con người Kết
Trang 38
-2 <0 1
-3 -0 <0 1
14 tuổi chỉ số pignet của nữ lớn hơn nam còn ở tuổi 15 chỉ số pignet của nam lại nhỏhơn nữ Chỉ số pignet ở 2 giới có sự chênh lệch đáng kể và có ý nghĩa thống kê(p<0,05) Điều này chứng tỏ ở giai đoạn 12 – 14 tuổi thể lực của các em nữ tốt hơn củacác em nam, nhưng ở độ tuổi 15 thì ngược lại, thể lực của các em nam lại tốt hơn Sovới các nghiên cứu của các tác giả khác [4], [7], [35], [57], kết quả nghiên cứu trên làhoàn toàn phù hợp HSDT Kinh trường THCS Kỳ Phú thuộc nhóm có sức khoẻ yếu
Pignet 48 46 44 42 40
45.15 47.38
43.07 44.77
Nam Nữ
38 36
12 13 14 15
Tuổi
Hình 3.13 Chỉ số pignet của HSDT Kinh
Trang 39nhóm tuổi Điều này được thể hiện ở bảng 3.15:
Bảng 3.15 Chỉ số pignet của HSDT Mường
1 2
Từ số liệu bảng 3.15 và hình 3.14 ta thấy: Ở học sinh nam lứa tuổi 12 chỉ sốpignet là 44,85 1,62 đến 15 tuổi con số này là 39,89 2,08; Mức độ giảm trung bìnhmỗi năm là 1,65 trong khi đó ở nữ 12 tuổi là 48,05 4,38 và ở 15 tuổi là 38,49
4,12; Mỗi năm giảm trung bình 3,19 Điều này chứng tỏ trong độ tuổi 12 – 15 ở giaiđoạn đầu tốc độ tăng trưởng về chiều cao nhanh hơn tốc độ tăng trưởng về trọng lượng
cơ thể và vòng ngực, ở giai đoạn sau thì ngược lại, tốc độ tăng trưởng trọng lượng cơthể nhanh hơn tốc độ tăng trưởng chiều cao nên chỉ số pignet giảm dần
Pignet 60
50 44.85 48.05 47.09
41.35
40 30 20 10 0
Nam Nữ
12 13 14 15
Tuổi
Hình 3.14 Chỉ số pignet của HSDT Mường
Trang 40Chỉ số pignet của nam ở độ tuổi 12 – 14 thấp hơn so với nữ, nhưng ở độ tuổi
15 thì chỉ số này ở học sinh nam lại cao hơn Sự chênh lệch về chỉ số pignet giữa nam
và nữ là 1,24, sự chênh lệch này có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
Bảng 3.16 Chỉ số pignet của HSDT Kinh và HSDT MườngG
HSDT Kinh HSDT Mường