Trên cơ sở những thông tin thu thập được khi điều tra HS vừa trao đổi trực tiếp vớicác giáo viên giảng dạy ở trường phổ thông, qua đó có thể khái quát về thực trạng tìnhhình kiểm tra đán
Trang 1Đối với trò, việc kiểm tra sẽ giúp họ tự đánh giá, tạo động lực thúc đẩy họ chăm lohọc tập.
Đối với các nhà quản lý giáo dục, kiểm tra đánh giá đúng sẽ giúp họ có cái nhìnkhách quan hơn để từ đó có sự điều chỉnh về nội dung chương trình cũng như về cáchthức tổ chức đào tạo
Nhưng làm thế nào để kiểm tra đánh giá được tốt? Đây là một trong những vấn đềthu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và có thể nói rằng đây là một vấn đềmang tính thời sự
Các phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập rất đa dạng, mỗi phương pháp cónhững ưu và nhược điểm nhất định, không có một phương pháp nào là hoàn mĩ đối với mọimục tiêu giáo dục Thực tiễn cho thấy, dạy học không nên chỉ áp dụng một hình thức thi,kiểm tra cho một môn học, mà cần thiết phải tiến hành kết hợp các hình thức thi kiểm tramột cách hợp lí mới có thể đạt được yêu cầu của việc
đánh giá kết quả dạy
học
Đối với loại luận đề, đây là loại mang tính truyền thống, được sử dụng một cáchphổ biến trong một thời gian dài từ trước tới nay Ưu điểm của loại kiểm tra này là nócho học sinh cơ hội phân tích và tổng hợp dữ kiện theo lời lẽ riêng của mình, có thể dùng
để kiểm tra trình độ tư duy ở trình độ cao Song loại bài luận đề cũng thường mắc phảinhững hạn chế rất dễ nhận ra là: Nó chỉ cho phép khảo sát một số ít kiến thức trong thờigian nhất định Việc chấm điểm loại này đòi hỏi nhiều thời gian, kết quả thi không cóngay, thiếu khách quan, khó ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực và do đó trong một sốtrường hợp không xác định được thực chất trình độ của học sinh
Trong khi đó phương pháp trắc nghiệm khách quan có thể dùng kiểm tra đánh giá
Trang 2kiến thức trên một vùng rộng, một cách nhanh chóng, khách quan, chính xác; nó chophép xử lý kết quả theo nhiều chiều với từng học sinh cũng như tổng thể cả lớp học hoặcmột trường học; giúp cho giáo viên kịp thời điều chỉnh hoàn thiện phương pháp dạy đểnâng cao hiệu quả dạy học Nhưng việc biên soạn một hệ thống câu hỏi trắc nghiệmkhách quan cho một bộ môn là một công việc không đơn giản, đòi hỏi sự quan tâm củanhiều người, đặc biệt là các nhà giáo, phải qua nhiều thử nghiệm và mất nhiều thời gian
Trên cơ sở những thông tin thu thập được khi điều tra HS vừa trao đổi trực tiếp vớicác giáo viên giảng dạy ở trường phổ thông, qua đó có thể khái quát về thực trạng tìnhhình kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn vật lý trong thực tế hiện nay như sau:
- Cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập chưa đảm bảo: Do bài kiểm trachỉ có một số câu hỏi nhất định, nội dung cần KTĐG không bao trùm đại diện cho kiếnthức môn học, không đảm bảo cho các mục tiêu môn học
- Nhận thức về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh chưa đúngmức : Phần lớn các giáo viên đều quan niệm, việc ra đề kiểm tra cho học sinh đơn giản
là có điểm số ghi vào sổ điểm Từ đó, có căn cứ để cuối học kỳ, cuối năm đánh giá họcsinh, chưa quan tâm đến chất lượng của đề kiểm tra Còn các cán bộ quản lý giáo dục thìcho rằng, đó là công việc của giáo viên chứ không phải của hiệu trưởng
Xuất phát từ nhận thức và suy nghĩ ở trên, qua thực tiễn giảng dạy môn Vật lí ởTHPT chúng tôi lựa chọn đề tài: ứng dụng trắc nghiệm khách quan vào việc kiểm trađánh giá kết quả học tập môn vật lí ở trường trung học phổ thông (Thể hiện qua phầndòng điện xoay chiều vật lí lớp 12 THPT chương trình cơ bản)
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn(TNKQ NLC) để kiểm tra, đánh giá mức độ lĩnh hội kiến thức, kỹ năng của học sinhtrong dạy học chương "Dòng điện xoay chiều" Vật lí lớp 12 THPT chương trình cơ bản
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình đánh giá kết quả học tập môn Vật lý của học sinh ở trường THPT
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu phương pháp trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn để soạnthảo hệ thống câu hỏi sử dụng trong kiểm tra đánh giá chất lượng một số kiến thức thuộcchương "Dòng điện xoay chiều" của học sinh lớp 12 THPT và thực nghiệm trên một sốlớp 12 ở trường THPT của tỉnh Bắc Giang
4 Giả thuyết khoa học
Trang 3Nếu có một hệ thống câu hỏi TNKQNLC được soạn thảo phù hợp với mục tiêudạy học và nội dung kiến thức chương "Dòng điện xoay chiều" của lớp 12 THPT để sửdụng trong kiểm tra đánh giá thì có thể đánh giá chính xác, khách quan mức độ nắmvững kiến thức chương "Dòng điện xoay chiều" của học sinh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ởtrường phổ thông
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và kỹ thuật xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quannhiều lựa chọn
- Nghiên cứu nội dung chương trình vật lí 12 nói chung và chương "Dòng điệnxoay chiều" nói riêng; trên cơ sở đó xác định trình độ của mục tiêu nhận thức chungứng với từng kiến thức mà học sinh cần đạt được
- Vận dụng cơ sở lý luận xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiềulựa chọn cho một số kiến thức thuộc chương "Dòng điện xoay chiều" lớp 12 THPTchương trình cơ bản
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hệ thống câu hỏi đã soạn
6- Phương pháp nghiên cứu
6.1- Phương pháp điều tra giáo dục
- Điều tra tổng hợp ý kiến các nhà nghiên cứu giáo dục; tìm hiểu nhận thức v thái độ của GV về KTĐG các môn học và thực trạng việc KTĐG KQHT môn Vật lí ởtrường THPT hiện nay
6.2- Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Vận dụng phương pháp này để nghiên cứu các tài liệu, sách báo liên quan đếnvấn đề nghiên cứu nhằm xác định cơ sở lý luận của đề tài
6.3- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Vận dụng phương pháp này để kiểm nghiệm tính khả thi, khoa học, hiệu quảcủa việc ứng dụng TNKQ vào kiểm tra đánh giá KQHT môn vật lý của học sinh ở trườngTHPT
6.4- Phương pháp thống kê toán học
- Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí số liệu thực nghiệm sư phạm vềmặt định lượng trên cơ sở đó ĐG được kết quả thực nghiệm
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, đề tài gồm 03 chương:
Trang 5Chương 1
Cơ sở lý luận của việc ứng dụng TNKQ vào việc kiểm
tra,đánh giá kết quả học tập của học sinh trong dạy học ởnhà
trường phổ thông1.1.Sơ lược về tình hình nghiên cứu vấn
TN (Test) đầu tiên Cống hiến to lớn của ông là nền tảng cho xác suất thống kê ứng dụngtrong đo lường kết quả học tập nói chung, trong tâm lí học nói riêng Đến năm 1890 tạiNework, James Mekeen Cattell(1860-1944) viết cuốn sách Các TN và đo lường trí tuệvới 50 TN làm mẫu Để phân tích các dữ liệu thu thập được từ các bài TN một học tròcủa ông là Karl Pearson đã sử dụng phương pháp thống kê, kĩ thuật về sự tương quan
mà nó đã trở thành nền tảng cho nhiều nghiên cứu về thống kê trong nhiều lĩnh vựckhoa học hiện nay [20][23]
Vào đầu thế kỷ XX, E Thorm Dike là người đầu tiên đã dùng TNKQ như làphương pháp "khách quan và nhanh chóng" để đo trình độ học sinh, bắt đầu dùng vớimôn số học và sau đó là một số môn khác Những tác phẩm của Edward L.Thorndikecũng xuất hiện vào thời kì có công trình nghiên cứu của Charless Spearman E.L ThormDike là người phổ biến quan niệm TN KQHT đã được tiêu chuẩn hoá và là người cócông đưa ra những tiêu chuẩn khách quan để ĐGKQHT Cliff W.Stone học trò củaE.L.Thorndike là người đầu tiên đưa ra TN KQHT đã được tiêu chuẩn hoá của môn sốhọc Tư tưởng của E.L.Thorndike đã được Louis Thurstone (1897-1955) nghiên cứu chitiết về mặt toán học Louis Thurstone đã đề xuất các TN để đo trí thông minh, đo KQHT
và nhân cách
Trang 6Năm 1904 nhà tâm lí học người Pháp - Alfred Binet trong quá trình nghiên cứutrẻ em mắc bệnh tâm thần, đã xây dựng một số bài TN về trí thông minh Năm 1916,Lewis Terman đã dịch và soạn các bài TN này ra tiếng Anh từ đó TN trí thông minhđược gọi là “Trắc nghiệm Stanford
Binet”
Cùng với các loại TN về trí thông minh, về khả năng, sở thích, nhân cách, đặcbiệt trong lĩnh vực giáo dục, từ những năm 1920 ở Mỹ các loại TN KQHT tiêu chuẩnhoá được phát triển rất nhanh vì chúng có thể được tiến hành thuận tiện nhanh chóng chonhiều HS, trong cùng một thời điểm với kết quả bài làm được ĐG khách quan Cùng với
sự hoàn thiện của các phương pháp nghiên cứu trí tuệ, từ những năm 1939 đã xuất hiệnnhững phương pháp nghiên cứu tổng hợp như xu thế sử dụng các TN trí tuệ nhiều mặt,liên hợp hoá của Đavi Wechsler đã dược sửa dổi nhiều lần vào các năm 1949, 1955,
1967 lần lượt có tên là: WISC, WAIS, WPPSI, các test này được chỉnh sửa định kì ở
Mỹ, năm 1963 đã xuất hiện công trình của Ghecberich dùng máy tính điện tử để sử lícác kết quả TN trên diện rộng Vì thế mà TN tiêu chuẩn hoá được nghiên cứu rộng rãi và
tổ chức nhiều hình thức để thi, KT – ĐG kiến thức, kĩ năng ở nhiều môn học ở trườngphổ thông đến đại học và đã được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Canada,Pháp, Australia,
Nhật Bản, Hàn Quốc, Newzealand, Thái Lan, Trung
Quốc [20]
1.1.2 ở Việt nam
TNKQNLC được sử dụng từ rất sớm trên thế giới, song ở Việt Nam thìTNKQNLC xuất hiện muộn hơn, cụ thể: ở Miền Nam, từ những năm 1960 đã cónhiều tác giả sử dụng TNKQNLC ở một số ngành khoa học (chủ yếu là tâm lí học).Năm 1964 đã xuất hiện một số tài liệu hướng đẫn soạn TN do “Trung tâm TN và hướngdẫn” xuất bản Đến năm 1966 ở kì thi lấy bằng trung học đệ nhất các môn Sử, Địa, Côngdân đã thi bằng phương pháp trắc nghiệm Năm 1969, cố giáo sư Dương Thiệu Tống đãđưa một số môn TN khách quan và thống kê giáo dục vào giảng dạy tại lớp cao học vàtiến sĩ giáo dục học tại trường Đại học Sư phạm Sài Gòn Từ những năm 1970 “Banchuyên khoa tâm lý ứng dụng” của viện Đại học Minh Đức được thành lập, các sáchchuyên về TN tâm lí như cuốn “TN tâm lí Rorschach “ của Nguyễn Văn Thành,hoặc các cuốn: “TN tài năng”, “Tìm hiểu tính tình” của Nguyễn Hiến Lê cũng lầnlượt xuất bản Trong lĩnh vực giáo dục có cuốn “ TN giáo dục” của Huỳnh Huynh-Nguyễn Ngọc Đính- Lê Như
Trang 7Đức (1973) dùng để hướng dẫn cụ thể việc dùng TN trong trường học cho các thầy côgiáo Còn giáo trình dùng để giảng dạy cho hệ cao học có cuốn “TN và đo lường thànhtích học tập” của Dương Thiệu Tống (1973) Từ năm 1971 về sau trong các kì thi tú tài I
và II, các môn học như Triết, Sử, Địa, Công dân đều thi bằng TN có nhiều lựa chọn Đến
kì thi tú tài 1974, tất cảc các môn thi đều bằng thi TN loại nhiều lựa chọn (MCQ) Cũng
từ năm học 1970-1971 trong kì thi tuyển sinh ĐH vào các trường như ĐH sư phạm, ĐH
y dược, ĐH kĩ thuật Phú Thọ đều sử dụng cả hai loại đề TN và tự luận cho các mônToán, Lí, Hoá, Anh văn [14] [20] [ 23]
ở Miền Bắc, một số tác giả đã đề cập tới dạng bài thi theo kiểu TNKQ như Trần
Bá Hoành(1971), Nguyễn Như An đã dùng phương pháp TNKQ trong việc thực hiện đềtài “Bước đầu nghiên cứu nhận thức tâm lí của sinh viên đại học sư phạm” (1976)
và Nguyễn Hữu Long với đề tài “Vận dụng phương pháp test và phương pháp KTtruyền thống trong dạy học tâm lí học” (1978), Hà Thị Đức với đề tài “ Cơ sở lýluận và hệ thống những biện pháp đảm bảo tính khách quan trong quá trình KT ĐG trithức của HS sư phạm” (1986)
Chỉ đến năm 1993 Bộ Giáo dục và Đào tạo mới mời một số chuyên gia nướcngoài vào nước ta, phổ biến về khoa học này cũng như cử một số cán bộ ra nước ngoàihọc tập Từ đó nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường đại học, Bộ giáo dụcvà
Đào tạo và các trường đại học đã tổ chức các cuộc hội thảo trao đổi về việc cải tiến hệthống các phương pháp KT, ĐG của sinh viên trong nước và trên thế giới, các khoá huấnluyện và cung cấp những hiểu biết cơ bản về lượng giá giáo dục và các phương phápTNKQ Các cuộc hội thảo, các lớp huấn luyện đã được tổ chức ở các trường như: Đạihọc sư phạm Hà Nội, Đại học Bách khoa Hà Nội, Cao đẳng sư phạm Hà Nội Nhiềucông trình khoa học nghiên cứu việc áp dụng phương pháp TN để KTĐG KQHT củasinh viên đã được triển khai ở các trường ĐH và cao đẳng trên toàn quốc như: “Testtrong công nghệ dạy học (1995) của Nguyễn Hữu Long, “Xây dựng qui trình, nội dung
và hình thức KTĐG kiến thức, kỹ năng của sinh viên Đại học Sư phạm” của PhạmHữu Tòng (1998), “ Xây dựng, sử dụng câu TN khách quan và câu tự luận ngắn trongĐGkết quả học tập môn giáo dục học” củaTrần Thị Tuyết Oanh (2000), “Nghiên cứuxây dựng
Trang 8đo lường cơ bản trong giáo dục” của Nghiêm Xuân Nùng (1996), Đánh giá và đo lườngKQHT” của Trần Thị Tuyết Oanh (2007).
Một điểm mốc đáng ghi nhận là kỳ thi tuyển đại học thí điểm tại trường Đại học
Đà Lạt vào tháng 7 năm 1996 bằng phương pháp tnkq mà sự thành công tốt đẹp của nóđược Hội nghị rút kinh nghiệm của Bộ Giáo dục và Đào tạo vào tháng 9 năm đó khẳngđịnh (Kỳ thi có 7200 thí sinh dự tuyển, 2 loại đề TN và tự luận được sử dụng để thí sinh
tự chọn Có khoảng 70% lượt thí sinh chọn đề trắc nghiệm, chấm thi bằng máy
Opscan-7, trong khoảng 60 trường hợp vi phạm kỹ luật thi do quay cóp thì chỉ có 4 thí sinh từnhóm làm trắc nghiệm) Năm 2001 có một số trường Đại học tuyển sinh Đại học bằngphương pháp TN khách quan như Đại học Quốc gia ở thành phố HCM, Đại học TâyNguyên
Vào cuối tháng 9 năm 2003, Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập "Cục khảo thí vàKiểm định chất lượng" để cải tiến việc thi cử và ĐG chất lượng các trường Đại học, đồngthời tiến tới sẽ dùng phương pháp TNKQ để làm đề thi tuyển đại học Đây là cơ hội pháttriển của khoa học về đo lường trong giáo dục ở nước ta trong thời gian sắp tới Sựkiện
đó thực sự là một tin vui, vì vậy kì thí điểm cải tiến thi tuyển đại học tại Đà Lạt năm 1996sẽ
không còn là vô ích, được tiếp tục phát triển sau gần một thập niên
[20]
Phương pháp TNKQ đã rất phổ biến ở các nước phát triển, trong nhiều lĩnh vực,nhiều môn học với kết quả tốt và được ĐG cao Tuy nhiên, ở Việt Nam việc sử dụngphương pháp TNKQ còn rất mới mẻ và hạn chế nhất là trong các trường phổ thông Để
Trang 9HS phổ thông có thể làm quen dần với phương pháp TNKQ, hiện nay, Bộ GD&ĐTđã
Trang 101 0chỉ đạo tác giả các bộ sách giáo khoa mới bậc phổ thông phải đưa dần loại hình bài tập
TN với tỷ lệ 30% TNKQ và 70% tự luận ở bậc THPT nước ta, năm học 2006-2007
HS lớp 10 trong cả nước đã bước đầu làm quen với bài tập TN
Sử dụng phương pháp TNKQ để làm đề thi tốt nghiệp THPT và làm đề thi tuyểnsinh đại học sẽ đảm bảo được tính công bằng và độ chính xác trong thi cử Vì vậy, bắtđầu từ năm học 2006 - 2007 Bộ giáo dục và Đào tạo có tổ chức thi tốt nghiệp THPT
và thi tuyển sinh đại học bằng phương pháp TNKQ đối với các môn: lí, hoá, sinh,ngoại ngữ Năm học 2007 – 2008 Bộ giáo dục và Đào tạo tiếp tục tiến hành tổ chức thitốt nghiệp THPT với các môn: Vật lí, Hóa học, Sinh học, ngoại ngữ, Lịch sử , Địa lí vàthi tuyển sinh đại học, cao đẳng bằng phương pháp tnkq hoàn toàn đối với các môn:Ngoại ngữ , Vật lí, Hóa học, Sinh học; các môn khác thi theo hình thức tự luận
1.2 Cơ sở lý luận về việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh ở trườngphổ thông trong quá trình dạy học
1.2.1 Khái niệm về kiểm tra đánh giá kết quả học tập
1.2.1.1 Kiểm tra
KT là thuật ngữ chỉ cách thức hoặc hoạt động giáo viên sử dụng để thu thập thôngtin về biểu hiện kiến thức, kĩ năng và thái độ của học sinh trong học tập nhằm cung cấp
dữ kiện làm cơ sở cho việc đánh giá
Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê: “KT là xem xét tình hình thực tế để đánhgiá, nhận xét”
Theo Trần Bá Hoành: “ việc KT cung cấp những dữ kiện, những thông tin làm cơ
sở cho ĐG”
Theo Từ điển giáo dục học: “KT là bộ phận hợp thành của quá trình hoạt độngdạy học nhằm nắm được thông tin về trạng thái và KQHT của HS về những nguyên nhân
cơ bản của thực trạng đó để tìm những biện pháp khắc phục lỗ hổng đồng thời củng cố
và tiếp tục nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy học” [9]
Theo Blàck & Wiliam (1998): “KT là các hoạt động bao gồm quá trình quan sátcủa GV , trao đổi, thảo luận trong và ngoài giờ lên lớp giữa thày và trò, phân tích bài tập,bài KT nhằm ĐG mức độ tiếp thu bài học và dự báo kết quả học tập của HS Nếu cóđược thông tin về những vấn đề mà HS còn vướng mắc trong quá trình học tập, GVcó
Trang 11đoán, những kết luận, những quyết định về người học hoặc về việc dạy học.
Kiểm tra theo hướng định tính là phương thức thu thập thông tin về kết quả họctập và rèn luyện của học sinh bằng cách quan sát và ghi nhận xét dựa theo các tiêu chígiáo dục đã định
Kiểm tra theo hướng định lượng là phương thức thu thập thông tin về kết quả họctập của học sinh bằng số như điểm số hoặc số lần thực hiện của những hoạt động nào đó.Cách và phương tiện ghi nhận kết quả học tập của học sinh bằng điểm hay số lần thựchiện theo những quy tắc đã tính trong kiểm tra là mang tính chất định lượng Còn chínhđiểm số vẫn chỉ là những kí hiệu gián tiếp phản ánh trình độ học lực của mỗi học sinhmang ý nghĩa định tính Như vậy, bản thân điểm số không có ý nghĩa về mặt định lượng;
ví dụ trong thang điểm 10, không thể nói trình độ của học sinh đạt điểm 8 là cao gấp đôihọc sinh đạt điểm 4
1.2.1.2.Đánh giá
Trong lĩnh vực giáo dục, ĐG là bộ phận hợp thành rất quan trọng, một khâukhông thể tách rời của quá trình giáo dục và đào tạo Nếu coi quá trình giáo dục và đàotạo là một hệ thống thì ĐG đóng vài trò phản hồi của hệ thống, là cơ sở cho việc đổi mớigiáo dục và đào tạo Chính vì vậy ĐG là một trong những vấn đề luôn được quan tâm
Có rất nhiều định nghĩa về ĐG trong lĩnh vực giáo dục, tuy nhiên tuỳ thuộc vàomục đích ĐG mà mỗi định nghĩa đã nhấn mạnh hơn vào khía cạnh nào đó của lĩnh vực cầnĐG
Có những định nghĩa phản ánh việc ĐG ở cấp độ chung nhất và nhấn mạnh vàokhía cạnh giá trị, coi ĐG là sự thu thập và lí giải một cách có hệ thống những bằngchứng dẫn tới sự phán xét về mặt giá trị, như định nghĩa của C.E.Beeby(1997): “ĐG là
sự thu thập và lí giả một cách có hệ thống những bằng chứng dẫn tới sự phán xét về giátrị theo quan điểm hành động” hay theo P.E Griffin(1996): “ĐG là đưa ra phán quyết về
Trang 12giá trị của một sự kiện, nó bao hàm việc thu thập thông tin sử dụng trong việc ĐG củamột chương trình, một sản phẩm, một tiến trình, mục tiêu hay tiềm năng ứng dụng củamột cách thức đưa ra nhằm một mục đích nhất định”
Một số định nghĩa lại nhấn mạnh đến khía cạnh cần phải đi đến quyết định nào
đó, có thể quyết định về phía người học, về người dạy, về chương trình như địnhnghĩa của Rober.F.Magor(1993): “ĐG là việc miêu tả tình hình của HS và GV để dựđoán công việc phải tiếp tục và giúp đỡ HS tiến bộ”
Nhiều định nghĩa về ĐG nhấn mạnh đến sự phù hợp giữa mục tiêu và việc thựchiện, đây là định nghĩa được quan tâm nhiều nhất.Theo Jean Marie De Ketele: “ĐG cónghĩa là xem xét mức độ phù hợp của một tập hợp các thông tin thu được với một tậphợp các tiêu chí thích hợp của mục tiêu đã xác định nhằm đưa ra quyết định theo mộtmục đích nào đó” Theo Ralph Tiler(1984): “Quá trình ĐG là chủ yếu là quá trình xácđịnh mức độ thực hiện các mục tiêu của chương trình giáo dục” Nhìn chung, các quanniệm về ĐG đều được xem xét phù hợp với mục đích đối tượng cụ thể cần ĐG
Dựa trên những định nghĩa trên, các tác giả của cuốn “ Cơ sở lí luận của việc ĐGchất lượng học tập của HS phổ thông” đã đưa ra định nghĩa sau đây: “ĐG trong giáo dục
là quá trình thu thập và lí giải kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng, nguyên nhâncủa chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ mục tiêu dạy học, làm cơ sở cho những chủtrương, biện pháp và hành động tiếp theo”
Trần Thị Tuyết Oanh đã đưa ra: “ĐG trong giáo dục là quá trình tiến hành có hệthống để xác định mức độ mà đối tượng đạt được các mục tiêu giáo dục nhất định” Nóbao gồm sự mô tả về định tính hay định lượng những kết quả đạt được và so sánhvới mục tiêu giáo dục đã xác định Sự ĐG cho phép xác định mục tiêu giáo dục có phùhợp hay không phù hợp, nó xác định mức độ đạt được mục tiêu giáo dục cũng như tiếntrình thực hiện mục tiêu như thế nào [13]
1.2.1.3 Đánh giá kết quả học tập của học sinh
Kiểm tra đánh giá được hiểu là sự theo dõi tác động của người kiểm tra đối vớingười học nhằm thu được những thông tin cần thiết để đánh giá "Đánh giá có nghĩa làxem xét mức độ phù hợp của một tập hợp thông tin thu thập được với một tập hợpcác tiêu chí thích hợp của mục tiêu xác định nhằm đưa ra quyết định nào đó"(J.M.Deketle)
Quá trình đánh giá gồm các khâu:
Trang 13Để việc đo được chính xác thì phải đảm bảo:
+ Độ giá trị: Đó là khả năng của dụng cụ đo cho giá trị thực của đại lượng được
đo ( cho phép đo được cái cần đo)
+ Độ trung thực: Đó là khả năng luôn cung cấp cùng một giá trị của cùng một đạilượng đo với dụng cụ đo
+ Độ nhậy: Đó là khả năng của dụng cụ đo có thể phân biệt được khi hai đạilượng chỉ khác nhau rất ít
-Lượng giá: Là việc giải thích các thông tin thu được về kiến thức kĩ năng của họcsinh, làm sáng tỏ trình độ tương đối của một học sinh so với thành tích chung của tập thểhoặc trình độ của học sinh so với Mức độ: của chương trình học tập
+ Lượng giá theo chuẩn: Là sự so sánh tương đối với chuẩn trung bình
chung của tập hợp
+ Lượng giá theo tiêu chí: Là sự đối chiếu với những tiêu chí đã đề ra
- Đánh giá: Là việc đưa ra những kết luận nhận định, phán xét về trình độ của họcsinh
Các bài kiểm tra, bài trắc nghiệm được xem như phương tiện để kiểm tra kiến thức
kĩ năng trong dạy học Vì vậy việc soạn thảo nội dung cụ thể của các bài kiểm tra có tầm quan trọng đặc biệt trong việc kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng [20]
1.2.2 Mục đích của kiểm tra đánh giá
- Việc kiểm tra đánh giá có thể có các mục đích khác nhau tuỳ trường hợp Trongdạy học kiểm tra đánh giá gồm 3 mục đích chính:
+ Kiểm tra kiến thức kĩ năng để đánh giá trình độ xuất phát của người học có liênquan tới việc xác định nội dung phương pháp dạy học một môn học, một học phần sắpbắt đầu
+ Kiểm tra đánh giá nhằm mục đích dạy học: Bản thân việc kiểm tra đánh giánhằm định hướng hoạt động chiếm lĩnh kiến thức cần dạy
Trang 14+ Kiểm tra nhằm mục đích đánh giá thành tích kết quả học tập hoặc nhằm nghiêncứu đánh giá mục tiêu phương pháp dạy học [20]
- Mục đích đánh giá trong đề tài này là:
+ Xác nhận kết quả nhận biết, hiểu, vận dụng theo mục tiêu đề ra
+ Xác định xem khi kết thúc một phần của dạy học, mục tiêu của dạy học đã đạtđến mức độ nào so với mục tiêu mong muốn
+ Tạo điều kiện cho người dạy nắm vững hơn tình hình học tập của kiểm tra giúpgiáo viên giảng dạy tốt hơn, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học vật lí
1.2.3.Chức năng của kiểm tra đánh giá
Chức năng của kiểm tra đánh giá được phân biệt dựa vào mục đích kiểm tra đánhgiá Các tác giả nghiên cứu kiểm tra đánh giá nêu ra các chức năng khác nhau
Tác giả Trần Bá Hoành đề cập ba chức năng của đánh giá trong dạy học: Chứcnăng sư phạm, chức năng xã hội, chức năng khoa học
Theo Phạm Hữu Tòng, trong thực tiễn dạy học ở phổ thông thì chủ yếu quan tâm đếnchức năng sư phạm, được chia nhỏ thành 3 chức năng: Chức năng chuẩn đoán; chứcnăng chỉ đạo, định hướng hoạt động học; chức năng xác nhận thành tích học tập, hiệu quảdạy học.[22]
+ Chức năng chẩn đoán:
Các bài kiểm tra, trắc nghiệm có thể sử dụng như phương tiện thu lượm thông tincần thiết cho việc đánh giá hoặc việc cải tiến nội dung, mục tiêu và phương pháp dạy học.Nhờ việc xem xét kết quả kiểm tra đánh giá kiến thức, ta biết rõ trình độ xuất phátcủa người học để điều chỉnh nội dung phương pháp dạy học cho phù hợp, cho phép đềxuất định hướng bổ khuyết những sai sót, phát huy những kết quả trong cải tiến hoạtđộng dạy học đối với những phần kiến thức đã giảng dạy
Dùng các bài kiểm tra đánh giá khi bắt đầu dạy học một học phần để thực hiệnchức năng chuẩn đoán
+ Chức năng định hướng hoạt động học
Các bài kiểm tra, trắc nghiệm kiểm tra trong quá trình dạy học có thể được sửdụng như phương tiện, phương pháp dạy học Đó là các câu hỏi kiểm tra từng phần, kiểmtra thường xuyên được sử dụng để chỉ đạo hoạt động học
Trang 15Các bài trắc nghiệm được soạn thảo công phu, nó là một cách diễn đạt mục tiêudạy học cụ thể đối với các kiến thức, kĩ năng nhất định Nó có tác dụng định hướng hoạtđộng học tập tích cực của học sinh Việc thảo luận các câu hỏi trắc nghiệm được tổ chứctốt, đúng lúc nó trở thành phương pháp dạy học tích cực giúp người học chiếm lĩnh kiếnthức một cách tích cực, sâu sắc và vững chắc, giúp người dạy kịp thời điều chỉnh, bổsung hoạt động dạy có hiệu quả.
+ Chức năng xác nhận thành tích học tập, hiệu quả dạy học
Các bài kiểm tra, trắc nghiệm kiểm tra sau khi kết thúc dạy một phần được sửdụng để đánh giá thành tích học tập, xác nhận trình độ kiến thức, kĩ năng của người học.Với chức năng này đòi hỏi phải soạn thảo nội dung các bài kiểm tra trắc nghiệm
và các tiêu chí đánh giá, căn cứ theo các mục đích dạy học cụ thể đã xác định cho từngkiến thức kĩ năng Các bài kiểm tra trắc nghiệm như vậy có thể được sử dụng để nghiêncứu đánh giá mục tiêu dạy học và hiệu quả của phương pháp dạy học [22]
1.2.4 Các yêu cầu sư phạm đối với việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của họcsinh
Vấn đề kiểm tra đánh giá tri thức kĩ năng, kĩ xảo chỉ có tác dụng khi thực hiện cácyêu cầu sau:
1.2.4.1 Đảm bảo tính khách quan trong quá trình đánh giá
- Là sự phản ánh trung thực kết quả lĩnh hội nội dung tài liệu học tập của học sinh
so với yêu cầu chương trình quy định
- Nội dung kiểm tra phải phù hợp với các yêu cầu chương trình quy định
- Tổ chức thi phải nghiêm minh
Để đảm bảo tính khách quan trong kiểm tra, đánh giá từ khâu ra đề, tổ chức thi tới khâu cho điểm; xu hướng chung là tuỳ theo đặc trưng môn học mà lựa chọn hình thức thi thích hợp
1.2.4.2 Đảm bảo tính toàn diệnTrong quá trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh phải chú ý đánh giá cả số lượng và chất lượng, cả nội dung và hình thức
1.2.4.3 Đảm bảo tính thường xuyên và hệ thống
- Cần kiểm tra, đánh giá học sinh thường xuyên trong mỗi tiết học, sau mỗi phần kiến thức
- Các câu hỏi kiểm tra cần có tính hệ thống
1.2.4.4 Đảm bảo tính phát triển
- Hệ thống câu hỏi từ dễ đến khó
Trang 16- Trân trọng sự cố gắng của học sinh, đánh giá cao những tiến bộ trong học tập của học
1.2.5 Nguyên tắc chung cần quán triệt trong kiểm tra đánh giá
Để đảm bảo tính khoa học của việc kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng thì việc
đó phải được tiến hành theo một quy trình hoạt động chặt chẽ Quy trình này gồm:
- Xác định rõ mục đích kiểm tra đánh giá
- Xác định rõ nội dung các kiến thức kĩ năng cần kiểm tra đánh giá, các tiêu chí cụthể của mục tiêu dạy học với từng kiến thức kĩ năng đó, để làm căn cứ đối chiếu cácthông tin cần thu Việc xác định các mục tiêu, tiêu chí đánh giá cần dựa trên quan niệm
rõ ràng và sâu sắc về các mục tiêu dạy học
- Xác định rõ biện pháp thu lượm thông tin (hình thức kiểm tra) phù hợp với đặcđiểm của nội dung kiến thức kĩ năng cần kiểm tra, phù hợp với mục đích kiểm tra Cầnnhận rõ ưu nhược điểm của mỗi hình thức kiểm tra để có thể sử dụng phối hợp và tìmbiện pháp phát huy ưu điểm và khắc phục tối đa các nhược điểm của mỗi hình thức đó
- Xây dựng các câu hỏi, các đề bài kiểm tra, các bài trắc nghiệm cho phép thulượm các thông tin tương ứng với các tiêu chí đã xác định
- Tiến hành kiểm tra, thu lượm thông tin (chấm), xem xét kết quả và kết luận đánh giá
- Chấm điểm các bài kiểm tra căn cứ theo một thang điểm được xây dựng phù hợpvới các tiêu chí đánh giá đã xác định Xem xét kết quả chấm thu được, rút ra các kết luậnđánh giá tương ứng với mục đích kiểm tra đánh giá đã xác định [20]
1.2.6 Các hình thức kiểm tra, đánh giá cơ bản
Quá trình dạy học trong nhà trường thường sử dụng ba dạng ĐG cơ bản, đó là: KTĐGthường xuyên, KTĐG định kì, KTĐG tổng kết
1.2.6.1 Kiểm tra, đánh giá thường xuyên
KTĐG thường xuyên được GV tiến hành hàng ngày, nhằm kịp thời điều chỉnhhoạt động của GV và học sinh, thúc đẩy HS cố gắng, tích cực làm học tập một cách liêntục, có hệ thống đồng thời tạo điều kiện để quá trình dạy học chuyển sang bước cao hơn
KTĐG thường xuyên được thực hiện thông qua quan sát một cách có hệ thốnghoạt động của lớp học nói chung, của mỗi HS nói riêng, qua các khâu ôn tập củng cốbài cũ, tiếp thu bài mới, vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn [13]
1.2.6.2 Kiểm tra, đánh giá định kì
Trang 17KTĐG định kì KQHT của HS được thực hiện sau khi học xong một chươnglớn, một phần của chương trình hoặc sau một học kỳ Nó giúp cho GV và HS nhìnlại kết quả dạy và học sau những kỳ hạn nhất định, ĐG trình độ HS nắm một khốilượng kiến thức kỹ năng, kỹ xảo tương đối lớn, củng cố mở rộng những điều đã học,đặt cơ sở tiếp tục học sang những phần mới.
KTĐG định kì sử dụng các phương pháp như: KT vấn đáp, quan sát HS học tập hoặc hoạt động, bài tập thực hành, KT viết tự luận hay TNKQ [13]
1.2.6.3 Kiểm tra, đánh giá tổng kết
KTĐG tổng kết hình thức KT này được thực hiện vào cuối mỗi năm học, cuốikhoá học nhằm KTĐG kết quả chung, củng cố mở rộng chương trình toàn bộ nhữngđiều đã học, chuẩn bị điều kiện để tiếp tục học chương trình của năm học mới hay môn họcmới
1.2.7 Mục tiêu dạy học
1.2.7.1 Tầm quan trọng của việc xác định mục tiêu dạy học
Việc xác định các mục tiêu dạy học, có tầm quan trọng đặc biệt, nhằm:
- Có được phương hướng, tiêu chí để quyết định về nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học
- Có được ý tưởng rõ ràng về cái cần kiểm tra đánh giá khi kết thúc mỗi
môn học, học phần hay trong quá trình giảng dạy từng kiến thức cụ thể
- Thông báo cho người học biết những cái mong đợi ở đầu ra của sự học
là gì? Điều này giúp họ tự tổ chức công việc học tập của mình
- Có được ý tưởng rõ ràng về các kiến thức, kĩ năng, thái độ cần có của giáo viên [20]
1.2.7.2 Cần phát biểu mục tiêu như thế nào?
Các câu phát biểu mục tiêu cần:
- Phải rõ ràng, cụ thể
- Phải đạt tới được trong khoá học hay đơn vị học tập
- Phải bao gồm nội dung học tập thiết yếu của môn học
- Phải quy định rõ kết quả của việc học tập, nghĩa là các khả năng mà người học sẽ
có được khi họ đã đạt đến mục tiêu
- Phải đo lường được
- Phải chỉ rõ những gì người học có thể làm được vào cuối giai đoạn học tập [13]1.2.7.3 Phân biệt bốn trình độ của mục tiêu nhận thức
Trang 18Có rất nhiều cách phân loại mục tiêu nhận thức nhưng chúng tôi sử dụng cáchphân loại của tác giả Phạm Hữu Tòng.[22]
a) Trình độ nhận biết, tái hiện, tái tạo
Trình độ này thể hiện ở khả năng nhận ra được, nhớ lại được, phát biểu lại đượcđúng sự trình bày kiến thức đã có, giải đáp được câu hỏi thuộc dạng: "A là gì? Thế nào?Thực hiện A như thế nào?"
b) Trình độ hiểu, áp dụng (giải quyết tình huống tương tự như tình huống đã
biết)Trình độ này thể hiện ở khả năng giải thích, minh hoạ được nghĩa của kiến thức, áp dụng
được kiến thức đã nhớ lại, hoặc đã được gợi ra để giải quyết được những tình huống tương
tự với tình huống đã biết, theo cùng một mẫu như tình huống đã biết; giải đáp được câu hỏithuộc dạng:“A giúp giải quyết X như thế nào?” ( Kiến thức A giúp bạn giải quyết vấn đềnày thế nào?)
c) Trình độ vận dụng linh hoạt (giải quyết được tình huống có biến đổi so vớitình huống đã biết)
Trình độ này thể hiện ở khả năng lựa chọn, áp dụng tri thức trong tình huống cóbiến đổi so với tình huống đã biết, nhận ra rằng có thể giải quyết tình huống đã cho bằngcách vận dụng phối hợp các cách giải quyết các tình huống theo các mẫu đã biết; giảiđáp được câu hỏi thuộc dạng :”Các A nào giúp giải quyết X và giải quyết như thếnào?”(Bạn biết gì về cái sẽ giúp bạn giải quyết vấn đề này và giải quyết như thế nào?)
[20] d) Trình độ sáng tạo ( đề xuất và giải quyết vấn đề không theo mẫu có sẵn)
Trình độ này thể hiện ra khả năng phát biểu và giải quyết những vấn đề
theo cách riêng của mình bằng cách lựa chọn, đề xuất và áp dụng kiến thức để giải quyếtđược các vấn đề không theo các mẫu ( Angôrit ) đã có sẵn; Đề ra và giải quyết được câuhỏi thuộc dạng: “ Có vấn đề gì?; “ Đề xuất ý kiến riêng, cách giải quyết riêng thế nào?”.(Bạn thấy vấn đề đặt ra là gì và bạn có thể đi tới kết quả thoả mãn như thế nào? ).[22]
Các câu hỏi nêu ở mỗi bậc trên đây có thể xem như những tiêu chí chung để phânbiệt các trình độ nắm tri thức khi kiểm tra đánh giá Dựa theo các dạng chung đó của cáccâu hỏi, có thể soạn thảo các câu hỏi hoặc các đề bài kiểm tra đánh giá kiến thức kĩ năng
cụ thể phù hợp với mục tiêu dạy học đã xác định và phù hợp với mục đích kiểm tra đánhgiá kiến thức kĩ năng đã đề ra
1.3 Phương pháp và kỹ thuật trắc nghiệm khách quan nhiều lựa
chọn
1.3.1 Các hình thức trắc nghiệm khách quan
Trang 191.3.1.1 Trắc nghiệm đúng - sai
Loại này được trình bày dưới dạng một phát biểu và học sinh phải trả lời bằngcách chọn (Đ) hay sai (S)
- Ưu điểm : Đây là loại câu hỏi đơn giản nhất để trắc nghiệm về những sự kiện
Nó giúp cho việc trắc nghiệm một lĩnh vực rộng lớn trong khoảng thời gian thi ngắn
- N hư ợ c đ i ểm : Có thể khuyến khích sự đoán mò khó dùng để thẩm
định học sinh yếu, có độ tin cậy thấp
1.3.1.2 Trắc nghiệm cặp đôi (xứng hợp)
Trong loại này có hai cột danh sách, những chữ, nhóm chữ, hay câu Học sinh sẽghép một chữ, một nhóm chữ hay câu của một cột với một phần tử tương ứng của cột thứhai Số phần tử trong hai cột có thể bằng nhau hay khác nhau Mỗi phần tử trong cột trả lời
có thể được dùng trong một lần hoặc nhiều lần để ghép với các phần tử trong cột câu hỏi
- Ưu đi ể m : Các câu hỏi ghép đôi dễ viết, dễ dùng, ít tốn giấy hơn khi in
- N hượ c đ i ể m : Muốn soạn câu hỏi đo các mức kiến thức cao đòi hỏi nhiều công phu.1.3.1.3 Trắc nghiệm điền khuyết
Có thể có hai dạng, chúng có thể là những câu hỏi với giải đáp ngắn, hay cũng cóthể gồm những câu phát biểu với một hay nhiều chỗ trống mà học sinh phải điền vàomột từ hay một nhóm từ ngắn
- Ư u đ i ểm : Thí sinh có cơ hội trình bày những câu trả lời khác thường, phát huy
óc sáng kiến, luyện trí nhớ
- N hược điểm : Cách chấm không dễ dàng, thiếu yếu tố khách quan khi chấmđiểm Đặc biệt nó chỉ kiểm tra được khả năng nhớ, không có khả năng kiểm tra phát hiệnsai lầm của học sinh [13] [20]
1.3.1.4 Phương pháp trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn
Dạng trắc nghiệm khách quan hay dùng nhất là loại trắc nghiệm khách quannhiều lựa chọn Đây là loại câu hỏi mà chúng tôi sử dụng trong chương sau
- Một câu hỏi dạng nhiều lựa chọn gồm 2 phần: Phần "gốc" và phần "lựa chọn"+ Phần gốc: Là một câu hỏi hay một câu bỏ lửng (chưa hoàn tất) Yêu
cầu phải tạo căn bản cho sự lựa chọn, bằng cách đặt ra một vấn đề hay đưa ra
một ý tưởng rõ ràng giúp cho người làm bài có thể hiểu rõ câu hỏi ấy muốn đòi hỏi điều
gì để lựa chọn câu trả lời thích hợp
Trang 20+ Phần lựa chọn: (thường là 4 hay 5 lựa chọn) gồm có nhiều giải pháp có thểlựa chọn, trong đó có một lựa chọn là đúng, hay đúng nhất, còn những phần còn lại lànhững "mồi nhử" Điều quan trọng là làm sao cho những "mồi nhử" ấy đều hấp dẫnngang nhau với những học sinh chưa học kĩ hay chưa hiểu kĩ bài học.
Trong đề tài, chúng tôi chọn trắc nghiệm khách quan 4 lựa chọn vì theo chúng tôinếu ít lựa chọn hơn thì không bao quát được sai lầm của học sinh, nhiều lựa chọn hơn sẽ
có những mồi thiếu căn cứ [13] [20]
- Ưu điểm:
+ Độ tin cậy cao hơn
+ Học sinh phải xét đoán và phân biệt kĩ càng khi trả lời câu hỏi
+ Tính chất giá trị tốt hơn
+ Có thể phân tích được tính chất "mồi" của câu hỏi
+ Đảm bả tính khách quan khi chấm
- Nhược điểm:
+ Khó soạn câu hỏi
+ Thí sinh nào óc sáng tạo có thể tìm ra câu trả lời hay hơn phương án đã cho,nên họ có thể sẽ không thoả mãn
+ Các câu trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn có thể không đo được khảnăng phán đoán tinh vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo một cách
hiệu nghiệm bằng loại câu hỏi tự luận soạn kĩ
+ Tốn nhiều giấy để in loại câu hỏi này hơn loại câu hỏi khác [5]
Một số nguyên tắc soạn thảo những câu trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọnCâu hỏi thuộc dạng này gồm 2 phần: Phần gốc và phần lựa chọn Phần gốc là mộtcâu hỏi hay một câu bỏ lửng Phần lựa chọn gồm một số (thường là 4 hoặc 5) câu trả lờihay câu bổ sung
để lựa chọn.Viết các câu trắc nghiệm sao cho phân biệt được học sinh giỏi và học sinh kém
- Đ ối v ới phần g ố c : Dù là một câu hỏi hay câu bổ sung đều phải tạo cơ sở cho sựlựa chọn bằng cách đặt ra một vấn đề hay đưa ra những ý tưởng rõ ràng giúp cho sự lựachọn được dễ dàng
+ Cũng có khi phần gốc là một câu phủ định, trong trường hợp ấy phải in đậmhoặc gạch dưới chữ diễn tả sự phủ định để học sinh khỏi nhầm
Trang 21+ Trong 4 hay 5 phương án lựa chọn chỉ có một phương án đúng.
+ Nên tránh 2 lần phủ định liên tiếp
+ Phần lựa chọn không nên quá ngây ngô [13] [20]
1.3.2 Các giai đoạn soạn thảo một bài trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn.Cách tốt nhất để lên kế hoạch cho một bài trắc nghiệm là liệt kê các mục tiêugiảng dạy cụ thể hay năng lực cần đo lường (trả lời câu hỏi: Cần khảo sát những gì ở họcsinh?) hay nói cách khác là xác định rõ mục đích của bài trắc nghiệm
Một sự phân tích về nội dung sẽ cho ta một bản tóm tắt ý đồ chương trình giảngdạy được diễn đạt theo nội dung: Đặt tầm quan trọng vào những phần nào của môn học
và mục tiêu nào? Những lĩnh vực nào trong các nội dung đó nên đưa vào trong bài trắcnghiệm đại diện này
Cần phải suy nghĩ cách trình bày các câu dưới hình thức nào cho hiệu quả nhất vàmức độ khó dễ của bài trắc nghiệm đến đâu
1.3.2.1 Mục đích của bài trắc nghiệm
Một bài trắc nghiệm có thể phục vụ nhiều mục đích, nhưng bài trắc nghiệm ích lợi
và có hiệu quả nhất khi nó được soạn thảo để nhằm phục vụ cho mục đích chuyên biệt nàođó
- Nếu bài trắc nghiệm là một bài thi cuối kì nhằm xếp hạng học sinh thì các câusoạn phải đảm bảo điểm số được phân tán rộng, như vậy mới phát hiện ra được học sinhgiỏi và học sinh kém
- Nếu bài trắc nghiệm là một bài kiểm tra nhằm kiểm tra những hiểu biết tối thiểu
về một phần nào đó thì ta soạn thảo những câu hỏi sao cho hầu hết học sinh đều đạt đượcđiểm tối đa
- Nếu bài trắc nghiệm nhằm mục đích chẩn đoán, tìm ra những chỗ mạnh, chỗyếu của học sinh, giúp cho giáo viên điều chỉnh phương pháp dạy phù hợp, thì các câutrắc nghiệm được soạn thảo sao cho tạo cơ hội cho học sinh phạm tất cả mọi sai lầm vềmôn học nếu chưa học kĩ
Trang 22giá trị vì mục đích chi phối nội dung, hình thức bài [13]
1.3.2.2 Phân tích nội dung môn học
- Tìm ra những nội dung kiến thức quan trọng tương ứng cần đạt được theo các mục tiêu
+ Biết: Là những khái niệm quan trọng của môn học, lựa chọn những gì học sinh cần nhớ
+ Hiểu: Những thông tin nhằm giải nghĩa hay minh hoạ
+ Vận dụng linh hoạt: Lựa chọn một số thông tin và ý tưởng đòi hỏi học sinh phải có khả năng ứng dụng những điều đã biết để giải quyết vấn đề trong tình huống mới [13]
1.3.2.3 Thiết lập dàn bài trắc nghiệm
Sau khi nắm vững mục đích của bài trắc nghiệm và phân tích nội dung môn học
ta lập được một dàn bài cho trắc nghiệm
Lập một bảng quy hoạch 2 chiều, một chiều biểu thị nội dung và chiều kia biểu thị các quá trình tư duy (mục tiêu) mà bài trắc nghiệm muốn khảo sát Số câu hỏi cầnđược đưa vào trong mỗi loại phải được xác định rõ và ma trận này phải được chuẩn bịxong trước khi các câu hỏi trắc nghiệm được viết ra
Một mẫu dàn bài:
Mục tiêu nhậnthức
Nội dung kiến thức
Nhận biết(số câu)
Hiểu(số câu)
Vận dụng(số câu)
Tổng cộng
Trang 231.3.2.4 Lựa chọn số câu hỏi và soạn các câu hỏi cụ thể
Số câu hỏi được bao gồm trong bài trắc nghiệm phải tiêu biểu cho toàn thể kiếnthức mà ta đòi hỏi ở học sinh phải có
Số câu hỏi phụ thuộc vào thời gian dành cho nó, nhiều bài trắc nghiệm được giớihạn trong khoảng thời gian một tiết học hoặc kém hơn
Mức độ: chính xác các điểm số, nghĩa là làm sao mẫu nghiên cứu mang
tính chất đại diện cho quần thể [13] [20] [23]
1.4 Cách trình bày và cách chấm điểm một bài trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn
1.4.1 Cách trình bày
Có 2 cách thông dụng:
- C ách 1 : Dùng máy chiếu, ta có thể viết bài trắc nghiệm trên phim ảnh rồi chiếulên màn ảnh từng phần hay từng câu Mỗi câu mỗi phần ấy được chiếu lên màn ảnh trongkhoảng thời gian nhất định đủ cho học sinh bình thường có thể trả lời được Cách này có
ưu điểm:
+ Kiểm soát được thời gian
+ Tránh được sự thất thoát đề thi
+ Tránh được phần nào gian lận
- C ách 2 : Thông dụng hơn là in bài trắc nghiệm ra nhiều bản tương ứng với
số người dự thi Trong phương pháp này có 2 cách trả lời khác nhau:
+ Bài có dành phần trả lời của học sinh ngay trên đề thi, thẳng ở phía bên phảihay ở phía bên trái
+ Bài học sinh phải trả lời bằng phiếu riêng theo mẫu:
- Lưu ý khi in bài trắc nghiệm
+ Tránh in sai, in không rõ ràng, thiếu sót
+ Cần được trình bày rõ ràng, dễ đọc
+ Cần làm nổi bật phần gốc, phần lựa chọn, cần xếp các câu theo hàng hoặc theocột cho dễ đọc
Trang 24+ Để tránh sự gian lận của học sinh ta có thể in thành những bộ bài trắc nghiệmvới những câu hỏi giống nhau nhưng thứ tự các câu hỏi bị đảo lộn [13] [20]
1.4.2 Chuẩn bị cho học sinh
- Báo trước cho học sinh ngày giờ thi, cách thức, nội dung thi Huấn luyện chohọc sinh về cách thi trắc nghiệm , nhất là trong trường hợp họ dự thi lần đầu
- Phải nhắc nhở học sinh trước khi làm bài:
+ Học sinh phải lắng nghe và đọc kĩ càng những lời chỉ dẫn cách làmbài trắc nghiệm
+ Học sinh phải được biết về cách tính điểm
+ Học sinh phải được nhắc nhở rằng họ phải đánh dấu các câu lựa chọn một cách
rõ ràng, sạch sẽ Nếu có tẩy xoá thì cũng phải tẩy xoá thật sạch
+ Học sinh cần được khuyến khích trả lời tất cả các câu hỏi, dù không hoàn toànchắc chắn
+ Học sinh nên bình tĩnh khi làm bài trắc nghiệm không nên lo ngại quá
1.4.3 Công việc của giám thị
- Đảm bảo nghiêm túc thời gian làm bài
- Xếp chỗ ngồi cho học sinh sao cho tránh được nạn quay cóp
- Đ iểm th ô : Tính bằng điểm số cho trên bài trắc nghiệm
Trong bài trắc nghiệm mỗi câu đúng được tính 1 điểm và câu sai là 0 điểm Nhưvậy điểm thô là tổng điểm tất cả các câu đúng trong bài trắc nghiệm
- Đ iểm c hu ẩ n : Nhờ điểm chuẩn có thể so sánh điểm số của học sinh
trong nhiều nhóm hoặc giữa nhiều bài trắc nghiệm của nhiều môn khác nhau
Trang 2524Công thức tính điểm chuẩn:
Trong đó: x: Điểm thô
Z x xS
x : Điểm thô trung bình của nhóm làm bài trắc nghiệm s: Độ lệch chuẩn của nhóm ấy
Bất lợi khi dùng điểm chuẩn Z là:
+ Có nhiều trị số Z âm, gây nhiều phiền hà khi tính toán
+ Tất cả các điểm Z đều là số lẻ
Để tránh khó khăn này người ta dùng điểm chuẩn biến đổi:
+ T = 10.Z + 50 ( Trung bình là 50, độ lệch chuẩn là 10 )
+ V = 4.Z + 10 ( Trung bình là 10, độ lệch chuẩn là 4 )
+ Điểm 11 bậc (từ 0 đến 10) dùng ở nước ta hiện nay, đó là cách biến đổi điểm
20 trước đây; ở đây chọn điểm trung bình là 5, độ lệch tiêu chuẩn là 2 nên V = 2.Z + 5
- Cách tính trung bình thực tế và trung bình lý thuyết:
+ Trung bình (thực tế):Tổng số điểm thô toàn bài trắc nghiệm của tất cả
mọi người làm bài trong nhóm chia cho tổng số người Điểm này tuỳ thuộc vào bài làm
N
của từng nhóm x i
N+ Trung bình lí tưởng: Là trung bình cộng của điểm tối đa có thể có với điểmmay rủi có thể làm đúng (số câu chia số lựa chọn) Điểm này không thay đổi với một bàitrắc nghiệm cố định [13] [20] [23]
Ví dụ: Một bài có 54 câu hỏi, mỗi câu 4 lựa chọn, ta có:
21.5 Phân tích câu hỏi
33,75
1.5.1 Mục đích của phân tích câu hỏi
- Kết quả bài thi giúp giáo viên đánh giá mức độ thành công của công việc giảngdạy và học tập để thay đổi phương pháp, lề lối làm việc
- Việc phân tích câu hỏi là để xem học sinh trả lời mỗi câu như thế nào, từ đó sửa
Trang 26lại các câu hỏi để bài trắc nghiệm có thể đo lường thành quả khả năng học tập một cách hữu hiệu hơn [5]
1.5.2 Phương pháp phân tích câu hỏi
Trong phương pháp phân tích câu hỏi của một bài trắc nghiệm thành quả học tậpchúng ta thường so sánh câu trả lời của học sinh ở mỗi câu hỏi với điểm số chung toànbài Chúng ta mong có nhiều học sinh ở nhóm điểm cao và ít học sinh ở nhóm điểm thấptrả lời đúng mỗi câu hỏi Nếu kết quả không như vậy, có thể câu hỏi viết chưa chuẩnhoặc vấn đề chưa được dạy đúng mức
Để xét mối tương quan giữa cách trả lời mỗi câu hỏi với điểm tổng quát chúng ta có thể
lấy 25- 30% học sinh có nhóm điểm cao nhất và 25- 30% học sinh có nhóm điểm thấp nhất.Chúng ta đếm số câu trả lời cho mỗi câu hỏi trong bài trắc nghiệm ở mỗi câu hỏicần biết có bao nhiêu học sinh trả lời đúng, bao nhiêu học sinh chọn sai, bao nhiêu họcsinh không trả lời Khi đếm sự phân bố các câu trả lời như thế ở các nhóm có điểm cao,điểm thấp và điểm trung bình ta sẽ suy ra:
- Mức độ khó của câu hỏi
- Mức độ phân biệt nhóm giỏi và nhóm kém của mỗi câu hỏi
- Mức độ lôi cuốn của các câu mồi
Sau khi chấm một bài trắc nghiệm chúng ta thực hiện các giai đoạn sau đây:
- Sắp các bài làm theo tổng số điểm từ cao xuống thấp
- Chia tập bài ra 3 chồng:
+ Chồng 1: 25% hoặc 27% những bài điểm cao
+ Chồng 2: 50% hoặc 46% bài trung bình
+ Chồng 3: 25% hoặc 27% bài điểm thấp
Số giỏi trừ
số kém Nhóm
giỏi Nhóm TB
Nhóm kém
1
A B C D
Bỏ trống Tổng cộng
Trang 27+ Ghi các số đã thống kê được trên bài chấm vào bảng với từng nhóm và từng câu.+ Hoàn thiện bảng đã lập.
+ Cột số giỏi trừ số kém có thể có giá trị âm, tổng đại số ở cột này bằng 0
* Giải thích kết quả
- Phân tích sự phân bố số người chọn các câu trả lời cho mỗi câu hỏi
Phân tích xem câu mồi có hiệu nghiệm không Nếu cột cuối cùng có giá trị âm và trị tuyệt
đối càng lớn thì mồi càng hay Nếu cột cuối bằng 0 cần xem xét lại câu mồi đó vì nó khôngphân biệt được nhóm giỏi và nhóm kém Câu trả lời đúng bao giờ cũng có giá trị dương cao
Khi phân tích ta cần tìm hiểu xem có khuyết điểm nào trong chính câu hỏi hoặc trong phương pháp giảng dạy không
+Độ phân biệt của một câu hỏi
D H LnH: Số người trả lời đúng nhóm điểm caoL: Số người trả lời đúng nhóm điểm thấpn: Số người trong mỗi nhóm
Trang 28Dương Thiệu Tống đã đưa ra một thang đánh giá độ phân biệt dưới đây:
+ Tiêu chuẩn để lựa chọn câu hỏi hay
Sau khi phân tích, chúng ta có thể tìm ra được các câu hỏi hay là những câu cócác tính chất sau:
- Hệ số khó vào khoảng 40 - 62,5%
- Hệ số phân biệt dương khá cao
- Các câu trả lời mồi có tính chất hiệu nghiệm (lôi cuốn được học sinh ở nhóm kém) C h ú ý:
+ Sự phân tích câu hỏi chỉ có ý nghĩa khi mỗi học sinh có đủ thời gian làm mọicâu hỏi
+ Sự phân tích câu hỏi giúp chúng ta biết được khuyết điểm của câu hỏi hoặcthiếu sót trong công việc giảng dạy
+ Thông thường tính chất có thể phân biệt được học sinh giỏi và kém
của một câu hỏi không phải là tính chất cần thiết Vậy quá trình phân tích câu
hỏi chỉ còn tìm ra loại câu hỏi soạn quá kém [13] [20] [23]
1.6 Phân tích đánh giá bài trắc nghiệm thông qua các chỉ số thống kê
1.6.1 Độ khó của bài trắc nghiệm
x
c
x : Điểm trung bình thực tếc: Điểm tối đa (số câu của bài)
0 Độ khó 11.6.2 Độ lệch tiêu chuẩn
Một trong các số đo lường quan trọng nhất là độ lệch tiêu chuẩn, là số đo lường
độ phân tán của các điểm số trong một phân bố Trong phần nghiên cứu, chỉ cần tính
Trang 292
điểm trung bình và độ lệch tiêu chuẩn phân bố đơn và đẳng loại Độ lệch chuẩn tính trênmỗi nhóm học sinh làm thực tế nên có thể thay đổi Để tính nó ta có thể sử dụng công thức:
S d Trong đó: n là số người làm bài
n 1
d = xi - x Với: xi : điểm thô của mẫu thứ i
x : điểm trung bình cộng điểm thô của mẫuT
ính d : Lập điểm thô của từng bài, cộng lại chia cho tổng số người làm
được điểm trung bình cộng của bài trắc nghiệm, lấy điểm thô của từng bài trừ cho điểmtrung bình ta có từng độ lệch d, bình phương từng độ lệch ta có d2
n x 2 ( x ) 2
n : số người làm [13] [20] [23]1.6.3 Hệ số tin cậy
Công thức căn bản để phỏng định hệ số tin cậy:
i : độ lệch chuẩn bình phương của mỗi câu trắc nghiệm i
: biến lượng điểm của các cá nhân trong nhóm về toàn bài trắc nghiệm
Hoặc có thể dùng công thức khác của Kuder Richardson cũng suy ra từ
công thức căn bản trên, với các bài trắc nghiệm có độ khó của câu trắc nghiệm khácnhau: r K 1
K 1 p.q
K: số câu
p : tỉ lệ số trả lời đúng cho một câu hỏi
q : tỉ lệ số trả lời sai cho một câu hỏi
2: biến lượng của bài
Độ tin cậy của một bài trắc nghiệm có thể chấp nhận được là: 0,60 r 1,0
1.6.4 Sai số tiêu chuẩn đo lường
Sai số tiêu chuẩn đo lường là một phong cách biểu thị độ tin cậy của bài trắc nghiệm, theo ý nghĩa tuyệt đối, nghĩa là không theo ý nghĩa tương đối như hệ số tin cậy đã nêu
Trang 30Công thức: SEm S
x
1 rtc
Trong đó: SEm: sai số tiêu chuẩn đo lường
Sx : độ lệch tiêu chuẩn của bài
rtc : hệ số tin cậy của bài1.6.5 Đánh giá một bài trắc nghiệm
Đánh giá một bài là xác định độ giá trị và độ tin cậy của nó Một bài trắc nghiệmhay phải có độ tin cậy cao, độ khó vừa phải Khi đánh giá giá trị, sự phân tích nội dungthường quan trọng hơn là các số liệu thống kê Khi đánh giá độ tin cậy thì nên xem xétsai số chuẩn của phép đo Việc phù hợp về độ tin cậy và độ giá trị trong việc đánh giá vàtuyển chọn các bài phải phù hợp với mục tiêu dạy học
Trang 31Kết luận chương 1Trên đây chúng tôi đã trình bày những cơ sở của kĩ thuật việc xây dựng và sửdụng câu hỏi TN dùng trong KTĐG KQHT của HS
1 KTĐG là một khâu quan trọng không thể thiếu trong giáo dục nói chung vàtrong dạy học nói riêng KTĐG có thể tiến hành theo nhiều mục đích khác nhau, tùytheo từng mục đích KTĐG mà có những cách tiếp cận khác nhau Các chuyên gia về
ĐG giáo dục trong nước và trên thế giới đều cho rằng, vấn đề ĐGKQHT của người họctrước hết phải căn cứ vào mục tiêu dạy học Đây là cách tiếp cận theo tiêu chí, tức là ĐGmức độ mà người học đạt được các mục tiêu dạy học như thế nào Luận văn nghiên cứu
về KTĐG được dựa trên cơ sở cách tiếp cận này
2 Công cụ để KTĐG ở trường trung học phổ thông rất đa dạng: bài KT tự luận,bài KT trắc nghiệm, bài KT thực hành Các công cụ để KTĐG đó đều có vị trí tác dụngthích hợp trong từng điều kiện học tập của HS Do đó các GV cần sử dụng câu TN NLCmột cách linh hoạt phù hợp sao cho có hiệu quả nhất nhằm góp phần làm nâng cao chấtlương KTĐG trong trường phổ thông
3 Mặc dù vấn đề KTĐG KQHT của HS là một khâu hết sức quan trọng của quátrình dạy học, nhưng trong thực tiễn hiệu quả KQHT của HS còn chưa cao Có nhiềunguyên nhân ảnh hưởng tới hiệu quả của hoạt động KTĐG, nhưng nguyên nhân chủquan là chủ yếu, thể hiện rõ ở việc xây dựng và sử dụng công cụ đánh giá còn có nhiềuhạn chế
4 Để nâng cao tính khách quan và chính xác của việc KTĐG KQHT môn Vật líthì vấn đề tìm cách khắc phục những hạn chế hiện nay là cấp bách Khả năng có triểnvọng nhất là sử dụng câu hỏi TNNLC để ĐGKQHT môn Vật lí Chúng tôi cho đây làmột giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả KTĐG KQHT của HS ở môn Vật lí ởtrường phổ thông
5 Dựa vào cơ sở lí luận và thực tiễn của việc KTĐG chúng tôi thiết kế qui trìnhxây dựng câu TNKQ để giúp giáo viên ĐGKQHT của HS ở môn Vật lí ở trườngphổ thông một cách thuận lợi
Trang 32Chương 2xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm để đánh giá kếtquả học tập chương dòng điện xoay chiều Vật lí lớp 12,
Ban cơ bản ở trường THPT2.1 Đặc điểm nội dung và sơ đồ cấu trúc chương dòng điện xoay chiều
2.1.1 Đặc điểm nội dung chương dòng điện xoay chiều
Chương “Dòng điện xoay chiều” là chương thứ 3 của Vật lý 12 THPT,chương này nằm sau các chương Dao động cơ học, Sóng cơ học và nằm trước cácchương Dao
động - Sóng điện từ, Sóng ánh sáng Trong SGK Vật lý lớp 12 chương này đề cập tới những khái niệm và hiện tượng sau:
1 Khái niệm về dòng điện xoay chiều và các đại lượng vật lí đặc trưng cho dòngđiện xoay chiều
2 Mối liên hệ giữa các đại lượng vật lí trong các mạch điện cơ bản và trong mạchkhông phân nhánh
3 Nguyên tắc hoạt động và cấu tạo của các máy phát điện xoay chiều 1 pha,3 pha
4 Nguyên tắc hoạt động và cấu tạo của động cơ không đồng bộ 3 pha
5 Nguyên tắc hoạt động và cấu tạo của máy biến thế điện
Việc nắm vững các khái niệm, hiện tượng trong chương này sẽ giúp học sinh nắmđược các ứng dụng cơ bản của dòng điện xoay chiều trong thực tiễn đời sống
2.1.2 Sơ đồ cấu trúc nội dung chương "Dòng điện xoay chiều"
Dòng điện xoay chiều là một phần của Điện học, trong đó người ta đi nghiên cứunguyên tắc tạo ra dòng điện xoay chiều, các đại lượng vật lí đặc trưng cho mạch điệnxoay chiều
ở chương này người ta nghiên cứu về phương thức sản suất ra dòng điện xoaychiều, cách biến đổi dòng xoay chiều và phương thức truyền tải dòng điện xoay chiều đi
xa Lôgíc nội dung kiến thức của chương có thể được mô tả bằng một sơ đồ sau:
Trang 33thời U o , I o dụng dung U/I xoay chiều chiều
32
Sơ đồ cấu trúc nội dung chương: dòng điện xoay chiều
Dòng điện xoay chiều
Các đại lượng vật lý đặc trưng
về E,
U, I hiệu
Khái niệm về cảm kháng
Độ lệch pha
của
Công suất của dòng điện
Sản xuất điện xoay chiều
Truyền tải dòng điện xoay
Biến đổi dòng điện xoay
Mạch điện xoay chiều sơ cấp Máyphát
điện xoay chiều
Máy phát điện xoay chiều
Động cơ điện xoay chiều
Máy biến thế điện
Mạch chỉ có cuộn cảm
một pha phaba
Không
dùng máy biến
Có dùng máy biến Mạch điện xoay chiều không
Trang 342.2 Kiến thức, kỹ năng học sinh cần có sau khi học.
2.1 2.Về kiến thức
Sau khi học xong chương "Dòng điện xoay chiều" học sinh cần nắm vững các nộidung kiến thức sau:
* Khái niệm về các đại lượng vật lí đặc trưng cho dòng điện xoay chiều
+ Giá trị tức thời của dòng điện xoay chiều: Là giá trị tại mỗi một thời điểm củasuất điện động (e), hiệu điện thế (u), cường độ dòng điện (i) và nó được tính bằng:
e E o cos(t 1 )
u U o cos(t 2 )
i I o cos(t 3 )
(2.1)(2.2)(2.3)+ Giá trị cực đại của dòng điện xoay chiều: Các giá trị Eo, Uo, Io trong các côngthức 2.1, 2.2, 2.3 lần lượt là suất điện động cực đại, hiệu điện thế cực đại, cường độ dòngđiện cực đại của dòng điện xoay chiều
+ Giá trị hiệu dụng của dòng điện xoay chiều:
- Cường độ hiệu dụng của dòng điện xoay chiều bằng cường độ của dòng điệnkhông đổi mà nếu chúng lần lượt đi qua cùng một điện trở thuần trong thời gian nhưnhau thì toả ra nhiệt lượng bằng nhau Cường độ hiệu dụng của dòng xoay chiều có độ
Ilớn được tính bằng: I o
+ Khái niệm về cảm kháng và dung kháng:
- Tác dụng cản trở dòng điện xoay chiều của cuộn cảm (nó có vai trò như điện trởtrong định luật Ôm cho dòng điện không đổi) được gọi là cảm kháng (ZL) Nó phụ thuộc
Trang 35vào độ tự cảm (L) của cuộn dây và vào tần số góc ( ) của dòng điện Độ lớn của cảmkháng được tính bằng công thức: Z L L
- Tác dụng cản trở dòng điện xoay chiều của tụ điện (nó có vai trò như điện trởtrong định luật Ôm cho dòng điện không đổi) được gọi là dung kháng (ZC) Nó phụthuộc vào điện dung (C) của tụ điện và vào tần số góc ( ) của dòng điện Độ lớn củadung kháng được tính bằng công thức: Z C 1
C
+ Độ lệch pha : Tuỳ thuộc vào tính chất của mạch điện xoay chiều mà pha củacường độ dòng điện và pha của hiệu điện thế có những giá trị khác nhau Hiệu giá trịgiữa pha của hiệu điện thế và pha của cường độ dòng điện được gọi là độ lệch pha giữahiệu điện thế và cường độ dòng điện và ngược lại
+ Công suất của dòng điện xoay chiều: Công suất trung bình tiêu thụ trong mạchđiện xoay chiều được tính bằng công thức:
công suất
P UI cos
Trong mạch điện xoay chiều thì chỉ có điện trở thuần mới tiêu thụ điện năng, còn
tụ điện và cuộn dây thuần cảm không tiêu thụ điện năng
* Mạch điện xoay chiều sơ cấp:
+ Mạch điện xoay chiều chỉ có điện trở thuần:
- Định luật Ôm đối với đoạn mạch xoay chiều chỉ có điện trở thuần:
I U
R
- Hiệu điện thế tức thời ở hai đầu của đoạn mạch luôn cùng pha với cường độdòng điện tức thời trong đoạn mạch đó
+ Mạch điện xoay chiều chỉ có tụ điện:
- Định luật Ôm đối với đoạn mạch xoay chiều chỉ có tụ điện: I Z U
C
- Hiệu điện thế tức thời ở hai đầu của đoạn mạch luôn chậm pha
2
độ dòng điện tức thời trong đoạn mạch đó
+ Mạch điện xoay chiều chỉ có cuộn dây thuần cảm:
so với cường
Trang 36L C
- Định luật Ôm đối với đoạn mạch xoay chiều chỉ có cuộn dây thuần cảm:
I UZ C
- Hiệu điện thế tức thời ở hai đầu của đoạn mạch luôn nhanh pha
độ dòng điện tức thời trong đoạn mạch đó
* Mạch điện xoay chiều không phân nhánh
* Sản xuất dòng điện xoay chiều
+ Nguyên tắc hoạt động của máy phát điện xoay chiều:
Máy phát điện xoay chiều có nguyên tắc hoạt động dựa trên hiện tượng cảm ứngđiện từ: khi từ thông qua một khung dây dẫn (gồm N vòng dây) biến thiên điều hoà thìlàm phát sinh trong khung dây một suất điện động cảm ứng cũng biến thiên điều hoàtheo thời gian, suất điện động này tạo ra ở mạch ngoài (mạch tiêu thụ) một dòng điệnxoay chiều
Trang 37Công thức của suất điện động này là: e ; với
giá trị của phụ thuộc vào điều kiện ban đầu của bài toán Từ đó
e NBS sin(t ) = E o sin(t ) ; với EO = NBS
+ Nguyên tắc cấu tạo của máy phát điện xoay chiều một pha:
Máy phát điện xoay chiều một pha được cấu tạo bởi hai bộ phận chính:
- Phần cảm (rôto): là phần tạo ra từ thông biến thiên bằng p các cặp cực của namchâm (trong kỹ thuật là các nam châm điện) quay quanh một trục với tốc độ n vòng/giây
- Phần ứng (stato): gồm các cuộn dây giống nhau gắn cố định trên một vòng trònxung quanh phần cảm (rôto)
- Khi rôto quay, từ thông qua mỗi cuộn dây của stato biến thiên tuần hoàn theothời gian với tần số: f = pn
+ Nguyên tắc cấu tạo của máy phát điện xoay chiều ba pha:
Máy phát điện xoay chiều ba pha được cấu tạo bởi hai bộ phận chính:
- Phần cảm (rôto): là phần tạo ra từ thông biến thiên bằng một nam châm (trong
kỹ thuật là các nam châm điện) quay quanh một trục với tốc độ góc không đổi
- Phần ứng (stato): gồm ba cuộn dây riêng rẽ giống nhau về cả kích thước và số
1vòng dây nhưng được bố trí lệch nhau
Udây = 3 Upha
* Biến đổi dòng điện xoay chiều
+ Động cơ điện xoay chiều:
Trang 38- Nguyên tắc hoạt động: Dựa trên hiện tượng cảm ứng điện từ và sử dụng
từ trường quay
- Tạo ra từ trường quay bằng cách:
Hai từ trường xoay chiều theo hai hướng vuông góc lệch pha nhau 900 (động cơmột pha)
Ba từ trường xoay chiều theo ba hướng lệch nhau 1200, 2400, lệch pha nhau 2 ,
34 và cùng biên độ (động cơ ba pha).
3
- Nguyên tắc cấu tạo: Stato là các cuộn dây cố định để tạo ra từ trường quay, rôto là các mạch
kín chịu tác dụng của từ trường quay và quay không đồng bộ với từ trường đó
+ Máy biến thế điện: là thiết bị cho phép biến đổi hiệu điện thế của dòng điệnxoay chiều (nhưng không làm thayđổi tần số dòng điện)
- Nguyên tắc hoạt động: Dựa trên hiện tượng cảm ứng điện từ
- Nguyên tắc cấu tạo: gồm hai bộ phận chính
Lõi thép làm bằng nhiều lá thép mỏng hình khung rỗng ghép cách điện lại với nhau.Hai cuộn dây dẫn có điện trở nhỏ quấn trên lõi thép và có số vòng dây là khácnhau Cuộn thứ nhất được nối với nguồn điện và có số vòng dây là N1 gọi là cuộn sơ cấp.Cuộn thứ hai được nối với tải tiêu thụ điện năng và có số vòng dây là N2 gọi là cuộn thứcấp
- Các công thức về máy biến thế (áp dụng trong trường hợp điện trở thuần của cáccuộn dây là rất nhỏ):
U 1
N 1
I 2
U 2 N 2 I1
* Truyền tải điện năng đi xa
+ Công suất hao phí khi truyền tải điện năng đi xa:
Trang 39+ Truyền tải điện năng đi xa dùng máy biến thế: Dùng máy biến thế để tăng hiệuđiện thế trước khi truyền tải để giảm hao phí điện năng đem lại hiệu quả kinh tế cao.2.2.2 Các kĩ năng cơ bản học sinh cần rèn luyện
- Kỹ năng phân biệt được các giá trị tức thời, giá trị cực đại, giá trị hiệu dụng củadòng điện xoay chiều
- Kỹ năng vận dụng được các công thức tính cảm kháng, dung kháng và tổng trởcủa các loại đoạn mạch xoay chiều không phân nhánh
- Kỹ năng vẽ giản đồ vectơ Frexnen cho các loại đoạn mạch điện xoay chiềukhông phân nhánh
- Kỹ năng giải các bài toán về các loại đoạn mạch điện xoay chiều khôngphân nhánh
- Kỹ năng vẽ đồ thị biểu diễn hệ thống dòng điện ba pha
- Kỹ năng vẽ sơ đồ biểu diễn cách mắc hình sao, hình tam giác đối với hệ thốngdòng điện ba pha
- Kỹ năng giải các bài toán về máy biến thế và truyền tải điện năng đi xa
- Kỹ năng đổi đơn vị các đại lượng trong đề bài cho thích hợp
- Kỹ năng vận dụng các kiến thức toán học như: giải phương trình bậc hai, khảosát các hàm số
- Kỹ năng phán đoán, suy luận
2.3 Những sai lầm phổ biến của học sinh
Qua các thông tin thu thập từ học sinh và việc điều tra giáo viên trực tiếp giảng dạy
ở một số trường THPT thuộc tỉnh Bắc Giang cho thấy học sinh thường mắc những sai lầm sau:
* Về khái niệm các đại lượng đặc trưng cho mạch điện xoay chiều:
+ Lẫn lộn giữa các giá trị tức thời, cực đại và hiệu dụng
+ Không phân biệt được là số chỉ của ampe kế, vôn kế là cho biết giá trị cường độdòng điện, hiệu điện thế hiệu dụng của dòng điên xoay chiều
* Về mối liên hệ giữa các đại lượng trong các đoạn mạch xoay chiều không phân nhánh:
+ Nắm được công thức tính cảm kháng, dung kháng nhưng không hiểu được làgiá trị cảm kháng, dung kháng phụ thuộc vào tần số của dòng điện
+ Hiểu sai về pha của cường độ dòng điện trong đoạn mạch chỉ có điện trở thuầnluôn bằng không
Trang 40+ Hay nhầm lẫn khi đi so sánh pha của cường độ dòng điện so với hiệu điện thế và
ngược lại
+ Thường hay bỏ qua giá trị điện trở thuần của cuộn cảm
+ Khi đi giải các bài toán về cực trị của mạch điện xoay chiều còn hay nhầm sanghiện tượng cộng hưởng điện Thường lúng túng trong việc phải biến đổi các công thức vềcác dạng cơ bản khi giải các bài toán cực trị
+ Thường vẽ và tổng hợp sai các vectơ trong giản đồ vectơ Frexnen của bài toán mạch
RLC không phân nhánh mà cuộn cảm có điện trở thuần
* Về máy phát điện:
+ Hay mắc sai lầm khi đi tính giá trị pha ban đầu của suất điện động cảm ứngxuất hiện trong khung dây
+ Hay nhầm về đơn vị đo tốc độ quay của phần cảm (rôto) trong máy phát điện
* Về biến đổi dòng điện xoay chiều:
+ Thường không phân biệt được giá trị hiệu điện thế dây và hiệu điện thế phatrong hệ thống dòng điện ba pha
+ Thường bỏ qua giá trị điện trở thuần cuộn sơ cấp và thứ cấp trong máy biến thế điện
* Về truyền tải dòng điện xoay chiều :
Thường nhầm lẫn giữa khoảng cách từ nơi sản xuất điện đến nơi tiêu thụ điện vớichiều dài của dây dẫn nên tính giá trị điện trở thuần sai
2.4 Soạn thảo hệ thống câu hỏi theo phương pháp trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn chương "Dòng điện xoay chiều" Vật lý 12- THPT
ở đây chúng tôi soạn thảo một hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiềulựa chọn cho chương "Dòng điện xoay chiều", mỗi câu hỏi có 4 lựa chọn trong đó chỉ cómột lựa chọn đúng Các mồi được xây dựng trên sự phân tích những sai lầm của học sinhkhi học chương "Dòng điện xoay chiều"
Trong hệ thống các câu hỏi có thể dùng để làm bài kiểm tra 15 phút, một tiết hoặccác bài kiểm tra đầu giờ, cuối giờ để đánh giá chất lượng kiến thức học sinh trong khihọc hoặc sau khi học chương "Dòng điện xoay chiều" Tùy mục đích kiểm tra và đốitượng kiểm tra mà giáo viên chọn số lượng và câu hỏi cụ thể nào Có thể dùng hệ thốngcâu hỏi như là các bài tập giao cho học sinh để họ tự kiểm tra, đánh giá kết quả học của bảnthân
Nghiên cứu về cách phân loại các hoạt động nhận thức vận dụng vào phạm vinghiên cứu đề tài chúng tôi chỉ quan tâm đến 3 trình độ nắm vững tri thức: nhận biết,hiểu, vận dụng