Đối với luận đề, đâylà loại được sử dụng một cách phổ biến từ trước đến nay.Ưu điểm của loại này là nó cho học sinh cơ hội phân tích và tổng hợp dữ kiện theo lời lẽ riêng củamình, nó có
Trang 1Làm thế nào để kiểm tra đánh giá được tốt? Đây là một vấn đề mang tínhthời sự, thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học.
Từ trước tới nay, chúng ta đã sử dụng nhiều hình thức thi và kiểm tratrong giáo dục Các phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập rất đadạng, mỗi phương pháp đều có ưu và nhược điểm nhất định, không có mộtphương pháp nào hoàn mĩ đối với mọi mục tiêu giáo dục Thực tiễn chothấy, trong dạy học cần thiết phảỉ tiến hành kết hợp các hình thức thi và kiểmtra một cách tối ưu mới có thể đạt được yêu cầu của việc đánh giá kết quả dạyhọc,thi Kiểm tra viết là hình thức được sử dụng nhiều trong dạy học, nó đượcchia thành 2 loại: Loại luận
đề ( trắc nghiệm tự luận ) và loại trắc nghiệm khách quan Đối với luận đề, đâylà
loại được sử dụng một cách phổ biến từ trước đến nay.Ưu điểm của loại này là
nó cho học sinh cơ hội phân tích và tổng hợp dữ kiện theo lời lẽ riêng củamình, nó có thể dùng để kiểm tra khả năng tư duy ở trình độ cao, song nó cónhững hạn chế là: Loài này chỉ cho phép khảo sát một số kiến thức trong thờigian nhất định, việc chấm điểm loại này mất nhiều thời gian, thiếu khách quan,khó ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, do đó trong một số trường hợp khôngxác định được thực chất trình độ của học sinh
Trắc nghiệm khách quan có các ưu điểm là tính khách quan khi chấm,kiểm tra đánh giá những mục tiêu đánh giá khác nhau, độ tin cậy cao và tốt.Học sinh phát xét đoán và phân biệt kỹ càng trước khi trả lời
Trang 22Xuất phát từ nhận thức và suy nghĩ ở trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn sử dụng
Trang 3trong kiểm tra đánh giá một số kiến thức chương “Điện tích - ĐiệnTrường”sách Vật lý 11 nâng cao THPT” với mong muốn góp phần nghiên cứunâng cao chất lượng và hiệu quả kiểm tra đánh giá trong dạy học Vật lý ởtrường Phổ thông
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu xây dựng được một hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quannhiều lựa chọn đáp ứng những yêu cầu khoa học của hệ thống câu hỏi đáp ứngnhững đòi hỏi của việc kiểm tra đánh giá, trình độ nắm vững kiến thức của họcsinh phần “Điện tích- Điện trường” sách Vật lý 11 Nâng cao – THPT
3 Giả thuyết khoa học
Nếu có một hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọnđược soạn thảo một cách khoa học phù hợp với mục tiêu dạy học và nội dungkiến thức chương “Điện tích- Điện trường” Vật lý 11 Nâng cao – THPT để sửdụng trong kiểm tra đánh giá thì có thể đánh giá chính xác, khách quan trình
độ kiến thức của học sinh góp phần nâng cao hiệu quả dạy học
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn sử dụng trongkiểm tra đánh giá kết quả học tập một số kiến thức chương ‘’Điện tích - Điệntrường ’’ của học sinh lớp 11 nâng cao - THPT
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu phương pháp trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn
để soạn thảo hệ thống câu hỏỉ sử dụng trong kiểm tra kiến thức chương “ Điệntích- Điện trường” của lớp 11 nâng cao - THPT và thực nghiệm trên một sốlớp 11 các trường THPT của tỉnh Bắc Giang
5 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về kiểm tra đánh giá kết quả học tập của họcsinh ở trường phổ thông
- Nghiên cứu cơ sở lý luận xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quannhiều lựa chọn vận dụng cơ sở lý luận
Trang 4- Thực nghiệm sư phạm đánh giá hệ thống câu hỏi đã soạn thảo
6 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về kiểm tra đánh giá, trắc nghiệm khách quan nhiềulựa chọn
- Nghiên cứu thực tiễn
+ Điều tra những khó khăn cơ bản, sai lầm của học sinh
+ Thực nghiệm sư phạm, đánh giá hệ thống câu hỏi
+ Phương pháp thống kê toán học, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm
7 Đóng góp của đề tài
- Đóng góp về mặt lý luận: Đề tài đã nghiên cứu, hệ thống lại lí luận vềkiểm tra đánh giá và việc sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan nhiềulựa chọn để kiểm tra đánh giá trình độ nắm vững kiến thức của học sinh
- Đóng góp về mặt thực tiễn: Góp phần khẳng định tính ưu việt củaphương pháp trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn trong kiểm tra đánh giá,làm tài liệu tham khảo về kiểm tra đánh giá trong bộ môn Vật lý ở trường phổthông Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan đã soạn thảo có thể xem như
là một hệ thống bài tập, thông qua đó học sinh có thể tự kiểm tra đánh giá kếtquả học của mình và có thể sử dụng làm tài liệu
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, đề tàigồm 03 chương
Chương I : Cơ sở lý luận về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học
sinh trong dạy học ở trường phổ thổng
Chương II: Soạn thảo hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều
lựa chọn một số kiến thức chương “Điện tích- Điện trường”.Chương III: Thực nghiệm sư phạm
Trang 5Chương I Cơ sở lý luận về kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh trong dạy
học ở nhà trường phổ thông
1.1.Cơ sở lý luận về kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học 13
1.1.1.Khái niệm về kiểm tra đánh giá
Kiểm tra đánh giá được hiểu là sự theo dõi tác động của người kiểm trađối với người học cần thu được những thông tin cần thiết để đánh giá
Quá trình đánh giá gồm các khâu:
- Đo: Trong dạy học đo là việc giáo viên gắn các số ( điểm ) cho các sảnphẩm của học sinh Để việc đo được chính xác thì đề ra phải đảm bảo:
+ Độ giá trị: Đề ra phải căn cứ vào mục tiêu chương trình học
+ Độ trung thực: Đó là khả năng luôn cung cấp cùng một giá trị của cùngmột đại lượng với cùng một dụng cụ đo
+ Độ nhậy: Đó là khả năng của dụng cụ đo có thể phân biệt được khi haiđại lượng chỉ khác nhau rất ít
- Lượng giá: Là việc giải thích các thông tin thu được về kiến thức kĩnăng của học sinh, làm sáng tỏ trình độ tương đối của một học sinh so vớithành tích chung của tập thể hoặc trình độ của học sinh so với yêu cầu củachương trình học tập
+ Lượng giá theo chuẩn: Là sự so sánh tương đối với chuẩn trung bìnhchung của tập hợp
+ Lượng giá theo tiêu chí: Là sự đối chiếu với những tiêu chí đã đề ra
- Đánh giá: Là việc đưa ra những kết luận nhất định, phán xét về trình
độ của học sinh
Các bài kiểm tra, bài trắc nghiệm được xem như phương tiện để kiểm trakiến thức, kĩ năng trong dạy học Vì vậy việc soạn thảo nội dung cụ thể của
Trang 6các bài kiểm tra có tầm quan trọng đặc biệt trong việc kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng
1.1.2.Mục đích của kiểm tra đánh giá.14
- Việc kiểm tra đánh giá có thể có các mục đích khác nhau tuỳ trườnghợp Trong dạy học kiểm tra đánh giá gồm 3 mục đích chính:
+ Kiểm tra kiến thức kĩ năng để đánh giá trình độ xuất phát của ngườihọc có liên quan đến việc xác định nội dung phương pháp dạy học một mônhọc, một học phần sắp bắt đầu
+ Kiểm tra nhằm mục đích đánh giá thành tích kết quả học tập hoặcnhằm nghiên cứu đánh giá mục tiêu phương pháp dạy học
+ Kiểm tra đánh giá nhằm mục đích dạy học: Bản thân việc kiểm trađánh giá nhằm định hướng hoạt động chiếm lĩnh kiến thức cần dạy
- Mục đích đánh giá trong đề tài này là:
+ Xác nhận kết quả nhận biết, hiểu, vận dụng theo mục tiêu đề ra
+ Xác định xem khi kết thúc một phần của dạy học, mục tiêu của dạyhọc đã đạt đến mức độ nào so với mục tiêu mong muốn
+ Tạo điều kiện cho người dạy nắm vững hơn tình hình học tập của họcsinh giúp giáo viên giảng dạy tốt hơn, góp phần nâng cao chất lượng dạy vàhọc vật lý
1.1.3.Chức năng của kiểm tra đánh giá.14
Chức năng của kiểm tra đánh giá được phân biệt dựa vào mục đích kiểmtra đánh giá Các tác giả nghiên cứu kiểm tra đánh giá nêu ra các chức năngkhác nhau
GS Trần Bá Hoành đề cập ba chức năng của đánh giá trong dạy học:Chức năng sư phạm, chức năng xã hội, chức năng khoa học
GS.TS Phạm Hữu Tòng, trong thực tiễn dạy học ở phổ thông thì chủ yếuquan tâm đến chức năng sư phạm, được chia nhỏ thành ba chức năng: Chứcnăng chuẩn đoán; chức năng chỉ đạo, định hướng hoạt động học; chức năngxác nhận thành tích học tập, hiệu quả dạy học
Trang 7+ Chức năng chuẩn đoán
Các bài kiểm tra, trắc nghiệm có thể sử dụng như phương tiện thu lượmthông tin cần thiết cho việc xác định hoặc việc cải tiến nội dung, mục tiêu vàphương pháp dạy học
Dựa trên kết qủa kiểm tra đánh giá kiến thức ta biết rõ trình độ xuất phátcủa người học để điều chỉnh nội dung phương pháp dạy học cho phù hợp, chophép đề xuất định hướng bổ khuyết những sai sót, phát huy những kết quảtrong cải tiến hoạt động dạy học đối với những phần kiến thức đã giảng dạy.Dùng các bài kiểm tra đánh giá khi bắt đầu dạy học một học phần đểthực hiện chức năng chuẩn đoán
+ Chức năng định hướng hoạt động học
Các bài kiểm tra, trắc nghiệm kiểm tra trong quá trình dạy học có thểđược sử dụng như phương tiện, phương pháp dạy học Đó là các câu hỏi kiểm tra tùng phần, kiểm tra thường xuyên được sử dụng để chỉ đạo hoạt động học
Các bài trắc nghiệm được soạn thảo công phu, nó là một cách diễn đạtmục tiêu dạy học cụ thể đối với các kiến thức, kĩ năng nhất định Nó có tácdụng định hướng hoạt động học tập tích cực của học sinh Việc thảo luận cáccâu hỏi trắc nghiệm được tổ chức tốt, đúng lúc nó trở thành phương pháp dạyhọc tích cực, sâu sắc và vững chắc, giúp người dạy kịp thời điều chỉnh, bổsung hoạt động dạy có hiệu quả
+ Chức năng xác nhận thành tích học tập, hiệu quả dạy học.Các bài kiểmtra trắc nghiệm sau khi kết thúc dạy một phần được sử dụng để đánh giá thànhtích học tập, xác nhận trình độ kiến thức, kĩ năng của người học
Với chức năng này đòi hỏi nội dung các bài kiểm tra trắc nghiệm và cáctiêu chí đánh giá, căn cứ theo các mục tiêu dạy học cụ thể đã xác định cho từngkiến thức kĩ năng Các bài kiểm tra trắc nghiệm như vậy có thể được sử dụng
để nghiên cứu đánh giá mục tiêu dạy học và hiệu quả của phương pháp dạy học.1.1.4.Các yêu cầu sư phạm đối với việc kiểm tra, đánh giá kết quả họctập của học sinh.13
1.1.4.1.Đảm bảo tính khách quan trong quá trình đánh giá
Trang 8- Là sự phản ánh trung thực kết quả lĩnh hội nội dung tài liệu học tập của
Trang 9học sinh so với yêu cầu chương trình qui định
- Nội dung kiểm tra phải phù hợp với các yêu cầu chương trình qui định
- Tổ chức thi phải đảm bảo tính nghiêm túc, công bằng và dân chủ
Để đảm bảo tính khách quan trong kiểm tra, đánh giá từ khâu ra đề, tổchức thi tới khâu cho điểm, xu hướng chung là tuỳ theo đặc trưng môn học màlựa chọn hình thức thi thích hợp
1.1.4.2.Đảm bảo tính toàn diện
Trong quá trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh phải chú
ý đánh giá cả số lượng và chất lượng cả nội dung và hình thức
1.1.4.3.Đảm bảo tính thường xuyên và hệ thống
- Cần kiểm tra, đánh giá học sinh liên tục, thường xuyên trong mỗi tiếthọc, sau mỗi phần kiến thức, mỗi chương và học kì
- Các câu hỏi kiểm tra cần có tính lôgíc và hệ thống
1.1.4.4.Đảm bảo tính phát triển
- Hệ thống câu hỏi từ dễ đến khó, từ cụ thể đến trừu tượng
- Trân trọng sự cố gắng của học sinh, đánh giá cao những tiến bộ tronghọc tập của học sinh
1.1.5.Nguyên tắc chung cần quán triệt trong kiểm tra đánh giá 13
Để đảm bảo tính khoa học của việc kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năngthì việc đó phải được tiến hành theo một qui trình hoạt động chặt chẽ.Qui trìnhnày gồm:
- Xác định rõ mục đích kiểm tra đánh giá
- Xác định rõ nội dung cụ thể của các kiến thức kĩ năng cần kiểm trađánh giá, các tiêu trí cụ thể của mục tiêu dạy học với từng đơn vị kiến thức kĩnăng đó, để làm căn cứ đối chiếu các thông tin cần thu Việc xác định nộidung kiến thức cần chính xác, cụ thể, cô động Việc xác định các mục tiêu,tiêu chí đánh giá cần dựa trên quan niệm rõ ràng về mục tiêu dạy học
- Xác định rõ hình thức kiểm tra phù hợp với đặc điểm của nội dungkiến thức kĩ năng cần kiểm tra, phù hợp với mục đích kiểm tra Cần nhận rõ
ưu nhược điểm của mỗi hình thức kiểm tra để có thể sử dụng phối hợp và tìm
Trang 10biện pháp phát huy ưu điểm và khắc phục tối đa các nhược điểm của mỗi hìnhthức đó
- Xây dựng các câu hỏi, các đề bài kiểm tra, các bài trắc nghiệm chophép thu lượm các thông tin tương ứng với các tiêu chí đã xác định
- Tiến hành kiểm tra, thu lượm thông tin, xem xét kết quả và kết luận đánh giá
1.1.6.Các hình thức kiểm tra đánh giá cơ bản.13
Ta chỉ đi sâu nghiên cứu loại trắc nghiệm viết được chia thành hai loại Luận đề và trắc nghiệm khách quan đều là những phương tiện kiểm trakhả năng học tập và cả hai đều là trắc nghiệm.Danh từ “luận đề” ở đây khôngchỉ giới hạn trong phạm vi các bài “ luận văn” mà nó bao gồm các hình thứckhảo sát khác thông thường trong lối thi cử, chẳng hạn như những câu hỏi lýthuyết, những bài toán.Các chuyên gia đo lường gọi chung các hình thức kiểmtra này là “trắc nghiệm loại luận đề” cho thuận tiện để phân biệt với loại trắcnghiệm gọi là “trắc nghiệm khách quan”.Thật ra việc dùng danh từ “kháchquan” này để phân biệt hai loại kiểm tra nói trên cũng không đúng hẳn, vì trắcnghiệm luận đề không nhất thiết là trắc nghiệm “chủ quan” và trắc nghiệmkhách quan không phải là hoàn toàn “khách quan”
Giữa luận đề và trắc nghiệm khách quan có một số khác biệt và tươngđồng, song quan trọng là cả hai đều là những phương tiện khảo sát thành quảhọc tập hữu hiệu và đều cần thiết miễn là ta nắm vững phương pháp soạn thảo
và công dụng của mỗi loại
Với hình thức luận đề việc kiểm tra thường bộc lộ nhiều nhược điểm làkhông phản ánh được toàn bộ nội dung, chương trình, gây tâm lý học tủ và khichấm bài giáo viên còn nặng tính chủ quan vì thế để nâng cao tính khách quantrong kiểm tra đánh giá nhiều tác giả cho rằng nên sử dụng trắc nghiệm kháchquan Nhìn chung nếu xây dựng và sử dung có hiệu quả hệ thống câu hỏi trắcnghiệm khách quan thì góp phần vào khắc phục những hạn chế của hình thứckiểm tra, thi tự luận
Trang 111.2.Mục tiêu dạy học.14
1.2.1.Tầm quan trọng của các mục tiêu dạy học
- Xác định được phương hướng, tiêu chí để quyết định về nội dung,phương pháp, phương tiện dạy học
- Có được lý tưởng rõ ràng về cái cần kiểm tra đánh giá khi kết thúc mỗimôn học, học phần hay trong quá trình giảng dạy từng kiến thức cụ thể
- Thông báo cho người học biết những cái mong đợi ở đầu ra của sự học
là gì? Điều này giúp họ tự tổ chức công việc học tập của mình
- Có được ý tưởng rõ ràng về các kiến thức, kĩ năng, thái độ cần có củagiáo viên
1.2.2.Cần phát biểu mục tiêu như thế nào?
Các câu phát biểu mục tiêu cần:
- Phải rõ ràng, cụ thể, chính xác, khoa học
- Phải đạt tới được trong khoá học hay đơn vị học tập
- Phải bao gồm nội dung học tập thiết yếu của môn học
- Phải qui định rõ kết quả của việc học tập, nghĩa là các khả năng màngười học sẽ có được khi họ đã đạt đến mục tiêu
- Phải đo lường được
- Phải chỉ rõ những gì người học có thể làm được vào cuối giai đoạn học tập
1.2.3.Phân biệt các mục tiêu nhận thức
Các nhà khoa học đã đưa ra rất nhiều cách phân loại các mục tiêu khácnhau Ba mục tiêu lớn thường được khảo sát bằng các bài trắc nghiệm ở lớphọc là: Nhận biết- Thông hiểu- Vận dụng
1.2.3.1.Nhận biết
Trình độ này thể hiện ra ở khả năng nhận ra được, nhớ lại được, phát biểulại được đúng sự trình bày kiến thức đã có, giải đáp được câu hỏi thuộc dạng
“A là gì? Thế nào? Thực hiện A như thế nào?”
Trong vật lý câu hỏi kiểm tra trình độ này là những câu hỏi đòi hỏi: Ghi
Trang 1212nhớ một định luật, một qui tắc, nhận biết các dấu hiệu của một sự vật, hiện tượng, ghi nhớ các công thức đơn vị đo.
Trang 131.2.3.2.Thông hiểu ( áp dụng kiến thức giải quyết tình huống quen thuộc).Trình độ này bao gồm cả nhận biết, nhưng ở mức cao hơn là trí nhớ, nóliên quan tới ý nghĩa và các mối liên hệ của những gì học sinh đã biết, đã học.Khi học sinh lặp lại đúng một định luật vật lý chứng tỏ học sinh biết địnhluật ấy Nừu học sinh ấy giải thích được ý nghĩa của những khái niệm quantrọng trong định luật, hay minh hoạ bằng một ví dụ về các mối liên hệ biểu thịbởi định luật đó thì có nghĩa là học sinh đã hiểu định luật này
- Sự thông hiểu khái niệm
Đòi hỏi học sinh phải giải thích được khái niệm bằng ngôn ngữ của riêng mình Câu hỏi kiểm tra trắc nghiệm trình độ này phải được diễn đạt bằng thứ
ngôn ngữ khác những gì đã được viết trong sách giáo khoa
- Sự thông hiểu các ý tưởng phức tạp
Mục tiêu loại này đòi hỏi các quá trình suy luận phức tạp, nó được chứng
tỏ bằng khả năng giải thích mối liên hệ giữa các yếu tố Những câu trắcnghiệm thuộc loại này yêu cầu học sinh phải
+ Giải thích
+ Phân biệt các sự kiện phù hợp ( hay không phù hợp ) giữa sự kiện vàquan điểm
+ Lựa chọn thông tin cần thiết để giải quyết một vấn đề
+ Suy diễn từ các dự kiện đã cho
Trong vật lý loại câu hỏi kiểm tra trình độ này thường là: Giải thích mộthiện tượng, vận dụng các định luật, định lý, qui tắc để giải quyết các bài toánquen thuộc
1.2.3.3.Vận dụng sáng tạo
Khả năng vận dụng được đo lường khi một tình huống mới được tình bày
ra, người học phải quyết định nguyên lý nào cần được áp dụng như thế nàotrong tình huống như vậy Giải quyết câu hỏi: Các A nào giải quyết X và giảiquyết như thế nào?
Trang 141.3 Phương pháp và kỹ thuật trắc nghiệm khách quan nhiềulựa chọn.13
1.3.1.Các hình thức trắc nghiệm khách quan
1.3.1.1.Trắc nghiệm điền khuyết
Có thể có hai dạng, chúng có thể là những câu hỏi với giải đáp ngắn, haycũng có thể gồm những câu phát biểu với một hay nhiều chỗ trống mà họcsinh phải điền vào một từ hay một cụm từ
-Ưu điểm: Thí sinh có cơ hội trình bầy những câu trả lời phát huy ócsáng tạo của học sinh, phương pháp chấm điểm nhanh và tin cậy hơn, mất cơhội đoán mò, luyện trí nhớ
- Nhược điểm: Chấm bài mất nhiều thời gian, thiếu yếu tố khách quankhi chấm điểm, phạm vi các vấn đề khảo sát hẹp, không có khả năng kiểm traphát hiện sai lầm của học sinh
- Nhược điểm: Có thể khuyến khích sự đoán mò nên khó có thể xác địnhsai lầm chủ yếu của học sinh khi học một kiến thức cụ thể, có độ tin cậy thấp.Học sinh rễ có thói quen học thuộc lòng vì loại câu hỏi này được giáo viêntrích nguyên văn sách giáo khoa, không gây hứng thú cho học sinh giỏi
1.3.1.3.Trắc nghiệm ghép đôi ( xứng hợp )
Là loại rất thông dụng gồm có hai cột, gồm nhóm chữ hay không Dựavào câu hỏi hiểu biết của mình học sinh sẽ ghép chữ, nhóm chữ tương ứng.Mỗi phần tử trong câu trả lời có thể dùng một hay nhiều lần với một câu hỏi
- Ưu điểm: Các câu hỏi ghép đôi dễ viết và dễ sử dụng, ít tốn giấy hơnkhi in, giảm được yếu tố may rủi
- Nhược điểm: Không thích hợp cho việc thẩm định khả năng vận dụng,
Trang 15mất nhiều thời gian đọc
1.3.1.4.Phương pháp trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn
Dạng trắc nghiệm khách quan hay dùng nhất là loại trắc nghiệm kháchquan nhiều lựa chọn Đây là loại câu hỏi mà chúng tôi sử dụng trong hệ thốngchương sau
Một câu hỏi dạng nhiều lựa chọn gồm hai phần: phần “gốc” và phần “lựa chọn”
+ Phần gốc: Là một câu hỏi hoặc là một câu bỏ lửng ( chưa hoàn tất).Yêu cầu phải tạo căn bản cho sự lựa chọn, bằng cách đặt ra một vấn đề hayđưa ra một ý tưởng rõ ràng giúp cho người làm bài có thể hiểu rõ câu hỏi ấymuốn đòi hỏi điều gì để lựa chọn câu trả lời thích hợp
+ Phần lựa chọn ( thường là 4 hay 5 lựa chọn ) gồm có nhiều giải pháp cóthể lựa chọn, trong đó có một lựa chọn được dự định là đúng, hay đúng nhất,còn những phần còn lại là những “mồi nhử ” Điều quan trọng là làm sao chonhững “mồi nhử ” ấy đều hấp dẫn ngang nhau vói những học sinh chưa học kĩhay chưa hiểu kĩ bài học
Trong đề tài, chúng tôi chọn trắc nghiệm khách quan 4 lựa chọn vì theochúng tôi nếu ít lựa chọn hơn thì không bao quát được sai lầm của học sinh,nhiều lựa chọn hơn thì có những mồi thiếu căn cứ
- Ưu điểm:
+ Tính khách quan khi chấm
+ Kiểm tra đánh giá những mục tiêu đánh giá khác nhau
+ Độ tin cậy cao và tốt
+ Học sinh phải xét đoán và phân biệt kĩ càng trước khi trả lời
+ Phân tích được tính chất của câu hỏi
- Nhược điểm:
+ Khó soạn câu hỏi
+ Thí sinh nào óc sáng tạo có thể tìm ra câu trả lời hay hơn phương án đãcho, nên họ có thể sẽ không thoả mãn
Trang 16+ Các câu trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn có thể không đo đượckhả năng phán đoán tinh vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo một cáchhiệu nghiệm bằng loại câu hỏi tự luận soạn kĩ
Trang 17- Sự phân tích về nội dung sẽ cho ta một bản tóm tắt ý đồ chương trìnhgiảng dạy được diễn đạt theo nội dung.Những lĩnh vực nào trong các nội dung
đó nên đưa vào trong bài trắc nghiệm đại diện này
Cần phải suy nghĩ cách trình bày các câu dưới hình thức nào cho hiệuquả nhất và mức độ khó dễ của bài trắc nghiệm đến đâu
1.3.2.1.Mục đích của bài trắc nghiệm
Một bài trắc nghiệm có thể phục vụ nhiều mục đích, nhưng bài trắcnghiệm lợi ích và hiệu quả nhất khi nó được soạn thảo để nhằm phục vụ chomục đích chuyên biệt nào đó
- Nếu bài trắc nghiệm là một bài thi cuối kì sử dụng để xếp hạng họcsinh thì các câu soạn phải đảm bảo điểm số được phân tán rộng, như vậy mớiphát hiện ra được học sinh giỏi và học sinh kém
- Nếu bài trắc nghiệm là một bài kiểm tra để sử dụng kiểm tra nhữnghiểu biết tối thiểu về một phần nào đó thì ta soạn thảo những câu hỏi sao chohầu hết học sinh đều đạt được điểm tối đa
- Nếu bài trắc nghiệm sử dụng trong việc chuẩn đoán, tìm ra những chỗmạnh, chỗ yếu của học sinh, giúp cho giáo viên điều chỉnh phương pháp dạyphù hợp thì các câu trắc nghiệm được soạn thảo sao cho tạo cơ hội cho họcsinh phạm tất cả sai lầm về môn học nếu chưa học kĩ
Bên cạnh các mục đích nói trên ta có thể dùng trắc nghiệm với mục đíchluyện tập giúp cho học sinh hiểu thêm bài học và có thể làm quen với nối thitrắc nghiệm
Như vậy, trắc nghiệm có thể phục vụ nhiều mục đích, người soạn trắc
Trang 18nghiệm phải biết rõ mục đích của mình thì mới soạn được bài trắc nghiệm cógiá trị vì mục đích chi phối nội dung, hình thức bài trắc nghiệm
1.3.2.2.Phân tích nội dung môn học
- Tìm ra những kiến thức, những khái niệm quan trọng trong nội dungmôn học để đưa ra khảo sát trong các câu trắc nghiệm
- Phân ra hai loại thông tin được trình bày trong môn học
+ Một là những thông tin nhằm giải nghĩa hay minh hoạ
+ Hai là những khái niệm quan trọng của môn học, lựa chọn những gìhọc sinh cần nhớ
- Lựa chọn một số thông tin và ý tưởng đòi hỏi học sinh phải có khảnăng ứng dụng những điều đã biết để giải quyết vấn đề trong tình huống mới.1.3.2.3.Thiết lập dàn bài trắc nghiệm
Sau khi nắm vững mục đích của bài trắc nghiệm và phân tích nội dungmôn học ta lập được một dàn bài cho trắc nghiệm Lập một bảng ma trận haichiều, một chiều biểu thị nội dung và chiều kia biểu thị các quá trình tư duy (mục tiêu ) mà bài trắc nghiệm muốn khảo sát Số câu hỏi cần được đưa vàotrong mỗi loại phải được xác định rõ và ma trận này phải được chuẩn bị xongtrước khi các câu hỏi trắc nghiệm được viết ra
Một mẫu dàn bài:
Mục tiêu
Nội dung
Nhận biết(Số câu)
Hiểu
áp dụng kiến thứcgiải quyết tìnhhuống quen thuộc(Số câu)
Vận dụngSáng tạo(Số câu)
Tổngcộng
Trang 191.3.2.4.Số câu hỏi trong bài
- Số câu hỏi được trong bài trắc nghiệm phải tiêu biểu cho toàn thể kiếnthức mà ta đòi hỏi ở học sinh phải có
- Số câu hỏi phụ thuộc vào thời gian dành cho nó, nhiều bài trắc nghiệmđược giới hạn trong khoảng thời gian một tiết học hoặc kém hơn Ta có thể giảđịnh rằng ngay cả những học sinh làm chậm cũng có thể trả lời một câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn trong 1,5 phút
1.3.3.Một số nguyên tắc soạn thảo những câu TNKQNLC 13
Câu hỏi thuộc dạng này gồm hai phần: Phần gốc và phần lựa chọn Phầngốc là một câu hỏi hay một câu bỏ lửng Phần lựa chọn gồm một số ( thường
là 4 hoặc 5 ) câu trả lời hay câu bổ sung để lựa chọn
Viết các câu trắc nghiệm sao cho phân biệt được học sinh giỏi và họcsinh kém
- Đối với phần gốc: Dù là một câu hỏi hay câu bổ sung đều phải tạo cơ
sở cho sự lựa chọn bằng cách đặt ra một vấn đề hay đưa ra những ý tưởng rõràng giúp cho sự lựa chọn được dễ dàng
+ Cũng có khi phần gốc là một câu phủ định, trong trường hợp ấy phải inđậm hoặc gạch dưới chữ diễn tả sự phủ định để học sinh phải nhầm
+ Phần gốc và phần lựa chọn khi kết hợp phải mang ý nghĩa trọn vẹn, tuynhiên nên sắp xếp các ý vào phần gốc sao cho
Phần lựa chọn được ngắn gọn
Người đọc thấy nội dung cần kiểm tra
- Đối với phần lựa chọn:
+ Trong 4 hay 5 phương án lựa chọn chỉ có một phương án đúng
+ Câu lựa chọn không nên quá ngây ngô
+ Nên tránh 2 lần phủ định liên tiếp
+ Các câu trả lời phải có vẻ hợp lí
+ Các câu chọn phải đồng nhất về đồng nghĩa, âm thanh
+ Không nên có những câu hỏi giống hay tương tự sách giáo khoa
+ Các câu chọn đúng phải được sắp xếp ở các vị trí khác nhau với số lần
Trang 20+ Kiểm soát được thời gian.
+ Tránh được sự thất thoát đề thi
+ Tránh được phần nào gian lận
+ Đảm bảo tính công bằng trong kiểm tra, đánh giá
- Cách 2: Thông dụng hơn là in bằng trắc nghiệm ra nhiều bản tương ứngvới số người dự thi Trong phương án này có hai cách trả lời khác nhau:
+ Bài có dành phần trả lời của học sinh ngay trên đề thi, thẳng ở phía bênphải hay ở phía bên trái
+ Bài học sinh phải trả lời bằng phiếu riêng theo mẫu:
- Lưu ý khi in bài trắc nghiệm
+ Tránh in sai, in không rõ ràng, thiếu sót
Trang 21- Phải nhắc nhở học sinh trước khi làm bài.
+ Học sinh phải lắng nghe và đọc kĩ càng những lời chỉ dẫn cách làm bàitrắc nghiệm
+ Học sinh phải được biết về cách tính điểm
+ Học sinh phải được nhắc nhở phải đánh dấu các câu lựa chọn một cách
1.4.3.Công việc của giám thị
- Đảm bảo đúng, đủ thời gian làm bài của học sinh
- Xếp chỗ ngồi cho học sinh sao cho các học sinh ngồi cạnh nhau khôngcùng một mã đề
1.4.5.Các loại điểm của bài trắc nghiệm
Có hai loại điểm:
- Điểm thô: Tính bằng điểm số cho trên bài trắc nghiệm Trong bài trắc
Trang 22Trong đó: x: Điểm thô
x: Điểm thô trung bình của nhóm làm bài trắc nghiệm s: Độ lệch chuẩn của nhóm ấy
Bất lợi khi dùng điểm chuẩn z là:
+ Có nhiều trị số z âm, gây nhiều khó khăn khi tính toán
+ Tất cả các điểm z đều là số lẻ
Để tránh khó khăn này người ta dùng điểm chuẩn biến đổi T:
+ T = 10Z + 50 ( Trung bình là 50, độ lệch chuẩn là 10 )
Hoặc V = 4Z ( Trung bình là 10, độ lệch chuẩn là 4 )
+ Điểm 11 bậc ( Từ 0 đến 10 ) dùng ở nước ta hiện nay, ở đây chọn điểmtrung bình là 5, độ lệch tiêu chuẩn là 2 nên V = 2Z + 5
Ví dụ: Sinh viên có điểm thô là 49; điểm trung bình của nhóm học sinhlàm bài trắc nghiệm là 31,56; độ lệch tiêu chuẩn là 8,64 Ta có:
+ Điểm tiêu chuẩn Z:
Trang 24x= x iN
+ Trung bình lý thuyết: Là trung bình cộng của điểm tối đa có thể có vớiđiểm may rủi có thể làm đúng ( số câu chia số lựa chọn ) Điều này không thay đổi với một bài trắc nghiệm cố định
Ví dụ: Một bài có 50 câu hỏi, mỗi câu có 4 lựa chọn, ta có
Trang 25Điểm may rủi: 50 = 12,5
4
Trung bình lý thuyết: 12,5 502
1.5.Phân tích câu hỏi 13
= 31,25
1.5.1.Mục đích của phân tích câu hỏi
- Kết quả bài kiểm tra giúp giáo viên đánh giá mức độ thành công củacông việc giảng dạy và học tập để thay đổi phương pháp lề lối làm việc
- Để xem học sinh trả lời mỗi câu như thế nào, và từ đó sửa lại các câuhỏi để bài trắc nghiệm có thể đo lường thành quả khả năng học tập một cáchhữu hiệu hơn
1.5.2.Phương pháp phân tích câu hỏi
Phương pháp phân tích câu hỏi của một bài trắc nghiệm thành quả họctập chúng ta thường so sánh câu trả lời của học sinh ở mỗi câu hỏi với điểm sốchung toàn bài Chúng ta mong có nhiều học sinh ở nhóm điểm cao và ít họcsinh ở nhóm điểm thấp trả lời đúng mỗi câu hỏi Nếu kết quả không như vậy,
có thể câu hỏi viết chưa chuẩn hoặc vấn đề chưa được dạy đúng mức
Để xét mối tương quan giữa cách trả lời mỗi câu hỏi với điểm tổng quátchúng ta có thể lấy 25- 27% học sinh có nhóm điểm cao nhất và 25- 27% họcsinh có nhóm điểm thấp nhất
Chúng ta đếm số câu trả lời cho mỗi câu hỏi trong bài trắc nghiệm ở mỗicâu hỏi cần biết có bao nhiêu học sinh trả lời đúng, bao nhiêu học sinh chọnmỗi câu sai, bao nhiêu học sinh không trả lời Khi đếm sự phân bố các câu trảlời như thế ở các nhóm có điểm cao, điểm thấp và điểm trung bình ta sẽ suy ra:
Trang 26- Mức độ khó của câu hỏi
- Mức độ phân biệt nhóm giỏi và nhóm kém của mỗi câu hỏi
- Mức độ lôi cuốn của các câu mồi
Sau khi chấm một bài trắc nghiệm chúng ta thực hiện các giai đoạn sau đây
- Sắp xếp các bài làm theo tổng số điểm từ cao xuống thấp
- Chia tập bài ra 3 phần:
+ Phần 1: 25% hoặc 27% những bài điểm cao
+ Phần 2: 50% hoặc 46% bài trung bình
+ Phần 3: 25% hoặc 27% những bài điểm thấp
ngườichọn
Số giỏitrừ sốkém
Nhómgiỏi
NhómTB
Nhómkém
1
ABC*
1.5.3.1.Phân tích sự phân bố số người chọn các câu trả lời cho mỗi câu hỏi
- Phân tích xem câu mồi có hay không, có hiệu nghiệm không Nếu cộtcuối cùng có giá trị âm và trị tuyệt đối càng lớn thì mồi càng hay Nếu cộtcuối bằng 0 cần xem xét lại câu mồi đó vì nó không phân biệt được nhóm giỏi
và nhóm kém, câu trả lời đúng bao giờ cũng có giá trị dương cao
Trang 28P Tổng số học sinh tham gia S ố h ọc si nh t r ả l ời đúng
Nếu P = 0 thì câu hỏi quá khó
Nếu P = 1 thì câu hỏi quá dễ
H: Số người trả lời đúng nhóm điểm cao
L: Số người trả lời đúng nhóm điểm thấp
n: Số lượng người trong mỗi nhóm
Theo Dương Thiệu Tống đã đưa ra một thang đánh giá độ phân biệt dưới
Trang 291.5.3.4.Tiêu chuẩn để chọn câu hỏi hay.
Sau khi phân tích, chúng ta có thể tìm ra được các câu hỏi hay là nhữngcâu có các tính chất sau:
+ Hệ số khó vào khoảng 40- 62,5%
+ Hệ số phân biệt dương khá cao
+ Các câu mồi nhử có tính chất hiệu nghiệm ( lôi cuốn được học sinh ởnhóm kém )
1.6 Độ tin cậy của bài trắc nghiệm.13
Mức độ phân tán về điểm số của học sinh khi làm cùng một bài trắcnghiệm trong những lần thi khác nhau, trong những điều kiện giống nhau sẽbiểu thị mức độ đáng tin cậy hay không đáng tin cậy của bài trắc nghiệm Nếuđiểm số của học sinh trong những lần thi khác nhau đều có phân bố giống hệtnhau và có vị trí mỗi học sinh trên đường phân bố đó không đổi thì bài trắcnghiệm là hoàn toàn đáng tin cậy Mức độ tin cậy này được biểu thị qua hệ sốtin cậy
Có nhiều cách để ước lượng độ tin cậy của bài trắc nghiệm như phươngpháp thi hai lần, phương pháp dùng bài trắc nghiệm tương đương Việc sửdụng các phương pháp này thường gặp nhiều khó khăn trong xử lí số liệu vàmất thời gian nên người ta hầu như không còn sử dụng nữa
Thông dụng nhất và đơn giản nhất là sử dụng công thức tính số 20 củaKuler – Richardson:
Trang 30Trong đó: r: Hệ số tin cậy
K: Số lượng câu hỏi trong bài trắc nghiệm
Trang 31p: Tỉ lệ trả lời đúng cho từng câuq: Tỉ lệ trả lời sai cho từng câu
2 : Phương sai điểm số của bài trắc nghiệmNếu các câu hỏi trắc nghiệm không quá khác biệt nhau về độ khó p, ta có thể tính độ tin cậy của bài trắc nghiệm theo công thức Kuler – Richardson số21:
Trang 32K
X ( K X )
r =
K 1 1 K 2
X : là điểm trung bình của bài trắc nghiệm
Phương sai của bài trắc nghiệm được tính theo công thức:
fi: Tần số của điểm loại i
x : Điểm trung bình của bài trắc nghiệm
Khi bài trắc nghiệm có độ tin cậy r 70% thì bài trắc nghiệm đó có thểcoi là đáng tin cậy
Trang 33Kết luận chương I
Trong chương I, chúng tôi đã hệ thống lại cơ sở lý luận về kiểm tra đánhgiá nói chung cũng như cơ sở lý luận và kỹ thuật xây dựng câu hỏi trắcnghiệm khách quan nhiều lựa chọn Trong đó, những vấn đề chúng tôi đặc biệtquan tâm là:
- Mục đích, chức năng của việc kiểm tra, đánh giá Vì mục đích, chứcnăng của bài trắc nghiệm quyết định nội dung và hình thức của bài trắc nghiệm
- Cách phát biểu mục tiêu dạy học và phân loại mục tiêu dạy học Vì đểviết được một bài trắc nghiệm tốt cần xác định rõ được mục tiêu dạy học vàviết các câu trắc nghiệm gắn chặt với các mục tiêu này
- Để thấy được ưu điểm và nhược điểm của các hình thức kiểm tra, đánhgiá, ở chương này chúng tôi đã hệ thống lại các phương pháp kiểm tra, đánhgiá, trong đó đặc biệt chú trong tới cơ sở lý luận và kỹ thuật xây dựng câu hỏitrắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn cụ thể là:
+ Ưu, nhược điểm của trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn
+ Cách tiến hành soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn+ Cách chấm bài, xử lý điểm, đánh giá kết quả bài trắc nghiệm đã soạn+ Các chỉ số thống kê để đánh giá độ tin cậy của bài trắc nghiệm
Tất cả những điều trình bày ở trên, chúng tôi vận dụng để xây dựng câuhỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn sử dụng trong việc kiểm tra một
số kiến thức chương “ Điện tích- Điện trường” của học sinh lớp 11 THPT mànội dung nghiên cứu cụ thể sẽ được trình bày ở chương sau
Trang 34Chương II Soạn thảo hệ thống câu hỏi trắc
nghiệm khách quan nhiều lựa chọn sử dụng
để kiểm tra một số kiến thức thuộc chương “ Điện tích- Điện trường” Vật lý lớp 11 Nâng cao-
THPT.
2.1.Đặc điểm cấu trúc nội dung chương Điện tích- Điện trườngvật lý 11 Nâng cao- THPT
2.1.1.Đặc điểm nội dung của chương Điện tích- Điện trường
Đây là một chương nằm trong phần Điện của vật lý lớp 11 THPT Nhữngkiến thức về “Điện tích- Điện trường” đã được đề cập sơ bộ ở chương trìnhvật lý lớp 9 THCS ở lớp 11 các kiến thức về điện tích, điện trường được mởrộng và hoàn thiện hơn
Nội dung kiến thức cơ bản của chương có thể chia thành hai nhóm: Nhómkiến thức về điện tích và nhóm kiến thức về điện trường như sơ đồ dưới đây.2.1.2.Sơ đồ cấu trúc nội dung chương Điện tích- Điện trường
Điện tích Điện trường
điệntrường
trường
Trang 35Sơ đồ cấu trúc nội dung chương Điện tích- Điện trừơng
Trang 362.2.Nội dung về kiến thức, kỹ năng học sinh cần có sau khi học.
2.2.1.Nội dung về kiến thức
Sau khi học xong chương “ Điện tích- Điện trường” học sinh cần nắmvững các nội dung kiến thức sau:
2.2.1.1 Các kiến thức về điện tích
*.Khái niệm điện tích
- Có hai loại điện tích: điện tích dương, điện tích âm Các điện tích cùngdấu thì đẩy nhau, các điện tích khác dấu thì hút nhau
- Có các cách làm xuất hiện điện tích:
+ Nhiễm điện do cọ xát
+ Nhiễm điện do tiếp xúc
+ Nhiễm điện do hưởng ứng
* Định luật Cu-lông
Độ lớn của lực tương tác giữa hai điện tích điểm tỉ lệ thuận với tích các
độ lớn của hai điện tích đó và tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữachúng
Phương của lực tương tác giữa hai điện tích điểm là đường thẳng nối haiđiện tích điểm đó
Trang 372.2.1.2.Các kiến thức về điện trường.
*Khái niệm điện trường
- Một điện tích tác dụng lực điện lên các điện tích khác ở gần nó Ta nói,xung quanh điện tích có điện trường
Trang 38- Tính chất cơ bản của điện trường là nó tác dụng lực điện lên điện tíchđặt trong nó.
* Cường độ điện trường
Trang 39- Thương F đặc trưng cho điện trường ở điểm đang xét về mặt tác dụng
q
lực gọi là cường độ điện trường và kí hiệu là E
- Véctơ điện trường là một đại lượng véctơ
Véctơ cường độ điện trường E
+ Điểm đặt: Tại điểm khảo sát
- Các tính chất của đường sức điện
Tại mỗi điểm trong điện trường, ta có thể vẽ được một đương sức điện
đi qua và chỉ một mà thôi
Q >0 Q<0 Các đường sức điện là các đường cong không kín Nó xuất phát từ cácđiện tích dương và tận cùng ở các điện tích âm
Trang 40M N
Các đường sức điện không bao giờ cắt nhau
Nơi nào cường độ điện trường lớn hơn thì các đường sức điện ở đó được vẽ mau hơn, nơi nào cường độ điện trường nhỏ hơn thì các đường sức điện ở
đó được vẽ thưa hơn
* Điện trường đều
Một điện trường mà véctơ cường độ điện trường tại mọi điểm đều bằngnhau gọi là điện trường đều
* Nguyên lí chồng chất điện trường
Véctơ cường độ điện trường tại một điểm do nhiều điện tích gây ra bằngtổng các véctơ cường độ điện trường do từng điện tích gây ra tại điểm ấy
E E 1 E2 En
* Công của lực điện
Công của lực điện tác dụng lên một điện tích không phụ thuộc dạngđường đi của điện tích mà chỉ phụ thuộc vào vị trí điểm đầu và điểm cuối củađường đi trong điện trường
A = qE.S
* Hiệu điện thế
Hiệu điện thế giữa hai điểm trong điện trường là đại lường đặc trưng chokhả năng thực hiện công của điện trường khi có một điện tích di chuyển giữahai điểm đó