1. Lí do chọn đề tài Thƣ viện (TV) là nơi lƣu trữ tri thức của nhân loại, thể hiện sự phát triển qua các giai đoạn lịch sử, văn minh của xã hội loài ngƣời. Từ thời các nền văn minh cổ đại nhƣ Ai Cập, Hy Lạp, La Mã, Trung Quốc đã có dấu tích của tài liệu TV. TV đƣợc phát triển sâu rộng hơn qua các thời kì lịch sử tiếp theo: Phong kiến, cận đại, hiện đại. Triết lí phát triển TV hiện nay: “TV có chức năng thu thập, lƣu giữ, xử lý, tổ chức, bảo quản tài liệu để bảo tồn và phổ biến vốn tài liệu đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu, thông tin và hƣởng thụ văn hóa của mọi tầng lớp nhân dân, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài, phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa, xã hội”. [59] Trong hệ thống tháp phân tầng TV, thì TV trƣờng học (TV trong các nhà trƣờng) chiếm số lƣợng lớn và có vai trò gần gũi nhất với đại đa số ngƣời đọc, đồng thời TV trƣờng học là một phần không thể thiếu của quá trình giáo dục nói chung, trong đó có quá trình giáo dục ở bậc THCS nói riêng. Các dịch vụ TV cần thiết cho việc phát triển học vấn, kiến thức thông tin, văn hóa, việc dạy, học và nghiên cứu, hỗ trợ và tăng cƣờng thực hiện các mục tiêu giáo dục. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đánh giá cao vai trò của TV trƣờng học. TV trƣờng học là một bộ phận cơ sở trọng yếu, là trung tâm sinh hoạt văn hóa, khoa học của nhà trƣờng. TV trƣờng học góp phần nâng cao chất lƣợng giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh (HS), xây dựng thói quen tự học cho HS. Mặt khác, TV trƣờng học còn tạo cơ sở từng bƣớc thay đổi phƣơng pháp dạy và học, xây dựng nếp sống văn hóa cho các thành viên trong nhà trƣờng và góp phần quan trọng trong việc giáo dục văn hóa đọc cho HS. Ngày nay với sự bùng nổ mạnh mẽ của công nghệ thông tin, HS có thể tiếp cận tri thức bằng nhiều con đƣờng và phƣơng tiện khác nhau, đặc biệt là các phƣơng tiện nghe nhìn và internet. Tuy nhiên, sách báo vẫn là con đƣờng 2 hiệu quả và có ý nghĩa nhất. Không chỉ cung cấp cho HS về mặt tri thức, lí luận mà qua đó, đọc sách còn giúp ngƣời đọc hình thành đƣợc những phẩm chất đạo đức tích cực mà các phƣơng tiện thông tin khác khó có thể mang lại đƣợc. Sách là cội nguồn của văn hóa. Một thống kê liên quan của Vụ TV (Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) cho thấy: Tỷ lệ ngƣời hoàn toàn không đọc sách chiếm tới 26% dân số hiện nay, 44% ngƣời thỉnh thoảng mới cầm một cuốn sách lên để đọc; những ngƣời thƣờng xuyên đọc sách chỉ chiếm tỷ lệ 30%. TV Quốc gia Việt Nam lại có thống kê cho thấy: Bạn đọc của TV chỉ chiếm khoảng 8 - 10% dân số. TV Quốc gia Việt Nam có khoảng 50.000 bạn đọc thƣờng xuyên; TV cấp tỉnh chỉ có khoảng 1.000 - 2.000 bạn đọc, cấp huyện 500 - 600 bạn đọc; TV hay phòng đọc cấp xã khoảng 100 - 200 bạn đọc.. Trƣớc hiện trạng văn hóa đọc đang cần đƣợc vực dậy, vì vậy triết lý phát triển TV giai đoạn sắp tới cần hƣớng đến xây dựng một xã hội đọc. Đề án phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn 2030 của Thủ tƣớng Chính phủ đã nêu rõ: Văn hóa đọc là một hoạt động văn hóa ở tầm cao của một dân tộc. Thông qua văn hóa đọc định hƣớng đọc cho mọi ngƣời dân, tuỳ thuộc vào trình độ dân trí, nghề nghiệp và điều kiện sống, có thể tiếp cận đƣợc với thông tin, tri thức phù hợp, hữu ích nhất cho cuộc sống của mình. Văn hóa đọc có thể giúp cho mỗi cá nhân có một cuộc sống trí tuệ hơn, đẹp đẽ, ý nghĩa, hạnh phúc và hài hòa hơn. Chính vì vậy, phát triển văn hóa đọc luôn là một vấn đề mang ý nghĩa chiến lƣợc của mọi quốc gia trong việc nâng cao dân trí, góp phần phát triển bền vững nguồn nhân lực – nhân tố quyết định mọi thành công. Phát triển văn hóa đọc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc góp phần đem lại cho dân tộc Việt Nam sức mạnh của trí tuệ trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nƣớc. [61]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
- -
NGUYỄN THỊ QUỲNH
QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN
HƯỚNG TỚI GIÁO DỤC “VĂN HÓA ĐỌC” CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THCS TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2019
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG viii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 4
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5
7 Những luận điểm bảo vệ 8
8 Những đóng góp của luận án 9
9 Cấu trúc luận án 9
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN HƯỚNG TỚI GIÁO DỤC “VĂN HÓA ĐỌC” CHO HỌC SINH THCS 10
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 10
1.1.1 Các nghiên cứu về hoạt động thư viện và quản lí hoạt động thư viện 10
1.1.2 Các nghiên cứu về hoạt động thư viện và quản lí hoạt động thư viện ở trường phổ thông 13
1.2 Các khái niệm cơ bản 16
1.2.1 Thư viện trường THCS và hoạt động thư viện trường THCS 16
1.2.2 Văn hóa đọc và giáo dục văn hóa đọc cho học sinh THCS 23
1.2.3 Quản lí hoạt động thư viện hướng tới giáo dục văn hóa đọc cho học sinh THCS 35
Trang 31.3 Nội dung các hoạt động thư viện trường THCS hướng tới giáo dục
“văn hóa đọc” cho học sinh 38
1.3.1 Tổ chức phục vụ bạn đọc 38
1.3.2 Tuyên truyền giới thiệu sách trong nhà trường 41
1.3.3 Tiết học thư viện ở bậc THCS 43
1.4 Nội dung quản lí hoạt động thư viện trường THCS hướng tới giáo dục “văn hóa đọc” cho học sinh 46
1.4.1 Lập kế hoạch 47
1.4.2 Tổ chức thực hiện 50
1.4.3 Chỉ đạo thực hiện 54
1.4.4 Kiểm tra đánh giá 57
1.4.5 Xây dựng môi trường và các điều kiện bảo đảm thực hiện 59
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 67
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN HƯỚNG TỚI GIÁO DỤC “VĂN HÓA ĐỌC” CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THCS TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 68
2.1 Khái quát địa bàn nghiên cứu 68
2.1.1 Một vài nét về kinh tế, giáo dục của thành phố Hà Nội 68
2.1.2 Vài nét cơ bản về giáo dục THCS của thành phố Hà Nội 69
2.2 Khái quát về tổ chức nghiên cứu thực trạng 72
2.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 72
2.2.2 Đối tượng khảo sát 72
2.2.3 Nội dung nghiên cứu 72
2.2.4 Phương pháp nghiên cứu 72
2.2.5 Tiêu chí và thang điểm đánh giá 73
2.3 Thực trạng hoạt động thư viện hướng tới giáo dục “văn hóa đọc” cho học sinh các trường THCS trên địa bàn thành phố Hà Nội 75
2.3.1 Thực trạng mức độ nhận thức về vai trò của thư viện trường THCS 75
Trang 42.3.2 Thực trạng hứng thú đọc sách của học sinh THCS 76 2.3.3 Thực trạng công tác phục vụ bạn đọc tại thư viện các trường THCS 77 2.3.4 Thực trạng công tác tuyên truyền, giới thiệu sách tại thư viện trường THCS 79 2.3.5 Thực trạng tiết học thư viện tại các trường THCS TP Hà Nội 84 2.3.6 Đánh giá chung về thực trạng các hoạt động thư viện hướng tới giáo dục văn hóa đọc cho học sinh THCS 86 2.4 Thực trạng quản lí hoạt động thư viện hướng tới giáo dục “văn hóa đọc” cho học sinh các trường THCS trên địa bàn thành phố Hà Nội 88 2.4.1 Thực trạng nhận thức của về tầm quan trọng của quản lí hoạt động thư viện hướng tới giáo dục văn hóa đọc cho học sinh tại các trường THCS 88 2.4.2 Thực trạng lập kế hoạch hoạt động thư viện hướng tới giáo dục
“văn hóa đọc” cho học sinh tại các trường THCS 90 2.4.3 Thực trạng tổ chức thực hiện hoạt động thư viện hướng tới giáo dục “văn hóa đọc” cho học sinh tại các trường THCS 96 2.4.4 Thực trạng chỉ đạo thực hiện hoạt động thư viện hướng tới giáo dục “văn hóa đọc” cho học sinh tại các trường THCS 102 2.4.5 Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động thư viện hướng tới giáo dục “văn hóa đọc” cho học sinh tại các trường THCS 108 2.4.6 Thực trạng xây dựng môi trường và các điều kiện đảm bảo cho hoạt động thư viện hướng tới giáo dục “văn hóa đọc” cho học sinh THCS 114 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 127 CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN HƯỚNG TỚI GIÁO DỤC “VĂN HÓA ĐỌC” CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG THCS TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 128 3.1 Định hướng phát triển giáo dục phổ thông trong bối cảnh đổi mới giáo dục 128
Trang 53.2 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp quản lí 130
3.3 Đề xuất các biện pháp quản lí 131
3.3.1 Tổ chức và chỉ đạo thực hiện đổi mới các hoạt động thư viện trường THCS 131
3.3.2 Tổ chức thực hiện bồi dưỡng cho nhân viên thư viện cách tổ chức có hiệu quả các hoạt động thư viện trường THCS 139
3.3.3 Huy động các lực lượng giáo dục tham gia tích cực vào các hoạt động thư viện trường THCS 144
3.3.4 Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động thư viện trường THCS 150
3.3.5 Xây dựng môi trường và các điều kiện đảm bảo thực hiện giáo dục “văn hóa đọc” cho học sinh THCS 157
3.5 Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất 164
3.6 Thử nghiệm biện pháp đề xuất 171
3.6.1 Khái quát quá trình thử nghiệm 171
3.6.2 Phân tích kết quả thử nghiệm 174
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 179
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 180
1 Kết luận 180
1.1 Về lí luận 180
1.2 Về thực tiễn 180
1.3 Về đề xuất biện pháp 181
2 Khuyến nghị 182
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 185
TÀI LIỆU THAM KHẢO 186 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: So sánh đặc điểm TV trường phổ thông với TV trường đại học 22 Bảng 1.2 Các hoạt động TV trường THCS hướng tới giáo dục “văn hóa đọc” cho HS 44 Bảng 1.3: Ma trận quản lí hoạt động TV trường THCS hướng đến giáo dục văn hóa đọc cho HS 63 Bảng 2.1: Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của GV và CBQL cấp THCS 70 Bảng 2.2 Trình độ lý luận chính trị của GV và CBQL cấp THCS 70 Bảng 2.3: Mức độ nhận thức về vai trò của TV trường THCS thành phố Hà Nội 75 Bảng 2.4: Thực trạng mức độ hứng thú đọc sách của HS THCS 76 Bảng 2.5: Mức độ đánh giá về thủ tục mượn trả sách tại TV các trường THCS thành phố Hà Nội 77 Bảng 2.7: Mức độ thực hiện công tác tuyên truyền, giới thiệu sách của thư viện trường THCS 79 Bảng 2.8: Mức độ kết quả thực hiện công tác tuyên truyền giới thiệu sách của thư viện trường THCS 81 Bảng 2.10: Mức độ hiệu quả của tiết học TV hướng tới giáo dục “văn hóa đọc” cho HS THCS 84 Bảng 2.11: Thực trạng các hoạt động thư viện hướng tới giáo dục “văn hóa đọc” cho HS THCS 86 Bảng 2.12: Mức độ nhận thức về tầm quan trọng của quản lí hoạt động thư viện hướng tới giáo dục văn hóa đọc cho học sinh tại các trường THCS 88 Bảng 2.13: Thực trạng lập kế hoạch hoạt động TV của hiệu trưởng các trường THCS hướng tới giáo dục “văn hóa đọc” cho HS 91 Bảng 2.14: Thực trạng tổ chức thực hiện hoạt động TV của hiệu trưởng các trường THCS hướng tới giáo dục “văn hóa đọc” cho HS 97
Trang 7Bảng 2.15: Thực trạng chỉ đạo thực hiện hoạt động TV của hiệu trưởng các
trường THCS hướng tới giáo dục “văn hóa đọc” cho HS 103
Bảng 2.16: Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động TV của hiệu trưởng các trường THCS hướng tới giáo dục “văn hóa đọc” cho HS 109
Bảng 2.17: Thực trạng công tác xây dựng môi trường và các điều kiện đảm bảo cho hoạt động TV của HT các trường THCS hướng tới giáo dục “văn hóa đọc” cho HS 115
Bảng 2.18: Thực trạng quản lí hoạt động TV hướng tới giáo dục văn hóa đọc cho HS THCS trên địa bàn TP Hà Nội 123
Bảng 3.1: Khung năng lực cần thiết cho viên chức thư viện tại các cơ sở giáo dục phổ thông 140
Bảng 3.2: Tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ số kiểm tra, đánh giá hoạt động thư viện hướng tới giáo dục văn hóa đọc cho học sinh THCS 151
Bảng 3.3 Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết của các biện pháp đề xuất 166
Bảng 3.4 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất 167
Bảng 3.5: Tương quan giữa mức độ cấp thiết và mức độ khả thi 169
của các biện pháp đề xuất 169
Bảng 3.6: Kế hoạch thử nghiệm 173
Bảng 3.7: Thực trạng nhu cầu đọc sách và kỹ năng đọc sách của 2 nhóm HS khối 6 trước thử nghiệm 174
Bảng 3.8: Thực trạng nhu cầu đọc sách và mức độ kỹ năng đọc sách của 2 nhóm HS sau thử nghiệm 175
Bảng 3.9: Số lượt đọc sách tại thư viện của 2 nhóm học sinh khối 6 trong tháng 3,4,5 176
Bảng 3.10: Đánh giá năng lực viết cảm nhận về nội dung cuốn sách của 2 nhóm học sinh tham gia thử nghiệm 177
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Mức độ nhận thức về vai trò của TV trường THCS thành phố Hà Nội 75 Biểu đồ 2.2: Thực trạng hứng thú đọc sách của HS THCS 76 Biểu đồ 2.3: Thực trạng thủ tục mượn trả sách tại TV các trường THCS 78 Biểu đồ 3.4: Mức độ hiệu quả của tiết học TV hướng tới giáo dục “văn hóa đọc” cho HS THCS 84 Biểu đồ 2.5: Tương quan giữa mức độ thực hiện và mức độ kết quả thực hiện công tác lập kế hoạch hoạt động TV của HT các trường THCS hướng tới giáo dục “văn hóa đọc” cho HS 96 Biểu đồ 2.6: Tương quan giữa mức độ thực hiện và mức độ kết quả thực hiện công tác tổ chức hoạt động TV của HT các trường THCS TP Hà Nội 102 Biểu đồ 2.7: Tương quan giữa mức độ thực hiện và mức độ kết quả thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động TV của HT các trường THCS TP Hà Nội 114 Biểu đồ 2.8: Thực trạng xây dựng môi trường và các điều kiện đảm bảo thực hiện các hoạt động TV hướng tới giáo dục văn hóa đọc cho HS THCS 118 Biểu đồ 2.9 Nhân viên TV chuyên trách đánh giá mức độ đáp ứng chuyên môn nghiệp vụ và nhu cầu bồi dưỡng 119 Biểu đồ 2.10 Nhân viên TV chuyên trách đánh giá mức độ đáp ứng chuyên môn nghiệp vụ và nhu cầu bồi dưỡng 120 Biểu đồ 2.11 CBQL đánh giá mức độ đáp ứng năng lực CNTT&TT và nhu cầu bồi dưỡng 120 Biểu đồ 2.12 CBQL đánh giá mức độ đáp ứng về kiến thức tổ chức, quản lý nguồn lực thông tin trong thời đại số và nhu cầu bồi dưỡng 121 Biểu đồ 2.13 Nhân viên TV chuyên trách đánh giá mức độ đáp ứng kiến thức
tổ chức, quản lý nguồn lực thông tin trong thời đại số và nhu cầu bồi dưỡng 121
Trang 9Biểu đồ 2.14 Nhân viên TV kiêm nhiệm đánh giá mức độ đáp ứng kiến thức
tổ chức, quản lý nguồn lực thông tin trong thời đại số và nhu cầu bồi dưỡng
121
Biểu đồ 2.15 CBQL đánh giá mức độ đáp ứng các kỹ năng và nhu cầu bồi dưỡng của NVTV 122
Biểu đồ 2.16 Nhân viên TV chuyên trách đánh giá mức độ đáp ứng các 122
kỹ năng và nhu cầu bồi dưỡng 122
Biểu đồ 2.17 Nhân viên TV kiêm nhiệm đánh giá mức độ đáp ứng các kỹ năng và nhu cầu bồi dưỡng 123
Biểu đồ 2.18: Thực trạng quản lí hoạt động TV hướng tới giáo dục 123
văn hóa đọc cho HS THCS trên địa bàn TP Hà Nội 123
Biểu đồ 3.1: Tương quan giữa mức độ cấp thiết và mức độ khả thi 170
của các biện pháp đề xuất 170
DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1: Mô hình về quản lí 36
Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa các chức năng quản lí 46
Sơ đồ 1.2 Quy trình ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định quản lí hoạt động thư viện 54
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Thư viện (TV) là nơi lưu trữ tri thức của nhân loại, thể hiện sự phát triển qua các giai đoạn lịch sử, văn minh của xã hội loài người Từ thời các nền văn minh cổ đại như Ai Cập, Hy Lạp, La Mã, Trung Quốc đã có dấu tích của tài liệu TV TV được phát triển sâu rộng hơn qua các thời kì lịch sử tiếp theo: Phong kiến, cận đại, hiện đại Triết lí phát triển TV hiện nay: “TV có chức năng thu thập, lưu giữ, xử lý, tổ chức, bảo quản tài liệu để bảo tồn và phổ biến vốn tài liệu đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu, thông tin và hưởng thụ văn hóa của mọi tầng lớp nhân dân, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa, xã hội” [59]
Trong hệ thống tháp phân tầng TV, thì TV trường học (TV trong các nhà trường) chiếm số lượng lớn và có vai trò gần gũi nhất với đại đa số người đọc, đồng thời TV trường học là một phần không thể thiếu của quá trình giáo dục nói chung, trong đó có quá trình giáo dục ở bậc THCS nói riêng Các dịch
vụ TV cần thiết cho việc phát triển học vấn, kiến thức thông tin, văn hóa, việc dạy, học và nghiên cứu, hỗ trợ và tăng cường thực hiện các mục tiêu giáo dục
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đánh giá cao vai trò của TV trường học
TV trường học là một bộ phận cơ sở trọng yếu, là trung tâm sinh hoạt văn hóa, khoa học của nhà trường TV trường học góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh (HS), xây dựng thói quen tự học cho HS Mặt khác, TV trường học còn tạo cơ sở từng bước thay đổi phương pháp dạy và học, xây dựng nếp sống văn hóa cho các thành viên trong nhà trường và góp phần quan trọng trong việc giáo dục văn hóa đọc cho HS
Ngày nay với sự bùng nổ mạnh mẽ của công nghệ thông tin, HS có thể tiếp cận tri thức bằng nhiều con đường và phương tiện khác nhau, đặc biệt là các phương tiện nghe nhìn và internet Tuy nhiên, sách báo vẫn là con đường
Trang 11hiệu quả và có ý nghĩa nhất Không chỉ cung cấp cho HS về mặt tri thức, lí luận mà qua đó, đọc sách còn giúp người đọc hình thành được những phẩm chất đạo đức tích cực mà các phương tiện thông tin khác khó có thể mang lại được Sách là cội nguồn của văn hóa Một thống kê liên quan của Vụ TV (Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) cho thấy: Tỷ lệ người hoàn toàn không đọc sách chiếm tới 26% dân số hiện nay, 44% người thỉnh thoảng mới cầm một cuốn sách lên để đọc; những người thường xuyên đọc sách chỉ chiếm tỷ lệ 30% TV Quốc gia Việt Nam lại có thống kê cho thấy: Bạn đọc của TV chỉ chiếm khoảng 8 - 10% dân số TV Quốc gia Việt Nam có khoảng 50.000 bạn đọc thường xuyên; TV cấp tỉnh chỉ có khoảng 1.000 - 2.000 bạn đọc, cấp huyện 500 - 600 bạn đọc; TV hay phòng đọc cấp xã khoảng 100 - 200 bạn đọc Trước hiện trạng văn hóa đọc đang cần được vực dậy, vì vậy triết lý phát triển TV giai đoạn sắp tới cần hướng đến xây dựng một xã hội đọc Đề án phát triển văn hóa đọc trong cộng đồng giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn 2030 của Thủ tướng Chính phủ đã nêu rõ: Văn hóa đọc là một hoạt động văn hóa ở tầm cao của một dân tộc Thông qua văn hóa đọc định hướng đọc cho mọi người dân, tuỳ thuộc vào trình độ dân trí, nghề nghiệp và điều kiện sống, có thể tiếp cận được với thông tin, tri thức phù hợp, hữu ích nhất cho cuộc sống của mình Văn hóa đọc có thể giúp cho mỗi cá nhân có một cuộc sống trí tuệ hơn, đẹp đẽ, ý nghĩa, hạnh phúc và hài hòa hơn Chính vì vậy, phát triển văn hóa đọc luôn là một vấn đề mang ý nghĩa chiến lược của mọi quốc gia trong việc nâng cao dân trí, góp phần phát triển bền vững nguồn nhân lực – nhân tố quyết định mọi thành công Phát triển văn hóa đọc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước góp phần đem lại cho dân tộc Việt Nam sức mạnh của trí tuệ trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước [61]
Trong những năm gần đây, số lượng thư viện trường THCS đạt chuẩn trên địa bàn thành phố Hà Nội có sự tăng lên đáng kể Đây là một tiêu chuẩn
để công nhận trường THCS đạt chuẩn quốc gia TV trường THCS đạt chuẩn
là một nguồn lực quan trọng Nếu không phát huy được vai trò của nguồn lực
Trang 12này thì là một sự “lãng phí” trong giáo dục nói chung và giáo dục bậc THCS nói riêng Thực tế hiện nay cho thấy, đa số HS các trường THCS không thích đến TV, không thích đọc sách, xu hướng đọc có ít nhiều biểu hiện lệch lạc, trong đó, thanh thiếu niên có xu hướng đọc những truyện tranh với những nội dung đơn giản, vô bổ, thậm chí thiếu lành mạnh, ngại đọc các loại sách kinh điển, lý luận, đặc biệt các sách dày, nhiều tập, sách chữ Xu hướng văn hóa nghe – nhìn đang có phần lấn lướt văn hóa đọc, thời gian dành cho lướt web, mạng xã hội, chơi game, xem truyền hình của học sinh tương đối cao
Những phân tích trên cho thấy, hoạt động thư viện trường THCS cũng góp phần quan trọng trong việc giáo dục văn hóa đọc cho học sinh Điều này đòi hỏi phải đặt ra và trả lời những câu hỏi: Các hoạt động nào của thư viện hướng tới giáo dục văn hóa đọc cho học sinh? Thực trạng các hoạt động thư viện hướng tới giáo dục văn hóa đọc cho học sinh của các trường THCS trên địa bàn thành phố Hà Nội như thế nào? Làm thế nào để quản lí có hiệu quả các hoạt động thư viện hướng tới giáo dục văn hóa đọc cho học sinh THCS?
Đó cũng là lí do của việc lựa chọn đề tài luận án: “Quản lí hoạt động thư
viện hướng tới giáo dục “văn hóa đọc” cho học sinh các trường THCS trên địa bàn thành phố Hà Nội”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực trạng quản lí hoạt động thư viện hướng tới giáo dục văn hóa đọc cho học sinh THCS trên địa bàn thành phố Hà Nội, đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động thư viện hướng tới giáo dục văn hóa đọc cho học sinh THCS, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của các nhà trường
3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động TV trường THCS
3.2 Đối tượng nghiên cứu: QL hoạt động TV trường THCS hướng tới giáo dục “văn hóa đọc” cho HS THCS
Trang 134 Giả thuyết khoa học
Hoạt động thư viện trường THCS đã phát huy được vai trò nhất định trong việc hỗ trợ các hoạt động dạy học, giáo dục trong nhà trường Tuy nhiên, việc chú trọng đến các hoạt động thư viện và quản lý các hoạt động này hướng đến giáo dục văn hóa đọc cho học sinh THCS còn nhiều khó khăn, hạn chế bởi trách nhiệm của người quản lý nhà trường, năng lực thực hiện của các thư viện viên, môi trường và các điều kiện đảm bảo giáo dục văn hóa đọc cho học sinh Nếu đề xuất được các biện pháp quản lí hoạt động thư viện phù hợp với điều kiện thực tiễn của nhà trường thì sẽ góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục văn hóa đọc cho học sinh các trường THCS trên địa bàn thành phố
Hà Nội
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
(1) Hệ thống hóa cơ sở lí luận về hoạt động TV và quản lí hoạt động
TV trường THCS hướng tới giáo dục “văn hóa đọc” cho HS
(2) Đánh giá thực trạng công tác quản lí hoạt động TV của hiệu trưởng các trường THCS trên địa bàn thành phố Hà Nội hướng tới giáo dục “văn hóa đọc” cho HS
(3) Đề xuất các biện pháp quản lí hoạt động động TV của hiệu trưởng nhằm góp phần giáo dục “văn hóa đọc” cho HS các trường THCS trên địa bàn thành phố Hà Nội
(4) Tổ chức khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi; thử nghiệm một số biện pháp đề xuất của luận án
5.2 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
5.2.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu
Hoạt động TV trường THCS bao gồm nhiều nội dung nhưng luận án tập trung nghiên cứu về quản lí các hoạt động TV hướng tới giáo dục văn hóa đọc cho HS THCS, bao gồm: Công tác phục vụ bạn đọc, các hoạt động tuyên truyền giới thiệu sách trong nhà trường, tiết học TV
Trang 145.2.2 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Luận án khảo sát 30 trường THCS trên địa bàn 5 quận/ huyện thuộc thành phố Hà Nội: Đống Đa, Hoàn Kiếm, Cầu Giấy, Nam Từ Liêm, Quốc Oai
5.2.3 Giới hạn về khách thể khảo sát
Số lượng khách thể khảo sát cụ thể như sau: Chuyên viên Phòng Giáo dục và Đào tạo: 20; Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng: 60; Nhân viên TV: 30; Giáo viên: 150; HS THCS: 300
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận
Tiếp cận hệ thống: TV trường THCS là một tập hợp các thành tố có quan hệ tương tác với nhau và nằm trong mối tương tác với các hệ thống lớn hơn như nhà trường, các tổ chức xã hội khác,… nhằm thực hiện các mục tiêu
đã định trước Luận án sử dụng tiếp cận hệ thống để xem xét quản lí hoạt động thư viện hướng tới giáo dục văn hóa đọc trong mối tương quan với các nội dung quản lí khác trong nhà trường THCS như: Quản lí hoạt động dạy học, quản lí hoạt động giáo dục, quản lí tài chính, cơ sở vật chất, quản lí nguồn nhân lực,… từ đó phát huy vai trò của cả hệ thống cùng thực hiện mục tiêu giáo dục văn hóa đọc cho học sinh THCS
Tiếp cận nội dung hoạt động: Lĩnh vực TV bao gồm nhiều vấn đề như: nguồn nhân lực, nguồn học liệu, cơ sở vật chất, các mặt hoạt động Tuy nhiên các mặt hoạt động của TV mới là yếu tố động làm nên ý nghĩa và đặc trưng của từng loại TV Để hướng tới phát triển “văn hóa đọc” cho HS các trường THCS đề tài tập trung vào các hoạt động cụ thể của TV như: công tác phục vụ bạn đọc, hoạt động tuyên truyền giới thiệu sách trong nhà trường, tiết học TV
Tiếp cận chức năng quản lí: Quản lí hoạt động TV trường THCS cần tuân thủ theo các chức năng quản lí, bao gồm 4 chức năng cơ bản: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá 4 chức năng này tạo
Trang 15thành một chu trình quản lí, đảm bảo sự thống nhất trong triển khai thực hiện quản lí hoạt động TV tại các trường THCS
Tiếp cận quá trình dạy học: Xét trong các thành tố của quá trình dạy học như mục tiêu, người dạy, người học, nội dung, phương pháp, phương tiện, kỹ thuật thì công tác TV cũng đều có liên quan mật thiết tới các thành tố trên trong vai trò hỗ trợ các điều kiện cần thiết để các thành tố của quá trình dạy học được diễn ra một cách thuận lợi và đúng quy trình
Tiếp cận logic lịch sử: Luận án sẽ tiến hành nghiên cứu thực trạng công tác TV và quản lí hoạt động TV trong các điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau Đồng thời tìm ra những mặt hạn chế và nguyên nhân, thành tựu và triển vọng của thực trạng trên cơ sở những qui luật mang tính logic của quá trình phát triển Vận dụng cách tiếp cận lịch sử logic sẽ giúp cho việc xác định các luận
cứ thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đồng thời nghiên cứu các văn bản của các cơ quan quản lí về giáo dục
và đào tạo, về hoạt động TV nói chung và các trường THCS
6.2 Phương pháp nghiên cứu
6.2.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết:
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu lí thuyết như: Hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu lí luận về quản lí hoạt động thư viện trường THCS tạo nên cơ sở lí luận của đề tài như: thư viện, thư viện trường THCS, văn hóa đọc, giáo dục văn hóa đọc cho học sinh, nội dung hoạt động thư viện hướng tới giáo dục văn hóa đọc cho học sinh THCS, quản lí hoạt động thư viện hướng tới giáo dục văn hóa đọc cho học sinh THCS của hiệu trưởng trường THCS…
6.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
* Phương pháp điều tra viết bằng phiếu hỏi
Trang 16- Mục đích: Thu thập các thông tin, thực trạng hoạt động thư viện, thực trạngnquản lí hoạt động TV tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Hà Nội thông qua phiếu trưng cầu ý kiến
- Nội dung: Điều tra bằng cách trưng cầu ý kiến của cán bộ quản lí nhà trường, nhân viên TV, giáo viên, HS về hoạt động TV, quản lí hoạt động TV tại các cơ sở giáo dục
- Cách tiến hành: Thiết kế phiếu điều tra theo các thang đo 3 mức độ, 4 mức độ Thống kê và lượng hóa kết quả thu được bằng cách cho điểm các mức độ đánh giá để tính điểm trung bình (x), và giá trị %
* Phỏng vấn, phỏng vấn sâu
Thiết kế các câu hỏi phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lí các trường THCS, chuyên viên phòng giáo dục, nhân viên TV và giáo viên Nội dung phỏng vấn là quản lí hoạt động TV của hiệu trưởng nhà trường Những ý kiến đóng góp, mong muốn, nguyện vọng về hoạt động quản lí, về nghiệp vụ TV, hoạt động đọc và nghiên cứu,
* Phương pháp quan sát
- Mục đích: Quan sát là phương pháp quan trọng nhằm thu thập thông tin về các hoạt động thực tế của TV nhà trường
- Nội dung và cách tiến hành: Quan sát và ghi chép về các hoạt động
TV diễn ra thường nhật, hoạt động định kì tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Hà Nội
* Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Nghiên cứu các bản báo cáo về lĩnh vực TV, kế hoạch hoạt động, sáng kiến kinh nghiệm về lĩnh vực TV (nếu có), video, hình ảnh các hoạt động đã
tổ chức,
* Phương pháp xin ý kiến chuyên gia
- Mục đích: Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất; lí giải các yếu tố ảnh hưởng,
- Cách tiến hành: Xin ý kiến chuyên gia qua phiếu trưng cầu ý kiến và phỏng vấn sâu
Trang 17* Phương pháp thử nghiệm sư phạm
Để chứng minh tính hợp lí, khả thi của các giải pháp đề xuất, chúng tôi
sử dụng 2 phương pháp: Khảo nghiệm (lấy ý kiến của các chuyên gia) và tiến hành thực nghiệm một vài biện pháp trong khuôn khổ thời gian, điều kiện nghiên cứu luận án tiến sĩ cho phép
6.2.3 Phương pháp bổ trợ
Sử dụng phương pháp thống kê toán học và phần mềm SPSS để xử lí các số liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận án
7 Những luận điểm bảo vệ
Luận điểm 1: Giáo dục văn hóa đọc cho học sinh THCS là một nhiệm
vụ hết sức khó khăn hiện nay Trong công tác quản lý thư viện cần có sự đổi mới các hoạt động thư viện hướng tới giáo dục văn hóa đọc cho học sinh như: Đổi mới công tác phục vụ bạn đọc, đa dạng hóa các hoạt động tuyên truyền, giới thiệu sách trong nhà trường về nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức
và hoàn thiện tiết học thư viện để thu hút học sinh tham gia, dần dần hình thành thói quen và kỹ năng đọc sách cho các em
Luận điểm 2: Quản lí hoạt động TV hướng tới giáo dục văn hóa đọc
cho học sinh THCS phải tuân theo chu trình quản lí, các chức năng quản lí giáo dục cơ bản như: Lập kế hoạch, chỉ đạo thực hiện, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá, xây dựng môi trường và các điều kiện đảm bảo thực hiện
Luận điểm 3: Các biện pháp quản lý hoạt động thư viện hướng tới giáo
dục văn hóa đọc cho học sinh THCS có mối quan hệ chặt chẽ với trách nhiệm của người quản lý nhà trường THCS và năng lực thực thi nhiệm vụ của các thư viện viên Bên cạnh đó cũng cần phải có các biện pháp để thu hút được sự tham gia tích cực, thường xuyên của các tổ chức, cá nhân có liên quan vào công tác quản lý các hoạt động thư viện để các hoạt động thư viện hướng tới giáo dục văn hóa đọc cho học sinh được diễn ra thường xuyên và hiệu quả
Trang 188 Những đóng góp của luận án
8.1 Về mặt lí luận
- Hệ thống hóa cơ sở lí luận về hoạt động TV hướng tới giáo dục văn hóa đọc ở trường THCS và quản lí hoạt động TV hướng tới giáo dục văn hóa đọc cho học sinh THCS
- Xác lập ma trận quản lí hoạt động thư viện hướng tới giáo dục văn hóa đọc cho học sinh THCS dựa trên tiếp cận chức năng quản lí và tiếp cận nội dung quản lí
- Đề xuất các biện pháp, khảo nghiệm tính cần thiết, tính khả thi và tổ chức thử nghiệm một số biện pháp quản lí hoạt động TV hướng tới giáo dục
“văn hóa đọc” cho HS các trường THCS trên địa bàn thành phố Hà Nội
9 Cấu trúc luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động thư viện hướng tới giáo
dục “văn hóa đọc” cho học sinh THCS
Chương 2: Thực trạng quản lí hoạt động thư viện hướng tới giáo dục
“văn hóa đọc” cho học sinh các trường THCS trên địa bàn thành phố Hà Nội
Chương 3: Biện pháp quản lí hoạt động thư viện hướng tới giáo dục
“văn hóa đọc” cho học sinh các trường THCS trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 19CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN
HƯỚNG TỚI GIÁO DỤC “VĂN HÓA ĐỌC” CHO HỌC SINH THCS
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu về hoạt động thư viện và quản lí hoạt động thư viện
1.1.1.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Chuẩn hóa các hoạt động thư viện cũng là một vấn đề được các tác giả quan tâm Tiêu biểu như: Karen Coyle (2005) đã giới thiệu khái quát về các tiêu chuẩn thư viện và các tiêu chuẩn phi thư viện được xây dựng và áp dụng trong thư viện ở Hoa Kỳ trong bài “Thư viện và Tiêu chuẩn” (Libraries and Standards) Bài biết đã phân tích vai trò của Hội Thư viện Hoa kỳ (ALA) và
Tổ chức Tiêu chuẩn Thông tin Quốc gia (NISO) Hoa Kỳ trong việc xây dựng
và phát triển các tiêu chuẩn thư viện ở Hoa Kỳ và những vấn đề đặt ra đó là:
có những tiêu chuẩn áp dụng trong môi trường thư viện mà không nằm trong phạm vi hoạt động tiêu chuẩn của NISO, việc xây dựng tiêu chuẩn của NISO luôn chậm chạm và không bắt kịp với tốc độ phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin hiện nay [80]
Jurgen Krause (2003) trong bài tham luận “Chuẩn hóa, sự không đồng nhất và chất lượng của việc phân tích nội dung: Mâu thuẫn chính yếu của các thư viện số và giải pháp” trình bày tại Đại hội Thông tin và Thư viện thế giới IFLA 69 ở Berlin (Đức), đã phân tích ảnh hưởng của sự phát triển về mặt công nghệ, những nhu cầu mới mẻ của người dùng tin đối với những thay đổi mang tính hệ quả trong việc định hình việc xử lí thông tin Tham luận đã khẳng định vai trò của chuẩn hóa trong việc xử lý nội dung tài liệu đảm bảo cho thư viện giữ vai trò một cơ quan cung cấp thông tin đa tiêu điểm trong môi trường web [86]
Marketing trong hoạt động thông tin – thư viện cũng là một vấn đề được nhiều tác gải quan tâm Trong đó có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu
Trang 20như: tác giả Kavulya J.M (2004) với nghiên cứu “Marketing các dịch vụ TV: Một nghiên cứu trường hợp của các TV đại học được chọn lọc tại Kenya”, tác giả Koontz.C (2004) với nghiên cứu “Marketing hỗn hợp: Công thức 4P cho
sự thỏa mãn của khách hàng” [86], tác giả Spalding.H.H, Wang.J với nghiên cứu (2006) “Những thách thức và cơ hội của marketing TV đại học tại Mỹ - kinh nghiệm của các TV đại học Mỹ với việc ứng dụng toàn cầu” [94]; tác giả Mu.C (2007) với nghiên cứu “Marketing các nguồn của TV đại học và dịch
vụ thông tin tới sinh viên ngoại quốc từ Châu Á” [90]; “Làm cho TV đại học
ở Kenya là điểm đến của cộng đồng người dùng tin” (2010) của Makori E.O [88] các vấn đề marketing hoạt động thư viện chủ yếu được lồng ghép trong các nghiên cứu về hoạt động makerting của các cơ quan nhưng đã khẳng định việc áp dụng marketing trong hoạt động của thư viện sẽ giúp thư viện đạt được hiệu quả cao
1.1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Về chuẩn hóa hoạt động TV nói chung phải kể đến nghiên cứu của tác giả Vũ Dương Thúy Ngà cùng cộng sự “Tăng cường việc chuẩn hóa trong hoạt động thư viện ở Việt Nam” Đề tài đã tập trung vào việc nghiên cứu và đánh giá thực trạng chuẩn hóa với việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ và hoạt động tiêu chuẩn hóa trong các thư viện Việt Nam hiện nay, đề xuất các giải pháp cụ thể để có thể đảm bảo và tăng cường sự chuẩn hóa trong hoạt động thư viện Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động này Luận án với đề tài: “Nghiên cứu hoàn thiện việc chuẩn hóa trong xử lý tài liệu tại các TV Việt Nam” của tác giả Vũ Dương Thúy Ngà [37] đã trình bày những vấn đề chung về chuẩn hóa trong xử lí tài liệu Nghiên cứu thực trạng
và đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường chuẩn hóa trong xử lý tài liệu tại các TV Việt Nam
Năm 2003, Trung tâm thông tin khoa học công nghệ quốc gia đã tổ chức cuộc hội thảo “Công tác xây dựng tiêu chuẩn hóa trong hoạt động thông tin – tư liệu”; năm 2009, tại cuộc Hội thảo “Công tác xây dựng chuẩn nghiệp
Trang 21vụ và tiêu chuẩn tại các TV ở Việt Nam”; năm 2011, với sự tài trợ của Tổ chức Từ thiện Đại Tây Dương, Viện Đại học Công nghệ Hoàng gia Melbourne (RMIT) đã tổ chức hội thảo “Hệ thống và tiêu chuẩn cho Việt Nam” Tại đó, nhiều tham luận đã đề cập đến những vấn đề chung và thực tiễn công tác tiêu chuẩn hóa tại một số TV và cơ quan thông tin cụ thể
Nghiên cứu của tác giả Phan Huy Quế (2003) cùng cộng sự “Nghiên cứu áp dụng các chuẩn lưu trữ và trao đổi thông tin trong hệ thống thông tin khoa học và công nghệ quốc gia” [48] đã phân tích, nêu lên thực trạng và đưa
ra các giải pháp đẩy mạnh chuẩn hóa trong hoạt động thông tin tư liệu trong
đó có TV
Vào khoảng những năm 90 của thế kỷ XX, các nhà TV học Việt Nam bắt đầu quan tâm đến vấn đề marketing Vào tháng 8/1995, lần đầu tiên hội thảo “Marketing trong hoạt động thông tin – TV” được tổ chức tại Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Bên cạnh đó có các công trình nghiên cứu như: “Quản lí mô hình TV hiện đại tại trường Đại học Cần Thơ phục vụ mục tiêu đào tạo khoa học công nghệ” của tác giả Huỳnh Thị Trang (Kỷ yếu Hội nghị TV các trường Đại học và Cao đẳng lần thứ nhất, Đà Nẵng, tháng 10 năm 2008) [60] mục đích của công trình này là nghiên cứu dịch vụ cung cấp thông tin tại các trung tâm thông tin TV trường đại học để thấy được giá trị và ý nghĩa mà dịch vụ này mang lại cho bạn đọc từ đó đề xuất một số biện pháp Luận án với đề tài “Nghiên cứu ứng dụng marketing hỗn hợp trong hoạt động thông tin – TV ở các trường đại học Việt Nam” (2012) của tác giả Bùi Thanh Thủy [64 đã chỉ ra được các công cụ của maketing hỗn hợp (7P: Sản phẩm (product); giá (price); địa điểm (place); truyền thông (promotion); con người (people); quy trình (process); môi trường dịch vụ (physical)) và đề xuất các biện pháp, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng khi áp dụng makerting hỗn hợp trong hoạt động thông tin – TV ở các trường đại học Việt Nam từ kinh nghiệm của nước ngoài
Trang 22Bên cạnh các lĩnh vực nghiên cứu trên, quản lí nguồn nhân sự trong hoạt động thư viện cũng được một số tác giả quan tâm Có thể kể đến các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này như: “Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực trong hoạt động của hệ thống TV công cộng ở nước ta” là đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2011 do Trần Thị Minh Nguyệt làm chủ nhiệm [41]; “Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực các TV công cộng đồng bằng Sông Cửu Long”, đề tài nghiên cứu cấp Bộ (2008) do Nguyễn Thị Thư làm chủ nhiệm [62] Đây là những công trình nghiên cứu hiếm hoi mở đường trong lĩnh vực nguồn nhân lực TV, đặt nền tảng cho những người đi sau tiếp tục khai phá
1.1.2 Các nghiên cứu về hoạt động thư viện và quản lí hoạt động thư viện ở trường phổ thông
1.1.2.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
Do sự tác động của khoa học công nghệ, trong một xã hội biến đổi không ngừng, vai trò của giáo viên TV cũng thay đổi không ngừng, có các công trình nghiên cứu về vấn đề này như: tác giả Haycock có bài “Nghiên cứu nghề giáo viên TV và thể chế của sự thay đổi” [86] đã nói lên vai trò của truyền thông trong một môi trường mới là một nghiên cứu của tác giả Năm 2002, tác giả Lance có công trình “Bằng chứng quyền lực: Nghiên cứu gần đây về tác động của TV trường học” [83], tác giả Boaden có công trình “Nước Úc như một xã hội thông tin: Vai trò của mạng thông tin TV” [78]
Trong lĩnh vực quản lí phát triển nguồn nhân lực TV trường phổ thông,
có thể tìm thấy những công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài như:
“TV trường học Úc” của tác giả Nimon [92] là công trình phân tích khái quát
về các quản lí phát triển giáo viên TV tại một số quốc gia Các công trình:
“Quản lí nguồn nhân lực trong các TV” của tác giả Gisela [80] đã đề cập đến vai trò của công tác phát triển nguồn nhân lực thư viện Đây là những công trình viết về công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực TV ở một số nước ngoài
Trang 23Một số công trình nghiên cứu về vai trò của TV đối với kết quả học tập của HS như: “Tác động của các hoạt động TV đến kết quả học tập và việc học” (C.Wavell & L Coles, 2001); “Công trình nghiên cứu việc học tập của
HS thông qua các trung tâm thông tin TV của các trường học ở Wisconsin” (EG Smith, 2006); “Tác động của TV và các trung tâm thông tin trong trường học ở Pennsylvania” (M.J Rodney & C.H Pencell, 2000); công trình nghiên cứu về tác động của TV trường học tới kết quả học tập của HS (M Lonsdalh, 2003)… Các công trình nghiên cứu kể trên đã cho thấy TV trường có mối liên
hệ chặt chẽ với kết quả học tập và những kỹ năng, năng lực cá nhân của HS Các TV trường học có thể có những tác động tích cực tới kết quả học tập ở trường mà cụ thể là ở cấp Tiểu học và cấp THCS; đồng thời cho thấy được các TV trường học có thể có những tác động tích cực đến kết quả học tập của
HS theo nhiều hướng Trong đó, hướng tới nền giáo dục chuẩn cần tập trung vào những gì HS học (năng lực) hơn là những gì giáo viên giảng dạy (lượng kiến thức), các nhân viên TV trường chỉ có một vị trí duy nhất là giúp HS phát triển kỹ năng tìm kiếm thông tin để phục vụ cho môn học [68]
1.1.2.2 Nghiên cứu trong nước
Việt Nam thực hiện quản lí theo chuẩn trong lĩnh vực thư viện bắt đầu
từ năm 2003 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành hệ thống các văn bản pháp quy về TV các nhà trường phổ thông đạt chuẩn: Quyết định số 01/2003 QĐ-BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về Tiêu chuẩn TV trường phổ thông ban hành ngày 02/01/2003 và Quyết định số 01 2004 QĐ-BGD&ĐT ngày 29/01/2004 về Sửa đổi bổ sung Quyết định số 01 2003 QĐ-BGD&ĐT Trong
đó quy định rõ 5 tiêu chí để TV trong các nhà trường phổ thông đạt chuẩn: Tổ chức nhà trường; cán bộ quản lí, giáo viên và nhân viên; chất lượng giáo dục;
cơ sở vật chất thiết bị; công tác xã hội hóa giáo dục Như vậy, trường chuẩn quốc gia nhằm hướng tới đảm bảo các điều kiện đầy đủ, hiện đại, đồng bộ cho hoạt động dạy và học trong các nhà trường trong thời đại toàn cầu hóa, quốc
tế hóa hiện nay [6]
Trang 24Các công trình nghiên cứu về quản lí nhân sự trong lĩnh vực thư viện phổ thông có thể kể đến như: “Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực TV trường phổ thông vùng đồng bằng Sông Cửu Long” tác giả Dương Cẩm Vân [68] đã bàn đến vai trò của đội ngũ nhân viên TV trong nhà trường phổ thông, các biện pháp để đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm cho đội ngũ nhân viên TV trường phổ thông đối với yêu cầu thực tiễn giáo dục của khu vực đồng bằng Sông Cửu Long trong giai đoạn hiện nay
Đề tài cấp viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (2017) “Xây dựng
chương trình bồi dưỡng để cấp chứng chỉ cho viên chức kiêm nhiệm công tác
TV các cơ sở giáo dục phổ thông” do tác giả Vương Thanh Hương làm chủ
nhiệm đã đề cập đến năng lực cần có của nhân viên TV phổ thông, khảo sát thực trạng năng lực của nhân viên TV các nhà trường trong việc đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay, từ đó đề xuất chương trình bồi dưỡng và các biện pháp thực hiện bồi dưỡng để cấp chứng chỉ cho viên chức kiêm nhiệm công tác TV tại các cơ sở giáo dục phổ thông [25]
“Thư viện trường phổ thông với việc nâng cao chất lượng giáo dục trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Trần Thị Minh Nguyệt (2006) [38],
“Thư viện trường học bang Wisconsin với việc học tập của học sinh” của tác giả Trần Mỹ Dung (2009)[ 11]… Các tác giả bài viết nói lên vai trò của thư viện đối với các hoạt động giáo dục trong nhà trường, sự liên hệ giữa TV trường học và TV công cộng, cũng như vai trò của nó trong việc hình thành thói quen đọc sách cho HS
Kết luận: Nhìn chung, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam đã xây dựng được những lý luận cơ bản về quản lý và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thư viện, quản lí thư viện theo chuẩn, maketing và nâng cao chất lượng dịch vụ thư viện Trong đó cũng đã nhấn mạnh đến vai trò của các nhân viên thư viện trong công tác phục vụ nhằm đảm bảo chất lượng của hoạt động thư viện Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu tiếp cận hoạt động thư viện ở các vấn đề, khía cạnh riêng, nghiên cứu
Trang 25nhiều ở hệ thống thư viện công cộng, thư viện các trường đại học mà chưa quan tâm nhiều đến hệ thống lí luận về quản lí hoạt động thư viện ở trường phổ thông Đối tượng nghiên cứu còn tập trung nhiều đến chuyên môn nghiệp vụ thư viện, ít quan tâm đến nghiên cứu lí luận về các hoạt động thư viện và quản
lí hoạt động thư viện hướng tới giáo dục văn hóa đọc cho học sinh THCS Đặc biệt các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động thư viện nhằm giáo dục văn hóa đọc cho người học ở các nhà trường tại Việt Nam là chưa có Trên cơ
sở những nghiên cứu về quản lý hoạt động thư viện nói chung và quản lý hoạt động thư viện tại trường phổ thông nói riêng của các tác giả trong và ngoài nước, chúng tôi sẽ làm rõ quản lý hoạt động thư viện hướng tới giáo dục văn hóa đọc cho học sinh tại các nhà trường THCS theo tiếp cận các chức năng của hoạt động quản lý từ lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo đến kiểm tra, đánh giá Với hướng nghiên cứu này, đề tài sẽ làm rõ vai trò của công tác quản lý hoạt động thư viện, vai trò, trách nhiệm của các lực lượng giáo dục tham gia vào hoạt động quản lý hoạt động thư viện hướng tới giáo dục văn hóa đọc cho học sinh THCS trong bối cảnh xây dựng một nền văn hóa đọc ổn định và phát triển cho học sinh các nhà trường THCS trên địa bàn thành phố Hà Nội
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Thư viện trường THCS và hoạt động thư viện trường THCS
1.2.1.1 Thư viện
Thuật ngữ “Thư viện” xuất hiện từ chữ Hy Lạp cổ “bibliotheka” là một chữ ghép gồm hai chữ “biblio” có nghĩa là sách và “theka” có nghĩa là bảo quản Vậy theo nghĩa đen TV là nơi bảo quản sách
Theo từ điển Tiếng Việt, thư viện là cơ sở chuyên tàng trữ, giữ gìn sách
bó, tài liệu và tạo mọi điều kiện cho độc giả đến đọc
Năm 1970, UNESCO đề nghị chuẩn hóa quốc tế trong lĩnh vực thống
kê TV đã đưa ra định nghĩa về thư viện như sau: “Thư viện, không phụ thuộc
vào tên gọi của nó, là bất cứ bộ sưu tập có tổ chức nào của sách, ấn phẩm định kỳ hoặc các tài liệu khác, kể cả đồ họa, nghe – nhìn, và nhân viên phục
Trang 26vụ có trách nhiệm tổ chức cho bạn đọc sử dụng các tài liệu đó nhằm mục đích thông tin, nghiên cứu khoa học, giáo dục hoặc giải trí” [67]
Như vậy, trong thời đại cuộc cách mạng công nghệ đang diễn ra mạnh
mẽ, sự nghiệp thư viện đã chuyển từ bảo quản và lưu trữ tài liệu sang tìm
kiếm và giao lưu thông tin Có thể hiểu định nghĩa thư viện như sau: Thư viện
là kho sưu tập sách, báo, tạp chí, tài liệu đa phương tiện, cơ sở dữ liệu và internet… nhằm hỗ trợ bạn đọc trong việc tìm kiếm, sử dụng tài liệu để nghiên cứu, giáo dục, giao lưu thông tin và giải trí
1.2.1.2 Thư viện trường THCS
Trường THCS thuộc bậc giáo dục phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam Theo quy định, giáo dục trung học cơ sở được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp sáu đến lớp chín HS vào học lớp sáu phải hoàn thành chương trình tiểu học, có tuổi là mười một tuổi Mục tiêu của giáo dục THCS nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ THCS và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động [7]
Theo Quy chế về tổ chức hoạt động thư viện trường phổ thông (1998)
[5], thư viện trường phổ thông là một bộ phận cơ sở vật chất trọng yếu, trung tâm sinh hoạt văn hoá và khoa học của nhà trường Thư viện góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên, bồi dưỡng kiến thức cơ bản về khoa học thư viện và xây dựng thói quen tự học, tự nghiên cứu cho học sinh tạo cơ
sở từng bước thay đổi phương pháp giảng dạy và học, đồng thời thư viện tham gia tích cực vào việc bồi dưỡng tư tưởng chính trị xây dựng nếp sống văn hoá mới cho các thành viên của nhà trường
Trên cơ sở khái niệm thư viện, có thể định nghĩa thư viện trường THCS
như sau:
Thư viện trường THCS là kho sưu tập sách, báo, tạp chí, tài liệu đa phương tiện, cơ sở dữ liệu và internet… nhằm hỗ trợ học sinh, giáo viên,
Trang 27nhân viên, cán bộ quản lí của nhà trường tìm kiếm, sử dụng tài liệu để nghiên cứu, giảng dạy, học tập, giao lưu thông tin và giải trí góp phần thực hiện các mục tiêu giáo dục của nhà trường THCS
Thư viện trường THCS phải được đặt tại nơi thuận tiện trong trường, với diện tích thích hợp Cơ sở vật chất của thư viện bao gồm:
1 Phòng đọc và cho mượn: chia làm 2 khu vực dành riêng hoặc có phòng đọc riêng cho học sinh, giáo viên, có bàn ghế ánh sáng, tủ mục lục, bảng giới thiệu hướng dẫn tra cứu
2 Kho sách: là phòng kiên cố, cao ráo, sách báo được bảo quản tốt, sắp xếp khoa học Tỉ lệ số sách trong kho phục vụ cấp, bậc học cho phù hợp chiếm đa số
3 Trang thiết bị chuyên dùng phải đầy đủ và được bố trí hợp lý theo nghiệp vụ quản lý thư viện (giá sách, tủ, bàn ghế, thư mục, máy vi tính, các phương tiện nghe nhìn, ), từng bước phải được hiện đại hoá theo xu thế phát triển chung [5]
Thư viện trường THCS đạt chuẩn là một tiêu chí quan trọng để công nhận trường THCS đạt chuẩn quốc gia, với 5 tiêu chuẩn cụ thể:
- Tiêu chuẩn 1: Về sách, báo, tạp chí, bản đồ, tranh ảnh giáo dục, băng đĩa giáo khoa đầy đủ theo từng bộ phận, chủng loại, đủ số lượng, đạt tiêu chuẩn về sách tham khảo, các loại báo, tạp chí khác phù hợp với lứa tuổi, nhu cầu học tập của HS
- Tiêu chuẩn 2: Về cơ sở vật chất các TV đảm bảo diện tích tối thiểu (50m2 cả phòng đọc và phòng kho), có phòng đọc và phòng kho riêng, có đầy
đủ điều kiện cho TV hoạt động; trang thiết bị chuyên dùng có đầy đủ giá, tủ chuyên dùng, TV các trường đạt chuẩn quốc gia xây dựng mới hoặc tu sửa có quy mô đạt chuẩn quốc gia; các TV đều có nối mạng internet để tăng cường cập nhật thông tin, tư liệu hỗ trợ cho việc dạy và học
- Tiêu chuẩn 3: Về nghiệp vụ, có mục lục treo tường, mục lục chủ đề phục vụ chuyên số nội dung dạy và học của nhà trường, có đầy đủ biểu đồ
Trang 28theo dõi tình hình bạn đọc, bảng biểu đẹp, chuẩn bị chu đáo, khoa học, tổ chức biên soạn được thư mục theo các chuyên đề
- Tiêu chuẩn 4: Về tổ chức và hoạt động, xây dựng được quy chế tổ chức hoạt động, kế hoạch, kinh phí hoạt động khoa học, hợp lý
- Tiêu chuẩn 5: Về công tác quản lí TV, các trường căn cứ vào quy định của Bộ GD&ĐT xây dựng kế hoạch phát triển TV đạt chuẩn theo quy định, huy động được các nguồn kinh phí trong và ngoài nhà trường để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, sách báo cho TV theo hướng đạt chuẩn [6]
1.2.1.3 Hoạt động thư viện trường THCS
Theo Pháp lệnh thư viện, các hoạt động do thư viện tổ chức theo quy định, bao gồm:
- Hoạt động phát triển thư viện; hoạt động về chuyên môn, nghiệp vụ thư viện: sưu tầm, lựa chọn và xử lý tài liệu; tổ chức luân chuyển sách, báo; tổ chức các hội thảo khoa học về lĩnh vực thư viện
- Hoạt động tuyên truyền, giới thiệu về thư viện, tài liệu và các dịch vụ thư viện nhằm thu hút người đọc tới sử dụng thư viện
- Xây dựng phong trào đọc sách, báo trong nhân dân; tổ chức hội nghị bạn đọc, các câu lạc bộ bạn đọc, xây dựng đội ngũ cộng tác viên của thư viện [49]
Các hoạt động của thư viện trường THCS được quy định tại Quy chế về
tổ chức hoạt động thư viện trường phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban
hành năm 1998 [5], cụ thể:
1 Cung ứng cho giáo viên và học sinh đầy đủ các loại sách giáo khoa, sách tham khảo, sách nghiệp vụ, các loại từ điển, tác phẩm kinh điển để tra cứu, và các sách báo cần thiết khác, nhằm góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập và tự bồi dưỡng thường xuyên của giáo viên và học sinh
2 Sưu tầm và giới thiệu rộng rãi trong cán bộ, giáo viên và học sinh những sách báo cần thiết của Đảng, Nhà nước và của ngành Giáo dục và Đào tạo, phục vụ giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học giáo dục, bổ sung kiến
Trang 29thức của các bộ môn khoa học, góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
3 Tổ chức thu hút toàn thể giáo viên và học sinh tham gia sinh hoạt thư viện thông qua các hoạt động phù hợp với chương trình và kế hoạch dạy học, tìm hiểu nhu cầu của giáo viên và học sinh, giúp họ chọn sách, đọc sách có hệ thống, biết cách sử dụng bộ máy tra cứu sách, tra cứu thư mục nhằm sử dụng triệt để kho sách, nhất là các sách nghiệp vụ và sách tham khảo
4 Phối hợp hoạt động với các thư viện trong ngành (thư viện các viện nghiên cứu giáo dục, các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp)
và các thư viện địa phương (thư viện xã, phường, thị trấn, quận, huyện, thị xã, tỉnh, thành phố) để chủ động khai thác, sử dụng vốn sách báo, trang thiết bị chuyên dùng, giúp đỡ kinh nghiệm, tổ chức hoạt động đào tạo và bồi dưỡng
về nghiệp vụ; liên hệ với các cơ quan phát hành trong và ngoài ngành, các tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội, các nhà tài trợ nhằm huy động các nguồn vốn kinh phí ngoài ngân sách và các loại sách báo, tạp chí, tư liệu để đảm bảo nguồn vốn bổ sung, làm phong phú nội dung kho sách và tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật thư viện
5 Tổ chức quản lý theo đúng nghiệp vụ thư viện, có sổ sách quản lý chặt chẽ, bảo quản giữ gìn sách báo tránh hư hỏng, mất mát, thường xuyên thanh lọc sách báo cũ, rách nát, lạc hậu, kịp thời bổ sung các loại sách, tài liệu mới (kể cả băng hình, băng tiếng, đĩa CD ROM, tranh ảnh và bản đồ giáo dục); sử dụng và quản lý chặt chẽ kinh phí thư viện thu được theo đúng mục đích; có kế hoạch chủ động đón đầu tiếp thu sự phát triển của mạng lưới thông tin – thư viện điện tử, từng bước đưa các trang thiết bị hiện đại phục vụ công tác quản lý thư viện phục vụ bạn đọc
Các hoạt động của TV trường THCS có vai trò hỗ trợ và góp phần thực hiện các mục tiêu giáo dục của nhà trường THCS, trong đó có mục tiêu giáo dục “văn hóa đọc” cho HS, do đó luận án tập trung vào các hoạt động hướng tới thỏa mãn mức độ hài lòng của người đọc (ở đây là học sinh THCS), thu
Trang 30hút, lôi cuốn người đọc, mặt khác còn bao gồm các hoạt động tăng cường vốn tài liệu, phổ biến rộng rãi vốn tài liệu để giáo dục thói quen đọc sách, kỹ năng đọc sách của HS THCS
Trên cơ sở khái niệm thư viện và thư viện trường THCS, khái niệm
hoạt động thư viện trường THCS có thể hiểu như sau:
Hoạt động thư viện trường THCS là các hoạt động cụ thể được tổ chức theo quy chế về tổ chức hoạt động thư viện, được thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp bởi nhân viên thư viện nhằm phục vụ có hiệu quả nhu cầu tìm kiếm,
sử dụng tài liệu để nghiên cứu, giảng dạy, học tập, giao lưu thông tin và giải trí của học sinh, giáo viên, nhân viên, cán bộ quản lí tại trường THCS
* Phân biệt TV phổ thông với các loại hình TV khác
- TV công cộng: TV công cộng là TV có vốn tài liệu tổng hợp thuộc mọi ngành, lĩnh vực khoa học, phục vụ rộng rãi mọi đối tượng bạn đọc TV công cộng bao gồm TV Quốc gia Việt Nam và TV do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập (sau đây gọi là TV cấp tỉnh), TV
do Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh thành lập (sau đây gọi là TV cấp huyện), TV do Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn thành lập (sau đây gọi là TV cấp xã) TV Quốc gia Việt Nam chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Văn hóa- Thông tin TV cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã chịu sự chỉ đạo trực tiếp của cơ quan văn hóa - thông tin cùng cấp [23]
- TV đa ngành, chuyên ngành: TV đa ngành là TV có vốn tài liệu thuộc nhiều ngành, lĩnh vực khoa học khác nhau TV chuyên ngành là TV có vốn tài liệu chuyên sâu về một ngành, lĩnh vực khoa học cụ thể TV đa ngành, chuyên ngành tập trung phục vụ đối tượng bạn đọc là cán bộ, công chức, viên chức chuyên môn thuộc cơ quan, tổ chức chủ quản, ngoài ra còn có thể phục vụ các đối tượng bạn đọc khác phù hợp với quy chế, nội quy TV TV đa ngành, chuyên ngành do cơ quan nhà nước, viện, trung tâm nghiên cứu khoa học, nhà trường và cơ sở giáo dục khác, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức
Trang 31kinh tế, đơn vị sự nghiệp thành lập và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của cơ quan, tổ chức đó [23]
Như vậy, TV nhà trường THCS nằm trong hệ thống TV phổ thông, chịu sự quản lí trực tiếp của hiệu trưởng nhà trường và thực hiện các nhiệm
vụ hỗ trợ các hoạt động dạy học, giáo dục trong nhà trường cũng như thực hiện mục tiêu giáo dục văn hóa đọc cho học sinh THCS
- So sánh đặc điểm TV trường phổ thông với TV trường đại học:
Bảng 1.1: So sánh đặc điểm TV trường phổ thông với TV trường đại học
Có thể là nhân viên
TV chuyên trách hoặc
là kiêm nhiệm và ít được đào tạo thường xuyên về nghiệp vụ,
kỹ năng
Được đi đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên về nghiệp vụ
vụ, bổ sung
- Cơ sở vật chất là những phòng học được chỉnh sửa lại, phòng đọc hẹp hoặc không có (TV đạt chuẩn theo quy định
có diện tích trên 50m2)
- Chưa có hệ thống tra cứu trên máy, chủ yếu thông qua giới thiệu sách mới của GV, CBTV
- Cơ sở vật chất phù hợp với quy mô (phòng đọc có đủ chỗ cho sinh viên ngồi)
- Được đầu tư trang thiết bị hiện đại (máy tính tra cứu, phòng nghe nhìn)
3 Ngân
sách,
kinh phí
Được cấp kinh phí bổ sung sách từ
Không chủ động khâu
bổ sung sách, chủ yếu được cấp trên cấp sách
Được bổ sung từ nhiều nguồn khác nhau như trao đổi,
Trang 32ngân sách nhà nước hoặc nguồn chi của nhà trường
cho HS từ nguồn ngân sách nhà nước hàng năm
ngân sách trường, các cá nhân, tổ chức tặng, lưu chiểu luận văn, luận án, các công trình nghiên cứu khóa học của cán bộ và sinh viên
4 Độc giả Cùng chung
đối tượng phục vụ đó là
HS, sinh viên, cán bộ
Chủ yếu là HS, cán bộ, giáo viên trong nhà trường
Đa dạng, số lượng đông
Đang được số hóa
và phát triển cơ sở
dữ liệu điện tử Dữ liệu được lưu trữ bằng phần mềm, đang dạng, phục vụ cho nhiều ngành đào tạo khác nhau
1.2.2 Văn hóa đọc và giáo dục văn hóa đọc cho học sinh THCS
1.2.2.1 Văn hóa đọc
Văn hóa đọc được phát biểu theo nhiều cách khác nhau, nhưng nhìn chung có thể thấy văn hóa đọc được tiếp cận dưới hai góc độ: văn hóa đọc như một lớp văn hóa của cộng đồng dân cư trong một giai đoạn nhất định và văn hóa đọc như một dạng văn hóa hành vi của mỗi người trong xã hội
Theo tác giả Nguyễn Hữu Viêm [75], văn hóa đọc có hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, văn hóa đọc là ứng xử đọc, giá trị đọc và chuẩn mực đọc của cộng đồng xã hội, các cơ quan quản lí nhà nước và các nhà quản lí, các thành viên trong xã hội Ứng xử đọc, giá trị đọc, chuẩn mực đọc của các nhà quản lí và cơ quan quản lí nhà nước là chính sách, đường lối,
Trang 33kế hoạch, biện pháp cụ thể nhằm phát triển nền văn hoá đọc quốc gia Các hoạt động này đều nhằm tạo ra hành lang pháp lý thúc đẩy, phát triển tài liệu đọc có giá trị, chất lượng, phong phú, đa dạng và lành mạnh, đồng thời tuyên truyền, hướng dẫn đọc chúng cho mọi người đọc khác nhau, không phân biệt giàu nghèo, trình độ cao hay thấp, ở đô thị hay vùng nông thôn hẻo lánh đều
có khả năng ngang nhau tiếp cận chúng (thông qua sự phát triển các loại hình
TV, các loại cửa hàng sách) Ở nghĩa hẹp, đó là văn hoá đọc của mỗi cá nhân trong xã hội, được thể hiện qua những yếu tố cơ bản như: thói quen đọc, sở thích đọc và kỹ năng đọc của họ Thói quen đọc được gây dựng, nuôi dưỡng
và định hình trong suốt cuộc đời Nếu không được nuôi dưỡng chu đáo, hoặc
bị áp lực xã hội như công việc căng thẳng, chiếm hết thời gian trong ngày, bị các phương tiện nghe nhìn cuốn hút , thói quen đọc cũng có thể bị mai một, mất đi Sở thích đọc được hình thành trên nền tảng giáo dục (trình độ văn hoá) và những phẩm chất của từng cá nhân, thậm chí còn phụ thuộc cả vào nghề nghiệp của từng người Sở thích đọc của mỗi người không giống nhau tạo ra sự phong phú, đa dạng, giàu màu sắc cho văn hoá đọc Còn kỹ năng đọc
là sự thể hiện tổ hợp những thao tác tư duy thành thói quen trong ứng xử đọc với tinh thần đọc có phê phán và sáng tạo
Một số tác giả khác cũng quy văn hóa đọc thành các yếu tố liên quan với nhau tạo nên hiệu quả của việc tiếp nhận thông tin tài liệu
Tác giả Chu Hảo quan niệm: văn hóa đọc được hình thành từ ba yếu tố cốt lõi: thói quen đọc, khả năng đọc và cách đọc.[34]
Tác giả Trần Thị Minh Nguyệt đưa ra quan điểm: văn hóa đọc xem xét
ở cấp độ cá nhân bao hàm khía cạnh định hướng của chủ thể tới đối tượng đọc (nhu cầu đọc), khả năng, trình độ lĩnh hội thông tin (kỹ năng đọc), cả ở phản ứng với đối tượng đọc (ứng xử đọc) [42]
Tác giả Vũ Dương Thúy Ngà cho rằng văn hóa đọc là một hoạt động của con người, thông qua việc đọc chủ thể tiếp nhận thông tin và tri thức Việc tiếp nhận này sẽ đạt được thông qua “sự tích hợp của các yếu tố: nhu cầu
Trang 34đọc, thói quen đọc và được biểu hiện qua hành vi, tập quán đọc của cá nhân
và cộng đồng” [38]
Từ các quan điểm trên cho thấy, dù được phát biểu dưới những cách thức khác nhau, văn hóa đọc đều được nhìn nhận như một thuộc tính sáng tạo của con người trong quá trình đọc
Sự khác nhau trong các quan điểm trên thể hiện ở chỗ, có một số tác giả muốn nhấn mạnh đến trình độ đọc thể hiện ở nhu cầu đọc, một số tác giả khác muốn nhấn mạnh ở kỹ năng đọc; một số tác giả coi văn hóa đọc là tổng hợp của nhu cầu đọc, kỹ năng đọc và ứng xử với tài liệu
Dưới góc độ thực hiện mục tiêu giáo dục văn hóa đọc cho học sinh THCS thông qua các hoạt động thư viện nhà trường, luận án tiếp cận quan niệm về văn hóa đọc đó là văn hoá đọc của mỗi cá nhân trong xã hội, được
thể hiện qua những yếu tố cơ bản như: nhu cầu đọc, hứng thú đọc và kỹ năng
đọc của họ
Hứng thú đọc là thái độ chọn lựa tích cực của người đọc khi đọc những
tài liệu hấn dẫn về mặt cảm xúc hoặc có giá trị đối với chủ thể ở một khía cạnh nào đó
Theo thực tế, hứng thú đọc là sự ham thích đọc sách thuộc môn loại nào đó, thể loại nào đó Hứng thú đọc ảnh hưởng tới việc lựa chọn, cảm thụ
và đánh giá tác phẩm Hững thú đọc là động cơ thúc đẩy việc đọc Hứng thú đọc liên quan đến nhu cầu đọc
Nhu cầu đọc là thái độ nhận thức hoặc cảm thụ của người đọc đối với
việc đọc như đối với hoạt động cần thiết của cuộc sống mà nhờ đó các nhu cầu giao tiếp, nhận thức, thẩm mỹ được thỏa mãn Hay nói thực tế hơn, nhu cầu đọc là những gì người ta cần đọc Mối quan hệ giữa hứng thú đọc và nhu cầu đọc:
+ Hứng thú đọc gắn liền với nhu cầu đọc
+ Hứng thú đọc là động cơ thúc đầy việc đọc
Trang 35+ Không thể hiểu được đặc thù của hứng thú đọc nếu tách tời nó với nhu cầu đọc [73]
Kỹ năng đọc là sự thể hiện tổ hợp những thao tác tư duy thành thói
quen trong ứng xử đọc với tinh thần đọc có phê phán và sáng tạo Đó là:
1 Lựa chọn có ý thức đề tài hoặc những vấn đề cần đọc cho bản thân, biết vận dụng thành thạo các cách đọc khác nhau đối với từng loại tài liệu đọc (tài liệu nghiên cứu, tài liệu phổ cập, tài liệu giải trí )
2 Biết định hướng nguồn tài liệu cần thiết cho bản thân, trước hết trong các thư mục, mục lục TV, cơ sở dữ liệu, các nguồn tra cứu như bách khoa thư, từ điển các loại, cẩm nang, trên Internet
3 Thể hiện tính hệ thống, tính liên tục trong quá trình chọn lựa tài liệu đọc Đọc tài liệu theo chủ đề có nội dung từ đơn giản đến phức tạp, từ trình độ thấp lên trình độ cao
4 Biết cách tiếp nhận tối đa, sâu sắc nội dung tài liệu đã đọc, kể cả vệ sinh khi đọc tài liệu như cách ngồi, khoảng cách giữa mắt và tài liệu đọc
5 Biết vận dụng các biện pháp kỹ thuật để củng cố và đào sâu những nội dung đã đọc, như ghi chép, viết chú giải, soạn tóm tắt, lập hộp phiếu thư mục, trao đổi với bạn bè, đồng nghiệp
6 Biết vận dụng vào thực tiễn những nội dung đã đọc [77]
1.2.2.2 Giáo dục văn hóa đọc cho học sinh THCS
(i) Giáo dục văn hóa đọc cho học sinh THCS
Các lực lượng giáo dục có thể kể đến ở đây bao gồm: Giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm, nhân viên, cán bộ quản lí, tập thể lớp, nhóm bạn,
Trang 36các tổ chức đoàn thể chính trị, xã hội, cộng đồng,… có những tác động tới nhu cầu đọc sách, thói quen, sở thích và kỹ năng đọc sách cho học sinh THCS
ở những thời điểm, không gian, môi trường và với những hình thức, phương pháp cụ thể
Để phát triển văn hóa đọc cho học sinh THCS, cần nhìn nhận văn hóa đọc như một hệ thống gồm nhiều thành phần tác động lẫn nhau, ràng buộc lẫn nhau
Có thể xác định ba thành phần cơ bản, cốt lõi của hệ thống văn hoá đọc đối với
HS THCS như sau:
- Tài liệu đọc (sách, báo, tạp chí trên giấy và trên mạng), bao gồm từ người viết sách tới khi sách, báo được xuất bản và sẵn sàng tới tay người đọc Trong phạm vi luận án, tài liệu đọc là những tài liệu liên quan và phục vụ cho việc học tập của HS ở bậc học THCS
- Người đọc (chính là HS THCS)
- TV, cửa hàng sách, phương tiện truyền thông đại chúng tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá tài liệu đọc, văn hóa đọc, kể cả các hội chợ triển lãm sách, nhằm đưa tài liệu đọc đến đúng người đọc Đây là thành phần thứ ba, rất quan trọng nếu không muốn nói quyết định trong hệ thống, kết nối giữa tài liệu đọc và người đọc
* Ý nghĩa của giáo dục văn hóa đọc đối với học sinh THCS:
Văn hóa đọc giúp phát triển năng lực của học sinh THCS Tâm lí học
đã chỉ ra rằng, tuổi thiếu niên là giai đoạn hình thành và phát triển các năng lực, rất nhiều em đã bộc lộ năng khiếu ở các môn học như: toán, văn, hội họa,
âm nhạc, vào độ tuổi này, đồng thời tâm lú học cũng cho rằng trong giai đoạn thiếu niên các em rất nhạy cảm trong quan hệ giữa người với người, cảm xúc ở các em phát triển và chi phối mạnh mẽ đến năng lực cũng như cách hành xử của các em Với những đặc điểm vậy, chúng ta có thể thấy tác động tích cực nhằm phát triển văn hóa đọc cho các em, hướng tới mục tiêu giáo dục nhân cách toàn diện cho các em Văn hóa đọc là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh THCS Việc đọc và nghiên cứu các
Trang 37tài liệu, sách tham khảo làm cho các em hiểu sâu sắc và thấu đáo hơn các bài học trên lớp, việc thực hành các bài tập sẽ trở nên thành thạo, dễ dàng hơn Văn hóa đọc phát triển giúp các em biết cách lựa chọn tài liệu phù hợp với nhu cầu, khả năng nghiên cứu, tìm hiểu về chương trình học tập của mình, đồng thời có phương pháp đọc phù hợp để khai thác và sử dụng triệt để nội dung của tài liệu đã lựa chọn
Văn hóa đọc là yếu tố quan trọng biến quá trình đọc thành quá trình rèn luyện phát triển năng lực về các mặt cho học sinh phổ thông bậc THCS, bao gồm: năng lực trí tuệ, năng lực khoa học và năng lực thẩm mỹ [43] Văn hóa đọc góp phần đắc lực vào việc giáo dục và phát triển trí tuệ cho học sinh THCS một cách toàn diện, chính văn hóa đọc giúp các em biết cách đọc, hiểu
và nắm vững tri thức trong tài liệu Vốn kiến thức được tích lũy lâu dần dẫn tới sự thay đổi về chất trong nhận thức của các em, làm cho năng lực trí tuệ của các em được nâng lên Điều đó khiến các em phải thay đổi hệ thống hành động trí tuệ cho tương thích với hệ thống tri thức đã lĩnh hội được Chú trọng việc rèn luyện phương pháp đọc để hiểu và cảm thụ sâu sắc những nội dung
đã đọc, đồng thời thực hiện những điều được tiếp thu trong tài liệu vào việc tham gia các hoạt động học tập và giao lực, năng lực cảm thu văn hóa và khả năng nhận thức của các em sẽ phát triển Đồng thời, văn hóa đọc góp phần phát triển các phẩm chất tâm lí như: năng lực trí tuệ, óc quan sát, trí nhớ, trí tưởng tượng, ngôn ngữ, năng lực cảm thụ thẩm mỹ, năng lực sáng tạo, ở học sinh THCS
Văn hóa đọc có vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển các phẩm chất đạo đức trong học sinh THCS, bởi lẽ mỗi phẩm chất đạo đức của các em là kết quả tác động của nhiều yếu tố cả khách quan lẫn chủ quan, các yếu tố này luôn có mối quan hệ qua lại lẫn nhau và trong đó có yếu tố
“hoạt động đọc” Giáo dục văn hóa đọc cho học sinh THCS là gián tiếp giáo dục đạo đức cho các em bằng phương tiện sách, báo, tài liệu phù hợp tâm sinh
lý của các em thông qua hoạt động đọc [40] Tác động lâu dài của văn hóa
Trang 38đọc chính là việc tác động sâu vào bên trong tiềm thức nhằm nuôi dưỡng tâm hồn và nâng cao những đức tính tốt đẹp cho con người
Như vậy có thể thấy, giáo dục văn hóa đọc giúp cho học sinh sống nhân văn hơn, cảm nhận sâu sắc hơn về cuộc sống, mở rộng kiến thức về cuộc sống, kiến thức và khoa học, tăng vốn từ, tăng khả năng lực học, tự tìm hiểu, tăng khả năng quan sát, óc tưởng tưởng và phát triển nhân cách toàn diện
Để giáo dục văn hóa đọc sách đối với HS phải cần cả một quá trình lâu dài và ở mọi môi trường và thời điểm Do đó, đối với HS THCS cần bồi dưỡng và phát triển văn hóa đọc cho các em ngay từ năm học đầu tiên của bậc học này
(ii) Cơ sở khoa học của giáo dục “văn hóa đọc” cho học sinhTHCS
* Đặc điểm học sinh THCS
Học sinh THCS chủ yếu nằm trong độ tuổi từ 11-15 tuổi, đây là giai đoạn giữa tuổi học HS ở lứa tuổi thiếu niên, lứa tuổi không phải trẻ em, cũng không phải người lớn nhưng lại luôn luôn thể hiện xu hướng khẳng định mình
là người lớn Đây được xác định là giai đoạn quan trọng, thời kỳ chuyển tiếp
từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành, lứa tuổi thích “nổi loạn”
+ Đặc điểm sinh lí: Cơ thể trẻ bắt đầu phát triển mạnh mẽ nhưng không đồng đều, vì thế cơ thể các em thiếu cân đối và chưa hoàn thiện Đây là giai đoạn các em sắp bước vào tuổi dậy thì (nữ khoảng 12, 13 tuổi; nam khoảng
13, 14 tuổi), trẻ dễ bị xúc động, bực tức, phản ứng mạnh mẽ, gay gắt, không
có khả năng chịu đựng những kích thích mạnh, đơn điệu, kéo dài, với ý thức muốn làm người lớn, muốn khẳng định mình trong gia đình lẫn ngoài xã hội
+ Đặc điểm hoạt động học: Hoạt động học của HS THCS nói chung được hiểu là hoạt động tự giác nhằm lĩnh hội kiến thức, hình thành kỹ năng,
kỹ xảo và hệ thống thái độ tương ứng, tạo lập những phẩm chất nhân cách Cùng với hoạt động giao tiếp nhóm, hoạt động học tập giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách HS THCS
Trang 39Đặc điểm hoạt động học của HS THCS: Hoạt động học diễn ra theo phương thức Học – Hành; lí luận gắn với thực hành theo từng môn học; mục tiêu giáo dục THCS là mục tiêu kép: Tiếp tục học lên THPT hoặc các trường THCN, trường nghề hoặc đi vào tham gia lao động sản xuất trực tiếp; tiếp xúc với nhiều giáo viên, mỗi GV phụ trách một môn học; thái độ đối với các môn học đã có sự phân hoá; học sinh học tập có tính tích cực, tự giác cao hơn
+ Đặc điểm giao tiếp: Trong giao tiếp với người lớn, HS THCS muốn độc lập, không phụ thuộc vào người lớn, thường bảo vệ quan điểm của mình
và mong muốn người lớn coi mình như người lớn trưởng thành Nhu cầu giao tiếp với bạn bè của trẻ phát triển mạnh Quan hệ bạn bè đã bắt đầu có sự lựa chọn, mang tính chất hồn nhiên, trong sáng, hình thành trên cơ sở cùng chia
sẻ, chấp nhận lẫn nhau Các em bắt đầu biết coi trọng các phẩm chất của tình bạn, tuy nhiên có khi hiểu không đúng về biểu hiện của những phẩm chất này, bắt đầu xuất hiện tình cảm khác giới và mong muốn được bạn bè tôn trọng, thừa nhận; sợ sự lên án và tẩy chay của bạn bè [18]
Học sinh THCS, ngay từ lớp 6 đã có đủ các cơ sở khoa học về tâm lí, nhận thức để các lực lượng giáo dục có thể giúp các em hình thành kỹ năng đọc, phương pháp đọc, sở thích đọc, thói quen đọc và từ đó bồi dưỡng văn hóa đọc cho các em Trong các lực lượng giáo dục, TV nhà trường đóng vai trò chủ đạo; đồng thời yêu cầu người phục trách công tác TV cần nắm rõ đặc điểm tâm lí, giới tính, nhận thức của từng nhóm HS để khơi dậy đam mê đọc sách, đáp ứng nhu cầu đọc sách của HS Đặc biệt đối với các TV nhà trường THCS, nếu không phát huy hiệu quả vai trò của mình thì đó là một sự “lãng phí” trong giáo dục rất lớn
* Cơ sở khoa học của việc hình thành nhu cầu đọc sách, hứng thú đọc sách cho học sinh THCS
Nhu cầu đọc là một loại nhu cầu tinh thần, nhu cầu đọc ở mỗi người có liên quan tới nhu cầu nhận thức về mọi sự vật, hiện tượng, môi trường tự nhiên và thế giới xung quanh Do đó, nhu cầu đọc cũng chịu ảnh hưởng bởi
Trang 40các yếu tố như; điều kiện xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, lưa tuổi, giới tính, nhân cách
Đối với học sinh tiểu học, các em tiếp thu sách chủ yếu bằng trực quan sinh động, nhưng đã hiểu nội dung tư tưởng của sách và biết biểu lộ thái độ của mình đối với sách Nhu cầu đọc sách của các em rất phong phú, đa dạng, chủ yếu dựa trên sở thích một cách cảm tính, bộc phát Tuy nhiên, có em chỉ đọc hời hợt, chỉ cần nắm được cốt chuyện, không hiểu sâu nội dung tư tưởng cũng như giá trị nghệ thuật của sách Các em thích đọc các loại sách như: truyện tranh, truyện cổ tích ngắn, truyện thiếu niên anh hùng, truyện lịch sử, sách về Bác Hồ, truyện khoa học viễn tưởng
Đối với học sinh THCS, THPT bắt đầu có những thay đổi lớn về mặt phát triển cá tính và hoạt động tâm lí Các em rất quan tâm tới nhân cách, có
xu hướng bộc lộ phẩm chất và hành động, khao khát tím hiểu đời sống bên ngoài và hình thành thái độ đối với các sự kiện xảy ra xung quanh qua những suy nghĩ độc lập Học sinh ở lứa tuổi này đã có những hứng thú đối với khoa học, văn học và kỹ thuật hiện đại Sở trường và năng khiếu của học sinh được hình thành rõ rệt Tuy nhiên, hứng thú đọc sách của các em vẫn còn tiếp tục biến đổi do sự biến đổi của trạng thái tâm lí, hoàn cảnh sống và học tập
Các phương pháp nghiên cứu nhu cầu đọc và hứng thú đọc của học sinh đối với nhân viên thư viện nhà trường: Nghiên cứu trực tiếp: Trao đổi ý kiến với người đọc, phỏng vấn, quan sát Nghiên cứu gián tiếp: Phân tích tài liệu thống kê thư viện, phân tích thẻ bạn đọc, phân tích các tài liệu của công tác tra cứu – thư mục, trưng cầu ý kiến thông qua phiếu hỏi [53]
Nhu cầu đọc và hoạt động thư viện có mối quan hệ khăng khít, tác động qua lại lẫn nhau Nó vừa là động cơ, vừa là mục đích của hoạt động thông tin – thư viện Nhu cầu đọc của người dùng tin thúc đẩy mọi hoạt động của thư viện, làm cho các hoạt động của thư viện phải hoàn thiện, phát triển hơn Động cơ của hoạt động thư viện là sự gặp nhau giữa nhu cầu đọc và tài liệu