1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lỗi và sửa lỗi trong việc dạy tiếng việt như một ngoại ngữ

17 207 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 35,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ GIẢNG DẠY TIẾNG VIỆT THEO KỸ NĂNG Phạm vi tìm hiểu: Lỗi và chữa lỗi trong dạy Tiếng Việt như một ngoại ngữ PHẦN 1:Thế nào là ngoại ngữ? Các đối tượng biết ngoại ngữ; phân biệt ngoại ngữ và ngôn ngữ thứ hai 1. Khái niệm ngoại ngữ và các đối tượng biết ngoại ngữ. • Ngoại ngữ, được hiểu là Tiếng nước ngoài. • Đối tượng biết ngoại ngữ: Những người giỏi về ngoại ngữ hiện nay chủ yếu gồm phần lớn là Sinh viên, Giảng viên, Những người đã tốt nghiệp Cao đẳngĐại học, Tu nghiệp sinh nước ngoài về nước. Phần còn lại chiếm tỷ lệ không cao, đặc biệt là tầm tuổi trở lên 50. Nhìn chung, tỷ lệ người Việt có thể giao tiếp được với người nước ngoài còn thấp, do những yếu tố khách quan như 80% dân số ở nông thôn, làm nông nghiệp, và ít được học các ngoại ngữ, giao tiếp với người nước ngoài. Những ngôn ngữ như tiếng Hán (Trung Quốc) thì tỷ lệ người trẻ tuổi lại thấp. 2. Khác nhau giữa ngoại ngữ và ngôn ngữ thứ 2: Trong một môi trường mà ngôn ngữ được coi là ngôn ngữ thứ 2, ngôn ngữ được sử dụng thường xuyên, liên tục trong đời sống, người nói sử dụng ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp tự nhiên, hàng ngày của đời sống. Ngôn ngữ thứ 2 có thể được tiếp nhận không cần thông qua việc học (ngôn ngữ) tại nhà trường. Trong môi trường mà ngôn ngữ được coi là ngoại ngữ, ngôn ngữ không được sử dụng thường xuyên trong môi trường của người nói mà chỉ được xem là một môn học. Người nói íthoặc không có cơ hội được sử dụng ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp tự nhiên, hàng ngày.

Trang 1

ỨNG DỤNG NGÔN NGỮ HỌC MỘT SỐ NỘI DUNG VỀ GIẢNG DẠY TIẾNG VIỆT THEO KỸ NĂNG

Phạm vi tìm hiểu: Lỗi và chữa lỗi trong dạy Tiếng Việt như một ngoại ngữ

PHẦN 1:Thế nào là ngoại ngữ? Các đối tượng biết ngoại ngữ; phân biệt ngoại ngữ và ngôn ngữ thứ hai

1 Khái niệm ngoại ngữ và các đối tượng biết ngoại ngữ

 Ngoại ngữ, được hiểu là Tiếng nước ngoài

 Đối tượng biết ngoại ngữ:

Những người giỏi về ngoại ngữ hiện nay chủ yếu gồm phần lớn là Sinh viên, Giảng viên, Những người đã tốt nghiệp Cao đẳng/Đại học, Tu nghiệp sinh nước ngoài về nước Phần còn lại chiếm tỷ lệ không cao, đặc biệt là tầm tuổi trở lên

50 Nhìn chung, tỷ lệ người Việt có thể giao tiếp được với người nước ngoài còn thấp, do những yếu tố khách quan như 80% dân số ở nông thôn, làm nông nghiệp, và ít được học các ngoại ngữ, giao tiếp với người nước ngoài

Những ngôn ngữ như tiếng Hán (Trung Quốc) thì tỷ lệ người trẻ tuổi lại thấp

2 Khác nhau giữa ngoại ngữ và ngôn ngữ thứ 2:

Trong một môi trường mà ngôn ngữ được coi là ngôn ngữ thứ 2, ngôn ngữ được sử dụng thường xuyên, liên tục trong đời sống, người nói sử dụng ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp tự nhiên, hàng ngày của đời sống

Ngôn ngữ thứ 2 có thể được tiếp nhận không cần thông qua việc học (ngôn ngữ) tại nhà trường

Trong môi trường mà ngôn ngữ được coi là ngoại ngữ, ngôn ngữ không được

sử dụng thường xuyên trong môi trường của người nói mà chỉ được xem là một môn học Người nói ít/hoặc không có cơ hội được sử dụng ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp tự nhiên, hàng ngày

1

Thời gian

Hầu hết thời gian sử dụng

để tiếp nhận ngôn ngữ

Thời gian học ngôn ngữ phụ thuộc vào phân bổ tại thời khóa biểu của lớp học

2 Đầu vào Rộng, không/ít có sự lựa Có sự lựa chọn, phân

Trang 2

chọn hay bắt buộc loại

3

Vai trò

của người

dạy

Hướng dẫn người học tự khám phá thông qua bổ trợ tại lớp học

Hướng dẫn cụ thể/chi tiết/

4

Kỹ

năng

Giao tiếp (nghe-nói) là quan trọng nhất, quyết định sự thành công/thất bại của người học

Phụ thuộc vào nhu cầu người học/định hướng của khóa học để xác định kỹ năng cần học

5

Động

lực người

học

Rất mong muốn tiếp nhận/bắt buộc tiếp nhận do ngôn ngữ mang yếu tố then chốt/sống còn trong đời sống hàng ngày

Mong muốn sử dụng với những mục tiêu ngắn han/dài hạn

6

Độ tuổi

bắt đầu Từ bé

Thông thường với lứa tuổi cấp 1, phụ thuộc vào chương trình học

7

Quá

trình tiếp

nhận/kết

quả[1]

Tương tự quá trình tiếp nhận tiếng mẹ đẻ (Tiếp nhận ngôn ngữ thông qua quá trình

vô thức, không bị ràng buộc bởi các khái niệm ngữ pháp - đúng - sai)

Liên tục tăng cường vốn từ vựng cho những tình huống cụ thể

Hướng đến khả năng giao tiếp trong những tình huống thực của đời sống

Thành công hay thất bại của việc tiếp nhận ảnh hưởng trực tiếp đến đời thực của người sử dụng

Học ngôn ngữ thông qua hướng dẫn trực tiếp về các quy tắc, khái niệm, đúng - sai

Coi trọng năng lực về ngôn ngữ học hơn là kỹ năng giao tiếp Khả năng ngữ pháp tốt hơn giao tiếp Hiệu quả giao tiếp đạt được sau nhiều năm học không đồng đều, sự thành công hay thất bại trong việc học ít/không ảnh hưởng đến đời sống của người học

Trang 3

Tính cách người

học

Thoải mái, tự nhiên, luôn mong muốn và sẵn sàng giao tiếp

Thước đo thành công tính bằng sự trôi chảy trong khả năng giao tiếp

Thông minh, kiên nhẫn

và kỹ năng học thuộc, ghi nhớ tốt

Thước đo thành công được tính bằng điểm học tập thông qua các bài kiểm tra/chứng chỉ

9

Môi trường

Sử dụng phổ thông, được coi là ngôn ngữ chính thức thứ

2 sau tiếng mẹ đẻ (trong các văn bản pháp quy, trong đời sống xã hội, sử dụng để giảng dạy các môn học trong nền giáo dục…)

Chủ yếu trong phạm vi nhà trường, được coi là một môn học trong chương trình

[1] Sự khác nhau giữa quá trình tiếp nhận ngôn ngữ và học ngôn ngữ

Tiếp nhận ngôn ngữ là quá trình vô thức, không chủ động: Đứa trẻ tiếp nhận tiếng mẹ đẻ, người lao động tiếp nhận tiếng nước khác trong quá trình sinh sống

và làm việc tại đất nước đó Quá trình tiếp thu toàn bộ, không có sự lựa chọn

PHẦN 2: Thê nào là học ngoại ngữ? lợi ích của học ngoại ngữ

Trong thời kì công nghiệp hóa,hiện đại hóa việc sử dụng ngoại ngữ là 1 điều quan trọng và dần trở thành 1 điều tất yếu của mọi người Vậy học ngoại ngữ là

gì ?

Học ngoại ngữ đó chính là việc chúng ta học, tìm hiểu về một ngôn ngữ mới ngoài tiếng mẹ đẻ hay tiếng của đất nước chúng ta Bên cạnh việc sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ,chúng ta sử dụng ngoại ngữ trong đời sống hay trong công việc của mình đặc biệt trong việc giao tiếp, hợp tác với các nước bạn.Học ngoại ngữ đem lại cho chúng ta nhiều lợi ích hay những mục đích nhất định

1 Mục đích sử dụng ngoại ngữ có hai mục đích chính

Trang 4

 Để nắm bắt thông tin về mọi mặt của đời sống xã hội từ phía nước ngoài có lợi cho cộng đồng dân tộc mình Đây được xem là mục đích hướng nội

 Ngoại ngữ dùng để chuyển tải thông tin về mọi mặt đời sống xã hội từ trong nước đến với các đối tác nước ngoài Đây là mục đích hướng ngoại

2 Học ngoại ngữ để làm gì hay nói cách khác Lợi ích của việc học ngoại ngữ là gì

 Cơ hội việc làm tốt hơn

Giữa xu thế đa quốc gia hóa của các công ty ngày nay thì ngoại ngữ đã trở nên

vô cùng phổ biến và trở thành yếu tố quan trọng cho việc phát triển sự nghiệp trong tương lai, nếu biết thêm một ngoại ngữ sẽ giúp bạn nổi bật và dễ dàng nhận được công việc phù hợp với trình độ, khả năng bản thân

 Thiết lập các mối quan hệ

Ban thông thạo nhiều ngôn ngữ khác nhau sẽ giúp bạn gặp gỡ, tạo dựng các mối quan hệ lâu dài đối với mọi người từ khắp nơi trên thế giới, từ đó bạn có cơ hội hiểu thêm về các nền văn hóa cũng như sẽ được tham gia vào những cuộc trò chuyện vô cùng thú vị, hấp dẫn mà bạn chưa từng có

Hơn thế nữa, bạn có thể tìm hiểu thêm về nền văn hóa của chính mình rồi quảng

bá, truyền đạt đến bạn bè khắp năm châu Khi rào cản ngôn ngữ không còn tồn tại, tình bạn sẽ nở hoa và bền vững hơn

 Phương tiện hữu dụng cho việc du lịch

Bạn đã thấy học ngoại ngữ có tác dụng chưa nào! Khi bạn đi du lịch đến đến bất

kỳ vùng đất mới mẻ nào, ngoại ngữ sẽ giúp bạn nâng cao kỹ năng, tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm Không có gì tuyệt vời hơn nếu bạn có thể tự tin giao tiếp với người bản xứ trên chính nơi họ sinh sống Và ngày nay tiếng anh là một ngôn ngữ tối ưu

Khi bạn học ngoại ngữ, não bộ sẽ tự động tìm ra cách thích ứng, vận hành hiệu quả nhất sao cho bạn có thể tiếp thu nhanh chóng, dễ dàng các nguồn kiến thức mới, mặc dù bạn muốn thật thành thạo hay cần biết được một số kỹ năng nhất định sau quá trình rèn luyện để đáp ứng một nhu cầu cá nhân nào đó

 Ngoại ngữ làm phong cách sống đa dạng

Khi thông thạo ngoại ngữ, bạn hoàn toàn dễ dàng đưa ra nhận xét, đánh giá cá nhân về những tác phẩm nghệ thuật của các quốc gia khác mà không còn phải phụ thuộc vào phụ đề, bản dịch thuật, thuyết minh chương trình truyền hình,

từ phim, tác phẩm sách

Dù bạn phải tiếp cận với manga Nhật Bản, phim Bollywood từ Ấn Độ hay các bản nhạc châu Âu đang làm mưa gió trên thị trường thì cũng chẳng vấn đề gì

Trang 5

cả Bạn hoàn toàn có thể thưởng thức và cảm nhận chúng một cách sâu sắc và tường tận như ngôn ngữ của chính mình

 Gia tăng sự tự tin

Đây là một yếu tố tìm ẩn trong câu hỏi “ học ngoại ngữ để làm gì ” Bạn nhút nhát, tri thức bị giới hạn trong một ngôn ngữ thì càng không nên ngần ngại học hỏi thêm ngoại ngữ Khi vốn hiểu biết của bạn được mở rộng thì bạn đã tự tin hơn ban đầu Hãy tự tin giao tiếp và bày tỏ quan điểm của mình khi mình có thể

để mọi người hiểu bạn và ngược lại cũng thế

Phần 3: Phương pháp học ngoại ngữ

(Đối với ngoại ngữ là tiếng Việt và đối tượng là người nước ngoài)

1 Về bảng chữ cái

Khi bắt đầu học một ngôn ngữ, người học phải bắt đầu bằng bảng chữ cái Bảng chữ cái tiếng Việt gồm có 29 chữ cái Tiếng Việt không có w và z, j, như trong tiếng Anh

Hệ thống Nguyên âm: Tiếng Việt có 9 nguyên âm đơn: a, e, ê, i, o, ô, u, ơ, ư;

3 nguyên âm đôi: iê, uô, ươ và 2 nguyên âm ngắn: ă, â

Hệ thống phụ âm:

* Phụ âm đơn: 17: b, c, d, đ, g, h, k, l, m, n, p, q, r, s, t, v, x

* Phụ âm đôi: gh, kh, nh, ph, th, ch, tr, ngh, ng

Cách đọc bảng chữ cái tiếng Việt: đây là bước đầu tiên mà của mỗi người khi học tiếng Việt, cũng như khi học bất cứ một ngôn ngữ nào cũng vậy Mục đích là gì: để biết cách phát âm chuẩn các chữ cái, ví dụ khi nhìn thấy các chữ

có âm “a” thì phát âm mở “a”, kết hợp với phụ âm ở trước Vì chỉ cần nhớ cách phát âm phụ âm và nguyên âm là có thể đọc được chính xác từ tiếng Việt mà không cần biết nghĩa Nhưng lưu ý: không cần quá nặng nề về việc nhớ “tên” của các chữ cái như “mờ, nờ, pờ, ….” (điều này giống như các ngôn ngữ khác vậy) Và cũng lưu ý đối với giáo viên là phải thống nhất 1 cách đọc bảng chữ cái, tốt nhất đọc theo cách đọc phổ biến được coi là chuẩn hiện nay (a, bờ, cờ thay vì a, bê, xê….)

Trang 6

Khi học bảng chữ cái tiếng Việt, nên viết lại để học cách viết chữ cái Latinh, nhất là đối với những người sử dụng hệ kí tự tượng hình như tiếng Trung hoặc không phải tiếng Latinh (Nhật, Hàn, Thái Lan…)

2 Về cách phát âm chuẩn

Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn tiết tính nên âm tiết (hay gọi là tiếng) được phát

âm tách rời nhau Vì vậy sẽ có từ có một âm tiết như sách, vở… nhưng có nhiều

từ được cấu tạo trên hai âm tiết như: vui vẻ, hạnh phúc… Do đó người nước ngoài học tiếng Việt muốn phát âm tốt trước hết cần phát âm tốt từng âm tiết, từng nhóm âm tiết Ví dụ: cảm ơn phải phát âm rõ “cảm” và “ơn” Đối với người nước ngoài khi mới học nên nói chậm, rõ từng âm tiết một sau đó nói nhanh dần lên Điều này cho thấy phát âm rất quan trọng trong tiếng Việt vì nếu nói sai 1 từ thì người Việt không hiểu trong khi nếu nói sai ngữ pháp thì người Việt vẫn có thể hiểu

Trong khi học tiếng Việt, với người nước ngoài khó nhất là thanh điệu Tiếng Việt là một trong ngôn ngữ có nhiều thanh điệu nhất thế giới (6 thanh điệu) gồm: thanh ngang, huyền, ngã, hỏi, sắc, nặng Khi phát âm sai thanh điệu

sẽ đưa đến những nghĩa khác nhau như bàn # bán # bạn…

Đối với cách học thanh điệu tiếng Việt và nhận biết thanh điệu phải vẽ sơ đồ

để học sinh hình dung với dấu sắc, giọng như thế nào, dấu huyền giọng như thế nào, giọng cao hay thấp, dài hay ngắn, thẳng hay gẫy… Và đây là chìa khóa để phát âm tiếng Việt tốt và nói tiếng Việt như người Việt Vì vậy, giáo viên cần thường xuyên luyện cho học sinh trong suốt khóa học chứ không phải chỉ trong buổi đầu tiên Giáo viên nên nói chậm và dùng tay ra dấu lên, xuống, ngang…

để học sinh nhớ đi nhớ lại và cố gắng nói dấu chính xác Việc luyện này cần kết hợp với luyện viết (ví dụ điền thanh điệu vào các từ trong đoạn văn hoặc đọc cho học sinh viết những câu, đoạn đơn giản để học sinh viết đúng Khi đó họ nhớ đúng dấu, nghĩa là họ sẽ có ý thức nói đúng thanh điệu đó Và đây là nguyên tắc cực kỳ quan trọng để nghe và nói tiếng Việt tốt (mặc dù đối với bài tập luyện kiểu này học sinh rất chán và nản nên cần làm ít một, mỗi ngày một ít, nhưng thường xuyên là quan trọng)

Về cách đánh vần: thực ra đối với học sinh nước ngoài không cần đánh vần như học sinh Việt Nam: Ví dụ: Huyền = hờ uyên huyên huyền huyền Họ không thể nhớ quy tắc phức tạp đó, và cũng không để làm gì Vì thế, giáo viên chỉ cần giới thiệu cho họ 1 âm tiết tiếng Việt luôn được cấu tạo bằng cách ghép âm và

Trang 7

vần (Vần = nguyên âm + phụ âm) là đủ Mà điều này cũng không cần thiết Việc học đánh vần này đã có bảng phát âm để luyện tập rất phù hợp

3 Kỹ năng nghe

Đối với trình độ A, nên bắt đầu bằng nghe giáo viên nói, càng nhiều càng tốt Giáo viên phải thường xuyên hỏi đi hỏi lại các mẫu câu đã học áp dụng với các từ đã học vào những tình huống trong cuộc sống (càng gắn với thực tế của học sinh càng tốt, vì học sinh sẽ muốn nói hơn nữa và học sinh sẽ nhớ lâu hơn) Sau bài 7 thì có thể cho học sinh làm quen với audio đơn giản, có thể lúc đầu là thu âm giọng của giáo viên đó hoặc giáo viên khác

Hết trình độ A thì nghe nói với người bình thường phải cơ bản Sau đó giáo viên nâng cao với những bài nghe khó hơn, nghe bài hát, nghe hội thoại ở trình

độ B Trình độ C cần phải nghe các audio dài và tập nghe radio Trong lúc luyện nghe thì phải kết hợp luyện nói và phát âm vì đây là các kỹ năng hỗ trợ cần thiết Nếu học sinh học để thi chứng chỉ thì cần luyện đủ 3 dạng nghe: nghe – điền từ, nghe – chọn đúng/sai, nghe – chọn câu trả lời đúng nhất Nhưng nếu học sinh học để giao tiếp, để dự hội thảo, tức là nghe thực sự thì luyện nhiều với dạng nghe – hiểu (nghe – chọn câu trả lời) Giáo viên phải hiểu rõ nhất trình độ của học sinh để có những bài nghe phù hợp, nếu không học sinh sẽ rất chán vì

họ thấy quá khó

Kinh nghiệm học nghe: ghi lại file audio của giáo viên và nghe đi nghe lại nhiều lần (vì CD chất lượng không tốt), nghe bài hát (nếu học sinh thích) Và đặc biệt là giao tiếp càng nhiều càng tốt, càng với nhiều người càng rèn luyện được khả năng nghe và phản xạ ngôn ngữ Vì thế, càng học tiếng Việt ở mức độ cao càng phải giao tiếp nhiều với người bản ngữ Khi học viên giao tiếp để luyện phản xạ , giáo viên cần phải dừng học sinh lại để sửa phát âm, sửa đi sửa lại từ đó, và học sinh phải có vở để take note những từ và những cụm từ, mẫu câu cần phải ghi nhớ Theo kinh nghiệm của tôi, một người thích nói chuyện, thích giao tiếp thường học ngoại ngữ tốt hơn một người thích học ngữ pháp và học trong sách vở

4 Kỹ năng nói

Để nói tiếng Việt tốt, học sinh cần phải có vốn từ cơ bản và ngữ pháp cơ bản Tức là hết trình độ A là họ có thể nói mọi thứ ở mẫu câu đơn giản

Trang 8

Trình độ B nếu chỉ học trong sách thì rất khó tiến bộ, vì ngữ pháp là quá nhiều và quá vụn, vì vậy tốt hơn nên nói chuyện theo các chủ đề để có vốn từ mới nhiều hơn và giáo viên phải khéo léo lồng vào những mẫu câu mới mà học sinh không biết và giải thích cho họ

Trình độ C thì phải sử dụng nhiều tiếng lóng, từ ngữ thông dụng và cách nói chuyện tự nhiên Khi học tiếng Việt, học sinh không nên học quá nặng về ngữ pháp, nghĩa là không nên làm quá nhiều bài tập Giáo viên dạy tiếng Việt cho người nước ngoài cần giải thích ngữ pháp cho học sinh và luyện nói đến khi nào học sinh sử dụng thuần thục ngữ pháp đó chứ không phải làm quá nhiều bài tập Vì cũng theo kinh nghiệm của tôi, những học sinh học bài bản ngữ pháp có thể nghe hiểu tốt nhưng phản xạ nói lại rất chậm, vì họ luôn cố gắng nhớ lại và nói đúng ngữ pháp Họ sợ nói sai Vì vậy nguyên tắc khi luyện nói cho học sinh

là giáo viên phải luôn động viên họ: ĐỪNG SỢ NÓI SAI CỨ NÓI

Phần 4: Thế nào là dạy ngoại ngữ? Vấn đề đặc thù của Tiếng Việt trong dạy học

a Dạy ngọai ngữ là gì?

 Dạy ngoại ngữ là dạy ngôn ngữ của nước khác, hướng đến mục tiêu để người học có thể nghe, nói, đọc, viết thành thạo ngoại ngữ dó

 Việc dạy ngoại ngữ cần tập trung vào ý nghĩa

- Nghĩa ngữ nghĩa: là nghĩa của những đơn vị từ vựng hoặc cấu trúc ngữ pháp

cụ thể

-nghĩa dụng học: là các nghĩa dụng học, tức là nghĩa được ngữ cảnh hóa cao, nảy sinh từ các hoạt động giao tiếp

Như vậy, việc dạy ngoại ngữ đòi hỏi phải tạo ra nhiều cơ hội để người học tập tập trung vào cả hai loại nghĩa trên, nhưng nghĩa dụng học phải là cốt yếu Việc dạy cũng cần tập trung vào cả hình thái ngôn ngữ, nghĩa là ta cần quan tâm tới hình thái nói về việc nhận ra những đơn vị ngôn ngữ cụ thể khi chúng xuất hiện trong ngữ cảnh mà người học được tiếp xúc không phải việc nhận ra các quy tắc ngữ pháp

b Vấn đề đặc thù của tiếng Việt trong dạy học

 Luyện phát âm với thanh điệu:

Trang 9

- Thanh điệu là một âm vị siêu đoạn tính Nó được biểu hiện trong toàn âm tiết hay đúng hơn là toàn bộ phần thanh tính của âm tiết gồm: âm đầu, âm đệm, âm chính và âm cuối (Đoàn Thiện Thuật – Ngữ âm học tiếng Việt)

- 6 thanh điệu tiếng Việt: ngang, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng

- Với tiếng Việt, một ngôn ngữ có thanh điệu, việc thể hiện âm vị thanh điệu luôn

là một thách thức lớn đối với học viên, đặc biệt là những học viên có tiếng mẹ

đẻ là ngôn ngữ không có thanh điệu như tiếng Trung Quốc Việc thể hiện đúng thanh điệu khi phát âm tiếng Việt không chỉ phải đạt yêu cầu trên mỗi âm tiết độc lập mà còn cả trong chuỗi kết hợp nhiều âm tiết với nhau

 Đại từ chỉ ngôi tiếng Việt:

- Đại từ nhân xưng hay đại từ xưng hô hay đại từ chỉ ngôi là những đại từ dùng

để chỉ và đại diện hay thay thế cho một danh từ để chỉ người và vật khi ta không muốn đề cập trực tiếp hoặc lặp lại không cần thiết các danh từ ấy Tất cả các ngôn ngữ trên thế giới đều chứa đựng đại từ nhân xưng Đại từ nhân xưng trong một số ngôn ngữ thường chia theo ngôi và theo số ít hay số nhiều

- Đại từ chỉ ngôi (hay đại từ nhân xưng) trong tiếng Việt khá phức tạp, do chúng không chỉ được dùng để chỉ ngôi mà còn được dùng để biểu thị những thái độ, tình cảm khác nhau của người nói Đại từ chỉ ngôi tiếng Việt thường có tính bắt buộc; khi không dùng chúng, quan hệ giữa các vai giao tiếp có thể thay đổi theo hướng xấu hoặc theo hướng suồng sã, thân mật Ví dụ: Câu “Chị ngồi xuống!”

là câu nói lịch sự hơn câu “Ngồi xuống!” Tùy theo hoàn cảnh, câu thứ hai có thể được tiếp nhận một cách tiêu cực (thiếu lễ độ) hoặc tích cực (thân mật)

- Đại từ nhân xưng có thể được phân thành ba loại (theo các ngôi giao tiếp):

 Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất (chỉ người đang nói: tôi, tao, tớ, mình, bọn mình, chúng ta )

Trang 10

 Đại từ nhân xưng ngôi thứ hai (chỉ người đang giao tiếp cùng: bạn, cậu, mày, anh, chị )

 Đại từ nhân xưng ngôi thứ ba (chỉ những người không tham gia giao tiếp nhưng được nhắc đến trong cuộc giao tiếp: nó, anh ta, hắn, y, bọn ấy )

Trong mỗi loại trên lại chia ra: số ít (tôi) - số nhiều (chúng tôi, bọn tôi)

Đối với ngôi thứ nhất số ít Khi nói chuyện với mọi người, tùy trường hợp, tương quan tuổi tác, liên hệ bà con, mức độ thân sơ, mà tự xưng bằng những nhân xưng đại từ khác nhau:

 "Con", với ông bà, cha mẹ, những người bà con ngang vai với ông bà cha

mẹ, với thầy cô giáo (ngày xưa); với những người già

 "Cháu", em cháu với ông bà, chú bác cô dì, với những người ngang tuổi với ông bà cha mẹ

 "Em", với anh chị; với những người hơn tuổi, hơn chức phận, với chồng (nếu người nói là nữ), hoặc người đàn ông nào mà đương nhân muốn dùng tiếng xưng hô này để biểu lộ tình cảm, với thầy cô giáo (ngày nay)

 "Chị", với các em, với những người mà đương sự coi là đáng em của mình

 "Cô", "dì", "bác", "thím" với các cháu theo tương quan họ hàng, với người nhỏ tuổi được đương sự coi như con cháu "Mẹ", "má", "me" với các con

 "Tôi", với tất cả mọi người

 "Tao", "ta", với một số người, khi đương sự không cần giữ lễ, hoặc muốn biểu lộ uy quyền, hoặc sự tức giận

Ngày đăng: 25/01/2019, 13:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w