1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

PHƯƠNG PHÁP DẠY CÂU BỊ ĐỘNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

21 630 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 396,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tiếng anh 6, 7, 8, 9 có rất nhiều vấn đề ngữ pháp quan trong và cần quan tâm các thì câu gián tiếp, trực tiếp, câu điều kiện câu bị động.... Trong số những vấn đề đó tôi nhận thấy việc dạy câu bị động cho học sinh là một vần đề khá nan giải đối với nhiều giáo viên. Rất may mắn tôi cũng đã được giảng dạy chương trình Tiếng Anh 8, 9 (Liên quan trực tiếp đến câu bị động) và đã đúc rút được một số kinh nghiệm dạy câu bị động khá hiệu quả. Do vậy tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Phương pháp dạy câu bị động cho học sinh THCS”

Trang 1

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO SÔNG LÔ

TRƯỜNG THCS ĐỒNG THỊNH

CHUYÊN ĐỀ

Tên chuyên đề : “ PHƯƠNG PHÁP DẠY CÂU BỊ ĐỘNG CHO

HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ ” Tác giả chuyên đề: Lê Anh Việt

Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị công tác: Trường THCS Đồng Thịnh, Sông Lô, Vĩnh Phúc

Đồng Thịnh, tháng11 năm 2018

Trang 2

1

Lời giới thiệu:

Tiếng Anh là một ngôn ngữ giao tiếp trên toàn thế giới hiện nay Trong cáctrường THCS, nó là một môn học không thể thiếu Học ngôn ngữ tiếng tiếng Việt

đã rất khó, tiếng Anh là ngoại ngữ và ít có phần thu hút học sinh vì chúng ta thiếumôi trường sử dụng tiếng Anh thường xuyên Vì thế một bộ không nhỏ học sinhkhông quan tâm lắm đến môn học này Vậy làm thế nào để thu hút học sinh vàomôn này? Trong thực tế, kết quả giảng dạy nhiều năm cho thấy: trên dưới 50% họcsinh ở các lớp đại trà có điểm bài kiểm định chất lượng dưới 5 điểm do PGD hoặcSGD ra đề Vậy thì vai trò của học sinh như thế nào và vai trò của giáo viên bộmôn như thế nào? Rất khó trả lời câu hỏi này, vì chúng ta – tất cả giáo viên môntiếng Anh và học sinh ở các trường trung học cơ sở – thiếu môi trường ngôn ngữ vàđặc biệt giáo viên ít chịu tìm kiếm những cách thức đơn giản hóa việc học môntiếng Anh ở trên lớp bằng các thủ thuật, các mẹo cá nhân Thêm vào đó, giáo viênchỉ chú trọng đến các điểm ngữ pháp theo chủ điểm trong sách giáo khoa, đây lànguyên nhân dẫn đến việc ngại học môn tiếng Anh Yêu cầu đạt kết quả cao ở cuốinăm học và tỉ lệ học sinh đạt giải cao trong các kỳ thi học sinh giỏi làm cho giáoviên bộ môn phần nào bị áp lực, và áp lực đó được truyền tải sang học sinh Mụcđích của việc học môn tiếng Anh là ngoài đạt kết quả cao trong các kỳ kiểm tra, kỳthi, học sinh còn phải biết sử dụng hiệu quả tiếng Anh trong giao tiếp Một phầnlớn học sinh không thích môn học này, dẫn đến tỷ lệ yếu còn cao ở cuối năm học.Nguyên nhân dẫn đến học sinh sợ và chán học môn tiếng Anh: đây là một mônngoại ngữ, mới lạ, làm tâm lý các em sợ sệt hơn khi học một ngôn ngữ khác; giáoviên dạy chuyên về cấu trúc ngữ pháp, từ vựng quá nhiều, học sinh không tiếp thukịp, dần dần trở nên không thuộc từ vựng và không hiểu bài đã học; kiến thứcngôn ngữ tăng dần sau mỗi bài học, nhưng các em đã mất căn bản nên việc họctiếng Anh trở nên ngày càng khó hơn; địa phương thiếu môi trường ngôn ngữ giaotiếp tiếng Anh, nên việc thực hành giao tiếp bằng tiếng Anh còn nhiều hạn chế đặcbiệt là khả năng vận dụng đầy đủ bốn kỹ năng Nghe-Nói-Đọc-Viết Để thực hiệnđược các kĩ năng này một cách có hiệu quả hơn tôi nhận thấy cần phải tìm ra mộtvài biện pháp để phát huy tính tích cực học tập của học sinh giúp các em hứng thúsay mê học tập bộ môn thì giáo viên cần linh động trong việc vận dụng các cáchdạy khác nhau để đạt được mục đích yêu cầu của bài dạy Ngoài ra chúng ta cũngnên giải thích cho học sinh hiểu tầm quan trọng của việc học ngữ pháp từ đó họcsinh có thể sử dụng ngôn ngữ một cách có ý nghĩa và diễn đạt được điều mà mìnhmuốn giao tiếp Quan trọng nhất trong dạy ngữ pháp là giúp cho người học hiểuđược hình thái và ý nghĩa của những điểm ngữ pháp đang học để từ đó có thể sửdụng điểm ngữ pháp mới qua các hình thức nghe, nói, đọc viết

Trên thực tế, tôi cũng đã dạy môn tiếng anh theo phương pháp đổi mới được nhiềunăm, nhận thức được rằng muốn phát triển và dạy được các kỹ năng giao tiếp chohọc sinh mỗi giáo viên càng cần phải cố gắng làm sao để học sinh nắm chắc được

Trang 3

các phần ngữ pháp Bởi vì không chỉ để sử dụng trên lớp mà chúng ta thấy rõ ràngrằng trong các bài kiểm tra, các kì thi thì chủ yếu là kiểm tra các vấn đề ngữ pháp

Trong tiếng anh 6, 7, 8, 9 có rất nhiều vấn đề ngữ pháp quan trong và cầnquan tâm các thì câu gián tiếp, trực tiếp, câu điều kiện câu bị động Trong sốnhững vấn đề đó tôi nhận thấy việc dạy câu bị động cho học sinh là một vần đề khánan giải đối với nhiều giáo viên Rất may mắn tôi cũng đã được giảng dạy chươngtrình Tiếng Anh 8, 9 (Liên quan trực tiếp đến câu bị động) và đã đúc rút được một

số kinh nghiệm dạy câu bị động khá hiệu quả Do vậy tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề

tài “Phương pháp dạy câu bị động cho học sinh THCS”

2 Tên chuyên đề:

“Phương pháp dạy câu bị động cho học sinh THCS”

3 Tác giả :

- Họ và tên: Lê Anh Việt

- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Thị trấn Lập Thạch – Huyện Lập Thạch – Tỉnh VĩnhPhúc

- Số điện thoại: 0969 637 678

- Gmail: leanhvietc2dt@gmail.com

4 Cơ sở lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu:

Để đảm bảo yêu cầu của cải cách giáo dục, từng bước vận dụng phương phápdạy học mới “ coi học sinh là nhân vật trung tâm, giáo viên chỉ là người tổ chức,hướng dẫn cho học sinh học tập” Tiếng Anh là một môn học rất sinh động, đầytính khám phá và không kém phần dẫn đòi hỏi học sinh phải tích cực chủ độngtrong tiếp cận, lĩnh hội kiến thức mới dưới sự hướng dẫn của giáo viên Chính vìvậy trong quá trình dạy tôi luôn tìm tòi nghiên cứu để lựa chọn nội dung cơ bảncủa chuyên đề, chọn phương pháp phù hợp để học sinh tiếp thu kiến thức một cáchthoải mãi, không bị gò bó thụ động, gây được sự hứng thú học đối với học sinh khihọc khi học ngữ pháp nói chung và học câu bị động nói riêng

4.1 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu :

a/ Thuận lợi:

- Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của BGH nhà trường

- Được sự giúp đỡ nhiệt tình của các bạn bè đồng nghiệp

- Nhà trường có khá đầy đủ phương tiện trang thiết bị phục vụ cho dạy họcnhư phòng học bộ môn, loa đài, tai nghe, máy chiếu

Trang 4

- Đa số học sinh chăm ngoan có ý thức học tập được gia đình nhà trường giáoviên tạo điều kiện về tài liệu, thời gian và tinh thần để các em tập trung vào họctập.

- Giáo viên có trình độ chuyên môn tốt, nhiệt tình, tâm huyết với nghề nghiệp

và luôn có ý thức tìm tòi đổi mới phương pháp dạy học

b/ Khó khăn:

- Các em học sinh của trường THCS Đồng Thịnh tham gia chương trình sáchgiáo khoa thí điểm môn tiếng Anh Các em làm quen với bộ sách thí điểm đượcthiết kế rất hấp dẫn và bắt mắt, nhưng cũng chứa đựng rất nhiều từ mới hiện tượngngữ pháp mới, chủ đề mới lạ đòi hỏi học sinh phải có vốn kiến thức và từ phongphú để tiếp cận chương trình này Tuy nhiên, trong những năm học ở bậc tiểu họcphần lớn các em được học tiếng Anh một cách không bài bản không đầy đủ theođúng yêu câu của chương trình sách giáo khoa mới Chính điều này dẫn đến các emgần như trống rỗng về kiến thức và từ vựng và ngữ pháp khi các em chuyển lên bậchọc THCS, khiến cho việc dạy theo chương trình mới gặp rất nhiều khó khăn.Thêm vào đó các giữ nguyên thói quen không làm bài và học bài ở nhà như ở bậctiểu học, nhiều em tính tự giác trong học tập chưa cao Nhiều em bố mẹ đi làm ăn

xa ít có điều kiện gần gũi giám sát động viên việc học tập của con cái, thêm vào đó

do điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn nên các em chưa có điều kiện tiếp cận vớimáy tính có kết nối mạng Internet để rèn luyện các kỹ năng cần thiết của môn học

và tham gia các kỳ thi qua mạng Vậy nên các em còn nhiều hạn chế khi áp dụngkiến thức ngữ pháp

4.2 Các giải pháp của vấn đề nghiên cứu:

Như tôi đã trình bày ở các phần trên đây giảng dạy ngữ pháp là một vấn đề không

dễ, vì thế là giáo viên chúng ta cần xác định rõ từng trọng tâm ngữ pháp từng đốitượng học sinh, từng thời điểm cụ thể để từ đó có phương pháp dạy phù hợp

Sau đây tôi sẽ trình bày rõ ràng cụ thể từng hoạt động, từng dạng bài tập cụ thể đểcác giáo viên có thể áp dụng trực tiếp vào cả quá trình dạy học của bản thân

Chúng ta biết rằng ngay ở chương trình Tiếng Anh lớp 7 thí điểm câu bị động đãđược đề cập đến Trong chương trình Tiếng anh THCS ta thấy rõ ràng chương trìnhTiếng anh 8 là khá nặng cả về từ vựng, ngữ âm, cấu trúc, ngữ pháp cho nên đểchuẩn bị cho phần dạy câu bị động Ngay từ lớp 6 giáo viên chúng ta phải cố gắngdạy lần lượt các thì thật kĩ càng từ các thì ở thể chủ động như hiện tại đơn, hiện tạitiếp diễn, tương lai đơn giản đến quá khứ đơn giản (lớp 6-7), quá khứ tiếp diễn,hiện tại hoàn thành, quá khứ hoàn thành (lớp 8) Để làm nền tảng cho dạy câu bịđộng sau này ngay từ khi bắt đầu học kỳ 2 của chương trình Tiếng anh 7, khi dạythì QKĐ tôi đã phát cho các em 1 bảng động từ bất quy tắc chủ yếu là những động

từ yêu cầu các em thường xuyên mang theo và cố gắng học thuộc lòng Có rất

Trang 5

nhiều tài liệu có bảng động từ bất quy tắc nhưng riêng tôi lại tự soạn ra bảng động

từ bất quy tắc này, rất cơ bản dễ nhớ theo từng nhóm riêng mà trong thực tế tôithấy các em học sinh khi dùng bảng này vừa dễ nhớ, dễ thuộc lại dễ sử dụng hơnđồng thời cũng sát với chương trình học hơn

a Các bước dạy câu bị động:

Mỗi câu có thể được thể hiện ở thể chủ động hay bị động Chúng ta dùng câuchủ động khi chủ ngữ trong câu là tác nhân trực tiếp gây ra hành động trong câu.Khi chủ ngữ chịu tác động của hành động trong câu, chúng ta dùng thể bị động.Việc lựa chọn sử dụng câu chủ động hay bị động phụ thuộc vào nhiều yếu tố.Trong nhiều trường hợp, chúng ta chỉ sử dụng duy nhất hoặc dạng chủ động hoặcdạng bị động Do đó học sinh cần phải nắm được một số vấn đề sau:

 Nắm trắc được các thành phần cơ bản của câu chủ động như chủ ngữ, động

từ, tân ngữ, từ chỉ thời gian, nơi chốn (nếu có)

Tôi cho học sinh quan sát ví dụ và xác định 3 thành phần chính của câu đó là CN(S), động từ (V), tân ngữ (O) sau đó thực hiện các bước chuyển sang câu bị động.Câu chủ động(Active voice): Mr Smith teaches English at my chool

S V O

Câu bị động(Pasive voice): English is taught at my chool by Mr Smith

Học sinh quan sát ví dụ trên và rút ra cách chuyển từ câu chủ động sang câu bị động

Bước 1: Nhìn vào câu chủ động và xác định đúng 3 thành phần cơ bản của câu như

chủ ngữ (S), động từ (V), tân ngữ (O)

Bước 2: Ta lấy tân ngữ câu chủ động lên làm chủ ngữ câu bị động

Bước 3: Động từ câu chủ động ở thì nào thì To be câu bị động ở thì đó, động từ

chuyển về dạng quá khứ phân từ (P-II)

Bước 4 Chuyển chủ ngữ câu chủ động làm tân ngữ câu bị động và để sau “by”

Nếu trong câu có trạng từ chỉ thời gian ta để trạng từ đó sau “By -O” Nếu trong câu có trạng từ chỉ nơi chốn ta để trạng từ đó trước “By -O”

Trong câu bị động ta chủ yếu đề cập đến đối tượng của hành động cho nên khi chủngữ của câu chủ động là các đại từ nhân xưng:

I, You, We, They, He,She, It hoặc các đại từ mang nghĩa chung không rõ ràng như: people, every one, every body, noone, nobody, some one, some body ta có

thể bỏ qua mà không phải đưa xuống làm tân ngữ sau giới từ “by”

Trang 6

Ví dụ: People speak English all over the world

English is spoken all over the world

 Các cấu trúc câu bị động:

Về cấu trúc câu bị động trong tiếng Anh , tôi sẽ chia thành hai loại sau:

Loại 1: Bị động thông thường với các thì (dành cho học sinh đại trà)

Dạng này có công thức tổng quát sau:

Active:( câu bị chủ động) S + V + O

Passive(câu bị động) S be + P2 + (by – O)

1 Thì hiện tại đơn giản: (The present simple in passive)

Form: S + am, is, are + P2 + (by-O)

Ví dụ:

I learn English everyday

=> English is learnt (by me) everyday.

1 Thì hiện tại tiếp diễn bị động (The present continuous in passive)

Form: S + am, is, are + being + V-pII + (by-O)

Ví dụ: He is asking me a lot of questions.

=> I am being asked a lot of questions

3 Thì quá khứ đơn giản bị động( The past simple in passive)

Form: S + was/ were + V-pII + (by-O)

Ví dụ: My mother wrote that letter last night.

=> That letter was written by my mother last night.

4 Thì quá khứ tiếp diễn bị động( The past continuous in passive)

Form: S + was/ were being+ V-pII + (by-O)

Ví dụ: Hoa was doing her homework in her studying room.

=> Her homework was being done in her studying room by Hoa.

5 Thì Tương lai đơn giản bị động: ( The Future simple in passive)

Form: S + will be + V-pII + (by-O)

Ví dụ: Lan will visit her grandmother tonight.

Trang 7

=> Her grandmother will be visited by Lan tonight.

6 Thì hiện tại hoàn thành bị động: ( The present perfect in passive)

Form: S + have/ has been + V-pII + (by-O)

Ví dụ: Minh has learnt English for 2 years.

=> English has been learnt by Minh for two years.

7 Thì quá khứ hoàn thành bị động: ( The past perfect in passive)

Form: S + had been + V-pII + (by-O)

Ví dụ: They had prepared a dinner before we came.

=> A dinner had been prepared before we came.

8 Động từ khuyết thiếu bị động (Modal verbs in passive)

Form: S + modal verb + be + V-pII + (by-O)

Ví dụ: My friend can answer this question quickly.

=> This question can be answered quickly by my friend

Loại 2: Các loại câu bị động đặc biệt: (dành cho học sinh khá giỏi)

1 Bị động dạng nhờ bảo

Form Active: S + have sb + do- sth./ to get sb to do sth

Passive: S + have/get – sth + done

(bảo ai làm điều gì đó, điều mà mình không tự làm được)

Ví dụ : I usually have a mechanic repair my motorbike.

=> I usually have my motorbike repaired by a mechanic.

2 Bị động với cấu trúc :

Active: To make sb do sth. (bảo ai làm việc gì đó- có tính mệnh lệnh)Passive: Sb + to be made to do sth.

Ví dụ: My mother often makes me study hard every day.

=> I am often made to study hard every day.

3 Bị động với các động từ chỉ giác quan

See, watch, hear, ………

Active: S + see/ make/ watch/ hear + O + V.

Passive: S + be + seen/ made/ watched/ heard + to + V …

Trang 8

Ví dụ: I saw her come into the house

=> She was seen to come into the house

Ví dụ: I watched them play soccer yesterday.

=> They were watched to play soccer yesterday.

4 Bị động với các động từ chỉ ý kiến, quan điểm

-Hình thức bị động này được sử dụng khi người nói không muốn đề cập đến chủ thể thực hiện hành động.

Say, think, believe , report, romour, know, ………

Active: S + say, think, know… (that) + S + V + O

V1 V2

Passive: => It is + said/ thought/ known + (that) + clause (S + V + O )

=> S + to be + said/ thought/ known + to be + V + O

=> It is believed that Nam is a good student.

=> Nam is believed to be a good student.

Ví dụ: They say that John went to Canada last week

V1 V2

=> It is said that John went to Canada last week.

=> John is said to have gone to Canada last week.

Ví dụ: People said that Hoa has gone to Ho Chi Minh City for two days.

V1 V2

=> It was said that Hoa has gone to Ho Chi Minh City for two days.

=> Hoa was said to have gone to Ho Chi Minh City for two days.

5 Bị động với “ Let sb do sth ” => be allowed to +V

Ví dụ: Let him go out => He was allowed to go out.

Ví dụ: He let me go home early last night

=> I was let to go home early last night.

Trang 9

=> I was allowed to go home early last night.

6 Bị động với “ To-V- inf “ và “ V-ing”

Bị động với “ To-V- infinitive”

Active: S + V + to-V + O

Passive: S + V + to be V-PII + (by-O)

Ví dụ: I don’t want people to ask me so many questions.

=> I don’t want to be asked so many questions(by people).

Ví dụ: Today many people continue to wear the ao dai because of its beauty.

=> Today the ao dai continues to be worn by many people because of its

beauty

Ví dụ: I want to help my mother with the housework.

=> My mother wants to be helped with the housework.

Bị động với “ V-ing”

Ví dụ: He hates people asking him so many questions.

=> He hates being asked so many questions.

Ví dụ: The children enjoy their parents taking the to the zoo every weekend.

=> The children enjoy being taken to the zoo by their parents every

weekend

7 Bị động với “ NEED “ có 2 cách S + need to be done / PII

S + need + V-ing.

Ví dụ: I need to clean the classroom.

=> The classroom needs to be cleaned.

=> The classroom needs cleaning.

Ví dụ: I need to water the flowers every morning.

=> The flowers need to be watered every morning.

=> The flowers need watering every morning.

b Các bài tập áp dụng:

Bước đầu tôi sẽ xây dựng bài tập theo hướng từ đơn giản đến phức tạp, từ dạng bài tập theo từng thì thời đơn lẻ đến các bài tập ở dạng hỗn hợp cho phù hợp với đối tượng học sinh trong các lớp khác nhau

Bài tập câu bị động thông thường:

Trang 10

Exercise 1: Change into passive voice using the present simple tense

Form: S + am, is, are V-PII + (by-O)

1 People use milk to make butter

=>Milk is used to make butter.

2 They feed the chickens twice a day

=> The chickens are fed twice a day.

3 People don't learn English over night

=> English isn’t learnt over night

4 Mary does some exercises everyday

=>Some exercises are done everyday by Mary

5 My aunt makes good cakes

=> Good cakes are made by my aunt

6 My mother often takes me to school every morning

=> I am often taken to school by my mother every morning

Exercise 2: Change into passive voice using the present continuous tense.

Form: S + am, is, are being +V-PII + (by-O)

1 Nam is repairing my radio at the moment

=> My radio is being repaired at the moment

2 They are building a new bridge over the Red River

=> A new bridge is being built over the Red River

3 Someone is cutting the grass in the garden at the moment

=> The grass is being cut in the garden at the moment

4 That factory is producing more and more pollution

=>More and more pollution is being produced by that factory

5 Nam is playing soccer at the moment

=> Soccer is being played by Nam at the moment

Exercise 3: Change into passive voice using the past simple tense.

Form: S + was/ were +V-PII + (by-O)

1 Nam broke the window last night

=>The window

Ngày đăng: 25/01/2019, 10:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w