Bài thuyết trình môn lịch sử các học thuyết kinh tế Học thuyết Keynes (Phần 2)Bản word thuyết trình môn lịch sử học thuyết kinh tế, học thuyết kinh tế của Keynes phần 2. Phần 1 là slide thuyết trình powerpoint. Bạn vui lòng tìm kiếm và dowload.
Trang 1HỌC THUYẾT CỦA KEYNES
Mở đầu
Trong hệ thống tư tưởng, trường phái kinh tế, nhiều nhà lý luận đã đề cập đến vai trò kinh tế của nhà nước Trong số họ, Keynes là người đặc biệt đề cao vai trog của nhà nước thông qua các chính sách và các công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế của nhà nước Lý luận này của ông trở thành cơ sở quan trọng trong việc phát huy vai trò kinh tế của nhà nước trong điều kiện hiện nay Nước ta đang trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa, với một điểm xuất phát rất thấp về kinh tế Do đó việc nghiên cứu lý thuyết của Keynes – nói về vai trò điều tiết hướng dẫn của nhà nước để nền kinh tế phát triển theo đúng quỹ đạo mong muốn
là rất quan trọng và cần thiết
I Lý thuyết về sự điều chỉnh của nhà nước theo học thuyết Keynes
1 KEYNES (1883-1946)
*John Maynard Keynes
John Maynard Keynes (sinh năm 1883) là một nhà kinh tế học người Anh, là 1 trong những nhà tư tường quan trọng nhất của thế kỉ XX Ông nổi tiếng với học thuyết kinh tế
Keynes – một học thuyết kinh tế có tầm ảnh hưởng lớn tới kinh tế học và chính trị hiện đại
là con trai của John Neville Keynes, một giảng viên của Đại học Cambridge, và Florence Ada Brown, một tác giả và là nhà cải cách xã hội.
vợ là một vũ công ballet xinh đẹp trước đó Ông từng có những cuộc hẹn hò đồng tính
Keynes không phải là người theo chủ nghĩa xã hội, ông đến để cứu chủ nghĩa tư bản, không
phải để chôn nó “Tôi cho rằng, chủ nghĩa tư bản một khi được quản lý khôn ngoan sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế hơn bất kì chế độ nào” – Keynes nói trong một bài giảng dạy
Người ta nói Ông là một “con ruồi trâu” của thế giới tài chính hiện đại là một kẻ tham công
tiếc việc bởi ông luôn “ôm đồm” rất nhiều vị trí: giảng viên chính thức của trường Kings
College, học giả nghiên cứu tại trường Kings College, tác giả sách, nhà tư vấn tài chính, nhà báo cộng tác với The Guardian, thành viên của Ủy ban chính sách công nghiệp thuộc Đảng Tự do Những người ủng hộ thì cho rằng các học thuyết kinh tế của Keynes là nền tảng cho các chính sách tiền tệ và kích thích tài khóa mà rất nhiều quốc gia sử dụng ngày nay Tuy nhiên, bên cạnh
đó cũng có một số ý kiến phản pháo rằng, ông là “tội đồ” tạo ra những kẻ tham lam trên thị trường
Suy cho cùng, Keynes là một con người bình thường đến phi thường
“Keynes là một trong những người đàn ông đáng chú ý nhất trong lịch sử thế giới Tư duy logic, trực giác, tầm nhìn xa trông rộng, nhanh nhạy và luôn bắt kịp với những thay đổi… tất cả các yếu tố này kết hợp trong một con người bình thường đến mức phi thường” – một đại biểu tham
dự hội nghị Bretton Woods nhận định về Keynes
Trang 2*Kinh tế học Keynes
Kinh tế học Keynes là hệ thống lý luận kinh tế vĩ mô lấy tác phẩm Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ làm trung tâm và lấy nguyên lý cầu hữu hiệu làm nền tảng
Nguyên lý cầu hữu hiệu khẳng định rằng, lượng cung hàng hóa là do lượng cầu quyết định Do
đó, vào những thời kỳ suy thoái kinh tế, nếu tăng lượng cầu đầu tư hàng hóa công cộng (tăng chi tiêu công cộng), thì sản xuất và việc làm sẽ tăng theo, nhờ đó giúp cho nền kinh tế ra khỏi thời
kỳ suy thoái
Vd: ở trong 1 thị trấn có 1 nhà máy sản xuất ô tô, cả thị trấn (nền kinh tế) đang trong trạng thái cân bằng.Đang buôn may bán đắt như thường lệ, bỗng có 1 năm ế ẩm hơn, số xe bán đc ít hơn -> khiến nhà máy này phải cắt giảm sản xuất -> buộc công ty theo đó cắt giảm nhân công -> thất nghiệp tăng
Cần sự can thiệp của chính phủ: kích cầu và do đó tăng việc làm
Như: chính phủ thấy vậy sẽ đầu tư vào cơ sở hạ tầng đường xá -> các công nhân xây đường sẽ ghé vào các nhà hàng ->tăng khuyến khích nhà hàng thuê thêm nhân viên -> nhân viên nhà hàng theo đó sẽ cần nhiều xe hơi để đi làm ( cộng thêm đường sắp mướt rồi, chạy xe êm) -> cầu mua ô
tô tăng, nhà máy sản xuất ô tô đó mở rộng thị trường, thuê thêm nhân công ->giảm thất nghiệp -> hết suy thoái
Các học thuyết kinh tế của ông được coi là ánh sáng soi đường cho chính sách điều hành kinh tế cũng như tạo việc làm của các quốc gia, trong đó phải kể đến chính sách kích thích kinh tế của Tổng thống Mỹ Barack Obama năm 2009 Bên cạnh đó, Keynes cũng là "cha đẻ" của những hiệp định thương mại thời hậu chiến Bretton Woods
Có những quốc gia áp dụng học thuyết này và đặt ra những quy phạm pháp luật về hoạt động kinh tế cực kì khắc khe
Như: đặt giá mua bán theo giá của cơ quan công quyền đưa ra, xóa bỏ quyền kinh doanh của cá nhân để trở thành nền kinh tế kế hoạch, tập trung bao cấp như Triều Tiên, và các nước trong khối xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây, hoặc thừa nhận quyền tư hữu, quyền kinh doanh của công dân nhưng áp đặt giá mua bán, chỉ định đối tượng phải mua và bán theo ý chí cơ quan hành chính như Venezuela dưới thời tổng thống Hugo Chavez hoặc Zimbabwe, Banglades, nơi giá bán từng bó rau, kí lô thịt cá phải theo giá quy định của nhà nước,vv…
Có những quốc gia áp dụng cách khác như: pháp luật chỉ có vai trò tạo ra và giữ gìn môi trường kinh doanh lành mạnh, đảm bảo sự tự do cạnh tranh lành mạnh để không dẫn tới độc quyền như Mỹ, Pháp, Đức, Nhật,vv…
2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TRƯỜNG PHÁI KEYNES
* đặc điểm về nội dung
Trang 3Keynes nghi ngờ khả năng tự điều tiết của “bàn tay vô hình” của thị trường (theo quan niệm của Adam Smith) – nghi ngờ khả năng tự điều chỉnh và tự lành mạnh trở lại của thị trường Lấy ví dụ ở trên: khi nhà máy sản xuất ô tô cắt giảm nhân công do cầu giảm,vì họ cần tìm đc việc làm nên 1 số sẽ chấp nhận mức lương thấp hơn mức lương ban đầu -> những nhà kinh tế học cổ điển cho rằng mức lương sẽ giảm cho tới khi nhà máy cảm thấy hợp lý nếu thuê lại nhân công đưa nền kinh tế trở về cân bằng tự nhiên
Nhưng không, theo K : Cầu thấp có thể dẫn đến 1 “chu kì đi xuống”: cầu thấp đồng nghĩa với việc ít việc làm hơn
nhà máy sẽ thấy việc kinh doanh của họ đang đi xuống do nhu cầu đang giảm -> họ sẽ ngừng sản xuất và giảm giá ô tô xuống, thu hẹp sản xuất, cắt giảm nhân công -> dẫn đển thiếu việc làm kéo dài ( không quay về cân bằng tự nhiên)
Do đó, nhà nước phải duy trì cầu đầu tư để kích thích cả đầu tư Nhà nước và tư nhân bằng :
Đầu tư bằng tiết kiệm, khuyến khích đầu tư và giảm tiết kiệm
Tăng tiêu dùng, thực hiện các biện pháp kích cầu hiệu quả
*Đặc điểm về phương pháp luận:
Thứ nhất, phương pháp phân tích của Keynes dựa trên cơ sở tâm lý chủ quan nhưng khác với trường phái cổ điển mới dựa vào tâm lý cá biệt thì ông ông dựa vào tâm lý chủ quan xã hội.Phủ nhận cơ chế tự điều tiết của trường phái Tân Cổ Điển
Thứ hai, ngược với các nhà cổ điển mới, ông phân tích nền kinh tế với những đại lượng
vĩ mô có hệ thống Theo ông việc phân tích kinh tế phải xuất phát từ các tổng lượng lớn để
nghiên cứu mối quan hệ giữa các tổng lượng đó và khuynh hướng chuyển biến của chúng Trên
cơ sở đó có thể rút ra những kết luận vận dụng cho từng đơn vị cá biệt trong nền kinh tế
Thứ 3, Đề cao vai trò của Nhà nước trong việc điều tiết nền KT
3 LÝ THUYẾT VỀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA NHÀ NƯỚC THEO HỌC THUYẾT KEYNES
3.1 Hoàn cảnh lịch sử
Xu hướng tư tưởng của trường phái cổ điển bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ 17 và phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ 18 đến nửa cuối thế kỷ 19 Do đó, trước khi nhân loại bước vào tk XX, “btvh” theo quan niệm của Adam Smith gần như là công cụ duy nhất để điều tiết sự vận động và phát triển của nền kinh tế Theo đó, nhà nước công quyền là kẻ thù của cơ chế kinh tế NN không đc và không thể gây ảnh hưởng tới nền kt
Trang 4Dẫn đến từ những năm 30 của thế kỉ XX và thống trị đến những năm 70 thế kỉ XX: diễn ra khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp thường xuyên, nghiêm trọng ở các nước châu Âu và Bắc Mỹ và trở thành cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới đầu tiên năn 1929 – 1933
cuộc đại khủng hoảng cho thấy “btvh” không phải vạn năng, các lý thuyết ủng hộ tự do kinh
doanh của trường phái cổ điển và cổ điển mới không còn sức thuyết phục, tỏ ra kém hiệu
nghiệm, không đảm bảo nền kinh tế phát triển lành mạnh Chủ nghĩa tư bản phát triển, đặc biệt lực lượng sản xuất phát triển cao đòi hỏi sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế
Tóm lại: Thực tế yêu cầu một lý thuyết kinh tế mới có khả năng thích ứng với tình hình mới và học thuyết của Keynes đáp ứng được, đó là một lý thuyết kinh tế chủ nghĩa tư bản có điều tiết
Các học thuyết đi trước
Trước A.smith, các nhà lý luận có vẻ như không ủng hộ việc nhà nước can thiệp vào kinh tế
Bắt đầu từ A Smith, các nhà kinh tế học trường phái cổ điển đã bảo vệ vai trò tối thiểu của nhà nước và giới hạn nó ở việc thực hiện các công việc cần thiết sống còn của xã hội, giữ vững tính luật pháp và trật tự xã hội, bảo vệ đất nước Theo quan điểm của họ, chính phủ phải bảo đảm các quyền sở hữu,
và tính vững chắc của các khế ước, phải bảo vệ các quyền tự do về kinh tế
và chính trị của các công dân Tất cả những việc đó có thể được coi là hoạt động cơ bản của nhà nước có nghĩa là nhà nước vẫn không nên can thiệp quá nhiều vào kinh tế
3.2 Lý thuyết của Keynes về vai trò kinh tế của Nhà nước.
Chính sách đầu tư: Keynes cho rằng: Để thoát khỏi khủng hoảng và giải quyết việc làm thì trước hết nhà nước phải có một chương trình đầu tư lớn Qua 2 đường:
Trực tiếp: trực tiếp đầu tư vào các công trình công cộng (như bệnh viện, đường sá hay các
trường học,….)
Vd như trên: chính phủ sẽ đầu tư vào cơ sở hạ tầng đường xá -> các công nhân xây đường
sẽ ghé vào các nhà hàng -> tăng khuyến khích nhà hàng thuê thêm nhân viên -> nhân viên nhà hàng theo đó sẽ cần nhiều xe hơi để đi làm ( cộng thêm đường sắp mướt rồi, chạy xe êm) -> cầu mua ô tô tăng, nhà máy sản xuất ô tô đó mở rộng thị trường, thuê thêm nhân công ->giảm thất nghiệp -> hết suy thoái
Gián tiếp: thông qua các chính sách và công cụ để khuyến khích tư nhân đầu tư (thông qua
các đơn đặt hàng của nhà nước, hệ thống thu mua của nhà nước, trợ cấp của nhà nước về tài chính ứng dụng ) ví dụ: nhà nước sửa đổi, bổ sung 1 số điều luật về thuế để hỗ trợ cũng như tháo gỡ những vước mắc, giúp doanh nghiệp phát triển sản xuất; hỗ trợ các doanh nghiệp tại các hội chợ thương mại quốc tế; hay một số ngành hàng được trợ giá khi xuất khẩu
Trang 5Chính sách này giúp nhà nước duy trì cầu đầu tư để kích thích cả đầu tư nhà nước và tư nhân Từ
đó có thể tạo công ăn việc làm cho số lao động thất nghiệp Số người được tuyển vào làm việc
mới khi nhận đc thu nhập sẽ lại tham gia vào thị trường tiêu dùng hang hóa>>> Cầu hàng hóa tăng >>>>> giá tăng >>dẫn đến hiệu quả của tư bản đầu tư cũng tăng theo>>>> nhà sản xuất mở rộng sản xuất >>>>>> vực đậy nền kinh tế, đẩy lùi khủng hoảng.
2 Chính sách tài chinh tín dụng, tiền tệ và thuế khóa
Keynes coi vai trò của hệ thống tài chính tiền tệ tín dụng, thuế hết sức quan trọng, là những công
cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế rất có hiệu quả
Để đạt được mục tiêu sử dụng hệ thống tín dụng >>>> kích thích các nhà đầu tư >>>> thì phải tăng lương tiền lưu thông, thông qua “lạm phát kiểm soát”
“Lạm phát kiểm soát” như:
Tăng mức lưu thông tiền tệ >>>> giảm lãi suât cho vay >>>> tăng sản xuất
(bonus: nếu giá cả chi phí chưa tăng khi mà giá cả hàng hóa tăng thì nhà sản xuất sẽ có lời) (tuy nhiên thì trong khi khủng hoảng, nhu cầu mở rộng kinh doanh giảm và các ngân hàng cũng không dám mạo hiểm cho vay đối với các doanh nghiệp có độ rủi ro cao; khó cho vay tiêu dùng ví dụ: khủng hoảng về bất động sản 2008 )
NN giảm lãi suất cho vay quá thấp để kích thích vay đầu tư sản xuất, kích thích mọi người vay tiền đầu tư BĐS để cất trữ, kinh doanh, đầu cơ đều có lời khiến giá đất tăng ngày 1 nhanh nhiều khi vừa vay để mua đất bán ra liền cũng có lời vì đất thì tăng giá quá nhanh số tiền này NN chủ yếu để hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư sản xuất nhưng lại bị đổ xô vào vay để đầu tư BĐS, tình hình kinh tế không cải thiện mà NN lại càng ngày càng thâm hụt vốn nên đã tăng vọt lãi suất ( từ 8-9% lên 17-18%), các nhà đầu tư chưa hoàn thành kế hoạch đầu tư đã ôm nợ, cầu mua đất giảm giá đất giảm khiến doanh nghiệp vỡ nợ Người quỵt tiền, người mất lòng tin vào nhà nước
In tiền giấy >>> bù đắp thiếu hụt ngân sách cho nhà nước khi mà tung tiền đầu tư đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng
(tuy nhiên, in tiền chỉ có tác dụng trong ngắn han Việc kéo dài trong dài hạn sẽ làm cho nền kinh tế lạm phát, có thể trở thành siêu lạm phát nếu quốc gia đó ko có một chiến lược kinh tế vĩ
mô dúng đắn Ví dụ: venezuela)
Khuyến khích mọi hình thức đầu tư (kể cả chiến tranh)
Ngoài ra còn kết kết hợp công cụ thuế:
Tăng thuế với người lao động kiếm thêm thu nhập cho NN để hỗ trợ tăng đầu tư
(ảnh hưởng đến tâm lí và năng suất của người lao động)
Giảm thuế với các nhà đầu tư để họ mở rộng sản xuất ( Chính phủ có thể giảm thuế
nhập khẩu để giá nguyên liệu đầu vào của doanh nghiệp thấp hơn hoặc hoãn thu thuế của
Trang 6doanh nghiệp trong một thời hạn nhất định, đây chính là nguồn tín dụng được bơm thẳng cho doanh nghiệp để kích thích sản xuất)
1 Chính sách tạo việc làm:
Keynes lập luận thất nghiệp có thể giải quyết hiệu quả bằng việc sử dụng tổng cầu
Công nhân sẵn sàng chấp nhận việc tăng giá do tăng cầu (dựa vào mức lương danh nghĩa ổn định)
WR: Tiền lương thực tế.
Wm: Tiền lương danh nghĩa.
CPI: Chỉ số giá cả hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ.
tiền lương thực tế phụ thuộc theo tỷ lệ thuận vào đại lượng tiền lương danh nghĩa và phụ thuộc theo tỷ lệ nghịch với mức giá cả vật phẩm tiêu dùng và dịch vụ
(Tiền lương danh nghĩa là tổng số tiền mà người công nhân nhận được do bán sức lao động
của mình cho nhà tư bản
Tiền lương thực tế là số lượng hàng hoá và dịch vụ mà công nhân có thể thu được bằng tiền lương
danh nghĩa)
Vd : mình đang làm công việc parttime là tư vấn khách hàng online cho 1 shop balo Ban đầu khi balo shop mình bán được nhập về là 100k và đc bán với giá 200k 1 đơn hàng balo mà mình chốt được sẽ được tính là 10k, có nghĩa mình sẽ lấy 10% tiền lời cho 1 đơn hàng Sau 1 thời gian Shop buôn may bán đắt hơn, khách hàng đông hơn, nên shop tăng giá từ 200k lên 300k, nếu tính đúng mức lương danh nghĩa thì lời 200k*10%= 20k 1 đơn, nhưng shop vẫn chỉ trả mình 10k 1 đơn thôi Có nghĩa khi mức lương thực tế không thay đổi, giá hàng hóa tăng thì mức lương danh nghĩa sẽ giảm
( liên hệ với lí thuyết việc làm của keynes)
Tăng giá >>>> giảm tiền lương danh nghĩa >>>> kích thích việc làm
Bonus (nói thêm):
Tuy nhiên theo K thì sự cân bằng co thể tồn tại ở việc làm có ít hơn (có nghĩa là dù cho có nhiều người thất nghiệp nhưng mà tiết kiệm và đầu tư cân bằng thì vẫn ổn) Sự tồn tại của tiền lương
và giá cả thay đổi đi xuống sẽ không đảm bảo có đủ việc làm Vì những hạn chế khác, nghĩa là những nhu cầu hình thức đầu cơ tiền mặt và hàm đầu tư, chính sách tiền tệ không hữu ích theo
dự án Chi tiêu của chính phủ là khoản đầu tư công cộng bơm thêm cho dòng chảy thu nhập Vd như chính phủ đầu tư mua ximang đất, cát, để xây dựng đường xá, bệnh viện, trường học… Và để tăng thu nhập Chính phủ có thể đánh thuế (tuy làm giảm tiêu dùng, nhưng ít hơn số thuế đánh),hoặc bằng việc bán trái phiếu cho cục dự trữ liên bang, hay bằng những biện pháp khác Ảnh hưởng sinh ra từ việc làm và thu nhập của tất cả những biện pháp thay thế này phải đánh giá
và sau đó phải có hành động đạt đến sự ổn định kinh tế
Trang 7Keynes không nghĩ khoản tiền đầu tư bơm vào đơn giản hay “kích thích kinh tế” là đủ, điều cần phải có là chương trình quy mô rộng và có kế hoạch trong chính sách tài chính nhiệm ý cũng tăng cường những yếu tố ổn định có sẵn (như đánh thuế lũy tiến) Tóm lại, chính phủ phải sẵn sàng cũng cấp điều kiện để có đủ việc làm
Khuyến khích tiêu dùng cá nhân
K cho rằng, con người thích giữ tiền hơn là đầu tư vì lo ngại rủi ro, nhưng giữ tiền cũng là một dạng đầu
cơ vào lãi suất, đầu tư giảm thì thất nghiệp sẽ tăng, thị trường tự nó không giải quyết được vấn đề này Vì thế cần vai trò của NN NN phải kích cầu, chấp nhận vay nợ và thâm hụt ngân sách để kích cầu
Khi tăng khối lượng tiền trong lưu thông lãi suất sẽ giảm, khi lãi suât thấp con người có khuynh
hướng nắm giữ tiền mặt, khiến tiêu dùng hiện tại hấp dẫn hơn so với (chỉ tiêu dùng kỳ hạn) tiết kiệm
Vd: lãi suất giảm khiến ngta thấy gửi ngân hàng k có lời nhiều, kích thích vay chi tiêu đặt biệt là chi tiêu vào các mặt hàng trả góp.
Điển hình, chính sách tiền tệ làm giảm lãi suất và bằng cách này làm tăng chi tiêu.cụ thể là chỉnh sách nới lỏng tiền tệ.
khi sử dụng chính sách tiền tệ: tiến hành các nghiệp vụ thị trường mở, thay đổi tỉ lệ dự trữ bắt buộc, thay đổi lãi suất chiết khấu, sử dụng 1 số công cụ như: tỉ giá hối đoái, công cụ lãi suất tin dụng, công cụ tái cấp vốn, công cụ hạn mức tín dụng
(khi sử dụng chính sách tiền tệ: tiến hành các nghiệp vụ thị trường mở: NHTW mua trái phiếu chính phủ ngắn hạn nhằm làm giảm các mức lãi suất ngắn hạn trên thị trường
Giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc -> tăng vay tiêu dùng
Sử dụng công cụ: Lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn
Tăng công cụ lãi suất tin dụng, công cụ tái cấp vốn, công cụ hạn mức tín dụng như cấp thẻ tín dụng
tỉ giá hối đoái (giảm e, thu mua usd bán nội tệ)
Hạn chế: bẫy thanh khoản: lãi suất quá thấp khiến mọi người sẽ giữ tiền mặt chứ không gửi vào ngân hàng hay mua chứng khoán K huy động đc vốn để kích thích đầu tư
, chế độ tỉ giá hối đoái cố định, khi đầu tư không thay đổi theo lãi suất.
(Theo như keynes lập luận, cá nhân nắm giữ ít tiền nhất vì lí do quan trọng khác - hay đầu cơ vào thị trường trái phiếu Họ nắm tiền để đầu cơ vào thi trường trái phiếu Lãi suất giảm thấp đến mức (giá trái phiếu quá cao) làm cho mọi người thấy đầu tư vào trái phiếu là không phù họp Mọi người nắm giữ nhiều tài sản bằng tiền mặt lớn Vì vậy, việc nắm giữ trái phiếu là không an toàn và nắm giữ tiền mặt thay vì mục đích đầu cơ
Trang 8Mặc dù lãi suất được quyết định bằng sự kết hợp các yếu tố thực và tiền tệ trong hệ thống kinh tế, sự tồn tại của nhu cầu đầu cơ tiền có nghĩa là cơ cấu qua đó tiền ảnh hưởng tới thu nhập và việc làm trong nền kinh tế không giản đơn )( liên hệ đến lí thuyết lãi suất và cận biên của tư bản)
(chi tiêu dùng kì hạn / tiết kiệm, trong kinh tế học, là phần thu nhập có thể sử dụng không được chi vào
tiêu dùng Các phương pháp tiết kiệm bao gồm việc bỏ tiền vào Ví dụ như: tài khoản tiền gửi, tài khoản hưu trí, quỹ đầu tư, hoặc bằng tiền mặt Tiết kiệm cũng bao gồm việc giảm chi tiêu, như giảm chi phí định
kì Về tài chính cá nhân, tiết kiệm nói chung chỉ đến các khoản tiền mức rủi ro thấp, như tài khoản tiền gửi,…Trong kinh tế nói rộng hơn, tiết kiệm đề cập đến bất kì thu nhập nào không được dùng để tiêu ngay)