Đề cương nghiên cứu khoa học vấn đề tự học (tham khảo)Đề cương nghiên cứu vấn đề tự học của sinh viên tham khảo. Đây là một bài được tham khảo từ nhiều nguồn và tài liệu. Bài nghiên cứu hoàn chỉnh, bạn vui lòng tìm kiếm và download để có cái nhìn rõ hơn.
Trang 1Chủ Đề:
Hoạt động tự học của sinh viên khoa Kinh tế và Quản lý
công trường đại học
Trang 2viên với ý nghĩa có trách nhiệm đối với chính bản thân họ phải được coi là mấu chốt, là động lực thôi thúc họ, thậm chítrở thành vấn đề nóng bỏng trong học tập theo hệ thống tín chỉ hiện nay Với việc học tập theo học chế tín chỉ, rất nhiều sinh viên còn bỡ ngỡ vì rằng trong suốt những năm học phổ thông, phần lớn đã quen với phương pháp học thụ động, lối học vẹt, tiếp nhận kiến thức qua hệ thống sách giáo khoa và từ cácthầy, cô giáo Do đó, khi bước vào học đại học không ít
em ban đầu thụ động hoang mang Đối với sinh viên năm thứ nhất phải có ngay khả năng tự học, tự nghiên cứu là điều vô cùng khó khăn
và trở thành áp lực lớn đối với các em nhưng vẫn cứ phải làm quen vàchấp nhận Đối với sinh viên sư phạm thì tính mô phạm là rất cần thiết Do đó, đòi hỏi các em phải nghiêm khắc với bản thân, mặc dầu với bao bộn bề của sự phức tạp hôm nay đang thách thức các
em.Trong điều kiện đào tạo theo hệ thống tín chỉ hiện nay thì tự học được đặt lên hàng đầu quan trọng Thầy cô là người hướng dẫn, trò là người thi công và sản phẩm làm ra lại được định hình chính trong
“bàn tay thi công” của trò Thiết nghĩ, ở một mức độ nào đó, thì giáo trình là trung tâm, còn người dạy lẫn người học cùng khai phá tri thức
và lĩnh hội tri thức Tự học là vô cùng quan trọng vì nó khai thác triệt
để thời gian nhàn rỗi trong sinh viên và sinh viên có thể xoáy sâu nghiền ngẫm những điều thầy cô hướng dẫn, giảng giải trên lớp Điều đáng quan tâm là tự học sẽ rèn luyện khả năng nghiên cứu, tiếp cận trithức Xuất phát từ vấn đề trên,nhóm em chọn đề tài “ Hoạt động tự học của sinh viên _" làm đề tài nghiên cứu
Trang 3II Mục đích nghiên cứu:
- Tìm hiểu những kiến thức căn bản nhất về vấn đề tự học của sinh viên Nêu rõ được nội dung của hoạt động tự học gồm mấy vấn đề, đểtiếp cận nó phải tuân thủ theo qui trình nào, điều kiện để áp dụng có hiệu quả các yêu cầu ra sao…
- Tìm hiểu tầm quan trọng của vấn đề tự học ,và làm thế nào để nâng cao tinh thần tự học của sinh viên
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Các bạn sinh viên trường đại học
Thời gian nghiên cứu:
IV.Giả thiết nghiên cứu:
Trong nội dung của bài này em muốn trình bày những kiến thức căn bản nhất về vấn đề tự học của sinh viên Nhằm nêu rõ nội dung của hoạt động tự học gồm mấy vấn đề, để tiếp cận nó phải tuân thủ theo qui trình nào, điều kiện để áp dụng có hiệu quả các yêu cầu ra sao… từ đó xây dựng những biện pháp dạy tự học tích cực tương ứng.Giúp sinh viên hiểu được tầm quan trọng của vấn đềtự học và tìm cho mình giữ một phương pháp tự học phù hợp nhất để học tập và nghiên cứu thuận lợi hơn đạt kết quả cao, và góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
V.Phương pháp nghiên cứu:
1 Phương pháp quan sát:
Trang 4Quan sát trực tiếp việc tự học của sinh viên trong thư viện
trường, tại các phònghọc, trong khuôn viên trường và cả trên ký túc xá.Quan sát gián tiếp kết quả học tập của các bạn sinh viên để biết mức độ nắm vững kiến thức của sinh viên như thế nào? Và có nhờ vào phương pháp tự học hay là tiếp thu tại lớp
2 Phương pháp phỏng vấn qua mạng internet như mail và facebook:
Gửi bảng câu hỏi đã soạn sẵn qua mail hoặc facebook cho
những bạn sinh viên khoa kinh tế và quản lý công trong trường Đh
Mở TP.HCM
3 Dữ liệu thứ cấp và phương pháp thu thập:
Được thu thập thông qua mạng internet và một số giáo trình, nghị quyết Nghị quyết Trung ương V khóa 8 từng nêu rõ: “ Tập trungsức nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học, tự sáng tạo của học sinh, Bảo đảm mọi điều kiện và thời gian tự học cho học sinh, phát triển mạnh mẽ phong Trên tinh thần ấy, rõ ràng Đảng ta đãcoi tự học, tự đào tạo là vấn đề mấu chốt có vị trí cực kì quan trọng trong chiến lược giáo dục - đào tạo của đất nước trao tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân”
VI Nội dung :
1.Cơ sở lý luận:
1.1 Sơ lược nghiên cứu về vấn đề tự học:
Người đặt nền móng cho ý thức về hoạt động tự học là nhà giáodục người Tiệp Khắc J.A Comenxiki Các nhà giáo dục học như Rutxo, Pestalogi, Dixtecvec, Usinxki ở thế kỉ 18, 29 đã quan tâm nhiều đến sự phát triển trí tuệ, tính tích cực và tính độc lập
Trang 5sáng tạo của học sinh Bàn về tự học, các nhà giáo dục học Việt Nam như Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ, Nguyễn Cảnh Toàn, đãcoi tự học như chìa khóa vàng của giáo dục trong thời đại bùng
nổ thông tin
1.2 Một số khái niệm:
- Tự học: Là quá trình của bản thân người học tích cực, độc lập,
tự giác chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo bằng những phương pháp phù hợp Tự học là quá trình học tập có thể diễn ra với sự tha gia của GV Mặt khác, tự học cũng có thể diễn ra không có
sự góp mặt của GV, SV tự sắp xếp cho mình thời gian, chương trình học tập phù hợp
- Trong tập bài giảng chuyên đề Dạy tự học cho SV trong các nhà trường trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học GS – TSKH Thái Duy Tuyên viết: “Tự học là hoạt động độc lập
chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…)cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnhtri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bảnthân người học” Tác giả Nguyễn Kỳ ở Tạp chí Nghiên cứu giáodục số 7/ 1998 cũng bàn về khái niệm tự học: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp…Tự học thuộc
Trang 6quá trình cá nhân hóa việc học” Trong bài phát biểu tại hội thảoNâng cao chất lượng dạy học tổ chức vào tháng 11 năm 2005 tạiĐại học Huế, GS Trần Phương cho rằng: “ Học bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến thức của mình, tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyện cho mình kĩ năng thực hành những tri thức ấy”.Từ những quan niệm trên đây có thể nhận thấy rằng, khái niệm tự học luôn đi cùng, gắn bó chặt chẽ với khái niệm tự thân Tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng của mỗi cánhân chỉ được hình thành bền vững và phát huy hiệu quả thông qua các hoạt động tự thân ấy Để có được, đạt tới sự hoàn thiện thì mỗi SV phải tự thân tiếpnhận tri thức từ nhiều nguồn; Tự thân rèn luyện các kĩ năng; Tự thân bồi dưỡng tâm hồn của mình ở mọi nơi mọi lúc.
SV ghi nhớ mà quan trọng hơn là phải định hướng, tổ chức cho
SV tự mình khám phá ra những qui luật, thuộc tính mới của các vấn đề khoa học Giúp SV không chỉ nắm bắt được tri thức mà còn biết cách tìm đến những tri thức ấy Thực tiễn cũng như phương pháp dạy học hiện đại còn xác định rõ: càng học lên caothì tự học càng cần được coi trọng, nói tới phương pháp dạy học
Trang 7thì cốt lõi chính là dạy tự học Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học Bởi vì SV đại học không phải là những học sinh cấp bốn Họ cần có thói quen nghiên cứukhoa học, mà để có được thói quen ấy thì không thể không
thông qua con đường tự học Muốn thành công trên bước đường học tập và nghiên cứu thì phải có khả năng phát hiện và tự giải quyết những vấn đề mà cuộc sống, khoa học đặt ra.Bồi dưỡng năng lực tự học là phương cách tốt nhất để tạo ra động lực mạnh
mẽ cho quá trình học tập Một trong những phẩm chất quan trọng của mỗi cá nhân là tính tích cực, sự chủđộng sáng tạo trong mọi hoàn cảnh.Và, một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục là hình thành phẩm chất đó cho người học Bởi từ
đó nền giáo dục mới mong đào tạo ra những lớp người năng động, sáng tạo, thích ứng với mọi thị trường lao động, góp phần phát triển cộng đồng Có thể xem tính tích cực (hình thành từ năng lực tự học) như một điều kiện, kết quả của sự phát triển nhân cách thế hệ trẻ trong xã hội hiện đại Trong đó hoạt động
tự học là những biểu hiện sự gắng sức cao về nhiều mặt của từng cá nhân người học trong quá trình nhận thức thông qua sự hưng phấn tích cực Mà hưng phấn chính là tiền đề cho mọi hứng thú trong học tập Có hứng thú người học mới có được sự
tự giác say mê tìm tòi nghiên cứu khám phá Hứng thú là động lực dẫn tới tự giác.Tính tích cực của con người chỉ được hình thành trên cơ sở sự phối hợp ngẫu nhiên giữa hứng thú với tự giác Nó bảo đảm cho sự định hình tính độc lập trong học tập.Tự
Trang 8học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời, học tập để khẳng định năng lực phẩm chất và để cống hiến Tự học giúp con người thích ứng với mọi biến cố của sự phát triển kinh
tế - xã hội Bằng con đường tự học mỗi cá nhân sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanh vớinhững tình huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang đến, kể cảnhững thách thức to lớn từ môi trường nghề nghiệp Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào thực tiễn thì sẽtạo cho
họ lòng ham học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao.Với những lí do nêu trên có thể nhận thấy, nếu xây dựng được phương pháp tự học, đặc biệt là sự tự giác, ý chí tích cực chủ động sáng tạo sẽ khơi dậy năng lựctiềm tàng, tạo ra động lực nội sinh to lớn cho người học
1.4 Nội dung của quá trình tự học.
- Bàn về hoạt động tự học và phương pháp tổ chức cho SV tự học nhưthế nào để có hiệu quả thiết thực là một vấn đề hoàn toàn không đơn giản Ngoài việc tìm hiểu khái niệm, những vấn đề liên quan đến động
cơ, thói quen học tập của SV thì mỗi GV rất cần đến quá trình nghiên cứu nhằm tìm ra nội dung cơ bản, các phươngcách tối ưu rèn luyện phương pháp tự học cho SV Đặc biệt là việc nhận diện xem những phương pháp đó ngoài sự thích ứng chung cho mọi SV có đáp ứng được chotừng nhóm đối tượng trong những giai đoạn và điều kiện, hoàn cảnh khác nhau trong suốt quá trình đào tạo hay không Để đáp ứng yêu cầu nêu trên cần xác định rõ những yêu cầu cơ bản của hoạt
Trang 9động tự học như: nội dung của hoạt động tự học gồm mấy vấn đề, để tiếp cận nó phải tuân thủ theo qui trình nào, điều kiện để áp dụng có hiệu quả các yêu cầu ra sao… từ đó xây dựng những biện pháp dạy tựhọc tích cực tương ứng.Với tất cả các lĩnh vực khoa học, việc dạy tự học có những điểm chung, thống nhất về cách thức cũng như phương pháp.
1.5 Xây dựng động cơ học tập:
Khơi gợi hứng thú học tập để trên cơ sở đó ý thức tốt về nhu cầu học tập Người học tự xây dựng cho mình động cơ học tập đúng đắn là việc cần làm đầu tiên Bởi vì, thành công không bao giờ là kết quả của một quá trình ngẫu hứng tùy tiện thiếu tính toán, kể cả trong học tập lẫn nghiên cứu Nhu cầu xã hội và thị trường lao động hiện tạiđặt ra cho mỗi người những tố chất cần thiết chứ không phải là nhữngđiểm số đẹp, những chứng chỉ như vật trang sức vào đời mà không có thực lực vì động cơ học tập lệch lạc Có động cơ học tập tốt khiến chongười ta luôn tự giác say mê, học tập với những mục tiêu cụ thể rõ ràng với một niềm vui sáng tạo bất tận
Trong rất nhiều động cơ học tập của SV, có thể khuôn tách thành hai nhóm cơ bản:
- Các động cơ hứng thú nhận thức
- Các động cơ trách nhiệm trong học tập
Thông thường các động cơ hứng thú nhận thức hình thành và đến được với người học một cách tự nhiên khi bài học có nội dung mới lạ,thú vị, bất ngờ, động và chứa nhiều những yếu tố nghịch lí, gợi sự tò
mò Động cơ này sẽ xuất hiện thường xuyên khi GV biết tăng cường
Trang 10tổ chức các trò chơi nhận thức, các cuộc thảo luận hay các biện pháp kích thích tính tự giác tích cực từ người học Động cơ nhiệm vụ vàtrách nhiệm thì bắt buộc người học phải liên hệ với ý thức về ý nghĩa
xã hội của sự học Giống như nghĩa vụ đối với Tổ quốc, trách nhiệm đối với gia đình, thầy cô, uy tín danh dự trước bạn bè…Từ đó các em mới có ý thức kỉ luật trong học tập, nghiêm túc tự giác thực hiện mọi nhiệm vụ học tập,những yêu cầu từ GV, phụ huynh, tôn trọng mọi chếđịnh của xã hội và sự điều chỉnh của dư luận.Cả hai động cơ trên không phải là một quá trình hình thành tự phát, cũng chẳng được đem lại từ bên ngoài mà nó hình thành và phát triển một cách tự giác thầm lặng từ bên trong Do vậy người GV phải tùy đặc điểm môn học, tùy đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi của đối tượng để tìm ra những biện pháp thích hợp nhằm khơi dây hứng thú học tập và năng lực tiềm tàng nơi
SV Và điều quan trọng hơn là tạo mọi điều kiện để sinh viên tự kích thích động cơ học tập của mình Đối với phần đông những người trẻ, việc tạm gác những thú vui, những trò giải trí hấp dẫn nhất thời để toàn tâm toàn sức cho việc học là hai điều có ranh giới vô cùng mỏng manh Nó đòi hỏi sự quyết tâm cao và một ý chí mạnh mẽ cùng
nghilực đủ để chiến thắng chính bản thân mình Đối với người trưởng thành, khi mục đích cuộc đời đã rõ, ý thức trách nhiệm đối với công việc đã được xác định và sự học đã trở thành niềm vui thì việc xác định động cơ thái độ học tập nói chung không khó khăn như thế hệ trẻ Tuy nhiên không phải là hoàn toàn không có Vì suy cho cùng ai cũng có những nhu cầu riêng và từ đó có những hứng thú khác nhau Vấn đề là phải biết kết hợp biện chứng giữa nội sinh và ngoại sinh,
Trang 11tức là hứng thú nhận thức, hứng thú trách nhiệm được đánh thức, khơidậy trên cơ sở những điều kiện tốt từ bên ngoài Trong đó người thầy đóng vai trò chủ đạo.
1.6 Xây dựng kế hoạch học tập.
Đối với bất kì ai muốn việc học thật sự có hiệu quả thì mục đích, nhiệm vụ và kế hoạch học tập phải được xây dựng cụ thể, rõ ràng Trong đó kế hoạch phải đượcxác định với tính hướng đích cao Tức là
kế hoạch ngắn hạn, dài hơi thậm chí từng môn, từng phần phải được tạo lập thật rõ ràng, nhất quán cho từng thời điểm từng giai đoạn cụ thể sao cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của mình Vấn đề kế tiếplà phải chọn đúng trọng tâm, cái gì là cốt lõi là quan trọng để ưu tiên tác động trực tiếp và dành thời gian công sức cho nó Nếu việc học dàn trải thiếu tập trung thì chắc chắn hiệu quả sẽ không cao Sau khi đã xác định được trọng tâm, phải sắp xếpcác phần việc một cách hợp lí logic về cả nội dung lẫn thời gian, đặc biệt cần tập trung hoàn thành dứt điểm từng phần, từng hạng mục theo thứ tự được thể hiện chi tiết trong kế hoạch Điều đó sẽ giúp quá trình tiến hành việc học được trôi chảy thuận lợi
1.7 Tự mình nắm giữ nội dung tri thức.
Đây là giai đoạn quyết định và chiếm nhiều thời gian công sức nhất Khối lượng kiến thức và các kĩ năng được hình thành nhanh hay chậm, nắm bắt vấn đề nông hay sâu, rộng hay hẹp, có bền vững
không… tùy thuộc vào nội lực của chính bản thân người học trong bước mang tính đột phá này Nó bao gồm các hoạt động:
- Tiếp cận thông tin: Lựa chọn và chủ động tiếp nhận thông tin từ
Trang 12nhiều nguồn khác nhau và từ những hoạt động đã được xác định như đọc sách, nghe giảng, xem truyền hình, tra cứu từ Internet, cemine, hội thảo, làm thí nghiệm, quan sát, điều tra… Trong hoạt động này rấtcần có sự tỉnh táo để chọn lọc thông tin một cách thông minh và linh hoạt Xã hội hiện đại đang khiến phần lớn SV rời xa sách và chỉ quan tâm đến các phương tiện nghe nhìn khác Đơn giản vì nó thỏa mãn trí
tò mò, giúp cho tai nghe mắt thấy tức thời Đó là chưa kể đến sự nhiễuloạn thông tin mà nếu không vững vàng thì giới trẻ sẽ rất dễ sa vào những cạm bẫy thiếu lành mạnh, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triểnnhân cách, tâm hồn Trong lúc từ cổ chí kim, muốn làm chủ tri thức nhân loại thì con đường tốt nhất của mọi người là đọc sách Đọc sách
là phương pháp tự học rẻ tiền và hiệu quả nhất Khi làm việc với sách
ta phải sử dụng năng lực tổng hợp toàn diện và có sự xuất hiện của hoạt động của trí não, một hoạt động tối ưu trong quá trình tự học Dovậy, rèn luyện thói quen đọc sách là một công việc không thể tách rời trong yêu cầu tự học Ngoàiviệc tiếp nhận tri thức còn phải biết đối thoại, gợi mở, thắc mắc hay đề xuất những vấn đề cần lưu ý sau khi đọc sách, hoặc chí ít là học cách viết, lối diễn đạt từ những cuốn sách hay Đó là cách đọc sáng tạo Khác với sự giải trí đơn giản hay cảm nhận thông thường
- Xử lí thông tin: Việc xử lí thông tin trong quá trình tự học không bao giờ diễn ra trong vô thức mà cần có sự gia công, xử lí mới có thể
sử dụng được Quá trình này có thể được tiến hành thông qua việc phân tích, đánh giá, tóm lược, tổng hợp, so sánh…